Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn vốn ngân hàng cùng với tình hình cụ thể trong việc cho vay đối với các DNNVV của NHTMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Ba Đình trong thời gi
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHTM 3
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 3
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.2 Vai trò và vị trí của DNVVN trong nền kinh tế quốc dân 4
1.1.3 Đặc điểm của các DNVVN ở Việt Nam 7
1.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DNVVN 10
1.2.1 NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM 10
1.2.2 Hoạt động tín dụng của NHTM 15
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN 20
1.3CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNVVN 22
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng đối với DNVVN 22
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN 23
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN 25
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN 28
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BA ĐÌNH 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BA ĐÌNH 35
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
2.1.2.Cơ cấu tổ chức của Viettinbank Ba Đình 38
2.1.3.Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Vietinbank Ba Đình 41
2.1.4.Kết quả kinh doanh trong những năm qua 48
2.2.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BA ĐÌNH 49
2.2.1.Dư nợ cho vay các DNVVN 49
2.2.2.Cơ cấu dư nợ đối với các DNVVN 51
2.2.3.Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN 58
2.3.ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNNVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 60
2.3.1.Những kết quả đạt được 60
Trang 2CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DNVVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 66
3.1.ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 66
3.1.1.Định hướng chung của NHTMCP Công thương Ba Đình 66
3.1.2.Định hướng phát triển tín dụng đối với DNVVN tại NHTMCP Công thương Ba Đình ……… 67
3.2.GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH 68
3.2.1 Xây dựng chiến lược tín dụng riêng đối với khách hàng là DNVVN 68
3.2.2 Xây dựng chính sách tín dụng hợp lý và linh hoạt đối với DNVVN 68
3.2.3 Giảm thiểu phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu 70
3.2.4 Nâng cao chất lượng thẩm định và hoàn thiện mạng lưới thông tin 71
3.2.5 Nâng cao hoạt động Marketing Ngân hàng 72
3.2.6 Phát huy nhân tố con người 74
3.2.7 Tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ cho các DNVVN 75
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 76
3.3.1.Kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà Nước 76
3.3.2.Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 78
3.3.3.Kiến nghị đối với NHTMCP Công thương Việt Nam 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 3DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 4Bảng 1.1: Tham khảo về chỉ tiêu DNNVV ở một số nước 3
Bảng 1.2: Quy mô DNVVN ở Việt Nam 4
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Vietinbank Ba Đình 39
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại Vietinbank Ba Đình 42
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn tại Vietinbank Ba Đình 45
Biểu đồ 2.1: Tình hình sử dụng vốn tại Vietinbank Ba Đình 45
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh tại Chi nhánh Ba Đình 48
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay đối với DNVVN qua các năm 49
Biểu đồ 2.2: Dư nợ cho vay đối với DNVVN qua các năm 51
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN theo thời hạn nợ 51
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo thời hạn cho vay 52
Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng DNVVN theo ngành 53
Bảng 2.7: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN theo TSĐB trong tổng dư nợ 54
Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN theo chất lượng dư nợ 56
Bảng 2.9: Cơ cấu dư nợ đối với DNVVN theo loại tiền 57
Biểu đồ 2.4: Biểu đồ cơ cấu tín dụng DNVVN theo loại tiền 58
Bảng 2.10: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN 59
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Những năm qua DNNVV ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Với những ưu điểm như tổ chức bộ máy gọn nhẹ, không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, dễ thích ứng với những biến động của thị trường Các DNNVV ngày càng phát triển và phù hợp với yêu cầu đổi mới Đồng thời còn là nền tảng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì thế phát triển DNNVV là chiến lược quan trọng
và lâu dài của đất nước
Trong điều kiện của đất nước hiện nay, năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, vốn tự có của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Vì thế vốn vay ngân hàng đang là nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp trong việc tăng cường đầu tư phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Năm 2012,tình hình tín dụng tuy không còn dồn dập với những sự kiện bất thường như năm 2011 nhưng cũng là một năm kinh doanh không mấy thuận lợi đối với các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NHTM nói riêng,đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn vốn ngân hàng cùng với tình hình cụ thể trong việc cho vay đối với các DNNVV của NHTMCP Công thương Việt Nam - chi nhánh Ba Đình trong thời gian thực tập, em đã chọn
đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Ba Đình” làm đề tài
nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Chất lượng tín dụng của NHTM đối với DNVVN được xem xét toàn diện thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng Với quy mô nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp, em xin đi sâu phân tích chỉ tiêu định lượng để phản ánh chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
Chuyên đề tốt nghiệp có kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về chất lượng tín dụng đối với DNVVN của NHTM
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối vơi DNNVV tại
Trang 6Do vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề thực tập của
em không thể tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự góp ý
từ phía thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực tập
Hoàng Cao Sơn
Trang 7CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NHTM 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế quốc dân thì các doanh ngiệp vừa và nhỏ chiếm một
tỷ trọng khá lớn trong tổng các doanh nghiệp cả nước Và càng ngày thì các doanh nghiệp này đã không ngừng phát triển, từng bước khẳng định vai trò
và vị trí trong nền kinh tế đất nước.Trên thực tế các nước căn cứ chủ yếu vào hai tiêu chí cơ bản là vốn sản xuất, số lượng lao động thường xuyên để phân biệt DNNVV với các doanh nghiệp lớn
Trong các nước APEC chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Còn các chỉ tiêu khác thì tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước.Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì trị số các tiêu chí càng tăng lên Tính chất ngành nghề : do đặc điểm của từng ngành khác nhau, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện
Bảng 1.1: Tham khảo về chỉ tiêu DNNVV ở một số nước
ÚC - Sản xuất : dưới 100 LĐ
- Phi sản xuất: dưới 20 LĐ
MỸ - Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ
- Doanh nghiệp vừa: 101-499 LĐ
- Bán lẻ, dịch vụ: dưới 50 LĐ hoặc dưới 10 triệu Yên
ĐÀI LOAN
- Công nghiệp, xây dựng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 LĐ
- Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 LĐ
- Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NT$
(Nguồn: www.cdtm.edu.vn)
Trang 8Ở Việt Nam DNVVN được xác định theo tiêu chí lượng Ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ra nghị định 56/2009/NĐ-CP thay thế nghị định 90/NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001, theo Nghị định thì “DNVVN là cơ sở đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia ra 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc theo số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Quy mô DNVVN ở Việt Nam
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến 50 người
Từ trên 10 tỷ đồng đến 50
tỷ đồng
Từ trên 50 người đến
100 người
(Nguồn: Điều 3 nghị định Chính phủ số 56/2009/NĐ-CP)
1.1.2 Vai trò và vị trí của DNVVN trong nền kinh tế quốc dân
Sự tồn tại của DNNVV trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam Theo Cục Phát triển doanh nghiệp -
Bộ Kế hoạch & Đầu tư, năm 2009, cả nước hiện có 453.000 DNNVV, chiếm 87% tổng số doanh nghiệp trên cả nước
1.1.2.1 DNNVV đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của DNNVV đã thể hiện được vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu nhập quốc dân DNNVV là một lực lượng kinh tế
Trang 9đóng góp đáng kể vào tổng sản tăng lượng quốc nội Số liệu thống kê cho thấy, hàng năm DNNVV đã đóng góp hơn 40% vào GDP, chiếm tỷtrọng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp gần 15% tổng thu ngân sách Nhà nước
1.1.2.2 DNNVV đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
Dân số ngày càng gia tăng trong những thập niên qua, đã tạo áp lực lớn đối với thị trường lao động Việt Nam Mỗi năm nước ta có khoảng 1 triệu lao động đến độ tuổi lao động Nhưng trình độ, kinh nghiệm và chất lượng lao động còn thấp Vì vậy vấn đề việc làm luôn là vấn đề cấp bách hiện nay Do đặc tính của DNVVN phân bố rải rác, phân tán, nên có thể đảm bảo cơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng chưa phát triển kinh tế, các đối tượng lao động có trình độ thấp Nhờ vậy chúng vừa giúp giảm tình trạng thất nghiệp và tình trạng dân cư đổ xô về thành phố để tìm việc làm
1.1.2.3 DNNVV tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Do quy mô vừa và nhỏ nên DNVVN có thể đặt nhà xưởng, văn phòng, kho bãi ở khắp nơi trên đất nước Vì thế sẽ tận dụng, khai thác được lao động, nguyên vật liệu các sản phẩm phụ ở từng nơi Việc tạo lập DNVVN không cần quá nhiều vốn nên tạo cơ hội cho nhiều tầng lớp xã hội, đông đảo dân cư góp vốn đầu tư, giúp huy động và tận dụng hết nguồn vốn nhỏ lẻ, nhà rỗi để đưa vào sản xuất DNVVN không những góp phần tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả mà còn có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp thường đặt cơ sở ở những vùng trung tâm kinh tế của đất nước nơi có cơ sở hạ tầng phát triển, thuận lợi cho về giao thông và trao đổi buôn bán Xu hướng này gây ra tình trạng mất cân đối giữa các vùng miền, không tận dụng hết được tài nguyên quốc gia, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế Trong khi đó DNVVN tham gia với tổ chức bộ máy gọn nhẹ, quy
Trang 10mô nhỏ, dễ khởi sự có thể dễ dàng tham gia vào tất cả thị trường góp phần tạo lập cân đối trong sự phát triển giữa các vùng Hơn thế nữa việc phát triển các DNVVN giúp tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ, thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân tạo sự hợp lý giữa cơ cấu ngành Ngoài ra, DNVVN được xem như một thành phần giữ ổn định cho nền kinh tế
1.1.2.4 DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa
Các doanh nghiệp lớn không thể bao quát được hết toàn bộ thị trường gây khó khăn cho việc tổ chức mạng lưới bán lẻ, tiếp cận với thị trường khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Với các đặc trưng nhỏ lẻ và năng động, các DNVVN tập trung vào các thị trường hỗ trợ đáng kể cho doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận thị trường, điều tiết phân phối và lưu thông hàng hóa Điều này giúp cho các DN lớn giảm các khoản chi phí vận chuyển tạo điều kiện cho người tiêu dung dễ tiếp cận với sản phẩm dịch vụ của nhà sản xuất Hơn nữa nó cũng tạo ra liên kết giữa các DNVVN và doanh nghiệp lớn trong tổng thể nền kinh tế DNVVN cũng là tiền đề tạo ra doanh nghiệp lớn và làm lành mạnh môi trường kinh doanh
1.1.2.5 Tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển có hiệu quả hơn
Sự hình thành rất nhiều DNVVN trên mọi lĩnh vực, làm cho số lượng và chủng loại sản phẩm sản xuất tang lên rất nhanh Kế quả là làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với môi trường mới và có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Những yếu tố đó tác động lớn làm cho nền kinh tế năng động hơn và hiệu quả hơn
Việc hình thành các cơ sở sản xuất ngay tại nông thôn, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, thực hiện quá trình đô thị hóa phi tập trung
có ý nghĩa đặ biệt quan trọng trong quá trình CNH-HĐH ở các nước đang phát triển như nước ta
Trang 111.1.2.6 DNVVN hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh và sáng tạo
Các DNVVN thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng với những tác động bất lợi của nền kinh tế, đòi hỏi những người quản lý và sáng lập ra các DNVVN phải có tính linh hoạt cao trong quản
lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm
Tích tụ, tập trung sản xuất, sáp nhập, giải thể là các hoạt động thường xuyên diễn ra ở khu vực DNVVN trong mọi giai đoạn Đây là một sức ép lớn buộc các nhà quản lý các DNVVN luôn phải đổi mới, tìm kiếm các phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh
Với một số lượng lớn và một tỷ lệ lớn các DNVVN, thì sự có mặt của đội ngũ các nhà quản lý này có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt và phù hợp với môi trường kinh doanh
Với một số lượng lớn và một tỷ lệ lớn các DNVVN, thì sự có mặt của đội ngũ các nhà quản lý này có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt và phù hợp với những biến động thị trường
Qua các phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quan trọng của các DNVVN đối với kinh tế Do đó, việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển các DNVVN là một nhiệm vụ quan trọng trong chiên lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nước ta trong thời gian tới
1.1.3 Đặc điểm của các DNVVN ở Việt Nam
DNVVN có những đặc điểm khá đặc thù so với các loại hình doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế Chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm nổi bật của các DNVVN mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế cũng như những hạn chế như sau:
- Thứ nhất, DNVVN dễ dàng khởi sự và linh hoạt, năng động nhạy bén,
dễ thích ứng với thị trường
Trang 12DNVVN chỉ cần một số vốn hạn chế, một mặt bằng hẹp là đã có thể khởi
sự kinh doanh Với vòng quay sản phẩm nhanh, quy mô nhỏ, bộ máy quản lý hết sức gọn nhẹ có thể chuyển hướng sản xuất kinh doanh, và phản ứng nhanh nhạy trước thị trường khi có những biến đổi bất lợi cho doanh nghiệp DNVVN thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ, có thể nắm bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương Vì vậy DNVVN có thể khai thác hết sức mạnh và khả năng của mình đạt hiệu quả kinh
tế cao
- Thứ hai, DNVVN dễ quản lý
DNVVN có quy mô nhỏ với số lượng vốn và lao động không nhiều, việc
cơ cấu và tổ chức tương đối đơn giản và không cần nhiều khâu trung gian nên việc quản lý tài chính cũng như quản lý nhân sự được thực hiên dễ dàng hơn
- Thứ ba, chi phí cố định thấp, linh hoạt trong việc sử dụng và thay đổi
- Thứ tư, DNVVN có thể phát huy tiềm lực tại chỗ trong nước
Với quy mô sản xuất nhỏ và lượng nguyên đầu vào không quá nhiều như đối với doanh nghiệp lớn, nên DNVVN có thể tận dụng được các khu vực có nguồn nguyên liệu thấp đồng thời tận dụng được nguồn nhân lực nhàn dỗi tại địa phương
Hạn chế:
- Thứ nhất, khả năng tài chính của DNVVN hạn chế
Hiện nay khó khăn lớn nhất của các DNVVN ở các nước nói chung và ở Việt Nam nói riêng là tình trạng thiếu vốn để sản xuất Trước hết là do nguồn
Trang 13vốn chủ sở hữu thấp DNVVN hầu như không đáp ứng được điều kiện để có mặt trên thị trường chưmgs khoán Vì vậy DNVVN đang huy động vốn từ hai nguồn: nguồn thứ nhất là vốn vay NH chiếm tỉ trọng lớn, nguồn thứ hai từ nguồn vốn của chính bản thân doanh nghiệp, từ gia đình, bạn bè
Do hạn chế về trình độ và kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạc tài chính, phương án, dự án đầu tư nên bản thân các doanh nghiệp cũng ít đưa ra được các
dự án có tính khả thi, có hiệu quả kinh tế đủ sức thuyết phục nhà đầu tư, đủ điều kiện xin vay vốn NH
- Thứ hai, khả năng cạnh tranh thấp
Các DNVVN của Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên còn nhiều hạn chế và yếu kém bởi vì chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản
lý còn yếu kém Trình độ lao động thấp, sự yếu kém về thương hiệu, nhận thức
và chấp hành phát luật còn hạn chế Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm còn cao làm cho khả năng cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài không cao
- Thứ ba,khả năng về công nghệ còn thấp và lạc hậu
Hiện nay, phần lớn DNVVN nước ta đang gặp khó khăn trong nghiên cứu khoa học và tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến do thiếu kinh phí Nhìn nhận thực tế cho thấy, công nghệ mà chúng ta nhập khẩu về toàn là công nghệ
cũ đã lạc hậu của nước ngoài, gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó có những dây chuyền máy móc mới nhập về, khả năng điều khiển và sửa chữa của chúng
ta còn thấp, hầu như vẫn phải cần đến các chuyên gia nước ngoài, làm cho chi phí cao
- Thứ tư, Trình độ quản lý và đội ngũ lao động còn nhiều hạn chế
Do đặc thù là các DNVVN với quy mô và không gian hoạt động tương đối nhỏ, kĩ năng sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình, nên trình độ quản lý và khả năng tổ chức mang tính tự phát.Qua những đặc điểm của các DNVVN ở Việt Nam như trên, chúng ta có thể thấy được việc hỗ trợ phát triển các DNVVN là nhiệm vụ hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế lâu dài
Trang 141.2 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DNVVN
1.2.1 NHTM và các hoạt động cơ bản của NHTM
1.2.1.1 Khái niệm NHTM
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều định nghĩa về NHTM:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịchvụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tàinguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Việt Nam, pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng nhà nước Việt Nam khẳng định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng khoản tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Luật tổ chức tín dụng (luật số 47/2010/QH12) nêu rằng: Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Từ những khái niệm trên có thể cho rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ nó, nguồn tiền nhàn rỗi tại các khu vực kinh tế sẽ được huy động, tạo lập và cho vay phát triển lại nền kinh tế
1.2.1.2 Các hoạt động của NHTM
Trang 15Hoạt động của NHTM có thể chia thành 3 nghiệp vụ cơ bản: Nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ cấp tín dụng và đầu tư, và hoạt động cung cấp dịch vụ
a Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ) của NHTM
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế
Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:
Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn tự có của ngân hàng (Bank’s Capital) Là vốn chủ sở hữu khi ngân hàng mới thành lập,nguồn vốn bổ sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữu
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm:
- Quỹ dự trữ : được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều
lệ
- Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng
- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ
- Quỹ khen thưởng phúc lợi
- Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư XDCB
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất tuy nó chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng
Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng
Trang 16nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
- Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Phát hành giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu
- Các khoản tiền gửi khác
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại Thuộc loại này bao gồm:
- Vốn vay trong nước:
Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho ngân hàng thương mại thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng Làm như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với ngân hàng thương mại
- Vốn vay ngân hàng nước ngoài
Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định
Dự trữ
Trang 17Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵn sàn đáp ứng nhu cầu thanh toán Phần vốn để dành này gọi là dự trữ Ngân hàng nhà nước được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gởi dự trữ bắt buộc do chính phủ qui định Dự trữ bao gồm:
- Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves): bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân
hàng NN, tại các ngân hàng khác
- Dự trữ thứ cấp (Secondary Reserves): (cấp hai) là dự trữ không tồn tại
bằng tiền mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán
để chuyển thành tiền một cách thuận lợi Thuộc loại này gồm: Tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận, các giấy tờ ngắn hạn khác Gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt
đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố …
- Chiết khấu:
Trang 18Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác
- Cho thuê tài chính
Là loại hình tín dụng trung, dài hạn Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định
kỳ Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê
- Bảo lãnh ngân hàng
Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết
Các hình thức cấp tín dụng của NHTM rất đa dạng và càng ngày càng gần hơn với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi giới hạn của chuyên đề này, khái niệm “tín dụng” chỉ dùng để chỉ đến hoạt động cho vay
Đầu tư
Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:
- Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty, hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng
- Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty… Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp
Trang 19 Tài sản Có khác:
Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản cố định nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài
ra còn các khoản phải thu, các khoản khác…
c.Nghiệp vụ trung gian
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng
kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại Các hoạt động này gồm:
- Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán )
- Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công chúng
- Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí
- Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu…
1.2.2 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.2.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn một bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả
cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội Nó không phải là quan
Trang 20hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thới thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó
là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhựng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi
a Phân loại theo thời gian cấp tín dụng
- Tín dụng có kỳ hạn: là khoản tín dụng có thời hạn xác định về ngày trả
nợ Tín dụng có kỳ hạn, tín dụng trung và dài hạn Mặc dù hầu hết các nước đều thống nhất về điều này nhưng thời gian cụ thể được quy định cho từng loại lại không hoàn toàn đồng nhất Ở Việt Nam hiện nay, theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN/ ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì:
+ Cho vay ngắn hạn: Tối thiểu đến 12 tháng, được xác định phù hợp với
chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
+ Cho vay trung hạn, dài hạn: thời hạn cho vay được xác định phù hợp
với thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tích chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng
*Thời hạn cho vay trung: từ trên 12 tháng đến 60 tháng
*Thời hạn cho va dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống
- Tín dụng không kỳ hạn: là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản cho vay không xác định rõ thời hạn trả nợ
b Phân loại theo thành phần kinh tế:
Trang 21Có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước
- Cho vay kinh doanh tập thể
- Cho vay kinh tế tư nhân
- Cho vay kinh tế cá thể
- Cho vay kinh tế hỗn hợp
c Phân loại theo phương thức hoàn trả
Theo phương thức hoàn trả thì các khoản cho vay còn có thể được phân chia theo hai loại: cho vay hoàn trả một lần và cho vay trả góp
- Cho vay hoàn trả một lần: các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể được hoàn trả theo thỏa thuận trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hoặc theo năm
- Cho vay trả góp: việc hoàn trả được tiến hành theo định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hay không bằng nhau tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng
d Phân loại theo mức độ đảm bảo
Các ngân hàng có thể đảm bảo hay không có đảm bảo tùy thuộc vào mức độ tín nhiệm của ngân hàng đôí với khách hàng vay cũng như độ
rủi ro của phương án xin vay
Từ đảm bảo của khách hàng ở đây chỉ được hiểu là đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba Cách đảm bảo này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay không trả được nợ khi đến hạn Các tài sản được đem thế chấp thường là các bất động sản trong khi các tài sản được đem cầm cố lại là các động sản nhỏ, vật tư hàng hóa, chứng khoán và các giấy tờ khác…Yêu cầu cơ bản đối với các tài sản được đem thế chấp, cầm
cố là chúng phải có tính thị trường tức là có khả năng thanh lý được
e Phân loại theo nguồn phát sinh các khoản tín dụng
Cho vay trực tiếp: trước khi cấp tiền ra ngân hàng có mối liên hệ
vay…
Trang 22Cho vay gián tiếp: ngân hàng bỏ tiền ra cho vay nhưng không có liên hệ
gì với người vay như: cho vay hợp vốn đối với ngân hàng khác…
cho vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể lệ và chính sách tín dụng phù hợp Trong thực tế kinh doanh ngân hàng chúng ta thường xem xét chủ yếu là các loại hình tín dụng ngắn hạn là chủ yếu
Khi phân chia các loại hình tín dụng ngắn hạn người ta thường nhìn dưới góc độ các “sản phẩm tín dụng” hay còn gọi là kỹ thuật cấp tín dụng
Bước 1: Phân tích trước khi cấp tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng tín dụng Nội dung chủ yếu là thu thập và xử lý thông tin liên quan đến khách hàng: năng lực, uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận, ngân quỹ, sở hữu tài sản…Phương pháp chủ yếu
để thu thập và xử lý thông tin bao gồm: phỏng vấn trực tiếp, mua hoặc tím kiếm thông tin qua trung gian, thông tin từ báo cáo của người vay
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng là văn bản viết ghi lại thỏa thuận giữa người nhận tài trợ (khách hàng) và ngân hàng với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp cho khách hàng một khoản tín dụng trong một khoảng thời gian và lãi suất nhất định Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi HĐTD được ký kết ngân hàng có trách nhiệm cấp tiền, hoặc thanh toán tiền hàng cho khách hàng Kèm theo đó là ngân hàng phải kiểm tra khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích, đúng tiến độ không? Quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất thường không? Quá trình này cho phép
Trang 23ngân hàng thêm thông tin về khách hàng Nếu thông tin tốt như dự kiến thì chất lượng tín dụng được đảm bảo và ngược lại
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới
Quan hệ tín dụng kết thúc khi NH thu hồi hết gốc và lãi Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn
1.2.2.4 Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và mọi nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
Chính sách tín dụng bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố chủ đạo là nhu cầu tín dụng của khách hàng (quyết định nội dung và thành công của chính sách tín dụng) và khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng (quyết định tính
an toàn và sinh lợicủa hoạt động tín dụng)
Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng bao gồm:
vốn phù hợp với quy định của pháp luật và những ưu đãi đối với khách hàng truyền thống
khách hàng với món tiền hoặc hạn mức nhất định Ngân hàng có thể tài trợ tối
đa bằng nhu cầu tùy thuộc vào mức độ an toàn của vốn
theo kỳ hạn, loại tiền, đối tượng khách hàng Ngân hàng có thể cung cấp các loại lãi suất: lãi suất cố đinh, lãi suất thả nổi, lãi suất hỗn hợp Ngoài ra, ngân hàng còn thu một khoản phí tín dụng theo tỷ lệ phần trăm của hạn cam kết, mức phí này được xác định chủ yếu dựa trên rủi ro, phí huy động vốn hoặc các chi phí khác
khoản tiền đầu tiên phát ra đến lúc khách hàng hoàn trả hết cả vốn và lãi theo
Trang 24hợp đồng cam kết Thời hạn tín dụng trung bình càng nhỏ, rủi ro thấp, càng tăng tính thanh khoản của các khoản tài trợ
thiệt hại của ngân hàng khi khách hàng gặp khó khăn không trả được nợ Chính sách đảm bảo thường bao gồm các quy định về các loại đảm bảo, đánh giá và quản lý đảm bảo Ngân hàng thường chỉ chấp nhận các tài sản có khả năng bán được làm bảo đảm Định giá đảm bảo cho ngân hàng đưa ra mức phán quyết tín dụng thích hợp
một hoặc nhiều lần tùy đối tượng Điều kiện giải ngân nhằm tài trợ đúng mực đích Điều kiện thanh toán bao gồm thanh toán tiền gốc và tiền lãi có thể gốc và lãi cùng thanh toán 1 lần, lãi trả hàng tháng gốc trả một lần khi đến hạn
khoản nợ xấu và các tài sản có biểu hiện đáng ngờ Chính sách đối với tài sản có vấn đề gồm quy định mức rủi ro có thể chịu được và các điều kiện để chung sống cùng rủi ro
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng
sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan trọng,nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy
hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách
về tín dụng, thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, ta xét một số vai trò sau:
1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được liên tục
Trang 25Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng
cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục
1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được
nợ và kinh doanh có lãi Trong quá trình cho vay ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
1.2.3.3 Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
Trang 261.2.3.4 Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại
và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước
và nước ngoài là một vấn đề khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn
đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không còn nữa Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng Chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển
sản xuất kinh doanh
1.3 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNVVN
1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Trong hoạt động kinh doanh, các NHTM luôn lấy Chất lượng tín dụng làm tiêu thức quan tâm hàng đầu.Chất lượng tín dụng là việc ngân hàng đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng Các khoản tín dụng này sẽ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Kết quả là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, mở rộng quy
mô sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời trả được gốc và lãi tiền vay cho ngân hàng
Chất lượng tín dụng được xem xét trên các phương diện:
quá trình sản xuất và lưư thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
sử dụng hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, thúc đẩy quá trình tích tụ
Trang 27tập trung sản xuất kinh doanh, góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng kinh tế, phát triển kinh tế đất nước.
phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn
cầu vay vốn hợp lý của doanh nghiệp với lãi suất phù hợp và các thủ tục cần đơn giản để không làm mất cơ hội của doanh nghiệp
Đối với bất kỳ một ngân hàng nào thì tín dụng bao giờ cũng được coi là hoạt động chủ yếu, mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đe dọa hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì thế việc nâng cao chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại luôn là một yêu cầu bức xúc, là điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn tại và phát triển không chỉ riêng cho bản thân mỗi ngân hàng mà còn cho cả hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế
1.3.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Trên thực tế, các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng luôn hặp khó khăn về vốn, kể cả khi nền kinh tế lạm phát, tăng trưởng nóng và cả khi nền kinh tế suy thoái, giảm phát Không ít dự án tốt bị gián đoạn, chậm thực hiện, thậm chí không thực hiện được do thiếu vốn Vì vậy cần thấy rõ sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN trên các khía cạnh sau:
1.3.2.1 Đối với NHTM
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của các NHTM Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM Nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN giúp cho Ngân hàng bảo đảm
an toàn nguồn vốn, kiểm soát rủi ro Đồng thời, nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng giúp Ngân hàng tạo được hình ảnh và uy tín, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó NH có thể tiếp cận với nhiều khách hàng khác nhau,
mở rộng thị phần, đồng thời tăng cường mở rộng các dịch vụ ngân hàng, phục
vụ trọn gói cho các doanh nghiệp Nâng cao chất lượng tín dụng giúp cho các Ngân hàng kiểm soát tốt hơn các khoản vay từ khi mới cấp vốn và ngay trong
Trang 28quá trình cho vay kịp thời phát hiện các dấu hiệu rủi ro và có biện pháp cùng các doanh nghiệp khắc phục làm giảm thất thoát nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Ngân hàng Nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN còn giúp Ngân hàng phân tán rủi ro của danh mục cho vay do số lượng khách hàng lớn, quy mô từng khoản vay nhỏ, trải rộng trên hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực của nền kinh tế
Mặt khác, nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN sẽ giúp Ngân hàng giữ chân được khách hàng truyền thống và thu hút được khách hàng mới, mở rộng phạm vi hoạt động, thu thập được nhiều thông tin hơn Nâng cao chất lượng tín dụng còn giúp cho Ngân hàng tiết kiệm được chi phí phát sinh từ các khoản nợ xấu và chi phí cho các khoản nợ không hoàn trả được từ đó kinh doanh có hiệu quả hơn
1.3.2.2 Đối với DNVVN
Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN có ý nghĩa hết sức quan trọng với DN vì nâng cao chất lượng tín dụng giúp DN tiếp cận nguồn vốn tín dụng Ngân hàng với các thủ tục đơn giản, nhanh chóng với mức lãi suất hợp
lý, giúp cho các DN tiết kiệm được thời gian, chi phí, nắm bắt kịp thời các cơ hội với nguồn vốn Ngân hàng, do áp lực trả nợ giúp DN sẽ phải tổ chức sản xuất kinh doanh sử dụng vốn hiệu quả Ngoài ra, nâng cao chất lượng tín dụng giúp DNVVN sử dụng vốn vay đúng mục đích và hợp lý bởi có sự giám sát, quản lý của các Ngân hàng cho vay vốn, đồng thời các DNVVN còn được sự giúp đỡ và
tư vấn về các vấn đề tài chính tiền tệ bởi các chuyên gia NH giúp cho DN tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của mình
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế quốc dân
DNVVN có vai trò to lớn đối với nền kinh tế vì vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng giúp các DN phát triển, hoạt động sản xuát kinh doanh hiệu quả hơn, thu được lợi nhuận lớn từ đó giúp tăng trưởng sản lượng GDP và tăng trưởng kinh tế Giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội
và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước
Nâng cao chất lượng tín dụng giúp giải quyết tốt mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, vốn đầu tư sẽ được sử dụng hiệu quả hơn, tạo ra nhiều lợi
Trang 29nhuận hơn cho các nhà đầu tư, giúp cho nền kinh tế có những nguồn lực mới Nâng cao chất lượng tín dụng còn góp phần thực hiện tốt mục tiêu các chính sách kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ, và các chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội
1.3.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNVVN
Để đánh giá chất lượng tín dụng có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Nhưng tựu trung lại có 2 tiêu chí: định tính và định lượng Trong phạm vi chuyên đề thực tập tốt nghiệp, em xin đi sâu phân tích chỉ tiêu định lượng
1.3.3.1 Chỉ tiêu dư nợ cho vay
Là số tiền mà ngân hàng đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ Nó phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng cho nền kinh tế nói chung và cho DNVVN nói riêng
Thông qua đây, ta có thể biết được tăng trưởng dư nợ cho vay của DNVVN qua các năm Mặt khác ta còn tính được tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNVVN
Tỷ trọng dư nợ cho
Dư nợ cho vay DNVVN
x100% Tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
Nó sẽ phản ánh quy mô tín dụng đối với DNVVN trong hoạt động tín dụng của ngân hàng So sánh chỉ tiêu này qua các năm cho ta thấy sự thay đổi cơ cấu tín dụng đối với DNVVN trong tổng dư nợ của ngân hàng Mặt khác, tỷ lệ này sẽ được khống chế tại một mức nào đó có thể chấp nhận được theo từng giai đoạn của hệ thống ngân hàng
1.3.3.2 Chỉ tiêu doanh số cho vay
Doanh số cho vay đối với DNVVN là số tiền Ngân hàng đã giải ngân cho DNVVN thực hiện hoạt động của mình trong một khoảng thời gian nhất định Đây là số vốn giúp DN đầu tư, cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng sản xuất kinh doanh Để đánh giá DSCV có thể sử dụng các chỉ tiêu:
Mức tăng DSCV DNVVN = DSCV DNVN năm(t) – DSCV DNVVN năm(t-1)
Trang 30Chỉ tiêu mức tăng doanh số cho vay này phản ánh sự thay đổi quy mô tín dụng đối với DNVVN của các NHTM Bên cạnh đó còn một số chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ tăng DSCV
Mức tăng DSCV DNVVN
x100% DSCV DNVVN năm (t-1)
Tỷ lệ doanh số cho vay DNVVN phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số cho vay đối với DNVVN năm nay so với năm trước là bao nhiêu, từ đó cho biết
xu hướng đầu tư vào DNVVN là mở rộng hay thu hẹp
Tỷ trọng DSCV
DSCV DNVVN
x100% DSCV của hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay đối với DNVVN chiếm bao nhiêu trong tổng số cho vay của hoạt động tín dụng
1.3.3.3 Chỉ tiêu doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ phản ánh số vốn mà DN hoàn trả cho Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định Nó được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu
nợ trong một niên độ kế toán Doanh số cho vay lớn cần phải kèm với doanh số thu nợ cao Nếu doanh số cho vay cao mà doanh số thu nợ thấp chứng tỏ khả năng thu hồi vốn và lãi là thấp, nợ quá hạn cao có ý nghĩa là chất lượng tín dụng không tốt
Mức tăng DSTN DNVVN = Tổng DSTN đối với DNVVN năm(t) – năm (t-1)
Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh được công tác tổ chức, quản lý khoản vay cũng như công tác thu nợ của ngân hàng là tốt hay không
Tỷ lệ tăng DSTN đối
Mức tăng DSTN DNVVN
x100% Tổng DSTN DNVVN năm (t-1)
Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số thu nợ đối với DNVVN năm nay so với năm ngoái là bao nhiêu
Tỷ trọng DSTN đối
Tổng DSTN DNVVN
x 00% Tổng DSTN của hoạt động tín dụng
2
Trang 31Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi của DSTN đối với DNVVN trên tổng số doanh thu nợ của hoạt động
1.3.3.4 Chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ quá là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng Các chỉ tiêu về nợ quá hạn phản ánh mức độ
an toàn của hoạt động cho vay của ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay là tỷ lệ giữa khoản nợ gốc quá hạn (hoặc bao gồm cả lãi quá hạn) trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Phần lớn các khoản nợ quá hạn là những khoản nợ có vấn đề, nợ khó đòi hoặc có khả năng mất vốn Ngân hàng càng có nhiều khoản nợ quá hạn thì hiệu quả cho vay càng thấp, nguy cơ rủi ro càng cao
Nợ quá hạn của các DNVVN
x100% Tổng dư nợ DNVVN
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng Khi một khoản vay không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường Nợ quá hạn là việc mà các NHTM không mong muốn và luôn cố gắng giảm đến mức thấp nhất Theo thông lệ quốc tế tỷ lệ này là dưới 5% được coi là chấp nhận được Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì NHTM càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp
1.3.3.5 Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là lợi nhuận hàng năm từ hoạt động cho vay của ngân hàng thường được tính tại thời điểm cuối năm Chỉ tiêu này cao phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt và ngước lại Vì bên cạnh mục tiêu an toàn khi bất kì ngân hàng nào cũng phải hướng đến mục tiêu lợi nhuận đặc biệt trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh
Trang 32Tỷ lệ lợi nhuận
Lợi nhuận của DNVVN
x100% Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận hoạt động tín dụng DNVVN đối với DNVVN Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của vốn tín dụng đối với DNVVN
Tỷ lệ sinh lời càng cao chứng tỏ khoản vay đó càng hiệu quả
Để có thể đánh giá chất lượng tín dụng một cách toàn diện nhất thì cần phải đánh giá đồng bộ các chỉ tiêu Bởi vì mỗi chỉ tiêu chỉ có thể đánh giá được chất lượng tín dụng là tốt hay xấu trên một phương diện nhất định
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN 1.3.4.1 Nhân tố chủ quan
a Các nhân tố thuộc về Ngân hàng
Đây là nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng tín dụng của các NHTM Các nhân tố bao gồm:
Trang 33Quy trình tín dụng
Qui trình tín dụng bao gồm những qui định cần phải thực hiện trong trong từng khâu của công tác tín dụng từ khi thẩm định, chuẩn bị cho vay, giải ngân, giám sát quá trình cho vay đến khi thu hồi được nợ Chất lượng tín dụng có đảm bảo được hay không tuỳ thuộc vào sự hợp lý của các qui định ở từng bước, sự thống nhất, chặt chẽ nhưng không rườm rà của toàn bộ qui trình
Trong qui trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay (khách hàng nộp hồ sơ xin vay vốn, ngân hàng xem xét, cân nhắc để quyết định cho vay hay không) là bước quan trọng nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng vì đây là cơ
sở để định lượng rủi ro trong quá trình vay Giám sát quá trình cho vay giúp ngân hàng nắm được tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, nhờ đó có thể
có những biện pháp xử lí kịp thời nhằm ngăn ngừa rủi ro khi chất lượng khoản cho vay bị đe dọa trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các "trục trặc" trong hoạt động của khách hàng Việc xem xét, tìm nguyên nhân là rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng
Công tác thẩm định dự án vay vốn
Thẩm định dự án là việc dùng các phương pháp phân tích, thu thập xử lý thông tin, số liệu liên quan đến khách hàng vay vốn và dự án xin tài trợ để dựa vào đó mà ngân hàng đưa ra quyết định có tài trợ hay không Đây là công tác có
ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng Nếu kết quả thẩm định không chính xác sẽ dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng Như khi dự án vay vốn có tính khả thi, doanh nghiệp có năng lực sử dụng vốn vay nhưng kết quả thẩm định lại đánh giá không chính xác tính khả thi của dự án, đưa đến quyết định ngân hàng không cho vay, điều này khiến cho ngân hàng mất một khoản lợi nhuận hơn thế nữa là mất một khách hàng tốt Ngược lại, nếu thẩm
Trang 34định mà không đánh giá hết rủi ro của dự án thì quyết định cho vay sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro khó có thể thu hồi được vốn, giảm chất lượng tín dụng
Công tác thẩm định phải chính xác, thận trọng nhưng không mất quá nhiều thời gian vì điều này sẽ kéo dài thời gian thực hiện dự án, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, thông qua quá trình thẩm định dự án, ngân hàng có thể tư vấn cho chủ đầu tư trên cơ sở những kinh nghiệm vốn có của mình, giúp cho dự án hiệu quả hơn, đồng thời thắt chặt hơn mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Nhờ có thông tin tín dựng, người quản lý có thể đưa ra những quyết địng cần thiết liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn có sẵn ở ngân hàng như hồ sơ vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng , thông tin từ phía khách hàng như phỏng vấn trực tiếp, báo cáo định kì, từ các cơ quan, tổ chức chuyên cung cấp thông tin tín dụng, hoặc từ các nguồn thông tin khác như báo chí Số lượng và chất lượng của thông tin có được liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích khách hàng, đánh giá thị trường để đưa ra những quyết định phù hợp Thông tin càng đầy đủ, chính xác, toàn diện và nhanh nhạy thì khả năng nắm bắt cơ hội và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng cao, chất lượng tín dụng từ đó mà được nâng lên
Công tác tổ chức và trình độ nghiệp vụ của cán bộ
Cán bộ tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng Đây là những người trực tiếp thực hiện tất cả các khâu của qui trình tín dụng do đó việc bảo đảm an toàn và tính sinh lời cho mỗi khoản tín dụng phụ thuộc vào trình độ cũng như đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng Xã hội ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi chất lượng nhân sự cao hơn để có thể xử lý kịp thời, linh hoạt và hiệu quả những tình huống có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, giúp ngân hàng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Trang 35Tuy nhiên, có một đội ngũ cán bộ có trình độ mới chỉ là điều kiện cần, để
có thể đảm bảo được chất lượng tín dụng thì việc tổ chức sắp xếp cán bộ sẽ là điều kiện đủ Công tác tổ chức cần phải sắp xếp một cách khoa học, đúng người, đúng việc, đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các khâu của hoạt động tín dụng Việc tổ chức một cách chặt chẽ sẽ giúp cho ngân hàng đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động, làm cho bộ máy của ngân hàng hoạt động trôi chảy, nhịp nhàng, nhanh nhạy trước sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh
Vốn tự có của ngân hàng
Vốn tự có là tiềm lực của ngân hàng, giúp cho ngân hàng có đủ khả năng, điều kiện để mở rộng tín dụng, đáp ứng được nhu cầu về vốn ngày càng lớn của các doannh nghiệp, tổ chức cũng như các cá nhân Vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn thì khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn càng cao Bên cạnh đó, vốn chủ sở hữu là điều kiện quan trọng để ngân hàng đầu tư đào tạo cán bộ, nâng cấp trang thiết bị cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, hiện đại hoá các qui trình kĩ thuật, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng tín dụng
Trang thiết bị, cơ sở vật chất của ngân hàng
Để có thể quản lý và thực hiện hoạt động tín dụng hiệu quả, ngoài việc nâng cao công tác hoạch định chính sách, công tác tổ chức quản lý ngân hàng thì cần phải chú ý tới các phương tiện vật chất cần thiết phục vụ cho hoạt động tín dụng Đặc biệt trong tình hình hiện nay khi mà các ngân hàng đang cạnh tranh rất khốc liệt bằng các dịch vụ mang tính hiện đại cao, đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng thì việc hiện đại hoá ngân hàng, trang bị cơ sở vật chất tiên tiến là bước đi tất yếu đối với mỗi ngân hàng nếu muốn tồn tại và phát triển Việc trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng tài chính, qui mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng với chi phí thấp Ngoài
ra, ngân hàng còn có thể nắm bắt kịp thời, chính xác thông tin về tình hình hoạt động tín dụng
b Các nhân tố thuộc về phía doanh nghiệp
Trang 36án kinh doanh chưa có tính khả thi cao, thông tin kế toán chưa đáng tin cậy Vì thế việc tiếp cận với nguồn vốn từ Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn
Trình độ quản lý của DNVVN
Năng lực quản lý điều hành và trình độ của lao động trong doanh nghiệp cũng không kém phần quan trọng Đây là yếu tố mang tính quyết định đến việc sinh lời của khoản tín dụng Khả năng làm việc, trình độ cũng như năng lực quản lý của doanh nghiệp sẽ làm cho khoản vốn được sử dụng đúng mục đích,
có hiệu quả tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp đủ để doanh nghiệp có thể trả lãi cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn và tăng được vốn chủ sở hữu như kế hoạch đã
đề ra
Mục đích sử dụng vốn vay của DNVVN
Các doanh nghiệp muốn vay được vốn Ngân hàng thì phải cam kết vay vốn đúng mục đích Nếu sử dụng vốn không đúng mục đích thì sẽ gây thất thoát, hiệu quả sử dụng vốn thấp, giảm chất lượng tín dụng Đây là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Doanh nghiệp sử dụng vốn của Ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án và mục đích đã trình bày trước ngân hàng, thạm trí còn dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản
cố định hoặc kinh doanh bất động sản làm cho vốn đầu tư của ngân hàng đứng trước rủi ro lớn và làm giảm hiệu quả cho vay
Tư cách đạo đức của các DNVVN
Tư cách đạo đức cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng NH chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích
kỹ các yếu tố có liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ, cách thức sử dụng vốn và uy tín tín dụng của khách hàng Để nhận lại khoản vốn
Trang 37đã cho vay doanh nghiệp không phải chỉ có khả năng trả nợ mà còn phụ thuộc vào thiện chí trả nợ của doanh nghiệp Có trường hợp DN kinh doanh có lãi nhưng vẫn không chịu trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng Nguyên nhân của sự chậm trễ này là so tại thời điểm trả nợ, thì doanh nghiệp đang có một phương án sản xuất kinh doanh khác đem lại lợi nhuận cao, nên họ dùng số tiền lẽ ra phải trả nợ để tiếp tục đầu tư
1.3.4.2 Các nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế đó Nền kinh tế phát triển ổn định sẽ làm cho các hoạt động kinh tế diễn ra trôi chảy Trong nền kinh tế ấy, hoạt động tín dụng sẽ khônh phải chịu ảnh hưởng của lạm phát, khủng hoảng hay những sự biến động bất thường của lãi suất, vì vậy mà chất lượng tín dụng được đảm bảo hơn Trong trường hợp này thì chất lượng tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào các nhân tố chủ quan tức là các nhân tố thuộc phía NHTM
Tuy nhiên, để phát triển nền kinh tế thì bất kì quốc gia nào cũng giữ cho mình một mức lạm phát vừa phải phù hợp với sự tăng trưởng kinh tế của chính quốc gia đó Vì vậy, qui mô tín dụng của các NHTM cấp ra và lãi suất tín dụng phải phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nếu qui mô tín dung mở rộng vượt quá mức tăng của nhu cầu vốn trong nền kinh tế thì rất có thể xảy ra lạm phát, dẫn đến tình trạng đồng tiền mất giá, do đó chất lượng tín dụng bị giảm xuống Còn nếu lãi suất tín dụng không phù hợp với mức tăng trưởng GDP thì ngân hàng khó có thể mở rộng cho vay Bên cạnh đó, lãi suất ngân hàng còn phải phù hợp với mức lợi nhuận của từng ngành, để khi cho bất kì một doanh nghiệp trong một ngành cụ thể vay thì lợi nhuận họ thu được từ hoạt động kinh doanh được tài trợ đủ để trả lãi cho ngân hàng và tăng được vốn chủ sở hữu như
kế hoạch
Vì vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng thì công tác dự báo và khả năng nắm bắt thông tin thị trường, khả năng ứng phó kịp thời trước những biến động
Trang 38bất thường của nền kinh tế là vô cùng quan trong đỗi với mỗi ngân hàng thương mại
Môi trường chính trị- xã hội
Môi trường chính trị - xã hội tạo nên sự ổn định trong kinh doanh của tất
cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế đó Trong một nền kinh tế dù phát triển đến đâu nhưng không có sự ổn định về chính trị cũng như xã hội thì cũng rất khó
có thể thu hút các nhà đầu tư nói chung và các NHTM nói riêng Vì trong điều kiện như vậy, cho dù lợi nhuận có thể cao nhưng rủi ro cũng rất cao và các nhà đầu tư khó có thể lường trước được những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra Sự bất
ổn về chính trị xã hội còn có thể tác động đến những khoản tín dụng đã cấp phát thông qua sự tác động bất lợi của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trong môi trường đó.Vì vậy nó làm cho chất lượng tín dụng giảm xuống Bên cạnh đó, môi trường xã hội còn được phản ánh bằng trình độ dân trí cũng như nhận thức của dân cư đó Nếu trình độ dân trí thấp, kém hiểu biết thì sẽ giảm hiệu quả sử dụng vốn vay, vì vậy mà hoạt động tín dụng sẽ không đạt được chất lượng
Môi trường pháp lý
Nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy
đủ, chặt chẽ và thống nhất của các văn bản pháp luật, đồng thời gắn liền với sự thực thi pháp luật một cách nghiêm túc Thực tiễn kinh tế thị trường đã cho thấy, pháp luật là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Pháp luật không phù hợp với những yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh tế không thể tiến hành trôi chảy được Việc tạo lập một môi trường pháp lý thuận lợi sẽ giúp cho các NHTM mạnh dạn đầu tư cũng như xây dựng và tiến hành các phương án kinh doanh của mình Chất lượng tín dụng sẽ được nâng lên nhờ các phương án kinh doanh có hiệu quả giữa ngân hàng và doanh nghiệp, sự hợp tác của họ được pháp luật bảo vệ
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN TẠI
NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BA ĐÌNH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHTMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH BA ĐÌNH
kế hoạch hoá bao cấp, cơ sở, vật chất kỹ thuật của nền kinh tế còn nhiều yếu kém hoạt động ngân hàng trong giai đoạn này mang đặc tính " kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp
Thời kỳ hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp
Khi mới được thành lập, cơ sở vật chất của ngân hàng còn nhiều thiếu thốn Trụ sở chi nhánh chỉ là ngôi nhà cấp bốn, diện tích chưa đầy 50m2 Biên chế cán bộ làm việc có 18 người, trong đó có 2 đồng chí lãnh đạo chi điếm, còn lại là cán bộ nghiệp vụ hành chính Bộ máy hoạt động gồm có ban lãnh đạo, phòng tín dụng, phòng kế toán giao dịch (bao gồm cả bộ phận quỹ nghiệp vụ) phòng hành chính và 2 đại lý quỹ tiết kiệm (số 6 và số 9) đặt tại phố Quán Thánh và phố Đội Cấn Ngay từ những ngày đầu thành lập, dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương, ngân hàng thành phố, chi điếm ngân hàng Đội Cấn đã triển khai thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ vừa quan trọng vừa cấp bách đó là
ổn định tổ chức, hoạt động và phục vụ nhiệm vụ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế thủ đô (1958-1965)
Trang 40Bước sang thời kỳ mới hoạt động của Ngân hàng thủ đô nói chung và của
Ba Đình nói riêng diễn ra trong hoàn cảnh vừa có hoà bình vừa có chiến tranh (1966-1975) Chỉ thị của Chính phủ về việc thanh toán không dùng tiền mặt trong tình hình mới (ban hành năm 1968)và mở rộng việc thanh toán, cải tiến công tác thanh toán không dùng tiền mặt theo thông tư số 05-TT/NH ngày 20/12/1970của Ngân hàng trung ương, Ngân hàng Ba Đình đã thực hiện việc cải tiến và đẩy mạnh các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần quan trọng vào việc tăng cường công tác quản lý kinh tế, quản lý lưu thông tiền tệ Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng phổ biến thời kỳ bấy giờ là: séc chuyển tiền, séc bảo chi, nhờ thu vừa hiệu quả vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối đã làm giảm đáng kể lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí trong phát hành tiền, tiết kiệm vốn ngân sách Về công tác quản lý tiền mặt, chính phủ có quyết định số 75/CP ngày 09/06/1967 và thông tư hướng dẫn số 81/VP ngày 01/09/1967 của Ngân hàng trung ương quy định về quản lý tiền mặt phải được thực hiện đến từng đơn vị, cơ quan, xí nghiệp HTX với nhiệm vụ đó Ngân hàng Ba Đình đã mở nhiều đợt kiểm tra tiền mặt, đôn đốc thu nộp tiền mặt, giám sát chi tiêu ở tất cả các đơn vị, cơ quan, xí nghiệp HTX có mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng
Hoạt động tín dụng nhìn chung trong thời kỳ 1976-1978 chưa được mở rộng những hoạt động nghiệp vụ chủ yếu bị hạn chế do lưu hành hai đồng tiền ở hai miền Nam Bắc
Quá trình đổi mới hoạt động Ngân hàng nằm chung trong dòng chảy của đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thời kỳ đổi mới hoạt động Ngân hàng
Giai đoạn 5 năm đầu chuyển đổi mô hình tổ chức hoạt động (1988- 1993) Khi chuyển đổi mô hình hoạt động, với chức năng của một Ngân hàng chuyên doanh, tổ chức chi nhánh NHCT quận Ba Đình trực thuộc chi nhánh Ngân hàng công thương thành phố Hà Nội Hoạt động của chi nhánh Ngân hàng công thương Ba Đình lúc này chưa thoát khỏi cơ chế cũ bởi hoạt động thu chi ngân