Để làm được điều đó cần thiết phải nghiên cứu những tác động của hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam, xác định nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
HỒ TRUNG THANH
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Nguyễn Thế Chinh
HÀ NỘI, 2004
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ PHỤ LỤC .1
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT .2
LỜI MỞ ĐẦU .4
CHƯƠNG I: HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CẠNH TRANH XUẤT KHẨU .10
1.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG .10
1.1.1 Bản chất mối quan hệ giữa thương mại và môi trường 10
1.1.2 Ảnh hưởng của môi trường đối với thương mại 11
1.1.3 Ảnh hưởng của thương mại tới môi trường 12
1.2 HỆ THỐNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI .15
1.2.1 Các phương pháp chế biến và sản xuất theo quy định môi trường (PPM) 16
1.2.2 Các yêu cầu về đóng gói bao bì 17
1.2.3 Nhãn mác môi trường 18
1.2.4 Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường 19
1.2.5 Các biện pháp kiểm dịch động thực vật 21
1.2.6 Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm 21
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HIỆN NAY .22
1.3.1 Tác động tích cực 22
1.3.2 Tác động tiêu cực 24
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN VÀ QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG .26
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 26
1.4.2 Kinh nghiệm của Indonesia 30
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 32
1.4.4 Bài học đối với Việt Nam 35
CHƯƠNG II: KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 37
2.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG CỦA SẢN PHẨM XUẤT KHẨU .37
Trang 32.1.1 Đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam thời kỳ
1991 - 2003 37
2.1.2 Một số vấn đề đặt ra liên quan đến khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam dưới giác độ môi trường 41
2.2 TÌNH HÌNH ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 43
2.2.1 Khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu 43
2.2.2 Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam 49
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM 66
2.3.1 Những mặt tích cực 66
2.3.2 Một số hạn chế 67
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế: 68
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM .72
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ 72
3.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường nhằm đẩy mạnh xuất khẩu của nước ta trong thời gian tới 72
3.1.2 Quan điểm phát triển xuất khẩu đáp ứng yêu cầu môi trường của thị trường thế giới và bảo vệ môi trường ở nước ta 76
3.1.3 Định hướng phát triển xuất khẩu đáp ứng các yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế 77
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU 78
3.2.1 Ở cấp độ quốc gia 78
3.2.2 Ở cấp độ doanh nghiệp 89
3.2.3 Giải pháp đối với một số nhóm sản phẩm 96
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .115
Trang 4DANH MỤC BẢNG VÀ PHỤ LỤC
Bảng 1.1: Đánh giá mức độ quan tâm của các nước đối với các biện pháp
nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn môi trường trong xuất khẩu 34
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 – 2003 37
Bảng 2.2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 - 2003 39
Bảng 2.3: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thời kỳ 1996-2003 39
Bảng 2.4: Tỷ lệ phân bố xuất khẩu của Việt Nam năm 1995 – 2003 41
Bảng 2.5: Mức độ nhận thức về nhãn môi trường đối với sản phẩm 46
Bảng 2.6: Xuất khẩu thủy sản thời kỳ 1997-2003 50
Bảng 2.7: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam 58
Bảng 2.8: Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 59
Bảng 2.9: Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam thời kỳ 1996-2003 63
Phụ lục 1: Hệ thống nhãn hiệu sinh thái toàn cầu 101
Phụ lục 2: Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch đối với động thực vật (SPS) 102
Phụ lục 3: Hiệp định về các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) 103
Phụ lục 4: Uỷ ban về Luật thực phẩm (Codex) 104
Phụ lục 5: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát trọng yếu (HACCP) 105
Phụ lục 6: Hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000 107
Phụ lục 7: Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 107
Phụ lục 8: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trường của Nhật Bản 109
Phụ lục 9: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trường của Hoa Kỳ 110
Phụ lục 10: Một số tiêu chuẩn, quy định liên quan đến môi trường của EU 111 Phụ lục 11: Các vụ tranh chấp thương mại liên quan đến quy định và tiêu chuẩn môi trường được giải quyết theo cơ chế của WTO 112
Trang 5NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch Asean ASEAN Association of South East Asean
Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BOD Biolo gical Oxygen Demand Nhu cầu ôxy sinh học
CBD Convention on Biological Diversity Công ước về đa dạng sinh
học
CITES Convention on International Trade in
Endangered Species of Wild Fauna and Flora
Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp
COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu ôxy hoá học
FAO Food and Agriculture Organization of
the Union Nations
Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc
GATT General Agreement on Tariffs and
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
ISO International Standard Organization Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế LCA Life Cycle Assessment Đánh giá chu trình sống của
sản phẩm MEA Multilateral Environmental Agreement Hiệp định môi trường đa
Trang 6phương ODS Ozone Depleting Substances Các chất làm suy giảm tầng
ôzôn PPM Process and Production Method Phương pháp chế biến và
sản xuất PPP Polluter Pays Principle Nguyên tắc người gây ô
nhiễm phải trả tiền SPS Sanitary and Phytosanitary Measures Các biện pháp vệ sinh và vệ
sinh thực vật TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật đối với
thương mại TRIPs Trade related aspects of the
intellectual and property rights
Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
UNCTAD United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển UNDP United Nations Development
UNIDO United Nations Industrial
Development Organisation
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
UPP User Pays Principle Nguyên tắc người sử dụng
phải trả tiền
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế
giới
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Xu thế toàn cầu hoá, phi tập trung hoá và tự do hoá thương mại đang là những đặc điểm cơ bản của sự phát triển trên toàn thế giới Các trung tâm và khu vực kinh tế được hình thành, các hiệp định thương mại khu vực và quốc tế đang là những công cụ pháp lý ràng buộc và là động lực giúp các nước liên kết, hợp tác để phát triển kinh tế - xã hội Hội nhập để phát triển vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia trên thế giới
Hội nhập kinh tế diễn ra trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu ngày càng nghiêm trọng Phát triển bền vững trở thành mục tiêu của các nước trên thế giới Hàng loạt các hiệp định/công ước khu vực và quốc tế về thương mại và môi trường được xây dựng và ngày càng có nhiều nước tham gia phê chuẩn và cam kết thực hiện
Việc thực hiện các hiệp định/công ước quốc tế về môi trường cũng như
áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hoá thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá thương mại hiện nay, khi các rào cản thương mại được loại bỏ, các tiêu chuẩn và quy định về môi trường trong nhiều trường hợp đã trở thành
"hàng rào xanh" trong buôn bán quốc tế và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước, đặc biệt là các nước phát triển, chúng đang trở thành lợi thế của họ trong cạnh tranh thương mại quốc tế Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong buôn bán quốc tế hiện nay đang là thách thức to lớn đối với các nước, đặc biệt là các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định/công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới với việc thực thi các cam kết quốc tế về thương mại và môi trường Hội nhập với thương mại thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu, nhưng phải chấp nhận sự cạnh tranh hết sức gay gắt với các nước khác Một cản trở đặt ra cho ngoại thương nước ta trong tương lai là việc
áp dụng ngày càng phổ biến các biện pháp môi trường trong thương mại quốc
tế của các nước nhập khẩu có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cạnh tranh
Trang 8của hàng xuất khẩu nước ta, một nước hiện nay và trong những năm tới xuất khẩu nhiều mặt hàng nhạy cảm về môi trường như nông sản, thuỷ sản và sản phẩm chế biến Hơn nữa, những yêu cầu nói trên ngày càng cao ở những thị trường mà Việt Nam đang muốn mở rộng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU Ngay
cả khi là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, Việt Nam cũng sẽ phải cam kết thực hiện các Hiệp định của tổ chức này trong đó có nhiều Hiệp định liên quan đến môi trường Trong bối cảnh như vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần có chính sách thương mại và môi trường như thế nào để khai thác triệt để các lợi thế của tự do hóa thương mại, góp phần vượt qua các rào cản môi trường trong buôn bán quốc tế để mở đường cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Để làm được điều đó cần thiết phải nghiên cứu những tác động của
hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường đối với cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam, xác định những hạn chế và khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của các doanh nghiệp để đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về môi trường nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam nhằm tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa thương mại và môi trường
đã được sự quan tâm nghiên cứu ở bình diện quốc tế cũng như cấp độ quốc gia
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển thương mại bền vững ở các nước, đặc biệt là các quốc gia đang tiến hành công nghiệp hoá Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam với một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:
- UNCTAD và Tổng cục đo lường tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam
(1998), "Áp dụng Hệ thống quản lý môi trường ở Việt Nam";
- SIDA Thụy Điển và Cục Môi trường (1999), "Những vấn đề môi
trường liên quan đến mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam";
- UNDP và Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (2001), "Tiếp
cận môi trường đối với thương mại Việt Nam";
- UNDP và Cục Xúc tiến thương mại (2001), "Chính sách môi trường
trong phát triển thương mại của Việt Nam"
Trang 9Bên cạnh đó, nhiều học giả nước ngoài cũng quan tâm đến vấn đề phát triển thương mại và bảo vệ môi trường ở Việt Nam Chẳng hạn nghiên cứu của Khor (1993) đã đề cập đến vấn đề tự do hoá thương mại ở Việt Nam và việc bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học; nghiên cứu của S Banergee (1998) về mối quan hệ của ngành thương mại Việt Nam trong việc tiếp cận và sử dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường quốc tế
Ở Việt Nam, vấn đề thương mại và môi trường nói chung và những vấn
đề cụ thể liên quan đến chủ đề này cũng đã được đề cập nhiều từ năm 1998 trở lại đây Liên quan đến chủ đề nghiên cứu được đề cập trong luận văn này có một số công trình như:
- Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp (1999),
"Cơ sở khoa học đền bù thiệt hại môi trường”
- Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại (1999),
“Đánh giá tác động môi trường của các hoạt động thương mại”
- Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại (1999), “Thương
mại môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam”,
- Vụ Chính sách thương mại đa biên – Bộ Thương mại (2002), "Hoàn
thiện chính sách quản lý nhập khẩu nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường ở Việt Nam"
- Đại học Thương mại Hà Nội (1999), "Nhận thức về cơ hội và thách thức
môi trường trong phát triển thương mại ở Việt Nam"
- Viện Nghiên cứu thương mại (2002), “Vấn đề môi trường trong xuất
khẩu nông sản của Việt Nam”
- Viện Nghiên cứu thương mại (2002), “Quy định môi trường của EU và
khả năng xuất khẩu hàng nông sản và thuỷ sản Việt Nam”
- Dương Thanh An (2002), “Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và
thương mại trong các liên kết thương mại quốc tế và ảnh hưởng của chúng tới
hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam”
- Cục Môi trường (2003), Dự án “Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đáp
ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”
Tuy nhiên chưa có công trình chuyên sâu nào đi sâu nghiên cứu về hệ thống các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường liên quan đến thương
Trang 10mại, chỉ ra khả năng và hạn chế của Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu môi trường nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Những nghiên cứu trên đây cả trong và ngoài nước cung cấp cơ sở phương pháp luận
và tư liệu tham khảo để thực hiện đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Giới thiệu tổng quan về hệ thống các biện pháp môi trường liên quan đến thương mại quốc tế; phân tích những ảnh hưởng của chúng đối với xuất khẩu hàng hoá;
- Giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường nhằm đẩy mạnh xuất khẩu;
- Đánh giá khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường của một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến thương mại đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của các
quy định và tiêu chuẩn môi trường đến khả năng xuất khẩu của Việt Nam và khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của một số mặt hàng xuất khẩu nước
ta
- Phạm vi nghiên cứu: Các tiêu chuẩn môi trường liên quan đến thương
mại quốc tế có ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam Nhóm hàng xuất khẩu được lựa chọn nghiên cứu là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường, chủ yếu là nông sản và thuỷ sản trong thời gian từ 1995 - 2003
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Xuất phát từ đối tượng, tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu, hệ thống quan hệ nhiều chiều của lĩnh vực thương mại và môi trường, vì vậy phương
pháp nghiên cứu chủ đạo ở đây là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Thông qua phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ bên trong có tính
bản chất của mối quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và bảo vệ môi trường, giữa khả năng của Việt Nam và yêu cầu đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế…
Trang 11- Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với khảo sát thực tế thực tiễn hoạt động
của một số ngành, doanh nghiệp nhằm làm rõ khả năng và hạn chế của nước ta trong việc đáp ứng các yêu cầu môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu
- Kết hợp mô hình phân tích, so sánh và dự báo kinh tế với phương pháp chuyên gia để tiến hành phân tích, đánh giá hiện trạng, xác định khả
năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu nhạy cảm về môi trường của nước ta
6 Những đóng góp mới của luận văn:
- Hệ thống hoá các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến thương mại và phân tích tác động của chúng đối với cạnh tranh thương mại quốc tế hiện nay, làm cơ sở phương pháp luận cho việc đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của hàng xuất khẩu Việt Nam
- Bước đầu đánh giá khả năng và hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam trong việc đáp ứng yêu cầu về môi trường của nước nhập khẩu, chỉ ra những khó khăn và thuận lợi của họ khi mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Đây là khía cạnh mới đặt ra đối với khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu nước ta khi phải thực hiện ngày càng đầy đủ hơn các Hiệp định đa phương về thương mại và môi trường
- Làm căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách thương mại và môi trường theo hướng đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu và bảo
vệ môi trường Giúp các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược kinh doanh đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh đồng thời thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái
ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Hệ thống tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế và
tác động của nó đến cạnh tranh xuất khẩu
Chương II: Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của một số
mặt hàng xuất khẩu Việt Nam
Trang 12Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu
chuẩn môi trường đối với một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG I:
HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN CẠNH TRANH XUẤT KHẨU 1.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Bản chất mối quan hệ giữa thương mại và môi trường
Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường Phần lớn thiệt hại môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế [2, 3] Thương mại đóng vai trò ngày một lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế
và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi trường Tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hoá thương mại, khi trao đổi sản phẩm và dịch vụ mang tính phổ biến vượt qua khuôn khổ quốc gia, sản xuất ở quy mô lớn thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét
Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường vô cùng phức tạp, bản chất của nó phản ánh sự tác động qua lại lẫn nhau giữa mục tiêu phát triển thương mại và việc bảo vệ môi trường Vấn đề gây nhiều tranh cãi ở đây là “Có phải
tự do hóa thương mại và bảo vệ môi trường là những mục tiêu trùng hợp nhau không? Thương mại và môi trường nên ưu tiên mục tiêu nào hơn? Tự do hóa thương mại giúp cho việc bảo vệ môi trường hay làm tổn hại môi trường? Áp dụng các biện pháp môi trường có làm cản trở thương mại hay không? Cần làm gì để điều hòa được hai mục tiêu nói trên?”
Những người làm công tác thương mại cho rằng, các hoạt động thương mại không hề phá hoại môi trường, trong mục tiêu của thương mại bao hàm cả mục tiêu về môi trường Theo quan điểm của họ thì việc tiếp cận và mở rộng thị trường làm tăng hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, do
đó có tác dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Mặt khác, do cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa trên thị trường, càng ngày các công nghệ cao sẽ được sử dụng trong quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường Hơn nữa,
tự do hóa thương mại là một trong những công cụ đắc lực để góp phần tăng trưởng kinh tế, nhất là đối với các nước đang phát triển Khi kinh tế phát triển thì thu nhập của con người cũng tăng lên, điều đó đáp ứng được việc mua sắm các sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường Đồng thời, khi kinh tế phát triển thì nhận thức của con người cũng tăng lên, đòi hỏi
Trang 14chất lượng môi trường cao hơn Tóm lại, theo nhìn nhận của những người làm công tác thương mại thì tự do hóa thương mại không hề làm tổn hại đến môi trường mà các chính sách thương mại và kinh tế vĩ mô lành mạnh còn có tác dụng bảo vệ môi trường
Đối lập với những người làm công tác thương mại, những người làm công tác môi trường chỉ ra rằng “mục đích của thương mại là lợi nhuận, vì vậy
để đạt được mục đích này họ tìm cách khai thác và sản xuất tối đa nguồn lợi thiên nhiên mà không hề nghĩ đến điều là trong sản phẩm của họ có ẩn chứa những chi phí về xã hội và môi trường” [26, 32] Họ còn cho rằng việc áp dụng các biện pháp môi trường trong thương mại quốc tế tạo điều kiện để thuận lợ i hoá thương mại, làm cho thương mại công bằng hơn và bền vững hơn
Sau nhiều cuộc tranh luận, cuối cùng cả hai bên đã đi đến một sự thống nhất là cả tự do hóa thương mại lẫn bảo vệ môi trường đều nhằm đạt đến một
mục tiêu chung là sự phát triển bền vững Phát triển bền vững là dung hoà
giữa việc bảo vệ môi trường, tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội Tăng trưởng kinh tế là điều kiện thiết yếu cho việc bảo vệ môi trường, tăng cường nguồn kinh phí làm sạch môi trường Đồng thời bảo vệ môi trường nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên và sinh thái là sự cần thiết duy trì và
mở rộng phát triển thương mại Phát triển bền vững là mục tiêu chung nhất không chỉ riêng cho thương mại và môi trường mà đối với tất cả các lĩnh vực hoạt động khác Bảo vệ môi trường là nền tảng cho sự phát triển bền vững, trong đó có phát triển thương mại [18, 15]
1.1.2 Ảnh hưởng của môi trường đối với thương mại
Trước hết, môi trường là giá đỡ của cuộc sống, chính vì vậy mọi hoạt
động kinh tế, thương mại đều phải dựa trên nền tảng của môi trường Môi trường cung cấp nhiều nguyên liệu đầu vào như kim loại, sản phẩm rừng, thuỷ sản cũng như năng lượng cho các quá trình chế biến Môi trường cũng đồng thời là nơi tiếp nhận chất thải của các hoạt động thương mại Bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển thương mại bền vững
Thứ hai, các hoạt động thương mại cũng chịu những tác động mạnh mẽ
của các biện pháp và chính sách bảo vệ môi trường Những biện pháp và chính sách môi trường có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với thương mại tự
do, thúc đẩy hoặc là tạo ra rào cản đối với thương mại Các biện pháp và chính
Trang 15sách môi trường có thể làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ hoặc tạo rào cản hạn chế thương mại, bảo hộ mậu dịch, hạn chế khả năng cạnh tranh, bất bình đẳng trong thương mại quốc tế, thách thức đối với các nước đang phát triển, khó khăn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Các tác động cụ thể của các biện pháp môi trường đối với thương mại sẽ được đề cập ở mục 3.1 chương I của đề tài
1.1.3 Ảnh hưởng của thương mại tới môi trường
Thứ nhất, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính chất của hoạt
động này Thương mại là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, do vậy vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có thể phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩm và công nghệ thân thiện với môi trường
Thứ hai, thương mại ảnh hưởng đến môi trường bởi tính quy mô của nó
Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu Do đặc tính này mà thương mại có thể mở rộng quy mô của sản xuất thông qua sử dụng các phương pháp sản xuất ngày càng hiệu quả, sản xuất nhiều hàng hoá hơn trên cùng một đơn
vị lao động, tài nguyên và công nghệ Như vậy thương mại góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Tăng quy mô thương mại cũng làm tăng nhu cầu bảo vệ môi trường sống của con người Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất do tác động của thương mại tự
do cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Một mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất thải ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng Điều này có thể thấy rất rõ về tình trạng rác thải và chất phát thải gây hiệu ứng nhà kính ở các nước phát triển
Thứ ba, một khía cạnh tác động khác của thương mại đối với môi trường
là tính chất cơ cấu của nó Thương mại có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản xuất
của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh, tức là, tập trung sản xuất những mặt hàng có lợi thế để trao đổi lấy những hàng hoá khác Nếu cơ cấu sản xuất chuyển sang những hàng hoá ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương mại
có tác dụng tốt đối với môi trường Tuy nhiên, nếu một nước có khả năng cạnh tranh tốt đối với những sản phẩm dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc những hàng hoá khi sản xuất chúng có khả năng ô nhiễm cao thì thương
Trang 16mại lại làm cho nước đó bị gia tăng ô nhiễm môi trường, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên [5, 20]
Tác động của thương mại đối với môi trường được thể hiện rõ nét trong
trong điều kiện tự do hóa thương mại Nhiều công trình nghiên cứu mối quan
hệ và cơ chế tác động giữa thương mại và môi trường cho thấy rằng, tăng trưởng kinh tế làm tăng các chi phí để bảo vệ môi trường và bảo vệ môi trường nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên là điều kiện để tăng trưởng thương mại [19, 25] Dựa trên quan điểm cơ bản đó GATT đã công bố một báo cáo đặc biệt về “Thương mại và môi trường”, trong đó nêu lên cơ chế tác động của thương mại đối với môi trường [23, 56] Trong điều kiện tự do hóa thương mại, tác động đó mang tính hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực
(1) Tác động tích cực:
- Tự do hóa thương mại tạo cho người tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm xanh và sạch Một khi thu nhập gia tăng, nhu cầu về các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng tăng theo Do vậy nhà nước có thể nâng cao các tiêu chuẩn về môi trường
- Những công nghệ sản xuất ít gây tổn hại đến môi trường sẽ được phát triển tại những nước có luật bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và thương mại là con đường tốt nhất để truyền bá các công nghệ đó
- Tự do hóa thương mại sẽ tháo bỏ các khoản trợ cấp, vốn là rào chắn của thương mại, và điều đó có tác dụng tích cực đến việc bảo vệ môi trường
- Sự hợp tác đa phương là vô cùng cần thiết để giải quyết các vấn đề môi trường và tự do hóa thương mại sẽ tạo ra bầu không khí tốt đẹp nhất cho sự hợp tác đó
Trang 17(2) Tác động tiêu cực:
- Thương mại là cơ chế luân chuyển hàng hóa và dịch vụ sản xuất từ địa điểm này sang tiêu dùng tại địa điểm khác Đặc tính này tạo cho người tiêu dùng khả năng hưởng thụ các sản phẩm tại đất nước mình không có hoặc không có khả năng sản xuất Song nếu các hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ồ
ạt theo cách thức phá huỷ môi trường nhiều hơn các loại hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng trong nước, thì đương nhiên việc sản xuất hàng hóa cho mục đích thương mại sẽ gây ra nhiều hậu quả môi trường nghiêm trọng
- Tự do hóa thương mại có xu hướng làm tăng các hoạt động kinh tế Điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều hơn nữa nguyên liệu, năng lượng được sử dụng vào các hoạt động kinh tế Sự gia tăng này là cần thiết, song không nhất thiết phải duy trì thường xuyên Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, nếu năng lượng đầu vào cho mỗi đơn vị sản phẩm giảm theo thời gian thì việc
mở rộng sản lượng đầu ra không dẫn tới sự gia tăng tiêu dùng năng lượng
- Các cơ hội thương mại cũng như việc mở rộng các hoạt động kinh tế còn kéo theo nhiều thay đổi trong việc sở hữu đất đai, tài sản, cách thức sử dụng đất đai, đe dọa môi trường tự nhiên Một mặt với mục đích tăng lợi nhuận, hàng loạt các kỹ thuật hiện đại được sử dụng trong nông nghiệp như thâm canh tăng vụ, lạm dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học đã phá huỷ cân bằng sinh thái, thúc đẩy nhanh quá trình bạc màu của đất Mặt khác những người dân bị tước đoạt đất đai buộc lòng phải di chuyển vào các khu vực rừng núi, đồi trọc hoang vu vốn không phù hợp với các hoạt động canh tác và gây ra sự phá huỷ môi trường
- Tự do hóa thương mại trên quy mô toàn cầu sẽ bỏ qua các yếu tố môi trường giống như tình trạng tự do hóa thị trường trong nước đã thất bại khi phân bổ các nguồn tài nguyên Nguyên nhân chính ở đây là có sự khác biệt giữa chi phí cá nhân và chi phí xã hội Giá cả của hàng hóa và dịch vụ không phản ánh đúng giá trị cũng như mức độ khan hiếm của nó Hay nói cách khác,
tự do hóa thương mại trên quy mô lớn sẽ tạo ra thất bại của thị trường ở mức
độ cao hơn và hậu quả của nó là sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên
Tóm lại, tự do hóa thương mại là một xu hướng tất yếu của thời đại Quá
trình này có thể gây ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với môi trường Các quy định và tiêu chuẩn môi trường quốc tế đóng vai trò quyết định trong việc hạn chế các tác động tiêu cực của tự do hoá thương mại đối với môi
Trang 18trường Tuy nhiên, chúng cũng có thể tạo ra những hạn chế đối với thương mại
tự do Vấn đề cơ bản là phải có sự kết hợp hài hoà giữa hai mục đích để đạt được sự phát triển bền vững
1.2 HỆ THỐNG CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI
Trong những năm gần đây, quan hệ chặt chẽ giữa thương mại và môi trường đã trở thành một vấn đề ngày càng quan trọng trong các mối quan hệ thương mại quốc tế Nhận thức ngày càng tăng về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững các nguồn lực sẵn có đã hình thành nên các biện pháp chính sách môi trường Các biện pháp đó thường được thể hiện dưới dạng các quy định hoặc tiêu chuẩn và được các chính phủ thực thi thông qua các công cụ pháp lý hoặc các công cụ kinh tế [20, 337]
Các công cụ pháp lý được sử dụng như là các biện pháp kiểm soát và
bắt buộc, bao gồm:
- Các tiêu chuẩn quy định những đặc tính của sản phẩm;
- Các quy định về các phương pháp sản xuất và chế biến (PPM) và các tiêu chuẩn về ô nhiễm;
- Cấm xuất nhập khẩu các mặt hàng độc hại hoặc gây nguy hại cho sức khỏe;
- Hạn chế xuất nhập khẩu để bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên;
- Các yêu cầu về bao bì đóng gói và nhãn mác
Các công cụ kinh tế bao gồm các khoản thuế đánh vào sản phẩm độc hại
hoặc gây nguy hại cho sức khỏe; phí đối với sản phẩm phế thải, các biện pháp kiểm soát dựa vào giá cả và trợ cấp môi trường [20, 349]
Việc lựa chọn sử dụng công cụ pháp lý hay kinh tế phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của một nước và được quyết định trên cơ sở từng trường hợp Bất
cứ sự lựa chọn nào cũng nên cân nhắc đến các yếu tố như tính hiệu lực về môi trường, tính hiệu quả kinh tế, chi phí và tính khả thi về mặt hành chính, tính công bằng và khả năng được xã hội chấp nhận
Dưới đây sẽ xem xét một số biện pháp và công cụ chính sách môi trường chủ yếu được sử dụng trong thương mại quốc tế hiện nay
Trang 191.2.1 Các phương pháp chế biến và sản xuất theo quy định môi trường (PPM)
Các tiêu chuẩn có thể được phân chia một cách tương đối thành hai loại: tiêu chuẩn sản phẩm và tiêu chuẩn PPM Các tiêu chuẩn sản phẩm quy định các đặc tính của sản phẩm (như độ an toàn sản phẩm, kích thước, kiểu dáng) và các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác Các chuẩn PPM quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào Các tiêu chuẩn PPM áp dụng cho giai đoạn sản xuất, nghĩa là giai đoạn trước khi sản phẩm được tung ra bán ở thị trường
Về mặt môi trường, việc xem xét quy trình sản xuất là để giải quyết một trong 3 câu hỏi trọng tâm của quá trình quản lý môi trường: sản phẩm được sản xuất như thế nào, sản phẩm được sử dụng như thế nào và sản phẩm được vứt
bỏ như thế nào và những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không
Những quy định và tiêu chuẩn về phương pháp chế biến được áp dụng
để hạn chế chất thải ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo Đây là những quy định và tiêu chuẩn đối với công nghệ, quá trình để sản xuất sản phẩm nhằm đánh giá xem quá trình sản xuất có gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường hay không Những tiêu chuẩn chế biến có thể tác động ngược lại sự cạnh tranh của ngành công nghiệp trong nước vì chúng ảnh hưởng tới các chi phí sản xuất và do đó tới sức cạnh tranh của sản phẩm Các sản phẩm cùng chủng loại có thể được thị trường chấp nhận khác nhau nếu chúng được sản xuất trong những điều kiện khác nhau
Việc áp dụng những tiêu chuẩn chế biến nghiêm ngặt sẽ làm tăng chi phí sản xuất và do đó ngành công nghiệp trong nước sẽ bất lợi hơn so với ngành công nghiệp ở các nước khác nơi có các tiêu chuẩn thấp hơn Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy việc áp dụng các tiêu chuẩn chế biến nghiêm ngặt không dẫn đến sự thua thiệt trong cạnh tranh Tuy nhiên đối với những khu vực hoặc các ngành công nghiệp đặc biệt, sự khác nhau về các tiêu chuẩn có thể có những tác động nghiêm trọng đối với cạnh tranh và thương mại Vấn đề
ở đây là làm cách nào để dung hoà giữa việc tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và tính cạnh tranh của sản phẩm Do đó cần phải áp dụng một cách linh hoạt các tiêu chuẩn theo mức độ tăng dần khi mà việc áp dụng ngay lập tức các tiêu chuẩn ở mức cao có thể ảnh hưởng tới cạnh tranh
Trang 20Tiêu chuẩn PPM hiện nay được áp dụng rất khác nhau ở các nước, chính
vì vậy nó có thể tạo ra những rào cản không cần thiết đối với thương mại Hiện nay việc sử dụng các tiêu chuẩn PPM trong thương mại quốc tế đang gây nhiều tranh cãi và việc áp dụng chúng nhằm vào những mục đích khác nhau Nhiều trường hợp vì lý do môi trường, nhưng không ít trường hợp xuất phát từ mục đích bảo hộ mậu dịch Chẳng hạn việc Hoa Kỳ cấm nhập khẩu cá ngừ của Mêhicô, tôm của Thái Lan vì các nước này đã sử dụng các phương pháp đánh bắt có khả năng ảnh hưởng đến loài cá heo và rùa biển Hay Cộng hoà Liên Bang Đức cấm nhập khẩu các sản phẩm văn hoá của Phần Lan vì chúng được sản xuất từ loại giấy có nguồn gốc là gỗ rừng nguyên sinh được khai thác trái phép nhập khẩu từ Indonesia Các tiêu chuẩn PPM được đề cập trong bộ tiêu chuẩn ISO 14000 dưới tên gọi “chu trình sống của sản phẩm” Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) cũng đang xem xét để đưa PPM vào chương trình đàm phán mới
1.2.2 Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Vấn đề bao bì sau tiêu dùng là một trong những chủ đề quan trọng của chính sách môi trường và thương mại, bởi vì vấn đề này liên quan đến việc xử
lý chất thải rắn Người ta tính rằng 25-30% số lượng rác thải sinh ra từ một hộ gia đình tiêu biểu ở các nước châu Âu là các rác thải bao bì [11, 34] Kinh nghiệm của các nước phát triển trong mấy thập niên vừa qua cho thấy chi phí
xử lý rác thải chiếm một phần không nhỏ trong toàn bộ chi phí sản xuất Các chính sách đóng gói bao gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu đóng gói, những quy định về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng Những tiêu chuẩn và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên liệu đóng gói đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc dùng lại Những quy định không phù hợp có thể
bị thị trường từ chối cả nguyên liệu đóng gói và sản phẩm chứa trong bao bì Một ví dụ minh hoạ cho trường hợp này là các hàng hoá đóng gói bằng bao bì gai từ các nước bị cấm nhập khẩu vào thị trường EU vì ở đó không có những phương tiện để tiêu huỷ chúng
Các biện pháp quy định về yêu cầu đóng gói được áp dụng vì các lý do
về môi trường gồm các biện pháp cấm sử dụng bao có chứa các chất độc hại,
sử dụng các nguyên liệu bị cấm, hạn chế về khả năng tái chế hoặc loại bỏ
Ngoài ra người ta còn sử dụng các công cụ kinh tế để kiểm soát việc sử dụng
Trang 21các nguyên liệu dùng để sản xuất ra các loại bao bì như thuế nguyên liệu thô,
Những năm gần đây đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kể trong việc
sử dụng các loại nhãn mác môi trường trên sản phẩm hoặc trên bao bì sản phẩm để nhấn mạnh đến các thuộc tính và đặc điểm về môi trường của chúng Hầu hết các nhãn mác này được sử dụng một cách tự nguyện và do nhà sản
xuất hoặc người bán lẻ chủ động quyết định, nhằm mục đích tiếp thị khuyếch
trương thương hiệu hàng hóa của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các nhãn hiệu đó có thể là bắt buộc Những quy định đó nhằm để cảnh báo người tiêu dùng về tính chất độc hại của sản phẩm đối với môi trường, ví dụ như, về nồng độ chloronuorocarbon (CFC) [24, 15]
Các nhãn hiệu môi trường tự nguyện được sử dụng như là một kỹ thuật tiếp thị để thúc đẩy việc bán các sản phẩm trên cơ sở các thuộc tính vì môi
trường của chúng Nhãn mác môi trường có thể phân chia thành hai loại Loại
thứ nhất bao gồm các dạng nhãn mác tiếp thị vì an toàn môi trường, là loại mà
thông qua đó nhà sản xuất và nhà bán lẻ muốn tuyên bố rằng sản phẩm mang nhãn mác đó có những thuộc tính hoặc chất lượng vì môi trường riêng biệt nhất định [20, 345] Trong một số trường hợp, để đảm bảo với người tiêu dùng
về độ chính xác của các tuyên bố đó, chúng sẽ được chứng nhận bởi các phòng
thí nghiệm và các cơ quan thanh tra độc lập Loại thứ hai là loại mà giấy phép
sử dụng nhãn hiệu do các cơ quan được chính phủ bảo trợ, hoặc các cơ quan độc lập cấp, khi các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp thỏa mãn được các tiêu chuẩn và điều kiện của cơ quan cấp giấy phép Các nhãn hiệu thuộc loại hai
này thường được gọi là "nhãn hiệu sinh thái"
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các quy định và tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái đang được sử dụng như một công cụ định hướng đối với các chính sách môi trường
Trang 22Một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống nhãn hiệu sinh thái
là các tiêu chuẩn được sử dụng để cấp quyền sử dụng nhãn hiệu được đưa ra bởi một cơ quan đánh giá nhãn hiệu sinh thái Các tiêu chuẩn đó được dựa trên
cơ sở đánh giá chu trình sống của sản phẩm (LCA), một quá trình còn được gọi
là phương pháp phân tích từ đầu đến cuối (từ lúc sinh đến lúc chết) Theo phương pháp này, người ta sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó Các giai đoạn này bao gồm giai đoạn tiền sản xuất (chế biến các nguyên liệu thô), sản xuất, phân phối (bao gồm đóng gói), sử dụng hoặc tiêu thụ, và loại bỏ sau khi sử dụng
Việc sử dụng nhãn sinh thái cũng làm ảnh hưởng đến cạnh tranh thương mại quốc tế Trong các thị trường với những sở thích của người tiêu dùng đối với những sản phẩm "xanh", tác dụng của nhãn sinh thái được coi như là một công cụ xúc tiến, đồng thời nhãn đó có thể tác động ngược lại sự cạnh tranh của những sản phẩm không dán nhãn trong cùng một chủng loại Do đó, tuy là việc dán nhãn mang tính chất tự nguyện, nhưng các chương trình nhãn sinh thái cũng có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế
Các chương trình dán nhãn sinh thái được công khai đối với các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài và không phân biệt đối với sản phẩm sản xuất trong nước hay nhập khẩu Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, các chương trình dán nhãn có thể có lợi cho những nhà sản xuất trong nước hơn là các nhà cung cấp nước ngoài Vì vậy, trên thực tế đã hình thành một hàng rào cản trở đối với thương mại cho các sản phẩm nhập khẩu không dán nhãn
Các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái bởi vì ở đây có sự khác nhau về cách đánh giá các tiêu chuẩn chế biến và những phương pháp sản xuất Việc xác định những tác động của dán nhãn sinh thái đối với hàng hóa xuất khẩu của các nước đang phát triển chưa được phổ biến bởi vì các nước này có rất ít sản phẩm xuất khẩu đạt các tiêu chuẩn về nhãn sinh thái (gần đây việc dán nhãn mới được áp dụng cho các sản phẩm về giấy, gỗ nhiệt đới, trong tương lai sẽ đưa vào áp dụng cho hàng dệt, giầy dép) [20, 348]
1.2.4 Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường
Trang 23Phí, thuế và các khoản thu liên quan đến môi trường thường được áp dụng nhằm 3 mục tiêu chính: (i) thu lại các chi phí để phục hồi hiện trạng ban đầu của môi trường; (ii) thay đổi cách ứng xử của các cá nhân và tập thể đối với các hoạt động có liên quan đến môi trường; và (iii) thu các quỹ cho hoạt động bảo vệ môi trường
Các loại thuế và phí nội địa như thuế tiêu dùng, lệ phí sản phẩm, lệ phí phế thải và các lệ phí hành chính đang ngày càng được áp dụng nhiều ở các nước khác nhau nhằm mục đích hạn chế việc khai thác tài nguyên, phát tán các nguồn ô nhiễm Thông thường người ta sử dụng thuế và phí sau đây:
Phí sản phẩm: Các loại phí này được áp dụng cho các sản phẩm gây ô
nhiễm như có chứa hoá chất độc hại (xăng pha chì) hoặc có một số thành phần cấu thành của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng
Phí đối với khí thải: Các loại phí này được áp dụng đối với các chất gây
ô nhiễm thoát vào không khí, nước hoặc đất hoặc gây tiếng ồn Các khoản thuế này có thể được đánh vào thời điểm tiêu thụ (trong trường hợp này tương đương với phí sản phẩm và có tác động tương tự đến thương mại) hoặc các loại thuế này có thể được thu dưới hình thức phí đối với người sử dụng để trang trải chi phí xử lý rác thải công cộng
Phí hành chính: Các khoản phí này thường được áp dụng kết hợp cùng
với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của chính phủ, và có thể được thu dưới hình thức phí giấy phép, đăng ký, phí kiểm định và kiểm soát
Cơ sở của việc đánh thuế hay thu phí vì mục đích môi trường được dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm và người sử dụng các nguồn lực môi trường
phải chịu phí Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP), người
gây ô nhiễm phải chịu chi phí do các cơ quan công cộng chi trả trong việc giảm thiểu, phòng chống ô nhiễm, và duy trì môi trường ở trạng thái hiện tại
Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (UPP) bắt buộc những người được
hưởng thụ điều kiện môi trường tốt hơn phải chịu phí để duy trì môi trường ở trạng thái nhận được Trong khi PPP liên quan đến ô nhiễm thì UPP giải quyết việc đánh giá các nguồn lực tự nhiên đang cạn kiệt UPP quy định giá của một nguồn lực tự nhiên cần phải phản ánh toàn bộ chi phí liên quan đến việc sử dụng nguồn lực này, bao gồm chi phí do tác động bên ngoài gắn với việc khai thác, chuyển đổi và sử dụng nguồn lực cùng với các chi phí sử dụng tương lai
đã bị bỏ quên
Trang 24Lý do kinh tế cơ bản của hai nguyên tắc này là, trong khi các chi phí môi trường là các chi phí nội tại và vì thế được phản ánh trong giá, thì cơ chế thị trường cần phải khuyến khích việc chấp thuận các kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm
và bảo tồn các nguồn lực đang cạn kiệt tới mức độ phù hợp với phát triển bền vững và giúp ngăn ngừa những bóp méo trong phân bố đầu tư và hoạt động
thương mại Việc tất cả các nước thực hiện 2 nguyên tắc này có thể tạo thuận
lợi cho sự phát triển bền vững các nguồn lực của thế giới [20, 354]
1.2.5 Các biện pháp kiểm dịch động thực vật
Các biện pháp kiểm dịch động thực vật bao gồm tất cả các luật, quy
định, yêu cầu và thủ tục liên quan như: các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng; các phương pháp sản xuất và chế biến; các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp thuận; những xử lý cách ly bao gồm các yêu cầu liên quan tới việc vận chuyển cây trồng và vật nuôi, hay các chất nuôi dưỡng chúng trong quá trình vận chuyển; những quy định về các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro liên quan; các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác liên quan trực tiếp tới an toàn thực phẩm Những biện pháp thường được áp dụng trong thương mại quốc tế là HACCP đối với thuỷ sản và thịt [11, 23], tiêu chuẩn CODEX nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO đã quy định rõ phạm vi áp dụng các biện pháp kiểm dịch trong thương mại quốc
tế [4, 55] Trong những trường hợp đặc biệt các nước có thể áp dụng những biện pháp hạn chế thương mại để bảo vệ sức khoẻ con người và động thực vật [20, 125]
1.2.6 Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm
Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu tới kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm Mục đích của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, sức khoẻ con người, bảo vệ sức khoẻ, đời sống động thực vật, bảo vệ môi trường Một trong những quy định quốc tế phổ biến áp dụng trong thương mại quốc tế là Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT) [20, 115] Ngoài ra tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế đã ban hành 2 bộ tiêu chuẩn nhằm quản lý chất lượng và môi trường của các tổ chức kinh doanh: ISO 9000 về kiểm soát chất lượng hàng hoá và dịch vụ, ISO 14000 nhằm quản lý môi trường của các tổ chức kinh doanh và sản phẩm dịch vụ [19, 27]
Trang 25Trên đây là một số quy định và tiêu chuẩn môi trường được áp dụng phổ biến hiện nay trong thương mại quốc tế Một số quy định tiêu chuẩn do các tổ chức quốc tế quy định như TBT, SPS, ISO 14000, HACCP, CODEX Một số khác là quy định và tiêu chuẩn quốc gia Việc sử dụng các quy định môi trường trên đây về đại thể nhằm bảo vệ người tiêu dùng, động thực vật Tuy nhiên chúng cũng có thể được sử dụng một cách trá hình nhằm bảo hộ mậu dịch, hạn chế thương mại Trong bối cảnh gia tăng các vấn đề môi trường toàn cầu, nhu cầu về các sản phẩn thân thiện với môi trường ngày càng cao thì việc
áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường là một trong những công cụ để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, uy tín doanh nghiệp và quốc gia
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC QUY ĐỊNH VÀ TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HIỆN NAY
Nhìn chung việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường có thể ảnh hưởng đến thương mại ở những khía cạnh sau:
1.3.1 Tác động tích cực
(1) Thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường
Quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu đang thúc ép các quốc gia hạn chế và tiến tới loại bỏ các rào cản thương mại để hàng hoá và dịch vụ được di chuyển dễ dàng giữa các quốc gia, tạo nên sự tăng trưởng thương mại toàn cầu Tuy nhiên khi các rào cản thương mại bị bãi bỏ thì các tiêu chuẩn và quy định
kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng trong cạnh tranh thương mại quốc tế Đặc biệt, trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu đang có nguy cơ ngày càng gia tăng, nhu cầu người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng cao thì việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường
ở các nước ngày càng trở nên phổ biến và bắt buộc Trước tình hình đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường (đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định môi trường) dễ được chấp nhận hơn so với các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu nói trên Thực tế cho thấy công ty áp dụng các biện pháp quản lý môi trường tốt như ISO 14000, HACCP dễ được khách hàng tiếp nhận hơn, uy tín cao hơn
(2) Có khả năng cạnh tranh cao hơn trong tương lai
Trang 26Mặc dù việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường trong nhiều trường hợp làm tăng chi phí sản xuất, do vậy trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hãng Tuy nhiên, những công ty cũng như sản phẩm của họ có chứng nhận môi trường như chứng chỉ ISO 14000, nhãn sinh thái có lợi thế hơn trong việc vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất,
dễ tiếp cận các thị trường khó tính
Trong tương lai, sẽ đến một thời kỳ mà nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường là thực sự khách quan, việc có chứng chỉ phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường như ISO 14001 chẳng hạn sẽ là một lợi thế đáng kể trong đấu thầu quốc tế và quốc gia, tạo uy tín và vị thế của công ty trên thị trường quốc tế, tăng khả năng thâm nhập thị trường [7, 50]
Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường sẽ đưa đến cơ hội cải thiện đáng kể tình trạng quản lý chung của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh, uy tín, mối thiện cảm của các nhà chức trách và người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp
(3) Làm thuận lợi hoá việc đàm phán quốc tế về các hiệp định thương mại và môi trường
Vấn đề môi trường ngày càng trở nên hết sức quan trọng trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, khu vực cũng như toàn cầu Những vòng đàm phán gần đây trong WTO cũng như các tổ chức thương mại khu vực, các hiệp định thương mại song phương cho thấy rằng các cuộc tranh luận xung quanh chủ đề thương mại và môi trường thường gắn liền với lợi ích của các quốc gia Trong thực tế, việc xem xét tới yếu tố môi trường đã tăng cường vai trò của các tiêu chuẩn trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế gần đây Việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong các cuộc đàm phán như vậy
sẽ tạo thuận lợi cho việc đưa ra nghị quyết về các vấn đề liên quan đến thương mại và môi trường Các tiêu chuẩn môi trường có thể sử dụng như là một chỉ
số của sự cam kết và mong muốn của đất nước đẩy mạnh việc bảo vệ môi trường thông qua việc quản lý môi trường tốt hơn trong số các tổ chức doanh nghiệp của các nước này Lợi thế của phương pháp tiếp cận này có sức thuyết phục cao và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại quốc
Trang 27gia thế kỷ 21 [30, 21]
(4) Làm thuận lợi quá trình tự do hoá thương mại
Vì các tiêu chuẩn và quy định môi trường là các tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng theo nguyên tắc thoả thuận nên các tài liệu này sẽ phục vụ cho việc thống nhất quan điểm của các nước trong cách tiếp cận của họ đối với nhãn sinh thái, quản lý môi trường và đánh giá chu trình sống Nhận thức và cách tiếp cận thống nhất này sẽ giúp gỡ bỏ nhanh hơn các hàng rào trong thương mại và như vậy nó sẽ hỗ trợ cho quá trình thương mại tự do
(5) Được hưởng các chính sách ưu đãi
Ở phạm vi quốc gia, các doanh nghiệp áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường thường được ưu đãi về lãi suất trong vay vốn ngân hàng, mở rộng hoạt động, được các cổ đông quan tâm Chính phủ nhiều nước cũng đã có nhiều chính sách và biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp có chiến lược về môi trường rõ rệt Ở bình diện quốc tế việc thực thi các hiệp định, công ước quốc tế về môi trường cũng như các tiêu chuẩn môi trường cũng được các tổ chức tài chính quốc tế ưu đãi về tài chính Những dự án về môi trường thường nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính như IMF, WB Chẳng hạn như với việc cam kết thực hiện Hiệp định Montreal, nhiều quốc gia đang phát triển
đã nhận được những ưu đãi về tài chính thông qua các quỹ đa phương được xây dựng để giúp các quốc gia đang phát triển loại bỏ việc sử dụng ODS [25, 14]
1.3.2 Tác động tiêu cực
(1) Tạo ra rào cản trong thương mại quốc tế
Việc sử dụng ngày càng rộng rãi các tiêu chuẩn và quy định môi trường trong thương mại quốc tế nhằm khuyến khích những sản phẩm thân thiện với môi trường có thể tạo nên rào cản thương mại phi thuế quan trong tương lai Việc bảo hộ mậu dịch thông qua các hàng rào phi thuế quan đang được nhiều quốc gia áp dụng khi các rào cản về thuế quan buộc phải loại bỏ Xu thế dùng các yêu cầu về hệ thống quản lý môi trường hoặc nhãn môi trường như một trong những rào cản thương mại phi thuế quan là hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai khi mà các khu vực mậu dịch tự do được thiết lập và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới Vì vậy, việc vượt qua rào cản này có thể là một
Trang 28thách thức lớn lao đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nhiều năm tới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi đang còn thiếu nhiều các điều kiện để đáp ứng yêu cầu các nhà nhập khẩu
Như vậy, có thể thấy rằng các tiêu chuẩn và quy định quốc tế về môi trường đối với sản phẩm một mặt giúp gỡ bỏ các hàng rào trong thương mại nhưng mặt khác nó có thể là rào cản tiềm ẩn trong thương mại mà các nước phải tính đến
(2) Hạn chế khả năng cạnh tranh
Những cuộc tranh chấp thương mại liên quan đến các quy định và tiêu chuẩn môi trường gần đây cho thấy nhiều quốc gia sử dụng các biện pháp và chính sách môi trường để hạn chế nhập khẩu cũng như là một phương thức để tăng cạnh tranh xuất khẩu, tăng cường chỗ đứng trên thị trường, ngay cả khi chưa có áp lực gay gắt từ khách hàng nước ngoài Như vậy, các biện pháp môi trường có thể được sử dụng một cách tiềm tàng như một công cụ Marketing ở
cả trong nước và quốc tế Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ các điều kiện để áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hoá của mình Thực tế này là một thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi
mà việc áp dụng các biện pháp môi trường có thể làm tăng đáng kể chi phí sản xuất, do vậy làm giảm khả năng cạnh tranh
Trang 29(3) Thách thức đối với các nước đang phát triển
Thứ nhất, các công ty của các nước đang phát triển không có hệ thống
quản lý tại chỗ có thể có những khó khăn đáng kể trong việc áp dụng các hệ thống quản lý phức tạp hơn
Thứ hai, trong khi ở những nước phát triển thông tin về các quy định và
luật pháp áp dụng có thể nhận được thông qua các kênh thông tin được sử dụng tốt, thì các công ty ở những nước đang phát triển có thể phải đối mặt với các chi phí cao hơn trong việc thu thập thông tin đầy đủ về toàn bộ các quy định và pháp luật phải áp dụng
Thứ ba, trong khi ở các nước phát triển việc phân tích và đánh giá môi
trường được yêu cầu thường xuyên thì các công ty ở những nước đang phát triển có thể phải chịu chi phí đáng kể trong đánh giá tác động môi trường
(4) Thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)
Những khó khăn mà các DNVVN phải đối mặt trong việc xây dựng và
áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường trước hết là thiếu các nguồn tài
chính cần thiết, thiếu cán bộ có trình độ, khó tiếp cận các nguồn thông tin, khó
có khả năng chịu được các chi phí có liên quan đến việc xây dựng và chứng
nhận Thứ hai, Các DNVVN khó đạt được sự giảm bớt các chi phí cho việc đầu tư vào môi trường sinh lãi Thứ ba, Các DNVVN thiếu cơ sở hạ tầng, khả năng vật chất sẵn có cho thiết bị môi trường bị giới hạn Thứ tư, Các DNVVN khó đạt được đầu vào với giá cạnh tranh Thứ năm, Các DNVVN khó đảm bảo rằng nguyên liêu thô được sản xuất theo các chuẩn cứ môi trường Thứ sáu,
Chi phí thử nghiệm, giám định và kiểm định có thể là rất cao [29, 9]
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN VÀ QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Trong hơn ba thập kỷ qua, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục Một trong những động lực tăng trưởng chủ yếu của kinh tế Thái Lan là phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế về tài nguyên và nguồn lao động rẻ Đó là hàng nông sản, thuỷ sản, các sản phẩm công nghiệp chế biến như da giày, dệt may Tỷ lệ các mặt hàng xuất khẩu chế biến của Thái Lan hiện nay là hơn 70% Những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Thái Lan là
Trang 30dệt may, chế biến nông sản, thuỷ sản và sản phẩm lắp ráp công nghệ trung bình Năm 2002 xuất khẩu thuỷ sản đạt mức kỷ lục 7,1 tỷ USD, thực phẩm đóng hộp 300 triệu USD, sản phẩm dệt gần 60 tỷ USD, máy tính 80 tỷ USD, gạo 2,5 tỷ USD, thiết bị điện 50 tỷ USD [9, 4]
Trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nêu trên có thể dễ dàng nhận thấy nhóm hàng nông sản, thuỷ sản, dệt chiếm tỷ trọng lớn trong tổng xuất khẩu của Thái Lan Đây là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường và những bạn hàng của Thái Lan đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn môi trường Chẳng hạn, hàng thuỷ sản đòi hỏi các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (dư lượng độc tố - cloruaphenicol và dư lượng vi sinh) cũng như các yêu cầu về PPM – quy trình đánh bắt, bao bì đóng gói, bảo quản, vận chuyển… Thái Lan cũng đã từng bị phía Hoa kỳ, EU, Nhật Bản từ chối nhập khẩu tôm vì không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP Đặc biệt vụ kiện giữa Thái Lan và Hoa Kỳ liên quan đến việc sử dụng các phương tiện đánh bắt tôm biển không hợp lý Hoa Kỳ từ chối nhập khẩu tôm của Thái lan vì nước này sử dụng loại lưới đánh bắt tôm có thể đe doạ sự sống của các loài rùa biển Tuy vụ kiện này phía Thái Lan đã thắng nhưng mất rất nhiều thời gian và chi phí để hầu kiện Hàng dệt của Thái Lan cũng có thể bị từ chối nhập khẩu nếu
sử dụng những hóa chất bị cấm như thuốc nhuộm Azo, hóa chất bị cấm ở Đức
kể từ ngày 1/7/1995 [11, 45] Tương tự một số sản phẩm khác như đồ gỗ, nông sản cũng có thể bị tẩy chay nếu không tuân thủ các yêu cầu của các nước nhập khẩu Những ngành xuất khẩu chủ lực nói trên của Thái Lan cũng là những ngành nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao ở trong nước Chính vì vậy, Thái Lan buộc phải áp dụng nhiều biện pháp để một mặt đối phó với những hàng rào môi trường nhằm mở rộng thương mại quốc tế, mặt khác bảo vệ môi trường trong nước
Để đảm bảo phát triển bền vững, Chính phủ Thái Lan đã kết hợp các vấn
đề kinh tế và vấn đề môi trường ngay từ khâu lập kế hoạch, tập trung chủ yếu vào các vấn đề môi trường quan trọng như bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu
về môi trường, khuyến khích tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường,
sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là thuỷ sản, rau quả và hàng dệt may Những biện pháp chủ yếu được áp dụng là nâng cao hiểu biết về
Trang 31môi trường cho doanh nghiệp và các nhà quản lý; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, ban hành các quy định về bao
bì đóng gói, nhãn sinh thái, áp dụng các phương pháp sản xuất sạch, sử dụng các công cụ kinh tế như thuế, lệ phí môi trường; chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp như tín dụng (quỹ môi trường), cung cấp thông tin, kỹ thuật và chuyên môn, khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn môi trường như ISO 14000, HACCP, CODEX…
Hiện nay Thái Lan là một trong số các nước xuất khẩu chủ yếu tôm và
cá hồi vào các thị trường có các quy định và tiêu chuẩn ngặt nghèo về môi trường như Mỹ, Nhật và EU Ngành nuôi tôm và đánh bắt cá của Thái Lan là hai ngành có sản lượng lớn nhất trong khu vực Trong ngành nuôi tôm, kể từ tháng 11/1992 nông dân nuôi tôm phải đăng ký với bộ Hải sản, các trang trại lớn phải xây dựng khu xử lý nước và các chất thải phải đáp ứng được tiêu chuẩn BOD áp dụng cho ngành này [27, 12] Ngoài ra Thái Lan còn thành lập nhiều trung tâm kiểm tra chất lượng tôm xuất khẩu như dư lượng độc tố, kiểm tra chặt chẽ nguồn thuốc phòng bệnh được sử dụng Để đảm bảo chất lượng của sản phẩm xuất khẩu, Bộ Thủy sản phối hợp với Bộ Y tế và Bộ Thương mại tăng cường các biện pháp kiểm tra dư lượng kháng sinh trong thuỷ sản xuất khẩu cũng như nguồn thuốc phòng bệnh được sử dụng Các trung tâm khuyến ngư được thành lập với sự hỗ trợ công nghệ và chuyên gia của Chính Phủ giúp cho các hộ nuôi trồng quy mô nhỏ hiểu biết về quy trình nuôi trồng và phương pháp đánh bắt, cập nhật và cung cấp thông tin kịp thời về các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu
Để tiếp cận thị trường EU, Thái Lan đã có những biện pháp cứng rắn trong việc tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm Thái Lan kiên quyết cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi (5 loại kháng sinh) vì chúng có liên quan đến bệnh ung thư, trong đó có CAP từ lâu đã là trở ngại lớn đối với xuất khẩu tôm của Thái Lan vào EU Mọi trường hợp vi phạm đều bị đình chỉ hoạt động kinh doanh, sản xuất và bị phạt 10.000 baht Thái Lan cũng cấm sử dụng các chất gây ô nhiễm môi trường mà EU nêu ra trong Phụ lục I của Chỉ thị 96/23/EEC Họ xây dựng các tiêu chuẩn ngành về vùng nuôi an toàn vệ sinh thực phẩm và sạch bệnh đối với các cơ sở nuôi công nghiệp [11, 38]
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Thái Lan cũng có một số hạn chế nhất định: (1) Thiết bị kiểm tra dư lượng kháng sinh không tương đương với
Trang 32EU nên dẫn tới tình trạng nhiều lô hàng thuỷ sản, thịt gà xuất khẩu sang EU vi phạm quy định kiểm tra thú y bị EU tiêu huỷ hoặc trả lại; (2) Các doanh nghiệp thuỷ sản Thái Lan còn chậm trễ trong việc mua máy ELISA kiểm tra
dư lượng kháng sinh trong hàng thuỷ sản xuất khẩu Tính đến thời điểm này,
cả nước Thái Lan mới có 5 máy ELISA, trong khi đó Việt Nam có trên 20 máy [11, 39] Chính vì vậy dẫn tới tình trạng EU đã kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp kiểm tra tăng cường đối với thuỷ sản và thịt gà của Thái Lan Đến tháng 5/2003 EU mới bãi bỏ biện pháp kiểm tra 100% các lô hàng thuỷ sản và thịt gà xuất khẩu của Thái Lan, chuyển sang áp dụng biện pháp kiểm tra thông thường
Công nghiệp dệt của Thái Lan là một ngành được đầu tư phát triển từ rất sớm Mặc dù ngành này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng tác hại môi trường của nó cũng rất lớn Đó là ô nhiễm bụi, ô nhiễm nước do sử dụng nhiều loại hoá chất độc hại ở khâu nhuộm Để hạn chế ô nhiễm môi trường và vượt qua rào cản thương mại do việc sử dụng thuốc nhuộm Azo, từ năm 1996 Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để xử lý môi trường trong ngành dệt như sử dụng thuốc nhuộm không chứa Azo Đáp ứng yêu cầu này hàng dệt may của Thái Lan đã có sức cạnh tranh ở một số thị trường thuộc EU, đặc biệt là Đức
Mặc dầu tỷ trọng ngành nông nghiệp của Thái Lan đang có xu hướng giảm dần, nhưng đóng góp của nó đối với nền kinh tế là rất lớn Ngành chế biến nông sản là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Thái Lan Tuy nhiên việc tăng năng suất cây trồng cũng đi liền với việc sử dụng chưa hợp lý quỹ đất, rừng, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng nông sản xuất khẩu, môi trường sinh thái ở nông thôn và sức khoẻ của
bà con nông dân Trong thương mại quốc tế, việc lạm dụng quá mức thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật ở Thái Lan đã gặp phải phản ứng của Nhật Bản bằng việc hạn chế nhập khẩu rau quả Chính vì vậy từ năm 1992, Thái Lan đã
áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định môi trường của nước nhập khẩu như ban hành các tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm như gạo, cà phê, kiểm soát chặt chẽ nguồn thuốc trừ sâu và phân bón, quy định mức sử dụng hoá chất trong nông nghiệp, giảm trợ cấp trong nông nghiệp Thái Lan cũng áp dụng việc dán nhãn sinh thái cho sản phẩm gỗ
Ngoài ra, Thái Lan còn tham gia nhiều hiệp định quốc tế về môi trường
để được hưởng các ưu đãi tài chính Việc hạ thấp mức độ sử dụng ODS xuống
Trang 33dưới mức 0,3kg/người Thái Lan đã được hưởng ưu đãi 10 năm về tài chính do quỹ quốc tế giúp các nước đang phát triển loại bỏ ODS, CFC Tham gia rộng rãi các hiệp định thương mại đa phương cũng giúp cho Thái Lan có vị thế thuận lợi trong giải quyết các vấn đề tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường như vụ cấm nhập khẩu cá hồi và tôm của Mỹ Thái Lan cũng là một trong những nước đang phát triển đầu tiên áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả
Tóm lại, Thái Lan đã có nhiều biện pháp để đối phó với các hàng rào môi trường nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường Một trong những thành công của Thái Lan là ứng phó kịp thời trước những thay đổi quy định và tiêu chuẩn của nước nhập khẩu để từ đó có những giải pháp thích hợp Sự kết hợp hài hoà biện pháp hỗ trợ, khuyến khích với những biện pháp bắt buộc trên
cơ sở pháp luật đã có tác dụng tích cực để đối phó với yêu cầu của thị trường
1.4.2 Kinh nghiệm của Indonesia
Indonesia là một trong số những quốc gia Đông Nam Á tương đối thành công trong phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu Xuất khẩu trong nhiều năm
là động lực tăng trưởng chủ yếu của quốc gia này Hiện nay tổng kim ngạch xuất khẩu của Indonesia khoảng 60 tỷ USD [9, 24] Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, gỗ , cao su, thuỷ sản và cà phê Như vậy, phần lớn những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Indonesia là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường và có nhu cầu cao ở các nước nhập khẩu như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản Chính vì vậy, từ năm 1972, Chính phủ Indonesia đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, môi trường sinh thái và đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu
Một trong những biện pháp được sử dụng là chính sách trợ cấp đối với
các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường như miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị dùng để giảm ô nhiễm môi trường, trợ cấp cho các doanh nghiệp có các ứng dụng môi trường để hạn chế chi phí của họ đồng thời giúp
họ có sức cạnh tranh Indonesia còn lập quỹ quốc gia để giảm ô nhiễm Quỹ này trợ cấp cho các doanh nghiệp để xử lý vấn đề môi trường của mình dưới dạng vay vốn Nhờ những biện pháp như vậy mà các doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí, đầu tư cải thiện tình trạng môi trường của mình, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước Chính phủ ban hành quy định: “Các
dự án có tính trọng yếu về mặt môi trường phải thành lập quỹ bảo vệ môi
Trang 34trường và có giấy chứng nhận tuân thủ môi trường” và thực hiện Chương trình phát triển bền vững
Bên cạnh chính sách hỗ trợ, Chính phủ Indonesia còn sử dụng các công
cụ thị trường khác như thuế ô nhiễm, các loại phí và áp dụng ở các mức độ
khác nhau các tiêu chuẩn môi trường quốc tế như ISO 14000, ISO 9000 Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có được các chứng nhận về môi trường, các cơ quan chức năng đã phối hợp với các tổ chức quốc tế lập các cơ sở cấp chứng nhận môi trường cho các doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ họ về thông tin và một phần kinh phí
Việc cấp nhãn sinh thái đối với sản phẩm cũng là một cố gắng của
Indonesia trong việc thích nghi dần với môi trường cạnh tranh mới Nhãn hiệu sinh thái quốc gia Indonesia cấp cho các sản phẩm gỗ và các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học khác Điều này đã hạn chế được sức ép nhập khẩu
gỗ từ Indonesia Viện nhãn sinh học quốc gia Indonesia được giao nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu các tiêu chuẩn và tiêu chí đối với hệ thống quản lý rừng
có hiệu quả (Sustainable forest management) Viện này đồng thời cũng giám sát thực địa để xem các tiêu chuẩn đặt ra phù hợp với trình độ hay chưa Hiện tại ở Indonesia đã sử dụng hai loại nhãn đối với sản phẩm gỗ: (1) dán nhãn toàn bộ căn cứ vào việc phân tích toàn bộ vòng đời sản phẩm Tức là đánh giá tác động môi trường của sản phẩm đó từ khi còn là nguyên liệu thô cho đến khi trở thành phế liệu và (2) Nhãn sinh học đơn, tức là chỉ xác định ảnh hưởng môi trường của sản phẩm tại một giai đoạn nhất định Tuy nhiên việc áp dụng này
đã làm hạn chế thương mại ngành gỗ do tăng chi phí ở khâu chứng nhận mác sinh học và kiểm định chất lượng rừng trồng [11, 36]
Việc tham gia vào các hiệp định thương mại và môi trường thế giới cũng
là một trong những biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường trong nước và giúp các doanh nghiệp nâng cao nhận thức về yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế hiện đại
Bên cạnh những biện pháp chung để đối phó với các rào cản môi trường các nước, Indonesia đã có nhiều biện pháp cụ thể để nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đặc biệt là thuỷ sản Riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt hải sản, Indonesia ngoài việc quan tâm tới việc nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề
Trang 35bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Indonesia đã có những chính sách, biện pháp mạnh và đồng bộ để quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông thủy sản, hạn chế tối đa mức ô nhiễm môi trường để đảm bảo sức khỏe cho người dân, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của hàng nông thuỷ sản xuất khẩu Để đáp ứng tốt các quy định môi trường của các nước như
EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ đối với nhập khẩu hàng nông thuỷ sản, Indonesia đã triển khai thực hiện: (1) Quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông thuỷ sản chặt chẽ và thống nhất từ trung ương đến địa phương; (2) Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu thức ăn, hoá chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ nuôi trồng nông thuỷ sản, đặc biệt là những chất gây ô nhiễm môi trường; (3) Đầu tư thiết bị kiểm tra hiện đại; (4) Đào tạo và nâng cao trình độ của cán bộ kiểm tra; (5) Xây dựng quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) và áp dụng đại trà trong cả nước; (6) Nghiên cứu lai tạo giống thuỷ sản có năng suất, chất lượng cao, tạo ra giống thuỷ sản sạch; (7) Công tác khuyến ngư, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến các quy định về môi trường các nước đối với hàng nông thuỷ sản nhập khẩu cho các hộ nuôi trồng nông thuỷ sản, tập huấn, chuyển giao công nghệ về nuôi trồng thuỷ sản sạch, sơ chế và bảo quản nguyên liệu
(8) Xây dựng các trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi [11, 37]
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Là một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trong quá trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường Một số vấn đề do hậu quả của cơ chế tập trung để lại như chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, chính sách hợp tác hoá Một số khác phát sinh do quá trình tự do hoá thương mại nhanh chóng Cụ thể: các nguy cơ thiên tai như lũ lụt và hạn hán, các vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí do sử dụng các nhiên liệu có chứa nhiều lưu huỳnh dẫn đến mưa a xít, ô nhiễm nguồn nước do khí thải công nghiệp, phá rừng, săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã Đáp ứng yêu cầu môi trường của các nước nhập khẩu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu cũng là một vấn đề được Trung Quốc coi trọng Bởi vì nhiều mặt hàng xuất khẩu hiện nay của Trung Quốc nhạy cảm với môi trường
Chiến lược phát triển bền vững của Trung Quốc được triển khai từ đầu thập niên 90 thế kỷ 20 được thể hiện một cách rõ nét trong Chương trình nghị
Trang 36sự 21 (1993) Một số nội dung quan trọng liên quan đến thương mại và môi trường của chiến lược này là phát triển bền vững nông nghiệp, bền vững đa dạng sinh học, bền vững thương mại Chiến lược này được xây dựng trên cơ sở xuất phát từ mối liên hệ tổng thể giữa môi trường và phát triển, mục tiêu là sự phát triển hài hoà giữa kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật với dân số, tài nguyên
và môi trường với tiền đề giữ vững tốc độ phát triển kinh tế cao, thực hiện việc
sử dụng tổng hợp và lâu dài tài nguyên, không ngừng cải thiện chất lượng môi trường, không những làm cho người Trung Quốc đương đại có thể lấy từ kho tài sản quý giá của thiên nhiên những gì mà mình cần, đồng thời còn để lại cho đời sau môi trường sinh thái và tài nguyên để họ có thể tiếp tục sử dụng những
gì mà họ cần [16, 687-688]
Trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các chính sách thương mại và chính sách môi trường của Trung Quốc đảm bảo phát triển bền vững tập trung chủ yếu vào một số vấn đề như quản lý xuất nhập khẩu hạn chế suy thoái môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường để mở rộng xuất khẩu, quản lý lưu thông trong nước Cụ thể:
- Quản lý xuất nhập khẩu Quy chế quản lý xuất nhập khẩu của Trung Quốc quy định danh mục hàng hoá xuất khẩu có ảnh hưởng đến môi trường như hàng cấm xuất nhập khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu, hàng xuất nhập khẩu theo hạn ngạch Chẳng hạn, danh mục cấm xuất khẩu quy định 4 nhóm hàng là xương hổ, động vật hoang dã chưa hoặc đã qua chế biến, sừng tê giác, thuốc phiện và chất gây nghiện, chất nổ; 68 mặt hàng đã qua sử dụng, 54 mặt hàng quản lý bằng giấy phép Quy định về danh mục cấm hoặc hạn chế nhập khẩu của Trung Quốc cũng rất cụ thể gồm 18 nhóm hàng và 644 mặt hàng [6, 47] Quy chế cũng quy định những đối tượng được phép xuất nhập khẩu Quy chế này còn quy định hạn ngạch một số mặt hàng xuất nhập khẩu nhạy cảm đối với môi trường như nông sản, thuỷ sản, hoá chất…
- Kiểm tra giám sát hoạt động thương mại gây ô nhiễm Để quản lý xuất nhập khẩu các sản phẩm ảnh hưởng đến môi trường, Trung Quốc ban hành quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu Các quy định trong lĩnh vực này gồm (i) Hàng miễn kiểm nghiệm, kiểm dịch (ii) Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh và có yêu cầu đặc biệt bắt buộc kiểm nghiệm, kiểm dịch (iii) Quy định về chế độ giấy phép an toàn chất lượng (iv) Các quy định về vệ sinh y tế tại cảng, cửa khẩu Danh mục những mặt hàng thuộc diện kiểm nghiệm, kiểm dịch được quy định khá cụ thể và chi tiết
Trang 37- Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn môi trường Nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu, đặc biệt đối với hàng nông sản, thuỷ sản, công nghiệp chế biến, Trung Quốc đã khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO 14000…., đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển và bảo quản hàng xuất khẩu, phổ biến công nghệ sạch, năng lượng sạch cho các cơ sở sản xuất, cung cấp cho họ thông tin kịp thời về yêu cầu của nước nhập khẩu Hệ thống nhãn hiệu xanh, thực phẩm xanh (green food) đã được áp dụng Để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản, đồng thời thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Trung Quốc đã áp dụng chính sách “Hộp xanh” và “Hộp vàng” trong nông nghiệp Đối với nhóm nông sản được hưởng chính sách Hộp xanh, Nhà nước tăng cường hỗ trợ như giảm thuế,
hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp dịch vụ, đầu tư cơ sở hạ tầng Đối với nhóm được hưởng chính sách Hộp vàng, Nhà nước chuyển trợ cấp ở khâu lưu thông sang các khâu liên quan đến quá trình sản xuất, chế biến như ưu đãi vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, năng lượng
Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn sử dụng các chính sách thuế để hạn chế khai thác tài nguyên, quy định các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có điều kiện để bảo vệ môi trường trong nước, tăng cường hợp tác giữa các Bộ ngành trong vấn đề bảo vệ môi trường…
Nhìn chung, hệ thống chính sách về thương mại và môi trường của Trung Quốc tương đối đầy đủ và toàn diện Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn gia tăng Điều này có nguyên nhân do nhận thức của người tiêu dùng, doanh nghiệp và những người thực thi chính sách về môi trường còn yếu kém, quá coi trọng mục tiêu kinh tế, phát triển kinh tế bằng mọi giá Phát triển kinh tế quá nóng ở Trung Quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề môi trường cấp bách đối với Trung Quốc
Bảng 1.1: Đánh giá mức độ quan tâm của các nước đối với các biện
pháp nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn môi trường trong xuất khẩu
Thái Lan Indonesia Trung Quốc
Trang 38Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia
Ghi chú: x x x - Rất chú trọng; x x - Chú trọng; x- Ít chú trọng
1.4.4 Bài học đối với Việt Nam
Từ kinh nghiệm của các nước về việc nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường nhằm mở rộng thương mại quốc tế, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
- Giáo dục ý thức cộng đồng và nâng cao nhận thức về môi trường đối với các cơ quan quản lý và doanh nghiệp
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia trên cơ sở các yêu cầu quốc tế và đặc thù trong nước
- Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thông tin, khả năng tiếp cận nguồn vốn và dịch vụ môi trường và nguồn nguyên liệu sạch
- Đẩy mạnh đàm phán quốc tế nhằm hội nhập sâu hơn vào các tổ chức thương mại và môi trường để có thể tham gia rà soát hiệp định, xây dựng tiêu chuẩn quốc tế và tận dụng quyền nhận xét các quy định và tiêu chuẩn quốc tế, giải quyết các tranh chấp thương mại và môi trường trong buôn bán quốc tế
- Đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế biến và bảo quản
để hạn chế ô nhiễm trong quá trình sản xuất, loại bỏ độc tố và dư lượng vi sinh trong sản phẩm Tuân thủ các quy trình vận chuyển, bảo quản, đóng gói để
Trang 39nâng cao yêu cầu vệ sinh thực phẩm Giải pháp này, một mặt làm giảm giá thành sản xuất, mặt khác nâng cao chất lượng do đáp ứng được các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu về bao bì đóng gói, an toàn vệ sinh, quy trình chế biến
- Từng bước áp dụng các phương pháp sản xuất sạch, phát triển nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi giống cây con theo hướng năng suất cao và bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học
- Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn có tính đến các tác động của các quy định tiêu chuẩn và quy định môi trường của sản phẩm
- Đào tạo nguồn nhân lực
- Phối hợp giữa các cơ quan trong việc ban hành, thực thi, giám sát, kiểm tra và giải quyết tranh chấp các vấn đề về thương mại và môi trường là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để thúc đẩy tăng trưởng thương mại
và bảo vệ môi trường
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để tranh thủ kỹ thuật, chuyên gia và kinh phí
- Sử dụng các công cụ kinh tế để hạn chế việc sử dụng và khai thác quá mức các nguồn lợi môi trường
- Xây dựng các luật về môi trường đối với sản phẩm như Luật bao bì đóng gói, Luật nhãn sinh thái, Luật vệ sinh an toàn thực phẩm…
Trang 40CHƯƠNG II
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
MỘT SỐ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 2.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG CỦA SẢN PHẨM XUẤT KHẨU
2.1.1 Đánh giá khái quát về thực trạng hoạt động xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 - 2003
Xuất khẩu hiện nay là một trong những trụ cột chính của nền kinh tế Việt Nam, chiếm hơn 50% GDP (năm 2003) [1, 2] Tăng trưởng xuất khẩu trong nhiều năm là động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế, góp phần tích cực vào giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách như tăng việc làm, xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
Trong thời gian qua, xuất khẩu đã đạt được những thành tựu sau đây:
- Tăng trưởng xuất khẩu đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP Tăng trưởng xuất khẩu thời kỳ 1991-2003 cao hơn tốc độ tăng GDP hơn 2,5 lần Tỷ trọng xuất khẩu trên GDP tăng từ 21% năm 1991 lên 53% năm 2003
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 – 2003
GDP* (% )
Kim ngạch
XK (tr USD)
Tốc độ tăng xuất khẩu (% )
GDP (tr USD)
XK so GDP (% )