1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn

128 36 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Jauss cũng đồng tình với việc tiếp cận giải thích học trong nghiên cứu văn học nhưng không phạm phải hạn chế của các nhà giải thích học, ông gắn quá trình lí giải tác phẩm không phải với

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH THỊ HOA

VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành : Lý luận văn học

Người hướng dẫn khoa học:

TS HUỲNH VĂN VÂN

Thành Phố Hồ Chí Minh - 2006

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Huỳnh Văn Vân, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô giáo cũng như sự giúp đỡ, tạo điều kiện của khoa Khoa học và Sau đại học, Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh để tôi có thể hoàn thành khoá học, hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành gửi những lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt mọi khó khăn hoàn thành khoá học và luận văn

Tác giả luận văn Huỳnh Thị Hoa

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI TỰ LỰC

VĂN ĐOÀN TRƯỚC 1945 10 1.1 Sự ra đời và phát triển của Tự lực văn đoàn 10

1.2 Vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn từ trước 1945 12

1.2.1 Các hướng tiếp nhận Tự lực văn đoàn giai

đoạn trước 1945 12

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI TỰ LỰC

VĂN ĐOÀN TỪ 1954-1986 36 2.1 Vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn ở miền Bắc 37 2.1.1 Các hướng tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI TỰ LỰC

VĂN ĐOÀN TỪ 1986 ĐẾN NAY 78 3.1 Các hướng tiếp nhận Tự lực văn đoàn 79

3.1.1 Tự lực văn đoàn từ quan điểm lịch sử 79

3.1.2 Tự lực văn đoàn từ quan điểm phương pháp

Trang 4

3.1.3 Tự lực văn đoàn từ góc độ chức năng và

tác dụng của nghệ thuật 90

3.1.4 Tự lực văn đoàn từ góc độ thể loại 93

3.1.5 Tự lực văn đoàn từ góc độ thi pháp 95

3.1.6 Tự lực văn đoàn từ góc độ thế giới vô thức, tâm linh 111

3.1.7 Tự lực văn đoàn từ góc độ tinh thần dân tộc và tính nhân bản 113

3.2 Tiền đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn sau 1986 116

3.2.1 Tình hình chính trị - xã hội, văn hóa - tư tưởng 116

3.2.2 Sự xuất hiện của một tầng lớp độc giả mới 118

3.2.3 Tiền đề văn học và lí luận văn học cho sự tiếp nhận Tự lực văn đoàn 119

KẾT LUẬN 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Không kể địa hạt báo chí, chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn học, đặc biệt

là ở thể loại tiểu thuyết, Tự lực văn đoàn đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của văn học thời kì hiện đại Nói về văn học hiện đại 1930-

1945 không thể không nói đến Tự lực văn đoàn Thế nhưng từ khi ra đời cho đến nay nó đã đón nhận những sự khen chê, những cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau, có thể nói đã trải qua những bước thăng trầm Ngay từ khi mới ra đời đã có những luồng ý kiến khen chê khác nhau, song chủ yếu được đánh giá khá cao Rồi đã có thời gian dài, nhóm tác giả này và những tác phẩm của

họ không được nhắc đến hoặc nhắc đến với thái độ phê phán "nghiêm túc đến khắt khe" và "không kém phần nghiệt ngã"[69, tr 59] Ngay cả từng tác giả nhận được sự tiếp nhận, đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược Một số tác giả như Thạch Lam, Xuân Diệu, Thế Lữ…được khen ngợi còn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo lại chưa được xem xét đúng mức Cho đến những năm cuối thập niên tám mươi thế kỷ trước trở lại đây, tác phẩm của Tự lực văn đoàn được tái bản khá nhiều Và cũng từ thời điểm đó, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu mới, đem lại nhũng cách nhìn khác trước về văn đoàn này Tiếp thu những thành tựu của lý thuyết tiếp nhận, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn góp phần dựng nên bức tranh toàn cảnh về sự tiếp nhận các sáng tác của Tự lực văn đoàn cũng như tìm hiểu và giải thích những nguyên nhân dẫn đến số phận thăng trầm của nó

Lí thuyết tiếp nhận ra đời đã đem đến một diện mạo mới cho lí luận và nghiên cứu văn hoc, phá vỡ sự độc quyền quá lâu của lối xem xét văn học chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả - tác phẩm bằng cách bổ sung lối xem xét văn học lưu ý đến mối quan hệ tác phẩm - người đọc Có mầm mống từ chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, chủ nghĩa hình thức Nga những năm 10-20 của thế kỉ XX, từ xã hội học văn học vốn nghiên cứu tác động của văn học đến công chúng đọc, từ giải thích học dựa vào “triết học sự sống” của W Dilthey và hiện tượng học của E Husserl và tiếp theo là trong các công trình

Trang 6

của Ingarden, Felix Vodicka, H J Gadamer, nhưng phải đến những năm 60 của thế kỉ XX với trường phái Konstanz ở CHLB Đức, mĩ học tiếp nhận mới chính thức được công nhận

Đại diện tiêu biểu của trường phái này là H.R.Jauss Ông đề cao vai trò của người tiếp nhận trong nghiên cứu văn học Theo ông, tác phẩm văn học=văn bản + sự tiếp nhận của độc giả.Và lịch sử văn học cần phải được viết lại, nó phải là lịch sử của mối quan hệ giữa tác phẩm và người tiếp nhận Jauss cũng đồng tình với việc tiếp cận giải thích học trong nghiên cứu văn học nhưng không phạm phải hạn chế của các nhà giải thích học, ông gắn quá trình

lí giải tác phẩm không phải với sự tuỳ tiện tuyệt đối cũng không phải bằng sự phân tích cấu trúc bên trong của tác phẩm của người lí giải mà là với những khả năng khách quan của độc giả, được quy định bởi kinh nghiệm thẩm mỹ và tầm chờ đợi của anh ta Tuy nhiên Jauss đã cực đoan khi đề cao quá mức vai trò của người tiếp nhận

Manfred Nauman, đại diện cho các nhà nghiên cứu macxit cũng xem

“quan hệ tác phẩm - người đọc là một vấn đề cơ bản có ý nghĩa then chốt”[67, tr.140] Tuy nhiên họ cho rằng tác phẩm là một đề án tiếp nhận (Rezeptionsvorgabe), là nhân tố hàng đầu, tính năng động của người đọc là một yếu tố cũng hết sức thiết yếu

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm đến tiếp nhận văn học trong hai mươi năm trở lại đây Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Trinh, Huỳnh Văn Vân, Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân đều có bài viết về vấn đề này Trần Đình Sử cho rằng tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lí luận văn học đang còn để ngỏ, và vô cùng quan trọng bởi tiếp nhận văn học có thể làm sáng tỏ "những vấn đề bản chất, đặc trưng, chức năng, cấu trúc giá trị của văn học mà lý luận từ phía sáng tác không giải thích được" [78, tr 125] Theo ông, có hai quan niệm tiếp nhận, là tri âm và kí thác Quan niệm tri âm đòi hỏi người đọc tiếp nhận hết, hiểu hết những điều tác giả muốn nói trong tác phẩm bằng hình tượng Nhưng yêu cầu này trong thực tế là quá khó, không thực hiện được Lâu nay trong văn học, người đọc đi theo hướng đó và

Trang 7

thông thường là hiểu được phần nào tâm sự, nỗi lòng của tác giả Còn trong quan niệm kí thác, người đọc có thể xem tác phẩm như phương tiện để thể hiện nỗi lòng, dụng tâm của mình Ở đó người đọc có thể phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của mình để đem đến cho tác phẩm một ý nghĩa mới Trong thực tế cách đọc này khá phổ biến Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thấy được tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu văn học

Từ những lí do trên luận văn hướng đến các mục đích nghiên cứu sau:

1 Khái quát quá trình tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn từ khi

ra đời đến nay

2 Tìm và đưa ra cách lí giải nguyên nhân vì sao có nhiều cách hiểu khác nhau về văn xuôi Tự lực văn đoàn qua từng thời kì từ mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc Từ đó đưa ra cách hiểu tương đối thống nhất về tác phẩm Tự lực văn đoàn

2 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.Hoạt động của Tự lực văn đoàn khá rộng gồm nhiều lĩnh vực: báo chí, sáng tác văn học Báo chí cũng là một lĩnh vực khá thành công của nhóm này Phạm Thế Ngũ từng nhận xét: “ngay ở địa hạt báo chí họ đã làm cho tờ báo nước nhà tiến bộ nhiều từ bài vở cho đến kỹ thuật”[70, tr 560] Tuy vậy, trong phạm vi của một luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những sáng tác của

họ Ngay trong sáng tác của nhóm cũng gồm nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận Mảng thơ cũng rất thành công với Xuân Diệu, Thế Lữ

và thơ trào phúng của Tú Mỡ Song, với tính chất phức tạp của đề tài về một nhóm nhiều thành viên mà sáng tác của họ bao gồm nhiều thể loại khác nhau như đã nói nên chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở việc khảo sát vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn, cụ thể là truyện ngắn và tiểu thuyết Vì thế, trong tám thành viên của Tự lực văn đoàn, chúng tôi chỉ bàn đến bảy thành viên, trừ Tú Mỡ

2 Do chưa có điều kiện và với dung lượng có hạn của luận văn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu tiếp nhận của các nhà nghiên cứu và phê bình Luận

Trang 8

văn sẽ phân tích các kết quả tiếp nhận đó và đưa ra các giải thích về các động

cơ, các cơ sở và nguyên nhân của chúng

Mảng tiếp nhận của sáng tác văn học cũng đã hé lộ, như ảnh hưởng của

Thạch Lam đối với Bình Nguyên Lộc (truyện Lò chén chòm sao trong Nhốt

gió) và Mai Thảo trong Giai đoạn chị Định( tập Tháng giêng cỏ non) nhưng

chưa có căn cứ vững chắc cũng như mức độ ảnh hưởng chưa rộng rãi, sâu sắc nên chúng tôi không đề cập đến trong luận văn này

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Tự lực văn đoàn được xem là một hiện tượng văn học thú vị và phức tạp Vì thế những công trình nghiên cứu, đánh giá về Tự lực văn đoàn khá nhiều nhưng còn đề tài Vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn, cho đến nay chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đề cập đến một cách đầy đủ Tuy nhiên, trong những bài viết của mình có khá nhiều tác giả, bên cạnh việc trình bày các ý kiến khen chê, các phân tích nhận định của họ về các tác giả hay tác phẩm mà họ nghiên cứu - đối tượng mà chúng tôi tìm hiểu ở đây - đã nhắc đến mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc Trong đó chủ yếu là nói đến sự tác động của sáng tác của Tự lực văn đoàn đối với độc giả hay một vài

ý kiến có liên quan ít nhiều đến lý luận tiếp nhận mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần tiếp theo

Năm 1939, trong cuốn Dưới mắt tôi, Trương Chính có nhắc đến ý kiến của Trương Tửu về Nửa chừng xuân Ông tỏ ý không đồng tình với Trương

Tửu khi ông này cho rằng "suốt đời Mai, nàng chẳng hy sinh cái gì, lần nào hết' [7, tr 645]

Năm 2000, trên Tạp chí văn học, Phan Trọng Thưởng có bài "Cuối thế

kỷ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự lực văn đoàn" Ông cho

rằng "Nếu như trong lịch sử văn học Việt nam hiện đại, vấn đề đánh giá Phong trào Thơ mới (1932-1942) từng là một vấn đề phức tạp thì vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn còn phức tạp hơn nhiều" [69, tr 57] Phan Trọng Thưởng

đã khái quát lại toàn bộ quá trình đánh giá Tự lực văn đoàn Ông chia quá

Trang 9

trình đánh giá Tự lực văn đoàn làm hai thời kì (ông không tính thời kì từ 1932-1945):

- Thời kì thứ nhất từ 1986 trở về trước

- Thời kì thứ hai từ 1986 đến nay

Ông cho rằng ở thời kì thứ nhất, Tự lực văn đoàn thường được nhìn nhận bằng nhãn quan chính trị và xuất phát tự lập trường chính trị, từ quan điểm giai cấp, nhất là đối với ba nhân vật: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo nên các nhận xét, đánh giá về hoạt động văn chương của Tự lực văn đoàn cũng như văn chương lãng mạn nói chung thường tỏ ra khe khắt, chưa thỏa đáng Mặt đóng góp của Tự lực văn đoàn có phần bị xem nhẹ, trong khi mặt tiêu cực của nhóm lại bị nhấn quá mạnh Theo ông, thực ra đã có ý kiến của Trường Chinh và Thanh Trường (bút danh của Hà Minh Đức) nhận thấy và đặt vấn đề cần đánh giá đúng văn học lãng mạn nói chung, Tự lực văn đoàn nói riêng Trường Chinh chỉ rõ: "Đối với trào lưu văn học lãng mạn, chúng ta không nên mạt sát, vơ đũa cả nắm Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi, máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sữa chữa những thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời"[69, tr 57] Thanh Trường

cũng có bài báo: Cần đánh giá đúng phong trào Tự lực văn đoàn trên tạp chí

Sinh viên Việt Nam (số 11 tháng 6 năm 1957) nhưng do những đòi hỏi của

cuộc đấu tranh tư tưởng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật lúc đó nên những mặt hạn chế, tiêu cực của một số cây bút chủ chốt trong Tự lực văn đoàn vẫn được chú trọng làm rõ hơn Phan Trọng Thưởng nêu nhận xét về tình hình nghiên cứu, đánh giá Tự lực văn đoàn thời kì này: "Nhìn chung, trong hơn ba thập kỷ, từ giữa những năm năm mươi đến giữa những năm tám mươi của thế

kỷ này, văn chương Tự lực văn đoàn đã chịu một sự phán quyết nghiệt ngã

Có lúc, có nơi, sự phán quyết đó đã đẩy văn chương lãng mạn nói chung và văn chương Tự lực văn đoàn nói riêng đến nguy cơ bị phủ định" [69, tr 58]

Phan Trọng Thưởng lại nhận thấy tình hình ngược lại ở miền Nam:

"Trong khi đó, ở miền Nam thời kì 1954-1975, trong một số cuốn sách, các

Trang 10

tác giả lại có xu hướng đánh giá quá cao Tự lực văn đoàn, không thấy hết những hạn chế thực sự về tư tưởng nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm, đẩy vấn đề nghiên cứu đánh giá Tự lực văn đoàn đến một đối cực khác so với giới nghiên cứu ở miền Bắc"[69, tr 59]

Từ 1986 đến nay, theo ông, những đóng góp và hạn chế của Tự lực văn đoàn đã được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan khoa học hơn Phan Trọng Thưởng điểm lại ý kiến đề nghị đánh giá lại văn đoàn này của Trương Chính trên tạp chí văn học 4/1988 Rồi hồi kí của Tú Mỡ đã cung cấp nhiều tư liệu về nhóm mình góp phần xác định những điểm còn hoài nghi

Sự ra đời của bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (8 tập) được xem là một bước

tiến mới trong cách nhìn nhận đánh giá văn chương Tự lực văn đoàn Tiếp

theo là Hội thảo khoa học về văn chương Tự lực văn đoàn do khoa Ngữ văn

trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng với nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp tổ chức Theo ông, Hà Minh Đức đã không đồng tình với việc xếp tất cả sáng tác của Tự lực văn đoàn vào trào lưu lãng mạn như lâu nay vẫn làm, còn Nguyễn Đình Chú đề nghị "chính trị hóa việc nghiên cứu văn chương" cũng là một sai lầm Chính sai lầm này đã tạo ra những phiến diện và cực đoan trong thẩm định và đánh giá Tự lực văn đoàn Cũng tại đây, Phong

Lê đã yêu cầu cần phân biệt giữa "nhầm lẫn cách mạng" với "sự thù hằn cách mạng" vì sự lựa chọn của các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo chỉ

là một sự nhầm lẫn đáng trách Phan Trọng Thưởng cho rằng ý kiến của nhà thơ Huy Cận được xem là thấu tình đạt lý Ý kiến của Trần Đình Hượu nhìn

Tự lực văn đoàn "từ góc độ tính liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông" cũng được ông xem là đáng lưu ý

Theo Phan Trọng Thưởng, Trong cuốn Tự lực văn đoàn- con người và

văn chương (1990) Phan Cự Đệ đã một lần nữa nhìn nhận lại Tự lực văn đoàn

với thái độ điềm tĩnh, khách quan, khoa học, với tinh thần trân trọng những đóng góp thực sự của Tự lực văn đoàn cho tiến trình văn học hiện đại

Tiếp tục điểm đến một loạt bài tiểu luận của Lê Thị Đức Hạnh, người được Phan Trọng Thưởng xem là khá am hiểu về Tự lực văn đoàn, bà đã cung

Trang 11

cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu, đánh giá Tự lực văn đoàn Ông đánh giá cao một loạt lời giới thiệu của Hà Minh Đức và Phan Cự

Đệ trong các cuốn tiểu thuyết được tái bản của Tự lực văn đoàn Những lời giới thiệu đó đã phân tích những cái hay, cái dở, những yếu tố tích cực và tiêu cực của từng tác phẩm cũng như những đóng góp của các tác giả này cho sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại Ông nhận định: "Với những lời giới thiệu này, giá trị của văn chương Tự lực văn đoàn đã được minh định theo tinh thần đổi mới tư duy nghiên cứu, đổi mới cách tiếp cận văn học, đổi mới cách nhìn nhận, đánh giá lại các hiện tượng văn học cũ"[69,tr 63] Cũng theo tác giả bài

báo, trong chuyên luận: Quan niệm về con người trong tiểu thuyết, Lê Thị

Dục Tú dựa trên sự khảo sát sáng tác của ba nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, tiếp cận quan niệm nghệ thuật về con người để đánh giá về ba tác giả nói riêng, tự lực văn đoàn nói chung

Phan Trọng Thưởng nhận xét Trịnh Hồ Khoa trong cuốn Những đóng

góp của Tự lực văn đoàn trong văn xuôi hiện đại Việt Nam đã khẳng định vai

trò của Tự lực văn đoàn trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và đã nêu bật được những đóng góp về nội dung, hình thức và những cách tân về

nghệ thuật của văn chương Tự lực văn đoàn Và gần đây là công trình Khảo

luận văn chương, phần Khải luận về văn xuôi lãng mạn Việt Nam thời kì 1930-1945 của Hà Minh Đức Theo ông, Hà Minh Đức nhận xét do tác động

của những biến cố chính trị, xã hội Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nên dòng văn xuôi lãng mạn không thuần nhất và phát triển qua từng thời kì, trong đó thời kì 1932-1945 là thời kì Tự lực văn đoàn dã đem lại sức sống cho văn học dân tộc

Cuối cùng, tác giả bài báo kết luận: "Vào năm cuối cùng của thế kỉ, nhìn lại cả hai thời kì nghiên cứu và đánh giá Tự lực văn đoàn, giới nghiên cứu đã đạt được những thành tựu đáng kể Với những ý kiến trên đây, thiết tưởng những đánh giá chung nhất về văn chương Tự lực văn đoàn cả ở hai thời kì đã được giới thiệu ở phần cốt lõi, cơ bản nhất Cũng như nhiều hiện tượng văn chương phức tạp khác, văn chương Tự lực văn đoàn tuy là một

Trang 12

trong số những hiện tượng văn chương đáng chú ý của thế kỉ, nhưng không được hưởng cái may mắn đánh giá một lần là xong, minh định một lần là đạt ngay đến sự thống nhất Có thể xem đó là một số phận văn chương không mấy suôn sẻ nếu không muốn nói là "nhiều nỗi truân chuyên", giống như số phận của Thơ Mới và văn chương lãng mạn cùng thời kì"[69, tr 64].Ông cho rằng quá trình nghiên cứu hiện tượng văn học này chưa khép lại, mỗi giai đoạn, mỗi thời đại, mỗi thế hệ công chúng luôn tìm cách tiếp cận, khai thác những giá trị quá khứ, kiếm tìm trong đó những nguồn tinh thần mới mẻ, những hành trang cần mang vào tương lai

Như vậy, bài viết của Phan Trọng Thưởng đã đề cập một cách khá hệ thống về vấn đề nghiên cứu, đánh giá Tự lực văn đoàn Tuy nhiên, đây chỉ là bài báo nên mang tính khái quát, là những nhận xét ban đầu, chưa đi sâu lý giải vấn đề bằng cơ sở lịch sử xã hội Đây chính là lối đi còn rộng mở để chúng tôi tiếp tục khám phá về Tự lực văn đoàn

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của luận văn, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu:

-Phương pháp lịch sử chức năng Phương pháp này giúp chúng tôi xác định những điều kiện lịch sử, xã hội, chính trị, tâm lý đã ảnh hưởng đến việc tiếp nhận tác phẩm văn xuôi Tự lực văn đoàn trong từng giai đoạn lịch sử

-Phương pháp hệ thống được sử dụng giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về lịch sử tiếp nhận tác phẩm văn xuôi Tự lực văn đoàn

-Để hệ thống các hình thức tiếp nhận khác nhau đối với tác phẩm Tự lực văn đoàn, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của phương pháp thống kê

-Phương pháp so sánh cũng được dùng để đối chiếu sự giống và khác nhau của các hình thức tiếp nhận Từ đó, có thể rút ra những vấn đề có ý nghĩa lí luận

Trang 13

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

1.Bước đầu khái quát, hệ thống và đánh giá các hướng, các quan điểm tiếp nhận tác phẩm Tự lực văn đoàn

2.Vận dụng hướng nghiên cứu theo lý thuyết tiếp nhận để giải thích về

số phận thăng trầm của tác phẩm Tự lực văn đoàn Qua đó thấy được phần nào tiến trình lịch sử của sự tiếp nhận sáng tác của văn đoàn này

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm 133 trang Ngoài phần Mở đầu (10tr), Kết luận ( 3tr)và Tài liệu tham khảo (8 tr), luận văn gồm ba chương:

Chương I Vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn trước 1945

Chương II Vấn đề tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn từ 1954-1986

Chương III Vấn đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn sau 1986

Trang 14

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TRONG GIAI ĐOẠN

TRƯỚC 1945

1.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN ĐOÀN TỰ LỰC

Trước đây, khi nghiên cứu về Tự lực văn đoàn, có rất nhiều ý kiến không thống nhất về thời điểm ra đời, và kết thúc, số lượng các thành viên cũng như mục đích, tôn chỉ của nhóm Nhưng cho đến nay dựa vào những tư liệu đáng tin cậy của Tú Mỡ, một trong những thành viên chủ chốt của Tự lực văn đoàn có thể xác định Tự lực văn đoàn ra đời vào khoảng đầu tháng 7-

1932, ban đầu gồm năm thành viên Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), và Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), sau kết nạp thêm ba thành viên nữa là Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Trần Tiêu và Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu) Đứng đầu cả nhóm là Nhất Linh Cơ quan ngôn luận của văn đoàn là tờ tuần báo Phong Hoá, khi Phong Hoá bị đóng cửa (năm 1936) thì có tờ Ngày Nay thay thế Văn đoàn ra đời trong thời điểm văn chương nhuốm đầy một chất bi quan, chán đời, uỷ mị khóc sướt mướt, than thân trách phận, không còn chút sinh khí Điều đó được giải thích bởi tình trạng xã hội lúc bấy giờ Sau khi những phong trào cách mạng bị dìm trong máu, một không khí chán nản, yếm thế bao trùm khắp đời sống, thanh niên bế tắc, không có lý tưởng để phụng sự nên “thoát ly trong những tình cảm cá nhân, nhất là yêu đương”[4,

tr 34] Mong muốn của các nhà văn Tự lực là đưa văn học đương thời thoát

ra khỏi không khí trên Chủ trương của Tự lực văn đoàn được gói gọn trong

10 điều sau:

Trang 15

1 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi Mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước

2 Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người

và xã hội ngày một hay hơn lên

3 Theo chủ nghĩa bình dân; soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân

4 Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An-nam

5 Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ

6 Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả, quý phái

7 Trọng tự do cá nhân

8 Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa

9 Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương nam

An-10 Theo một trong chín điều trên cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác

Năm 1936 tờ Phong hoá bị thực dân Pháp đóng cửa, đến năm 1940 tờ Ngày nay cũng bị cho là tờ báo của bọn phiến loạn và bị cấm nốt Tự lực văn đoàn hoạt động cầm chừng, một số thành viên bước vào đường làm chính trị,

Tự lực văn đoàn thực sự tan rã

Có thể thấy, từ đầu đến cuối trong quá trình sáng tác, các nhà văn trong văn đoàn đã tuân theo đúng tôn chỉ đã đề ra Các nhà văn trong Tự lực văn đoàn đều là những người có tài và có tâm huyết, có tinh thần dân tộc, có lý tưởng thực tiễn Họ nắm bắt được tâm lí, thị hiếu thẩm mỹ của người đọc lúc bấy giờ nên đã gặt hái được những thành công rực rỡ Tiểu thuyết của họ vào loại bán chạy nhất lúc bấy giờ “Từ 1933-1936, nhà xuất bản Đời nay đã bán

được 58.000 bản tiểu thuyết và thơ, có những cuốn như Đời mưa gió được in

Trang 16

lại đến nghìn thứ tám” [13, tr 51-52], tác phẩm của họ có sức hấp dẫn nhất định đối với công chúng thành thị đương thời Tú Mỡ đã nhận xét hoàn toàn đúng về những điều họ đã làm được, theo nhận xét của ông, văn đoàn này “

đã có một đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam, tạo cho đoàn một tiếng tăm vang dội một thời, một thành tích mà các văn đoàn khác ra đời sau không đạt được, một chân giá trị riêng trong một giai đoạn nhất định mà giới văn học ngày nay và ngày mai phải công nhận”, [63, tr 156-157] Một số ý kiến khác cũng nêu lên vị trí và vai trò quan trọng của Tự lực văn đoàn “Nhóm Tự Lực không phải là nhóm duy nhất nhưng quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại”.[16, tr 462] Đặt trong hoàn cảnh bấy giờ, những việc mà các nhà văn đã làm được có ý nghĩa lớn lao Tự lực văn đoàn

đã tạo được uy tín và ảnh hưởng lớn trong đời sống văn học Có thể nói, Tự lực văn đoàn đã hoàn thành sứ mệnh văn chương của mình đối với thời đại dù không tránh khỏi những sai sót, hạn chế

1.2 VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TỪ TRƯỚC 1945

1.2.1Các hướng tiếp nhận Tự lực văn đoàn giai đoạn trước 1945

1.2.1.1 Hướng tiếp nhận từ quan điểm đạo đức và xã hội

Với chủ trương tấn công vào bức tường thành phong kiến đã trở nên lạc hậu, ngay sau khi Tự lực văn đoàn phát hành những tác phẩm đầu tiên đã đón nhận những ý kiến khác nhau từ phía độc giả

Trong tập Dưới mắt tôi (1939) Trương Chính đã dành hơn một trăm

trang bình các tác phẩm chính của Khái Hưng và Nhất Linh Ông tập trung ca ngợi nội dung phá đổ sự áp bức chuyên chế của Khổng giáo, cải tạo xã hội trong các tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng

Viết về Nhất Linh, ông nhận xét Đoạn tuyệt đã có công đánh dấu một

cách rõ ràng thời kì thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An Nam Tác phẩm "công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hy vọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đang ao ước sống một đời đầy đủ, một đời mãnh liệt,

Trang 17

cường tráng."[8, tr 625] vì theo ông, gia đình hiện thời chỉ là một chế độ nô

lệ đưới một lớp sơn lừa dối [8, tr 625] Trương Chính đứng về phía Loan - cô gái mới - để cho rằng cô đã làm hết sức để có được hạnh phúc nhưng sự hy sinh của nàng thành vô nghĩa, vì cô chính là nạn nhân của gia đình nệ cổ, gia

đình ấy chỉ cố tìm cách làm cho cô đau khổ mà thôi Ông khen Đoạn tuyệt

không chỉ có giá trị xã hội mà còn có giá trị tâm lý nữa, nó là "một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại"[8, tr 629] Ông cũng nhận xét khi Nhất

Linh viết Đoạn tuyệt để dùng nghệ thuật tái thiết xã hội Việt Nam trên một

nền tảng vững vàng, theo những nguyên tắc hợp lý và nhân đạo thì có nhiều người hoan nghênh đồng thời cũng bị nhiều người phản đối Những người phản đối chính là các nhà đạo đức cổ không hiểu những nguyện vọng; những nhu cầu mới của những người mới và không chịu nhìn nhận sự tiến bộ của nhân loại

Lạnh lùng được Trương Chính xem là mũi tên độc thứ hai Nhất

Linh bắn vào Khổng giáo Nạn nhân của chế độ cũ là Nhung, một người đàn

bà trẻ tuổi, nhưng không thể, không dám đi lấy chồng "vì Luân lý, vì Đạo

đức, vì Danh dự"[8, tr 630] Tác giả "Dưới mắt tôi" khen Nhất Linh đã làm

một việc nhân đạo vì "Luân lý ấy là luân lý áp bức, đạo đức ấy là đạo đức giả dối, danh dự ấy là danh dự hão huyền Hơn nữa tác giả muốn cho ta đủ tự do sống theo nguyện vọng của mình, gây lại hạnh phúc gia đình mình một cách

chính đáng."[8, tr 630] Trương Chính bênh vực Lạnh lùng, phê phán Trương

Tửu không hiểu được những điều trên nên đã cả gan kết án tác phẩm Nhưng đồng thời cũng đứng trên quan điểm đạo đức, Trương Chính cho rằng hành vi của Nhung đôi khi biểu thị một tâm hồn phóng tứ "Nhưng ta thất vọng khi nhìn thấy nàng quá tự do bỏ nhà đi ngang về tắt với tình nhân Nàng sẽ lấy Nghĩa, không ai phản đối Nhưng nàng "ăn nằm" với Nghĩa trước khi lấy Nghĩa, thì người ta không thể tha thứ cho nàng được Người ta sẽ nghi nàng bị lôi cuốn bởi sức cám dỗ của bản năng, theo tiếng gọi của xác thịt hơn theo tiếng gọi của trái tim, nghi cho nàng cố ý đi tìm khoái lạc hơn đi tìm chân lý hạnh phúc."[8, tr 632]

Trang 18

Với một số ý kiến chê Tối tăm, Trương Chính nhận định "Theo tôi

thấy, lúc nào ông Nhất Linh cũng chỉ đi theo con đường ông vạch sẵn để di tới mục đích: cải tạo xã hội."[8, tr 635] Trương Chính cho rằng:

"Trước kia ông bênh vực một hạng người đau khổ, vì biết suy tưởng và biết phân tách lòng mình, nên sự đau khổ ấy lại càng chua chát Bây giờ ông bênh vực một hạng người khác khốn nạn mà không biết mình khốn nạn, vì ngu dại và thất học, đương chìm đắm trong đêm tối một cách rất đáng thương."[8, tr 636] Đó là những chàng nông phu lương thiện vì dốt nát bị lừa dối, những người cha không dám cho con gái đi học, những bà mẹ không biết sạch sẽ là gì, những cái Bìm ngoan ngoãn một cách đần độn Trương Chính

lý giải họ bị đày vào cảnh khổ nhục như vậy vì không có ai gợi cho họ những ước mong khác và theo ông "nhà nghệ sỹ không có quyền đứng ngoài xã hội,

ẩn trong tháp ngà để hưởng hạnh phúc mình một cách ích kỉ và khốn nạn Đời của ta có liên quan tới đời của mọi người."[8, tr 636] Ông cũng bày tỏ rõ quan niệm của mình: " Tôi tưởng cái vấn đề nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh đã kết liễu từ lâu, và bây giờ không ai cứng đầu không chịu hiểu rằng nghệ thuật sẽ là sự mỉa mai nếu mục đích của nó không phải là nâng cao trình độ sinh hoạt của nhân loại."[8, tr 637]

Phê bình Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Trương Chính ghi nhận sự

phấn đấu của cá nhân chống lại chế độ đại gia đình, theo ông "tác giả nó biện luận cho quan niệm nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập

quán do nền luân lý cổ truyền tạo ra."[8, tr 642] Khi viết về cuốn Gia đình,

mặc dù ông nhận thấy công cuộc cải tạo xã hội của Hạc có tính cách trưởng giả, chú trọng ở bề mặt hơn bề sâu, và Khái Hưng đã tỏ thái độ lạc quan quá

dễ dãi ở sự thành công của Hạc nhưng ông không phê bình công cuộc cải tạo

ấy Vì theo ông, đời Hạc còn đáng sống hơn đời lắm kẻ khác Ở khía cạnh tác

động xã hội, Trương Chính đánh giá Gia đình là nhát búa cuối cùng vào bức

tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ trước: chế độ đại gia đình

Về nghệ thuật, nhìn chung Trương Chính hết lời khen ngợi Nhất Linh

và Khái Hưng: Đoạn tuyệt có giá trị tâm lý không ai chối cãi được Nhất Linh

Trang 19

đã quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật và đi sâu vào đời bên trong của họ Trương Chính cho là Nhất Linh còn có tài miêu tả nhân vật, điều ấy được thể hiện qua nhân vật bà Án

trong Lạnh lùng: "Nhất là tả bà Án, ông đã lột được hết tinh thần một người

đàn bà quý phái, ranh mãnh, khôn khéo, biết chiều chuộng con dâu khi cần phải chiều chuộng, biết dạy dỗ khi cần phải dạy dỗ."[8, tr 634]

Trong khi phê bình các tác phẩm và tác giả Tự lực văn đoàn, chúng ta thấy rõ quan điểm của Trương Chính Đối với ông, văn chương phải góp tiếng nói để cải tạo, xây dựng xã hội Hơn nữa, nó còn phải phù hợp với quan niệm

về đạo đức của xã hội

Trương Chính nhiều lần khen nghệ thuật miêu tả tâm lý của Khái Hưng: “Nhà luân lý Khái Hưng lại là một nhà tâm lý nữa"[8, tr 639] Nhà văn "hiểu rằng một cử chỉ, một dáng điệu, một sắc mặt có thể biểu lộ một

trạng thái tâm hồn nên tác giả Hồn bướm mơ tiên chỉ tả cái dáng điệu ấy, vẽ

cái cử chỉ ấy, ghi cái sắc mặt ấy Vài nhận xét có ý tứ cũng đủ làm hoạt động những nhân vật trong truyện."[8, tr 639] Khái Hưng còn được xem là nhà hội họa có tài, đã kết tinh được cái hồn thơ man mác bao trùm cảnh vật và ghi được những màu sắc rất hay biến đổi bằng một ngòi bút điêu luyện Tóm lại,

“…một quyển như Hồn bướm mơ tiên là một hòn châu báu”[8, tr 641] Đặc biệt, Trương Chính rất ca ngợi Gia đình, theo ông đó "có thể xem như một

tác phẩm không tì vết”, "Tôi chưa từng thấy trong văn học Việt Nam, một nhà văn, kể cả Nhất Linh, đã tả người đàn bà một cách xác đáng như Khái Hưng" [8, tr 655] Ông cho rằng tác giả đã giải phẫu tâm lý nhân vật trong

truyện một cách công phu; sự xếp đặt và cách kết cấu trong Gia đình không

để ta chê trách được ở chỗ nào cả Trương Chính cũng đánh giá rất cao Đời

mưa gió, đó "là một kiệt tác”[8, tr 668] Với Đời mưa gió thì Khái Hưng và

Nhất Linh đã có “nghệ thuật tuyệt diệu” khi tả một người phóng đãng như Tuyết mà làm cho người đọc thương hại nàng, bênh vực nàng Trương Chính

cũng đã bước đầu chỉ ra những mặt cần khắc phục Ở Đoạn tuyệt, tác giả

không nên nấp sau lưng nhân vật để nói thay ở đoạn Loan ra toà Ông cho

Trang 20

rằng như thế là “thiếu thành thực và có hại cho nghệ thuật”[8, tr 629], “Nửa

chừng xuân xếp đặt không chặt chẽ”[8, tr 645], “Vọi trong Trống Mái không

thực Tác giả đã sửa chữa bức tranh của ông nhiều quá”[8, tr 651]

Đáng chú ý nhất là cuộc tranh luận dựa trên quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương với đạo đức và xã hội Nếu như Trương Chính bảo vệ và

dành cho Lạnh lùng của Nhất Linh những lời khen thì Trương Tửu lại kết án

chúng Trương Tửu đặt vấn đề : "Một văn phẩm hoàn toàn về nghệ thuật mà

có ảnh hưởng tai hại đến cá nhân và xã hội thì nên hoan nghênh hay bài trừ"

và ngay sau đó ông đã lên án trong cuốn Lạnh lùng, Nhất Linh định phá hoại

sự tiến bộ của phụ nữ, chủ trương tự do phát triển xác thịt Theo ông, Nhung phải ở vậy để thờ chồng, giữ tròn danh tiết Ông hô hào: "Tất cả những đàn

bà, những cô quan tâm đến vấn đề phụ nữ nên kết án Lạnh lùng", "tất cả

những bậc phụ mẫu muốn cho con gái khỏi sự phóng đãng quyến rũ, nên cấm

tiệt không cho đọc Lạnh lùng."[8, tr 630-631]

Thúc Tề lại nhấn mạnh chỉ ở dưới chế độ phong kiến người đàn bà góa trẻ mới phải ở vậy, còn dưới xã hội mới tình trạng đau đớn ấy không thể có nữa Vấn đề giải phóng phụ nữ được đặt ra trong sáng tác của Tự lực văn đoàn do vậy đã trở thành vấn đề xã hội rộng lớn, được dư luận quan tâm

Ở đây Trương Chính và Trương Tửu đã đứng ở góc độ khác nhau khi

nhận xét về Lạnh lùng Trương Chính thấy được mặt tích cực chủ yếu của tác

phẩm là bảo vệ quyền sống chính đáng của con người, hạn chế về mặt đạo đức chỉ là thứ yếu Trong khi đó, Trương Tửu lại quá nhấn mạnh khía cạnh

đạo đức nên chỉ thấy Lạnh lùng là một tác phẩm có hại

Cũng xuất phát từ quan điểm xã hội, Dương Quảng Hàm trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” xuất bản năm 1941 đã thấy được đóng góp của

Tự lực văn đoàn không chỉ ở lĩnh vực văn học mà còn tác động về mặt xã hội

“công việc của Tự Lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường xã hội và đường văn học”[27, tr 21] Theo đó, về nội dung, tác phẩm của Tự lực văn đoàn đã làm rõ những cái dở, cái giả dối trong các hủ tục, thiên kiến của chế độ phong kiến Về nghệ thuật, đã làm cho “thể tiểu thuyết đắc thắng”, ngôn ngữ sáng

Trang 21

sủa, dễ hiểu hơn Từ góc độ đạo đức, bảo vệ những mặt tích cực của nền luân

lý cũ, ông phê phán các nhà văn đã có thiên lệch khi đánh giá về những phong tục cũ, mà theo ông có những mặt tốt cần phải giữ gìn Ông lấy ví dụ về tục đàn bà goá chồng ở vậy thờ chồng nuôi con, xưa nay biết bao gia đình nhờ cái tục ấy mà không bị li tán, con cái được nuôi dạy thành người Dương Quảng Hàm đã thấy được phong tục cũ của chế độ phong kiến không phải không có mặt tốt, mặt hay, điều mà khi phê phán, các tác giả của Tự lực văn đoàn đã bỏ qua

Cũng cùng quan điểm xã hội nhưng nếu như Trương Chính, Dương Quảng Hàm thấy được những mặt tích cực của chủ trương cải cách xã hội, tác động tốt đến xã hội và dành cho các nhà văn Tự lực văn đoàn những lời khen tặng thì Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Đặng Thai Mai lại phản đối

Nguyễn Công Hoan đã chê Đoạn tuyệt dở vì không giúp người ta cách nào

thiết thực để đoạn tuyệt với gia đình cũ Để cho lời tuyên bố thêm hùng hồn,

ông đã viết Cô giáo Minh, chọn kết thúc cô giáo Minh không chống gia đình

chồng mà cảm hoá được mẹ chồng phong kiến rất độc ác, ăn ở hết sức hoà thuận với một anh chồng ngu xuẩn Nhưng không may cho Nguyễn Công Hoan kết thúc này không được hoan nghênh như nhận xét của Vũ Đức Phúc:

“Nguyễn Công Hoan lại tỏ ra lạc hậu hơn các nhà văn lãng mạn về việc chống

lễ giáo phong kiến”[74, tr 118]

Một nhà văn hiện thực nữa lên án Tự lực văn đoàn là Vũ Trọng Phụng

Trên báo Tương lai, 25-3-1937, ông đã phê phán Tự lực văn đoàn là tô vẽ xã

hội, biến những cô gái điếm thành những “phụ nữ tân thời, vui vẻ, trẻ trung,

hy sinh cho ái tình, hoặc cách mạng lại gia đình "[74, tr 120]

Trên báo Tiên Phong, Đặng Thai Mai vạch rõ tính chất tiêu cực trong sáng tác của Khái Hưng, Nhất Linh Dũng trong Đoạn tuyệt muốn làm một

nhà cách mạng nhưng thực ra “chỉ là một chàng công tử thành thị mang cái bệnh Don Quichotte rồi đi tập điệu bộ “hảo hớn” mà thôi”[74, tr 168] Rõ ràng ở đây những nhà văn hiện thực còn đòi hỏi cao hơn ở tác phẩm Tự lực văn đoàn Họ muốn tác phẩm phải phản ánh đúng hiện thực xã hội, và cao

Trang 22

hơn nữa phải vạch ra cách cho con người thoát khỏi sự đau khổ do những bất công trong xã hội gây ra Các nhà văn hiện thực đã đứng trên lập trường giai cấp vô sản để đòi hỏi các nhà văn phải giải quyết triệt để những vấn đề nỗi khổ đau cho người nghèo khổ trong tác phẩm của mình

1.2.1.2 Hướng tiếp nhận từ đặc trưng thể loại

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại(1942) viết về hầu hết các nhà

văn trong Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Trần Tiêu Khác với nhiều người nghiên cứu cùng thời, ông tiếp cận với

Tự lực văn đoàn từ nghệ thuật của tác phẩm Từ góc độ này, Vũ Ngọc Phan

đã đem đến nhiều nhận xét có giá trị

Nghiên cứu về Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan chú ý đến thể loại của tác phẩm, ông xếp Nhất Linh vào tác gia viết tiểu thuyết luận đề Ông nhận thấy thể loại tiểu thuyết của Nhất Linh thay đổi rất nhanh "Ông viết từ tiểu thuyết

ái tình, tiểu thuyết tình cảm, qua những tiểu thuyết luận đề, đến tiểu thuyết tâm lý: sự tiến hóa ấy chứng ra rằng mỗi ngày ông càng muốn đi sâu vào tâm hồn người ta"[71, tr 234] và cho rằng Nhất Linh chú trọng nhất và cũng

thành công nhất ở tiểu thuyết luận đề Vũ Ngọc Phan xếp Nho phong vào tiểu

thuyết luân lý, một truyện cổ bình thường, có tính cách trung hậu như hàng trăm truyện cổ nước ta Đánh giá về Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan kết luận, ông cũng nhận thấy sự tiến bộ rất nhanh về nghệ thuật của Nhất Linh Ông cho

rằng sau cuốn tiểu thuyết đầu tiên Nho phong mà cách hành văn còn cổ lỗ câu văn thật kêu, du dương, chữ sáo thì đến Gánh hàng hoa, văn đã giản dị và

trong sáng Khi viết về Nhất Linh, có thể nhận thấy Vũ Ngọc Phan chưa chọn phân tích những tác phẩm thành công nhất của nhà văn

Vũ Ngọc Phan xếp Thế Lữ vào các thi gia Thế Lữ được ông đánh giá

“là một tiểu thuyết gia có tiếng” [71, tr 113], chuyên viết hai loại rùng rợn và trinh thám Tác giả khá tinh ý khi nhận xét “truyện hay hơn cả lại không phải

là truyện ghê sợ” hay “Trong tập truyện ngắn của Thế Lữ, tôi chỉ thấy những truyện căn cứ vào sự thực là hay thôi.”[71, tr 115] Còn “trong tiểu thuyết

Trang 23

trinh thám hay nhất là những lời nghị luận của nhà trinh thám.” Theo ông,

Vàng và máu là tập truyện đặc sắc hơn cả “Nghệ thuật viết tiểu thuyết của

Thế Lữ ở đây đã lên tới một trình độ khá cao.”[71, tr 116] Những đánh giá của ông được thời gian kiểm chứng hoàn toàn đúng đắn

Khi nghiên cứu về Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan cho rằng thể loại mà Thạch Lam viết nhiều nhất là tiểu thuyết tình cảm "Trong các truyện ngắn, truyện dài của ông, tình cảm đều có một địa vị đặc biệt."[71, tr 450] Thạch Lam được ông xếp chung dòng với các nhà văn viết tiểu thuyết xã hội Ông nhận ra Thạch Lam tả thật tỷ mỷ và tinh vi “những cảm tình, những cảm giác con con nảy nở và biểu lộ ở đủ các hạng người.”[71, tr 450] Ông chỉ ra ở

Những ngày mới , Thạch Lam tả cảm tưởng xuất phát từ một cảm giác của

Tân, cảm giác đói của Sinh Vũ Ngọc Phan nhận ra bước tiến dài của nghệ

thuật Thạch Lam từ Gió đầu mùa đến Sợi tóc Ở Gió đầu mùa, Thạch Lam chuyên tả tình nên khi tả cảnh nét bút còn ngượng ngập Nắng trong vườn viết

theo lối văn giản dị êm ái nhưng nhiều truyện không được đậm đà, làm cho người đọc dễ chán Tuy nhiên có nhận xét của Vũ Ngọc Phan mang tính cảm tính nên chưa thật chính xác, ông cho truyện Thạch Lam chưa hay vì ông chỉ

xây dựng những truyện giản dị và tầm thường “ những truyện như Cuốn sách

bỏ quên (trang 45), Người đầm (trang 75), Đứa con (trang 77), Bóng người xưa (trang 99), Hai đứa trẻ (trang 109), đều là những truyện tầm

thường.”[71,tr 455-456]

Vũ Ngọc Phan nhận định có sự thay đổi về thể loại trong sáng tác của Khái Hưng: "Đọc tiểu thuyết của Khái Hưng, người ta nhận thấy lúc đầu ông

là một nhà tiểu thuyết có lý tưởng, dần dần ngả về phong tục là loại ông có

nhiều đặc sắc nhất, rồi đến khi viết Hạnh, ông bắt đầu khuynh hướng về tâm lý."[71, tr 168] Theo ông, Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái đều là những tiểu thuyết về lý tưởng Tình yêu của Ngọc và Lan trong Hồn

bướm mơ tiên là thứ ái tình thanh cao quá, thứ ái tình lý tưởng đặc biệt, ít khi

có thể thấy ở một đôi trai gái yêu nhau Trống Mái cũng thuộc loại tiểu thuyết

lý tưởng , nhưng cái lý tưởng ở đây là cái lý tưởng về thân hình đẹp theo quan

Trang 24

niệm mỹ thuật của một hạng gái mới Việt Nam mà Hiền là người tiêu biểu

Trống Mái tuy truyện không thiết thực nhưng về nghệ thuật rất thành công

“Trống Mái tuy truyện không được thiết thực nhưng ai đã được đọc cũng đều

phải chú ý đến lời văn trác tuyệt và bát ngát của Khái Hưng.”[71, tr 173],

“Người ta đã thấy những tính tình, cảnh vật đầy thơ mộng, đẹp đẽ và êm ái, rất hợp với tâm hồn người ta, rồi lại những cử chỉ ngôn ngữ của các nhân vật

về phái đẹp bao giờ tác giả cũng tả rất tinh tế.”[71, tr 171]

Thừa tự là tiểu thuyết phong tục được tác giả đánh giá rất cao “Thừa tự

vào số những tiểu thuyết phong tục có giá trị và rất hiếm trong lúc này.”[71,tr 177] Từ việc phân tích tác phẩm, ông cho rằng tác phẩm đã cho thấy được phong tục thừa tự vô lý ở Việt Nam đã bị người ta xem như miếng mồi để tranh giành, cấu xé lẫn nhau Nghệ thuật của tác phẩm dưpợc tác giả khen

ngợi: “Trong Thừa tự, ngoài những xen tươi sáng trên này, lại có hai bức chân

dung tuyệt khéo: bức chân dung của sư ông và bức chân dung của mụ mối

hay một bà đồng.”[71, tr 176] Vũ Ngọc Phan xếp Hạnh vào tiểu thuyết tâm

lý Ông nhận thấy "Khái Hưng nhận xét rất đúng về con người nhút nhát.” Về

tính tình Hạnh, Khái Hưng viết: “Như phần nhiều người nhút nhát, Hạnh rất

hay lo mất thể diện nhất khi đứng trước đàn bà” [71, tr.179] Cách cử chỉ của người nhút nhát được tác giả mô tả: “Hạnh yên lặng ngồi xuống, hai cánh tay

tỳ lên khăn bàn trắng, hai bàn tay chắp lại, rít chặt Những lúc ngượng ngập, Hạnh khổ sở nhất về hai bàn tay, chẳng biết để vào đâu và dùng làm việc

gì."[71, tr 179] Ông cũng khen truyện Thời chưa cưới là truyện ngắn hay trong tập Hạnh Trong đó, "Khái Hưng khảo sát tính tình hạng thanh niên tân

tiến đúng vô cùng Tình yêu của họ là thứ tình yêu nồng nàn, bồng bột, cho nên cái thời chưa cưới của họ càng kéo dài bao nhiêu, họ càng có dịp để chán nhau bấy nhiêu." [71, tr 180] Vũ Ngọc Phan cũng đánh giá rất cao sự am hiểu tâm lý của Khái Hưng: " Ông xét tâm lý phụ nữ Việt Nam rất đúng" [71,

tr 189], "Nhưng dù ở tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyết phong tục hay tiểu thuyết tâm lý, cái đặc sắc mà người ta thấy trong các văn phẩm của Khái Hưng là sự xét nhận rất đúng về tâm hồn nam nữ thanh niên Việt Nam." [71,

Trang 25

tr 190] Theo nhà phê bình, đó là nguyên nhân khiến các tác phẩm của nhà văn này được các thanh niên trí thức, đặc biệt là phụ nữ hoan nghênh

Phân tích cả ba loại tiểu thuyết của Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan khẳng định loại trội hơn, đặc sắc hơn cả của Khái Hưng là tiểu thuyết phong tục và ông xếp Khái Hưng vào nhà văn phong tục Truyện ngắn của Khái Hưng cũng được nhận định thành công không kém tiểu thuyết “Về truyện ngắn, Khái Hưng viết tuyệt hay”, “…nghệ thuật của ông là tìm cho ra những ý nghĩa đau đớn hay khoái lạc của mọi việc ở đời, rồi ghi lại bằng những lời văn gọn gàng, sáng suốt…”[71, tr 183]

Ông nhận ra một Xuân Diệu thi sĩ trong văn xuôi “Xuân Diệu ở đâu cũng đem theo một hồn thơ bát ngát và mơ màng.” [71, tr 134] bởi trong

Phấn thông vàng ông chỉ thấy “rặt thơ là thơ” Chất thơ ấy thể hiện trong tâm

hồn một người đa cảm, trong tâm hồn tự do xâm chiếm, tràn lan, không biết

đâu là bờ bến, ở tấm lòng yêu dào dạt, băn khoăn Cái hay của Phấn thông

vàng chính là nó đã diễn tả hết cảm tưởng của tác giả về cuộc đời Vũ Ngọc

Phan khẳng định tác phẩm này rất kén độc giả “không phải hạng sách yêu dấu của tất cả mọi người, nó thuộc loại sách của người ưa suy nghĩ, muốn sống một đời tinh thần đầy đủ.”[71, tr 137]

Tiểu thuyết của Trần Tiêu được Vũ Ngọc Phan xếp vào tiểu thuyết phong tục thôn quê Trần Tiêu thành công ở thể loại truyện dài hơn là truyện

ngắn Ông dành sự chú ý cho tiểu thuyết Con trâu và Chồng con, là hai tác

phẩm tiêu biểu tả phong tục thôn quê rất tường tận Vũ Ngọc Phan nhận ra sự

tỷ mỷ chính là một nét tiêu biểu của Trần Tiêu nên nhắc đến nhiều lần

“Những điều nhận xét kỹ càng , tỷ mỷ của ông ở truyện dài trở nên những cái lôi thôi, dài dòng ở truyện ngắn”, “Các vai phụ đều được tác giả tả

về ngôn ngữ, hành vi rất tỷ mỷ.”[71, tr 193], “…thật là những thói tục bất di bất dịch của người dân quê Việt Nam mà Trần Tiêu đã tả rất đúng rất tỷ

mỷ”[71, tr 193], “ Trong Chồng con, phong tục của người dân quê Việt Nam

còn được tả tỷ mỷ hơn nữa.”[71, tr 194]

Trang 26

Tuy được nhận xét là không thiên lệch theo một khuynh hướng nào nhưng qua những bài viết của mình, Vũ Ngọc Phan cũng thể hiện quan điểm

văn học hiện thực của mình Ông cho rằng về tư tưởng, trong Gánh hàng hoa,

Nhất Linh đã bộc lộ rõ khuynh hướng bình dân Ông sớm nhận ra hạn chế của Nhất Linh chưa thật sự quan tâm đến những người nghèo khổ Trong tập

truyện ngắn Tối tăm, khi so sánh Nhất Linh với nhà văn bình dân Pháp Pierre

Hamp, tác giả cho rằng nhà văn Pháp viết về cảnh lầm than của thợ thuyền đã phô bày mọi việc một cách giản dị và khéo léo, không tô điểm, để người đọc

tự suy nghĩ còn Nhất Linh cũng động lòng thương xót nhưng là sự thương xót

của một người ở giai cấp khác Với Khái Hưng, ông nhận xét Hồn bướm mơ

tiên, Nửa chừng xuân là những tiểu thuyết lý tưởng, tác giả dựng nên những

cái cao quá, người ở thế gian này không thể nào có được Hạn chế của Trần Tiêu được ông chỉ ra là "cho thấy cái mặt kém cỏi của người dân quê Việt Nam"[71, tr.194] và chưa cho chúng ta biết sức mạnh nào đã giúp người dân quê có được nghị lực chống chọi với đói nghèo cũng như có được những tính tình tốt đẹp của họ

Từ góc độ đặc trưng thể loại, Vũ Ngọc Phan quan tâm đến những đổi mới trong nghệ thuật của các nhà văn Tự lực văn đoàn Mỗi khám phá về nghệ thuật của các nhà văn đều được nhà phê bình tìm tòi, phát hiện và biểu dương Nhờ đó, ông đã chỉ ra được những nét độc đáo cũng như hạn chế của mỗi nhà văn Tự lực văn đoàn Những nhận xét của tác giả vì thế cũng rất khách quan, trung thực Có thể thấy Vũ Ngọc Phan là một nhà phê bình nghiêm túc, đã nắm bắt được những giá trị lẫn tồn tại của những tác phẩm và tác giả mà ông phê bình Cũng chính vì có quan điểm hiện thực mà những nhận xét của ông khá gần với những nhà phê bình hiện nay

Trong giai đoạn đầu tiên này, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính và Dương Quảng Hàm có thể xem là những người đầu tiên có công trình nghiên cứu khá công phu Họ đã đưa ra được những nhận xét bước đầu khá đúng đắn, có thể làm cơ sở để định hướng trong tiếp nhận cho công chúng Tuy chưa thật sâu

Trang 27

sắc nhưng những nhận xét cơ bản nhất của họ về Tự lực văn đoàn không cách

xa với chúng ta ngày nay bao nhiêu

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu tập trung vào Nhất Linh và Khái Hưng, là những tác giả có nhiều tác phẩm và nhiều tác phẩm bán chạy hơn hết lúc bấy giờ, họ đang được độc giả bấy giờ mến mộ Các tác giả khác ít được chú ý đến Điều này hoàn toàn có thể hiểu được Khi nhóm

Tự lực mới ra đời, Nhất Linh và Khái Hưng là hai cây bút chủ chốt, có nhiều sáng tác và những tác phẩm của họ thực sự là những cách tân về cả nội dung lẫn nghệ thuật Tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng hầu hết là luận đề, nội dung chống lễ giáo phong kiến, là những vấn đề thu hút được nhiều người với những quan điểm trái ngược nhau quan tâm đến Tuy nhiên, khi nghiên cứu về hai tác giả Khái Hưng, Nhất Linh, họ cũng chỉ tập trung vào một số tác

phẩm chính như Nửa chừng xuân, Thừa tự, Trống mái- Khái Hưng, Đoạn

tuyệt, Lạnh lùng, Gánh hàng hoa- Nhất Linh nên cũng chưa có cái nhìn bao

quát về toàn cảnh bức tranh văn học của Tự lực văn đoàn Những đánh giá về tác phẩm của Tự lực văn đoàn có phần hơi cực đoan, khen (Trương Chính) cũng như chê (Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Trương Tửu…) đều quá đáng và có phần đơn giản, chưa thực sự thấy được thành công cũng như hạn chế Riêng về phần nghệ thuật thì ý kiến đánh giá tương đối thống nhất Hầu hết đều khen văn Tực lực văn đoàn giản dị, trong sáng; nghệ thuật miêu tả tâm lý, nội tâm tài tình; tả cảnh thơ mộng tạo nên những trang văn thi vị, hấp dẫn Hạn chế của các nhà văn Tự lực văn đoàn về nghệ thuật được đánh giá là không đáng kể

Như vậy, khi đánh giá về Tự lực văn đoàn, các nhà nghiên cứu đều có lập trường quan điểm khác nhau Thành công cũng như hạn chế của các quan điểm tiếp nhận này sẽ được lý giải bằng những nguyên nhân xã hội, văn hóa,

lí luận sau đây

1.2.2 Tiền đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn

Trang 28

1.2.2.1 Tình hình chính trị, xã hội và sự xuất hiện độc giả mới của văn

học

Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Đến đầu thế kỷ XX Pháp tiến hành khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam chuyển thành xã hội thực dân nửa phong kiến Trong xã hội bắt đầu có những thay đổi sâu sắc Các đô thị mới xuất hiện từ Nam chí Bắc, trở thành những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của chính quyền thực dân Nhiều thành thị mới ra đời từ sự phát triển thương nghiệp và giao thông Trong xã hội xuất hiện những tầng lớp mới: tư sản, tiểu tư sản, dân nghèo thành thị, thợ thuyền gọi chung là tầng lớp thị dân Điều kiện của một xã hội mới làm thay đổi cách sống, quan niệm sống, nhịp sống của tầng lớp thị dân Họ có tư tưởng, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ khác với các thế hệ trước và có nhu cầu mới trong đó có văn học Đây chính

là công chúng mới của văn học và là độc giả chủ yếu của Tự lực văn đoàn Trương Chính khẳng định: "Cũng cần nói ngay rằng, người đọc ở đây là người đọc tiểu tư sản bà con với những nhân vật tả trong truyện, đang vui buồn những nỗi vui buồn của giai cấp trong thời kì quá độ."[5, tr 233] Bạch Năng Thi cũng cho rằng độc giả mới của nhóm là những người "thuộc các tầng lớp tương đối nhàn rảnh ở thành thị: viên chức, học sinh, sinh viên tư sản và tiểu tư sản nói chung, cùng với biết bao phụ nữ ở các tầng lớp ấy."[81,

tr 589] Với độc giả mới, văn học vì thế cũng buộc phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu của xã hội trên đà đổi mới Theo Bạch Năng Thi, công chúng mới say sưa đọc tiểu thuyết vì nội dung và hình thức dễ thích hợp với điều kiện sinh hoạt và khả năng thưởng thức của họ, họ đã chán ngấy cuộc sống của đại gia đình phong kiến, thù hằn quan niệm “môn đăng hộ đối” và những hủ tục man

rợ [81, tr 589] Trương Chính cho rằng người đọc tìm thấy sự tương đồng về

tư tưởng ở tác phẩm Tự lực văn đoàn: "Thanh niên bây giờ đã hấp thụ một nền văn minh mới, đã tiêm nhiễm những tư tưởng nhân đạo, trọng tự do cá nhân, không thể sống trong gia đình cũ với những điều kiện cũ, không thể chịu những nỗi áp bức chuyên chế của Khổng giáo được."[8, tr 625] Thạch Lam lý giải sự yêu thích tiểu thuyết của công chúng đương thời bằng sự

Trang 29

phong phú và phức tạp trong đời sống tinh thần của chính họ "Khi người ta bắt đầu có một đời sống bên trong, hay tìm xét những trạng thái tâm hồn mình, người ta thích đọc tiểu thuyết."[48, tr 72] Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đáp ứng được tâm lý, thị hiếu thẩm mỹ của đông đảo công chúng, đã phản ánh được tâm hồn và ước mơ của họ nên được đón nhận nồng nhiệt Đặt tên nhóm

là Tự Lực, các thành viên của nhóm mong muốn có thể sống bằng sức lao động nghệ thuật của mình Tuy không đặt vấn đề thương mại lên hàng đầu nhưng rõ ràng các nhà văn đã hướng về phía người đọc, nắm bắt và đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của độc giả đương thời, trong đó tầng lớp tiểu tư sản thành thị là lớp độc giả đông đảo nhất Đối với đông đảo độc giả thời ấy vấn đề chống phong kiến, cải cách xã hội và đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết chính là tâm điểm được chú ý trong thời kì này

Tuy nhiên, bên cạnh lớp công chúng mới đó, vẫn còn sự tồn tại của lớp công chúng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng phong kiến, ít nhiều họ thừa nhận những đổi mới, sáng tạo về mặt nghệ thuật của tác phẩm nhưng không đồng tình với những nét tính cách quá mới mẻ của những con người mới trong tác phẩm dẫn đến những ý kiến trái chiều nhau khi phê bình tác phẩm

Tự lực văn đoàn như phần trên đã đề cập

1.2.2.2 Cơ sở tư tưởng- văn hóa

Cùng với sự thay đổi hình thái xã hội, đời sống tư tưởng, văn hóa Việt Nam cũng có sự thay đổi lớn Ý thức hệ phong kiến vẫn tồn tại nhưng mất địa

vị độc tôn Cùng với sự phát triển của tầng lớp trí thức Tây học và đời sống mới ở thành thị, ý thức hệ tư sản xuất hiện Sau đó xuất hiện ý thức hệ vô sản

và từ năm 1930 trở đi cùng với sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương, văn hóa vô sản Việt Nam ngày càng phát triển Điều này tác động rất lớn đến quan điểm tiếp cận Tự lực văn đoàn Ý thức hệ khác nhau dẫn đến những quan điểm tiếp nhận hoàn toàn khác nhau Sự cùng tồn tại của các ý thức hệ khiến cho việc tiếp nhận Tự lực văn đoàn trở nên rất phức tạp Cùng có quan điểm xã hội nhưng Trương Chính, Dương Quảng Hàm đánh giá cao sự tiến bộ

Trang 30

của các nhà văn Tự lực đã đả phá mạnh mẽ các hủ tục của xã hội phong kiến

để cải tạo xã hội Vũ Ngọc Phan lại đánh giá cao những thành công từ phía đặc trưng thể loại Các nhà văn đứng về phía giai cấp vô sản như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng muốn phản ánh đúng hiện thực cuộc sống, mong mỏi dùng ngòi bút tìm cách giải thoát cho con người nên phê phán các nhà văn lãng mạn trên ý thức hệ tư sản và tiểu tư sản đã tô vẽ xã hội

Giao lưu văn hóa cũng đã thay đổi Trước đây, văn học Việt Nam vốn chỉ quẩn quanh trong vòng ảnh hưởng của khu vực văn hóa cổ Trung Hoa, từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt đầu thế kỷ XX được tiếp xúc với tư tưởng, văn hóa, văn học phương Tây hiện đại, đặc biệt là Pháp Cũng cần nhớ rằng, ban đầu văn hóa Pháp được du nhập với mục đích làm lu mờ nền văn hóa truyền thống dân tộc Khi tiếp nhận, một mặt, chúng ta phản ứng với văn hóa nô dịch để bảo vệ văn hóa dân tộc, mặt khác, chọn lọc, tiếp thu cái mới, cái hay của nền văn hóa đó

Cuộc tiếp xúc này đã đem đến một lối sống khác với lối sống trước đây Đó là lối sống hiện đại của một lớp người trong xã hội Họ coi trọng tự

do cá nhân, khẳng định tình yêu tự do và xây dựng hạnh phúc gia đình trên

cơ sở bình đẳng, chống đối lại sự ràng buộc trong luân lý của lối sống cũ Đó

là trường hợp của Dũng, Loan trong Đoạn tuyệt, Nhung trong Lạnh lùng, Trương, Thu trong Bướm trắng, Mai trong Nửa chừng xuân Đây cũng là

một trong những lí do dẫn đến những quan điểm tiếp cận khác nhau đối với lối sống còn quá mới mẻ đó Hầu hết các ý kiến của nhà nghiên cứu khen ngợi tính chất tiến bộ, hiện đại của những con người mới Tuy nhiên, từ góc độ đạo đức, một vài người cũng tìm thấy những chỗ con người cá nhân đã vượt quá

những tiêu chuẩn đạo đức cho phép Tuyết (Đời mưa gió) bị xem là đại diện

cho chủ nghĩa cá nhân cực đoan nhiễm thêm chất độc của sự trụy lạc Nhung

(Lạnh lùng) cũng bị đánh giá là người đàn bà phóng tứ

1.2.2.3 Tình hình văn học và lí luận văn học

- Thời kì từ đầu thế kỷ XX -1945 nền văn học được hiện đại hóa với tốc

độ cực kì nhanh chóng Những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỷ XX, phong

Trang 31

trào tiểu thuyết dịch phát triển mạnh Chủ yếu là tiểu thuyết Trung Quốc và tiểu thuyết, kịch Pháp Từ công việc dịch thuật, các nhà văn tiến dần đến mô phỏng, phóng tác Một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã mô phỏng tiểu thuyết của Huygo, Dumas trên nhiều bình diện: cốt truyện, môtip, mô hình nhân vật Phong trào dịch thuật, mô phỏng đã mang lại cho tiểu thuyết Việt Nam một diện mạo mới Từ năm 1920 về sau phong trào sáng tác bắt đầu phát triển mạnh Báo chí là mảnh đất thuận lợi cho truyện ngắn và tiểu thuyết ra

đời Hàng loạt tiểu thuyết được xuất bản: Câu chuyện tối tân hôn, Chuyện cô

Chiêu Nhì ( Nguyễn Bá Học), Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn), Tố Tâm

(Hoàng Ngọc Phách), Giọt lệ thu (Tương Phố) Trên nền tảng đó, đến những

năm 30 cuộc cách tân triệt để hơn với sự xuất hiện cả nhóm Tự lực văn đoàn

và sau đó là của các nhà văn hiện thực đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn xuôi

thành nhiều trào lưu và khuynh hướng văn học khác nhau Chưa có bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam lại có nhiều trào lưu, khuynh hướng văn học cùng tồn tại như thế Chính sự khác nhau về quan điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mỹ của các nhà văn dẫn đến sự phân hóa thành nhiều trào lưu, khuynh hướng trong nội bộ nền văn học Cũng từ đó nổ ra những cuộc tranh luận sôi nổi, như cuộc tranh luận giữa thơ cũ và thơ mới, cuộc tranh luận giữa hai phái gọi là "nghệ thuật vị nghệ thuật" (tiêu biểu là Hoài Thanh) và "nghệ thuật vị nhân sinh" (người đứng đầu là Hải Triều)

Về khuynh hướng văn học, có bộ phận văn học công khai, hợp pháp và

bộ phận văn học bất hợp pháp

+ Bộ phận văn học công khai, hợp pháp Chính sách của thực dân vẫn

là đàn áp văn học cách mạng, hạn chế các khuynh hướng văn học tiến bộ Khi cao trào cách mạng 1930-1931 bùng nổ sau cuộc khủng hoảng kinh tế, một mặt chúng thi hành chính sách đàn áp dữ dội, mặt khác chúng sử dụng nhiều thủ đoạn khôn khéo về văn học Chúng mở cửa cho các trào lưu văn học có ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý độc giả Những trào lưu này tuy cũng có tinh

Trang 32

thần dân tộc và chứa đựng những yếu tố tư tưởng lành mạnh, tiến bộ nhưng không trực tiếp chống chế độ thống trị Do sự khác biệt về nghệ thuật, bộ phận này lại tự phân hóa thành hai trào lưu chính dưới đây:

o Trào lưu văn học lãng mạn có ảnh hưởng từ văn học lãng mạn của Pháp Đại diện cho trào lưu này là phong trào Thơ mới và tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn Văn học lãng mạn bộc lộ cái Tôi trữ tình tràn đầy cảm xúc, khát vọng và ước mơ đồng thời đề cập đến số phận cá nhân với thái độ bất hòa với xã hội (Thơ mới, văn xuôi của Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Tuân )

o Trào lưu hiện thực chịu ảnh hưởng ở những phương diện nào đó từ văn học hiện thực Pháp, nó phát triển mạnh trong giai đoạn 1930-

1945, đặc biệt dưới thời kỳ Mặt trận dân chủ Những nhà văn tiêu biểu cho nhóm này là Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Tác phẩm của họ phê phán trật tự

xã hội đương thời trên tinh thần dân chủ và nhân đạo, chống quan lại, cường hào, cũng có một phần chống đế quốc

+ Bộ phận văn học bất hợp pháp hoặc nửa hợp pháp

Bộ phận văn học này là sản phẩm của những nhà văn- chiến sỹ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Sóng Hồng Những người này coi thơ văn trước hết là vũ khí chiến đấu, là phương tiện tuyên truyền vận động cách mạng Nội dung của bộ phận văn học này đề cập đến số phận của cộng đồng, thể hiện nhiệt tình vì Tổ quốc,

vì nhân dân, nói lên nguyện vọng sống còn của dân tộc là độc lập, tự do

Chính bối cảnh nhiều giòng, nhiều phái này đã tạo nên bộ mặt đa dạng của văn học hiện đại, tạo nên sinh khí cho đời sống văn học mà đặc biệt là sinh hoạt trao đổi, tranh luận và phê bình văn học Sinh hoạt trao đổi, tranh luận văn học này, mà dưới đây chúng tôi nêu tóm lược một số cuộc, là một đặc điểm nổi bật của giai đoạn văn học này; những cuộc tranh luận như vậy cho thấy tình hình lý luận và phê bình văn học chung, đồng thời cũng cho thấy cái nền của sự tiếp nhận văn chương Tự lực văn đoàn

Trang 33

- Cuộc tranh luận Thơ cũ và Thơ mới

Phan Khôi đã nổ phát súng đầu tiên cho cuộc tranh luận này bằng bài

viết Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ (Phụ nữ tân văn, số 122, ngày

10-3-1932) Phan Khôi cho rằng thơ cốt ở sự chân thực, những niêm luật khuôn phép của lối thơ cũ đã làm cho nhiều bài thơ mất đi tính chất đó Bài

thơ Tình già cũng được đăng để minh họa cho quan điểm đó Bài thơ viết về

câu chuyện tình yêu phóng túng, lối thơ cũng hết sức tự do Sau bài của Phan

Khôi, báo Phụ nữ tân văn đăng nhiều bài thơ mới của Lưu Trọng Lư, Nguyễn

Thị Kiêm Nguyễn Thị Kiêm cũng đã diễn thuyết cổ động cho phong trào Thơ mới Sau cuộc diễn thuyết này, đã có người ra phản đối thơ mới Cuộc tranh luận chính thức bắt đầu (8-1933)

Phái Thơ mới chê Thơ cũ dở, chỉ chú trọng đến hình thức, không chú trọng đến việc thể hiện tình cảm Họ đòi hỏi các nhà thơ phải thay thế những

ý tưởng cũ, tình cảm cũ bằng những ý tưởng, tình cảm mới

Những người chống Thơ mới lãng mạn không chỉ ở trong phái Thơ cũ

mà còn ở trong phái nghệ thuật vị nhân sinh tán thành hình thức nhưng công kích nội dung Thơ mới Phái Thơ cũ vì thế có nhiều khuynh hướng khác nhau

Phái bảo thủ hoàn toàn bênh vực tuyệt đối các thể thơ cũ, bài bác Thơ

mới triệt để Tường Vân- Phi Vân cho ra đời tập thơ Những bông hoa trái

mùa (1935) theo lối cũ Nguyễn Văn Hanh bênh vực thơ cũ, công kích thơ

mới Phái này mau chóng bị phái Thơ mới đánh quỵ

Cũng có người không đứng hẳn về thơ cũ hay thơ mới Hoàng Duy Từ cho rằng thơ mới rất thích hợp với thời đại bây giờ Theo ông, "lập một nền văn học hẳn hoi, bỏ những điển tích mơ hồ, những điều sáo hủ để văn chương nước nhà đặng khởi sắc thì thật nên"[74, tr 67] nhưng "nói rằng thi văn xưa là một lối văn để thù tạc , để ca tụng thì quá đáng"[74, tr 67] Ông khẳng định tâm hồn các nhà thơ ngày xưa cũng phong phú, các cụ cũng có nhiều tư tưởng cao siêu để bác lại ý kiến Lưu Trọng Lư cho là tâm hồn các cụ đơn sơ, nghèo nàn, phẳng lặng

Trang 34

Cho đến năm 1935, xét cuộc tranh luận và cả tình hình sáng tác thơ, có thể thấy Thơ mới đã có vị trí khá vững chắc trên văn đàn

-Cuộc tranh luận giữa phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" và phái "nghệ thuật vị nhân sinh"

Khởi nguồn từ cuộc tranh luận giữa thơ mới và thơ cũ, từ năm 1936 trở

đi, vấn đề đánh giá nội dung thơ mới trở thành một trong những vấn đề tranh luận của hai phái Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh Trong quá trình tranh luận, khá nhiều vấn đề đã được đề cập đến Trong đó nổi lên hai vấn đề chính Trước tiên là vấn đề văn nghệ phục vụ chính trị

Phái nghệ thuật vị nghệ thuật gồm có Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Phan Văn Dật, Lan Khai Họ nhất định từ chối không chịu nhận cái danh hiệu vị nghệ thuật Phái này cho rằng mình không giống người đề xuất ra thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật trong lịch sử văn học Pháp là Têôphin Gôchiê, Gôchiê chủ trương nhà thơ phải vô tình trước cảnh vật và chỉ nên đi tìm một kiểu đẹp tạo hình còn họ không hề chủ trương như thế Trong quan niệm về nghệ thuật của họ, mục đích cuối cùng là cảm thấy cái hay, cái đẹp, cái lạ Những người theo phái này cũng thừa nhận một tác phẩm văn học có thể có thêm nhiều tính chất khác và khi phê bình tác phẩm có thể đứng về các phương diện xã hội, triết lý, tôn giáo, đạo đức Nhưng các phương diện ấy đều là phụ Trách nhiệm của nhà văn chỉ là viết thế nào cho thật hay Cái hay

đó là ở nghệ thuật, ở ngôn ngữ giàu cá tính của người viết, ở khả năng kể chuyện của tác giả Thứ văn hay ấy tự nó sẽ giúp ích cho đời, làm cho người đời quên mệt nhọc, cho cuộc đời thêm phong phú, văn chương tự nó đã là mục đích rồi, nhà văn không cần phải theo đuổi mục đích chính trị nào khác Các nhà văn vị nghệ thuật than phiền văn học vẫn thiếu tự do và đòi hỏi: "nếu bây giờ ta muốn văn chương ta ngày thêm phong phú, cần nhất phải để cho nhà văn được tự do Chúng tôi muốn dư luận hết sức rộng rãi với nhà văn Rộng rãi không phải là hoan nghênh vô luận sách gì, những sách kiệt tác cũng như là những sách viết không thành câu Rộng rãi nghĩa là không bắt buộc

Trang 35

nhà văn phải bó mình trong một đạo đức, một tôn giáo hay một đảng phái".[74, tr 536]

Phái nghệ thuật vị nhân sinh gồm có Hải Triều, Hải Thanh, Hồ Xanh, Lâm Mậu Quang, Hải Khách, Hải Âu, Bùi Công Trừng Phái này nói nhiều đến trách nhiệm của nhà văn đối với thời cuộc Giữa nghệ thuật và cuộc đời,

họ đã chọn cuộc đời là chính Mối quan tâm lớn nhất của họ không phải là viết văn mà là xây dựng cuộc đời bằng phương tiện văn học Họ viết: "Xét một áng văn cũng như một công trình nghệ thuật nào trước hết chúng tôi tìm coi cái lý tưởng của công trình lợi hay hại cho giai cấp của mình và cho sự tiến hóa chung của nhân quần Nếu cái lý tưởng ấy là một cái lý tưởng lợi cho

sự áp bức và lợi dụng quần chúng thì chúng tôi sẽ đánh đổ dù nghệ sỹ có tài đến thế nào"[79, tr 538] Tóm lại, phái nghệ thuật vị nhân sinh khẳng định nghệ thuật không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh giai cấp mà phải phục vụ nhân dân lao động, phản ánh cuộc sống của họ, tâm tư tình cảm của họ, đấu tranh cho hạnh phúc của họ

Một vấn đề quan trọng nữa của cuộc tranh luận là vấn đề quan niệm về con người trong văn học, nói cách khác là vấn đề quan điểm giai cấp, vấn đề văn nghệ phục vụ quần chúng

Phái vị nghệ thuật phủ nhận tính giai cấp Lưu Trọng Lư viết:

"Chúng tôi bao giờ cũng muốn ở phe cái phần nhân loại bất hạnh kia và mong rằng sau này sẽ gây được một nền văn hóa xứng đáng làm căn bản cho

sự sinh hoạt về tinh thần của giai cấp ấy Nhưng chúng tôi e ngại rằng: chỉ như thế thôi, nền văn học ấy không còn là một nền văn học chung cho dân tộc Việt Nam, một nền văn học ao ước bởi tất cả những người Việt Nam, không phân biệt chính kiến, không phân biệt giai cấp Thực lòng chúng tôi không muốn vì cái này mà bỏ cái kia, vì giai cấp này mà bỏ giai cấp nọ"[74, tr 99-100]

Họ muốn nói đến văn chương mà theo họ có thể trường tồn cùng thời gian "chúng tôi lại biết rằng: ngoài cái nền văn chương tranh đấu, nền văn chương của một thời, còn có nền văn chương muôn đời ( ) Cái văn chương

Trang 36

muôn đời ấy lấy lòng người làm căn bản( ) Nó có tính chất bất tuyệt như thời gian vì nó xuất phát tự lòng người, cái lòng người muôn năm không thay đổi"[74, tr 100] Chính vì vậy phái vị nghệ thuật quan tâm đến con người ,"con người muôn thuở", phần sâu sắc trong con người là cái gì chung cho mọi hạng người, cho mọi lớp người kế tiếp nhau, văn học nghệ thuật chính là

để nói lên cái phần sâu sắc ấy

Phái vị nhân sinh phản đối mọi quan niệm siêu giai cấp về văn học Phái này cho rằng nguồn gốc của nghệ thuật là lao động, nghệ thuật sinh ra để phục vụ cho lao động của con người, nghệ thuật là một sản phẩm của sinh hoạt xã hội, là thượng tầng kiến trúc nên có tính giai cấp Họ khẳng định tính giai cấp của văn học nghệ thuật và đứng về phía giai cấp vô sản và quần chúng cần lao Hỏa Sơn kêu gọi các nhà văn "Hãy nghĩ đến số người đông đúc rét không áo, đói không cơm, mưa gió không có nơi trú ẩn đang lô nhô, lúc nhúc trong bể khổ, nhằm cái bờ xa tít mù kia mà bơi đến"[79, tr 547] Phái vị nhân sinh tìm thấy nguồn cảm hứng vô tận cho văn học ở cuộc sống

và tình cảm của quần chúng nhân dân

Có thể thấy cuộc tranh luận này không phải chỉ đơn thuần là va chạm

về quan điểm nghệ thuật Như Hoài Thanh đã từng nhìn nhận "Đàng sau sự va chạm về quan điểm nghệ thuật và khơi nguồn cho sự va chạm ấy là sự va chạm giữa hai thái độ trước cuộc đời, hai thái độ về chính trị"[79, tr 550] Cũng trong cuộc đấu tranh đó, phái nghệ thuật vị nhân sinh đã đạt được mục đích chính yếu là tuyên truyền cho quan điểm văn học của chủ nghĩa Mác Trong lĩnh vực sáng tác cũng có ảnh hưởng rõ rệt, một số cây bút vốn quen

mơ mộng cũng chuyển sang viết về những cảnh đời lầm than Tiền đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn cũng đã tiềm ẩn trong các cuộc tranh luận này Tác phẩm Tự lực văn đoàn cũng có những nội dung mà cuộc tranh luận từng đề cập đến nên cũng trở thành đối tượng của các ý kiến khen chê khác nhau

+ Ảnh hưởng của nhiều trường phái lí luận khác nhau

Trong thời kì này văn học của chúng ta không chỉ đón nhận sự du nhập của nền văn học, lí luận Pháp nói rộng hơn là phương Tây mà còn chịu ảnh hưởng

Trang 37

của cả văn học, lí luận Liên Xô Cùng lúc chịu ảnh hưởng từ hai trường phái văn học có phần trái ngược nhau khiến quan điểm tiếp nhận văn học Việt Nam thời kì này vô cùng phức tạp

Tư tưởng văn nghệ macxít đã được truyền bá vào Việt Nam khá sớm với quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh trong cuộc tranh luận nổi tiếng năm

1936-1939 Đến năm 1943, Đề cương văn hoá của Đảng cộng sản ra đời

khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận văn hoá Đề cương đã vạch

rõ nhiệm vụ của giới trí thức là tham gia cách mạng dân tộc dân chủ, đặc biệt

là tham gia cách mạng văn hoá, đồng thời đề cương cũng nêu ra ba nguyên tắc lớn của cuộc cách mạng văn hoá là dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá Một trong những nhiệm vụ trước mắt mà bản đề cương đề ra là “tranh đấu chống chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa tượng trưng,v.v.” và “làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng”[15, tr 719] Như vậy có thể xem đề cương văn hoá là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nghệ thuật Từ đó, Tự lực văn đoàn trở thành một trong những đối tượng đấu tranh để giành thắng lợi cho văn học hiện thực

Các nhà nghiên cứu khác không thiên về khuynh hướng nào thì chọn nghệ thuật làm căn cứ để tìm hiểu, khám phá tác phẩm Đứng từ góc độ này thấy được nhiều ưu điểm, đóng góp của Tự lực văn đoàn bởi sự hiện đại hóa nghệ thuật tiểu thuyết chính là thành tựu lớn nhất của văn đoàn này Đó là lý

do vì sao Tự lực văn đoàn nhận được những lời khen, chê khác nhau cho cùng tác phẩm văn xuôi của mình

Tất cả những yếu tố: Bối cảnh xã hội - chính trị, văn hóa - tư tưởng, sự tồn tại của nhiều khuynh hướng, trào lưu văn học; nhiều trường phái lí luận đã

có tác động rõ ràng đến tình hình tiếp nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn

Trang 38

CHƯƠNG HAI:

NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VĂN XUÔI TỰ LỰC

VĂN ĐOÀN TỪ 1954-1986

Quá trình tiếp nhận văn chương Tự lực văn đoàn thực ra có một thời kỳ

bị ngắt quãng Trong suốt thời gian từ 1945-1954 hầu như chỉ có một cuốn

"Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam" của Trường Chinh xuất bản năm 1949 có đề cập đến Tự lực văn đoàn Tác giả xếp Tự lực văn đoàn vào văn chương lãng mạn và cho rằng chủ nghĩa lãng mạn trong văn học nghệ thuật đi đôi với phong trào "vui vẻ, trẻ trung', có tính chất trụy lạc của thanh niên, trí thức tư sản thành thị, đó cũng là điều được thực dân Pháp khuyến khích để đánh lạc hướng quần chúng Những tiểu thuyết của nhóm mang tính chất cải lương, đi liền với những cải cách nhỏ giọt của thực dân Pháp Nhưng mặt khác, Trường Chinh cũng công nhận những đóng góp của Tự lực văn đoàn: "Dù sao, hoạt động của nhóm Tự lực cũng đã góp phần đẩy phong trào văn nghệ của nước ta tiến lên một bước"[4, tr 54] Mặt tích cực chung của văn học lãng mạn là: "Các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa"[4, tr 12] Ngay trong những đánh giá đầu tiên này, chúng ta có thể thấy được cách tiếp nhận của một người làm chính trị, nên gắn chặt nghệ thuật với chính trị, xuất phát từ chức năng phục vụ nhân sinh, yêu cầu tư tưởng mà đánh giá cả mặt đóng góp lẫn hạn chế của Tự lực văn đoàn đều dựa vào việc

nó làm được hay làm hại gì cho công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp Đôi dòng nhận xét ít ỏi này còn cho thấy mục đích tiếp nhận của tác giả không phải nhằm tìm hiểu hay giới thiệu cho độc giả hiểu thêm về lĩnh vực văn chương mà chỉ nhằm minh họa cho những ý kiến mang tính chất chỉ đạo cho cuộc cách mạng văn hóa và tư tưởng nhằm phục vụ cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Vì thế chỉ xem xét văn học nói chung và tác phẩm

Trang 39

văn học nói riêng từ một vài phương diện như phương diện chức năng tư tưởng của văn học

Như vậy, thời kì 1945-1954, mọi nỗ lực đều dồn vào cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nên chưa có thời gian và điều kiện cho việc nghiên cứu văn học nói chung, Tự lực văn đoàn nói riêng Đến sau 1954 mới xuất hiện hàng loạt bài viết trên sách báo về Tự lực văn đoàn ở cả miền Nam và miền Bắc

2.1 VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Ở MIỀN BẮC

2.1.1 Các hướng tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở miền Bắc từ 1954-1986

2.1.1.1 Hướng đánh giá từ nhân cách nhà văn và ý nghĩa nhân

văn của tác phẩm

Đến 1957, nhà văn Nguyễn Tuân có bài viết về Thạch Lam trong phần

"Thay lời bạt" ở cuốn Tuyển tập Thạch Lam Với mục đích giới thiệu cho

người đọc hiểu rõ hơn về tác phẩm của Thạch Lam nên tác giả viết khá kỹ Đầu tiên, Nguyễn Tuân nêu ra những nhận xét mang tính khái quát về con người và tác phẩm Thạch Lam Về con người, đó là một nhà văn được nhiều cảm tình của người đọc, một nhà văn “quý mến cuộc sống, trang trọng trước

sự sống của mọi người xung quanh”[91, tr 54], Nguyễn Tuân rất nhạy cảm khi nhận ra đặc điểm này ở Thạch Lam, chính điều này đã chi phối toàn bộ cái nhìn của nhà văn về con người và cuộc đời Thạch Lam không hướng về một giai cấp nào cụ thể mà hướng về con người nói chung dù xúc cảm của ông thường bắt nguồn và nảy nở từ những chân cảm đối với những con người

ở tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê Nguyễn Tuân đánh giá cao vẻ đẹp tâm hồn của Thạch Lam được ghi lại nơi tác phẩm của ông “ Mặc dù in ra ít, sách Thạch Lam có đánh dấu lại được cái tâm hồn súc tích, rộng rãi và tiến bộ của một nhà văn xuôi chân chính”[91, tr 54] Điều này thể hiện cách tiếp nhận tri âm của Nguyễn Tuân, ông đã hiểu được phần nào những gửi gắm của

Trang 40

Thạch Lam trong tác phẩm của mình Về tác phẩm “Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời”[91, tr 54]

Tiếp theo, Nguyễn Tuân giới thiệu về những thể loại trong sáng tác của

Thạch Lam, Thạch Lam viết hai cuốn sách cho trẻ em, là Quyển sách và Hạt

ngọc Ông có truyện dài Ngày mới “Nhưng nói đến Thạch Lam người ta vẫn

nhớ truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”[91, tr 55], nhận xét này có thể nhận thấy ở nhiều nhà nghiên cứu và cũng chính xác với tác phẩm của Thạch Lam,

ngoài ra Thạch Lam còn có tập Hà Nội ba mươi sáu phố phường để ca ngợi

những phong vị và sắc thái của thủ đô và một số bài báo luận văn học, sau in

chung thành cuốn Theo giòng Như vậy, Nguyễn Tuân đã giới thiệu cho

người đọc sự đa dạng trong sáng tác của Thạch Lam, nhưng đáng chú ý hơn

cả vẫn là truyện ngắn nên “nói đến nghệ thuật của Thạch Lam, tức là nói cụ thể đến nghệ thuật viết truyện ngắn…”[91, tr 55] Ông cho rằng có những truyện ngắn, ở cái thời bấy giờ, đọc xong thấy nó đọng lại trong người ta như một câu hỏi bức thiết của tác giả, như là lời trách móc kín đáo của nhân vật truyện Đó là những vi phạm vào quyền sống của hạnh phúc tuổi trẻ, những nỗi cay đắng oan uổng của cảnh bị ép duyên, những cuộc sống phụ nữ chìm chìm xám xám quanh một cái chợ để hết lo cho em lại lo cho chồng

Đi vào giới thiệu từng tác phẩm cụ thể của Thạch Lam, Nguyễn Tuân tóm tắt khá kĩ lưỡng để người đọc có thể nắm bắt được nội dung tác phẩm,

ông tỏ ra tinh tế trong cảm nhận Theo ông, truyện Hai đứa trẻ “gợi một nỗi

niềm thuộc về quá vãng, đồng thời cũng gióng lên một cái gì còn ở trong tương lai” [91, tr 55] trong nỗi mong chờ chuyến tàu đêm của hai chị em ở

một phố quê Với truyện Người đầm, bằng phong cách im ả, thâm thuý, Thạch

Lam đã dựng lại cái hình ảnh bà Tây đầm “kệch cỡm, dị dạng tới cái mức phải cho nó cút đi khỏi cái chân trời chung của cả tác giả lẫn độc giả”[91, tr 56], và “Lòng yêu âm trầm đất nước quê hương ông bà đã luyện cho Thạch Lam một cách nhìn ý nhị về người đầm xâm nhập trái phép vào ta”[91, tr 56]

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w