Bài viết này thể hiện những nghiên cứu bước đầu về việc tiếp nhận đoạn văn trong sự ảnh hưởng của yếu tố thể loại văn bản.. Đối với việc tiếp nhận đoạn văn trong mỗi loại “văn bản nguyê
Trang 1Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
VấN Đề TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI
Phạm Thị Hồng Thắm (a)
Tóm tắt Bài viết này thể hiện những nghiên cứu bước đầu về việc tiếp nhận
đoạn văn trong sự ảnh hưởng của yếu tố thể loại văn bản Đối với việc tiếp nhận đoạn văn trong mỗi loại “văn bản nguyên mẫu”, người đọc cần có những cách tiếp cận riêng,
do đó, sẽ có được sự tiếp nhận đoạn văn nhanh nhất, chính xác nhất, nếu ngay từ đầu người đọc xác định đúng được thể loại của văn bản
1 Đặt vấn đề
Đối với việc tiếp nhận văn bản,
ngoài các câu, đoạn văn là đơn vị trên
câu cần được quan tâm trong các bộ
phận của một văn bản Việc tiếp nhận
đoạn văn (ĐV) là một khâu cơ bản trong
quá trình tiếp nhận văn bản (VB) Nó
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đọc
VB Tiếp nhận ĐV liên quan đến nhiều
yếu tố, trong đó yếu tố thể loại VB ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng của
hoạt động này Bài viết này đưa ra cách
nhìn nhận, xem xét đoạn văn trong
chỉnh thể VB để tiếp nhận ĐV theo thể
loại VB một cách nhanh nhất, có hiệu
quả nhất
2 Văn bản và đoạn văn
2.1 Về khái niệm văn bản và phân
loại văn bản
2.1.1 Về khái niệm văn bản
Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cách
định nghĩa khác nhau về văn bản (text)
Có thể kể ra một số định nghĩa tiêu
biểu như sau:
“VB là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có
khả năng tiềm tàng có thể đọc ra nghĩa
được, bất kể là có do kí hiệu ngôn ngữ
tạo thành hay không Do đó một nghi
thức, một điệu múa, một nét mặt, một
bài thơ đều là VB” (Từ điển thuật ngữ
văn học, tr.394 - 395)
“VB là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời miệng hay lời viết, hoặc lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc,
có đề tài loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ
đường ” [2, tr.37]
“VB là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất
về cấu trúc và độc lập về giao tiếp Dạng tồn tại điển hình của VB là dạng viết.” [10, tr.15]
“VB là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, có tính chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định.” [5, tr.27]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau
về VB nhưng nhìn chung, khái niệm VB
được hiểu trên 2 bình diện: 1/ VB là sản phẩm chỉ của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, 2/ VB là sản phẩm của cả hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ viết lẫn hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói
Đồng thời cũng có thể nhận ra điểm chung trong những định nghĩa về VB như sau:
- VB có thể dài hoặc ngắn khác nhau
- VB có tính hoàn chỉnh về hình thức và nội dung
Nhận bài ngày 12/12/2008 Sửa chữa xong 25/01/2008.
Trang 2Phạm Thị Hồng Thắm TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI, Tr 57-67
- Có một mục tiêu nhất định
Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi
sử dụng khái niệm văn bản theo nghĩa
hẹp: “VB là sản phẩm của hoạt động
giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết,
thường là tập hợp của các câu, có tính
trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về
hình thức, có tính chặt chẽ và hướng tới
một mục tiêu giao tiếp nhất định.” [5,
tr.27]
2.1.2 Phân loại văn bản
VB là đơn vị có các mặt: hình thức,
nội dung và chức năng Vì thế mà việc
phân loại VB cũng có những tiêu chuẩn
khác nhau
Về mặt lý thuyết, các nhà ngôn ngữ
học thường phân loại VB theo phong
cách chức năng Phong cách chức năng
chú ý đến việc dùng lời nói trong các
lĩnh vực hoạt động xã hội Những VB
dùng trong một lĩnh vực hoạt động xã
hội nào đó đều có những đặc trưng, đặc
điểm riêng phân biệt được với những
VB được dùng trong lĩnh vực hoạt động
xã hội khác Các phong cách chức năng
chung nhất gồm có:
- Phong cách hành chính - công vụ
- Phong cách khoa học
- Phong cách báo - công luận
- Phong cách chính luận
- Phong cách sinh hoạt
- Văn bản nghệ thuật Trong văn
bản nghệ thuật, các nhà nghiên cứu
phân chia thành: VB văn xuôi, VB thơ,
VB kịch
Đối với việc dạy - học trong nhà
trường thì xu hướng chung của việc dạy
tạo lập VB là trở về với “VB nguyên
mẫu” Theo giáo sư Diệp Quang Ban thì
“Các loại VB nguyên mẫu là kết tinh
của các cách sử dụng ngôn ngữ lâu đời,
chúng có tác dụng hướng dẫn cách dùng
ngôn ngữ trong mọi trường hợp, không
gắn với một lĩnh vực hoạt động xã hội
riêng biệt nào Nói cách khác, các loại nguyên mẫu có tính phổ quát cao, có tác dụng rộng rãi, có mặt trong mọi loại
VB, kể cả VB nghệ thuật lẫn VB của các phong cách chức năng với tính chuyên biệt của chúng Các loại VB nguyên mẫu không phải là bao giờ cũng phải xét trong toàn bộ VB mà có thể chỉ xét trong một khúc đoạn nào đó của VB” [2, tr 245]
Hiện nay, ở Việt Nam, VB nguyên mẫu được dạy trong nhà trường là: VB
tự sự, VB miêu tả, VB lập luận, VB thuyết minh, VB ứng dụng, VB biểu cảm Tuy nhiên tên gọi các loại VB này
là có tính tương đối Bởi trên thực tế, khó tìm thấy những VB nguyên mẫu thuần khiết Việc gọi tên như trên căn
cứ vào mục tiêu và phương thức biểu
đạt chủ đạo của VB Trong đó “phương thức biểu đạt được hiểu như là cách thức phản ánh và tái hiện lại đời sống (thiên nhiên, xã hội, con người) của người viết, người nói Mỗi phương thức biểu đạt phù hợp với một mục đích, ý đồ phản ánh, tái hiện nhất định và được thực hiện bởi một thao tác chính nào đó Chẳng hạn:
Khi muốn giúp người đọc hình dung
ra được đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong cảnh làm cho đối tượng được nói tới như hiện lên trước mắt người đọc thì người viết phải dùng động tác miêu tả Như thế phương thức miêu tả chính là phương thức dùng động tác miêu tả để phản ánh và tái hiện lại đời sống
Tương tự như vậy, khi muốn biểu hiện tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, thái
độ và sự đánh giá của mình với đối tượng được nói tới thì người viết phải thể hiện, bày tỏ tình cảm, tư tưởng Phương thức này người ta gọi là phương thức biểu cảm
Trang 3Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
Khi muốn tái hiện lại một câu
chuyện đã xảy ra nhằm giải thích sự
việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và
bày tỏ thái độ khen chê thì người viết
phải trình bày một chuỗi sự việc liên
quan đến nhau, sự việc này dẫn đến sự
việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết
thúc Đó chính là phương thức tự sự
Khi muốn làm rõ đặc điểm cơ bản
của một đối tượng, cung cấp tri thức về
các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên
và xã hội thì người nói và viết phải
trình bày, giới thiệu, giải thích một
cách khách quan về đối tượng đó Người
ta gọi đây là phương thức thuyết minh
Cuối cùng, phương thức điều hành
là phương thức dùng các động tác
hướng dẫn, chỉ đạo, sai khiến, ra lệnh,
điều khiển, đề đạt, kiến nghị nhằm
truyền đạt những nội dung và yêu cầu
nào đó từ cấp trên xuống hoặc bày tỏ
những ý kiến, nguyện vọng của cá nhân
hay tập thể tới các cơ quan và người có
quyền hạn để giải quyết” [7, tr.18]
Trong mỗi một VB, người viết có thể
sử dụng từ một đến nhiều phương thức
biểu đạt khác nhau, trong đó có một
phương thức biểu đạt chủ đạo Tên gọi
phương thức biểu đạt chủ đạo đó sẽ
được lấy làm tên gọi cho VB
Đối với vấn đề tiếp nhận đoạn văn,
chúng tôi quan tâm tới sự phân loại VB
theo các nguyên mẫu Bởi lẽ các VB
nguyên mẫu không chỉ hướng dẫn người
ta cách thức chung trong tạo lập VB mà
còn hướng dẫn cách thức chung trong
việc tiếp nhận VB trong đó có đoạn văn
2.2 Đoạn văn và việc phân loại
đoạn văn
2.2.1 Về khái niệm đoạn văn
Trong tiếng Việt, tên gọi đoạn văn
thường được người ta gọi tắt bằng đoạn
Trong khi đó, đoạn có thể dùng để chỉ
đoạn văn, đoạn trích (phần trích bất kì
từ một VB hoàn chỉnh nào), đoạn ý (ví
dụ có thể hỏi: VB này có thể được chia thành mấy đoạn?)
Đối với việc tiếp nhận VB, có 2 cách hiểu:
- ĐV được dùng để chỉ đoạn ý: Theo cách hiểu này thì mỗi ĐV phải có sự hoàn chỉnh nhất định nào đó về mặt nội dung Không có sự hoàn chỉnh ấy sẽ không được coi là ĐV Tuy nhiên, sự hoàn chỉnh về nội dung lại được nhiều người hiểu khác nhau Vì vậy, sự phân
định ranh giới ĐV trong một VB có khi cũng rất khác nhau
- Cách hiểu thứ 2 lại căn cứ vào mặt hình thức: ĐV là đơn vị cấu thành VB,
được tính từ chỗ lùi vào đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu chấm ngắt
đoạn Tuy nhiên, trên thực tế có những người viết không lùi vào đầu dòng khi bắt đầu đoạn, do đó yếu tố kết thúc bằng dấu ngắt đoạn và xuống dòng trở nên quan trọng
Trong bài viết này, chúng tôi quan niệm ĐV theo cả hai cách hiểu vừa có tính liên kết về nội dung vừa có biểu hiện về hình thức
2.2.2 Về việc phân loại đoạn văn
Về mặt lý thuyết, hiện nay các nhà ngôn ngữ học thường dựa trên một số tiêu chí cơ bản để phân loại và gọi tên các ĐV như: tiêu chí cấu tạo của đoạn trong VB, tiêu chí chức năng của đoạn trong tổng thể lớn hơn nó, tiêu chí ý nghĩa Theo đó có thể có các ĐV như sau:
a Theo tiêu chí cấu tạo của đoạn, ta có:
- ĐV mở: là ĐV không khép kín, nó gồm có 2 phần: câu mở đoạn và phần triển khai
Trang 4Phạm Thị Hồng Thắm TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI, Tr 57-67
- ĐV đóng: là ĐV khép kín, nó gồm
có 3 phần: câu mở đoạn, phần triển
khai và câu kết đoạn
- ĐV đóng không có câu mở đoạn
- ĐV chỉ có phần triển khai
- ĐV chỉ được làm thành từ một
câu, trong bản thân nó không phân biệt
được phần mở, phần triển khai và phần
đóng
- ĐV bất thường: là một bộ phận mở
đầu của một câu dở dang, chưa hoàn
chỉnh
b Theo tiêu chí chức năng, ta có:
- ĐV mở đầu
- ĐV triển khai
- ĐV kết thúc
- ĐV chuyển tiếp
c - Theo tiêu chí ý nghĩa, ta có:
- ĐV kể sự việc
- ĐV miêu tả tính cách
- ĐV thuyết minh công dụng
- ĐV nêu quan điểm của người viết
Trên thực tế tạo lập và tiếp nhận
VB hiện nay, người ta còn quan tâm tới
tiêu chí phương thức biểu đạt của đoạn
Theo đó, ta có các tên gọi: ĐV thuyết
minh, ĐV biểu cảm, ĐV nghị luận, ĐV
miêu tả Các loại ĐV này có thể có mặt
ở tất cả các loại VB nguyên mẫu Ví như
ĐV miêu tả, ĐV thuyết minh, ĐV tự sự
có thể có mặt trong VB biểu cảm, trong
VB tự sự có thể có mặt ĐV nghị luận
Tuy nhiên, với mỗi một loại VB nguyên
mẫu, người ta thường thấy các loại ĐV
đặc trưng cho loại VB đó Đặc biệt là xét
theo tiêu chí ý nghĩa của đoạn trong VB
(xem thêm mục 3.2)
3 Vấn đề tiếp nhận văn bản và
đoạn văn
3.1 Vấn đề tiếp nhận văn bản
Tiếp nhận VB là một trong 2 quá
trình lớn của hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ viết (quá trình tạo lập và tiếp
nhận VB) Tiếp nhận VB là một quy
trình gồm nhiều thao tác Có thể khái quát quy trình này với một số thao tác chính như sau:
- Tìm hiểu khái quát về VB: Đây là việc tìm hiểu khái quát các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản sinh VB như nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp (đề tài, chủ đề của VB), cách thức giao tiếp (loại hình của VB, phương thức biểu đạt)
- Phân tích ĐV: đây là một khâu rất quan trọng trong việc tiếp nhận VB,
ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác,
sự sâu sắc trong cách hiểu VB ở người
đọc Khâu phân tích ĐV thường gồm các thao tác chính như:
+ Tìm ý chính của đoạn + Tìm hiểu cách lập luận của
đoạn
+ Phân tích sự liên kết giữa các câu trong đoạn
- Phân tích bố cục và lập luận của toàn VB
Nhìn chung, với các bước như trên
có thể thấy ĐV là phần cần được quan tâm bên trong bố cục VB khi tiếp nhận
VB Và phân tích ĐV là một khâu cụ thể của quá trình tiếp nhận VB Nó nằm trong hệ thống của sự phân tích và tổng hợp
3.2 Vấn đề tiếp nhận đoạn văn trong các VB nguyên mẫu
Để tiếp nhận VB nói chung, đoạn văn nói riêng một cách nhanh nhất, chính xác nhất, người đọc không thể không tính đến yếu tố thể loại VB 3.2.1 Đối với văn bản tự sự Trong VB tự sự, người ta thường bắt gặp 3 loại đoạn văn được gọi tên theo tiêu chí ý nghĩa: Đoạn văn giới thiệu nhân vật; đoạn văn trình bày sự việc; đoạn văn trình bày kết thúc sự việc
Trang 5Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
Đối với việc tiếp nhận ĐV trong VB
tự sự, người đọc cần lưu ý tới các sự
việc, các chi tiết, các hành động của
nhân vật được đề cập trong đoạn Đồng
thời cần quan tâm đến mối quan hệ
giữa các đoạn văn về nội dung được
phản ánh Trong đó, điển hình nhất vẫn
là mối quan hệ nhân - quả giữa các sự
việc Bởi vì, trong các VB này, mối quan
hệ nhân - quả không được đánh dấu
bằng các từ liên kết chuyên dụng như
bởi vì, nên, do đó, bởi thế như ở các
loại VB khác mà người đọc phải biết tự
suy luận qua nội dung của các đoạn Có
thể lấy truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” là
một ví dụ điển hình Đọc VB này, nếu
người đọc chỉ chú ý đến nội dung từng
đoạn mà không biết xâu chuỗi nội dung
của các đoạn theo mối quan hệ nhân
quả thì không thấy hết cái lí giữa các sự
việc Mối quan hệ nhân quả (kí hiệu
bằng -> dưới đây) của câu chuyện có thể
khái quát như sau: Mị Nương là con gái
vua Hùng xinh đẹp, dịu hiền -> vua kén
rể -> có 2 chàng trai đều tài giỏi đến hỏi
Mị Nương -> vua phải thách cưới -> một
người được vua chọn -> người kia nổi
giận -> đánh nhau giữa 2 người -> một
người thua -> người thua luôn muốn trả
thù
Điều quan trọng trong tiếp nhận
VB tự sự là thông qua cốt truyện, người
đọc phải nhận ra ý nghĩa xã hội của VB
Tuy nhiên, ý nghĩa của VB lại được tạo
thành từ ý nghĩa của từng đoạn và mối
quan hệ giữa các đoạn Cần lưu ý nếu
chỉ tiếp nhận từng đoạn văn rời thì
người đọc sẽ không thấy được ý nghĩa
chính xác của từng đoạn Ngược lại, ý
nghĩa của từng đoạn luôn nằm trong
mối quan hệ với cốt truyện Ví dụ, ý
nghĩa giải thích hiện tượng lũ lụt trong
truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh không hẳn
chỉ nằm trong những đoạn nói về sự
việc Thuỷ Tinh và Sơn Tinh đánh nhau
mà nó phải được soi chiếu trong cả câu chuyện, hay ý nghĩa “ước mong của người Việt cổ muốn chế ngự thiên tai”
được thể hiện từ nhiều chi tiết: vua Hùng quyết định thách cưới bằng những lễ vật có tính “thiên vị”, sự việc
để Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh trong cuộc chiến dành Mị Nương, sự việc để Sơn Tinh thắng Thuỷ Tinh trong những lần Thuỷ Tinh trả thù
3.2.2 Đối với văn bản lập luận
ở loại VB này, người ta cũng thấy
có các loại đoạn văn được gọi tên theo tiêu chí ý nghĩa như: ĐV giới thiệu đối tượng nghị luận, giới thiệu quan điểm của người viết về đối tượng (thường là
ĐV mở đầu); ĐV lập luận cho quan
điểm của người viết (những ĐV triển khai); ĐV trình bày kết luận của người viết về đối tượng Và như vậy, hầu hết các các ĐV trong loại VB này đều chứa luận điểm của người viết về đối tượng Vì thế khi tiếp nhận ĐV trong VB lập luận, người đọc cần chú ý tìm cho được luận điểm của người viết trong đoạn là gì thông qua các lí lẽ, dẫn chứng và cách lập luận của tác giả trong đoạn Nói cách khác, đối với việc tiếp nhận
ĐV trong VB lập luận thì việc xác định
được mối quan hệ của các yếu tố trong nội đoạn là điều rất quan trọng để hiểu
ý đồ của người viết Muốn thế, người
đọc cần chú ý đặc biệt tới các tác tử và các kết tử trong lập luận của đoạn Ví
dụ có thể thấy sự khác nhau trong 2
đoạn văn sau:
a “Nhật Bản là nước công nghiệp
đứng hàng thứ hai trong thế giới tư bản chủ nghĩa, nhưng lại là nước hầu như duy nhất thiếu nguồn tài nguyên cơ bản Nền công nghiệp Nhật Bản luôn nằm trong tình trạng khó khăn, phụ thuộc vào nước ngoài.”
Trang 6Phạm Thị Hồng Thắm TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI, Tr 57-67
b “Nhật Bản là nước công nghiệp
đứng hàng thứ hai trong thế giới tư bản
chủ nghĩa, nhưng lại là nước hầu như
duy nhất thiếu nguồn tài nguyên cơ
bản Vì vậy, nền công nghiệp Nhật Bản
luôn nằm trong tình trạng khó khăn,
phụ thuộc vào nước ngoài”(dẫn theo Bùi
Minh Toán [5, tr 44]
Sự khác nhau trong nội dung của 2
đoạn văn trên là do kết tử lập luận “vì
vậy” trong đoạn b đưa lại
Mặt khác, giữa các luận điểm trong
các đoạn văn có thể có cùng cấp độ
nhưng cũng có thể không Điều quan
trọng là phải tìm được các mối quan hệ
có tính cấp độ đó thống qua các từ, ngữ
thể hiện mối quan hệ trong các đoạn
Mối quan hệ ấy có thể là mối quan hệ
tiếp giáp cũng có thể là mối quan hệ
gián cách giữa các ĐV Để tìm được mối
quan hệ giữa các đoạn, dễ nhất vẫn là
tìm hiểu xem đoạn đang đọc có nằm
trong mục, tiểu mục nào hay không
Thông thường, các mục được ký hiệu
bằng các con số, các chữ cái nhưng
cũng có các mục, tiểu mục tuy cũng
được đánh dấu bằng các yếu tố ngôn
ngữ nhưng khó nhận biết hơn Ví dụ:
“Về chính trị, chúng tuyệt đối
không cho nhân dân ta một chút tự do
dân chủ nào
Chúng thi hành những luật pháp
dã man Chúng lập ba chế độ khác
nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản
việc thống nhất nước nhà của ta, để
ngăn cản dân tộc ta đoàn kết
Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường
học Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước thương nòi của ta
Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta
trong những bể máu
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành
chính sách ngu dân
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn
để cho nòi giống ta suy nhược
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm
mỏ, nguyên liệu
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng
Chúng không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.” (Trích Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí
Minh) Phần trích trên có 10 ĐV nhưng chỉ
có thể quy vào 2 mục (mục 1: đoạn 1; mục 2: đoạn 6) Mỗi mục được đánh dấu bằng một cụm từ: về chính trị; về kinh
tế Mối quan hệ giữa 2 đoạn này là mối quan hệ gián cách chứ không tiếp giáp như các đoạn còn lại Các ĐV còn lại có cùng cấp độ và là những luận điểm phụ triển khai 2 mục (2 luận điểm chính) Hoặc người viết có thể không đánh dấu mục bằng những con số, chữ cái, nhưng cách dùng từ, dấu câu, cách trình bày (không lùi vào đầu dòng) cho
ta biết đó là mục hoặc tiểu mục trong
VB (mặc dù nội dung trong mỗi đoạn thường đã có sự hoàn chỉnh) Sau đây là một ví dụ tiêu biểu:
“Đối với người phải:
Với từng người phải khoan thứ Với đoàn thể thì nghiêm
Có lòng bày vẽ cho người
Trực mà không táo bạo
Hay xem xét người
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kĩ càng
Quyết đoán
Dũng cảm
Trang 7Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
Phục tùng đoàn thể.”
(Trích Tư cách người cách mệnh
- Hồ Chí Minh) Phần trích trên có 2 mục (phần in
đậm, không lùi vào đầu dòng) và 9 đoạn
văn
3.2.3 Đối với văn bản biểu cảm
Trong loại VB này, người ta thường
gặp các ĐV gọi tên theo ý nghĩa như ĐV
giới thiệu đối tượng biểu cảm và giới
thiệu tình cảm chủ đạo của người viết
(thường là đoạn mở đầu); ĐV trình bày
phương diện tình cảm của người viết về
đối tượng; ĐV kể, tả về đối tượng
Khi tiếp nhận các đoạn văn trong
VB này, người đọc phải xác định cho
được tình cảm, thái độ của người viết
trong đoạn về đối tượng Muốn vậy, cần
lưu ý cách dùng từ ngữ thể hiện giọng
điệu của người viết về đối tượng trong
đoạn Có thể trong đoạn văn nào đó chỉ
là kể hoặc tả, hoặc giới thiệu về đối
tượng nhưng mục đích người viết vẫn là
để bộc lộ thái độ, tình cảm của mình
Các yếu tố kể, tả, giới thiệu chỉ là cơ sở
để người viết bộc lộ cái tôi trữ tình mà
thôi Vì vậy việc chú ý đến những từ
ngữ biểu cảm, gợi cảm ở trong ĐV của
loại VB này là rất quan trọng Có thể
xét ví dụ sau đây để hiểu rõ hơn những
điều này:
“Cốm là thức quà riêng biệt của đất
nước, là thức dâng của những cánh
đồng lúa bát ngát xanh, mang trong
hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và
thanh khiết của đồng quê nội cỏ An
Nam Ai đã nghĩ đầu tiên dùng cốm để
làm quà sêu tết Không còn gì hợp hơn
với sự vương vít của tơ hồng, thức quà
trong sạch, trung thành như các việc lễ
nghi
Cốm không phải thức quà của người ăn vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại trong cả hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một còn giữ lại cái ấm áp của những ngày mùa hạ trên hồ ”
(Thạch Lam, trong Hà Nội băm sáu phố phường, NXB Đời nay, Hà Nội, 1943) Trong 2 ĐV trên, người viết có sử dụng yếu tố thuyết minh, miêu tả nhưng những từ ngữ được tác giả chọn dùng lại rất biểu cảm Vì vậy, đọc 2 ĐV trên chúng ta thấy thấm đẫm một sự trân trọng, đánh giá cao về đối tượng: cốm
3.2.4 Đối với văn bản miêu tả và
VB thuyết minh Nội dung chủ yếu của các ĐV trong
2 loại VB này thường là miêu tả hay giới thuyết về một phương diện nào đó của đối tượng Vì vậy, khi tiếp nhận ĐV trong những VB này cần chú ý các từ ngữ miêu tả, chính những từ ngữ này cho ta ấn tượng về những đặc trưng của
đối tượng được nói trong đoạn Đồng thời người đọc biết xâu chuỗi nội dung các đoạn lại mới cho ta hình ảnh chính xác về đối tượng
3.2.5 Đối với văn bản ứng dụng (VB hành chính - công vụ)
Đối với việc tiếp nhận ĐV trong loại
VB này, người đọc càng cần phải chú ý
đến thể loại VB Mỗi một kiểu loại của
VB hành chính - công vụ lại có những cách thể hiện riêng theo khuôn mẫu Vì vậy, việc tiếp nhận ĐV trong mỗi kiểu loại lại có những tính chất khác nhau
Trang 8Phạm Thị Hồng Thắm TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI, Tr 57-67
Nhưng nhìn chung trong VB hành
chính - công vụ, các ĐV nhiều khi chỉ
tương đương với một câu, một mệnh đề
hoặc chỉ một từ nào đó trong câu Do đó
người đọc cần đặc biệt chú ý đến các
dấu câu trong đoạn Chính dấu câu là những dấu hiệu đầu tiên cho biết mối quan hệ giữa các đoạn Có như vậy, chúng ta nới nhận thấy cái lí trong sự diễn đạt của người viết Ví dụ:
“Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO CộNG HOà Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
Số 3856/GD - ĐT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 1994
QUYếT ĐịNH
CủA Bộ TRƯởNG Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Về VIệC BAN HàNH QUY ĐịNH
Về GIáO VIÊN Và CáN Bộ QUản Lí TIểU HọC
Bộ TRƯởNG Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
- Căn cứ Nghị định 29/CP ngày 30/3/1994 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Căn cứ Luật phổ cập giáo dục tiểu học ban hành ngày 12/8/1991;
- Căn cứ Nghị định 338/HĐBT ngày 26/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học và nghị định 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ qui định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng chứng chỉ
về giáo dục và đào tạo của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Theo đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ Tiểu học, Vụ trưởng Vụ Giáo viên và Vụ trưởng
Vụ Tổ chức - cán bộ;
QUYếT ĐịNH
Điều 1: Nay ban hành ”
[Dẫn theo Bùi Minh Toán - 5, tr 32]
Có thể khái quát những vấn đề cần quan tâm khi tiếp nhận ĐV trong một số VB nguyên mẫu thường gặp như sau:
Bảng 1
Các loại ĐV chủ yếu (gọi tên theo
phương diện ý nghĩa)
Một số điểm lưu ý khi tiếp nhận ĐV
VB tự sự
- Đoạn văn giới thiệu nhân vật
- Đoạn văn trình bày sự việc
- Đoạn văn trình bày kết thúc sự việc
- Các sự việc, các chi tiết, các hành động của nhân vật trong
đoạn và ý nghĩa của các sự việc, chi tiết và hành động nhân vật đó
- Mối quan hệ giữa các đoạn trong VB
Trang 9Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008
VB lập
luận
- Đoạn văn giới thiệu đối tượng nghị
luận, giới thiệu quan điểm của người
viết về đối tượng (thường là đoạn văn
mở đầu)
- Đoạn văn lập luận cho quan điểm
của người viết (những đoạn văn triển
khai)
- Đoạn văn trình bày kết luận của
người viết về đối tượng
- Các luận điểm, các lí lẽ, dẫn chứng trong ĐV
- Mối quan hệ giữa các yếu tố trong nội bộ của đoạn văn
- Mối quan hệ giữa các đoạn trong VB
VB biểu
cảm
- ĐV giới thiệu đối tượng biểu cảm và
giới thiệu tình cảm chủ đạo của người
viết (thường là đoạn mở đầu)
- ĐV trình bày phương diện tình cảm
của người viết về đối tượng
- ĐV kể, tả về đối tượng
- Xác định cho được tình cảm, thái độ của người viết trong
đoạn về đối tượng
- Chú ý đến những từ ngữ biểu cảm, gợi cảm ở trong ĐV
- Mối quan hệ giữa các đoạn trong VB
VB
thuyết
minh
- ĐV giới thiệu xuất xứ đối tượng
- ĐV thuyết minh phương diện nào đó
của đối tượng
- ĐV thể hiện những khuyến cáo của
người viết về đối tượng
- Các phương diện của đối tượng được thuyết minh
- Các kiến thức về đối tượng
được nói trong đoạn
- Mối quan hệ giữa các đoạn trong VB
VB miêu
tả
- ĐV giới thiệu đối tượng miêu tả
- ĐV miêu tả phương diện nào đó của
đối tượng
- Phương diện thuộc đối tượng
được miêu tả trong đoạn
- Cách miêu tả về đối tượng (cách dùng từ, ngữ, )
- Mối quan hệ giữa các đoạn trong VB
VB hành
chính-công vụ
Các ĐV có tính khuôn mẫu Chú ý tới dấu câu thể hiện
quan hệ giữa các yếu tố trong
đoạn và quan hệ của đoạn với những đoạn khác
Trong việc tiếp nhận một đoạn thơ
cũng như vậy (ở đây đoạn thơ được hiểu
là yếu tố cấu thành bài thơ ở dạng viết
được tính từ chỗ bắt đầu phần cách
dòng đến chỗ kết thúc phần cách dòng),
vấn đề yếu tố thể loại VB chi phối rất
lớn đến sự tiếp nhận một cách chính xác
và sâu sắc VB thơ Việc tiếp nhận các
đoạn thơ trong bài thơ “Đêm nay Bác
không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ là
một ví dụ Đây là bài thơ trữ tình có
chứa các yếu tố tự sự Vì vậy, khi đọc các đoạn thơ trong bài, người đọc phải cảm nhận cho được tình cảm của nhà thơ dành cho Bác thông qua các sự việc, các chi tiết được kể Hay việc tiếp nhận các đoạn thơ trong bài thơ “Thương vợ” của nhà thơ Trần Tế Xương cũng tương
tự Bài thơ thuộc VB biểu cảm có chứa nhiều yếu tố tự sự và miêu tả Mỗi đoạn thơ là một phương diện của bức chân dung bà Tú Nhưng qua cách kể, cách
Trang 10Phạm Thị Hồng Thắm TIếP NHậN ĐOạN VĂN Từ GóC Độ THể LOạI, Tr 57-67
Bảng 2 Lược đồ mối quan hệ giữa các đoạn thơ
trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”
Đoạn 1 Mùa xuân đất trời (ca ngợi sức sống,
vẻ đẹp của mùa xuân)
Đoạn 2 Mùa xuân con người (ca ngợi sức
sống, vẻ đẹp con người Việt Nam)
Đoạn 3 Mùa xuân đất nước (ca ngợi sức sống,
vẻ đẹp của dân tộc Việt Nam)
Mùa xuân lớn (ca ngợi sức sống,
vẻ đẹp của đất nước)
Đoạn 4 Niềm vui, niềm xao xuyến trước mùa
xuân đất trời của nhà thơ
Đoạn 5 Ước nguyện cống hiến cho đất nước,
cho cuộc đời của nhà thơ
Mùa xuân nho nhỏ (niềm vui, sự xao xuyến; nguyện ước tốt đẹp của một sức sống trong con người nhà thơ)
Đoạn 6 Nói trực tiếp tất cả tâm tình của nhà thơ: tiếng lòng ngợi ca tha thiết, yêu
mến nồng nàn; sự gắn bó đối với đất nước, đối với cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành cống hiến cho cuộc đời, cho dân tộc
tả của nhà thơ (chọn chi tiết, sự việc,
cách dùng từ ngữ), người đọc phải tìm
thấy cái tình của ông Tú gửi gắm vào
từng đoạn thơ Tất cả các đoạn thơ hợp
lại tạo lên bức chân dung khá hoàn
chỉnh về bà Tú, đồng thời cũng tạo nên
“bức chân dung” về cái tình sâu đậm
của ông Tú dành cho vợ Nhưng việc
tiếp nhận các đoạn thơ trong “Truyện
Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du thì
ngược lại ở mỗi đoạn thơ trong truyện,
người đọc lại phải nắm cho được sự việc
nào đang xảy ra với nhân vật, chú ý tới
các chi tiết được đề cập trong đoạn, mối
liên hệ giữa các sự việc, các chi tiết
trong các đoạn để từ đó xâu chuỗi lại
thành cốt truyện Có biết cách kết nối
các sự việc, các chi tiết lại, người đọc
mới hiểu rõ về nhân vật và những gì
người viết gửi gắm qua nhân vật và cốt
truyện
Nhìn chung, việc xem xét mối quan
hệ giữa các đoạn thơ có vẻ khó khăn
hơn các đoạn văn xuôi vì ngôn ngữ thơ
thường cô đọng, súc tích, mối quan hệ
giữa các đoạn không dễ nhận biết thông
qua các yếu tố hình thức như văn xuôi
Tuy nhiên ở thơ hay văn xuôi thì mối quan hệ về nội dung (chủ đề, đề tài) là quan trọng Do đó, tuỳ theo nội dung của từng đoạn mà người đọc nhận biết
nó có mối quan hệ như thế nào với đoạn
kề nó hoặc cách nó và với toàn VB
Ví dụ: muốn xét mối quan hệ giữa các đoạn trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải, ta chỉ có thể dựa trên các yếu tố nội dung có được
từ từng khổ thơ Có thể hình dung mối quan hệ về nội dung giữa các khổ thơ của bài thơ này như bảng 2
4 Kết luận
Để có một cái nhìn toàn diện hơn về việc tiếp nhận đoạn văn, cần tính đến yếu tố thể loại VB bên cạnh các yếu tố khác như yếu tố nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp
Để có sự tiếp nhận đoạn văn một
cách nhanh nhất, chính xác nhất, cần
ĐV đúng thể loại của VB Ngược lại, người tiếp nhận sẽ hiểu sai chủ đề VB nếu xác định sai thể loại của VB Đây cũng là vấn đề đáng được lưu ý đối với việc dạy học phần Đọc - hiểu VB trong nhà trường