Tuy nhiên hoạt động văn học của Nguyễn Văn Vĩnh lại không tách rời với những hoạt động báo chí, xuất bản cũng như những lĩnh vực khác của văn hoá nói chung, do đó, bên cạnh việc khảo sát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Xin cảm ơn Thầy Cô, gia đình và bạn bè –những người đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Cảm ơn tất cả mọi người
-Tạ Anh Thư-
Trang 3MỤC LỤC
Dẫn luận 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn .8
6 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 : Nguyễn Văn Vĩnh – Con người và thời đại .10
1.1 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến 10
1.2 Một cuộc đời phong phú và phức tạp 17
1.3 Bi kịch cá nhân và bi kịch thời đại .29
Chương 2 : Sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh 40
2.1 Nguyễn Văn Vĩnh – nhà văn chính luận 40
2.1.1 Nguyễn Văn Vĩnh bàn về văn hóa và giáo dục 40
2.1.2 Nguyễn Văn Vĩnh bàn về những vấn đề xã hội 61
2.1.3 Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề phụ nữ 65
2.1.4 Nguyễn Văn Vĩnh phê phán thói hư tật xấu của người Việt 71
2.1.4.1 Phê phán những hủ tục 71
2.1.4.2 Phê phán những thói xấu của người Việt 74
2.2 Nguyễn Văn Vĩnh – cây bút phóng sự 78
2.2.1 Từ triều đình Huế trở về 79
Trang 42.2.2 Một tháng với những người đi tìm vàng 84
2.3 Nguyễn Văn Vĩnh – dịch giả 90
2.3.1 Những tác phẩm dịch từ Tiếng Việt sang tiếng Pháp 91
2.3.2 Những tác phẩm dịch từ Tiếng Pháp sang tiếng Việt 92
2.3.3 Ngôn ngữ dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh ……… …….93
Chương 3 : Vấn đề tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh 99
3.1 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh trước 1945 99
3.2 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh từ 1945 đến 1975 … … … 106
3.2.1 Ở miền Bắc……….… 106
3.2.2 Ở miền Nam………116
3.3 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh từ 1975 đến nay 116
3.3.1 Từ 1975 đến cuối những năm 80 116
3.3.2 Từ đầu những năm 90 đến nay 117
Kết luận 128
Tài liệu tham khảo 131
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỉ 20, Nguyễn Văn Vĩnh được biết đến như một trong những trí thức Tây học nổi tiếng và có nhiều uy tín Cuộc đời ông là một chuỗi những tháng ngày hoạt động không mệt mỏi để cổ vũ và truyền bá chữ quốc ngữ, một công cụ
vô cùng quan trọng nhằm phát triển nền văn hoá dân tộc, đặt nền móng cho nền báo chí và văn học quốc ngữ Việt Nam Có thể gọi ông là nhà văn, nhà báo, nhà dịch thuật và hơn cả, là một nhà văn hoá đã có những đóng góp lớn lao trong việc xây dựng chiếc cầu nối giữa hai nền văn hoá Đông-Tây đầu thế kỉ 20
So với những gì ông đã làm được, ngày nay những hiểu biết của hậu thế về ông còn quá
ít ỏi Một phần cũng bởi lý do quãng thời gian ông sống và hoạt động là giai đoạn đất nước đang ở trong một bối cảnh chính trị phức tạp Thực dân Pháp đã hoàn thành xong việc xâm lược nước ta và bắt đầu thiết lập hệ thống cai trị một cách quy củ Triều đình Huế đã bước vào những ngày tháng cuối cùng của sự suy tàn Phong trào đấu tranh vũ trang của các lực lượng yêu nước, về cơ bản, đã bị thực dân Pháp dập tắt Nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước vào thời điểm lúc bấy giờ nhận thấy sự chênh lệch quá lớn giữa một bên là lực lượng của Pháp, một bên là các lực lượng đòi độc lập dân tộc, đã trăn trở đi tìm con đường khác để cứu nước, giải phóng cho dân tộc
Việc làm báo, dịch sách, truyền bá chữ quốc ngữ, canh tân văn hoá đặt Nguyễn Văn Vĩnh đứng giữa thế làm sao để không bị mua chuộc, không đánh mất mình trong khi buộc phải phụ thuộc vào chính quyền thực dân để có thể hoạt động
Chính trong tình thế phức tạp đó, cùng với những biến động lớn lao của lịch sử, có một giai đoạn dài Nguyễn Văn Vĩnh đã bị đánh giá thiếu khách quan, chưa công bằng, chủ yếu là dựa trên quan điểm chính trị Do vậy, sự nghiệp văn hoá, văn học cùng những đóng góp to lớn của ông chưa được ghi nhận một cách khoa học và đúng mức
Gần đây, do những chuyển động mới của xã hội, một số nhân vật, tác phẩm từng bị xem là “có vấn đề” đã được nhìn nhận và giới thiệu lại, trong đó có Nguyễn Văn Vĩnh Những bài viết về ông trên các báo trong những năm gần đây cùng những ý kiến phát biểu của các giáo sư, các nhà nghiên cứu có uy tín trong bộ phim tài liệu về ông do gia đình thực hiện(1) đã phần nào khôi phục lại chân dung Nguyễn Văn Vĩnh - một trong những nhà văn có đóng góp quan trọng của thế kỉ 20
Tuy nhiên, thời gian vẫn chưa chín muồi cho sự ra đời một công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về toàn bộ sự nghiệp văn hoá và văn học của Nguyễn Văn Vĩnh Với
tư cách người thực hiện một luận văn cao học thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, chúng tôi chọn đề tài “Sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề tiếp nhận tác phẩm của ông” trong ý hướng kế thừa tinh thần đổi mới của khoa nghiên cứu văn học nước ta hơn hai thập kỷ qua
1
Bộ phim Mạn đàm về người man di hiện đại, đạo diễn Trần Văn Thuỷ
Trang 7Thực hiện luận văn này, như nhan đề cho thấy, chúng tôi tự đặt cho mình những mục đích sau đây:
- Về mặt lý thuyết: Vận dụng những hiểu biết về việc nghiên cứu một tác gia văn học cũng như về lý thuyết tiếp nhận vào việc khảo sát sự nghiệp cuả một nhà văn và vấn đề tiếp nhận tác phẩm của ông
- Về mặt thực tiễn: Tìm hiểu và cung cấp cho văn học sử những thông tin mới, có chọn lọc và kiểm chứng nhằm làm sáng tỏ vai trò, vị trí của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20
Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ góp một tiếng nói khách quan và công bằng trong việc nhìn nhận một tác gia văn học có một hành trạng phức tạp và một số phận bi kịch Qua
đó, có thể gợi ý về cách đánh giá những trường hợp uẩn khúc tương tự trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ 20
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh, vì vậy đối
tượng khảo sát chủ yếu của chúng tôi là những tác phẩm chính luận, phóng sự và dịch thuật của ông Xem Nguyễn Văn Vĩnh như một tác gia văn học, chúng tôi tìm hiểu và đánh giá những đóng góp của ông trên phạm vi văn học Tuy nhiên hoạt động văn học của Nguyễn Văn Vĩnh lại không tách rời với những hoạt động báo chí, xuất bản cũng như những lĩnh vực khác của văn hoá nói chung, do đó, bên cạnh việc khảo sát các tác phẩm có liên quan trực tiếp đến văn học, chúng tôi cũng tìm hiểu những bài báo khác của tác giả nhằm hiểu rõ ông với tư cách một người cầm bút
Đồng thời, để nghiên cứu vấn đề tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi còn khảo sát những bài viết, công trình của những người đương thời và hậu thế có nhận xét và đánh giá về ông, qua đó cho thấy con người và sự nghiệp của ông đã khúc xạ qua lăng kính tiếp nhận như thế nào
3 Lịch sử vấn đề
Với luận văn này, phần lịch sử vấn đề có thể chia thành hai phương diện: Một là lịch
sử nghiên cứu sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh Hai là lịch sử nghiên cứu tình hình tiếp nhận tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh
Ở phương diện thứ nhất, tuy có những dị biệt giữa những giai đoạn lịch sử và không gian xã hội khác nhau, nhưng sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh đã được khá nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến
Ở phương diện thứ hai, gần đây việc nghiên cứu tình hình tiếp nhận tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh mới được đặt ra và thiết nghĩ, luận văn của chúng tôi là một trong rất ít công trình thể hiện sự quan tâm đó
Điều thú vị là giữa hai phương diện trên có mối quan hệ rất mật thiết Khảo sát kỹ việc nghiên cứu, đánh giá sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh sẽ cung cấp cho ta những cứ liệu quan trọng để nhận định về quá trình tiếp nhận tác phẩm của ông trong lịch sử Tuy nhiên hai phương diện này không hoàn toàn trùng khít với nhau Lịch sử tiếp nhận tác phẩm
Trang 8Nguyễn Văn Vĩnh vừa bị chi phối bởi sự nghiên cứu, đánh giá sự nghiệp văn học của ông, lại vừa rộng hơn nội dung nghiên cứu và đánh giá đó
Trong luận văn của chúng tôi, chương 3 được dành trọn vẹn cho việc tái hiện và nhận định về vấn đề tiếp nhận tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh với những ý kiến, luồng dư luận khác nhau Vì vậy, trong phần Lịch sử vấn đề này, chúng tôi chủ yếu phác họa tình hình nghiên cứu Nguyễn Văn Vĩnh như là một tác gia văn học
Việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh cho đến nay vẫn chưa có một công trình hoàn chỉnh nào Rải rác trên các báo, các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam từ trước 1945 đến nay chỉ có những nhận xét sơ nét về đóng góp của ông đối với nền quốc văn của nước nhà
Trước năm 1945, lúc Nguyễn Văn Vĩnh còn làm chủ nhiệm báo Trung Bắc tân văn ở
Hà Nội, ở miền Nam, báo Phụ nữ tân văn đã giới thiệu về ông như là một « nhà cự phách »
trong đàn quốc văn, người có công lớn trong việc truyền bá tư tưởng mới, đem các sách hay của nước Pháp dịch ra quốc ngữ mà «không mất tinh thần của văn Pháp, lại phát dương ra được cái tinh thần của tiếng nói và văn chương mình » [89]
Cũng trên báo Phụ Nữ tân văn (số 99 ngày 10-9-1931, tr 12), nhận xét về sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh, Thiếu Sơn cho rằng sách Nguyễn Văn Vĩnh dịch « toàn là
những sách phổ thông, không có quyển nào là triết lý cao thâm cả », văn dịch « giản dị bình thường, lưu thông hoạt bát » Đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh ở cương vị một nhà báo , Thiếu Sơn khen «lắm bài xã thuyết cuả ông có vị, có duyên» nhưng lại cho rằng «ông lo cho cái đời
kinh tế của báo nhiều hơn là lo cho cái thể tài của báo», nhất là khi ông làm báo Trung Bắc
tân văn Bài viết này về sau được đưa vào sách Phê bình và cảo luận (1933)
Trong Việt Nam văn học sử yếu (1941), Dương Quảng Hàm viết không nhiều về
Nguyễn Văn Vĩnh, lại chủ yếu nói về các bản dịch, nhưng cũng có những nhận xét khái quát
về văn nghiệp của ông Về tư tưởng, theo Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Vĩnh là người vừa nắm bắt được tư tưởng học thuật của Âu Tây, vừa am hiểu tín ngưỡng phong tục của dân
ta Về văn từ, văn Nguyễn Văn Vĩnh « bình thường giản dị, có tính cách phổ thông, tuy có châm chước theo cú pháp của văn tây mà vẫn giữ được đặc tính của văn ta » Ông cũng cho rằng Nguyễn Văn Vĩnh là một dịch giả có « biệt tài » , «ít kẻ sánh kịp » [25 ;416] Tất nhiên đây là Dương Quảng Hàm đặt văn dịch của Nguyễn Văn Vĩnh trong tương quan với văn dịch đương thời
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh như là « một người rất có công với quốc văn », bởi ông đã từng đứng chủ trương Đông Dương tạp chí, một
cơ quan văn học đầu tiên ở thời buổi mà văn chương quốc văn mới còn bỡ ngỡ Ông đã tập trung được những cây bút có tiếng, gây nên được phong trào yêu mến quốc văn trong đám thanh niên trí thức đương thời
Từ năm 1954, đất nước bị chia cắt thành 2 miền Nam Bắc, vì thế, việc đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh cũng có sự khác nhau giữa hai miền
Ở miền Nam, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn là một tác giả được quan tâm nhiều đối với giới nghiên cứu, phê bình Văn học
Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam cho rằng: «Có lẽ danh hiệu xây
dựng hay sáng tạo văn học mới xứng đáng với Nguyễn Văn Vĩnh Nói đến Nguyễn Văn Vĩnh
ta không được chỉ nói đến những cái chính một tay ông đã tự làm ra mà phải nói đến những công việc do sáng kiến của ông mà có, do sự điều khiển dẫn dắt của ông mà thành nên »
Trang 9Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Vĩnh
cũng được nhắc đến như là một nhà báo đầu tiên, một « nhà báo xứng danh, có tài có lực » [48 ;116]
Là người chủ trương nhiều tờ báo có tiếng vang, Nguyễn Văn Vĩnh tất phải được đề
cập trong cuốn sách công phu vốn là luận án tiến sĩ của Huỳnh Văn Tòng : Lịch sử báo chí
Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1930 (NXB Trí Đăng, 1973) Tác giả cuốn sách này viết : «Có một
điều đặc biệt là Nguyễn Văn Vĩnh chẳng những điều khiển và trông nom rất nhiều tờ báo mà ông cũng viết rất nhiều Ông viết gần hết những bài báo, từ những bài xã luận đến những trang tiểu thuyết hay dịch thuật từ Pháp văn ra Việt văn dưới nhiều bút hiệu khác nhau Vì vậy chúng ta có thể nói rằng Nguyễn Văn Vĩnh là một người đầu tiên đã biết lợi dụng và phát triển ngành báo chí và xuất bản tại Việt Nam »
Lê Văn Siêu, một nhà biên khảo và hoạt động văn hoá khá nổi tiếng, trong công trình
Văn học sử thời kháng Pháp (1858-1945) cũng đề cập đến Nguyễn Văn Vĩnh và chỉ ra cả
những thành tựu và những mặt hạn chế trong sự nghiệp văn học của ông
Bộ Giáo dục của chính quyền Sài Gòn đưa Nguyễn Văn Vĩnh vào giảng dạy với tư cách là một tác gia trong chương trình văn học bậc trung học Vì vậy, hầu hết những cuốn
sách giáo khoa đều có bài giới thiệu khái quát về Đông Dương tạp chí và người chủ bút của
nó Việt Nam thi văn trích giảng cuả Tạ Ký, một cuốn giảng văn khá công phu, đã viết :
« Nguyễn Văn Vĩnh là người có công với nước về phương diện văn học (tuyên truyền, cổ động cho chữ quốc ngữ, truyền bá tư tưởng Âu Tây, phát triển nghề báo ) Ông còn là người yêu nước, thương dân Ông diễn thuyết ở trường Đông Kinh nghĩa thục và ký đơn xin ân xá
cụ Phan Chu Trinh » [38 ; 402]
Chúng ta cũng có thể tìm thấy những nhận định tương tự trong các sách giáo khoa
dành cho học sinh trung học như Luận đề về Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan
Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục của Trần Việt Sơn; Luận đề về Đông Dương tạp chí của Nguyễn
Duy Diễn và Bằng Phong
Ngoài những cuốn sách giáo khoa, chuyên khảo và lịch sử văn học, ở miền Nam còn
có nhiều tạp chí đăng bài bình luận về Nguyễn Văn Vĩnh Tạp chí Bách Khoa thời đại (số 32 – 1958) có bài Nguyễn Văn Vĩnh – người có công to với nền quốc văn lúc mới phôi thai của
Tân Phong Hiệp
Tạp chí Giáo dục phổ thông, số 36, ngày 15-4-1959 có bài Phạm Quỳnh và Nguyễn
Văn Vĩnh của Châu Hải Kỳ
Lưu Trung Khảo, tác giả bài viết Vai trò tạp chí trong văn chương Việt Nam – Đông
Dương tạp chí (Hiện đại, tháng 9-1960) cũng đề cập đến đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh cho
nền văn học nước nhà trên cương vị chủ bút của Đông Dương tạp chí
Nhìn chung, các bài bình luận này mới đánh giá sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh ở cái nhìn tổng quát, chưa đi sâu phân tích hoặc nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm của ông
Giai đoạn này ở miền Bắc, trong các giáo trình lịch sử văn học như cuốn Lịch sử văn
học Việt Nam (tập 4B) trong tủ sách Đại học Sư phạm và cuốn Giáo trình văn học văn học Việt Nam giai đoạn 1858 - đầu thế kỷ XX (nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1965), Nguyễn
Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh bị đánh giá như là « những tên Việt gian đầu sỏ », bồi bút cho Tây v.v
Trang 10Những năm gần đây, vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học nước nhà đã được quan tâm hơn Rải rác trên các báo đã có những bài viết của các tác giả về những đóng góp của ông cho nền văn học quốc ngữ Việt Nam
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5.2004 có bài viết Nguyễn Văn Vĩnh với việc cổ vũ và
truyền bá chữ quốc ngữ đầu thế kỉ XX của Nguyễn Thị Lệ Hà, trong đó phân tích những đóng
góp quan trọng của Nguyễn Văn Vĩnh cho sự phát triển của chữ quốc ngữ Tác giả nhận xét:
“Nguyễn Văn Vĩnh, cùng với việc truyền bá văn hoá phương Tây đã rất tích cực tuyên truyền,
cổ vũ người dân học chữ Quốc ngữ, dùng chữ Quốc ngữ để truyền tải cái hay cái đẹp của nền văn minh Việt, phổ biến những tư tưởng Đông-Tây để làm cho nhân dân vừa hiểu được nền văn hóa Pháp, vừa giữ được bản sắc dân tộc ” [24]
Trong bài viết Nguyễn Văn Vĩnh từ “bản năng chữ” đến ý thức về một công cụ văn hoá đăng trên Tạp chí Văn hiến Việt Nam, Trần Hoà Bình đánh giá: “Cuộc đời hơn 50 năm của
Nguyễn Văn Vĩnh là một chuỗi tháng ngày hoạt động mê mải, trước hết là trong lĩnh vực văn hoá Ông và nhiều người cùng chí hướng lúc bấy giờ đã tự nguyện lấy cái hiểu biết, sự học của mình để gây dựng một cây cầu cho sự giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa hai nền văn hoá Đông –Tây Và ông, giống như con ve sầu trong bài thơ ngụ ngôn nổi tiếng của La Fontaine
do chính ông dịch, đã gồng mình lên trên cây cầu ấy, trong một hoàn cảnh “nguồn cơn thật bối rối” để phụng sự cho cái việc mà bây giờ chúng ta gọi là góp phần nâng cao dân trí”
Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 8 (2006) có bài viết của Đỗ Lai Thuý với nhan đề
Nguyễn Văn Vĩnh, một người Nam mới đầu tiên, trong đó khẳng định: “Như vậy, với bút hiệu Tân Nam Tử, Nguyễn Văn Vĩnh muốn xây dựng cho mình và sau đó cho xã hội một Người Nam mới Trước hết với tư tưởng mới, nghề nghiệp mới, lối sống mới Và, sự đóng góp của
ông trong lĩnh vực này là hình ảnh một trí thức độc lập Nếu Việt Nam cổ truyền chỉ có những trí thức-quan lại, trí thức-công chức, thì xã hội Việt Nam hiện đại rất cần một tầng lớp trí thức độc lập Và với ý nghĩa đó, thì đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh là rất quan trọng, bởi ông là
một người Nam mới đầu tiên”
Tân Nam Tử đúng là « người Nam mới », nhưng khẳng định Nguyễn Văn Vĩnh là
« một người Nam mới đầu tiên », thiết nghĩ, cũng nên dè dặt Nói như Vũ Bằng ở miền Nam trước 1975 có lẽ thuyết phục hơn chăng : « Ông là một trong những người Việt Nam thứ nhất được hấp thụ văn minh mới và được tiêm nhiễm văn hoá Âu Tây ».[5]
Tuy nhiên, các bài viết trên cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu Nguyễn Văn Vĩnh như một nhà văn hóa, một dịch giả có những đóng góp cho nền văn hóa, văn học nước nhà chứ chưa tìm hiểu các tác phẩm và đánh giá một cách hệ thống, kĩ càng sự nghiệp văn học của ông
Nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh một cách hệ thống nhất gần đây có thể kể đến luận
văn thạc sĩ báo chí của Nguyễn Văn Yên có tựa đề : Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thành và
phát triển báo chí Việt Nam
Tuy nhiên, luận văn này chỉ tìm hiểu, đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh ở cương vị một nhà báo chứ không nghiên cứu Nguyễn Văn Vĩnh như là một nhà văn và cũng không nghiên cứu vấn đề tiếp nhận các tác phẩm của ông
Luận văn của chúng tôi kế thừa và tiếp thu những kết quả từ lịch sử nghiên cứu Nguyễn Văn Vĩnh, tuy chưa thật phong phú và đã trải qua « những bước thăng trầm », nhưng cũng đặt những tiền đề và cơ sở cho sự đánh giá cân nhắc và thận trọng trên tinh thần khách quan, khoa học
Trang 11Có thể nói rằng luận văn là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách
hệ thống về sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề tiếp nhận các tác phẩm của ông
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau đây:
- Phương pháp lịch sử - phát sinh và phương pháp tiểu sử: Luận văn xem xét con người
và tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh văn hoá, xã hội và chính trị Việt Nam đầu thế
kỷ 20 Tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh được khảo sát trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh lịch sử đương thời và với cuộc đời hoạt động của tác giả Phương pháp này thể hiện rõ trong chương 1, đồng thời cũng được vận dụng trong các chương sau
- Phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh: Xem sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh như một hệ thống, luận văn khái quát sự nghiệp đó thành ba hệ thống nhỏ hơn: chính luận, phóng sự và dịch thuật Để làm rõ đặc điểm của từng thể loại, luận văn sẽ so sánh phong cách của Nguyễn Văn Vĩnh với phong cách của một số nhà văn cùng thời như Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính Hai phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong chương 2
- Phương pháp lịch sử - chức năng: Để trình bày và lý giải quá trình tiếp nhận tác phẩm Nguyễn Văn Vĩnh, người thực hiện luận văn vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học vào chương 3 Chúng tôi cũng thực hiện những cuộc tiếp xúc, phỏng vấn những người có liên quan như thân nhân trong gia đình của nhà văn, những học giả, trí thức am hiểu về nhà văn để ghi nhận những ý kiến khách quan của họ
5 Đóng góp của luận văn
Trong ý thức và nỗ lực của người thực hiện, qua luận văn này chúng tôi mong muốn :
- Tìm hiểu con người và cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh như một trường hợp trí thức đã
được hun đúc trong bối cảnh văn hoá – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, từ đó phục dựng một tiểu sử tương đối chính xác của ông trong khả năng và điều kiện về tư liệu hiện nay
- Tái hiện và tổng kết sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh trên các bình diện: nhà viết chính luận, nhà viết phóng sự và dịch giả văn học Chúng tôi cố gắng không chỉ hệ thống hoá những gì nhà văn đã viết mà còn trình bày cách viết của ông trong các thể loại nói trên
- Tổng thuật và nhận định về quá trình tiếp nhận những tác phẩm chính luận, phóng
sự và dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh từ lúc ông còn sống cho đến hiện nay, trình bày và cắt nghĩa sự khác nhau trong những đánh giá về ông, từ đó cho thấy số phận lịch sử mà tác phẩm của ông đã gánh chịu
6 Cấu trúc của luận văn
Với tinh thần trên đây, luận văn được cấu trúc như sau:
- Dẫn nhập: 9 trang
- Chương 1: Nguyễn Văn Vĩnh – con người và thời đại: 30 trang
1.1 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến
1.2 Một cuộc đời phong phú và phức tạp
Trang 121.3 Bi kịch thời đại và bi kịch cá nhân
- Chương 2: Sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh: 60 trang 2.1 Nguyễn Văn Vĩnh – nhà chính luận
2.2 Nguyễn Văn Vĩnh – cây bút phóng sự
2.3 Nguyễn Văn Vĩnh – dịch giả
- Chương 3: Vấn đề tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh: 30 trang 3.1 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh trước 1945
3.2 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh từ 1945 đến 1975
3.3 Tiếp nhận Nguyễn Văn Vĩnh từ 1975 đến nay
- Kết luận
Trang 13
CHƯƠNG 1
NGUYỄN VĂN VĨNH – CON NGƯỜI VÀ THỜI ĐẠI
Khi các chiến hạm của Pháp nổ những phát súng đầu tiên ở cửa biển Đà Nẵng năm
1858, xã hội Việt Nam như choàng tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài Trong khi thế giới đang chuyển biến với cuộc cách mạng công nghệ dẫn đến nhu cầu đi tìm thuộc địa của chủ nghĩa tư bản, thì giai cấp phong kiến Việt Nam đã để đất nước chìm sâu trong sự lạc hậu và trì trệ Trong quá khứ đã từng xuất hiện những tiếng nói cảnh báo của những người trí thức ưu thời mẫn thế như Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, nhưng triều đình nhà Nguyễn và các quan lại vừa thiển cận, vừa tự mãn, đã bỏ ngoài tai những lời khuyến nghị, ngày càng đưa đất nước đến tình thế khủng hoảng
Từ hoà ước Nhâm tuất 1862 giao ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây cho thực dân Pháp cho đến hoà ước Giáp thân 1884 (Hòa ước Patenôtre),Pháp đã hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự Một đất nước lại chia thành ba khu vực với ba chế độ cai trị khác nhau: thuộc địa ở Nam kỳ, bảo hộ ở Bắc kỳ và Trung kỳ thuộc sự cai trị của Triều Nguyễn song do khâm sứ Pháp điều khiển Nếu ở Nam kỳ dân chúng có ít nhiều quyền tự do, dân chủ, thì ở Bắc và Trung kỳ, ách kềm kẹp của Pháp ngày càng siết chặt Những cuộc nổi dậy và phản kháng của nhân dân liên tiếp nổ ra, tiêu biểu là phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, cuộc binh biến ở Thái Nguyên, cuộc dân biến ở Trung kỳ, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh…; nhưng tất cả đều bị dìm trong biển máu
Từ năm 1897 đến năm 1914 Pháp thực hiện đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến năm
1919, chúng bắt đầu đợt khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1939)
1.1 Giới trí thức Việt Nam trong một thời đại chuyển biến
Đứng trước tình hình đó, là những người vừa nhạy cảm, vừa hiểu biết thời đại, giới trí
thức Việt Nam đã có những phản ứng và chọn lựa khác nhau về mặt chính trị và văn hoá
Có thể khái quát thành bốn cách phản ứng và chọn lựa trước thời cuộc của trí thức Việt Nam ba thập niên đầu thế kỷ 20:
Cách thứ nhất là đi theo con đường bạo động để tìm cách lật đổ ách thống trị của Pháp Những người chủ trương con đường này cương quyết không chấp nhận sự đô hộ của giặc Pháp trên đất nước mình, đã tập họp và vũ trang những người yêu nước để chống Pháp Họ tiếp tục con đường của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Liêm, Phan Tôn, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám Điều lúng túng nhất đối với những nhà chí sĩ yêu nước này là tìm một cương lĩnh và chỗ dựa tinh thần cho cuộc chiến đấu Lúc đầu đó là lời kêu gọi cần vương (giúp vua) của Hàm Nghi, nên phong trào được gọi là phong trào Cần vương (1885-1896) Khi Hàm Nghi bị Pháp bắt và đưa đi đày sang Algéri, hai vị vua chống Pháp tiếp theo là Thành Thái và Duy Tân bị đày sang đảo Réunion, Khải Định quay sang hợp tác với giặc thì khái niệm “Cần vương” không còn lý do tồn tại nữa Nhưng cán cân lực lượng giữa ta và Pháp quá mất cân bằng: vũ khí thô sơ, trình độ quân sự non kém, lực lượng phân tán, thiếu sự lãnh đạo thống nhất, nên sự thất bại là không tránh khỏi Mặc dù vậy, tinh thần
đề kháng của nhân sĩ trí thức Việt Nam không bao giờ bị khuất phục, họ đã lãnh đạo những
Trang 14cuộc nổi dậy chống sưu thuế, đòi quyền dân sinh, dân chủ…Họ đưa thanh niên đi đào tạo ở nước ngoài để chuẩn bị lực lượng Đó là con đường của Phan Bội Châu Để giương ngọn cờ quân chủ, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đã từng được chọn làm minh chủ Những người theo con đường này muốn dựa vào Nhật Bản là một nước “đồng chủng, đồng văn” Họ đã phải trả giá đắt: các du học sinh người Việt bị Nhật trục xuất, phong trào Đông Du thất bại, Phan Bội Châu bị quản thúc thành “Ông già Bến Ngự”…Tiếp tục con đường bạo động, về sau có những người đứng ra thành lập Việt Nam quốc dân đảng mà Nguyễn Thái Học là đảng trưởng và hành động quả cảm của họ thể hiện qua tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái cũng như cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) với tinh thần “không thành công thì cũng thành nhân” Cách thứ hai là con đường học tập nền dân chủ phương Tây để duy tân đất nước, làm cho dân tộc tự cường mà từng bước giành lại độc lập từ trong tay thực dân Pháp Đây là con đường mà Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền cổ xuý Những nhà văn hoá này nhận thấy tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá mất cân bằng, dùng giải pháp bạo động ngay như Phan Bội Châu sẽ tốn nhiều xương máu mà không thể thành công Vì vậy công cuộc giành độc lập là một sự nghiệp dài lâu Phải nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, học theo nền dân chủ tư sản mà mở trường, lập hội, ra báo Khi ý thức độc lập của dân ta vững vàng rồi, ta sẽ có đủ điều kiện và lực lượng không chỉ cho mục tiêu độc lập dân tộc mà cả mục tiêu dân chủ, dân quyền và dân sinh Khuynh hướng này không đề cao bạo động nên không uy hiếp trực tiếp chế độ thực dân Nhưng Pháp biết rõ rằng về lâu dài nó là mối nguy cơ lớn của chúng, khi chủ nghĩa ngu dân mất hiệu lực, nên Pháp đã tìm cách triệt hạ người tiên phong: Phan Châu Trinh bị bắt giam và đưa đi đày tận Côn Đảo
Cách thứ ba là giải pháp mà lịch sử đã chứng minh là hiệu quả nhất Đó là con đường
mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn lựa: vận động thành lập một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, gắn phong trào giải phóng dân tộc với phong trào cộng sản thế giới mà đại diện là Quốc tế thứ ba Đó là một sự nghiệp toàn diện trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao…và khi điều kiện cũng như thời cơ chín muồi, sẽ phát động khởi nghĩa giành chính quyền Con đường này manh nha
từ thập niên 10 cuả thế kỷ trước, phát triển vào những năm 20, qua những cuộc tranh luận, thảo luận trong thời gian Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, trong Đại hội Tours cuả Đảng Xã hội Pháp, ngày càng sáng rõ về mục tiêu Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và những người đồng chí hướng đã tác động đến sự hình thành và thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước (Đông Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn) dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 Từ đây lịch sử Việt Nam sẽ diễn
ra chủ yếu theo con đường của sự chọn lựa này
Chúng ta tóm tắt trong mấy dòng những con đường đó, nhưng trên thực tế đó là những chọn lựa rất phức tạp, đầy trăn trở và bi kịch Đó không phải chỉ là suy nghĩ mà là hành động, vào tù ra khám, đối diện với cái chết để xác định lý tưởng của mình Trong hoàn cảnh như vậy, đã có những người trí thức tránh né những con đường gai góc, chọn con đường thứ tư, con đường hoạt động văn hoá để góp phần hiện đại hoá dân tộc Điều oái oăm là họ không thể làm văn hoá thuần tuý mà không quan hệ với chính trị, lại là chính trị của chủ nghĩa thực dân
Đó là con đường mà Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của trải qua cuối thế kỷ 19 và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đi theo đầu thế kỷ 20 So với hai người trên, thì hai người sau này ngày càng dấn sâu hơn vào chính trị Nhưng giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tuy cùng một con đường nhưng lại có những ngả rẽ khác nhau, một phần do thời điểm lịch sử mà hai
Trang 15ông hoạt động quy định, một phần do tính cách và chí hướng của hai người khác nhau: một người năng động, hoạt bát, thực tiễn; một người uyên bác, thâm trầm, kín đáo
Nguyễn Văn Vĩnh lớn hơn Phạm Quỳnh mười tuổi, cả hai ông đều cộng tác với Pháp, được người Pháp sử dụng cho những mục tiêu giai đoạn của họ, trong những thời điểm khác nhau Nguyễn Văn Vĩnh được người Pháp ưu ái chủ yếu vào những năm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Phạm Quỳnh thì từ khi cuộc chiến tranh này nổ ra Đối với những người trí thức quan tâm đến thời cuộc, ngay từ đầu họ đã có thể nhận ra tham vọng và
dã tâm của thực dân Pháp Nhưng dù sao, chế độ thực dân càng được củng cố thì những ảo tưởng về “khai hoá”, “văn minh” càng mau tan vỡ Chính vì vậy, mà những “ngây thơ”, “cả tin” của Nguyễn Văn Vĩnh, nếu có, dễ hiểu hơn là của Phạm Quỳnh
Nguyễn Văn Vĩnh đưa ra thuyết trực trị: kêu gọi người Pháp cai trị trực tiếp An Nam Năm 1918, dựa vào thuyết “dân tộc tự quyết” của Tổng thống Mỹ Wilson đề ra ở Hội Quốc Liên (tức Liên Hiệp Quốc sau này), Nguyễn Văn Vĩnh viết báo cổ vũ cho việc Đông Dương
tự trị Năm 1931, trên tờ L’Annam, ông đề xuất thuyết trực trị để chống lại thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh Nhận ra sự thối nát của triều đình nhà Nguyễn và bộ máy quan trường, Nguyễn
Văn Vĩnh chủ trương dựa vào thế lực bảo hộ của Pháp để dẹp bỏ Nam triều và guồng máy quan lại của nó
Một số trí thức Tây học cũng tán thành và ủng hộ ông Nhưng triều đình và quan lại thì lại căm giận và phản ứng Còn bản thân thế lực bảo hộ thì sử dụng thuyết này như một áp lực lên triều đình và quan lại nhà Nguyễn, chứ không muốn áp dụng nó trong thực tế Bởi vì
lẽ tồn tại của chế độ thực dân nửa phong kiến là sự liên kết giữa chủ nghĩa thực dân và giai cấp phong kiến bản xứ Còn những người yêu nước thì không thể chấp nhận một sự cai trị trực tiếp, lộ mặt của chủ nghĩa thực dân như vậy Thuyết trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh rõ ràng là không có cơ sở xã hội và sớm trở nên lạc hậu
Phạm Quỳnh khôn ngoan hơn, đã chọn một ngả rẽ an toàn, có tính chất thoả hiệp và ôn hoà là xu hướng quân chủ lập hiến Ông kêu gọi thực thi hiệp ước bảo hộ năm 1884, bảo toàn chế độ quân chủ và xây dựng hiến pháp có tham khảo mô hình dân chủ phương Tây Lý thuyết này thoả mãn được cả ba thế lực: thực dân Pháp muốn duy trì sự thống trị mà không có
sự xáo trộn; Nam triều và quan lại không bị mất vị trí và quyền lợi; một số trí thức được ve vuốt lòng tự ái dân tộc Nhưng đối với những sĩ phu nhạy bén về chính trị, thì họ nhận ra động
cơ và mục đích của Phạm Quỳnh không khó lắm Chính vì vậy mà Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, … đã tìm cách chỉ trích và đả kích những luận điểm của Phạm Quỳnh, nhiều khi hơi quá mức, vì họ không muốn để lý thuyết đó ru ngủ quần chúng và tăng uy tín cho chế độ thực dân nửa phong kiến Đến khi Phạm Quỳnh được mời vào Huế nhận chức Ngự tiền đổng lý văn phòng của Bảo Đại năm 1932, thì mọi sự càng được phơi bày rõ ràng
Nguyễn Văn Vĩnh cũng có cái lí riêng của ông khi ông phản đối thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh và đưa ra thuyết trực trị Bởi theo ông, nhà vua “chỉ còn là một bóng ma đối với dân chúng” và việc tiếp tục duy trì sự cai trị của nhà vua dưới sự bảo hộ của Pháp chẳng qua chỉ làm tồi tệ thêm cho tình hình đất nước bởi vì bộ máy cai trị đó đã quá lỗi thời Ông gọi chính sách này là cách “làm mất uy tín của tầng lớp ưu tú đối với những người dân nước họ bằng cách để họ tiếp tục những phương pháp cổ xưa của họ đè nén và áp bức những người thấp bé và bình thường” Vì thế ông gọi đó là “chính sách thiếu thành thật”, “là một lăng mạ danh dự đối với chúng ta” và “ người ta bao giờ cũng coi chúng ta như những trẻ con”.[154]
Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng sự hợp tác Pháp – Nam đương thời là sự hợp tác không thành thực, tạm bợ và chẳng thể nào dẫn tới một kết quả tốt đẹp như mong muốn “Việc đầu
Trang 16tiên người ta phải chán nản để phát hiện ra là không bao giờ thống nhất là một, dân tộc An Nam và thiểu số những người Pháp không bao giờ gắn bó với nhau thành thật ở trên cái đất nước này”.[154] Đây chính là cơ sở để ông đưa ra thuyết trực trị Tuy nhiên, chế độ trực trị
mà ông đề ra không phải là sự cai trị hoàn toàn của người Pháp mà là ‘hình thức một nước có một chính phủ đứng đầu Pháp – Nam; có những nghị viện gồm cả hai bên trong đó tất cả những thành phần phải là đại diện tương xứng với những quyền lợi và lực lượng của từng bên” Đó là một chính phủ duy nhất “do những công chức Pháp và công chức An Nam đảm nhiệm, được tuyển mộ theo những qui định thật sự bình đẳng về quyền và bình đẳng về chức
vụ, với sự ưu tiên cho người Pháp chiếm những chức vụ để chỉ huy và ưu tiên cho người Việt chiếm những chức vụ phải quan hệ trực tiếp với nhân dân địa phương”.[154]
Ông cho rằng nếu làm theo cách này những người Pháp thiểu số sẽ hợp lại cùng nhân dân An Nam vốn là một thành phần ổn định Và như thế, họ sẽ gắn bó với An Nam, quốc gia
“mà họ cũng coi như nước họ, họ yêu đất nước đó và những con người ở đó từ trước Mong muốn biến đất nước đó trở thành một tổ quốc thứ hai của họ và đối xử với những người ở nước đó như đồng bào của họ” [154]
Có thể thấy nếu so với thuyết lập hiến mà Phạm Quỳnh chủ trương thì thuyết trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh cũng không tránh được sự ảo tưởng và ngây thơ Bởi mục đích chính của thực dân là khai thác thuộc địa sao cho có lợi về phía họ chứ không phải là đem lại văn minh cho cái dân tộc nghèo đói An Nam như họ vẫn từng rao giảng Vì thế, thuyết trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh không thành công và là một điểm yếu để người ta công kích khi đánh giá
về sự nghiệp của ông
Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh từng cộng tác với nhau: nhiều bài viết của Phạm
Quỳnh lúc đầu đăng trên Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Nhưng về
sau, do chủ trương khác nhau đó mà họ tranh luận với nhau nhiều khi gay gắt và số phận đã đẩy hai người theo hai ngả rẽ khác nhau Nhưng nhìn chung về hướng đi thì cả Phạm Quỳnh
và Nguyễn Văn Vĩnh đều là những hiện tượng có thể cắt nghĩa theo cùng quy luật
Trong lịch sử những cuộc xâm lược hay can thiệp của ngoại bang đều có những người trí thức đứng ra cộng tác hay thoả hiệp với kẻ cầm quyền Trong số đó có những người tự mãn, tự đắc, cho mình là thức thời, bị người đời nguyền rủa Đồng thời cũng có những người
bị lương tâm cắn rứt, tìm cách tự biện hộ, hoặc chân thành hoặc vụng về, nhưng ít nhiều cho thấy sự ân hận và phân đôi trong con người họ Tôn Thọ Tường là một trường hợp tiêu biểu Nguyễn Văn Vĩnh chưa bao giờ tỏ ra ân hận về con đường đi của mình Vả chăng ông không kịp có thời gian và cơ hội để nhìn lại đời mình Nhưng xét trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi mà những lực lượng yêu nước đều chưa tìm được ngọn cờ để tập trung sự lãnh đạo về một mối, có lẽ sự chọn lựa chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh cần được nhìn nhận một cách khoan thứ hơn
Như phần sau của luận văn sẽ trình bày, việc Nguyễn Văn Vĩnh đến với guồng máy của chế độ bảo hộ là một run rủi của hoàn cảnh, đồng thời là một cơ duyên của người muốn thay đổi số phận Và khi đã đứng vào guồng máy rồi, với những cám dỗ về điều kiện làm việc của thế giới văn minh, việc rút chân ra là một điều không dễ dàng và đơn giản Trong thực tế, như chúng ta sẽ thấy, Nguyễn Văn Vĩnh không phải là người thoả hiệp hoàn toàn, ông đã tìm cách
“cựa quậy” trong cái khuôn khổ giới hạn mà chủ nghĩa thực dân quy định cho những người trí thức được nó đào tạo và sử dụng Không ít lần, ông đã đi chệch khỏi quỹ đạo do chủ nghĩa thực dân định hướng: tham gia Đông Kinh nghĩa thục, bênh vực Phan Châu Trinh, phê phán Phạm Quỳnh…
Trang 17Tuy nhiên, có một vấn đề sâu xa mà chúng ta phải tính đến khi đánh giá con đường và
sự chọn lựa của những người trí thức như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh và phần nào Phạm Quỳnh Đó là về bản chất, cuộc xung đột Pháp – Việt là một cuộc chiến tranh xâm lược để giành thuộc địa, nhưng bên cạnh đó, ở vị trí thứ yếu cũng là cuộc đụng đầu giữa hai nền văn minh Nền văn minh công nghiệp đem lại sự giàu có và phát triển cho phương Tây, giúp nó đủ sức mạnh để lấn lướt, chi phối và thống trị các dân tộc nhược tiểu Nền văn minh nông nghiệp lạc hậu, sức sản xuất yếu kém, bằng lòng với những giá trị cổ truyền mà không tự thay đổi để phát triển Cuộc xung đột đó đã đánh thức tinh thần tự phê phán nơi những người trí thức có ít nhiều suy nghĩ về tiền đồ của dân tộc trong một thế giới đang chuyển biến với nhiều xáo trộn và đang bị các thế lực tư sản ở phương Tây mưu đồ sắp xếp lại
Bên cạnh những trí thức mang mặc cảm tự ti và tâm trạng thất bại, yếm thế, có những người trí thức cho rằng muốn giải quyết xung đột đó, thì phải đồng thời giải quyết cả mâu thuẫn giữa dân tộc và ngoại bang lẫn mâu thuẫn giữa tiến bộ và lạc hậu, bảo thủ và canh tân Vấn đề là xem mâu thuẫn nào là chủ yếu, cần phải giải quyết trước mới mở đường cho sự giải quyết mâu thuẫn kia Lầm lẫn của Nguyễn Văn Vĩnh và những người nghiêng về xu hướng như ông là đã cho rằng mâu thuẫn giữa bảo thủ và canh tân là chủ yếu Đó là chỗ khác nhau
cơ bản giữa con đường của ông với con đường của Phan Bội Châu và con đường của Nguyễn
Ái Quốc
Đối với Nguyễn Văn Vĩnh, “đứng trước nền văn minh Âu châu đang lan tràn, Á châu phải lựa chọn giữa hai thái độ: tiến bước theo Âu châu hay quay lưng lại nó Còn đấu tranh chỉ với những phương tiện đã có sẵn của chúng ta thì đã quá chậm rồi và không thể nào những phương tiện đó sẽ tăng lên gấp mười lần và dù cho rằng nhân dân An Nam nhìn chung đã có đức tính kiên nhẫn đó”.[132] Để giải quyết xung đột giữa hai nền văn minh, giải pháp duy nhất theo Nguyễn Văn Vĩnh là tiếp nhận nó, thích nghi với nó để tìm một con đường đi cho dân tộc mình Ông tin rằng chúng ta sẽ không mất nước bởi “chúng ta là một nòi giống mềm dẻo để có một cá tính”.[132] Chúng ta đã không đánh mất mình khi chịu ách đô hộ hàng ngàn năm của giặc Tàu thì cũng không thể nào mất được bởi sự có mặt của người phương Tây Điều quan trọng là tận dụng sự giao lưu giữa hai nền văn minh để tiếp nhận lấy những gì tinh túy nhất: “Chúng ta đã biết rút ra những điều có lợi trong khi tiếp xúc với người Tầu, nó
đã tạo ra nhân cách quá khứ của chúng ta Chúng ta phải biết lợi dụng sự tiếp xúc với Pháp,
nó sẽ tạo ra nhân cách của chúng ta trong tương lai”.[132]
Nhưng con đường của ông cũng khác với con đường của Phan Châu Trinh là người mà ông có sự đồng cảm, chia sẻ và đã từng hợp tác Nếu Phan Châu Trinh xác định nhiệm vụ duy tân để cứu nước và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, thì Nguyễn Văn Vĩnh canh tân để rồi vẫn duy trì sự thống trị của Pháp qua chủ trương trực trị Rõ ràng là Phan Châu Trinh phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến từ bên ngoài, còn Nguyễn Văn Vĩnh thì chỉ trích từ bên trong Ông vẫn là sản phẩm của chế độ đó và một thời gian dài đã làm việc để phục vụ chế độ
đó Có thể vào cuối đời ông phần nào tỉnh ngộ và nhận ra những ảo tưởng thời trẻ, nhưng ông
đã không kịp sửa chữa sai lầm của mình
Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng những hành động chính trị và những hành động văn hoá có những tác dụng khác nhau về mặt khách quan Chủ trương thuyết trực trị rõ ràng là một sai lầm của Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng chủ trương truyền bá chữ quốc ngữ, tham gia Đông Kinh nghĩa thục, làm báo, dịch sách… là những hành động văn hoá có tác động tích cực đến
sự canh tân đất nước Ngày nay nói đến thuyết trực trị là nói đến một cái gì lỗi thời, bị lịch sử vượt qua Còn nói đến những hoạt động văn hoá và văn học của Nguyễn Văn Vĩnh là nói đến
Trang 18những gì còn có tiếng vang cho đến ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đời sống tinh thần của đất nước Vì vậy, thiết nghĩ, cần đánh giá con người và sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh trên tinh thần “gạn đục khơi trong”, bởi đó là một cuộc đời phong phú mà cũng là cuộc đời hết sức phức tạp
1.2 Một cuộc đời phong phú và phức tạp
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15-6-1882 (Nhâm Ngọ), mất ngày 01-5-1936 (Bính Tý), như vậy ông chỉ tại thế 54 năm
Ông sinh ra tại nhà số 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội, nhưng quê nội ở làng Phượng Vũ, quê ngoại ở làng Đại Gia cùng thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội)
Cha mẹ ông là ông bà Nguyễn Văn Trực vốn là nông dân nghèo ở một vùng đồng chiêm quanh năm ngập nước, mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa Cũng như nhiều dân làng, ông bà phải bỏ quê ra thành phố mưu sinh và ở nhờ một gian nhà trong căn nhà của một người bà con là bà nghè Phan Huy Hổ và sinh ra Nguyễn Văn Vĩnh ở đây
Chỉ hơn một tháng rưỡi trước ngày sinh Nguyễn Văn Vĩnh, quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy đã tấn công và chiếm thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết Nguyễn Văn Vĩnh lớn lên trong cảnh nghèo, chứng kiến những biến đổi của Hà Thành dưới sự chiếm đóng của thực dân Pháp Phố Hàng Giấy nơi gia đình ông cư ngụ, gần chợ Đồng Xuân, trở thành một phố cô đầu, thu hút dân ăn chơi có tiếng Cha ông vừa làm trưởng phố cho chính quyền Pháp, vừa giao tiếp với những người chống Pháp trong phong trào Văn Thân Mẹ ông buôn bán nhỏ ở chợ Đồng Xuân để nuôi sống một gia đình đông con
Là con trai lớn, ngay từ nhỏ, Nguyễn Văn Vĩnh đã có ý thức tự lực và lao động giúp
đỡ gia đình Ông là người tháo vát và có sức khoẻ tốt, lại có chí tự học Trong thời gian ở nhà
bà nghè, ông bắt đầu học chữ Hán Năm lên tám tuổi, để đỡ gánh nặng cho cha mẹ, ông phải
đi làm thằng nhỏ kéo quạt ở trường thông ngôn của Pháp mới được thành lập ở đình Yên Phụ
Lớp học chủ yếu dạy tiếng Pháp theo phương pháp hội thoại, đồng thời có dạy thêm chữ quốc ngữ Vừa kéo quạt cho giáo viên và học sinh, Nguyễn Văn Vĩnh vừa chăm chú nghe giảng và tự học Sau ba năm kéo quạt trong lớp học, Nguyễn Văn Vĩnh đã đọc, viết và nói được tiếng Pháp, thậm chí thông thạo hơn nhiều học sinh trong lớp Khi lớp học mãn khoá (1893), ông được Hiệu trưởng D’Argence cho phép dự thi tốt nghiệp cùng cả lớp, đỗ thứ 12 trong số 40 học sinh khi mới 11 tuổi Nhờ thành tích đó, ông được đặc cách nhận vào làm học sinh chính thức hưởng học bổng của lớp thông ngôn tập sự ngạch toà sứ, từ 1893 đến 1895, và
đỗ thủ khoa khi mới 14 tuổi
Cuộc đời viên chức của Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu ngay sau đó, khi ông 15 tuổi (1896) mà đã được bổ nhiệm làm thông ngôn ở toà sứ Lào Cai, để phiên dịch cho đoàn chuyên gia đường sắt của Pháp khảo sát tuyến đường Hải Phòng - Hà Nội – Lào Cai – Vân Nam, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Nghề thông ngôn còn đeo đuổi ông suốt 11 năm, lần lượt qua các nhiệm sở là toà sứ Hải Phòng, toà sứ Bắc Giang và toà đốc
lý Hà Nội
Sau một năm làm việc ở toà sứ Lào Cai, khi đoàn chuyên gia chuyển về Hải Phòng, Nguyễn Văn Vĩnh cũng được bổ nhiệm làm thông ngôn toà sứ ở đây Hải Phòng là thành phố
Trang 19cảng được Pháp đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để mở mang và khai thác tài nguyên ở miền Bắc Người thông ngôn phải giúp các chuyên gia tiếp xúc với thuỷ thủ đến từ nhiều nước khác nhau Tại đây, do yêu cầu của công việc, Nguyễn Văn Vĩnh tự học thêm tiếng Anh và tiếng
Hoa Trong thời gian ở Hải Phòng, ông bắt đầu tập viết báo bằng tiếng Pháp đăng trên tờ Le
Courrier de Hai Phong và dịch thơ ngụ ngôn, truyện thiếu nhi của Pháp sang tiếng Việt Ông
còn tham gia dạy tiếng Pháp, chữ quốc ngữ và diễn thuyết ở Hội Trí Tri Hải Phòng
Đến năm 1902, Nguyễn Văn Vĩnh lại được điều động lên làm thông ngôn ở toà sứ Bắc Giang, nơi có nhà máy giấy Đáp Cầu do Pháp đang xây dựng Ở đây, ông làm việc ba năm dưới quyền của công sứ Hauser và được ông này tin dùng
Khi Hauser được đề bạt làm đốc lý thành phố Hà Nội, thì Nguyễn Văn Vĩnh cũng được chuyển về làm thông ngôn ở toà đốc lý Hà Nội Về Hà Nội, Nguyễn Văn Vĩnh có điều kiện tham gia thường xuyên những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa thục, Hội Trí Tri và Thư viện Bình dân Ông dạy tiếng Pháp, dạy viết văn, diễn thuyết, giới thiệu sách với độc giả…Qua những hoạt động này, Nguyễn Văn Vĩnh làm quen với Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim…Cũng từ đây, Nguyễn Văn Vĩnh bước vào con đường
làm báo: Hauser cử ông làm chủ biên Đại Nam Đồng Văn nhật báo và đến năm 1907, khi tờ công báo này đổi tên thành Đăng Cổ tùng báo, thì Nguyễn Văn Vĩnh trở thành chủ bút với bút
hiệu Tân Nam Tử
Trong thời gian biên soạn và in ấn tờ công báo Đại Nam Đồng Văn nhật báo, Nguyễn
Văn Vĩnh được Hauser giới thiệu với F H Schneider, một chủ nhà in sang Việt Nam sinh sống và làm việc từ năm 1882 Schneider giúp đỡ Nguyễn Văn Vĩnh làm quen với nghề báo, nghề in và xuất bản Theo Nguyễn Văn Trung, Schneider là “người thân cận với các toàn quyền từ thời Lanessan, có óc kinh doanh lập được nhiều nhà in, cơ sở ấn loát báo chí tiếng Pháp và tiếng Việt Ông khéo giao thiệp với các nhân vật lãnh đạo trong giới cầm quyền thực dân nên được hầu như độc quyền trợ cấp hoặc giúp đỡ chuyển báo, mua báo qua những hợp đồng khế ước ký với nhà cầm quyền thực dân, trong đó ông cam kết thực hiện những đường
lối của nhà cầm quyền” [72, 137]
Năm 1906, Phủ Thống sứ Bắc kỳ giao cho Đốc lý Hauser tổ chức và quản lý gian hàng Bắc kỳ ở Đấu xảo thuộc địa Marseille Hauser lại phân công Nguyễn Văn Vĩnh lập đề án thu thập sản phẩm hàng hóa để trưng bày, tuyển nhân công sang Marseille làm gian hàng Tháng 3-1906, với danh nghĩa thư ký của Hauser, đại lý Bắc kỳ tại hội chợ, Nguyễn Văn Vĩnh sang Pháp để lo cho gian hàng Bắc kỳ, triển lãm trong tháng 5 và 6-1906 Chính trong chuyến
đi này, ông đã khám phá ra sức mạnh của máy in, báo chí và sân khấu trên lĩnh vực văn hoá
Trong một lá thư gửi về cho Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Vĩnh đã miêu tả chi tiết và bày tỏ sự thán phục của mình đối với công nghệ ấn loát của Pháp thời đó Ông viết: “Cuộc đi
thăm lý thú nhất của tôi trong Đấu xảo là cuộc đi thăm gian báo Petit Marseillais Toà báo có
những tài liệu xác thực nhất, lý thú nhất về nghề in từ khi nghề đó bắt đầu phát triển – hay nói cho đúng từ khi nghề đó được nhập cảng vào châu Âu Một cái maquette về Gutenberg đứng trong cái nhà in thứ nhất cuả ông ta Trong tủ kính bày những sách vở và tài liệu linh tinh in
từ ngày mới có nghề in đến bây giờ Khách đến xem có thể đi theo từng bước lịch trình tiến hoá của nghề in, của cái nghề nhân những bản thảo lên thành ngàn, thành vạn…”
Sau khi Đấu xảo thuộc địa Marseille kết thúc, Hauser đưa Nguyễn Văn Vĩnh lên Paris, tạo điều kiện cho ông tham quan và tìm hiểu thủ đô nước Pháp Ông đã đến thăm nhà in
và báo Revue de Paris, nhà xuất bản Hachette, nhà soạn và in từ điển Larousse, tìm hiểu
phong trào báo chí Pháp và nền dân chủ Pháp
Trang 20Thời gian ở Pháp tuy ngắn ngủi, nhưng đã giúp Nguyễn Văn Vĩnh nhận thức được nhiều điều mà trước đây ở trong nước ông không nhận ra Ông nhận ra mặt tích cực của nền dân chủ Pháp cũng như lòng tốt của một số người dân chủ chân chính ở nước này Được những người này giới thiệu, Nguyễn Văn Vĩnh trở thành người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền của Pháp mà điều lệ cho thấy sự trái ngược với chính sách của chủ nghĩa thực dân
Qua chuyến xuất ngoại này, Nguyễn Văn Vĩnh còn có cơ hội nhận ra những nhược điểm của dân tộc mình Trong thư gửi Phạm Duy Tốn, ông tâm sự: “Nhận thấy sự còn kém của mình, có phải là xấu xa gì đâu? Trên đời này người nào thấy được chỗ kém của mình, người ấy đã gần đi đến chỗ tiến bộ” Từ đó, ông đặt ra một hoài vọng cho tương lai: “Tôi nghĩ muốn có một lớp người khá, một lớp người hướng dẫn được quốc dân tiến lên con đường khoa học, chúng ta phải trông vào thế hệ trẻ, đầu óc họ chưa có những định kiến cổ hủ, không
bị cái gì ngăn cản họ tiến lên Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm công việc đó
để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp, tôi xúc cảm thấy sung sướng vô cùng Cha mẹ, anh em,
vợ con, tất cả đều phai nhoà trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”
Một tác động nữa của chuyến đi là tinh thần xã hội và ý thức canh tân vốn có ở ông
đã được tiếp thêm nhiên liệu, nhờ nguồn thông tin mà ông thu thập được Ông còn tìm cách
cung cấp thông tin đó cho bạn bè: “Từ tuần này tôi sẽ gửi đều báo Matin về cho anh Anh đọc
đi và anh muốn đưa cho ai đọc nữa thì đưa Ngày 01-5 mấy lâu nay được coi như ngày cách mạng xã hội Tôi muốn tả kỹ để cho anh thấy những việc gì đã xảy ra… Cùng với thơ này tôi gởi luôn cho anh xem cho biết kỹ cái tình hình quốc tế ra sao vậy…”
Nhưng khi có người muốn công bố những ghi nhận và cảm nghĩ của ông thì ông lại không đồng ý vì cho rằng quan niệm của mình chưa định hình dứt khoát: “Còn về tập nhật ký của tôi, anh bảo rằng có người muốn sưu tập những thư từ của tôi để đăng lên báo Đừng, tôi xin anh, tôi thấy rằng mỗi ngày ý kiến của tôi mỗi thay đổi, nếu đăng lên bây giờ tôi sợ sau này chính tôi lại phản đối tôi”
Chính nhờ chứng kiến những tiến bộ của nghề báo chí, ấn loát và xuất bản ở Pháp mà Nguyễn Văn Vĩnh nung nấu ý định từ bỏ đời sống viên chức, chuyển sang nghiệp làm báo tự
do Từ Pháp trở về, Nguyễn Văn Vĩnh đề nghị Hauser giúp đỡ để xin thôi làm công chức và cộng tác với Schneider theo đuổi nghề báo và nghề in Schneider giao cho ông làm chủ bút tờ
Đăng Cổ tùng báo, như đã nói ở trên, và cùng với Dufour quản lý nhà in Dufour - Nguyễn
Văn Vĩnh, một phân xưởng của nhà in Schneider ở Hà Nội Đăng Cổ tùng báo là tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ, đồng thời có cả phần Pháp văn nhan đề Tribune
Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương)
Sau đó, ông lần lượt làm chủ bút hàng loạt tờ báo viết bằng tiếng Pháp lẫn quốc ngữ
như Notre Journal (Báo của chúng ta), Notre Revue (Tạp chí của chúng ta), Lục tỉnh tân văn,
Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, L’Annam nouveau (Nước Nam mới) Ông cũng làm
chủ nhiệm nhà in Trung Bắc tân văn và Âu Tây tư tưởng
Được sự đồng ý của đốc lý Hauser, Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra giúp một số trí thức người Việt làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường học và các hội trình lên Phủ thống
sứ Bắc kỳ Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh cũng trở thành sáng lập viên của Hội Trí Tri, Trường Đông Kinh nghĩa thục, Hội giúp đỡ người Việt sang Pháp du học, Hội Phật giáo Bắc kỳ, Hội dịch sách Bắc kỳ…
Trang 21Tháng 3-1907 Trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở số 10 phố Hàng Đào Đông Kinh là tên cũ của Thăng Long – Hà Nội thời Lê sơ Trường do Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra làm đơn xin mở trường
và được cấp giấy phép chính thức vào tháng 5-1907 Trường có bốn ban: Giáo dục, Tài chính,
Tu thư và Cổ động, thu hút nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng, cả tân học lẫn cựu học Tham gia giảng dạy có Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc (Hán văn); Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Bùi Đình Tá (Việt văn và Pháp văn) Tham gia biên soạn tài liệu giáo khoa có Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Ngô Đức Kế Tham gia diễn thuyết và bình văn có Phan Châu Trinh, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lương Trúc Đàm…
Đông Kinh nghĩa thục thu hút ngày càng đông học sinh thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, giới tính đến học chữ quốc ngữ, chữ Hán, tiếng Pháp:
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành
Gái trai nô nức học hành,
Giáo sư tám lớp học sinh non ngàn.[105]
Nhà trường muốn đào tạo ra những con người có ích cho đất nước Học sinh được dạy những kiến thức về sử ký, địa lý, cách trí, vệ sinh…, được truyền cho tinh thần coi trọng thực nghiệp, chống hủ tục, dùng hàng nội hoá Đặc biệt, nhà trường quan tâm phổ biến tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ của Tây Âu, lấy chữ quốc ngữ làm công cụ nhằm phát triển kinh
tế và văn hoá, giáo dục:
Chữ quốc ngữ là hồn trong nước
Phải đem ra tính trước dân ta
Sách các nước, sách Chi-na
Chữ nào chữ nấy dịch ra cho tường.[105]
Chỉ trong một thời gian ngắn Đông Kinh nghĩa thục đã có tác động tích cực đến tinh thần dân tộc của đồng bào, nhất là tầng lớp trí thức:
Suốt thân sĩ ba kỳ Nam Bắc
Bỗng giật mình sực tỉnh cơn mê
Học, thương xoay đủ mọi nghề
Cái hồn ái quốc gọi về cũng may.[105]
Chính quyền thực dân Pháp sớm nhận ra hoạt động của nhà trường có thể thành mối nguy hiểm đe dọa đến sự thống trị của chúng, nên cuối năm 1907, đã ra lệnh đóng cửa trường, bắt giam những thành viên chủ chốt và đày ra Côn Đảo Nguyễn Văn Vĩnh đã tham gia Đông Kinh nghĩa thục ngay từ đầu, lại đứng ra xin giấy phép cho trường, nhưng nhờ sự “quyền biến” của mình, đã không bị đàn áp Điều đó, như trên đây đã nói, gây nên một nghi vấn lịch
sử
Một trong những sự kiện khá then chốt nữa nói lên lập trường chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, mà cho đến nay các tài liệu vẫn chưa làm rõ động cơ, là việc ông gia nhập Hội Tam Điểm Theo Vũ Bằng, đây không phải là Loge maconique, còn gọi là Le Grand Orient (viết tắt là G O.), đặt trụ sở tại đường Gambetta, Hà Nội Hội Tam Điểm mà Nguyễn Văn Vĩnh tham gia là Logemixte Internationale, còn gọi là “tổ chức Khổng tử” (Loge Confucius),
Trang 22trụ sở ở phố Đường Thành Ngoài Nguyễn Văn Vĩnh, Hội này còn thu hút Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Quang Oanh, Phạm Huy Lục, Nguyễn Văn Luân…Nơi đây đã tổ chức thảo luận về những vấn đề như nên theo thuyết trực trị hay quân chủ lập hiến, cải tổ giáo dục như thế nào” [5, 81]
Cùng lúc với Trường Đông Kinh nghĩa thục, năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh đã sáng lập ra Hội dịch sách với tâm niệm: “Nước Nam ta muốn chóng bước lên đường tiến hoá thì phải mau thu thái lấy những tư tưởng mới Muốn cho tư tưởng mới trong văn hoá Tây Âu truyền bá trong khắp dân gian thì cần phải phiên dịch sách nước ngoài ra tiếng Việt Nam”
[63;13] Đây là đơn xin lập Hội dịch sách mà Nguyễn Văn Vĩnh nhân danh chủ bút Đại Nam
Đăng cổ tùng báo cùng đứng tên với những trí thức nổi tiếng thời đó như Lương Văn Can
(Giáo trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục), Đỗ Văn Tâm (Hiệp biện đại học sĩ), Đỗ Thận (Hội viên Thành phố Hà Nội), Đào Văn Sử (Giáo trưởng tràng Hội Trí Tri)…: “Chúng tôi dám phiền đến Ngài là chắc đã biết Ngài cũng tin như chúng tôi rằng: sự dịch sách có ích lợi cho dân ta lắm, cho nên ở tờ đạt này, cũng không phải kể hết các nhẽ nữa (…) Chúng tôi xin trình trước với các quan rằng: hội này chúng tôi mở ra là thực hợp ý Nhà nước, vì Nhà nước bây giờ cũng hết lòng sửa đổi sự học Chớ hội chúng tôi không có ý gì ngạo phép, xin các quan đừng ngại Các quan cai trị dân, một tiếng nói bằng trăm nhẽ bàn của chúng tôi, nếu các quan giúp cho thành công quả này, thì cái phúc để lại muôn năm, đời sau dân nước Nam có được nhiều sách mà học, mỗi ngày tư tưởng một rộng ra, làm ăn buôn bán mỗi ngày một khôn khéo
ra, cũng sẽ nhớ đến rằng: vì có các quan giúp vào bây giờ”.[110] Ngày 26-6-1907, Hội dịch sách được phép thành lập với 300 đại biểu tham dự, tại đây Nguyễn Văn Vĩnh đã đọc diễn văn nói về ý nghĩa, mục đích của việc dịch sách
Nhận thấy Đăng Cổ tùng báo có khuynh hướng ủng hộ những hoạt động của Phan
Châu Trinh, chính quyền bảo hộ ra lệnh đình bản tờ báo và bắt giam một số người trong ban biên tập Nguyễn Văn Vĩnh cũng bị bắt, nhưng chẳng bao lâu sau được trả tự do nhờ sự can
thiệp cuả Hauser và Schneider Ông lại làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Notre Journal (Báo của chúng ta), sau đổi thành Notre Revue (Tạp chí của chúng ta), chủ yếu hướng đến độc giả
người Pháp, giúp họ hiểu được văn hoá và con người An Nam
Năm 1907, Schneider sáng lập tờ Lục tỉnh tân văn trong Nam, Nguyễn Văn Vĩnh
được mời vào làm chủ bút
Ba năm sau, 1913, ông trở ra Hà Nội làm chủ nhiệm kiêm chủ bút Đông Dương tạp chí,
cũng do Schneider sáng lập Đây là tờ báo quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông vì nó đã
gây ảnh hưởng lớn đến lịch sử báo chí và văn học nước ta đầu thế kỷ XX Đông Dương tạp
chí là tờ tuần báo, phát hành vào ngày thứ năm hàng tuần, số đầu tiên ra mắt vào ngày
15-5-1913 Bộ biên tập bao gồm: phái tân học có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn
Tố, Phạm Duy Tốn; phái cựu học có Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục Trong số đó, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục là ba cây bút trung thành và chung thủy nhất với
tờ báo Về sau báo còn có sự cộng tác của Trần Trọng Kim, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Trác, Thân Trọng Huề
Chủ trương và mục tiêu của Đông Dương tạp chí đã được Phạm Thế Ngũ đúc kết như
sau:
- Về chính trị, tờ báo hiển nhiên là một cơ quan tuyên truyền cho cuộc bảo hộ của Pháp Tuyên truyền bằng cách nào? Bằng cách đem những công việc của nhà nước mà kể cho dân nghe (…), bằng cách đem điều hơn lẽ thiệt mà khuyến dụ dân đừng làm loạn, đừng theo cách mạng bạo động
Trang 23- Về học thuật thì “báo dựng nên cốt ở việc đem cái học thuật thái Tây dùng tiếng nôm mà dạy phổ thông cho người An nam không phải đi nhà tràng cũng học được hoặc đã đi học rồi mà học thêm” Việc giáo dục này có tính cách phổ thông và bách khoa cho nên ta thấy dịch thuật và giảng giải về đủ các vấn đề, từ việc nuôi con cho đến việc tu bổ đê điều, từ cách buôn bán của người Lang Sa đến sự phân chia khoa tâm lý học thái tây
- Về văn tự thì cổ động cho chữ quốc ngữ, thứ chữ tiện cho người An Nam gấp mấy lần chữ nho “Mở ngay tờ báo này ra mà ngắm xem, bấy nhiêu điều luận trong báo, thử nghĩ giá như mà luận bằng chữ nho thì có mấy người hiểu cho hết nghĩa Thế mà chữ quốc ngữ thì không những là người biết chữ quốc ngữ đọc được hiểu được mà đọc lớn cả nhà nghe cũng hiểu được” Không phải chỉ cổ động bằng cách viết một tờ báo quốc ngữ để mọi người đọc chơi, nhận ra những ưu điểm của thứ chữ mới, báo quán còn tích cực hơn, hứa “nay mai phát không cho những người mua báo một cuốn sách dạy quốc ngữ rất tiện cho các ông để không phải đem sách đi hỏi, ai cũng tự học được chữ quốc ngữ” [48;119]
Chủ trương về chính trị nêu trên hoàn toàn phù hợp với tinh thần bản tường trình của Sestier, một viên thanh tra người Pháp: “Thay thế cho những tin tức xâm nhập vào xứ này bằng con đường báo chí Trung Hoa, chúng tôi nghĩ rằng tốt nhất là nên có ngay ở xứ này một
tờ báo An-nam mà trong đó, mỗi một sự kiện lý thú sẽ được trình bày thực thà rõ ràng, kèm theo một sự giải thích cụ thể trong mức độ cần thiết và những lời bình luận hợp pháp” [30]
Chủ trương đó thể hiện rất rõ trong giai đoạn đầu của Đông Dương tạp chí, với những bài viết
cho thấy thái độ không tốt của Nguyễn Văn Vĩnh đối với phong trào yêu nước lúc đó
Ngay số đầu tiên của Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh đã lớn tiếng mạt sát
những người yêu nước ném bom giết một số sĩ quan Pháp ở khách sạn Hà Nội là “lũ sài lang,
đồ dối trá, đồ vô học, dùng chước ăn mày”, thậm chí còn hăm doạ nếu bắt được thì bỏ rọ lăn
sông (!) Trong bài Phương trâm , Nguyễn Văn Vĩnh vừa ra sức thanh minh cho những người
Tây học, vừa đả kích, miệt thị những sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu là “nguỵ Nho”,
“nghêu ngao vô dụng”, “vô công rồi nghề” Liên hệ với những cuộc nổi dậy diễn ra trước đó, Nguyễn Văn Vĩnh viết: “Thiên hạ có kẻ nói vu ra rằng việc làm loạn mới rồi cũng có bởi Tây học Nhà nước cho học nhiều quá, hữu tài vô dụng, thành ra một bậc người dở dang, cao không tới thấp không thông, không có chức phận gì nghĩ được bụng ước ao to quá, cho nên sinh ra một đảng ghét Lang Sa, xúc xiểm dân An-nam làm loạn Điều ấy là một điều lầm to, chúng tôi tưởng nên giải để Nhà nước rõ kẻo việc làm càn của mấy đứa cuồng dại mà thiệt lây đến những người trung nghĩa nhất với nước Lang Sa ở xứ này” [206]
Càng đáng trách hơn nữa khi Nguyễn Văn Vĩnh có giọng điệu hăm dọa những người
có tinh thần phản kháng: “Trông nhân chất người Lang Sa thì ta đã đủ biết sức ta đâu dám chọi cùng Ví thử có đem trái phá mà triệt được hết người Lang Sa ở đây, thì chỉ mong mười lăm bữa thuỷ quân đem sang đóng chặt các cửa biển, đạn phá mới tuôn ra một giờ cả nước tan
ra gio Lẽ rõ ràng như vậy, đứa trẻ con cũng phải hiểu ra, phương chi cả nước có đâu lại dại điều như bọn Phan Bội Châu mà còn mơ màng điều phi lý”
Nhân đó, Nguyễn Văn Vĩnh lại còn phủ dụ những người Tây học: “Còn như bọn Tây học ta, phải dùng hết chước mà tỏ ra rằng không phải đồ bội nghĩa, để cho các quý quan chớ reo vạ những tiếng oan Ta phải đem những điều hay ta học, mà cổ động cho đồng bào cùng được hưởng, khỏi phải mấy quyển sách Tàu mới biết văn minh Đại Pháp mà lại biết sai” Quan điểm chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy như vậy là rất rõ ràng
Bài xích Phan Bội Châu- một vị anh hùng của phong trào yêu nước là hành động làm cho Nguyễn Văn Vĩnh bị nhiều người có ác cảm Nó khiến ông bị liệt vào hàng ngũ những kẻ
Trang 24theo Pháp, kể cả sau này, khi ông đả kích những người Pháp cai trị Người ta không thích cách ông nói về Phan Bội Châu cũng như không ưa cái giọng chỉ trích, châm biếm thái quá khi ông phê phán những hủ lậu của người Việt Nam Đáng tiếc là những bài viết của Nguyễn
Văn Vĩnh thời kì đầu cho Đông Dương tạp chí với nội dung lên án những người bạo động do
viết bằng chữ quốc ngữ nên có nhiều người đọc Còn những bài viết chống lại sự cai trị của
người Pháp về sau này lại chủ yếu viết bằng tiếng Pháp, đăng trên L’Annam Nouveau và các
tờ báo tiếng Pháp khác nên không mấy người đọc được để mà hiểu ông
Sở dĩ Nguyễn Văn Vĩnh phản ứng gay gắt trước các vụ bạo động giết người Pháp kiểu du kích vì ông vốn cho rằng so sánh về lực lượng, ta quá mỏng để có thể đấu chọi lại với người Pháp Theo ông, việc trước mắt là phải tận dụng cơ hội để học lấy văn minh của họ, xây dựng đất nước cho giàu mạnh, dân trí được hưng thịnh thì lo gì không giữ được nước:
“Tục thường nói: theo Tây thì sau mất nước, chỉ những lo quốc hồn mai hậu không còn Phải biết rằng cơ còn mất ấy, ở ta không ở người Còn người thì còn nước, còn đẻ thì còn người, còn có ruộng đất mà cày cấy thì còn đẻ được Mà may sao! Đất của ta thì chỉ có tay ta cầy
được mà thôi Đó là cái cơ còn, chớ không mất được [206] Cho tới lúc chủ trì L’Annam
Nouveau gần hai mươi năm về sau, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn giữ nguyên suy nghĩ đó Ông vẫn
muốn tránh bạo động để chờ một cơ hội mai sau, khi có “những con người đủ khả năng”:
“Những người theo chủ nghĩa quốc gia biết điều, họ mong muốn mặc dù thế nào cũng có một
tổ quốc mà không bị bắn chết hay chặt cổ, cũng không muốn biến đất nước thành chiến trường máu lửa (…) Họ nghĩ như những nhà hiền triết suy nghĩ, là tổ quốc còn tồn tại khi giống nòi còn tồn tại và họ giữ được sức sống của mình Tổ quốc sẽ không được tạo ra bằng một đạo dụ của nhà vua, do các phòng của phủ Toàn quyền thảo ra và vua Bảo Đại kí, và cũng không bằng một văn bản nào đó do một chính phủ bên ngoài bản thân mình Nhưng được tạo nên do chính bản thân mình một ngày nào đó, sau một quyết tâm kéo dài kiên nhẫn
và một sự chuẩn bị lâu dài trong hòa bình Nó cho phép lao động liên tục và trong sự phồn vinh đã làm nảy nở ra những con người có đủ khả năng”.[154]
Hồi ký Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt Nam của Lê Thanh
Cảnh hé lộ phần nào những trăn trở và mâu thuẫn của Nguyễn Văn Vĩnh trong đường lối chính trị của ông Nguyễn Văn Vĩnh đã bày tỏ lý do vì sao ông chủ trương trực trị: “Sở dĩ tôi theo lập trường trực trị (administration directe) là kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị
mà tiến bộ quá xa hơn Trung Bắc Mà Bắc kỳ nhờ chế độ mập mờ nửa bảo hộ nửa trực trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa Chính thể bảo hộ tại Trung kỳ là quá lạc hậu, đồng bào chúng ta ở đó còn trong tình trạng ngu muội Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hóa theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên Nói trực trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu Quá khứ đường lối đấu tranh của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay” [87; 127]
Có lẽ điều khác biệt ở đây là thời gian đầu ông Vĩnh sợ mất lòng người Pháp, sẽ ảnh hưởng đến việc dựa vào họ để đưa đất nước đến văn minh, tiến bộ; thời gian sau này, tuy vẫn mong mỏi đạt được mục tiêu một đất nước của người An Nam mà không phải bạo động, nhưng vì thất vọng bởi những gì người Pháp đã làm đi ngược với chính sách dân chủ, bác ái
mà họ đề ra nên chính ông chứ không ai khác, là người cầm bút chống lại những bất công của chính sách thực dân cai trị trên đất nước mình
Nhờ tấm lòng đó của Nguyễn Văn Vĩnh, mà Phan Bội Châu, dù bị ông công kích vẫn mến phục ông Có lẽ do Phan Bội Châu biết rằng, tuy họ khác nhau về con đường song cùng chung một mục đích Sau này, họ còn đi du ngoạn cùng nhau trên một chiếc xe do chính tay
Trang 25Nguyễn Văn Vĩnh cầm lái Khi ông Vĩnh mất, Phan Bội Châu rất thương tiếc, đã gửi câu đối đến viếng
Dù có những bài viết phản đối bạo động của phong trào yêu nước lúc bấy giờ và khuynh hướng đề cao người Pháp quá đáng nhưng những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh
trên Đông Dương tạp chí về mặt duy tân là rất to lớn
Về văn hoá, trước yêu cầu xây dựng một nền quốc văn mới, bồi bổ văn hoá dân tộc,
những người thực hiện Đông Dương tạp chí chủ trương xây dựng và phổ biến chữ quốc ngữ,
dung hoà học thuật Á-Âu để làm giàu cho nền văn học nước nhà, đặt ra vai trò của báo chí trong việc khai hoá dân trí
Thời điểm Đông Dương tạp chí ra đời, chữ quốc ngữ còn là một thứ chữ mới Nhiều
nhà cựu học bảo thủ chê chữ quốc ngữ là “thứ chữ rồng rắn không thể dùng để viết văn được” Trong những gia đình truyền thống khoa bảng, người ta vẫn cho con em học chữ Hán Những gia đình tân học thì cho con em học tiếng Pháp Thành ra phần đông cả hai phe tân học, cựu học đều coi thường chữ quốc ngữ
Nguyễn Văn Vĩnh và những người cộng sự của ông lại nghĩ khác Họ thấy được tính
ưu việt của chữ quốc ngữ và những giá trị to lớn mà nó sẽ đem lại cho đời sống văn hoá, tinh thần của dân tộc
Có thể thấy những nỗ lực của Đông Dương tạp chí trong việc làm cho chữ quốc ngữ
mỗi ngày một tinh tế hơn qua những bài bình luận, khảo cứu, phiên âm các tác phẩm chữ Nôm ra chữ quốc ngữ, phê bình các sách viết bằng chữ quốc ngữ mới xuất bản và giới thiệu
các tác phẩm hay của các nước Trên Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng
trăm bài báo về đủ các vấn đề như vệ sinh, y học, thể thao, văn học và thời sự Có thể nói
Đông Dương tạp chí đã kế thừa và phát huy tinh thần của phong trào Duy Tân lúc đó Về
khách quan, Đông Dương tạp chí là một cột mốc đánh dấu sự thay đổi của cục diện văn hoá
và thúc đẩy nền quốc văn đi vào một con đường mới
Từ đầu năm 1915, Đông Dương tạp chí có nhiều thay đổi về hình thức và nội dung
Về hình thức, nó thành một tờ tuần báo in khổ nhỏ để có thể đóng thành sách Về nội dung, nó chuyên về văn học và giáo dục với những bài biên khảo hay dịch thuật của Phan Kế Bính
(Việt Nam phong tục, Đại Nam điển lệ); những truyện dịch của Nguyễn Đỗ Mục (Tây sương
ký, Song phượng kỳ duyên, Đông Chu liệt quốc); những bài văn nghị luận của Nguyễn Khắc
Hiếu (Tản Đà văn tập); nhũng tác phẩm dịch của Nguyễn Văn Vĩnh (Tê lê mạc phiêu lưu ký,
Trưởng giả học làm sang,Cổ tích của Perrault, Lỗ Bình Sơn phiêu lưu ký)
Là một trong những người đầu tiên khởi xướng việc truyền bá chữ quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh coi đó là chìa khóa mở những cánh cửa hiểu biết cho nhân dân Việt Nam Ông chú trọng dịch các tác phẩm tiêu biểu của nước ngoài để giới thiệu cho người dân những tinh hoa văn hoá của nhân loại, giúp họ mở mang hiểu biết, đồng thời chứng minh sự giàu có của tiếng Việt, tính ưu việt của chữ quốc ngữ Và ngược lại, ông cũng dịch những tác phẩm giá trị nhất
của Việt Nam như Truyện Kiều ra tiếng Pháp để cho người nước ngoài biết rằng, chúng ta
cũng có một nền văn học, văn hoá không hề tầm thường Ông đã từng viết: “Nước An Nam ta
đã bị mất bởi những người trí thức chỉ biết làm văn học Tàu, chúng ta hãy cố gắng để không trở thành những người trí thức chỉ biết làm văn học Pháp”(2)
2 “L’Annam a été perdu par les lettrés qui n’avaient faits que de la littérature chinoise, tâchons de ne
Trang 26Đến năm 1919, Đông Dương tạp chí dần dần nhường bước trước vai trò ngày càng lớn của Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh sáng lập, được sự ưu ái của chính quyền thực dân
vì tính chất khôn khéo và uyên bác của nó Trước đó, từ năm 1916, Nguyễn Văn Vĩnh cùng
với Trần Trọng Kim mở ra tập Nam học niên khóa cung cấp tài liệu dạy học cho các trường,
đặc biệt là phổ biến phương pháp dạy chữ quốc ngữ được thông dụng cho đến năm 1945 Từ
năm 1919, Nam học niên khoá đổi thành Học báo, dùng cho bậc tiểu học, do Trần Trọng Kim
phụ trách
Đồng thời với việc làm báo Đông Dương tạp chí, từ năm 1915, Nguyễn Văn Vĩnh còn tham gia làm báo Trung Bắc tân văn với tư cách chủ bút, còn Schneider làm chủ nhiệm Đây là tờ báo ra ba kỳ mỗi tuần Đến năm 1919, Trung Bắc tân văn đổi thành nhật báo, lúc
này Schneider về hưu, Nguyễn Văn Vĩnh kiêm luôn chức chủ nhiệm Về sau, vì nợ nần, ông chuyển tờ báo này cho Nguyễn Văn Luận
Như trên đã nói, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ say mê làm báo mà ông còn quan tâm đến nghề in Điều này cũng dễ hiểu, “làm báo không thể nào không biết nhà in, nhà in và nhà báo như cá với nước, như răng với môi, môi hở thì răng lạnh” [6;82] Hơn mười năm sau khi
lập nhà in Dufour – Nguyễn Văn Vĩnh, năm 1918, ông lại làm chủ nhiệm nhà in Trung Bắc
tân văn và cùng Vayrac thành lập nhà in Âu Tây tư tưởng
Năm 1922, lần thứ hai Nguyễn Văn Vĩnh được cử đi dự Đấu xảo thuộc địa ở Marseille, lần này cùng với Phạm Quỳnh và Phạm Duy Tốn Trong chuyến đi này, Nguyễn Văn Vĩnh đã tranh thủ đi thăm Berlin để tìm hiểu nghề ấn loát trên quê hương của ông tổ máy
in Gutenberg Nhờ những gợi ý từ cuộc tham quan này, khi về nước, ông thế chấp nhà in và tài sản để vay tiền Ngân hàng Đông Dương đầu tư cho việc đổi mới công nghệ ấn loát Năm 1927, ông khởi xướng việc cải cách chữ quốc ngữ, gọi là lối chữ “Quốc ngữ mới” Tuy đề nghị cải cách của ông không được hợp lý nên ít người hưởng ứng, nhưng việc này cho thấy tâm huyết của ông đối với việc làm cho chữ quốc ngữ ngày một phổ biến hơn
Từ năm 1931 Nguyễn Văn Vĩnh chuyển sang kinh doanh, ông lập hội buôn, tập hợp cổ
phần ra báo L’Annam nouveau (Nước Nam mới), có Hy Tống làm trợ bút Là chủ nhiệm kiêm
chủ bút của báo này từ năm 1931 đến đầu năm 1936, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng trăm bài
xã luận, phóng sự trên báo
Năm 1930, kinh tế khủng hoảng, ông bị ngân hàng tịch thu nhà in đem bán đấu giá Năm 1932, Bảo Đại về nước, Triều đình Huế mời ông vào làm quan trong triều,
nhưng ông từ chối Trong bài phóng sự Từ triều đình Huế trở về, ông đã nghiêm khắc phê
phán bộ mặt cai trị của vua quan phong kiến, qua đó một lần nữa giải thích lý do khiến ông đề xuất thuyết trực trị, trái với thuyết quân chủ lập hiến của Phạm Quỳnh, như trên kia đã phân tích
1.3 Bi kịch cá nhân và bi kịch thời đại
Qua những hoạt động không mệt mỏi của Nguyễn Văn Vĩnh, ta thấy ông là người có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và óc phiêu lưu Từ sự chiêm nghiệm về cuộc đời, ông có
Trang 27những suy nghĩ riêng và ông sống theo quan niệm của mình Chẳng hạn, theo ông, “người sống lâu không phải là người chết già”, điều này có nghĩa là thời gian tại thế của một con người được tính bằng kết quả mà những việc người đó làm được, chứ không phải bằng số năm tháng người đó tồn tại trên cõi đời này
Đứng về mặt sự nghiệp, nhất là sự nghiệp văn học và báo chí, Nguyễn Văn Vĩnh là người thành đạt, ông đã để lại cho hậu thế những đóng góp không nhỏ Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người gặp không ít bi kịch: bi kịch trong đời tư, bi kịch trên trường kinh doanh,
bi kịch trong cái chết
Nguyễn Văn Vĩnh lập gia đình năm 1900, lúc 18 tuổi Người vợ đầu của ông là bà Đinh Thị Tính, hơn ông một tuổi, là người cùng quê ở làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, nhưng gia đình chuyển ra Hà Nội sinh sống ở ngõ Phất Lộc đã hai đời Những năm Nguyễn Văn Vĩnh làm thông ngôn ở Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Nội, bà Tính đi theo chăm sóc chồng, buôn bán để tăng thêm thu nhập và lần lượt sinh mười người con cả trai lẫn gái, trong đó có những người về sau nổi tiếng như bác sĩ Nguyễn Hải, nhà văn Nguyễn Giang, nhà làm ảnh Nguyễn Phổ, chuyên gia vô tuyến điện Nguyễn Dực…
Cái tính đa tình cũng gây cho Nguyễn Văn Vĩnh tổn thương không ít Năm 1913, ông lấy thêm người vợ thứ hai tên là Phan Thị Lựu, người đã sinh ra nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp Ba năm sau đó (1916), ông còn lấy người vợ thứ ba là Suzanne Giáp Thị Thục Việc này khiến bà Lựu phẫn uất đến mức tự vẫn, khi Nguyễn Nhược Pháp mới hai tuổi
Nguyễn Văn Vĩnh có cả một gia đình lớn phải chăm lo Ngoài những giờ phút bận rộn
vì công việc ở các toà báo, vì những món nợ phải trả, ông cũng phiền lòng không ít vì sự ghen tuông của các bà Mãi cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, những phiền muộn về việc gia đình vẫn canh cánh trong lòng ông
Ông là người có nghị lực phi thường trong mọi hoàn cảnh, thế nhưng con người mạnh
mẽ ấy cũng có lúc thật yếu đuối Đó là khi ông biết những người thân yêu của mình đang phải chịu khổ sở Những ngày tháng lặn lội trong rừng sâu nước Lào để tìm vàng, trước thời tiết khắc nghiệt và khó khăn về mọi mặt bủa vây nhưng Nguyễn Văn Vĩnh vẫn là người giữ vững tinh thần cho mọi người và không hề than vãn Nhưng những lúc một mình, ông phải đối diện với nỗi buồn lo về cuộc sống sa sút của vợ con kể từ khi gia đình khánh kiệt Người
vợ xinh đẹp và lũ con quen ăn sung mặc sướng của ông dường như không trụ nổi trước những khó khăn khi ông vắng mặt Những lá thư gửi sang Lào của bà Suzanne kể về cuộc sống gia đình làm ông đau buồn ghê gớm Nỗi buồn ấy dường như là nguyên nhân lớn nhất khiến ông kiệt sức chứ không phải cái nóng thiêu đốt và lũ ruồi muỗi ở ngoài kia
Trong lá thư cuối cùng gửi về cho gia đình, và cũng là bút tích cuối cùng, ông viết: “18 giờ Mặt trời đã lặn Chúng tôi chờ đợi mát mẻ trở lại, nước sông đã đỡ nóng Vừa lúc đó thì người đưa thơ từ Tchépone đến với những thơ từ và báo chí Hai bức thư của mình viết ngày 14 và 21/4 làm cho lòng tôi tan vỡ Đêm nay sẽ phải trải qua đầy gian khổ
Ngày 25-4 vào lúc 5 giờ sáng Một đêm rất xấu Chúng tôi lên đường 8 giờ sáng, ôm hôn mình và tôi yêu cầu mình can đảm lên và cố gắng chịu đựng tất cả những điều đó một hoặc hai tuần nữa, sau đó chúng ta sẽ thấy được chúng ta sẽ sống như thế nào Trái tim tôi thắt lại”.[162]
Nói về những vất vả trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Bằng có kể trong hồi ký Bốn
mươi năm nói láo: “Phần thì lo nợ, phần lại bận viết bài cho báo Annam Nouveau, phần lại do
dàn xếp câu chuyện gia đình, phần lại lo chống Phạm Quỳnh, “chơi” lại thực dân Pháp, ông
Trang 28Vĩnh chỉ cho chỉ thị cũng hết thì giờ rồi…” [6;74] “Tôi nhớ có một lần Nguyễn Văn Vĩnh bị mấy nhà ngân hàng thúc nợ dữ quá, dọa tịch thu gia sản Trong khi ấy thì nhân viên nhà báo, mấy tháng không có tiền, bỏ bê công việc; đã thế hai bà lại xích mích, làm tình làm tội ông;
ấy là chưa kể mấy ông con, quen lối sống như con Tây, đòi hết thứ này thứ nọ để ăn chơi cho phè phỡn” [6;75]
Trong hoàn cảnh như vậy mà Nguyễn Văn Vĩnh không nản chí, vẫn hăng say làm việc:
“Ông Vĩnh làm việc như con trâu cày, không mấy khi muốn làm phiền người khác Có một lần, tôi đã được mục kích một cảnh như sau: không biết giận gia đình gì đó, ông lên một căn gác nằm khoèo, nhờ ông Tụng mua cho một mẹt bún chả trừ cơm, rồi viết luôn một lúc một
bài xã thuyết cho L’Annam nouveau, thảo một thư cho Toàn quyền Pháp đưa xuống dưới nhà đánh máy luôn, dịch miệng Tê-lê-mạc phiêu lưu ký cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi
ám tả, trong khi chính ông lại quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện thống sứ Pháp
có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được, miễn là ông tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngưng chống nhà vua” [6;75]
Về mặt chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh được bầu làm hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội mấy khoá liền Từ năm 1913, ông được bầu làm hội viên Viện Tư vấn Bắc kỳ, tức là nghị viên Viện Dân biểu Bắc kỳ sau này Ngoài ra, ông còn có chân trong Thượng hội đồng kinh tế
và lý tài Đông Pháp Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh không phải là “người sắp hàng” có kỷ luật, hay nói theo ngôn ngữ ngày nay, không phải là người hoàn toàn “đi theo lề bên phải” do chính quyền thực dân quy định
Trong cả cuộc đời hoạt động trên lĩnh vực văn hoá, văn học, báo chí của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết hàng ngàn bài báo đủ các thể loại bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ với các bút danh: N.V.V, Tân Nam Tử, Thực Trí, Quan Thành, Mũi tẹt tử, Tổng già, Lang già, Đào Thị Loan
Thể hiện tinh thần câu nói nổi tiếng: “Nước Nam ta sau này hay hay dở cũng ở chữ quốc ngữ”, trong suốt 30 năm (1906-1936) làm báo, dịch thuật, canh tân văn hoá của mình, với những hoạt động không mệt mỏi để cổ vũ cho sự lớn mạnh của chữ quốc ngữ, đấu tranh bảo vệ quyền lợi thương mại cho người Việt Nam, cho sự tiến bộ của xã hội, Nguyễn Văn Vĩnh thực sự là một học giả có uy tín, một “người hùng” trong mắt dân chúng thời bấy giờ Ông được những người cùng thời kính trọng và ngưỡng mộ, kể cả những người không cùng chung chí hướng
Khi Phan Châu Trinh bị chính quyền thực dân bắt, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên ký vào lá đơn xin ân xá cho chí sĩ Tây Hồ Sau sự việc này, ông bị một vị thượng quan gọi đến và hăm doạ: “Ở Côn Lôn còn rộng chỗ! Chú hãy liệu lấy!” [63 ;12]
Nhắc tới Phan Châu Trinh, người ta nhớ ngay tới bức thư nổi tiếng ông viết ngày 15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 18 (1906) gửi Toàn quyền Đông Dương Bức thư là một bản án hùng hồn chống lại bọn quan lại bất lực và thối nát cùng những tệ nạn của chính quyền thực dân cai trị Nhưng ít ai biết rằng Nguyễn Văn Vĩnh chính là người dịch bức thư viết bằng chữ Hán ấy ra tiếng Pháp, phổ biến rộng rãi tài liệu kết tội đó cho quần chúng nhân dân biết Để làm được việc đó, như Delmas, chủ tịch Hội nhân quyền chi hội Hà Nội nhận xét, phải có một lòng dũng cảm khác thường Và có lẽ những lời lẽ đanh thép trong bức thư cùng tâm huyết của bậc tiền bối đã ảnh hưởng nhiều đến con đường hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh Ông quyết tâm đi theo con đường mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, chờ thời cơ để làm chủ đất nước
Trang 29Có lần, với bút hiệu Quan Thành, Nguyễn Văn Vĩnh viết một bài báo khêu gợi lòng yêu nước, kêu gọi đồng bào tẩy chay hàng hoá của Hoa kiều Tác động của bài báo khiến phủ Toàn quyền lo sợ, yêu cầu ông ngưng loạt bài đó, nếu không sẽ đóng cửa tờ báo và làm áp lực
để ngân hàng đòi nợ, làm cho ông phá sản Vũ Bằng là người chứng kiến việc này, có nhận xét : « Những lời đe doạ ấy, khi thì sỗ sàng, khi thì mềm dẻo của nhà cầm quyền Pháp hồi đó, kéo dài không ngớt trong suốt cuộc đời ông Vĩnh, có khi làm cho ông Vĩnh tạm yên giai đoạn, nhưng có khi làm cho ông nức lòng chiến đấu hơn ; thà là chịu khổ sở, thiếu thốn, hiểm nghèo, chớ không chịu vị tình người Pháp hay vì tiền của họ mà thay đổi lập trường, chí hướng » [6; 79]
Khi còn ở trong Hội đồng kinh tế Đông Dương, ông đã nhiều lần lên tiếng bênh vực cho quyền lợi của đồng bào mình Tại Đại hội đồng kinh tế Đông Dương họp ở Sài Gòn năm
1932, ông thay mặt cho giới doanh nghiệp trong nước phản đối chủ trương chuyển từ ngân bản sang kim bản vị, bảo vệ cho nền tài chính trong nước Khi chính quyền Pháp có bản dự thảo đưa ra nghị định hạn chế việc làm thuốc và bán thuốc Bắc, tất cả các ông lang, các hãng bào chế, các nhà buôn thuốc ở Bắc kỳ đã họp lại và nhờ ông lên tiếng bênh vực Và ông đã thực hiện được điều đó.[63;40].
Nguyễn Văn Vĩnh đã hai lần từ chối Bắc đẩu bội tinh do chính phủ Pháp ban tặng, một vinh dự mà rất nhiều người phải chạy chọt, luồn lụy mới mong có được Chính điều này
đã khiến Phan Khôi, một người khó tính, tuy không đồng ý xưng tụng Nguyễn Văn Vĩnh là
« đại văn hào », nhưng thừa nhận ông là « người hào kiệt đầy cái khí phách tự lập » Phan Khôi viết : « Nói từ trong tim nói ra, tôi có phục ông Nguyễn Văn Vĩnh thật Tôi phục ông ở chỗ ông có chí tự lập, ở chỗ không mộ hư vinh Tôi ưa ông nhất là tại cái điểm thứ hai này
Kể trong ba bốn mươi năm nay, cả Bắc kỳ, ông nào có máu mặt cũng chạy cho được cái Bắc đẩu bội tinh, cái Hồng lô tự khánh, cái hàn lâm gì đó, cùng không nữa cũng đồng kim tiền, chiếc kim khánh Chỉ một mình ông Vĩnh, muốn có thì giống gì mà chẳng có, nhưng ông đã chẳng có gì cả, ông chỉ là bạch đinh Tấm lòng nguội lạnh đối với cái hư vinh ấy đã đưa ông lên làm tiêu biểu cho bạn trẻ chúng ta sau này » [59]
Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã từ chối vào làm quan cho triều đình Huế Thậm chí, ông còn có thái độ kiêu ngạo, theo lời kể của Vũ Bằng, là từng dám xông ra bắt tay Khải Định khi ông vua này xuống tàu ở ga Hàng Cỏ, đến nổi suýt nữa thì bị xử tội « khi quân » Ông kiên định đi theo con đường đã chọn, dù rằng con đường ấy khiến ông khánh kiệt cả gia sản, phải sang Lào tìm vàng trả nợ để rồi bỏ thân nơi rừng thiêng nước độc
Trong hồi tưởng của những người đã gặp ông, Nguyễn Văn Vĩnh là một người nhanh nhẹn và luôn luôn hoạt động Hình ảnh một người An Nam hoạt bát mặc quần Âu, tóc húi cua, đầu đội mũ cát, lái chiếc môtô hiệu Terrot mang từ Pháp về đi khắp nơi được xem như là một biểu tượng của cái mới giữa một xã hội Việt Nam thuộc địa lạc hậu, nghèo đói thời bấy
giờ Từ công việc ông làm cho đến dáng vẻ bề ngoài, ông đúng là một Tân Nam Tử của thời
đại Vũ Bằng đã nhớ về quãng thời gian cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh với những cảm nghĩ
rất tốt đẹp : « Thú thực, làm bỉnh bút ở tờ Trung Bắc, dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Văn
Vĩnh, nhiều người lấy làm hãnh diện, chớ không phải chỉ riêng tôi Đáng kể nhất là tất cả các anh em trong nhà báo đều kính yêu ông ; người chân chính thì yêu ông vì tài ba đức độ ; còn những người quay quắt cũng yêu vì ông rất rộng rãi về tiền nong, dù biết là họ ăn cắp, bóc lột ông hay đâm vào sau lưng ông, ông cũng coi là thường, tha thứ hết và không hề giận dỗi hay phiền trách ».[6; 80]
Trong trí nhớ của các con ông, Nguyễn Văn Vĩnh là một người cha mẫu mực và rất giàu tình cảm Ông nói chuyện với con cái rất nhẹ nhàng, khéo léo Bà Nguyễn Thị Mười, con
Trang 30gái ông kể lại : « Có lần ông muốn nhờ con gái cắt móng tay, ông không nói : « Con cắt móng tay cho bố » mà bảo « Nào, con khéo tay, giúp bố cắt móng tay nhé ! » Không bao giờ ông ra lệnh »
Có lần, Nguyễn Văn Vĩnh bị trộm đột nhập vào kho, lấy trộm toàn bộ tủ sách Âu Tây
tư tưởng Những cuốn sách này sau đó bị cân ký và bán làm giấy vụn Trong một lần đi tàu hỏa lên Yên Bái, Lào Cai, ông gặp một người đàn ông sống ở một ngôi làng hẻo lánh vùng rừng núi, tay cầm cuốn "Gil Blas de Santillane và cuốn thơ ngụ ngôn của La Fontaine Khi ông hỏi làm sao có được những cuốn sách đó, người này đã trả lời: “Chúng tôi mua một chai dầu Nhị Thiên Đường với giá 5 xu thì được tặng thêm một cuốn Âu Tây tư tưởng Lời quá còn gì!” Trở về nhà, Nguyễn Văn Vĩnh rất vui sướng Ông hồ hởi kể với vợ: “Ồ! Mất trộm vậy mà lại hóa hay! Nếu như chúng ta bán ở những cửa hàng sách thì biết đến bao giờ những cuốn sách đó mới đến được những vùng hẻo lánh như vậy” Câu chuyện trên cho thấy một thái độ sống rất khoáng đạt, coi trọng giá trị tinh thần hơn lợi ích vật chất
Là con người của công việc, lúc nào cũng canh cánh lo nghĩ phương kế để nước nhà văn minh hơn, giàu mạnh hơn, trong giao tế, Nguyễn Văn Vĩnh coi trọng những người sống
có ích cho dân cho nước, những người chăm chỉ làm việc chứ không phải những kẻ giàu có hay quyền lực Trường hợp ông Bạch Thái Bưởi là một ví dụ Khi ông này từ trần, Nguyễn Văn Vĩnh vốn không viết những tin về việc riêng của cá nhân, đã tạo ra một ngoại lệ Vốn tính thẳng thắn, ông thừa nhận mình không thích ông Bưởi, tuy nhiên vẫn giữ lòng hâm mộ
và kính trọng người này Bởi «đồng bào chúng ta cần nhiều người giống như thế»
Nguyễn Văn Vĩnh ca ngợi Bạch Thái Bưởi như là một tấm gương cho đồng bào mình học hỏi : «bắt đầu bằng hai bàn tay trắng, ông đã làm nên đạt tới một địa vị có một không hai trong công việc kinh doanh Và một khi đã làm nên được giàu có, ông đã không làm như bao người khác, không muốn tự bằng lòng ngồi hưởng một cách nhỏ giọt tài sản mà ông gầy dựng lên được( ) Ông luôn cảm thấy có sự cần thiết phải chứng minh cho mọi người là người An Nam có thể làm được nhiều việc khác chứ không phải là chỉ biết làm quan và cho vay ngắn hạn ( ) Con người này có học thức mà chỉ được đi học rất ít, mà đã trở thành một người chỉ huy công nghiệp thật sự» [122]
Cũng như vậy, viết về ông Nguyễn Hữu Thu vừa mới từ trần, Nguyễn Văn Vĩnh không giấu giếm sự cảm phục tính cách «luôn nghĩ đến người khác» của người bạn mình Theo ông, điều người ta cần phải học hỏi ở ông Nguyễn Hữu Thu là từ một người thợ cạo giấy, ông đã làm việc chăm chỉ và tích lũy để trở thành một nhà thầu khoán thành công Không những thế, ông còn tự nguyện biến căn nhà của mình thành trụ sở Hội Trí tri, dốc tiền của để dạy cho trẻ em tập đọc tập viết Đó là một con người đáng kính trọng vì « sự thành công đã làm ông Thu trở nên thanh cao, chứ không làm ông bị thổi phồng lên vì tự cao tự đại» [123]
Nguyễn Văn Vĩnh kính trọng Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Hữu Thu vì đó là hai tấm gương về sự thành công và về tinh thần phụng sự xã hội: «Hai ông cùng có nghị lực giống nhau, cùng có một đầu óc bướng bỉnh, cùng có một đức tính kiên trì, cùng có một sự khinh thường các thành kiến, cùng có một cách đối xử đúng đắn trong quan hệ với những người lao động nhỏ » [123]
Có lẽ sẽ không phải là thừa khi đề cập tới các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh về những con người nói trên Bởi muốn đánh giá một con người, cần phải chú ý đến những người bạn mà họ kết giao, những người mà họ ngưỡng mộ Chính tính cách thẳng thắn, yêu
Trang 31ghét rõ ràng, công tư phân minh đã tạo nên một nhân cách riêng của Nguyễn Văn Vĩnh khiến cho những người trí thức cùng thời với ông, ai ai cũng kính trọng
Trong Văn thi sĩ tiền chiến, Nguyễn Vỹ, người lúc trẻ từng nhiều lần hầu chuyện với
Nguyễn Văn Vĩnh, cũng viết : «Nguyễn Văn Vĩnh rất là bình dân, giản dị, không khiêm tốn một cách giả dối mà cũng không kiêu kỳ trịch thượng Nói thẳng thắn điều gì cần phải nói, quan niệm thế nào thì nói ra thế ấy, không cần văn chương bóng bẩy, không dè dặt, rào trước đón sau, không quanh co khúc khuỷu, không nham hiểm Nguyễn Văn Vĩnh rất trung thực, không nịnh ai mà cũng không ưa ai nịnh mình, không tuỳ thời, chỉ tuỳ mình Ông chủ trương
lẽ phải của ông, không có lý lẽ nào khác đánh đổ được ông » [90 ;26]
Tính cách này của Nguyễn Văn Vĩnh cũng được Thiếu Sơn thừa nhận : « Ông Vĩnh làm với Tây mà vẫn không sợ Tây, không nịnh Tây mà lại có ý chống Tây », « chính tôi cũng
đã gần ông Vĩnh, thấy ông rất tự nhiên, rất khoáng đạt, không giả nhân, giả nghĩa, không thích đóng kịch và cũng không ưa Tây » [59 ; 92]
Về sự kiện Đông Kinh Nghĩa Thục bị đàn áp đã khiến nhiều người ngộ nhận Nguyễn Văn Vĩnh là tay chân của Pháp, thì Thiếu Sơn lại có cách lý giải khác : « tôi tin chắc rằng ông Nguyễn Văn Vĩnh có thể đầu hàng mà không phải là người phản bội Đầu hàng cũng không tốt đẹp gì nhưng còn nhẹ tội hơn phản bội nhiều lắm Ông là người được thực dân hiểu biết và muốn dùng
Ông không muốn để cho chúng lợi dụng Ông muốn về phe những người ái quốc để làm chung một việc gì có ích cho nước, có lợi cho dân Nhưng thực dân không dung túng một việc làm như thế Chúng khủng bố phong trào nhưng chúng cũng còn muốn giữ ông lại để dùng vào việc khác
Ông là người khôn ngoan, quyền biến, ông cũng muốn còn có cơ hội để hoạt động, nếu không ích cho đời thì cũng lời cho ông chứ không phải là con người tận tuỵ với thực dân một cách mù quáng như nhiều kẻ khác, trong đó có Phạm Quỳnh » [59 ; 93]
Thiếu Sơn nhìn thấy thấu suốt hai phương diện của con người Nguyễn Văn Vĩnh :
« Ông là con người xuất chúng, có chí lớn có tài cao, khi chưa đụng với thực tế cũng muốn lấp bể, vá trời nhưng sau khi đã thấy rõ không thoát khỏi kìm kẹp của thực dân thì chỉ nghĩ cách làm sao thi thố hết khả năng của mình trong khuôn khổ
Ông không phải là con người cách mạng nên chưa thấy cần phải hậu thuẫn của quần chúng Ông cũng không là nhà ái quốc chơn thành nên chưa thấy cần phải hy sinh cho đất nước Nhưng ông là con người biết tự trọng nên thấy không cần bán nước để cầu vinh » [59 ; 94]
Chính sự mâu thuẫn trong tính cách này cũng góp phần tạo ra bi kịch của Nguyễn Văn Vĩnh
Vào những năm 30 thế kỷ trước, nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng trầm trọng, ảnh hưởng đến sức tiêu thụ, sản xuất đình trệ, các ngành nghề, trong đó có nghề in, đều gặp nhiều khó khăn Đầu năm 1936, bị Ngân hàng gây sức ép bán đấu giá tài sản, ông phải sang Lào đi tìm vàng để trả nợ
Chuyến đi thứ nhất dở dang vì ông bị bệnh, phải về Hà Nội điều trị một thời gian mới hết bệnh Sau đó, ông lại ra đi lần nữa Ngày 01-5-1936, ông chết trên một con thuyền độc mộc trên dòng sông Sê-băng-ghi, bản Ban-san-khup, ở Tchépone (Lào), ngày nay vẫn chưa rõ nguyên nhân.Chính quyền Pháp lúc đó thông báo ông chết vì bệnh kiết lỵ Nhưng gia đình
Trang 32ông nghi ông bị đầu độc, vì khi người thân sang Lào đưa xác ông về, thì thi thể ông bị tím đen, chỉ nhờ vết sẹo trên người mới nhận ra được
Cho dù là vì lí do nào, cái chết ấy cũng là một kết thúc bi kịch Như là sự mỉa mai của
số phận, một con người suốt đời làm việc với bao niềm hăng say để chứng tỏ cho những người đồng bào của mình thấy được sự cần thiết học tập lối sống khoa học và y học phương Tây lại bỏ thân cùng với căn bệnh kiết lỵ không được chạy chữa đến nơi đến chốn! Một nhà báo nổi tiếng, ông chủ của hàng loạt tờ báo và nhà in cuối cùng lại kết thúc cuộc đời không một xu dính túi, đúng theo nghĩa đen của nó
Đám tang Nguyễn Văn Vĩnh được tổ chức trọng thể tại trụ sở Hội Tam Điểm, Hà Nội,
mà ông là hội viên, như đã nói trên kia, với hai vạn người tham dự Cái chết bi đát và đột ngột của ông gợi lên lòng thương tiếc của nhiều người, thể hiện qua các điếu văn trình bày tại tang
lễ
Trong điếu văn đại diện báo giới miền Bắc, nhà văn nhà báo Phan Trần Chúc viết :
« Nguyễn tiên sinh lúc nào cũng giữ thái độ cương trực quả quyết Trong khi nói chuyện thường, hay giữa các cuộc tranh luận tại nghị viện, tiên sinh không bao giờ ngại ngùng mà không nói thẳng bằng những câu nói mạnh mẽ, thành thật khiến cho người nghe cũng phải kính phục Tiên sinh sở dĩ để lại được cái văn nghiệp rất quý báu cho đời sau, hầu hết là nhờ ở trí thông minh, đức mẫn cán và tài quan sát Không một môn học nào tiên sinh không xem xét Không một sự vật gì tiên sinh không tìm cách thấu hiểu Cho mãi đến lúc về già, tiên sinh vẫn dụng công làm việc : viết báo, viết sách một cách chuyên cần như khi còn trẻ ».[63 ;34] Bài điếu văn đã bày tỏ lòng thương tiếc đối với Nguyễn Văn Vĩnh : « Chúng tôi không thể nén sự đau lòng, khi phải đưa đến chỗ ở cuối cùng một nhà ngôn luận, một nhà đại văn hào trọn đời đã hy sinh cho lý tưởng Cái lý tưởng ấy là mưu việc tiến hoá cho dân tộc Việt Nam bằng sự cải cách về tư tưởng và văn học Sự đau đớn của chúng tôi càng gấp bội hơn nữa Vì đối với chúng tôi, Nguyễn tiên sinh là anh trưởng, là bậc nguyên huân trong làng báo Cái danh vọng của tiên sinh 30 năm nay đã lừng lẫy khắp cõi Đông Dương ; không một nhà trí thức Việt Nam nào là không biết đến tiên sinh, vì đã đọc văn của tiên sinh tranh biện rất hùng hồn trên các diễn đàn của các viện dân cử Cái đời oanh liệt của tiên sinh kết tạo bằng can đảm và nghị lực sẽ là một cái gương rất tốt cho chúng ta và nhiều đời về sau ta nữa ».[63 ;30]
Điếu văn của đại diện Hội Phật giáo Bắc Việt mà Nguyễn Văn Vĩnh góp phần sáng lập,
do học giả Bùi Kỷ trình bày, cũng khẳng định : « Ông là một người có tài lỗi lạc, có trí hùng nghị, có học vấn uyên bác, có tư tưởng siêu việt, có bản lĩnh chính đại Cổ nhân có câu :
« ngôn hành bất quy ư tâm, bất phục ư tâm, bất ma ư thế » Ông thật xứng đáng với câu này vậy Ông là người hấp thụ trước nhất được những phần hay phần đẹp trong văn hoá Âu châu
mà nước Pháp đã đem sang cho ta, mà lại biết bảo tồn những điều nên giữ nên theo ở trong văn hoá của Á Đông » [63 ;36]
Nguyễn Văn Vĩnh là người nặng tình với quê hương Năm 1927 ông đã xin phép Nhà nước cho mở một trường học tại làng Phượng Vũ quê hương ông và mời các quan khách ở Hà Nội về dự lễ khánh thành Trong cư xử với bà con ở quê, ông luôn kính trọng người già, khoan hoà đối với người trẻ, nên được dân làng quý mến, thể hiện qua bài điếu văn do ông giáo học Phạm Hoàng Chung trình bày : « Dân làng đối với ông, ai nấy đều kính mến, vì ông
là người có đủ tài đức Năm 1921, chính phủ thực hành cải lương hương chính, dân làng thoả thuận bầu ông ra làm chánh hương hội Ông cũng biết thừa rằng công việc ấy dù có phiền
Trang 33phức khó khăn cho ông, nhưng ông lại nghĩ tới chỗ quê cha đất tổ mà ông lấy làm vui lòng nhận ngay » [63 ;42]
Những nỗ lực của ông trong việc phổ biến học thuật, nâng cao dân trí đã tạo nên những tình cảm tốt đẹp trong lòng những người quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà Khi
ông mất, báo Khuyến học đã có bài thơ điếu :
Nghe tin ông Vĩnh mới qua đời, Sùi sụt thương ông hạt lệ rơi
Công nghiệp văn chương còn để lại, Quốc dân hâm mộ hãy còn dài
Thương ông xin gắng chí theo ông, Yêu nước cùng nhau nghĩa vụ chung
Bút mực hỏi ai mong báo quốc, Soi gương chí sĩ ráng nên cùng
Văn đàn học giới nước Nam ta, Sao được như người mới thật là…
Một nước văn minh trên thế giới : Hỡi ai học giả tính sao mà…
Bởi mong cho nước được bằng người, Ông Vĩnh chăm lo suốt một đời
Đem óc, đem lòng dâng tổ quốc, Thương ông ta phải gắng theo đòi…[63 ;27]
Điếu văn của báo Trung Bắc lại nhấn mạnh tới tính bi kịch trong cái chết của Nguyễn
Văn Vĩnh, một «anh hùng không gặp vận» :
Anh hùng không gặp vận, mấy mươi năm phấn đấu phong trào ;
Tạo vật khéo trêu ngươi, năm nhăm tuổi giã từ nhân thế
Mở cờ đầu trong báo giới, công quốc văn còn mãi nghìn thu ;
Trang 34Treo gương sáng cho quốc dân, làng chính khách dễ tìm mấy kẻ !
Trời Lào bụi thẳm ; Bến Nhị mây mờ
Đọc lại văn xưa ;
Tiếc thay ! người ấy
Ô hô !!! [63 ;29]
Nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết: cái chết của Nguyễn Văn Vĩnh là «cái chết đau thương »
Quả đúng là như vậy ! Tính cách tạo nên số phận : chính tính cách quyết đoán, tự do và máu phiêu lưu đã dẫn đến bi kịch của Nguyễn Văn Vĩnh vào cuối đời Nhưng bi kịch cá nhân cũng phản ánh bi kịch thời đại Sự bế tắc về chính trị và khủng hoảng về kinh tế đã không thể cho
cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh một « giải pháp » để hoàn tất sự nghiệp của mình Báo Trung Bắc
có lý khi xem ông là « anh hùng không gặp vận » Có thể nói ông không chỉ phá sản về kinh
tế mà còn « phá sản » cả về chính trị Giá như ông sống qua năm 1936, khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, tình hình có thể sáng sủa hơn chăng và ông có điều kiện thuận lợi để
làm văn hoá, xuất bản và báo chí hơn chăng
Dù sao đấy cũng chỉ là giả thiết Điều có thể ghi nhận được là kết thúc của Nguyễn Văn Vĩnh «đẹp» hơn là kết thúc của Phạm Quỳnh Đám tang của ông với hàng vạn người tham dự là một bằng chứng Và điều quan trọng nữa là nếu ông đã thất bại về chính trị và kinh
tế, thì sự nghiệp văn hoá và văn học mà ông để lại, cùng với độ lùi của thời gian, người ta càng nhận ra tầm vóc của nó
Đương thời, báo Sài Gòn đã nhận ra điều này : « Đối với nền văn học, ông Vĩnh là
người thấy rõ con đường để đi, đã nhận rằng cái nền học mới đúc còn thiếu thốn của chúng ta, cần phải kiếm thêm nhiều tài liệu ở xứ ngoài, đem về bồi bổ kiến thiết mới vững vàng chắc chắn được Nhưng không phải như mọi người chỉ nhận thấy, chỉ than tiếc rồi thôi Thấy khuyết điểm, ông Nguyễn Văn Vĩnh ra công lo bổ túc Mấy năm trời ông cặm cụi dịch những
bộ sách hay và hữu ích của phương Tây để giúp cho việc mở mang kiến thức của anh em trong nước ».[63 ;51]
Báo Đuốc Nhà Nam cũng ghi nhận : «Một bức thư cứu mạng cụ Tây Hồ, khí phách
ấy ta làm gì thấy được trong làng tân niên thiếu ; dập hũ rượu, ra công trong nghị viện, tâm trường ấy ta còn thấy phơi bày giữa báo chương, nào tiên sinh có phụ gì đời đâu ? Huống chi, đương đầu với thiên hạ mà không chút khuất nhục đến cho thân, dứng trước mặt lợi danh mà vẫn giữ được cái bản sắc người quân tử Thà tìm vàng ở chốn rừng xanh, không thà bới tiền ở những cái ân huệ, tiên sinh vẫn là người đáng quý mà !
Nếu trong trường chính trị cần người ở chỗ thập toàn, thì tiên sinh vẫn có cái đáng than, chớ như cần người ở chỗ có lương tâm thì tiên sinh thật là người đáng quý
Huống chi về văn học giới nước nhà, tiên sinh lại là một tay cự phách; về báo giới nước nhà, tiên sinh lại là một bậc tiền khu ».[63 ;53]
Nhà văn Vũ Bằng có lần kể lại rằng trong nhà Nguyễn Văn Vĩnh ở Bưởi, chủ nhân đã
cho khảm xà cừ trên mỗi chiếc bàn, chiếc ghế một dòng chữ Ve sầu kêu ve ve suốt mùa hè, là
câu thơ ông dịch từ La Fontaine Phải chăng Nguyễn Văn Vĩnh muốn ngụ ý rằng đời mình cũng như một kiếp ve sầu « chỉ biết cho mà không biết lấy, chỉ biết sống cho người khác mà không giới ý đến đời chính thân mình, chỉ biết làm việc rồi héo hắt đi mà chết, không mong được ai hiểu hết » [5 ;80].Thật ra, Nguyễn Văn Vĩnh không phải là người không biết hưởng
Trang 35thụ, nhưng ông chủ yếu là một con người hành động, muốn làm việc, muốn tác động đến xã hội, đến cuộc sống của nhân quần
Vì vậy, có thể nói, cùng với việc để lại một sự nghiệp văn hoá và văn học đáng cho ta nghiên cứu, Nguyễn Văn Vĩnh còn để lại một tấm gương về tư chất của người trí thức dám làm và dám chịu trách nhiệm về những hành động của mình trong hoàn cảnh khắc nghiệt của lịch sử
CHƯƠNG 2:
SỰ NGHIỆP VĂN HỌC CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH
Văn học là một phần trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh và đó là phần quan trọng nhất Chính văn học đã hóa giải những bi kịch của Nguyễn Văn Vĩnh Người ta có thể phủ nhận ông về mặt chính trị nhưng những đóng góp của ông về mặt văn học, văn hóa là không thể chối cãi Trong bài viết về Nguyễn Văn Vĩnh, tác giả Tân Phong Hiệp nhận định: “Về con người chánh trị của Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều người cho rằng lập trường ông không mấy vững, và do đó mà sự nghiệp về chánh trị chẳng có gì đáng kể Nhưng hàng ngàn người như một đều công nhận sự nghiệp làm báo và dịch văn của ông”.[31]
2.1 Nguyễn Văn Vĩnh-nhà văn chính luận
Các tác phẩm chính luận chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh Ông đã có hàng ngàn bài viết với nhiều chủ đề khác nhau ở thể loại này Với bút lực dồi dào, sự đa dạng trong phong cách, sự tinh nhạy trong việc nắm bắt các vấn đề của đời sống được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ hiện đại, phong phú, ông đã chứng minh rằng không có chủ đề buồn tẻ, vấn đề là người viết có đủ tinh nhạy, đủ tài năng để nắm bắt được những ý nghĩa ẩn bên trong nó hay không Nhiều bài viết của ông, cho đến nay vẫn mang hơi thở của thời đại và còn nguyên giá trị Có thể nói rằng, Nguyễn Văn Vĩnh là một tài năng hiếm có trong làng báo Việt Nam đầu thế kỷ 20
2.1.1 Nguyễn Văn Vĩnh bàn về văn hoá và giáo dục
Trang 36Theo những người từng tiếp xúc với Nguyễn Văn Vĩnh, ấn tượng mạnh nhất về ông qua các câu chuyện là ông muốn xây dựng một nước Việt Nam thực sự hiện đại, phát triển như là Châu Âu Điều làm ông bận tâm hơn cả là ghi tên Việt Nam lên bản đồ các nước
“văn minh” Để làm được việc đó, ông ra sức cổ vũ chữ quốc ngữ, hô hào người dân học nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh, chăm sóc sức khỏe theo cách của người phương Tây Ông cũng dịch nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Pháp ra tiếng Việt để giới thiệu cho công chúng Việt Nam một nền văn hóa khác, hòng mở mang sự hiểu biết của họ Thế nhưng ông không phải là người vọng ngoại Ở Nguyễn Văn Vĩnh không có cái tự ti của người dân một nước thuộc địa Điều này khiến một số người Pháp khi tiếp xúc với ông vừa khó chịu nhưng cũng vừa kính trọng Với ông, tiếng Pháp là “tiếng để tranh luận” Giỏi tiếng Pháp là cách để hiểu họ, tranh luận với họ và làm cho họ hiểu về mình Chính vì vậy, ông tự nhận về mình vai trò là chiếc cầu nối cho hai nền văn hóa Đông Tây chứ không đơn thuần chỉ là người cổ vũ cho văn hóa Pháp
Về khía cạnh này, E Vayrac – người kiểm duyệt báo chí Bắc kỳ và cũng là bạn thân của ông - nhận xét: “Sự thiếu hiểu biết của người Pháp đối với người An Nam chắc chắn là ghê gớm, còn sự hiểu biết của người An Nam đối với chúng ta thì thật kỳ dị, hoang đường, không thể tưởng tượng được Người An Nam, dân An Nam, quần chúng An Nam hoàn toàn không biết gì về chúng ta, tuyệt đối không Đại đa số không hiểu gì về chúng ta (…)Ngay từ đầu, tôi đã có may mắn kết bạn với một số người An Nam xuất chúng, nhất là với ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn An Nam lớn nhất trong thời đại của chúng ta Chính ông đã khiến cho tôi dần ước lượng được cái vực thẳm ngăn cách chúng ta với quần chúng An Nam Và chúng ta đã tự hỏi bằng cách nào chúng ta sẽ đi tới chỗ xóa được sự không thông cảm hoàn toàn này (1937) [103]
Là một người đi nhiều, đọc nhiều, có vốn sống và hiểu biết, hơn ai hết, Nguyễn Văn Vĩnh hiểu rằng mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa mang diện mạo đặc thù khác nhau Không có nền văn hóa lớn và nền văn hóa nhỏ Trong các bài viết của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đề cao giá trị văn hóa dân tộc, một nền văn hóa lâu đời với bao thăng trầm của lịch sử, những điều đã tạo nên đặc trưng của tâm hồn, tính cách của người Việt Nam
Từ cách nhìn đó, ông chỉ ra cho người ta thấy rằng, cách ăn mặc, phục sức, giầy dép của người An Nam mang nét đẹp văn hóa của một dân tộc trồng lúa nước và chăm lao động Người Việt Nam bấy giờ đa phần là đi chân đất Tất nhiên là họ cũng biết những tiện lợi mà giầy dép mang lại, nhưng một phần vì không có tiền để mua, khi mà những thứ thiết yếu khác của cuộc sống đòi hỏi phải ưu tiên hơn, phần vì đặc thù của công việc đồng áng mà họ phải làm hàng ngày để nuôi sống mình Đối với họ, giầy dép là một sự tiện nghi chứ không phải là biểu hiện của sự vệ sinh Nếu không hiểu được điều này, có lẽ những người phương Tây sẽ cho rằng dân tộc của chúng ta là một giống người man di mọi rợ
Sẽ không phải là nói quá, bởi sự khác biệt về văn hóa sẽ dẫn đến nhận định đó, khi
mà “tất cả những dân tộc văn minh ở Châu Âu đều đi giầy dép và ngay cả người Trung Hoa
mà chúng ta có chung một nền văn hoá cũng đi giầy dép”[157] Và ông Vĩnh đã chỉ ra rằng, mọi việc không thể đánh giá đúng nếu như không hiểu được bản sắc văn hóa được tạo nên từ thói quen của một dân tộc: “Người An Nam đã khám phá ra là giầy dép, nhất là giầy kín có bít tất, là một nơi để tiếp nhận và ấp ủ những bẩn thỉu, để tránh không phải nói là vi trùng Họ quay đầu đi và nhổ nước bọt khi thấy một người Trung Hoa cởi giầy và tụt bít tất ra Họ thấy
là vệ sinh hơn khi giữ cho hai bàn chân lúc nào cũng ở ngoài không khí tự do, chỉ cần dội nước sạch những nhơ bẩn bám vào chân, mỗi khi người ta đi vào trong nhà Cái ao có bắc một tấm ván làm cầu ao, có một cái sào để vịn được làm để rửa chân Người Châu âu rửa tay trước
Trang 37khi ngồi vào bàn ăn Người An Nam rửa hai bàn chân trước khi đi vào nhà ngồi lên giường sập”.[157]
Và với một giọng đầy tự hào, ông chỉ ra vẻ đẹp của người nông dân với đôi bàn chân đất khi họ lao động để tạo ra của cải Đó là vẻ đẹp cảm động của một dân tộc chịu thương chịu khó, hay lam hay làm, gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên như là máu thịt,
là nguồn gốc của truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm bất khuất của ông cha: “Giày cao
cổ và bít tất nhất định là một tiện nghi phải đạt tới Nông dân của chúng ta biết rất rõ đấy là những dấu hiệu của sự đầy đủ Nhưng vấn đề là phải đầy đủ đã, trước khi tỏ ra bằng những dấu hiệu Vì rằng bùn lầy của những ruộng lúa phải được khuấy lội hàng ngày nếu người ta muốn có được cái gì mà ăn Ngày nào mà tất cả những người An Nam sẽ có giầy dép mà đi, thì những đầm lầy và những vùng không có mương khơi nước này sẽ không được cày cấy nữa”.[157]
Khám phá ra vẻ đẹp văn hóa từ một thói quen vô cùng bình thường của đồng bào mình, Nguyễn Văn Vĩnh phải là một người tinh tế, yêu quê hương và thấu hiểu đến tận cùng tâm hồn của dân tộc Những câu ông viết về hình ảnh người nông dân với đôi bàn chân đất đẹp như một bản hùng ca về những người lao động giản dị nhưng bất khuất và cũng đầy kiêu hãnh:
“Ông nội tôi đã gài chặt đôi dép vào thắt lưng để đi về làng, và chỉ đi dép trở lại một khi đã về tới nhà Lớp đá trải đường được mặt trời nung nóng lên của con đường cái quan đối với ông tôi mềm mại như là trải thảm Đi chân đất trên đường rất là dễ chịu, không cần phải có giầy dép để làm mòn đế giầy vô ích Ông chỉ đi giầy để chứng tỏ cấp bậc của mình đã đạt được, chứ không phải để dùng như một tiện nghi bảo vệ chân”.[157]
Văn hóa không chỉ là vẻ đẹp đơn thuần của truyền thống được sơn son thếp vàng Nó
là một cuộc sống đầy sinh động của dân tộc kéo dài từ quá khứ đến hiện tại và nối tiếp đến tương lai Những bài viết của ông Vĩnh ít nói đến những nét đẹp văn hóa mà người ta đã bàn nhiều, nói nhiều, ca ngợi nhiều Ông viết về những điều giản dị người ta có thể bắt gặp mỗi ngày trong đời sống nhưng không ai có thể phủ nhận được đó là nét riêng của tâm hồn, tính cách Việt Nam Dù rằng những điều đó có khi mang cả nỗi cay đắng và ngậm ngùi bởi sự nghèo khó còn bủa vây Nhưng nếu nói về văn hóa mà thiếu đi sự khốn khổ truyền đời của dân tộc, thiếu đi những điều đã làm nên niềm vui nỗi buồn, những lo toan, những niềm hạnh phúc của những người nông dân quanh năm dầm mưa dãi nắng hay người phu kéo xe “dốc thở giữa hai hàng xe kéo” thì vẫn là chưa đủ
Là một học giả uyên bác, nhưng lại xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, phải ra thành thị kiếm sống, sự gần gũi với những người lao động nghèo khổ cộng với những hiểu biết của ông về văn hóa, xã hội khiến ông có một cái nhìn khá tinh tế về đời sống, về những người lao động lam lũ xung quanh mình
Trong bài viết “Những vấn đề đời sống vật chất của người An Nam” (Les problèmes
de la vie matérielle chezles Annamites) đăng trên L’Annam Nouveau số 133 ngày 8/5/1932,
Nguyễn Văn Vĩnh cho thấy cái nhìn khá sâu sắc đối với quan niệm về các giá trị của người dân An Nam Đó là một dân tộc mà “sự nghèo khổ của chúng ta không phải bao giờ cũng là vì thiếu thốn những thứ cần thiết”
Ông khám phá ra rằng trình tự cấp thiết về những nhu cầu của chúng ta khác hẳn với
cách nhìn nhận của người Châu Âu Đối với rất nhiều người lao động nghèo khổ trên mảnh
đất An Nam này, vấn đề ăn là thứ yếu, ngay cả đối với những người ở cấp bậc cuối cùng của
xã hội, mặc dù là họ luôn luôn bị đói Cả chuyện nhà ở và cái mặc cũng thế Họ tự nhủ rằng
Trang 38người ta không chết vì những vấn đề đó Bởi đối với họ “một mớ giẻ rách làm khố che thân như thế là đủ rồi Còn cái ăn chỉ thiếu cho những người thật sự lười Ngay cả những thằng cu
bé tí ti, được trang bị bằng một dụng cụ thô sơ, cũng có thể kiếm được ở trong vũng nước đầu tiên, những đầm ao dọc theo đường đại lộ, ngay cả trong nước bùn của ruộng lúa, những con vật bé nhỏ; con tôm con tép, con cóc con ếch, bất cứ con gì cũng là thức ăn nuôi sống con người bổ béo, lại còn có thể bán đi lấy năm xu hay một hào Điều đó chỉ cần một giờ lao
“…đối với họ, sự khổ sở không phải là một ngày thua lỗ, không có cái gì ăn, không có cái quần đùi rách mướp mà mặc Mà là không có một người vợ để nhanh chóng đẻ cho anh ta một đứa con thừa tự, mà là phải bốc mộ tổ tiên, đang đe doạ bị cuốc lên vì nhát cuốc của một anh phu làm đường, hay là những rễ cây của cây đa ở bên cạnh mộ xâm nhập vào; mà là người mẹ già sắp chết và không có cách nào giết một con lợn để cho cả làng ăn; mà là ông bố thọ 60 tuổi vào đầu sang năm không có cách nào trả nợ miệng; mà là trách nhiệm của anh phải tham dự đám rước hội làng vào mùa thu, không có lấy một cái thắt lưng điều và một cái
áo dài; mà là không có tiền mua pháo cho lũ trẻ; mà là không biết bao nhiêu việc nữa”.[143]
Đúng như Nguyễn Văn Vĩnh nói, muốn hiểu sâu được tâm hồn người An Nam thì phải hiểu được những điều tạo nên niềm vui nỗi buồn của họ Vì sao họ lại lo lắng về những chuyện tưởng không phải thật là cấp thiết? Vì “nhân dân ta có một nền văn hoá tinh thần mà
ở các nơi khác trên quả đất này không biết đến…người cu li kéo xe thấp hèn nhất đổ mồ hôi
và dốc hơi thở giữa hai hàng xe kéo, cũng có những việc phải lo thuộc về mặt tình cảm, nó làm cho họ đẩy lùi vào hàng thứ yếu những vấn đề nhỏ như đói bụng và rét run ” [143] Nền văn hóa tinh thần ấy tồn tại bao đời nay, là đặc trưng cho nếp sống của người Việt Nếp sống coi trọng những giá trị tinh thần, mang nặng tính cộng đồng làng xã Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình Cuộc sống gắn bó với nghề nông vốn phụ thuộc vào thiên nhiên buộc người dân phải liên kết với nhau, dựa vào nhau mà sống Chính vì thế, chúng ta coi trọng mối liên hệ với họ hàng, dòng tộc, làng xóm; coi trọng tới mức “bán anh em xa, mua láng giềng gần” Điều này khác hẳn với phương Tây, nơi mà vai trò của cá nhân được đề cao K Marx đã từng nhận xét một cách hài hước rằng nông thôn phương Tây
là một cái “bao tải khoai tây” (trong đó mỗi gia đình là một củ khoai tây) [76]
Trong những giá trị tinh thần ấy, thì việc thờ cúng ông bà, tổ tiên có một vị trí vô cùng quan trọng Nó như là một thứ tôn giáo, một nghi thức đạo dức của người Việt Dù giàu hay nghèo, khi bước vào nhà của một gia đình, ta đều thấy bàn thờ tổ tiên được bày ở vị trí trang trọng nhất Không phải là mê tín, đúng hơn, nó là sự thành tâm, là cách bày tỏ lòng hiếu thảo đối với những bậc tiền nhân đã sinh ra mình Nó tạo ra một mối liên kết vô hình giữa đời này với đời kia, tạo nên một tình cảm ràng buộc, làm cho người ta thấy vững dạ vì mình có nguồn gốc, tổ tông Người Việt Nam tin rằng, những người thân của mình khi chết đi, không
có nghĩa là họ hoàn toàn tan biến vào hư vô mà linh hồn của họ vẫn còn ở lại để phù hộ, che chở cho người còn sống Bằng việc thờ cúng mà người sống có bổn phận làm tròn, người chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống gia đình mình, được nhắc đến trong những sự kiện trọng
Trang 39đại của gia đình hay các dịp lễ tết.Vì thế, nếu vì lý do nào đó mà không làm tròn bổn phận với người đã mất, đối với một người Việt Nam, đó là một nỗi áy náy vô cùng to lớn Người ta có thể thiếu ăn thiếu mặc nhưng ngày giỗ phải có gì đó bày lên bàn thờ, phải có nén nhang cho người đã khuất Việc mồ mả cũng phải được chăm lo chu đáo Nếu không, họ có cảm giác mình mang tội với tổ tiên Cũng vì thế, sẽ là một nỗi lo lớn nếu họ không có người nối dõi, bởi sau này khi chết đi sẽ chẳng có ai cúng giỗ mình
Tìm hiểu đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, còn phải hiểu được những đặc trưng của làng quê Việt Nam, vì hầu hết người Việt Nam có xuất thân từ nông dân Ngoài tính cộng đồng, làng xã của nông thôn nước ta còn mang cả tính tự trị Làng nào biết làng ấy Mỗi làng có những qui tắc, luật lệ riêng mà các cư dân trong làng đều phải tuân theo Thế nên mới
có câu: “phép vua thua lệ làng” Chính vì phụ thuộc vào lệ làng, phụ thuộc vào các mối quan
hệ tập thể mà người dân phải tuân theo những qui tắc, những phong tục mà “làng” đặt ra, dẫu rằng những qui tắc, những phong tục ấy làm họ nhiều phen điêu đứng Có nghèo đói đến mấy thì đến ngày giỗ cũng phải làm mâm cỗ mà thết “làng”, thực chất là các lý trưởng, hương thôn Rồi nào là ngày mừng thọ, nào là việc ma chay, cưới hỏi v.v… Không làm theo thì lo lắng không bằng người hoặc không trả được món nợ miệng, sợ bị làng xóm chê cười Cố để
mà làm theo thì có khi phải bán cả nhà cửa, ruộng vườn Những thiếu thốn vật chất của bản thân thì họ có thể chịu đựng được, nhưng họ không thể không chu toàn những bổn phận tình cảm với họ hàng, làng xóm
Nếp sống coi trọng tình cảm cộng đồng khiến những dịp lễ hội của làng là những sự kiện vô cùng trọng đại Đó là dịp để người ta gặp gỡ, vui chơi, ca hát, thể hiện tài năng cá nhân…Người ta mong chờ ngày hội làng để khoe áo mới, để gặp mặt người mình yêu… Điều
đó lý giải vì sao người phu xe không lo lắng vì hôm nay mình không có cái gì ăn mà lại buồn phiền vì không có chiếc thắt lưng điều và cái áo dài để mặc trong ngày hội làng vào mùa thu sắp tới
Những sinh hoạt cộng đồng là nét đẹp văn hóa mộc mạc, đáng yêu của dân tộc Việt Nam Và theo như Nguyễn Văn Vĩnh thì “nó làm cho cuộc sống nông thôn trở nên vui thú mặc dù không có chiếu bóng và không có hàng quán Nó làm cho chịu đựng được không đắng
cay những vấn đề vật chất nhỏ nhoi”.[143]
Trong các bài viết về văn hóa phong tục của mình, Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ nói
về văn hóa như là những nét đẹp, những điều đáng tự hào Chen vào đó là cả những nỗi buồn, những nỗi xót xa, trăn trở về cuộc sống nghèo đói của dân tộc Ông luôn lôi kéo người đọc nhìn lại thực trạng của đất nước mình và căn nguyên của nó Nguyễn Văn Vĩnh ít khi kìm chế được cái giọng mỉa mai và chua xót cố hữu của ông, kể cả khi viết về ngày Tết Điều này
thể hiện ở ngay cả tựa đề bài viết: Tết - một phong tục cảm động của một dân tộc đói nghèo (
LE TÊT - Coutume touchante d’un peuple famélique): “Phương ngôn có câu : “đầu xuôi đuôi lọt” Ngày mồng một Tết báo hiệu cách thức cho tất cả những ngày tiếp sau sẽ tới Bởi vì điều cốt yếu là ăn uống cho đầy đủ Người ta phải thu xếp để có cái ăn thoải mái trong ngày Tết, và càng nhiều ngày tiếp theo càng tốt Tất cả những cố gắng được bỏ ra, để làm được xong trước ngày Tết, đều được tính vào chi phí của năm trước nó đã kết thúc…Có phải điều đó đã giải thích được tất cả ý nghĩa của Tết? ”.[138]
Trong bài viết của ông, tất cả các phong tục hiện lên một cách chân thực và nhuốm một nỗi ngậm ngùi Giống như một bức tranh sinh hoạt mà ta vẫn thường bắt gặp đây đó mỗi khi những ngày cuối năm đang qua nhanh Trong đó, có những con người tất bật lo toan, chạy xuôi chạy ngược để thanh toán nợ nần, sắm sửa một chút gì đó để những ngày đầu năm mới được thong dong và có thể hy vọng vào một năm mới no đủ, hạnh phúc: “Người ta trả những
Trang 40món nợ có thể trả trước được; người ta đòi những món nợ, người ta mua từ trước đủ thức ăn cho nhiều ngày; người ta chế biến thành những thức ăn sẵn để không phải nấu bếp nữa, ít ra cũng để tiết kiệm được tối đa sức lao động trong suốt ba ngày Tết mừng năm mới
Sau thức ăn, quần áo cũng là công việc phải lo cho mấy ngày Tết đầu năm mới Người ta chuộc lại những quần áo đã đem cầm ở nhà cầm đồ; người ta đi may những quần áo mới, nếu
có đủ điều kiện để may được Và trong công việc lo toan này, số lượng là ưu tiên trước chất lượng hay vẻ đẹp Người cu li xe khốn khổ tự bằng lòng mình được đảm bảo có ít nhất một cái áo tây cũ, hoặc chí ít một cái khố mới hơn so với cái vẫn mặc hàng ngày Cuối cùng, người ta cố gắng ăn ngon hơn và nhiều hơn như người ta vẫn ăn, và mặc lên mình nhiều hơn như người ta vẫn mặc Trong cái ảo tưởng dịu dàng đó, sự đầy đủ của những ngày đầu năm sẽ báo trước sự đầy đủ của những ngày tiếp theo sau, và của tất cả những ngày tiếp theo sau nữa”.[138]
Có lẽ Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng Tết là một phong tục cảm động cũng chính là vì ý nghĩa nhân văn của nó Phải có một cột mốc nào đó về thời gian để nhắc nhở cho người ta biết cái hữu hạn của cuộc sống Đối với những người bất hạnh, nghèo khó, sự kết thúc và sự mở đầu càng có ý nghĩa Người ta hy vọng rằng những khổ sở đã ở đằng sau và phía trước sẽ là một tương lai tốt đẹp hơn Ngày Tết mở ra một hy vọng mới, tiếp thêm sức mạnh để họ chống chọi tiếp tục với cuộc sống khốn khó đang chờ đợi: “Một năm qua đi, đối với đồng bào chúng tôi là một thời điểm có một tầm quan trọng đặc biệt, chính thật nó là sự kết thúc một cái gì Cuộc sống nói chung còn rất nhiều khó khăn làm cho chúng ta phải thất vọng khi tưởng
ra rằng: năm cũ đã hết, và những ngày năm mới là vẫn tiếp tục trở lại những ngày của năm cũ
đã qua, mặc dù là theo kinh nghiệm hoặc là theo tính toán đúng sát thực tế, nói lên cho chúng
ta biết là có rất ít lí do để có thể thay đổi khác đi được”.[138]
Cái nhìn của Nguyễn Văn Vĩnh về phong tục của đất nước mình không chỉ là cái nhìn của một người dân bản xứ thấu hiểu cặn kẽ những ngóc ngách của đời sống, đó còn là cái nhìn của một người đã nắm bắt được vẻ đẹp của một nền văn hóa khác, biết lùi ra một quãng xa để quan sát và chiêm nghiệm, từ đó phát hiện ra những ý nghĩa mới của sự việc Đôi khi đọc các bài viết của ông, ta cảm nhận ông đang quan sát như một người Châu Âu vì những phát hiện của ông rất lạ lẫm, mới mẻ mà nhiều người khác, có lẽ vì đã quá quen thuộc
với những điều ấy nên không nhận ra
Nguyễn Văn Vĩnh nhận ra rằng, ở nước chúng ta, người giàu không hề biết khinh rẻ những cảm xúc của quần chúng nghèo khổ Điều này ngược lại với cách nghĩ của những người thuộc tầng lớp trên đối với những người thuộc tầng lớp dưới trong xã hội Châu Âu Ngày Tết là một dịp đặc biệt cho thấy sự gần gũi của người dân trong một nước Người giàu hay người nghèo cũng đều có những lo toan giống nhau trong ngày Tết về cái ăn và cái mặc Ngày Tết, dường như sự cách biệt của họ đã bị niềm vui che lấp Những người giàu có, sung sướng cùng chia sẻ niềm vui với người nghèo Trong những ngày đầu tiên thiêng liêng đó, bản thân mỗi người dường như cũng tốt đẹp hơn lên Tết, người ta hướng về tổ tiên với lòng thành kính; “người ta ân cần, thân thiện với nhau trong những tình huống mà trong ngày thường đã dẫn tới văng tục và đánh đấm nhau Người ta trầm ngâm nghe niềm vui sướng lan toả theo những trang pháo nổ điếc tai…Những phong tục về ngày Tết, có thể chính vì như vậy
mà trở nên đáng yêu đối với chúng ta Chúng ta thấy ở ngày Tết một bài thơ về những tập quán đơn giản Nó vẫn giữ được sự ngây thơ trong ý nghĩa của nó…”[138]