1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng truyện dân gian việt nam trong truyền kỳ mạn lục của nguyễn dữ

104 2,9K 39

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng truyện dân gian Việt Nam trong truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 486,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giáo trình “Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII” – Nxb Giáo dục – 1989 nhận định: Truyền kỳ mạn lục đã “nâng thể loại truyện ngắn lên một bước phát triển mới, khẳng định

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học trung đại là một bộ phận khỏ quan trọng trong nền văn học ViệtNam Nú gúp phần hỡnh thành và phỏt triển cỏc thể loại văn học trờn cơ sởtiếp thu và sỏng tạo văn học dõn gian Việt Nam và văn học cổ - trung đại củacỏc nước khỏc trong khu vực Mười thế kỉ văn học trung đại Việt Nam (TK Xđến hết TK XIX) đó đạt được những thành tựu rực rỡ, để lại những dấu ấnriờng

1.2 Nhiều tỏc phẩm văn học trung đại Việt Nam đó được đưa vào giảng dạy

trong nhà trường, trong đú cú tỏc phẩm Truyền kỡ mạn lục – một “thiờn cổ kỡ bỳt” - do Nguyễn Dữ sỏng tỏc Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là một tác

phẩm có vị trí quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam, đặc biệt là ởdòng văn học viết bằng chữ Hán Một trong những yếu tố làm nên sự thành

công ấy của Truyền kì mạn lục là do Nguyễn Dữ đã rất khéo léo khi sử dụng

chất liệu văn húa dân gian Việt Nam

1.3 Tỏc phẩm Truyền kỡ mạn lục đó được nhiều nhà nghiờn cứu quan tõm ở nhiều khớa cạnh Song, vấn để tỡm hiểu những tương đồng của Truyền kỡ mạn lục với nguồn truyện tự sự dõn gian Việt Nam, cũng như những sỏng tạo mới

mẻ của Nguyễn Dữ thỡ vẫn chưa được chỳ ý khai thỏc, đi sõu nghiờn cứu

Chớnh vỡ những lý do trờn nờn chỳng tụi quyết định chọn Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng truyện dõn gian Việt Nam trong “Truyền kỡ mạn lục” của Nguyễn

Dữ làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ của mỡnh.

2 Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử nghiờn cứu văn học trung đại Việt Nam, đó cú nhiều cụng

trỡnh khoa học nghiờn cứu về Truyền kỡ mạn lục của Nguyễn Dữ Nhưng, đa

Trang 2

số các công trình chủ yếu tập trung vào giá trị nội dung và nghệ thuật của tácphẩm.

Trước hết chúng tôi xin điểm lại những ý kiến đánh giá của các nhànghiên cứu thời trung đại:

- Hà Thiện Hán trong lời Tựa Truyền kỳ mạn lục viết năm Vĩnh Định

sơ niên (1547): “Xem văn từ của sách thấy không ra ngoài phên dậu của TôngCát nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy cũ, phép tắc, đối với việc giáo hóa ởđời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu!”

- Lê Quí Đôn trong Nghệ văn chí phần Truyền kỳ ở Đại Việt thông sử viết: “…trứ tác Truyền kỳ mạn lục gồm bốn quyển, văn từ trong sáng, mỹ lệ,

được người đương thời ngợi khen”

- Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” viết: “Sách

Truyền kỳ mạn lục bốn quyển, do dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại lược bắt chước cuốn Tiễn đăng tập của nhà nho đời Nguyên”.

Ngoài ra còn có thể kể thêm ý kiến của Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký coi Truyền kỳ mạn lục là áng “thiên cổ kỳ bút”.

Như vậy, thời trung đại, các học giả đã đánh giá cao sức sáng tạo củaNguyễn Dữ, coi tác phẩm là một thành phẩm thể hiện ý đồ nghệ thuật riêng,mang dấu ấn tài hoa của tác giả Đặc biệt, học giả Lê Quí Đôn phát hiện vàkhen ngợi thành công về phương diện lời văn nghệ thuật của tác phẩm

Sang thời hiện đại, các ý kiến đánh giá được trình bày trong các bàinghiên cứu như:

- “Những biến đổi của yếu tố “kỳ” và “thực” trong truyện ngắn truyền

kỳ Việt Nam” của Vũ Thanh, Tạp chí Văn học, số 6 – 1994

Trang 3

- “Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục” của

Phạm Tú Châu, Tạp chí Văn học, số 3 – 1997

- “Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ” của Nguyễn Phạm Hùng, Tạp chí Văn học, số 2 – 1987

- Giáo trình “Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII” –

Nxb Giáo dục – 1989 nhận định: Truyền kỳ mạn lục đã “nâng thể loại truyện

ngắn lên một bước phát triển mới, khẳng định những bước đi vững chắc củavăn xuôi bên cạnh thơ ca”

- Tác giả Nguyễn Đăng Na trong Văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại

học Sư phạm Hà Nội, xuất bản năm 2009, hoặc nhóm tác giả Bùi Văn

Nguyên, Nguyễn Sĩ Cẩn trong quyển Văn học Việt Nam, xuất bản năm 1989,

Cũng có những nhà nghiên cứu Truyền kì mạn lục theo chiều hướng mới Đó là việc so sánh Truyền kì mạn lục với tác phẩm nước ngoài để thấy được những nét tương đồng giữa hai tác phẩm; như trong công trình: “Nghiên cứu, so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục” của tác giả Trần Ích Nguyên; và công trình của Toàn Huệ Khanh mang tên “Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kì Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam”.

Tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã góp thêm cho nền nghiên cứu văn học

Việt Nam khi có bài viết về Truyền kì mạn lục trên Tạp chí Nghiên cứu văn học: Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ Ông đã có cái nhìn đối sánh đầy sáng tạo khi tìm ra những nét tương đồng giữa Truyền kì mạn lục với truyện dân gian

Việt Nam Song, bài viết chỉ dừng lại ở cái nhìn khái quát, chưa đi sâu phântích vấn đề

Trang 4

Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu mốiquan hệ này Cũng đã có một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Ngữvăn (đại học Vinh) tìm hiểu mối quan hệ ấy Nh khoá luận tốt nghiệp của

sinh viên Nguyễn Thị Vân Oanh đã So sánh hình tợng phụ nữ trong Truyền

kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) hay, khóa luận của sinh viên Nguyễn Hoài Thanh tiến hành So sánh yếu tố “kỳ” trong Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) Những khóa luận này

đó khụng những chỉ ra một số điểm tơng đồng và dị biệt giữa Truyền kỳ mạn

lục và Tiễn đăng tân thoại trong việc sử dụng yếu tố “kỳ” và xây dựng hình

t-ợng phụ nữ, mà còn tìm ra đợc những điểm giống và khác nhau ở hai phơng

diện trên giữa Truyền kỳ mạn lục và truyện dân gian Việt Nam Cỏc tỏc giả

khúa luận khẳng định tinh thần dân tộc trong sáng tác của Nguyễn Dữ Mặc

dù vay mợn thể loại và nguyờn mẫu truyện Trung Quốc, nhng dới ngòi bút tàihoa của mình, Nguyễn Dữ đã tạo ra những truyện tởng nh bắt chớc, sao chép

ấy, mang đậm màu sắc dân tộc Tuy nhiên, sự so sánh này cũng chỉ mang tínhchất gợi mở, cha đi vào cụ thể

Như vậy cỏc nhà nghiờn cứu đó đỏnh giỏ cao những thành tựu nghệ thuật

mà Truyền kỳ mạn lục đó đưa lại cho văn học Việt Nam là: giỏ trị nhõn đạo,

giỏ trị hiện thực của tỏc phẩm, và sự thành cụng về mặt thể loại Những ý kiếnđỏnh giỏ, nhận xột của cỏc nhà nghiờn cứu chớnh là nguồn tư liệu quý giỏ giỳpchỳng tụi nghiờn cứu thờm về tỏc phẩm này

3 Đối tượng nghiờn cứu và phạm vi của đề tài

3.1 Đối tượng nghiờn cứu

Luận văn tập trung nghiờn cứu những nột tương đồng về mụtip, cũng

như những sỏng tạo mới mẻ của Nguyễn Dữ trong tỏc phẩm Truyền kỡ mạn lục so với truyện dõn gian Việt Nam.

3.2 Phạm vi đề tài

Trang 5

Do hạn chế về tài liệu và thời gian, nên trong luận văn này, chúng tôi

chỉ tập trung khảo sát qua 20 truyện của Truyền kì mạn lục với một số truyện dân gian Việt Nam trong cuốn Văn học dân gian – những tác phẩm chọn lọc

của tác giả Bùi Mạnh Nhị, Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2009

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo bài viết và tác phẩm khoa học của

một số tác giả khác như: Nguyễn Huệ Chi “Truyện truyền kì Việt Nam”; Trần Ích Nguyên “Nghiên cứu, so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục”; Toàn Huệ Khanh “Nghiên cứu, so sánh truyện truyền kì Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam”;…vv

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Khi nghiên cứu đề tài Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng truyện dân gian Việt Nam trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ, mục đích luận văn

muốn hướng đến việc tìm ra những nét tương đồng, cũng như những sáng tạo

mới mẻ của Nguyễn Dữ giữa Truyền kì mạn lục với truyện kể dân gian Việt

Nam Đồng thời giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn khi nghiên cứu, họctập về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết trong văn học trungđại Việt Nam

4.2 Nhiệm vụ

4.2.1 Tìm hiểu một cách khái quát về Truyền kì mạn lục và truyện dân gian

Việt Nam

4.2.2 Nhận ra những môtip tương đồng giữa Truyền kì mạn lục với truyện

dân gian Việt Nam

4.2.3 Những sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Dữ trong Truyền kì mạn lục bên

cạnh những nét tương đồng về môtip (so với truyện dân gian Việt Nam)

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu như:

- Phương pháp thống kê – phân loại

- Phương pháp so sánh – đối chiếu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp

Luận văn Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởngcủa truyện dân gian Việt Nam trong “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ sẽ góp phần giúp cho chúng ta có

cái nhìn toàn diện hơn khi giảng dạy, cũng như nghiên cứu về tác phẩm

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ

Đồng thời, nó mở ra một hướng nghiên cứu, tiếp cận mới trong cái nhìnđối sánh giữa văn học dân gian và văn học viết Việt Nam

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:Chương 1 Tổng quan về mối quan hệ giữa văn học dân gian và vănhọc viết Việt Nam thời trung đại

Chương 2 Việc tiếp thu các cốt truyện và mô – tip của truyện dân gian

trong Truyền kì mạn lục.

Chương 3 Những sáng tạo trong việc tiếp nhận, ảnh hưởng của truyện

dân gian ở Truyền kì mạn lục

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN

Trang 8

VÀ VĂN HỌC VIẾT VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

1.1 Khái niệm văn học dân gian, văn học viết

1.1.1 Khái niệm văn học dân gian

Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân laođộng, ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy, trải qua các thời kì phát triển lâudài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay

Văn học dân gian Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân (hoặcvăn học bình dân, văn chương hoặc văn học đại chúng), văn chương truyềnkhẩu (hoặc văn học truyền khẩu, văn chương hoặc văn học truyền miệng), vănnghệ dân gian, sáng tác dân gian, Những khái niệm này xuất hiện sớm nhất

là từ đầu thế kỉ XX Trước đó trong các thư tịch về văn học dân gian hay có

đề cập đến văn học dân gian, mới chỉ thấy lưu hành những thuật ngữ dùng đểnói về từng thể loại văn học dân gian Riêng khái niệm “văn học dân gian” thìchỉ mới xuất hiện vào những năm 50 của thế kỉ XX, và hiện nay đã được dùngmột cách rộng rãi trong giới nghiên cứu văn học, song song với khái niệm

“văn nghệ dân gian” là một khái niệm mới được chính thức công nhận từ sauĐại hội thành lập Hội văn nghệ dân gian Việt Nam (tháng 11 năm 1966)

Khái niệm “văn học dân gian” ở đây khác với khái niệm “văn hóa dângian”, cũng khác với khái niệm “văn nghệ dân gian”, song giữa văn học dângian; với văn hóa dân gian và giữa thành phần ngôn ngữ với các thành phầnnghệ thuật khác trong nội bộ văn học dân gian có những mối quan hệ hữu cơhết sức chặt chẽ, khiến cho văn học dân gian có một vị trí đặc biệt trong nềnvăn hóa dân gian và trong hệ thống các loại hình nghệ thuật Nêu rõ vị trí đặcbiệt đó của văn học dân gian là việc làm quan trọng đầu tiên để xác định đốitượng nghiên cứu, cũng như ranh giới nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứucủa bộ môn khoa học về văn học dân gian

Trang 9

1.1.2 Khái niệm văn học viết

Khác với văn học dân gian, văn học viết hình thành đã "mở ra một thời

kỳ lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ" (Đặng Thai Mai) Sự va chạm gần 10 thế kỷgiữa nền Hán học và văn hóa dân gian Việt, tuy có phần làm văn hóa, tínngưỡng, phong tục cũng như nghệ thuật của dân tộc Việt bị "sứt mẻ, mấtmát", nhưng cũng tác động không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của văn họcviết

Nhiều phát hiện mới của khảo cổ học chứng minh từ thời đại HùngVương, người Việt đã có một nền văn hóa với nhiều nét cá tính khá rõ rệt vàthể hiện qua nhiều thần thoại và truyền thuyết Tiếp theo một thời gian dàitiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc tiên tiến hơn nhiều mặt, người Việt đãbiết cách chuyển hóa chữ Hán trên nền tảng văn hóa Việt, đọc theo thanhđiệu của tiếng Việt mà vẫn hiểu được một cách chính xác các giá trị tư tưởng,văn hóa, triết học của Trung Quốc lẫn của người Việt Từ truyền thống vănhóa có sẵn, Hán học tiếp sức cho người Việt hình thành nền văn học độc lậpcủa dân tộc, và là nền tảng, cơ sở để sáng tạo ra chữ viết đầu tiên: Chữ Nôm

Sự thịnh vượng của Hán học thời kỳ nước Việt giành được quyền tựchủ so với thời kỳ nội thuộc cho thấy tính chất trang trọng, thâm trầm của loạichữ viết này rất phù hợp với kiểu nhà nước phong kiến và ý thức hệ Nho giáolúc bấy giờ Thời kỳ này, triều đình, trường học, thi cử đều dùng chữ Hán nhưmột “phương tiện giao tế tao nhã” để ghi chép lịch sử, truyền đạt ý chỉ, thểhiện quan hệ, tình cảm vua – tôi và các tầng lớp nho sĩ Cùng với những thăngtrầm của lịch sử, văn học viết dần dần có được những vận hội mới, tạo được

vị trí độc lập của mình sau một thời gian dài “văn – sử - triết bất phân” Badòng tư tưởng Nho –Phật – Lão trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương,học thuật Bên cạnh đó, đời sống tích cực gần gũi thiên nhiên của con người

Trang 10

thời kỳ này còn mang lại cho văn học nhiều ẩn dụ cao nhã nhưng cũng rất cậnnhân tình.

Về mặt thể loại, hình thức; văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ trữtình với hai loại: cổ thể và cận thể - tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca

Trung Quốc Ngoài ra theo Dương Quảng Hàm (trong quyển Văn học Việt Nam) thì văn viết trong thời kỳ đầu “có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba

loại lớn” gồm:

Vận văn: tức loại văn có vần

Biền văn: tức loại văn không có vần, mà có đối (như câu đối)

Tản văn hoặc văn xuôi: tức loại văn không có vần mà cũng không cóđối

Cuối thế kỷ XVIII trở đi, khi chữ Nôm hình thành và phát triển đếnđỉnh cao của nó, thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từcung đình dần dần thâm nhập vào đời sống thường nhật (văn chương bìnhdân) và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến Thơ của “Bà chúa thơ Nôm”

Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều (của Nguyễn Du) được xem là những thành

tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam trung đại

Từ khi có việc truyền bá chữ quốc ngữ vào Việt Nam, thì diện mạo vănhọc có những thay đổi sâu sắc và toàn diện Ngoài ảnh hưởng của các dòng tưtưởng truyền thống phương Đông, thì sự thâm nhập của phương Tây mangđến cho văn học viết con đường “hiện đại hóa” từ hình thức, thể loại đến tưtưởng và nội dung sáng tác Riêng về thể loại, nếu so sánh văn học viết ViệtNam giữa hai thời kỳ lớn: văn học trung đại và văn học hiện đại thì có thểhiểu một cách tổng quát về các thể loại chính như sau:

Trang 11

Thời kỳ văn học trung đại (từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX) gồm: tự sự

1.2 Dấu ấn của văn học dân gian trong văn học viết thời trung đại

Nhận xét về ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn họcthành văn Việt Nam, giáo trình Văn học dân gian nhận định: “Văn học dângian là cội nguồn, là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam.Nhiều thể loại văn học viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừacác thể loại văn học dân gian Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng do văn họcdân gian tạo nên là nguồn cảm hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết.Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc như: Nguyễn Trãi, Nguyễn BỉnhKhiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh,… đãtiếp thu văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú”

Đó là một nhận định xác đáng thể hiện rõ mối quan hệ máu thịt gắn bó giữavăn học dân gian và văn học thành văn trong suốt quá trình phát triển của vănhọc dân tộc Việt Nam từ thời trung đại sang thời hiện đại

1.2.1 Dấu ấn trong việc xây dựng cốt truyện và nhân vật

Văn học trung đại Việt nam được ghi chép bằng chữ Hán và chữ Nôm;vấn đề phân loại cùng với hệ thống các thể loại đều chưa được nghiên cứu,giới thiệu đầy đủ, cụ thể, trên cơ sở thống kê, kiểm định xác thực từ các kholưu trữ sách Hán – Nôm Tuy nhiên, riêng về các thể loại tự sự lịch sử thì hầunhư các nhà khoa học đều nhất trí là đã ra đời rất sớm, ngay từ những thời kỳ

Trang 12

đầu khi quốc gia Đại Việt mới giành được độc lập, và chữ Nôm chưa xuấthiện phổ biến như một văn tự sáng tác văn học Mặc dù văn xuôi chữ Hánthời kỳ này còn chưa tách khỏi văn học chức năng (hành chính, tôn giáo,…),nhưng nội dung tư tưởng – thẩm mỹ, đặc biệt là ý nghĩa lịch sử khá sâu sắc,đậm đà Đặc điểm nổi bật của văn học chữ Hán thời kỳ này là hầu hết các tácphẩm đều do lực lượng nhà chùa sáng tác, vì trong thời kỳ ấy chỉ có các nhà

sư mới là những người uyên thâm chữ Hán và có chức năng sử dụng chữ Hántrong sáng tác văn học, văn học chức năng,…

Kho tàng truyện kể dân gian người Việt bao gồm các truyện được kểbằng miệng như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, sử thi,… đã xuất hiện từrất xa xưa, trước khi có chữ viết Trong đó, nhiều truyện kì vĩ nói về cộinguồn dân tộc, giống nòi, có phần chắc là đã xuất hiện từ thời Văn Lang – ÂuLạc, và vượt qua khỏi mọi thử thách của thời gian với sức sống trường tồn,bất diệt

Chính vì lẽ đó mà ngay từ khi khởi nguồn nền văn học viết dân tộc,trong đó văn xuôi tự sự đã không thể không lấy các truyện kể dân gian làmnền tảng Và cứ thế, suốt trong mười thế kỷ của thời kỳ Đại Việt độc lập, tựchủ, kho tàng truyện kể dân gian vẫn cứ luôn như là một tác nhân mạnh mẽ,chẳng những đã góp phần vào sự sinh thành của các thể loại văn học tự sự,

mà còn luôn luôn giữ vai trò cơ sở tư tưởng – thẩm mỹ trong các thể loại đó

Dòng văn học viết Việt Nam được bắt nguồn từ thời Lý với tư tưởngkhôi phục và phát triển nền văn hóa dân tộc Tác phẩm đầu tiên trong thể loại

tự sự có lẽ phải kể đến Ngoại sử ký (Những điều ghi chép về lịch sử), được

sáng tác vào khoảng thế kỷ XII của Đỗ Thiện Nhân Nội dung sách chủ yếu làmột tập truyền thuyết, thần thoại cổ đại, chứ không phải là một tập sách sửđích thực Đây là một tác phẩm ghi chép về các dã sử truyền miệng dân gian

Trang 13

về một số nhân vật lịch sử thời cổ như thần Lý Phục Nham vốn là tướng giúpvua Lý Nam Đế, truyện về hai anh em Trương Hống, Trương Hát - tướnggiúp Triệu Việt Vương, hay truyện kể về Cao Lỗ tướng giúp An DươngVương,… Như vậy, ta thấy việc làm của Đỗ Thiện Nhân vô hình chung đãkhiến cho nhiều truyện dân gian, dã sử truyền miệng có dịp được sưu tập vàghi chép thành văn bản cố định , đồng thời cũng đã góp phần vào việc xâydựng tác phẩm tự sự trong dòng văn học viết đương thời.

Giới tăng lữ cũng góp phần hình thành nên tác phẩm tự sự đương thời

với tập sách Thiền uyển tập anh (Tập hợp những đóa hoa anh tú trong vườn

Thiền) do quốc sư Thông Biện (mất năm 1134) khởi thảo vào thời Lý ThầnTông (1128 – 1138) Đây là tập truyện kể về hơn 60 nhà sư ưu tú, là một tậpchân dung văn học có tính chất dã sử và giai thoại văn học dân gian Đángchú ý là mẫu thần thoại về Sóc Thiên Vương và truyền thuyết về Từ ĐạoHạnh

Cũng theo hướng ghi chép các truyện dân gian, nhà chép sử Lý TếXuyên thời Lý – Trần đã ghi chép những truyện kể về các vị thần có công với

nước, với dân ở thời cổ đại và trung đại trong tác phẩm Việt điện u linh

(Những truyện linh thiêng huyền diệu ở đất Việt), thế kỷ XIV Nối tiếp côngviệc này, Trần Thế Pháp thời Trần và sau đó là Vũ Quỳnh, Kiều Phú ở đầuthời Lê, đã ghi chép những truyện dân gian một cách đầy đủ và phong phú

hơn trong tập sách mang tên Lĩnh Nam chích quái (Lượm lặt những truyện

quái dị ở cõi Lĩnh Nam)

Ngay cả Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm tác giả họ Ngô Thì cũng

ảnh hưởng khá nhiều từ nguồn folklore dân gian Tác giả rất ít dùng điển cốtrong văn học cổ điển Trung Hoa, mà thường sử dụng khá nhuần nhuyễn cadao, tục ngữ và những yếu tố hài hước của lối kể chuyện, đối đáp dân gian và

Trang 14

giai thoại về các nhân vật đương thời Tác giả đã đưa vào trong truyện khánhiều truyền thuyết, giai thoại và cả ca dao, tục ngữ về các nhân vật đươngthời Có chỗ hình ảnh Đổng Thiên Vương trong thần thoại Thánh Gióng đãđược sử dụng như một điển cố văn học Tất cả những điều đó cho thấy, tác

phẩm Hoàng Lê nhất thống chí đã chịu ảnh hưởng của văn học dân gian Việt

Nam khá rõ nét

Bắt đầu từ Thánh Tông di thảo, phần văn bản gốc được ra đời khoảng

thế kỷ XV, thì thể loại truyền kỳ mới bắt đầu hình thành Sau đó, vào thế kỷ

XVI có tập Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, rồi đến Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm và Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích So với truyện ký

lịch sử thì truyền kỳ là một bước phát triển mới về nghệ thuật viết truyện củavăn học tự sự trung đại Việt Nam Nhìn chung, các tác phẩm truyền kỳ kể trênđều được xây dựng từ những cốt truyện dân gian thời trung đại, và về không

gian hầu hết đều xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ Ở các tác phẩm như Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả có khá nhiều truyện cùng nội dung với những

truyện kể dân gian được lưu truyền ở nhiều địa phương và những di tích lịch

sử Trong đó có những truyện hết sức quen thuộc đối với công chúng như

truyện Từ Thức, truyện Người con gái ở Nam Xương, truyện Cuộc gặp gỡ kỳ

lạ ở Ngòi Nước Biếc, truyện Bà chúa Liễu Hạnh,… Truyện Đối tụng ở Long cung vốn được xây dựng từ những huyền thoại có mô tip cốt lõi là rắn hoặc

thuồng luồng quan hệ với phụ nữ, rất phổ biến ở khắp các vùng ven sông của

miền Bắc Việt Nam Truyện Tướng Dạ Xoa chính là được sáng tạo trên cơ sở

truyền thuyết Văn Dĩ Thành, người thời Trần Trùng Quang, vốn là anh hùngđịa phương đã có công giúp dân trừ dịch bệnh và chống giặc, sau được thờlàm thần Thành hoàng Trước đây ở tổng Gối (nay thuộc huyện Đan Phượng,tỉnh Hà Tây) thường có hát chèo tàu, chính là một loại dân ca nghi lễ trongdiễn xướng truyền thuyết Văn Dĩ Thành

Trang 15

Từ những cốt truyện dân gian như vậy, các tác giả truyền kỳ đã hư cấuthành những câu chuyện hoàn chỉnh, vừa có yếu tố hiện thực, vừa có yếu tốlãng mạn, vừa có tính tư tưởng sâu sắc, vừa có giá trị nghệ thuật cao.

1.2.2 Dấu ấn trong việc sử dụng ngôn ngữ, thể loại

Bên cạnh sự phát triển của phương thức tự sự văn xuôi, văn học chínhthống Việt Nam giai đoạn này cũng đang có những cố gắng tìm tòi vớiphương thức tự sự bằng văn vần

Điều thú vị là, hầu như cùng một lúc với sự tìm tòi khả năng tự sự ở thểthơ Đường luật thì một cuộc tìm kiếm tương tự cũng đang diễn ra trongfolklore Từ những câu ca dao, dân ca thể sáu tám (lục bát) dần dần đã hìnhthành thể thơ dân gian lục bát, mà thể thơ này đã trở nên ngày càng thuần thục

và tỏ ra có khả năng biểu đạt hết sức phong phú, đa dạng trong thể loại tự sự

Cuối thế kỷ XVII, một tác phẩm diễn ca lịch sử là Thiên Nam ngữ lục (Sử

nước Nam chép bằng tiếng nước Nam) dài tới 8.136 câu thơ Nôm lục bát xuấthiện như một bằng chứng hùng hồn đánh dấu sự thành công quan trọng này

Nói về diễn ca lịch sử, nhưng xét trên bình diện văn học thì Thiên Nam ngữ lục cũng có thể coi như một truyện thơ Nôm – hay nói cho đúng hơn là

truyện thơ Nôm lịch sử Tác phẩm này không chỉ chép việc, chép người màcòn kể chuyện bằng một ngôn ngữ dân dã rất giàu hình ảnh, miêu tả chândung nhân vật lịch sử một cách sống động Những đoạn miêu tả về ThánhGióng, về Mỵ Châu – Trọng Thủy, về Hai Bà Trưng, về Trần Hưng Đạo,… là

những ví dụ tiêu biểu Chính ở chỗ này, Thiên Nam ngữ lục đã từ một bộ sử

mà dịch chuyển tự nhiên sang địa hạt của văn học và cũng mang đầy đủnhững đặc trưng của một tác phẩm văn học thực thụ

Có thể nói, sự xuất hiện của tác phẩm Thiên Nam ngữ lục chứng tỏ xu

hướng dân chủ hóa không gì cưỡng nổi trong văn học viết Đó là sự tìm về

Trang 16

với cội nguồn dân tộc, với văn hóa dân gian trên cả ba phương diện: ngônngữ, văn tự và quan điểm lịch sử của nhân dân Về phương diện ngôn ngữ,

Thiên Nam ngữ lục đã vận dụng có kết quả thể thơ dân gian sáu tám qua hang ngàn câu thơ tự sự Về phương diện văn tự, Thiên Nam ngữ lục cũng là tác

phẩm đạ được viết bằng chữ Nôm, vốn vẫn được coi là thứ chữ của tầng lớpbình dân “nôm na mách qué” – bình dị, mộc mạc, mach những chuyện ở thôn

quê Về phương diện thứ ba thì có thể nói, tác giả của Thiên Nam ngữ lục đã

đứng hẳn trên quan điểm của nhân dân, hầu như hoàn toàn căn cứ theo cáchuyền thoại và truyền thuyết dân gian để trình bày và đánh giá các sự việc vànhân vật lịch sử Có thể nêu ở đây một dẫn chứng cụ thể đó là về kết cục củaHai Bà Trưng: Tất cả sử liệu của Trung Quốc và Việt Nam đều ghi nhận Hai

Bà bị tử trận ở Cấm Khê Thế nhưng riêng Thiên Nam ngữ lục lại kể rằng Hai

Bà liệu thế không thắng nổi, đã sai sứ cầu hòa với Mã Viện, cuối cùng MãViện cũng đồng ý giảng hòa, lấy Man thành làm mốc để chia ranh giới hai

nước Còn về cái chết của Hai Bà, thì Thiên Nam ngữ lục cũng theo lối tư duy

huyền thoại mà cho rằng Hai Bà là người trời nên phải về trời:

“Ai ngờ tạo hóa đế kỳTiên hồn lại nhớ tiên vì thiên giaChị em nhiễm bệnh thiên hàNửa đêm bỏ đất ruổi xa lên trời”

Như vậy, xét về phương diện là một tác phẩm tự sự chữ Nôm bằng thơsáu tám thì rõ rang là Thiên Nam ngữ lục đã cắm một cái mốc hết sức quantrọng Nó không chỉ chứng tỏ sự thành công rực rỡ của thể loại tự sự bằng thểthơ sáu tám mà còn cho phép có thể quan chính bản thân tác phẩm này mà lầntìm ra quá trình diễn biến lịch sử của thể loại này Từ việc khảo sát về mặt thipháp trong cách biểu đạt, cách xây dựng hình tượng, ngôn ngữ kể chuyện,

Trang 17

cách gieo vần, ngắt nhịp câu,… có thể biết rằng thể loại này chính là đã đượchình thành và diễn biến từ các bài hát cửa đình chúc tụng thần thánh, vốn làcác anh hung có công với nước với dân, từ các bài văn chầu ông hoàng bàchúa và từ các bài ca dao lịch sử cũng như dân ca nghi lễ nói chung Từ đâydòng tự sự lịch sử bằng văn vần này sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho mãiđến thời kỳ cận đại và ngày càng được trau chuốt nhuần nhuyễn hơn về mặtngôn ngữ Điều này thấy khà rõ trong một số diễn ca kể lại những sự tích củanhân vật lịch sử có tên tuồi, thường là có màu sắc truyền thuyết, huyền thoạihoặc các sự kiện lịch sử đặc biệt Đỉnh cao của thể loại này có thể kể đến bộĐại Nam quốc sử diễn ca của nhóm tác giả Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái saunày Tuy nhiên cùng với sự phát triển theo chiều dọc lịch đại với tư cách là

một “truyện thơ Nôm lịch sử”, Thiên Nam ngữ lục cũng như những tác phẩm

tiền thân của nó chắc chắn không thể không có tác động theo chiều ngang,đồng đại, nghĩa là có ảnh hưởng tương hỗ tới sự hình thành và phát triển songsong của thể loại “truyện thơ Nôm xã hội” nói chung

Điều dễ nhận thấy là, cũng như quá trình diễn biến của thể loại Nôm tự

sự lịch sử, tức các diễn ca lịch sử, truyện thơ Nôm xã hội cũng bắt đều đượcxây dựng và hình thành từ kho tàng truyện kể dân gian Từ truyện cổ tích

Trạng Gầu đã được các tác giả truyện Nôm xây dựng thành truyện Nôm Tống Trân Cúc Hoa Từ truyện cổ tích Quan Âm Thị Kính đã được xây dựng thành

truyện Nôm cùng tên Từ truyện cổ tích Tú Uyên - Giáng Kiều đã được xây

dựng nên truyện Nôm Bích Câu kỳ ngộ,… và còn có thể liệt kê ra biết bao

nhiêu trường hợp tương tự trong quá trình xây dựng thể loại “tiểu thuyết quốcngữ” này, tức thể loại truyện thơ Nôm

Từ đây truyện thơ Nôm càng ngày càng được khẳng định vững vàngnhư một thể loại độc lập trong văn học dân tộc Các nhà thơ bình dân, các nhàthơ bác học đều tìm thấy ở thể loại này một phương tiện thích hợp và đầy

Trang 18

hứng thú để gửi gắm vào nó những nội dung hiện thực xã hội rộng lớn, tạonên một thời kỳ nở rộ của “tiểu thuyết quốc ngữ”

Còn khi nói về mối quan hệ giữa thơ ca dân gian với thơ ca bác học.Đây là mối quan hệ có tín quy luật và mang tính phổ quát ở nhiều dân tộcchứ không chỉ là nét đặc thù của văn học trung đại Việt Nam

Có thể nói, hầu hết các nhà thơ cổ điển kiệt xuất của văn học Việt Namtrung đại đều được nuôi dưỡng từ nguồn suối ca dao, dân ca như nguồn sữa

mẹ, khiến cho tác phẩm của họ trở thành những danh tác có giá trị sâu sắc cả

về hai mặt tư tưởng và nghệ thuật, được nhân dân đời đời yêu thích

Đại thi hào Nguyễn Du trong bài “Thanh minh ngẫu hứng” đã viết:

“Thôn ca sơ học tang ma ngữ

Dã khốc thời văn chiến phạt thanh”

(Bài hát nơi thôn xóm bước đầu giúp ta học được tiếng nói người trồngdâu trồng gai/ Tiếng khóc ngoài đồng nội như luôn luôn nghe thấy những âmthanh chiến tranh)

Rõ ràng là Nguyễn Du, nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa lớn đã cảm thôngsâu sắc với nỗi khổ của nhân dân trong chiến loạn Tuy nhiên, từ lời ca tiếngkhóc trong dân gian, nhà thơ đã học được những ngôn từ dân dã của ngườinông dân trồng dâu, trồng gai, đánh cá, kiếm củi, làm giàu thêm kho từ vựngthi ca của mình Đó chính là nguồn sữa nuôi dưỡng của thơ ca dân gian đốivới thơ ca bác học Đó cũng chính là ảnh hưởng có tính quy luật của thơ cadân gian trong quan hệ với thơ ca bác học Phải nhận rằng không có gì khókhăn trong việc tìm kiếm những câu tục ngữ, thành ngữ dân gian được sửdụng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,…

Trang 19

Trong một thời kỳ lịch sử khá dài, chữ Hán được xem là một thứ chữ

có tính quan phương, “chính thức” thì việc học tập, vận dụng ca dao, tục ngữ,thành ngữ dân gian vào các sáng tác, đặc biệt là các sáng tác bằng chữ viếtcủa dân tộc mình không chỉ có giá trị về phương diện nghệ thuật ngôn từ màcòn là một hành động văn hóa thể hiện sâu sắc lòng yêu nước và tự hào dântộc Nhà thơ dân tộc lớn đầu tiên của nước ta là Nguyễn Trãi đã nêu một tấm

gương sáng Bên cạnh tập thơ chữ Hán (Ức Trai thi tập), ông đã để lại cho đời một tập thơ chữ Nôm bề thế là Quốc âm thi tập Trong tập thơ này, chúng

ta thấy Nguyễn Trãi đã vận dụng thuần thục lời ăn tiếng nói dân gian, từ thànhngữ, tục ngữ, ca dao dân ca đến các hình ảnh hình tượng trong văn học dângian Việt Nam

Ca dao có câu:

“Số giàu đem đến dửng dưng

Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”

Trong tập thơ Nôm, Nguyễn Trãi cũng có những câu như:

“Sang cùng khó bởi chưng trờiLăn lóc làm chi cho nhọc hơiĐược thua, phú quý dầu thiên mệnhChen chóc làm chi cho nhọc nhằn”

Trang 20

Hết duyên cất quán ngồi trông bộ hành”

Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có câu:

“La ỷ dập dìu hang chợ họpCửa nhà bịn rịn tổ ong tàn”

Hoặc một ví dụ khác:

“Ở bầu thì dáng ắt nên trònXấu tốt đều thì lắp khuônLân cận nhà giàu, no bữa cốmBạn bè kẻ trộm phải đau đònChơi cùng đứa dại nên bầy dạiKết với người khôn học nết khôn

Ở đằng thấp thì nên đằng thấpĐen gần mực, đỏ gần son”

Đọc những câu thơ trên chúng ta nhận thấy Nguyễn Trãi đã vận dụngsáng tạo nhiều tục ngữ Việt:

Trang 21

Trong số những nhà thơ lớn vào thời kỳ toàn thịnh của văn học chữNôm, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương đã sử dụng rất sáng tạo hình tượngngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật văn học dân gian.

Khi nói vể việc thương nhớ người xa vắng, ca dao có câu:

“Ai đi muôn dặm non sông

Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy”

Hoặc nói về tâm sự kẻ ở người đi, nỗi chia ly day dứt, ca dao có câu:

“Vầng trăng ai xẻ làm đôiĐường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng”

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có những câu như:

“Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

“Vầng trăng ai xẻ làm đôiNửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Hồ Xuân Hương – Bà Chúa thơ Nôm- cũng học tập truyền thống ngônngữ và nghệ thuật của thành ngữ, tục ngữ, ca dao một cách đậm nét và giàusáng tạo Hình ảnh “quả cau nho nhỏ - cài vỏ vân vân” được Hồ Xuân Hương

đưa vào bài thơ “Mời trầu” một cách duyên dáng, tinh tế:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôiNày của Xuân Hương mới quyệt rồi”

Bằng những lý lẽ bắt nguồn từ văn học dân gian “Không chồng màchửa mới ngoan/ Có chồng mà chửa thế gian sự thường” Những thành ngữ

Trang 22

“nòng nọc đứt đuôi”, “cóc bôi vôi”, “chịu đấm ăn xôi”, “làm mướn khôngcông” đều về ý hoặc về lời đã được sử dụng rất đắt và sáng tạo trong thơ HồXuân Hương

“Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩmCầm bằng làm mướn, mướn không công”

(Làm lẽ)

“Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhéNghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi”

(Khóc Tổng Cóc)

Hồ Xuân Hương đã chọn ở tục ngữ, ca dao rất nhiều câu chua cay maimỉa cuộc đời Bà còn vận dụng cả nghệ thuật câu đố để diễn đạt nội dung trữtình làm cho thơ bà bóng bẩy, hàm xúc, đa nghĩa

Tóm lại, hơn mười thế kỷ hình thành và phát triển, bộ phận văn họcthành văn Việt Nam đã gắn bó song hành và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn họcdân gian Việt Nam trên nhiều cấp độ, phương diện Chính điều đó đã tạo nêntính nhân dân và tính dân tộc đậm đà cho bộ phận văn học này

1.2.3 Dấu ấn trong cách nhìn nhận và đánh giá về các vấn đề đời sống

Thông qua những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết và cổ tích,chúng ta sẽ thấy được tương đối rõ sự nhận thức và quan niệm về thế giới củangười Việt thời cổ đại – chủ nhân của những sản phẩm tinh thần đó

Do chưa có đủ điều kiện để nhận thức được đúng và rõ quá trình hìnhthành của vũ trụ, nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên (mưa, gió, sấmchớp, bão, lụt,…) nguồn gốc của các loài (động vật, thực vật, con người,…)cho nên người Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, trong thời

Trang 23

kỳ “thơ ấu” đã sùng bái tự nhiên, coi mọi hiện tượng và sức mạnh trong tựnhiên đều có thần và do thần chi phối, điều khiển.

Ví dụ:

- Thần Trụ Trời: tạo dựng nên trời đất, vũ trụ;

- Thần Mưa: dùng vòi rồng hút nước ở dưới đất lên trời rồi phunđều trên mặt đất;

- Thần Gió: dùng chiếc quạt thần làm nên gió, bão;…

Đó là sự thần linh hóa các sức mạnh tự nhiên một cách vô ý thức củangười nguyên thủy Quan niệm ấy được gọi là thế giới quan thần linh chủnghĩa hay hữu linh luận Như vậy, bản chất của thần linh trong thần thoại Việt(cũng như trong thần thoại của các dân tộc khác) đều là những hiện tượng,những sức mạnh có thực trong thế giới tự nhiên được thần linh hóa theo quanniệm của người nguyên thủy

Trong số thần thoại Việt, có hai cuộc giao tranh quyết liệt đáng chú ý,

là cuộc giao tranh giữa đoàn quân loài vật do Cóc dẫn đầu với quân tướng nhà

Trời (trong truyện Cóc kiện Trời) và cuộc giao tranh giữa Thần Núi và Thần Nước (trong truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh) Nếu như truyện Cóc kiện Trời tập trung vào sự lý giải và khắc phục nạn hạn hán, thì truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh lại hướng vào sự lý giải và chinh phục lũ lụt trên địa bàn của nước Văn

Lang Tuy chưa có điều kiện để nhận thức và lý giải đúng, nhưng hiện tượng

tự nhiên mà người Việt cổ phản ánh trong thần thoại này là hoàn toàn có thực

và rất đáng quan tâm tìm hiểu, khám phá Truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh ngoài

việc giải thích nguyên nhân lũ lụt, truyện còn phản ánh nhiều vấn đề, nhiềukhía cạnh khác nhau trong đời sống, phong tục, tín ngưỡng, tư tưởng, tìnhcảm của người Việt cổ (như tục thách cưới, tục tranh cướp vợ, sự ghen tuôngtrong tình yêu, việc lên núi tránh lụt và đắp đê chống lụt,…) Việc thách cưới

Trang 24

của Hùng Vương phản ánh sự cảm tình “thiên vị” của người Việt cổ đối vốiSơn Tinh Điều này không phải ngẫu nhiên Bởi vì khi chưa có đủ điều kiện

và phương tiện để khắc phục, chế ngự nạn lũ lụt, thì núi rừng là chỗ dựa tựnhiên và tất yếu của con người để tránh lụt

Quan niệm “ở hiền gặp lành” là niềm tin, là triết lý được thể hiện dướinhiều hình thức khác nhau trong hầu hết các thể loại sáng tác dân gian truyềnthống của người Việt, tập trung nhiều nhất ở truyện cổ tích mà đặc biệt là cổtích thần kỳ Triết lý này chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triểncủa truyện cổ tích thần kỳ về nhiều mặt: đề tài, chủ đề, xây dựng nhân vật, cốttruyện,… Thiếu nó thì truyện cổ tích thần kỳ sẽ không thể đứng vững hoặc sẽkhông còn là nó nữa Trước hết, đây là niềm tin và cũng là mơ ước của nhândân Nó chi phối toàn bộ sự xây dựng và phát triển của các nhân vật chínhdiện, phản diện và lực lượng thần kỳ trong truyện cổ tích

Đối với các nhân vật chính diện (Thạch Sanh, cô Tấm, người em trong

truyện Cây khế,…) tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm

thông đối với những nỗi đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà đặc biệt quantâm, tìm cách, tìm đường giải thoát cho họ, để họ được đền bù xứng đáng.Nhờ vậy mà nhiều nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đã được đổi đời,được đền bù xứng đáng làm cho cả người kể và người nghe đều hả hê, sungsướng (Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông; Tấm trởthành hoàng hậu; Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua;…)

Đối với nhân vật phản diện (Lý Thông, mẹ con nhà Cám, người anh

tham lam trong truyện Cây khế,…) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố

cáo, lên án sự tham lam, ích kỷ, độc ác, dã man của chúng, mà còn tìm cáchloại trừ, tiêu diệt chúng để cho những người lương thiện được sống yên vui

Trang 25

Vì thế hầu hết các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích đều có kết cục bithảm và bị trừng phạt thích đáng.

Sẽ là một thiếu sót đáng kể, nếu không nói đến các nhân vật thần kỳ,siêu nhiên, khi bàn về triết lý “ở hiền gặp lành” và ước mơ công lý của nhândân ở trong truyện cổ tích Khi khát vọng công lý và niềm tin “ở hiền gặplành” chưa có điều kiện để thực hiện được nhiều trong đời sống thực tế, tácgiả đã sử dụng những nhân vật thần kỳ, siêu nhiên để thực hiện ở trong trítưởng tượng và bằng trí tưởng tượng Lực lượng thần kỳ, siêu nhiên trongtruyện cổ tích Việt rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhân vật thần kỳ(Tiên, Bụt, Thần linh, Diêm Vương); các con vật siêu nhiên (Trăn Thần, RắnThần, Yêu Tinh, Hồ Tinh,…); các vật thiêng có phép lạ (Gậy Thần, ĐànThần, Cung Thần, chiếc áo tàng hình,…) Lực lượng thần kỳ trong truyện cổtích không phải là hiện thân của các lực lượng tự nhiên như các vị thần (ThầnGió, Thần Mưa,…) trong thần thoại mà ít nhiều đều mang tính xã hội, tínhgiai cấp Tiên, Phật (hay Bụt) trong truyện cổ tích chỉ giúp những ngườinghèo khổ, lương thiện (Tấm, Thạch Sanh,…) chứ không giúp kẻ ác như(Cám, Lý Thông,…) Có khi nhân vật thần kỳ tỏ ra vô tư, trung lập, khôngthiên vị, nhưng cuối cùng vẫn gây ra những tác dụng ngược nhau đối với nhânvật chính diện và phản diện Ngoài ra, chúng ta cũng không thể bỏ qua hoặccoi nhẹ triết lý sống và đạo lý làm người cao đẹp của nhân dân được thể hiệntrong loại truyện này

Tinh thần lạc quan, yêu đời và lòng yêu thương quý trọng con người làphần cốt lõi nhất của triết lý sống và đạo lý truyền thống của nhân dân ở trongtruyện cổ tích Yêu đời và thương người là hai phạm trù khác nhau nhưng cóquan hệ mật thiết với nhau Tinh thần lạc quan yêu đời là nội dung cơ bản củanhân sinh quan, cho nên có cũng là cơ sở của lòng thương người và toàn bộđạo đức truyền thống của nhân dân

Trang 26

Nói đến tinh thần lạc quan của nhân dân trong truyện cổ tích, nhiềungười thường nghĩ đến sự kết thúc “có hậu” của loại truyện này Thực trạng

xã hội mà truyện cổ tích phản ánh hết sức đen tối, nhìn vào truyện nào cũngthấy đầy rẫy những cảnh tượng đáng sợ Trong gia đình, thì anh cướp hết

phần em (truyện cây Khế), chị gái xô em xuống sông để cướp chồng (truyện

Sọ Dừa), anh kết nghĩa lợi dụng, bóc lột, thậm chí cướp công và hãm hại em kết nghĩa để hưởng công danh phú quý (truyện Thạch Sanh) Ngoài xã hội

cũng đầy rẫy những cảnh bất công, oan trái, đói rét, thảm thương (truyện

Chim hít cô, Bò béo bò gầy, Sự tích con Muỗi),…

Quá trình ra đời và phát triển của xã hội có giai cấp là một quá trìnhvận động tiến lên của lịch sử, nhưng mặt khác, đó cũng là một quá trình đầymáu và nước mắt của con người, nhất là những người dân lao động nghèokhổ, không có thế lực Vì vậy, truyện cổ tích đã phản ánh hiện thực xã hộinhư một tấn bi kịch lớn Có nhìn rõ điều này mới càng thêm quý tinh thần lạcquan yêu đời, triết lý sống vững vàng và đạo lý làm người rất cao đẹp củanhân dân trong truyện cổ tích

Hầu như mọi truyện cổ tích đều ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp cómục đích, nội dung và tác dụng giáo dục đạo đức Sự thưởng, phạt ở trongtruyện cổ tích nhìn chung đều được nhìn nhận và giải quyết theo yêu cầu đạođức Tiêu chí để phân biệt, đánh giá các nhân vật chính diện, phản diện, ngườitốt, kẻ xấu ở trong truyện cổ tích chủ yếu là tiêu chí đạo đức

1.3 Ảnh hưởng trở lại của văn học viết Việt Nam thời trung đại đến văn học dân gian

1.3.1 Ảnh hưởng ở một số mô - tip, chủ đề

Văn học dân gian và văn học viết luôn có mối quan hệ qua lại với nhau

Nói “văn học dân gian cho nhiều hơn là nhận” cũng không đồng nghĩa là văn

Trang 27

học viết không có tác động gì đến sự phát triển của văn học dân gian Tuy ảnhhưởng của văn học viết đến văn học dân gian không sâu sắc, không rõ nhưvăn học dân gian đã ảnh hưởng đến văn học viết nhưng cũng khá đủ để chúng

ta quan tâm

Nói đến văn học viết ảnh hưởng đến văn học dân gian, trước tiên chúng

ta sẽ xem xét trường hợp mô tip, chủ đề xa cách Từ Truyện Kiều, các nhân

vật Thúy Kiều, Kim Trọng đã đi vào đời sống nhân dân rộng lớn Cô gái đồngquê đã có thể ví von biểu lộ tâm trạng của mình bằng câu ca:

“Sen xa hồ, sen khô, hồ cạnLiễu xa đào, liễu ngả , đào nghiêng

Em xa anh như bến xa thuyềnNhư Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi” Hay mô - tip anh hùng mỹ nhân trong văn học viết được thể hiện trongcâu ca dao:

“Lộc còn ẩn bóng cây tùngThuyền quyên đợi khách anh hùng sánh vai”

1.3.2 Ảnh hưởng ở sự xâm nhập của ngôn ngữ văn chương bác học đối với văn học dân gian

Qua khảo sát, có rất nhiều câu ca dao, dân ca vốn là những câu thơKiều được tác giả dân gian hoặc giữ nguyên , hoặc cải biên ít nhiều Chúng tahãy thử đọc một số câu để cùng nhận diện bằng những dẫn chứng so sánh:

“ Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần

Trang 28

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ

Chắc đâu trong đục mà chờHoa thơm mất tuyết biết nương nhờ vào đâu…”

(Ca dao)

Trong “Truyện Kiều” có:

“ Nàng rằng đã quyết một bềNhện này vương lấy tơ kia mấy lần

Đục trong thân vẫn còn thânYếu thơ vâng chịu trước sân lôi đình”

(Truyện Kiều)

Hoặc ca dao có câu:

“ Vầng trăng ai xẻ làm đôiĐường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng

Đưa nhau một bước lên đàng

Cỏ xanh hai dãy, mấy hàng châu sa”

Câu Kiều của Nguyễn Du viết:

“ Vầng trăng ai xẻ làm đôiNửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Ca dao có bài:

“ Ai đi muôn dặm non sông

Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy”

Và:

Trang 29

“ Sầu đông càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

(Truyện Kiều)

Với một số dẫn chứng trên, chúng ta thật khó xác định là ca dao đã ảnh

hưởng đến Truyện Kiều, hay thơ Kiều đã ảnh hưởng tới thơ ca dân gian Song

vẫn có trường hợp một tác phẩm vốn là của văn học viết, đã biết tên tác giảhẳn hoi, nhưng vẫn bị dân gian hóa, ca dao hóa

Bên cạnh đó, có khá nhiều bài thơ đã bị “dân gian hóa” thành nhữngcâu ca dao, tục ngữ, mặc dù những tác phẩm ấy có tên tác giả hẳn hoi Ta cóthể khảo sát trên một vài dẫn chứng sau đây:

Câu thơ: “Tháp Mười đẹp nhứt bông sen

Nước Nam đẹp nhứt có tên cụ Hồ”

Hai câu thơ trên được mọi người quen gọi là “ca dao Nam Bộ” nhưng

thực ra là hai câu thơ trong bài thơ có tên “Đẹp nhứt” của nhà thơ Bảo Định

Giang, sáng tác khoảng năm 1947, bài thơ có nguyên văn như sau:

Đẹp nhứt “Tháp Mười đẹp nhứt bông sen Nước Nam đẹp nhứt có tên cụ Hồ Bông sen dùng để lễ chùa

Cụ Hồ mãi mãi tôn thờ trong tâm…”

Bài thơ đã được nhà thơ Bảo Định Giang chép tay và gửi ra Bắc năm

1948, sau đó mọi người truyền miệng và có sửa chữa lại vài từ là

“Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Trang 30

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Hoặc như hai câu thơ nằm lòng trong trí nhớ của những người xa quê,mỗi khi nhớ về quê nhà, nhớ bữa ăn mộc mạc, thanh đạm nhưng đầm ấmthương yêu của gia đình và mọi người mặc nhiên coi đó là ha câu ca dao

“quốc hồn, quốc túy”

“Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương…”

Nhưng theo nhiều người đó cũng chì là hai câu thơ trong bài thơ bốn

câu của cụ á Nam – Trần Tuấn Khải, tác giả của tập “Bút quan hoài” Bốn câu

thơ ấy là:

“Anh đi anh nhớ quê nhàNhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tươngNhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

Những câu thơ ấy cũng đã theo chân “anh Khóa” trong suốt dặm đường

đi “xuất dương” của mình

Ngoài việc ảnh hưởng trở lại của văn học viết đối với văn học dân gian

ở vấn đề chủ đề, mô - tip hay ngôn ngữ văn chương bác học, mà còn ảnhhưởng ở những hình thức khác như lẩy Kiều, đố Kiều

Đố:

“Truyện Kiều anh thuộc đã thông

Đố anh kể được một dòng toàn nôm”

Trang 31

“Này chồng, này mẹ, này chaNày là em ruột, này là em dâu”

Đố:

“Truyện Kiều anh thuộc đã lâu

Đố anh kể được một câu sáu tiền”

Giải:

“Thương nhau xin nhớ lời nhauNăm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy”;…

“Câu sáu tiền” là câu 1515 – 1516; gồm 5 “chầy” + 1 “chầy” = 6

“chầy” (“chầy” tiếng long là tiền)

Đố:

“Truyền Kiều anh thuộc đã nhiều

Đố anh kể được câu Kiều ngàn năm”

Đố:

“Chàng Vương quen mặt ra chào

Trang 32

Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa”

Giải: (Cây) mắc cỡ

Câu đố được lẩy ra từ truyện Kiều (cặp câu 145 – 146), miêu tả hànhđộng, trạng thái của Vương Quan và hai chị em Kiều khi lần đầu gặp KimTrọng Vận dụng theo lối câu đố, tâm trạng của chị em Thúy Kiều là mắc cỡ(xấu hổ), cùng âm với tên cây

Đố:

“Trên vì nước, dưới vì nhàLòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng!

Nhìn àng lã chã giọt hồngNỗi lòng ai ở trong lòng mà ra”

Giải: Cái máng xối

Câu đố được dựng nên bằng cách ghép bốn câu theo thứ tự: 2483 +

1070 + 875 + 1572

Qua đó chúng ta thấy, Truyện Kiều đã thực sự “ăn sâu” vào đời sốngcủa nhân dân Việt Từ việc đọc Kiều, thuộc Kiều, rồi trở thành những câu đốKiều đối đáp lẫn nhau trong sinh hoạt hằng ngày đã chứng minh được phầnnào tầm ảnh hưởng của “Truyện Kiều” nói riêng và văn học viết nói chungvào thơ cơ dân gian Việt Nam

1.4 Truyền kỳ mạn lục - một hiện tượng tiêu biểu cho việc tiếp nhận ảnh hưởng của văn học dân gian trong văn học viết

1.4.1 Giới thiệu chung về Truyền kỳ mạn lục

Thể loại truyện truyền kỳ là một thể loại tự sự cổ điển của Trung Quốcthịnh hành ở thời Đường, tên gọi này cuối đời Đường mới có “Kỳ” nghĩa là

Trang 33

không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu Thoạt đầu, tiểu thuyết truyền kỳ(truyện truyền kỳ) mô phỏng truyện chí quái thời Lục Triều, sau phát triểnđộc lập Đây là hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn

từ truyện kể dân gian, sau đó được các nhà văn nâng lên thành văn chươngbác học, sử dụng những mô tip kỳ quái, hoang đường lồng trong một cốttruyện có ý nghĩa trần thế, phần lớn là chuyện tình để gợi hứng thú cho ngườiđọc

Theo cuốn Ngữ văn 10 (tập 2), các soạn giả định nghĩa: Truyền kỳ là nột thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại phản ánh hiện thực qua những yếu

tố kỳ lạ, hoang đường Trong truyện truyền kỳ, thế giới con người và thế giới cõi âm với những thánh thần, ma quỷ có sự tương giao Tuy nhiên, đằng sau những tình tiết phi hiện thực, người đọc có thể tìm thấy những vấn đề cốt lõi của hiện thực cũng như những quan niệm và thái độ của tác giả.[34, 50]

Từ định nghĩa trên, ta nhận thấy được rằng các tác giả đã nhấn mạnhkhái niệm thể loại truyện truyền kỳ ở hai đặc điểm: hình thức văn xuôi tự sự

và việc tham gia của yếu tố kỳ ảo, motip kỳ quái, hoang đường, không cóthực Sự có mặt một cách tương đối xuyên suốt của yếu tố kỳ và vai trò của

nó đối với vấn đề xây dựng cốt truyện và xây dựng nhân vật chính là bản chấtthẩm mỹ của thể loại truyện truyền kỳ

Về phong cách, truyện truyền kỳ dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả cảnh

tả người thì tác giả dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật biểu lộ cảm xúc thì tácgiả thường làm thơ Lời kể uyển chuyển, lời văn hoa mỹ Truyện chí quái chủyếu là ghi chép (chí) xếp theo điều mục, còn truyện truyền kỳ thì học theo bútpháp sử truyện Do đó, nhan đề thường có chữ “truyện”

Trong khía cạnh bố cục, truyện truyền kỳ thường mở đầu là giới thiệunhân vật, họ tên, quê quán, tính tình, phẩm hạnh Kế đó là các chuyện kỳ ngộ,

Trang 34

lạ lùng, tức là phần trung tâm của truyện Người kể thường nhân danh tác giả

mà kể Phần kết kể lý do kể chuyện

Lịch sử văn học Việt Nam đã chứng minh rằng: Thế kỷ XV – XVI làgiai đoạn đột khởi của thể loại văn xuôi tự sự, được mệnh danh là “thế kỷ củatruyện truyền kỳ” Nguyễn Dữ là người đầu tiên dùng thuật ngữ “truyền kỳ”

để đặt tên cho tác phẩm của mình Truyền kỳ mạn lục của ẩn sĩ Nguyễn Dữ

trở thành cột mốc mở đường cho hàng loạt các tác phẩm mang hơi hướng

truyền kỳ ra đời sau đó.Chẳng hạn như Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm); Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề); Tân truyền kỳ (Phạm Quý Thích); Lan trì kiến văn lục (Vũ Trinh);…

Như vậy, với đặc điểm dùng hình thức kỳ ảo làm phương thức truyềntải nội dung, truyện truyền kỳ có sức cuốn hút mãnh liệt mọi lứa tuổi, mọi thế

hệ Người đọc sẽ cùng các nhân vật phiêu diêu trong thế giới huyền ảo ở cảbốn cõi không gian Hành trình trong thế giới với độ đàn hồi, ảo hóa có thể cótám thập kỷ vào trong một năm, hoặc đang từ hiện tại nhảy về quá khứ củakiếp trước và bước sang tương lai của kiếp sau Trong thế giới truyền kỳ, bạnđọc được tiếp xúc với các nhân vật chỉ xuất hiện trong tưởng tượng như NamTào, Bắc Đẩu, thánh thần, tiên , phật, vua, vương, quỷ dữ, tướng Dạ Xoa, tinh

cá loài vật hiện hữu thành người, biến huyễn khôn lường và được tiếp xúc cảnhững kiếp người trầm luân khổ ải đang sống quanh ta Đó là thế giới vừa hưvừa thực, có thấp hèn – cao thượng, có ma – thánh, có quỷ - tiên, đồng thời có

cả những cái sinh hoạt hằng ngày: ái ân, tình dục, ghen tuông, đố kỵ, lọc lừa

Truyền kì mạn lục là tác phẩm duy nhất còn lại của nhà văn Nguyễn

Dữ, người đã nối tiếp sự nghiệp của các tác giả Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh tông di thảo và nâng thể loại truyện ngắn lên một bước

Trang 35

phát triển mới, khẳng định những bước đi vững chắc của văn xuôi bên cạnhthơ ca.

Cho đến nay, sự hiểu biết của giới nghiên cứu về Nguyễn Dữ còn quá ít

ỏi Tài liệu sớm nhất về Truyền kì mạn lục còn lại đến ngày nay là bài Tựa

của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định sơ niên (1547) đời Mạc Phúc Nguyên

được in trong Cựu biên truyền kì mạn lục bản khắc năm Vĩnh Phúc thứ tám

(1712) đời Lê Dụ Tông Theo bài tựa này, thì Nguyễn Dữ người Giá Phúc, đấtHồng Châu (nay là thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Khả, huyện Ninh Thanh, tỉnh HảiHưng) Ông là con trai cả của tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, đỗ khoa BínhThìn, năm Hồng Đức thứ hai mươi bảy (1496), làm quan đến chức Thượngthư Cũng theo bài Tựa này thì Nguyễn Dữ hồi nhỏ rất ham học, đọc rộng,nhớ lâu, đỗ hương tiến và nhiều lần trúng thi Hội, có làm Tri huyện ThanhTuyền (nay là huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phú) được một năm, rồi bỏ quanlấy lí do về phụng dưỡng mẹ già Từ đó chân không bước tới thị thành

Không rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào Theo Vũ Phương Đề trong

Công dự tiệp kí thì Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm và là bạn

học của Phùng Khắc Khoan; nghĩa là ông sống chủ yếu trong khoảng nửa đầu

thế kỉ XVI Nguyễn Dữ viết Truyền kì mạn lục trong thời gian ở ẩn và hoàn

thành trước năm 1547; là năm ông đưa sách cho Hà Thiện Hán viết lời Tựa

Truyền kì mạn lục là tác phẩm mở đầu mẫu mực của sáng tác truyền kì

trong văn học trung đại Việt Nam Đó là áng “Thiên cổ kì bút”, “áng văn haycủa bậc đại gia” Nguyễn Dữ đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của vănxuôi tự sự chữ Hán: vượt qua giai đoạn ghi chép tôn giáo, lịch sử, văn học dângian…, vượt qua giai đoạn phóng tác để trở thành một sáng tác văn học

Là một tập truyện ngắn được viết trong nhiều năm, gồm hai mươi

truyện, Truyền kì mạn lục dưới hình thức pha trộn những yếu tố hiện thực với

Trang 36

những yếu tố hoang đường, kì ảo, đề cập đến nhiều phương diện của đời sống

xã hội, dựng trên những bức tranh sinh hoạt của nhiều tầng lớp xã hội khácnhau; đặc biệt là tác giả đã bước đầu chú ý đến số phận và sự phản kháng củanhững con người bị vùi dập trong xã hội

Tên tác phẩm cho thấy, Truyền kì mạn lục là sự ghi chép một cách rộng

rãi (mạn lục) những truyện lạ lưu truyền ở đời (truyền kì) Vì vậy, trong tácphẩm này có nhiều yếu tố kì ảo Tuy nhiên, kì ảo là bút pháp nghệ thuật hơn

là thế giới quan của Nguyễn Dữ Nhà văn mượn yếu tố kì ảo để phản ánh hiện

thực Có thể thấy dụng ý nghệ thuật này qua lời bình Truyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào: “Than ôi! Những truyện huyền hoặc Tề Hài, những lời ngụ

ngôn Trang Chu, người quân tử vốn chẳng nên ham chuộng Nhưng nếu làtruyện quan hệ đến luân thường, là lời kí ngụ ý khuyên giới thì chép ra vàtruyền lại, có hại gì đâu Nay như chuyện Tử Hư, có thể khuyên cho nhữngngười ăn ở trung hậu với thầy, lại có thể làm răn cho những người ăn ở bạcbẽo với thầy, có quan hệ đến luân thường của người ta lớn lắm Đến như việclên chơi thiên tào, có hay không có, hà tất phải gạn gùng đến nơi đến chốnlàm gì” [62, 325]

Truyền kì mạn lục mượn chuyện đời xưa để nói chuyện đương thời, để

phản ánh những vấn đề của hiện thực xã hội thời Nguyễn Dữ Thời xảy ra cáctruyện là đời Lí, đời Trần, đời Hồ và đời Lê sơ Niên đại được nhắc đến sớm

nhất trong Truyền kì mạn lục là năm Bính Tý, niện hiệu Quang Thái (1396)

và niên đại cuối cùng là Diên Ninh năm thứ năm (1458) Thế nhưng, vấn đềtruyện nêu lên đều là những vấn đề đặt ra cấp thiết và gay gắt trong thời đạiNguyễn Dữ Từ đời sống sa đọa của tầng lớp thống trị, đến cuộc sống cơ cựccủa nhân dân, từ những biểu hiện suy thoái của Nho, Phật, Đạo, đến nhữngbiểu hiện suy đồi của đạo đức xã hội, từ bi kịch đến khát vọng của người phụ

Trang 37

nữ…, không chỉ là hồi âm của quá khứ, mà còn là tiếng chuông dóng dả củathời Nguyễn Dữ.

Truyền kì mạn lục là một sáng tác văn học Các truyện trong Truyền kì mạn lục được viết bằng tản văn xen biền văn và thơ ca, từ khúc Cuối mỗi

truyện thường có lời bình của tác giả hoặc của một người cùng quan điểm vớitác giả Đó là những lời bình trên cơ sở nội dung câu chuyện mà rút ra lời răndạy đạo lí theo quan điểm Nho gia

Viết Truyền kì mạn lục, tác giả không chỉ sao chép một cách rộng rãi những chuyện lạ truyền ở đời, mà còn hư cấu sáng tạo Đúng là trong Truyền

kì mạn lục có những truyện cổ dân gian khá quen thuộc như Từ Thức lấy vợ tiên, Người con gái Nam Xương Lại có truyện giống truyện nước ngoài như truyện Cây gạo (giống truyện Cây đèn mẫu đơn trong Tiễn đăng tân thoại của

Cù Hựu) Tuy nhiên, cũng như nhiều tài năng trong quá khứ, Nguyễn Dữmượn những cốt truyện hình thành sẵn, nhưng sáng tạo rất nhiều Nhà vănsáng tạo từ kết cấu tác phẩm đến xây dựng nhân vật, từ việc tổ chức lại tình

tiết câu chuyện đến việc sử dụng ngôn ngữ trong lời kể Truyền kì mạn lục

phản ánh con đường phát triển của truyện văn xuôi chữ Hán Việt Nam: từ ghi

chép thần tích, thần phả (Việt điện u linh), ghi chép lịch sử (Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư), ghi chép tôn giáo (Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam

tổ thực lục), ghi chép văn học dân gian (Lĩnh Nam chích quái) đến phóng tác (Nam ông mộng lục, Thánh Tông di thảo) và sáng tác văn học bác học (Truyền kì mạn lục, Hoàng Lê nhất thống chí).

1.4.2 Khái quát về việc tiếp nhận ảnh hưởng của truyện dân gian

trong Truyền kỳ mạn lục

Ngay dưới thời trung đại, các học giả Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều

đã nhắc đến mối quan hệ giữa Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ

Trang 38

XVI) với Tiễn đăng tân thoại của nhà văn Trung Quốc Cù Hựu (1347 – 1433) Bước sang thế kỷ XX, vấn đề cội nguồn Truyền kỳ mạn lục ngày càng

được các nhà nghiên cứu quan tâm và được học giả Trần Ích Nguyên tổng

kết, xác định trên ba phương diện cơ bản: Chịu ảnh hưởng Tiễn đăng tân thoại, cải biên từ thần thoại, chí quái Việt Nam và ghi chép lại truyền thuyết

dân gian địa phương Đó là những kết quả học thuật quan trọng của chuyên

ngành văn học so sánh về việc tìm hiểu diễn tiến cốt truyện Truyền kỳ mạn lục và các mối quan hệ văn học trong quĩ đạo văn hóa Hán dưới thời trung

đại

Nếu chỉ xét định lượng mô hình cốt truyện thì Truyền kỳ mạn lục có

khung hình thức tương đồng với truyện dân gian, khởi đầu bằng biến cố, tiếpđến là diễn biến sự kiện và kết thúc bằng việc hóa giải các mâu thuẫn

Trên tổng thể hai mươi truyện trong Truyền kỳ mạn lục đều xuất hiện

nhân vật chính gặp gỡ nhân vật ma quái, rời bỏ nơi ở của mình tìm đến mộtkhông gian xa lạ khác, kết thúc bao giờ cũng là sự giải thoát, thức tỉnh của cácnhân vật trước “bức tranh vân cẩu” cõi nhân thế, hoặc nhân vật chính đượcđạo sĩ cứu thoát trở lại cõi đời, hoặc hóa thân sang một kiếp đời khác Đối vớiphần lớn các truyện, ngay sau khi giới thiệu nhân vật, thì biến cố liền xảy ra

và lôi cuốn nhân vật vào vòng xoáy của các sự kiện, tạo nên các tình tiết, chitiết, hành động, cốt truyện Thông thường, biến cố đóng vai trò quyết định tạotác, khởi động và vận hành hệ thống cốt truyện chính là những giấc mơ, sựgặp gỡ và lạc bước đến một không gian xa lạ, huyền ảo nào khác Một sốtruyện kéo dài dung lượng mô tả đời sống hiện thực và đến nửa phần sau mớinảy sinh biến cố, do đó cốt truyện và hành động nhân vật trong thế giới ảo bị

co hẹp lại, có khi chỉ còn mấy dòng giới thiệu vắn tắt, thoáng qua

Trang 39

Tương đồng với truyện dân gian, motip giấc mơ xuất hiện không nhiều,

nhưng lại rất tiêu biểu cho việc tạo dựng cốt truyện trong Truyền kỳ mạn lục Trong Truyền kỳ mạn lục, giấc mơ được sử dụng như một thủ pháp nghệ

thuật, tức là giấc mơ đã “có nội dung”, bản thân giấc mơ đã trở thành cốttruyện, đồng nhất với cốt truyện Như vậy, nội dung giấc mơ đã là một cốttruyện nhỏ nằm trong cấu trúc cốt truyện trước và sau khi xảy ra giấc mơ.Đến khi nhân vật tỉnh mộng, thoát khỏi ảo mộng và trở lại cuộc sống thực tại,cũng là khi chấm dứt một phần quan trọng của toàn bộ nội dung thiên truyện

Ngoài ra, trong Truyền kỳ mạn lục cũng xuất hiện mô tip “người lạc cõi

tiên”(bao gồm kiểu nhân vật kỳ lạ lạc cõi Bồng lai tiên cảnh, cõi trời, cõiPhật, cõi mơ, chốn Đào nguyên, thủy cung, âm ti, địa phủ) Qua khảo sát, đã

có nhiều điểm tương đồng giữa truyện cổ tích và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục.

Trong kho tàng truyện cổ tích cũng xuất hiện khá phổ biến hình thứccốt truyện có nhiều lớp truyện Giáo sư Đinh Gia Khánh khi tìm hiểu truyện

cổ tích Tấm Cám đã đi đến nhận xét: “Truyện Tấm Cám là một truyện cổ tích

tương đối dài, có nhiều tình tiết, nhiều nhân vật và sự vật Trong khi lưu

truyền qua không gian và thời gian, truyện Tấm Cám lại phát triển một cách

phức tạp, khi thì kết hợp với những tình tiết của một số truyện khác, khi thìchuyển biến từ một truyện cổ tích thường sang một truyện cổ tích lịch sử”.Như vậy, có thể nói đến tính tương đồng và khả năng xếp chồng nhiều lớp cốt

truyện giữa Truyền kỳ mạn lục với truyện cổ tích và truyện dân gian nói

chung

Chương 2 VIỆC TIẾP THU CÁC CỐT TRUYỆN VÀ MÔ - TIP

CỦA TRUYỆN DÂN GIAN TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

2.1 Khái niệm cốt truyện và môtip

Trang 40

2.1.1 Khái niệm cốt truyện

Cốt truyện là thuật ngữ chỉ sự phát triển của hành động, của tiến trìnhcác sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tácphẩm trữ tình [19, 324]

Bản thân thuật ngữ “cốt truyện” của tiếng Việt, do yếu tố “cốt” nên dễ

bị hiểu như cái “lõi”, “bộ xương”, “cái sườn”, “cơ sở” của truyện chứ chưaphải truyện; thêm nữa tính chất có thể tóm tắt của truyện càng củng cố cáchhiểu trên, vốn chỉ mới bao gồm một số mặt chứ chưa phải bao gồm toàn bộkhái niệm cốt truyện

Cốt truyện là phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật, nó chỉ lớpbiến cố của hình thức tác phẩm Chính hệ thống biến cố (tức cốt truyện) đãtạo ra một sự vận động nội dung cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm Tínhtruyện (có cốt truyện) là một phẩm chất có giá trị quan trọng của văn học vàcác nghệ thuật cùng loại Trong các thể loại văn học, cốt truyện là thành phầnquan trọng thiết yếu của tự sự và kịch, nhưng thường không có mặt trong cáctác phẩm trữ tình

Cốt truyện tạo ra một trường hành động cho các nhân vật và cho phéptác giả thể hiện và lý giải tính cách của chúng Gorki coi cốt truyện là hệthống các quan hệ qua lại của các nhân vật là “lịch sử sự phát triển và sự tổchức một tính cách nào đó” Cái dệt nên cốt truyện là hành động của các nhânvật (hành động là sự thể hiện các xúc cảm, ý nghĩ, ý định của con người vàocác hành vi, hoạt động, lời nói, cử chỉ, nét mặt… của họ) Trong văn học, cókiểu hành động được thể hiện ở các vận động bên ngoài (nhân vật có hànhđộng dứt khoát tại các thời điểm bước ngoặt trong cuộc đời họ); cũng có kiểuhành động được chỉ ra ở những vận động bên trong (sự thay đổi trong tâm lý,nhận thức của nhân vật) Các cốt truyện có ưu thế của kiểu hành động bên

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (biên soạn, 2000), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
2. Lại Nguyên Ân (1997), Các thể loại trước thuật và sáng tác nghệ thuật ở văn học trung đại Việt Nam, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại trước thuật và sáng tác nghệ thuật ở văn học trung đại Việt Nam, Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1997
3. Nhan Bảo (1998), Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, Tạp chí văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, Tạp chí văn học
Tác giả: Nhan Bảo
Năm: 1998
4.Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn: lý luận, tác giả và tác phẩm, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn: lý luận, tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
5. Phạm Tú Châu (1999), Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiễn đăng tân thoại và Truyền kì mạn lục
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
6. Phạm Tú Châu (1987), Truyền kỳ Hàn Quốc và Việt Nam, Tạp chí văn học, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ Hàn Quốc và Việt Nam
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1987
8. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
9. Nguyễn Đổng Chi (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
10. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên, 1999), Truyện Truyền kì Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Truyền kì Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Nguyễn Đình Chú (1980), Để xác định rõ hơn nữa vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, Tạp chí văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để xác định rõ hơn nữa vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1980
13. Nguyễn Văn Dân (1998), Văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
14. Chu Xuân Diên (1966), Nhà văn và sáng tác dân gian, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và sáng tác dân gian, Tạp chí văn học
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1966
15. Chu Xuân Diên – Lê Chí Quế (1996), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên – Lê Chí Quế
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1996
16. Đoàn Thị Điểm (2001), Truyền kỳ tân phả, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Tác giả: Đoàn Thị Điểm
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
17. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
18. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
20. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
21. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
22. Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w