1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tiếp nhận franz kafka ở việt nam

274 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Tiếp Nhận Franz Kafka Ở Việt Nam
Tác giả Thái Thị Hoài An
Người hướng dẫn PGS.TS. Huỳnh Văn Vân, PGS.TS. Nguyễn Hữu Hiếu
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hành trình tiếp nhận Kafka ở Việt Nam không chỉ đóng góp cho việc nghiên cứu sáng tác của nhà văn mà còn là cách thức để tiếp cận lý thuyết tiếp nhận văn học, một trong những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1 PGS.TS HUỲNH VĂN VÂN

2 PGS TS NGUYỄN HỮU HIẾU

Phản biện độc lập:

1 GS.TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

2 GS.TS VŨ TUẤN ANH

Phản biện:

1.GS.TS TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

2 PGS.TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

3 TS HOÀNG KIM OANH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

THÁI THỊ HOÀI AN

Trang 4

Luận án là kết quả của nhiều năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Ngoài

nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các Thầy Cô, các tổ chức, gia đình, bạn bè và người thân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Huỳnh Văn Vân và PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu, những người Thầy đã hướng dẫn cho tôi từ những ý tưởng đầu tiên cho đến khi hoàn thành luận án Tôi luôn biết ơn những gợi mở của các Thầy về phương pháp luận, những gợi ý về lý thuyết, triển khai các ý tưởng cũng như phát hiện những sai sót, nhầm lẫn của tôi trong kết quả luận án

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy Cô thuộc Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù không trực tiếp hướng dẫn nhưng đã đem đến cho tôi những nhận xét, góp ý quý báu cho luận

án Tôi cũng cảm ơn Khoa Văn học đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để hoàn thành luận án

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh bên tôi cũng như san sẻ công việc để tôi dành thời gian cho việc nghiên cứu của mình Đặc biệt, tôi gửi lời cảm

ơn chân thành tới Lãnh đạo Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện về thời gian, kinh phí để tôi thực hiện nghiên cứu

THÁI THỊ HOÀI AN

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.2.1 Phạm vi lý thuyết 2

3.2.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Cấu trúc của luận án 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam 6

1.2 Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận Franz Kafka ở Việt Nam 15

1.2.1 Tiếp nhận từ phía độc giả là nhà nghiên cứu, phê bình văn học 15

1.2.2 Tiếp nhận từ phía độc giả là nhà văn 18

1.2.3 Dịch thuật và giảng dạy trong nhà trường 24

Chương 2: TIẾP NHẬN FRANZ KAFKA TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC 25

2.1 Giai đoạn trước 1975 29

2.1.1 Những tiền đề tiếp nhận Kafka trong lòng xã hội miền Nam và miền Bắc trước 1975 29

2.1.2 Hình ảnh của Kafka qua lăng kính nghiên cứu - phê bình hai miền Nam - Bắc trước 1975 39

2.2 Giai đoạn sau 1975 56

2.2.1 Những điều kiện tác động đến sự tiếp nhận Kafka ở Việt Nam qua hai thời kỳ 1976 -1986 và sau 1986 56

2.2.2 Những phương hướng tiếp nhận Kafka trong hai thời kỳ 1976-1986 và sau 1986 64

Chương 3: TIẾP NHẬN FRANZ KAFKA TRONG SÁNG TÁC 81

3.1 Những tiền đề tiếp nhận - ảnh hưởng của Kafka ở Việt Nam 83

Trang 6

3.1.2 Đời sống văn hóa - văn học 85

3.1.3 Cá nhân nhà văn 87

3.2 Tiếp nhận - ảnh hưởng của Kafka trong văn học Việt Nam 93

3.2.1 Tiếp nhận - ảnh hưởng của Kafka trong văn xuôi 93

3.2.2 Ảnh hưởng của Kafka trong thơ ca 114

Chương 4: TIẾP NHẬN FRANZ KAFKA QUA DỊCH THUẬT VÀ GIẢNG DẠY 127

4.1 Dịch thuật Kafka ở Việt Nam 127

4.1.2 Đặc điểm dịch thuật Kafka ở Việt Nam 130

4.2 Giảng dạy Kafka trong nhà trường Việt Nam 133

4.2.1 Chương trình và giáo trình 133

4.2.3 Điều tra về việc giảng dạy Kafka ở các trường đại học 139

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC……… 173

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Franz Kafka (1883-1924) là một hiện tượng độc đáo và kì lạ của văn học nhân loại thế kỷ XX Bằng những sáng tạo độc đáo của mình, Kafka đã tạo nên một kiểu sáng tác được biết đến với tên gọi “kiểu Kafka”, một thuật ngữ không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực văn chương mà còn sử dụng ngoài đời sống để diễn tả những gì phức tạp không lí giải nổi hoặc kì quái, phi logic Là một trong những nhà văn được giới nghiên cứu đánh giá là có tầm ảnh hưởng sâu sắc nhất thế kỷ XX, Kafka đã ảnh hưởng đến không chỉ các nhà văn phương Tây mà các nhà văn ở hầu khắp các châu lục Kafka còn biết đến như là người tiên tri của thời đại, người dự báo cho những thảm họa mà nhân loại phải đối mặt trong kỷ nguyên hiện đại và hậu hiện đại Tất cả những điều đó tạo nên sức hấp dẫn mãnh liệt từ những tác phẩm thiên tài của Kafka Mặc dù trước khi

ra đi vì bệnh lao phổi, Kafka đã nhờ người bạn thân nhất của mình đốt toàn bộ tác phẩm vì “ta không là gì cả, hoàn toàn không là gì cả” nhưng thế giới đã đón nhận rất nhiều từ con người “không là gì cả” ấy Những tác phẩm đầy mê hoặc, những dự báo về nguy cơ của thế giới hiện đại, cái “không khí Kafka” trong tác phẩm của ông vẫn không ngừng được người đọc qua nhiều thế hệ tìm kiếm, giãi mã

1.2 Sự đánh giá về con người và tài năng của Kafka biến chuyển qua nhiều thế hệ độc giả Trên thế giới, những sáng tác đầu tay của nhà văn không được chia sẻ, nhưng theo thời gian, khi đã có đủ khoảng cách để “nhìn ra cái lớn”, nhất là khi “thế giới bắt đầu gặp gỡ Kafka”, sáng tác của ông mới được đón nhận trong công chúng Bảo tàng Franz Kafka, giải thưởng Franz Kafka, tiểu hành tinh mang tên Franz Kafka chính là sự vinh danh đối với tên tuổi, sự nghiệp của ông

Ở Việt Nam, sáng tác của Kafka được giới thiệu sớm nhất trong đời sống văn học miền Nam thời kỳ khói lửa chiến tranh Trải qua gần 60 năm, có thể thấy dấu ấn của Kafka có những lúc đậm nhạt khác nhau do sự chi phối của điều kiện tiếp nhận nhưng sáng tác của ông vẫn không ngừng hiện diện trong đời sống văn học Việt Nam, qua dịch thuật, giảng dạy, nghiên cứu - phê bình

và qua sáng tạo văn học Từ thực tế đó, có thể nói nghiên cứu tiếp nhận Kafka thực sự là vấn đề mang tính thực tiễn và khoa học đáng lưu tâm

Trang 8

1.3 Nghiên cứu hành trình tiếp nhận Kafka ở Việt Nam không chỉ đóng góp cho việc nghiên cứu sáng tác của nhà văn mà còn là cách thức để tiếp cận

lý thuyết tiếp nhận văn học, một trong những phương diện nghiên cứu chính yếu của khoa lí luận văn học hiện nay Với một hướng tiếp cận mới mẻ, nghiên cứu tiếp nhận ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Tiếp cận lý thuyết tiếp nhận, vận dụng nghiên cứu lịch sử tiếp nhận sáng tác của Kafka chính là một trong những con đường để đưa lý thuyết đến gần với người nghiên cứu Đó thực sự là một vấn đề có tính thời sự và mang ý nghĩa cấp thiết

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Đề tài “Vấn đề tiếp nhận Franz Kafka ở Việt Nam” nghiên cứu quá trình tiếp nhận sáng tác của Kafka ở Việt Nam Nhiệm vụ cụ thể của đề tài là hệ thống lịch sử tiếp nhận sáng tác của Kafka từ góc độ tái tạo lẫn sáng tạo, bao gồm các hoạt động nghiên cứu - phê bình, sáng tác, dịch thuật và giảng dạy Nhiệm vụ cụ thể của đề tài là:

1 Tìm hiểu tiến trình tiếp nhận sáng tác của Kafka trong nghiên cứu - phê bình văn học Việt Nam để thấy được sự đa dạng trong tiếp nhận nhà văn ở Việt Nam qua những biến động của thời đại

2 Nghiên cứu sự tiếp nhận ở khâu sáng tạo để khẳng định đóng góp của nhà văn với nền văn học dân tộc trong thời hiện đại

3 Nghiên cứu việc dịch thuật và giảng dạy Kafka trong nhà trường Việt Nam nhằm phát hiện những đặc trưng của dịch thuật và giảng dạy Kafka ở Việt

Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Trên cơ sở xác định những tiền đề tiếp nhận Kafka trong lịch sử, nghiên cứu sự tiếp nhận sáng tác của Kafka ở các lĩnh vực là nghiên cứu - phê bình, sáng tác, dịch thuật và giảng dạy

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi lý thuyết

Luận án không phải là công trình nghiên cứu chuyên biệt về lý thuyết mà

là công trình vận dụng lý thuyết vào nghiên cứu sự tiếp nhận một hiện tượng

Trang 9

văn học ở Việt Nam Với mục tiêu là nghiên cứu lịch sử tiếp nhận sáng tác của Kafka qua những phương diện tiếp nhận khác nhau, luận án xây dựng trên cơ

sở của lý thuyết tiếp nhận hiện đại, chủ yếu là Mỹ học tiếp nhận mà đại diện tiêu biểu là H R Jauss Bên cạnh đó, để đánh giá sự tiếp nhận Kafka qua sáng tác, dịch thuật, luận án vận dụng những lý thuyết hỗ trợ như văn học so sánh, chủ yếu là so sánh ảnh hưởng Sự kết hợp của các lý thuyết này nhằm giúp chúng tôi có được cơ sở để nghiên cứu sự tiếp nhận sáng tác của Kafka một cách có hệ thống

3.2.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu

- Các công trình giới thiệu, phê bình, nghiên cứu sáng tác của Kafka ở Việt Nam từ 1954 đến nay

- Những công trình nghiên cứu về văn học - văn hóa - tư tưởng có đề cập tới sáng tác của Kafka ở Việt Nam từ 1954 đến nay

- Các tác phẩm của Kafka được dịch tại Việt Nam và một số bản dịch tiếng Anh

- Các tác phẩm văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của Kafka, đặc biệt là sáng tác của Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh và Trương Đăng Dung được in ấn tại các nhà xuất bản ở Việt Nam

Hầu hết tài liệu sử dụng đều là các ấn bản đã in thành sách hoặc đăng trên các tạp chí Chúng tôi chỉ sử dụng một số ấn bản trên các trang mạng điện

tử nếu đã được xác minh về độ tin cậy

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở của phương pháp luận Mỹ học tiếp nhận với phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử chức năng Phương pháp này được vận dụng để mô tả, phân tích tiến trình lịch sử của quá trình tiếp nhận Kafka qua các thời kỳ lịch sử khác nhau ở những những phương diện tiếp nhận

cơ bản trong văn học Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phương pháp xã hội học trong việc xác định tầm đón nhận, nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ của các kiểu độc giả trong quá trình tiếp nhận Kafka Cùng với lý thuyết tiếp nhận, chúng tôi vận dụng những vấn đề của văn học so sánh nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu của mình

Trang 10

Từ đặc điểm của đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận án, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp thống kê - phân loại: giúp chúng tôi thống kê và phân loại những phương thức tiếp nhận Kafka qua các giai đoạn lịch sử của những kiểu độc giả khác nhau

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Hệ thống hóa những đặc trưng và những kiểu tiếp nhận Kafka ở các kiểu độc giả qua các thời kỳ lịch sử

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu giữa những giai đoạn, thời kỳ tiếp nhận Kafka làm nổi bật đặc trưng của từng giai đoạn, từng thời kỳ Bên cạnh đó đối chiếu so sánh giữa sáng tác của Kafka với sáng tác của các nhà văn Việt Nam hiện đại để thấy sự tiếp nhận - ảnh hưởng Kafka ở những nhà văn này

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích sự biến thiên trong tiếp nhận Kafka để có cái nhìn cụ thể về sự tiếp nhận của từng giai đoạn Từ đó tổng hợp nhằm phát hiện ra những đặc trưng của sự tiếp nhận Kafka qua các thời kỳ lịch sử ở các kiểu độc giả khác nhau

- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này giúp chúng tôi xác định được mức độ tiếp nhận của độc giả trong nhà trường đối với sáng tác của Kafka, góp phần đánh giá vị trí, ý nghĩa và những phương hướng tiếp nhận Kafka trong trường học ở Việt Nam

5 Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Về phương diện lí luận

Luận án tái hiện lịch sử tiếp nhận sáng tác của Kafka từ phương diện nghiên cứu - phê bình, sáng tạo, dịch thuật và giảng dạy, từ đó làm rõ qui luật tiếp nhận của văn học trong mối quan hệ với môi trường lịch sử - văn hóa Đồng thời luận án cũng giúp xác định tầm đón nhận của công chúng văn học ở Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử cũng như sự thay đổi tầm đón nhận của độc giả qua từng thời kỳ

5.2 Về phương diện thực tiễn

Luận án là công trình vận dụng lý thuyết tiếp nhận vào nghiên cứu lịch

sử tiếp nhận sáng tác của một nhà văn phương Tây trong văn học Việt Nam

Trang 11

hiện đại, vì vậy luận án có đóng góp cho sự phát triển của lĩnh vực nghiên cứu đầy sức hấp dẫn ở Việt Nam

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu (5 trang), kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (21 trang, 334 mục), Phụ lục (73 trang), luận án gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (20 trang): Trình bày tổng quan về việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận và nghiên cứu vấn đề tiếp nhận Kafka ở Việt Nam

Chương 2: Sáng tác của Franz Kafka qua nghiên cứu - phê bình (54 trang): Trình bày về những tiền đề tác động đến sự tiếp nhận Kafka trong giới nghiên cứu - phê bình ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử trước và sau 1975 Trên cơ sở tiền đề tiếp nhận, phân tích những khuynh hướng tiếp nhận Kafka qua những thời kỳ khác nhau trong văn học

Chương 3: Tiếp nhận Franz Kafka trong sáng tác (47 trang): Trình bày

về sự tiếp nhận - ảnh hưởng của Kafka qua sáng tác của các nhà văn Việt Nam trong văn xuôi và thơ ca

Chương 4: Dịch thuật và giảng dạy Kafka ở Việt Nam (21 trang): Trình bày về tình hình cũng như đặc điểm dịch thuật sáng tác của Kafka ở Việt Nam

và việc tiếp nhận sáng tác của nhà văn trong trường học ở Việt Nam

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam

Ý thức về sự tiếp nhận của độc giả đối với tác phẩm văn học vốn không phải là điều mới mẻ Ngay từ khi có ý thức về sự sáng tạo cũng đã có ý thức về

sự tiếp nhận Đối với khâu sáng tác, trong truyền thống, các nhà văn đều có khát vọng tìm kiếm người đọc như những người tri âm, tri kỷ để cùng nhà văn

sẻ chia những trăn trở về cuộc đời như kiểu người đọc trong băn khoăn của Nguyễn Du “Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Đối với lý luận truyền thống, người đọc là người thưởng thức văn chương, là đối tượng tiếp nhận tác phẩm, sự tồn tại của người đọc tách biệt với tác phẩm, với quá trình sáng tạo, hay chỉ là một khâu sau khi văn bản đã hoàn thiện và cắt rốn khỏi nhà văn Do vậy người đọc cũng chưa trở thành một đối tượng thực thụ của lý luận văn học

Để độc giả trở thành đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học, để việc nghiên cứu tiếp nhận của độc giả trở thành vấn đề lý thuyết thì phải đợi đến thế kỷ XX với những quan niệm có hệ thống của các trường phái lý thuyết tiếp nhận trên khắp thế giới

Ở Việt Nam, mốc quan trọng cho sự hình thành cảm quan về nghiên cứu tiếp nhận ở Việt Nam phải kể đến quan niệm về vai trò người đọc của Nguyễn Văn Hạnh từ năm 1971 trong bài “Ý kiến của Lê Nin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống” (Tạp chí Văn học số 4/1971) Trong bài viết của mình, Nguyễn Văn Hạnh nhấn mạnh đến giá trị của tác phẩm trong phạm vi thưởng

thức của độc giả Nhà nghiên cứu cho rằng “Trong khâu sáng tác, giá trị là cố định và ở trong thế khả năng; ở trong khâu “thưởng thức”, trong quan hệ với quần chúng, giá trị mới là hiện thực và biến đổi” [112, 96] Có thể thấy vào

thời điểm 1971, khi các nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận đang thịnh hành ở các

nước phương Tây thì đề xuất của Nguyễn Văn Hạnh về “tác dụng thực tế, phản ứng của người đọc” có thể xem là nhạy bén Tuy nhiên vì còn quá mới mẻ ở

Việt Nam nên ý kiến của Nguyễn Văn Hạnh đã gặp phải không ít những phản

Trang 13

ứng trái chiều từ phía những nhà nghiên cứu cùng thời với ông Vì vậy vấn đề người đọc tạm lắng một thời gian dài

Đến năm 1982, vấn đề độc giả văn học mới trở lại qua một số bài viết của Vương Anh Tuấn như “Vị trí và vai trò tích cực của người đọc trong đời sống văn học” (Tạp chí Văn học số 3/1982) , “Một vài tình hình tiếp nhận văn nghệ của công chúng những năm 80” (Tạp chí Văn học số 5/1983) Tuy nhiên nhà nghiên cứu chưa thực sự đặt ra các vấn đề lý thuyết mà chỉ nghiên cứu người đọc với tư cách là đối tượng công chúng của nền văn học mới

Nghiên cứu tiếp nhận từ phương diện lý thuyết phải kể đến thời điểm

1985 khi Mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz được giới thiệu ở Việt Nam trong “Thông tin khoa học xã hội số 11” Trong ấn phẩm này, với bài viết

“Tiếp nhận “Mĩ học tiếp nhận” như thế nào”, Nguyễn Văn Dân đã giúp người

đọc bước đầu tìm hiểu các khái niệm then chốt của Mỹ học tiếp nhận như khái niệm “Tầm đón nhận” (Chân trời chờ đợi), “sự thay đổi tầm đón nhận”,

“khoảng cách thẩm mĩ”…Đặc biệt nhà nghiên cứu còn đề xuất thuật ngữ

“ngưỡng tâm lí” như một khái niệm cơ sở cho sự phản ứng của người đọc trước tác phẩm nghệ thuật

Năm 1986, Hoàng Trinh trong bài viết “Giao tiếp trong văn học” (Tạp chí Văn học số 4/1986) đã phân tích chi tiết về phạm trù công chúng Bên cạnh việc xác định vai trò của người đọc, nhà nghiên cứu còn phân tích kỹ lưỡng các kiểu công chúng trong văn học và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đọc của công chúng văn học Cùng trong tạp chí nêu trên, trong bài viết “Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chương trên quan điểm liên ngành”, Nguyễn Văn Dân khi

đề xuất quan điểm liên ngành trong nghiên cứu tiếp nhận văn chương đã trở lại

với những nghiên cứu về Mỹ học tiếp nhận với tư cách là “một phương pháp xã hội học về độc giả văn chương” [55, 2] và tâm lí học, từ đó nhấn mạnh đến sự

kết hợp hai phương pháp trên để đưa ra một kết quả tổng hợp cho sự tiếp nhận tác phẩm văn học

Với quan niệm xem tiếp nhận như “một lĩnh vực mới của lý luận văn học”, Trần Đình Sử đã bổ sung lý thuyết tiếp nhận vào hệ thống lý luận văn

học qua chương “Bạn đọc và tiếp nhận văn học” trong giáo trình “Lý luận văn

học” xuất bản năm 1986 Việc đưa một vấn đề nghiên cứu chưa thành hệ

Trang 14

thống vào giáo trình chính của một ngành đào tạo ở bậc đại học cho thấy sự xác lập vị trí của nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận trong hệ thống lý luận văn học ở Việt Nam

Từ năm 1990, vấn đề tiếp nhận văn học đã được quan tâm nhiều hơn và việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận cũng đã có tính hệ thống hơn Mở đầu là ấn phẩm “Văn học và sự tiếp nhận” của Viện thông tin Khoa học xã hội xuất bản năm 1991 Thực chất đây là cuốn sách sưu tập những bài viết trong và ngoài nước bàn về lý thuyết tiếp nhận “Cuốn sưu tập” bao gồm hai bài viết về vấn đề chung của lý thuyết tiếp nhận của Trần Đình Sử và Nguyễn Văn Dân và một số bài viết bàn về các khía cạnh trong nghiên cứu tiếp nhận như tầm văn hóa trong tiếp nhận, giao lưu văn nghệ, quan hệ giữa đạo đức và thẩm mỹ, dịch thuật, về quyền lợi của người tiếp nhận…

Sau ấn phẩm của Viện thông tin Khoa học xã hội và nhà xuất bản KHXH, nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận được quan tâm với một số bài viết như Nguyễn Lai với “Tiếp nhận văn học, một chân trời mới mở” (Tạp chí Ngôn ngữ

số 4/1990), sau đó là chuyên luận “Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học” (NXB Giáo dục/ 1996), Nguyễn Thanh Hùng với “Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học” (Báo Văn nghệ, số 42/1990) Đáng chú ý là những bàn luận về

sự tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển của văn hóa, đặc biệt là văn hóa đọc của Huỳnh Vân trong “Nhà văn, bạn đọc và hàng hóa sách hay văn học

và sự dị trị” (Tạp chí Văn học số 6/1990) và quan hệ giữa người đọc với ý nghĩa hiện thực của văn học trong “Quan hệ văn học – hiện thực với vấn đề tiếp nhận, tác động và giao tiếp thẩm mĩ” (In trong cuốn “Văn học và hiện thực” Nhà xuất bản KHXH/1990) Nguyễn Thị Thanh Hương góp phần nghiên cứu những vấn đề của lý thuyết tiếp nhận qua các bài viết “Hanx Rôbơc Daux (Hans Robert Jaus) người sáng lập trường phái Mỹ học tiếp nhận Công – Xtăng (Konstant)” (Tạp chí Văn học số 6/1993), “Vai trò của kinh nghiệm thẩm mỹ trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương” (Tạp chí Văn học số 6/1995), “Về mối quan hệ giữa tác động của văn chương và sự tiếp nhận của độc giả” (Tạp chí Văn học số 11/1998) Đặc biệt là hàng loạt các bài viết của Trần Đình Sử trong thời kỳ này Ngoài bài viết “Tiếp nhận - bình diện mới của Lý luận văn học” (In trong tập “Văn học và sự tiếp nhận” với nhan đề “Mấy vấn đề về lý

Trang 15

luận tiếp nhận văn học”) còn có “Lý thuyết tiếp nhận và phê bình văn học” (1990), “Đối thoại - hệ hình mới của phê bình văn học” (1995), “Tính mơ hồ,

đa nghĩa của văn học (1995), “Ngôn ngữ với việc lĩnh hội tác phẩm thơ” (1999) (In chung trong tập “Lý luận và phê bình văn học”, NXB Hội nhà văn/1996)

Có thể thấy trong các công trình của mình, nhà nghiên cứu đã đề cập đến những phương diện cơ bản của lý luận tiếp nhận như vấn đề về lý thuyết tiếp nhận, về giá trị của văn bản, vai trò của ngữ cảnh đối với tiếp nhận tác phẩm văn học, về vai trò của người đọc cũng như tính đa nghĩa của tác phẩm văn học trong quan

hệ với sự tiếp nhận của người đọc Những nghiên cứu độc lập nhưng có tính hệ thống của Trần Đình Sử đã đóng góp ít nhiều cho ngành nghiên cứu còn non trẻ

ở Việt Nam

Bên cạnh những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, trong thập kỉ 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu tiếp nhận ở Việt Nam đánh dấu bằng việc xuất bản các ấn phẩm nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận Trước hết là Phương Lựu với “Tiếp nhận văn học” (NXB giáo dục – 1997), “Mười trường phái lý luận phê bình phương Tây đương đại” (NXB giáo dục – 1999) Trong cuốn “Tiếp nhận văn học” Phương Lựu dành một phần để giới thiệu về Mỹ học tiếp nhận,

từ những tiền đề sinh thành, những quan điểm của H.R Jauss, W Iser, những điểm khả thủ cũng như những đánh giá về hạn chế Phần cuối của cuốn sách, tác giả dành một chương bàn về các khuynh hướng phê bình văn học hiện nay

trên tinh thần “Phê bình văn học cũng là một hoạt động đặc thù của tiếp nhận” Trọng tâm của cuốn chuyên luận là sự phân tích chi tiết của tác giả về

hai phương diện của sự tiếp nhận nghệ thuật: sự tiêu thụ sản phẩm văn chương trong đời sống xã hội (tiếp nhận vĩ mô) và phương diện tâm lí của quá trình tiếp nhận (tiếp nhận vi mô)

“Từ văn bản đến tác phẩm văn học” (NXB Khoa học xã hội/1998) là ấn phẩm tập hợp các bài viết của Trương Đăng Dung về các vấn đề lý luận văn học Công trình tập hợp bốn bài viết đề cập tới lý luận tiếp nhận Trong “Từ

văn bản đến tác phẩm và giá trị thẩm mĩ”, nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến “sự tạo nghĩa thông qua quá trình cụ thể hóa của người đọc” [70, 43] Trong “Tác phẩm văn học là một quá trình” trên cơ sở trình bày “những quan điểm lí luận

cơ bản của các trường phái khoa học văn học liên quan đến tác phẩm như là

Trang 16

quá trình” [70,59] nhà nghiên cứu trở lại với “quan điểm tiếp cận tác phẩm từ phía người đọc” [70, 62] nhằm nhấn mạnh vai trò của người đọc trong trong

việc tạo ra khả năng vận động của văn bản như một quá trình

Với mục đích khái quát những vấn đề cốt yếu của hệ thống lý luận văn học hiện đại, Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương trong “Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ” (NXB Giáo dục/1998) cũng đã giới thiệu đến bạn đọc

mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc trên quan điểm “mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc là vấn đề trung tâm của lý thuyết tiếp nhận văn học” [114,

91] Có thể thấy với sự xuất hiện của các công trình có quy mô tương đối lớn như trên, việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam đã thực sự có chiều sâu, chạm vào bản chất của lý thuyết này

Bước sang thế kỷ XXI, với phong trào giới thiệu những lý thuyết phê bình cũng như các phương pháp nghiên cứu văn học ở Việt Nam, lý thuyết tiếp nhận đã trở thành một trong những tâm điểm của nghiên cứu văn học

Trước hết là phương diện dịch thuật các ấn phẩm của các nhà lập thuyết

lý thuyết tiếp nhận Có thể kể đến những bản dịch trên các tạp chí chuyên ngành như “Trên đường đến với ngôn ngữ” của M Heidegger (Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1/1999), “Tác phẩm văn học” của R Ingarden (Tạp chí Văn học nước ngoài số 3/2001), “Mỹ học tiếp nhận” của A Đranov (Tạp chí Văn học số 3/2001), “Lịch sử văn học như là sự khiêu khích với đối với khoa học văn học” của H R Jauss (Tạp chí Văn học nước ngoài số 1/2002), chương “Người đọc” trong “Bản mệnh của lý thuyết” của A Compagnon (NXB Đại học Sư phạm/2006), “Tiến trình đọc: Một tiếp cận hiện tượng học” của W Iser (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2017) … Cùng với các công trình lý thuyết là các ấn phẩm trình bày các khái niệm lí thuyết như “Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX” của nhóm tác giả Nga I.P.Ilin và E.A.Tzurganova qua bản dịch của Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân… Những công trình lý luận như vậy giúp người đọc trực tiếp tiếp xúc với những lý thuyết tiếp nhận văn học mà không phải thông qua sự diễn giải

Từ 2000, vấn đề nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam tiếp tục khởi sắc cùng hàng loạt các công trình nghiên cứu lý thuyết của các nhà nghiên cứu

Trang 17

ở Việt Nam Tiếp nối nghiên cứu khái quát về các lý thuyết văn học hiện đại Tây Âu trong công trình “Mười trường phái lý luận phê bình phương Tây đương đại” (NXB giáo dục – 1999), Phương Lựu cho ra mắt công trình “Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX” (NXB Văn học, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây - 2001) Trong tác phẩm của mình, ngoài 10 trường phái

đã có mặt ở cuốn trước, Phương Lựu còn bổ sung thêm 12 trường phái lý luận phê bình hiện đại ở phương Tây Với lý luận tiếp nhận, ông giới thiệu đến người đọc trường phái Mỹ học tiếp nhận trong đó nhấn mạnh đến lý thuyết của trường phái Konstanz cùng hai đại diện là H.R Jauss, W Iser, lý thuyết tiếp nhận từ Hoa Kỳ và Liên Xô Bằng khả năng khái quát cao, tác phẩm thực sự là một bản tổng kết giá trị về những vấn đề cơ bản nhất của lý thuyết tiếp nhận nói riêng và các khuynh hướng nghiên cứu lý thuyết văn học nói chung Nhằm nhấn mạnh vai trò của lý thuyết tiếp nhận trong bối cảnh nghiên cứu văn học hiện đại, trong cuốn “Lý luận văn học” (tập 1) xuất bản năm 2002, Phương Lựu trở lại với vấn đề về người tiếp nhận, về vai trò của khâu tiếp nhận trong mối tương quan với các khâu sáng tác trong dây chuyền hoạt động của văn học

“Đọc và tiếp nhận văn chương” của Nguyễn Thanh Hùng (NXB Giáo dục, năm 2002) là một trong những công trình chuyên biệt về lý thuyết tiếp nhận văn học đáng kể ở giai đoạn này Với 7 chương, cuốn sách hướng về hai nội dung chính là lý thuyết tiếp nhận và tiếp nhận văn học trong nhà trường Trên cơ sở của Mỹ học tiếp nhận, tác giả của công trình triển khai các vấn đề

về bản chất của hoạt động tiếp nhận văn chương (đọc văn chương), cơ chế tiếp nhận văn chương và cơ chế tiếp nhận văn học trong nhà trường hiện nay Công trình của tác giả đã thể hiện sự gắn kết giữa vấn đề lý thuyết với hoạt động dạy học ở trường phổ thông hiện nay

Nguyễn Văn Dân trong công trình “Phương pháp luận nghiên cứu văn học” (NXB Khoa học xã hội/ 2004) xếp Mỹ học tiếp nhận vào loại hình phương pháp xã hội học với tên gọi là “xã hội học tiếp nhận” (trong sự đối sánh với phương pháp “xã hội học sáng tác”) Bằng cái nhìn hệ thống của một nhà nghiên cứu lý thuyết, trong công trình của mình, Nguyễn Văn Dân đã dành dung lượng lớn để bàn về Mỹ học tiếp nhận từ lịch sử hình thành tới việc giới thiệu những đại diện tiêu biểu, những khái niệm cơ bản của Mỹ học tiếp nhận

Trang 18

Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề về sự tiếp thu Mỹ học tiếp nhận từ góc độ của Mỹ học Mác xít trong bối cảnh Việt Nam cũng như điểm qua lịch sử nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam và một số vấn đề về công chúng văn học Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX Với 23 trang sách, công trình đã thâu tóm nhiều vấn đề của lý thuyết tiếp nhận và vấn đề nghiên cứu tiếp nhận ở Việt Nam

Nhà nghiên cứu Huỳnh Vân trở lại với lý thuyết tiếp nhận qua sự phân tích kỹ lưỡng những quan niệm của H R Jauss trong hai bài viết “Vấn đề tầm đón đợi và xác định tính nghệ thuật trong Mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss” (Nghiên cứu văn học số 3/2009),“Hans Robert Jauss: Lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận” (Nghiên cứu văn học số 3/2010) và quan niệm của lý luận văn học Mácxit về vấn đề tiếp nhận văn học qua bài viết “Mối quan hệ biện chứng giữa sáng tác và tiếp nhận văn học trong nhãn quan lý thuyết của

Manfred Naumann” (Nghiên cứu văn học số 3/2013)

Năm 2010, Huỳnh Như Phương trong “Lý luận văn học (nhập môn”) (NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) tiếp tục những vấn đề của lý thuyết tiếp nhận thông qua chương “Người đọc và tiếp nhận văn học” Đáng chú ý ở công trình này ngoài việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận, nhà nghiên cứu còn

tập trung làm rõ “vai trò của người đọc qua khái niệm “chân trời chờ đợi” –

một trong những khái niệm then chốt của Mỹ học tiếp nhận Từ khái niệm then chốt đó, tác giả công trình bàn về “số phận lịch sử của tác phẩm văn học qua

lăng kính người đọc”, từ đó nhấn mạnh “Muốn đánh giá đầy đủ sức sống của một tác phẩm, chúng ta phải tìm hiểu không chỉ lịch sử sáng tác mà cả lịch sử tiếp nhận của nó” [219, 206] vì “số phận lịch sử của tác phẩm văn học phụ thuộc rất lớn vào sự tiếp nhận của người đọc” [219, 209]

Bên cạnh những bản dịch lý thuyết trên các tạp chí, Trương Đăng Dung cũng là một trong những nhà nghiên cứu có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Trong công trình “Tác phẩm văn học nhìn

từ lý thuyết tiếp nhận” (NXB Khoa học xã hội/ 2013) với quan điểm coi “tác phẩm văn học như là quá trình” tác giả đã tiếp cận tác phẩm trên hai phương diện: tác phẩm như là “quá trình thông báo kí hiệu ngôn ngữ” và tác phẩm như

là “quá trình ấn tượng hay tác động” Với tư cách là một giáo trình dành cho

Trang 19

bậc sau đại học, công trình của Trương Đăng Dung đã thâu tóm những vấn đề căn cốt nhất của lý thuyết tiếp nhận hiện đại trong thời gian qua, đem đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại

Năm 2014, cuốn “Phương pháp luận giải mã văn bản văn học” của Phan Trọng Luận được nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành Trong tác phẩm của mình, với tư cách là nhà nghiên cứu phương pháp dạy học, Phan Trọng Luận đã gắn kết các vấn đề của lý thuyết tiếp nhận, chủ yếu là lý thuyết ứng đáp người đọc của Mĩ, với vấn đề tiếp nhận văn chương trong trường phổ thông

Sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận - phê bình Việt Nam còn được thể hiện thông qua các hội thảo khoa học mà nội dung trực tiếp bàn về lý thuyết tiếp nhận và vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam Trong số đó phải kể đến hội thảo về lý thuyết tiếp nhận tổ chức tại Huế năm 2014 Kết quả hội thảo cũng như những nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận, vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt Nam được tác giả Trần Thái Học tập hợp trong cuốn “Văn chương và sự tiếp nhận” (NXB Văn học, năm 2014) Tuy chưa đầy đủ nhưng với hai phần rõ rệt, cuốn sách đã cung cấp cái nhìn toàn cảnh về nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận và việc vận dụng lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam

Việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam cũng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu nước ta từ sau năm

2000 Có thể thấy nổi lên là việc vận dụng các khái niệm lý thuyết của Mỹ học tiếp nhận để giải mã những hiện tượng văn học cụ thể Có thể kể tên một số công trình như “Tầm đón đợi trong lịch sử tiếp nhận Thơ mới” của Mai Thị Liên Giang (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9/2007) “Phân tích tác động thẩm

mỹ của văn bản thơ Đèo Ba Dội từ góc độ Mỹ học tiếp nhận” của Hoàng Phong Tuấn (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2013) “Thử “phúc thẩm” phiên tòa Thúy Kiều xét xử từ góc nhìn của Mỹ học tiếp nhận” của Nguyễn Khắc Sính (Hội thảo khoa học Văn chương và sự tiếp nhận” Đại học Huế 2014) … Cùng với nó là các công trình nghiên cứu về tiếp nhận những hiện tượng trong văn học ở Việt Nam như “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-

1975 (trên bình diện lý thuyết)” của Huỳnh Như Phương (In trong tập “Những nguồn cảm hứng trong văn học, NXB Văn nghệ/ 2008), “Tiếp nhận Gogol ở Việt Nam qua bản dịch Những linh hồn chết” của Đào Tuấn Ảnh (Tạp chí

Trang 20

Nghiên cứu văn học số 5/2009), “Tiếp nhận tiểu thuyết Thủy Hử ở Trung Quốc đầu thế kỷ XX đến nay” của Đặng Thị Phương Thảo (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10/2014) Đáng kể nhất chính là việc vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học vào những công trình Tiến sĩ trong thời gian từ 2000 đến nay Luận án “Lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều” của Phan Công Khanh (2001),

“Hemingway ở Việt Nam” của Bùi Thị Kim Hạnh (2001), “Vấn đề tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam” của Phạm Thị Phương (2002), “Sự tiếp nhận Edgar Allan Poe ở Việt Nam” của Hoàng Kim Oanh (2010), “Tiếp nhận M.Sôlôkhôp

ở Việt Nam” của Tạ Hoàng Minh (2014)… Điểm chung của các công trình là trên cơ sở lý thuyết của Mỹ học tiếp nhận, nghiên cứu lịch sử tiếp nhận của một hiện tượng văn học cụ thể ở Việt Nam Những công trình như vậy đã mở rộng biên độ nghiên cứu của vấn đề tiếp nhận ở Việt Nam, làm cho nghiên cứu tiếp nhận đi vào chiều sâu

Từ lịch sử tiếp nhận lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam, có thể thấy những điểm cơ bản như sau trong việc tiếp nhận lý thuyết

1 Quá trình tiếp nhận lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam phát triển với một bước đi chậm, càng về sau càng diễn biến với tốc độ nhanh chóng Cùng với tốc độ là chất lượng của các công trình nghiên cứu, càng về sau càng có khả năng chạm đến bản chất của lý thuyết tiếp nhận văn học

2 Tiếp nhận lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam được triển khai trên nhiều phương diện: Giới thiệu các lý thuyết tiếp nhận cơ bản ở phương Tây, những

mở rộng phương diện lý thuyết của các nhà nghiên cứu lý luận ở Việt Nam, dịch thuật các công trình lý luận của các nhà lập thuyết, vận dụng khái niệm lý thuyết tiếp nhận để nhìn nhận đánh giá các hiện tượng cụ thể trong văn học Việt Nam cũng như nghiên cứu lịch sử tiếp nhận của các tác giả có tầm ảnh hưởng lớn trong văn học Việt Nam và thế giới

3 Hạn chế của việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam là chưa

có hệ thống, chưa có sự tập trung Vì vậy yêu cầu đặt ra là cần phải có chiến lược để lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam trở thành một lĩnh vực nghiên cứu lý luận chủ đạo, sánh ngang với những phương diện nghiên cứu khác

Trang 21

1.2 Nghiên cứu vấn đề tiếp nhận Franz Kafka ở Việt Nam

Nghiên cứu tiếp nhận Kafka ở Việt Nam đã được chúng tôi nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ “Vấn đề tiếp nhận sáng tác của Franz Kafka tại Việt Nam” năm 2006 tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Trong luận văn, chúng tôi chia lịch sử tiếp nhận Kafka thành hai giai đoạn là trước

1986 và sau 1986 và tập trung chủ yếu ở hai phương diện là tiếp nhận trong nghiên cứu - phê bình và tiếp nhận trong sáng tác Tuy nhiên, do dung lượng cũng như thời gian thực hiện luận văn hạn chế nên luận văn chưa bao quát đầy

đủ tư liệu tiếp nhận Kafka, đặc biệt trong giới nghiên cứu - phê bình Vì vậy luận án vừa kế thừa luận văn một số vấn đề về tiếp nhận Kafka trong nghiên cứu phê bình cũng như trong sáng tác của Phạm Thị Hoài Từ sự kế thừa đó, luận án mở rộng phạm vi nghiên cứu, mở rộng nguồn tài liệu tiếp nhận trong nghiên cứu - phê bình cũng như trong tiếp nhận - ảnh hưởng Kafka ở Việt Nam Bên cạnh đó chúng tôi còn khảo sát tiếp nhận Kafka trong nhà trường để mở rộng đối tượng tiếp nhận Kafka ở Việt Nam Ngoài luận văn thạc sĩ của chúng tôi, vấn đề tiếp nhận Kafka ở Việt Nam cụ thể như sau:

1.2.1 Tiếp nhận từ phía độc giả là nhà nghiên cứu, phê bình văn học

Nghiên cứu sáng tác của Kafka đã có một lịch sử lâu dài, tuy nhiên việc nghiên cứu sự tiếp nhận sáng tác của nhà văn ở Việt Nam thì chưa có một công trình nào chính thức đề cập Vấn đề chỉ xuất hiện rải rác ở một số công trình có quy mô tương đối, vì vậy chỉ dừng lại ở những nhận xét sơ giản chứ chưa thành vấn đề có tính hệ thống

Giai đoạn trước 1975 ở miền Nam là thời điểm khởi đầu cho sự tiếp nhận sáng tác của Kafka ở Việt Nam Chính vì vậy, thời kỳ tiếp nhận này nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu Có thể kể đến một số nhận xét đề cập trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của luận án như sau:

Giới thiệu với bạn đọc cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” của Phạm Công Thiện, Trần Triệu Luật đã bày tỏ thái độ không đồng tình với

quan niệm của tác giả cuốn sách và đặt câu hỏi: “Tại sao lại trình bày Kafka như ý thức cô đơn, cô lập trong khi Huguenin lại như là ý thức khắc khoải mà không thể xác định trái ngược lại?” [172, 57] Cũng trong bài báo trên, khi bàn

về cách tiếp nhận những tư tưởng trong văn học và triết học của tác giả công

Trang 22

trình “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”, Trần Triệu Luật nhấn mạnh việc Phạm Công Thiện chắp nối các bài báo thành những chương sách là nhằm

“phô diễn trình tự biến thiên của tâm thức mình để phản ánh tâm thức của một thế hệ không thể nào đạt nổi” [172, 58]

Tổng kết tình hình dịch thuật, giới thiệu văn học phương Tây hiện đại tại miền Nam Việt Nam trước 1975, Hoàng Nhân trong “Nhận định văn học phương Tây hiện đại” cho rằng việc truyền bá sáng tác của Kafka cùng các nhà

văn phương Tây hiện đại là vì “một sự thiên lệch với dụng ý chính trị, thương mại về các trào lưu phản động, suy đồi nhằm phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới” [210, 16]

Bình luận về cách tiếp nhận “Tòa lâu đài” của Doãn Quốc Sĩ trong “Văn

học và tiểu thuyết”, Lê Đình Kỵ đánh giá “cách giải thích của Doãn Quốc Sỹ không phải là hoàn toàn không có cơ sở, nhưng nó quá hẹp, quá riêng tư khi gắn liền nó với sự cách biệt tình phụ tử, lại vừa quá rộng, quá xa khi muốn

biến lâu đài kia thành “thượng đế”” [157, 133]

Tiếp theo là những nhận định về sự tiếp nhận Kafka ở miền Bắc trước

1975 Đỗ Đức Hiểu trong bài “Tiếng vọng từ phương Tây” (Tạp chí Văn học số 3/1972) khi nhận xét về công trình “Phương Tây, văn học và con người” nhận

định Hoàng Trinh “trong những điều kiện khó khăn về tư liệu, có công nghiên cứu tỉ mỉ, nhìn nhận nhiều khía cạnh… Đặc biệt, nhiều khi anh kể chuyện, miêu

tả, phân tích những tác phẩm suy đồi, gợi nên được cái không khí của nền văn hóa đang trên đường suy vong, một nền văn minh đang tan vỡ, một thứ văn học đang tàn lụi, phảng phất như một bóng ma vật vờ trên cảnh đổ nát của một thế giới mất hết sinh khí” Song Đỗ Đức Hiểu lại không đồng tình ở điểm “tuy Kafka đôi khi có nghĩ đến chế độ Áo Hung lúc ấy, nhưng khó có thể nào nói như Hoàng Trinh rằng “toàn bộ tác phẩm của Kafka trước hết là những tư liệu hiện thực” rằng “toàn bộ tác phẩm của Kafka là một bức tranh về con người

và cuộc sống” [127,134]

Mặc dù có ít công trình nghiên cứu về Kafka từ 1976 đến 1986 song cũng đã xuất hiện khá nhiều những nhận định về cách tiếp nhận nhà văn ở giai đoạn này Trường Lưu khi đánh giá về quan niệm của Đỗ Đức Hiểu trong công trình “Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa” cho rằng việc nhà nghiên cứu này

Trang 23

đưa Kafka vào dòng văn học hiện sinh là “một điều dễ dàng chấp nhận” và “sự phân tích của Đỗ Đức Hiểu về chiều sâu trong thế giới quan các nhân vật Kafka càng chứng minh các khái niệm hiện sinh trong toàn bộ tác phẩm văn học của ông” [179, 97- 98]

Bên cạnh những ý kiến bàn về các công trình tiếp nhận sáng tác của Kafka, vấn đề về sự tiếp nhận nhà văn còn xuất hiện ở một số công trình bàn về các quan niệm trong văn học Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Nội dung khái niệm Chủ nghĩa hiện thực trong văn học” (Tạp chí Văn học số 1/1987) khi nhận xét về quan niệm hiện thực của một số nhà nghiên cứu Việt Nam giai đoạn

trước 1986 nhấn mạnh “chính vì cho hiện thực là có giá trị, là tốt, là tiến bộ, trái với hiện thực là kém giá trị, là không tốt, thậm chí là xấu, là phản động cho nên mới có một số cố gắng để chứng minh rằng Huygô, Dôla, Bôđơle, Maxen Pruxtơ hay Cápca là những tác giả hiện thực” [113, 60] Nhận định của

Nguyễn Văn Hạnh chính là những nhận xét rất xác đáng về nghiên cứu văn học phương Tây ở Việt Nam giai đoạn này Do chú trọng vào giá trị phản ánh của tác phẩm nên nhiều người khi nghiên cứu các nhà văn phương Tây thường hoặc quy chụp là hiện tượng phản động hoặc tự phong cho các nhà văn là hiện thực nếu trong sáng tác của họ xuất hiện những yếu tố tiến bộ

Cùng bàn về những sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa hiện thực và vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực, Trương Đăng Dung trong bài viết “Thế

giới nghệ thuật của Kafka” cho rằng “Sẽ không nói hết được những giá trị đích thực của thế giới nghệ thuật của F Kafka nếu ai đó chỉ cố công phát hiện ra những yếu tố tích cực trong tác phẩm Kafka qua việc ông phơi bày sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản” [305, 946]

Bàn về chủ nghĩa hiện đại và những quan niệm chưa thỏa đáng của các nhà nghiên cứu Việt Nam về các nhà văn hiện đại, Nguyễn Văn Dân trong bài viết “Nghiên cứu văn học so sánh trước yêu cầu đổi mới” (Tạp chí Văn học số

4/1988) nhận định “Franz Kafka là một trong số những người đầu tiên đưa cái phi lí vào văn học” và “chủ nghĩa hiện sinh cũng nói nhiều đến sự phi lí của thế giới” nhưng “không vì thế mà chúng ta “kết nạp” Kafka vào nhóm hiện sinh chủ nghĩa như có người đã chủ trương” [56,14] Trong chú thích của bài

Trang 24

viết, tác giả ghi rõ quan niệm xem Kafka là nhà văn hiện sinh chủ nghĩa xuất phát từ công trình “Phê phán Văn học hiện sinh chủ nghĩa” của Đỗ Đức Hiểu

Có thể thấy việc nghiên cứu vấn đề tiếp nhận sáng tác của Kafka ở Việt Nam chưa thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu Những ý kiến mà chúng tôi tập hợp được trong quá trình nghiên cứu của mình chỉ mới dừng lại ở những nhận xét có tính chất phê phán hoặc ngẫu nhiên khi

đề cập đến sáng tác của Kafka Do vậy vấn đề đặt ra trong luận án của chúng tôi vẫn còn là một vấn đề mới mẻ

1.2.2 Tiếp nhận từ phía độc giả là nhà văn

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam tiếp xúc với văn hóa phương Tây thì vấn đề tiếp nhận những thành tựu của văn học phương Tây trong văn học Việt Nam đã được đặt ra Tuy nhiên, việc nghiên cứu chỉ quan tâm đến diện rộng, đến sự tác động của các trào lưu với sự hình thành yếu tố hiện đại trong văn học Việt Nam Riêng về sự ảnh hưởng của Kafka trong văn học Việt Nam, cho đến nay chúng tôi chỉ thấy một công trình đề cập tới Lê Thanh Nga trong luận án tiến sĩ “Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Franz Kafka” cho rằng ở Việt Nam đã có những nhà văn chịu ảnh hưởng của

Kafka, tuy nhiên đối với những hiện tượng này “sẽ thích hợp hơn khi dùng chữ

“dấu hiệu Kafka” để miêu tả những tương đồng giữa thế giới nghệ thuật của

họ với thế giới nghệ thuật của Kafka” Những hiện tượng mà tác giả luận án kể

đến bao gồm Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài Khi phân tích về sự tiếp thu ảnh hưởng của Kafka,

tác giả của công trình nêu trên cũng cho rằng “với các nhà văn này, cho dù trong sáng tác của họ có phản ánh một cách sâu sắc những trạng thái bi đát của hiện thực và con người mà trong đó có sự gặp gỡ với Kafka như thế giới phi lí, sự cô đơn, lưu đày, cái chết… nhưng việc phân tích những dấu hiệu Kafka một cách cụ thể hơn nữa vẫn chưa được đảm bảo bằng một cơ sở tin cậy” [204, 188-189] Chính vì điều này mà tác giả luận án chỉ dừng lại ở mức

liệt kê những tác phẩm và tác giả mà nhà nghiên cứu cho là có “dấu hiệu Kafka”

Để thực hiện luận án, chúng tôi sẽ xem xét cụ thể hơn đối với việc nghiên cứu ba tác giả mà chúng tôi cho là có ảnh hưởng một cách rõ rệt của

Trang 25

Kafka Việc nghiên cứu ảnh hưởng của Kafka trong sáng tác của ba tác giả Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh và Trương Đăng Dung có thể tìm thấy trong những công trình nghiên cứu sau:

1.2.2.1 Phạm Thị Hoài

Từ khi xuất hiện trên văn đàn, đặc biệt sau khi “Thiên sứ” được xuất bản, cái tên Phạm Thị Hoài cũng xuất hiện nhiều hơn trên những trang phê bình văn học ở Việt Nam Những đổi mới trong văn xuôi của nhà văn đã nhận được những luồng ý kiến trái ngược nhau, người ủng hộ, người nghi kị, người lại phủ nhận hoàn toàn Những nhận định trái ngược nhau đó cho thấy Phạm Thị Hoài

đã để lại một dấu ấn khó quên trong văn học Việt Nam Điều dễ nhận thấy nhất chính là những dấu ấn phương Tây, đặc biệt của Kafka trong sáng tác của bà Bàn về vấn đề này, không ít công trình đã đề cập đến:

Năm 1999, Nguyễn Văn Dân trong cuốn “Nghiên cứu văn học lý luận và

ứng dụng” đã đặt vấn đề sự tiếp thu văn học phương Tây của các nhà văn Việt

Nam, đặc biệt là trường hợp Phạm Thị Hoài Nhà nghiên cứu nhận định “Chín

bỏ làm mười của Phạm Thị Hoài thực sự là một truyện bắt chước Mười một người con trai của Kafka Tuy nhiên đây chỉ là sự bắt chước về mặt nghệ thuật, cho nên nó vẫn đạt hiệu quả thẩm mĩ nhất định, các nhân vật trong Chín bỏ làm mười vẫn thật sự là của Phạm Thị Hoài chứ không phải của Kafka” Tiếp

theo “Chín bỏ làm mười”,“Thiên sứ và các truyện ngắn khác của chị, sự tiếp

thu văn học nước ngoài, trong đó có Kafka, không còn dừng lại ở thủ pháp nghệ thuật nữa mà đã mở rộng sang cả khung tự sự lẫn nhân vật của các tác phẩm được vay mượn Chính một chủ đề của Kafka là chủ đề “mê cung” đã được Phạm Thị Hoài dùng để đặt tên cho một tập truyện ngắn của mình: Mê

lộ” [60, 227]

So sánh giữa Phạm Thị Hoài với Kafka và các tác giả kịch phi lí,

Nguyễn Văn Dân đi đến kết luận có sự giống nhau ở “việc đề cập tới sự tha hóa của nhân vật” của các tác giả nêu trên và việc Phạm Thị Hoài đã “vay mượn nghệ thuật phúng dụ, tượng trưng và quan điểm phi lí” từ sáng tác của

Kafka để xây dựng nên thế giới nghệ thuật của mình Từ đó, ông đi đến những

nhận xét tương đối khắt khe: “Phạm Thị Hoài đã phần nào có tài trong việc

“thao tác” vốn sách vở của mình để khai phá một mảng chủ đề khá mới đối với

Trang 26

độc giả Việt Nam: cái phi lý Tuy nhiên, theo chúng tôi, Phạm Thị Hoài chưa

xử lý được vấn đề quan hệ giữa vốn sách vở của mình với hiện thực cuộc sống Chính vì vậy mà sự khám phá của Phạm Thị Hoài thiếu cơ sở nhận thức và độ sâu triết học” [60,229]

Năm 2002, trong công trình công phu giới thiệu về văn học phi lí, Nguyễn Văn Dân đã trở lại vấn đề về sự ảnh hưởng của văn học phi lí, đặc biệt

là của Kafka đến sáng tác của Phạm Thị Hoài Hầu hết những nhận định về sự ảnh hưởng này đều lấy lại từ các công trình về trước của ông Đặc biệt do nhấn mạnh đến chủ đề tha hóa của văn học phi lí nên khi so sánh sự ảnh hưởng của các nhà văn phi lí tới sáng tác của Phạm Thị Hoài, nhà nghiên cứu đã đi sâu

vào vấn đề này hơn Có thể thấy những nhận định như sau: “Có một sự giống nhau khá rõ về tình trạng tha hóa của nhân vật giữa Phạm Thị Hoài với Kafka

và Camus Nếu như ở Kafka có nhân vật viết tắt là K., thì ở Phạm Thị Hoài cũng có tên nhân vật là A.K., hay tên các nhân vật trong tiệm may Sài Gòn là những cái tên toàn dấu sắc”; “…Thực đơn chủ nhật làm ta liên tưởng tới truyện ngắn Một người thầy thuốc nông thôn của Kafka…Ở đây, cái xác thối rữa là một chiều cạnh của thế giới siêu thực…” hay “Giữa các tác giả văn học phi lí và Phạm Thị Hoài có một sự khác nhau căn bản” Đi vào phân tích những điểm khác nhau đó, nhà nghiên cứu kết luận “đó là áp dụng vốn sách vở vào thực tiễn một cách thiếu nhuần nhuyễn Làm như thế tránh sao khỏi sự xộc xệch, lệch pha, và chính vì vậy mà tác phẩm của chị bị hạn chế về hiệu quả thẩm mỹ” [62, 111-113]

Đỗ Đức Hiểu là một trong những nhà nghiên cứu quan tâm sớm nhất tới sáng tác của Phạm Thị Hoài Trong bài viết “Đọc Phạm Thị Hoài” in trong

“Thi pháp hiện đại”, nhà nghiên cứu cũng tìm thấy những dấu ấn của văn học phương Tây, cụ thể là của những nhà văn như M.Proust, A.Gide, E.Ionesco,

S.Beckett trong những sáng tác của Phạm Thị Hoài Đối với Kafka, “ở Phạm Thị Hoài, chút ít Kafka (Bảy công tố viên thay phiên nhau chạy như tiếp sức;

vụ án “người đoán mộng giỏi nhất thế giới gợi nhớ Vụ án)” [129, 260]

Bàn về truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thành trong bài “Lạ hóa

trong văn xuôi đương đại” cho rằng: “Trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, tên nhân vật chỉ là những ký hiệu bằng chữ, là B., Ng., là anh, cô hay Nhân vật

Trang 27

thứ nhất, Nhân vật thứ hai, là Người suy tư, Người tốt bụng, Cô Đơn… Với Phạm Thị Hoài, đây là một ý thức đổi mới nghệ thuật…Những tìm kiếm về sự thể hiện nhân vật như thế có thể được gợi ý từ F Kafka, tuy nhiên nó là sáng tạo chứ không phải là mô phỏng” [233, ]

Thụy Khuê trong các bài viết về Phạm Thị Hoài và truyện ngắn “Thầy

AK kẻ sĩ Hà Thành” cũng nhấn mạnh đến những “vết tích” của Kafka, từ tên

gọi của nhân vật “AK là AQ của Lỗ Tấn và K của Kafka ghép lại?”, tới những liên tưởng trong tác phẩm: “Phạm Thị Hoài mở đầu bằng hình ảnh hóa thân mà Kafka bày ra trong La Métamorphose: anh chàng Gregor Samsa sáng dậy tự nhiên thấy mình biến dạng thành một con bọ khổng lồ Sự thoát xác của nhân vật trong truyện Kafka, cuốn sách thày AK vừa đọc, nhưng không hiểu và gán cho nó ý nghĩa "luân hồi" chỉ là vấn đề "trình độ" của người trí thức và mở đầu cho cuộc phiêu lưu mang hình thức thánh giáo của hai thầy trò AK, trong một môi trường mà đạo đức xã hội đã bị thầy trò AK làm ô nhiễm đến tận xương tủy” [326]

Trần Mạnh Hảo khi nhận xét về tập truyện ngắn “Man Nương” (NXB

Văn học năm 1995) đã thể hiện thái độ phê phán rõ nét: “Một số truyện của Phạm Thị Hoài vẫn còn ghi rõ dấu vết thô thiển của sự bắt chước như "Truyện thày A.K kẻ sĩ Hà Thành" như sao chép lại cách viết của Kafka và của Cervantes trong Don Quichotté” [324]

1.2.2.2 Tạ Duy Anh

Cũng như với Phạm Thị Hoài, nghiên cứu về sự tiếp nhận Kafka trong sáng tác của Tạ Duy Anh chưa có công trình nào chính thức đề cập Vấn đề chỉ xuất hiện thông qua những đánh giá, nhận xét sơ giản

Trong “Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh”, ba tác giả Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương và Võ Thị Thanh Hà đều khẳng định có sự ảnh hưởng của Kafka đối với nhà văn họ Tạ Nguyễn Thị Hồng Giang trong “Tạ Duy Anh và việc đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết” khi đánh giá về tác động của văn học phương Tây đến tiến trình đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam

nhấn mạnh: “Chỉ có thể nói, ảnh hưởng của các nhà văn lớn như M.Proust, J.Joyce, A.R.Grillet, Kafka, G.Marquez, Đoxtoievxki… chưa bao giờ lại in đậm dấu vết như hiện thời” Riêng với Kafka, tác phẩm của Tạ Duy Anh luôn phảng

Trang 28

phất hơi hướng của nhà văn từ ám ảnh về “mê cung có tham vọng ẩn dấu đi hiện thực” [104, 19-26] cho tới sự “đổi mới góc nhìn hiện thực bắt đầu xuất hiện khi cái nhìn phát ra từ bên trong… Đó là cái nhìn của Grêô Samsa (Biến dạng Kafka) hay “sự láy lại”“những đối thoại không ăn khớp - đối thoại bị từ chối từ trong tác phẩm của Kafka” [104,102] Nhận xét về thế giới nhân vật

trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, Vũ Lê Lan Hương trong “Thế giới nhân vật

trong sáng tác của Tạ Duy Anh” cho rằng “tư tưởng của Tạ Duy Anh có phần tương đồng với Kafka, và nhân vật trong tác phẩm Tạ Duy Anh dường như là những hậu duệ của một kiểu nhân vật Kafka” [104,154]

Từ ba hướng tiếp cận Phi lí, hậu hiện đại và trò chơi, ba tác giả Cao Tố

Nga, Đoàn Thanh Liêm và Phạm Thị Bình qua các công trình in chung trong

“Phi lí, hậu hiện đại và trò chơi (Trường hợp Tạ Duy Anh)” cũng đã chỉ ra những đặc điểm trong sáng tác của Tạ Duy Anh chịu ảnh hưởng từ Kafka Cao

Tố Nga trong “Cảm thức về cái phi lý trong văn học Việt Nam đương đại”

khẳng định “Đâu đó trong kỹ thuật viết của các nhà văn có bóng dáng của những bậc thầy văn chương thế giới như Dostoevski, Franz Kafka” [206, 11]

Tác giả của công trình nghiên cứu này nhấn mạnh trong tiểu thuyết “Đi tìm

nhân vật” “có một “không khí Kafka” bao trùm câu chuyện với không gian và thời gian không xác định, với những con người bị mã hóa, bị photocopy, con người bất trắc trong hành xử” [206, 49] Từ góc nhìn hậu hiện đại, Đoàn

Thanh Liêm trong “Dấu ấn văn học hậu hiện đại (khảo sát bốn tiểu thuyết của

Tạ Duy Anh)” nhận thấy “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh là kiểu nhân vật phi lí, bị số hóa, kí hiệu hóa… như thế giới nhân vật trong sáng tác của Kafka” [206, 168]

Nhận xét về những ám ảnh của Kafka trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Thụy Khuê trong bài viết “Tạ Duy Anh, người đi tìm nhân vật” phân tích:

“Mảnh báo chỉ vỏn vẹn có mấy dòng, không ghi ngày và nơi xẩy ra án mạng, vậy làm sao Chu Quý lại biết đúng "chỗ ấy", một chỗ mà hắn "đinh ninh" rằng

ở "gần" ngã tư của một con phố tên là phố G: chính "chỗ ấy" thằng bé đánh giầy đã ngã xuống Nghề "sưu tập các kiểu chết" của Chu Quý là nghề gì? Công an? Thám tử hay nhà báo? Không khí Kafka ngay từ đầu Mọi giả thử, mọi giả thuyết đều khả thể Vì sao Chu Quý muốn điều tra? "Vì một thôi thúc

Trang 29

nhuốm màu sắc bi kịch mà tôi không thể diễn tả được Về sau này, rồi quý vị sẽ thấy, tôi hiểu rằng hóa ra tôi chỉ tiếp tục cuộc truy tìm hắn" [327]

1.2.2.3 Trương Đăng Dung

Là một nhà thơ với chỉ duy nhất một tập thơ trình làng, nhưng Trương Đăng Dung đã trở thành một cây bút tạo nên những ấn tượng đặc biệt trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Trong những trang thơ đậm chất suy tưởng của Trương Đăng Dung, người đọc có thể thấy những dấu ấn rõ nét của Kafka Điều đó đã được các nhà nghiên cứu quan tâm phát hiện

Lê Từ Hiển và Lê Minh Kha trong bài viết “Ngày Kafka trở lại” khi bàn

về sự ảnh hưởng của Kafka tới văn chương Việt Nam nhận định “Tìm về

“Những kỷ niệm tưởng tượng, thơ Trương Đăng Dung biểu hiện vấn đề về thân phận và thời gian, qua một cảm thức rất Kafka Có nỗi cô đơn, bất an tận cùng bản thể…; có những vách ngăn, tạo nên những giới hạn vô cùng…, hay sự ngự trị của cái phi lý như một Giấc mơ Kafka …Nghe vang đâu dây những vọng âm

từ Lâu đài, Vụ án, Hóa thân, Hang ổ…” [124, 26]

Bàn về thế giới nghệ thuật trong tập “Những kỷ niệm tưởng tượng” của Trương Đăng Dung, Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết “Thời gian và phận

người trong thơ Trương Đăng Dung” cho rằng “Thế giới ấy tuy không lìa gốc

rễ cội nguồn nhưng đã được bồi đắp nhiều hơn bởi những tư tưởng của M Heidegger, A Camus, F Kafka…, những bậc thầy hiện sinh thường trực nỗi lo

âu trước một thực tại đổ nát, đau thương” [79, 98]

Hoài Nam trong bài viết “Cảm thức lạc lõng trong tập thơ Những kỷ

niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung” khẳng định:“Nói sao mặc lòng, ít hay nhiều, Kafka cũng đã “ám” vào tư duy nghệ thuật của Trương Đăng Dung

và làm thành một trong những khởi nguyên của hệ thống thi ảnh kỳ lạ trong thơ ông” Từ nhận định trên, nhà nghiên cứu lí giải “Không nên quên rằng Trương Đăng Dung chính là người đã chuyển ngữ tiểu thuyết “Lâu đài” của Kafka, đồng thời là tác giả của một tiểu luận xuất sắc: “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka” [79, 182-183]

Nhìn một cách tổng thể, các bài viết về sự tiếp nhận của Phạm Thị Hoài,

Tạ Duy Anh và Trương Đăng Dung đối với sáng tác của Kafka chỉ dừng lại ở

Trang 30

những phát hiện khái quát Những nhận định trên chính là những gợi ý quí báu cho chúng tôi khi thực hiện luận án này

1.2.3 Dịch thuật và giảng dạy trong nhà trường

Đối với vấn đề dịch thuật và giảng dạy Kafka trong trường học, có thể khẳng định chưa có một công trình nào đặt ra Vì vậy đối với chúng tôi nghiên cứu dịch thuật Kafka và sự vận động của sáng tác Kafka trong nhà trường thực

(2) Đối với vấn đề tiếp nhận Kafka ở Việt Nam, từ phương diện nghiên cứu - phê bình, sáng tác, dịch thuật cho đến tiếp nhận trong nhà trường đều chỉ dừng lại ở những nhận định mang tính khai mở Những khai mở đó chính là những gợi ý quý báu cho luận án của chúng tôi Hành trình tuyển mộ độc giả của Kafka vẫn còn ở phía trước từ phía các nhà nghiên cứu - phê bình, từ các dịch giả cho đến nhà văn Có thể nói Kafka vẫn là một chân trời chờ đợi ở phía trước với nhiều thế hệ độc giả

Trang 31

Chương 2 TIẾP NHẬN FRANZ KAFKA TRONG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Nghiên cứu tiếp nhận văn học là nghiên cứu tác phẩm trong mối quan hệ với độc giả, với người thưởng thức tác phẩm Lý thuyết tiếp nhận với việc nhấn mạnh đến vai trò người đọc đã xác lập vị trí mới cho người đọc trong hệ thống lý luận văn học

Trong lý thuyết tiếp nhận, độc giả đóng vai trò là trung tâm chi phối quá trình văn học Đối với tác phẩm và trong văn bản, sự có mặt của “người đọc tiềm ẩn”, kiểu người đọc trong dự kiến của nhà văn để thông qua đó nhà văn dự kiến ý nghĩa tiềm tàng, phản ánh nhu cầu, ước mong của người sáng tạo về độc giả Nhu cầu, khát vọng đó được hiện thực hóa qua việc đọc của người đọc thực tế Vai trò của độc giả thực tế thể hiện trước nhất ở chỗ sự giải mã của họ biến văn bản thành tác phẩm hoàn chỉnh và đưa tác phẩm vào quỹ đạo của nền văn học Nghiên cứu sự tiếp nhận cho thấy bằng khả năng của mình, người đọc tạo sinh ý nghĩa của văn bản, ngay cả khi bản thân nhà văn không tự ý thức về ý nghĩa của văn bản Ý nghĩa văn bản phụ thuộc vào khả năng diễn dịch của độc giả, do vậy điều hiển nhiên là

“cái “từ điển bách khoa” của người đọc lớn chừng nào thì khả thể của sự diễn dịch

sẽ phong phú chừng ấy” [24, 233] Với tư cách là một chủ thể sáng tạo, độc giả còn

là người quyết định thứ bậc, giá trị của tác phẩm văn học trong đời sống Bàn về hàm ý lịch sử trong quan hệ giữa tác phẩm và người đọc, H.R.Jauss khẳng định

“Hàm ý lịch sử thể hiện qua việc ấn tượng của người đọc đầu tiên được tiếp nối như là dây xích tiếp nhận từ thế hệ này qua thế hệ khác, nó có thể phong phú lên, thậm chí có những trường hợp nó đánh đổ giá trị thẩm mĩ và ý nghĩa lịch sử của một tác phẩm” [152, 85] Người đọc còn là “năng lượng tạo ra lịch sử” vì một sự thật đơn giản là “sự tồn tại lịch sử của tác phẩm văn học không thể có được nếu thiếu sự tham gia tích cực của người đọc” Tác giả của công trình “Lịch sử văn học như là sự

khiêu khích đối với khoa học văn học” luận giải: Người đọc bằng sự chuyển tiếp tác

phẩm qua nhiều thế hệ đưa “tác phẩm mới thâm nhập được vào dòng chảy liên tục phía sau thuộc về kinh nghiệm đang thay đổi, nơi mà sự tiếp nhận đơn giản, thụ động trở thành sự tiếp nhận có phê phán, chủ động, những chuẩn mực thẩm mĩ đã được

công nhận trở thành tác phẩm mới, mới hơn” [152, 84]

Trang 32

Nhận thức về vai trò của người đọc trong đời sống văn học làm thay đổi quan niệm về nghiên cứu lịch sử văn học Có thể nói rằng bên cạnh lịch sử của tác phẩm, lịch sử của quá trình sinh thành tác phẩm, còn có lịch sử tiếp nhận của các thế hệ độc giả đối với tác phẩm đó Nghiên cứu người đọc, lịch sử tiếp nhận các tác giả văn học trong đời sống văn học vì vậy trở thành một lĩnh vực nghiên cứu, trở thành

“một nửa của lý luận văn học”

Trong các thành phần độc giả, đối với việc tiếp nhận văn học nước ngoài, người nghiên cứu phê bình có vai trò hết sức quan trọng Nếu quan niệm lịch sử văn học không chỉ là lịch sử tác phẩm mà còn là lịch sử của sự tiếp nhận thì trong hành trình lịch sử ấy không thể thiếu vai trò của nhà phê bình nghiên cứu văn học Có thể xem nhà phê bình, nghiên cứu là những người đọc chuyên biệt, lí tưởng trong quá trình tiếp nhận Vị trí của nhà nghiên cứu phê bình văn học được khẳng định qua mối quan hệ với cả ba đối tượng là nhà văn, tác phẩm và quá trình tiếp nhận của độc giả

Đối với tác phẩm, phê bình nghiên cứu là quá trình cắt nghĩa, lí giải nhằm khám phá những giá trị còn tiềm ẩn bên trong lớp ngôn từ của các tác phẩm văn học Tác phẩm mới ra đời vẫn chưa thể đến ngay với người đọc, đặc biệt là những sáng tạo mới mang tính cách tân Với năng lực và uy tín của mình, với khả năng nghề nghiệp, với tầm đón nhận mang tính chủ động, sáng tạo, đánh giá của những người đọc chuyên biệt lấp đầy những “khoảng trống” của tác phẩm, phát hiện ở tác phẩm những giá trị tinh thần còn tiềm ẩn Không chỉ với các tác phẩm mới, phê bình nghiên cứu đôi lúc còn là con đường để những tác phẩm cũ, trong quá khứ đến với độc giả với những hình hài diện mạo mới Là người đọc nhạy cảm, được trang

bị kiến thức khoa học về văn học, nhà nghiên cứu phê bình có khả năng tái phát hiện tác phẩm theo những con đường tiếp cận mới Nhà khoa học Bakthin với những công trình về Rabelais và Dostoievski là một ví dụ điển hình cho ý nghĩa của khoa học phê bình với tác phẩm văn học Như vậy việc tiếp nhận tác phẩm của nhà nghiên cứu phê bình đã góp phần tạo nên đời sống thực cho tác phẩm và do vậy tạo nên số phận lịch sử cho tác phẩm và đưa tác phẩm vào dòng chảy của đời sống văn học Theo thời gian, qua nhiều thế độc giả, ý nghĩa của tác phẩm ngày một hoàn thiện trở nên phong phú và vô tận hơn

Trang 33

Đối với khâu sáng tạo, việc nghiên cứu phê bình trở thành một cuộc đối thoại với nhà văn trong quá trình hoàn thiện nghề nghiệp của anh ta Nếu người đọc thông thường chỉ thưởng thức tác phẩm bằng cảm nhận cá nhân thì nhà nghiên cứu phê bình mang trách nhiệm xã hội lớn lao đối với việc đọc của mình Tiếng nói của nhà phê bình

là tiếng nói đại diện, đại diện cho nhu cầu của độc giả đương đại đối với tác phẩm văn

học.Với uy tín của mình, nhà phê bình văn học có thể ““tạo nên một “trường” đặc biệt của dư luận xã hội về tác phẩm Thông qua đó, xã hội tác động và nói lên đòi hỏi của mình về tác phẩm” [219, 238] Nhờ đó nhà văn có thể điều chỉnh hoạt động sáng tạo

của mình nhằm phù hợp với sự đòi hỏi của đời sống văn học

Nhiệm vụ của phê bình văn học không chỉ là phát hiện những vấn đề của văn học đương đại mà còn phát hiện, định hướng và cổ vũ cho cái mới trong sáng tạo nghệ thuật Cùng với sự cổ vũ cái mới, phê bình còn cảnh tỉnh nhà văn trước những sai lệch có thể có trong quá trình sáng tạo Nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương

khẳng định “Trong một số trường hợp, sự đổi mới quan niệm nghiên cứu, phê bình

có tác động lớn lao đến sự đổi mới ý thức nghệ thuật của nhà văn” [219, 218]

Đối với công chúng rộng rãi, nghiên cứu phê bình là vừa là tiếng nói đại diện vừa là kim chỉ nam, là sự định hướng khâu thưởng thức Với tầm đón nhận chủ động, sáng tạo, nhà nghiên cứu phê bình là người đại diện cho tiếng nói của thời đại đối với tác phẩm, với sáng tạo của nhà văn Là người đọc “tinh hoa”, người nghiên cứu phê bình trở thành người hướng đạo cho công chúng Nhận thức của nhà nghiên cứu phê bình không chỉ giúp cho độc giả sáng tỏ những nhận thức từ tác phẩm mà quan trọng hơn là cung cấp những hướng tiếp cận khoa học đối với tác phẩm Với ý nghĩa này, người làm công tác phê bình nghiên cứu đồng thời cũng làm thay đổi tầm đón nhận của công chúng văn học trong đời sống xã hội

Với vai trò quan trọng như vậy, việc nghiên cứu sự tiếp nhận Kafka qua lăng kính nghiên cứu phê bình ở Việt Nam cũng chính là nghiên cứu sáng tác Kafka trong đời sống lịch sử của người đọc Việt Nam qua nhiều thế hệ

Tiếp nhận sáng tác của Kafka ở Việt Nam được khởi xướng tại miền Nam từ những năm 1957 trong những năm đất nước bị chia cắt bởi cuộc chiến tranh của Đế quốc Mỹ Sở dĩ chọn mốc 1957 cho việc tiếp nhận Kafka ở Việt Nam vì chúng tôi căn cứ vào công trình đầu tiên có đề cập tới sáng tác của nhà văn là bài viết “Vài nét

Trang 34

về văn chương nước Mỹ” của Văn Quỹ in trên tạp chí Bách Khoa số 1, năm 1957

Ở bài viết này, khi đề cập tới tình hình văn chương Mỹ, nhà nghiên cứu đã có những nhận xét sơ giản về sự ảnh hưởng của Kafka trên văn đàn Mỹ Công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp về Kafka là bài viết “Những nẻo đường mới trong rừng văn nghệ hiện đại” của Nguyễn Khắc Hoạch in trên tạp chí Đại học số 11 năm

1959

Từ 1957 cho đến nay, tiếp nhận sáng tác của nhà văn trải qua nhiều biến động Chúng tôi chọn mốc 1975 để chia thành hai giai đoạn trong tiếp nhận sáng tác của nhà văn Do tính chất phức tạp của cả hai giai đoạn, trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi phân chia các thời kỳ phù hợp với những điều kiện chính trị - xã hội của từng thời điểm trong lịch sử dân tộc Hai thời kỳ Kafka được giới nghiên cứu quan tâm nhiều nhất là hai thời kỳ miền Nam trước 1975 (với 10 bài nghiên cứu trực tiếp về Kafka và 41 bài viết có đề cập tới sáng tác của Kafka) [Xem Phụ lục trang 1.1, 1.2, 1.3, trang 1-5] và thời kỳ sau 1986 (với 29 bài viết trực tiếp về Kafka) [Xem phụ lục 1.4 trang 5-8], hai thời kỳ miền Bắc trước 1975 và Việt Nam sau 1975-1986 Kafka vắng bóng trong đời sống nghiên cứu phê bình văn học [Xem phụ lục 1.5, 1.6, trang 8-9] Có thể quan sát tỉ lệ các bài nghiên cứu trực tiếp về sáng tác của Kafka ở 4 thời

kỳ qua biểu đồ sau:

Bảng 1: Biểu đồ so sánh tỉ lệ bài nghiên cứu về Kafka ở Việt Nam qua các thời kỳ

Qua số lượng bài viết của các thời kỳ, có thể thấy việc tiếp nhận sáng tác của Kafka trong giới nghiên cứu - phê bình qua lịch sử như sau:

Trang 35

2.1 Giai đoạn trước 1975

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Genève, Việt Nam bị chia cắt hai miền Nam Bắc Trong khi miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn thì miền Bắc bước vào thời kỳ hòa bình Tiếp nhận Kafka ở thời kỳ này cũng chịu sự tác động của sự phân cực Bắc - Nam đó Trong khi ở miền Nam, việc tiếp nhận sáng tác của Kafka khá phong phú và trở thành một trào lưu nổi bật ở những năm 1965 -1966 thì sáng tác của nhà văn hầu như vắng bóng ở miền Bắc cùng thời kỳ Chúng tôi sẽ lí giải những yếu tố tác động đến sự khác biệt trong tiếp nhận Kafka ở hai miền Nam Bắc trong thời kỳ này

2.1.1 Những tiền đề tiếp nhận Kafka trong lòng xã hội miền Nam và miền Bắc trước 1975 2.1.1.1 Những điều kiện chính trị - xã hội và sự tác động đến việc tiếp nhận hay từ chối Kafka ở hai miền Nam - Bắc trước 1975

Yếu tố tác động đến sự phân cực trong tiếp nhận Kafka ở Việt Nam thời kỳ này chính là cuộc chiến Mỹ tạo nên ở miền Nam Cuộc chiến kéo dài 20 năm trong lòng xã hội miền Nam đã tác động lớn đến sự vận động của văn học Việt Nam cũng như sự tiếp nhận các tác giả văn học nước ngoài Cùng trong một hoàn cảnh, song chiến tranh

đã có sự tác động hoàn toàn trái ngược đến đời sống của hai miền Nam Bắc

Ở miền Nam, chiến tranh đã để lại những dư chấn nặng nề với con người ở các đô thị miền Nam Đối với người miền Nam, nhất là giới trí thức, chiến tranh thường mang bộ của chết chóc với những thảm họa phơi bày ra hàng ngày là li tán tha phương, là đói khát, trộm cướp và là sự suy đồi về đạo đức….và hơn hết chiến tranh với bộ mặt thảm khốc của nó đã tác động sâu sắc đến tâm lí của mỗi con

người miền Nam “Chiến tranh chẳng những có khả năng phá hoại những kiến trúc vật chất mà cả những kiến trúc tinh thần Chiến tranh khiến cho con người mệt mỏi, nghi ngờ, đói khát Chiến tranh đem lại sự hỗn loạn, sự tạm bợ, sự hèn nhát” [97, 20] “Lớp người già thì mỏi mòn vì những kinh nghiệm chua xót, lớp người trẻ thì hoài nghi về những giá trị có tính cách ước lệ” [103, 14] Không có niềm tin vào cuộc sống, tâm trạng bơ vơ “đến nỗi không biết mình phải làm gì, có thể làm gì” [107, 20], tình trạng “không tương lai, ngay cả tương lai chết chóc” [282, 72] hay

“hoài nghi, nguyên nhân chủ yếu tạo thành mối lo âu” [81, 4];“Thời đại này con người như bỗng rơi mất vùng cố định của mình Mọi người mất hẳn niềm đam mê

Trang 36

với đời sống…muốn vất bỏ tất cả để trở về nằm xóa mình và chờ quên” bởi “sống như một vết phiền muộn” [229, 243] là tâm lí chung của con người miền Nam trong

những năm chiến tranh khốc liệt ấy

Cùng với chiến tranh, xã hội miền Nam cũng nảy sinh những bất ổn từ chính những mâu thuẫn trong nội bộ của chính quyền Sài Gòn Chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm rơi vào sự khủng hoảng trầm trọng và đỉnh điểm là cuộc chính biến 1-11-1963 Sự chấm dứt chế độ của gia đình họ Ngô không thể cứu vãn được thậm chí còn khắc sâu thêm tình hình phức tạp, khủng hoảng của xã hội ở miền Nam: đảo chính, sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị Bên cạnh

đó, sự can thiệp của Mỹ cùng với quân đội, “tiền Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa phẩm Mỹ” cũng là nguyên nhân đẩy xã hội miền Nam vào tình trạng bất ổn đến cùng cực Cũng như chiến tranh, đời sống chính trị với những đảo lộn hàng ngày khiến con người rơi vào tình trạng lo âu, mất phương hướng, vào một thế đứng chông chênh,

“không có ai có đủ niềm tin” [107, 14] vì chính “thực tại đã đem lại rất chóng những bạo động, giả dối, lường gạt, không thể che dấu được mặc dầu cái thực tại

bi đát đó có được khoác những chiếc áo màu hồng, mầu xanh… cái cũ đang bị lung lay, cái mới chưa thành hình, hiện tại bấp bênh, tương lai vô định…” [265, 9] Tình

thế xã hội đã tạo nên những cảm thức về vấn đề thân phận con người trong đời sống người miền Nam, tạo nên sự đồng điệu với những vấn đề đặt ra trong văn học phương Tây thế kỷ XX Chính điều đó đã đưa những nhà văn phương Tây hiện đại trong đó có Kafka đến với độc giả, nhất là độc giả trí thức miền Nam trước 1975

Ngược lại với miền Nam, sau hiệp định Genève, miền Bắc đứng trước hai nhiệm vụ chính trị to lớn là khôi phục, xây dựng kinh tế miền Bắc sau chiến tranh

và chi viện cho miền Nam trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại Để thực hiện mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thực hiện hàng loạt những chính sách, chủ trương mạnh mẽ như tiến hành cải cách ruộng đất (1954-1957), thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-

1965) Với chủ trương “tất cả vì miền Nam thân yêu”, miền Bắc thực hiện nhiệm

vụ là hậu phương với tiền tuyến miền Nam bằng những hỗ trợ về vật chất cũng như

con người Vì miền Nam ruột thịt, hàng vạn thanh niên miền Bắc đã “xẻ dọc Trường Sơn” cho một cuộc trường chinh giải phóng dân tộc với tâm hồn “phơi

Trang 37

phới dậy tương lai” (Ý thơ Tố Hữu) “Quyết tử để tổ quốc quyết sinh”, “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng” là những khẩu hiệu tâm nguyện của một thế hệ

người Việt Nam trong hoàn cảnh chia cách đất nước

Những nhiệm vụ chính trị cách mạng to lớn đó đòi hỏi miền Bắc phải dốc toàn bộ sinh lực Hoàn cảnh ấy hoàn toàn không phù hợp với những sáng tác mà ở

đó đặt ra vấn đề con người cá nhân với những nỗi lo âu về thân phận, những cảm nhận cô đơn, xa lạ và những nỗi sợ bản thể của con người Có thể nói tình thế chính trị - xã hội đã không thể tạo điều kiện cho sự du nhập sáng tác của Kafka ở miền Bắc thời kỳ này

2.1.1.2 Môi trường văn hóa - văn học hai miền Nam - Bắc và những ảnh hưởng trái chiều trong tiếp nhận Kafka

Đời sống văn hóa - văn học ở miền Nam trong thời kỳ trước 1975 đa dạng và phong phú Sự đa dạng trước hết do sự du nhập của văn hóa phương Tây vào miền Nam thời kỳ này Nét nổi bật của việc tiếp thu văn hóa phương Tây là việc ưu tiên cho những tư tưởng triết học hiện đại đang thịnh hành thời bấy giờ Trong số các trào lưu triết học được giới thiệu ở miền Nam, trào lưu hiện sinh với những những tên tuổi quen thuộc như F.Nietzsche, M Heidegger, J.P.Sartre, A Camus…được giới thiệu có phần rộng rãi nhất Bám rễ ở miền Nam, chủ nghĩa hiện sinh đã đưa đến một luồng tư tưởng mới, thậm chí cả một lối sống mới đồng thời cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự có mặt của Kafka trên văn đàn miền Nam trước 1975

Sự tiếp nhận sáng tác của các nhà văn phương Tây nói chung và Kafka nói riêng không chỉ chịu sự tác động của tư tưởng triết học hiện đại mà trước hết là chịu

sự ảnh hưởng của tư duy phê bình văn học du nhập từ phương Tây thời kỳ này Ở miền Nam, các lý thuyết phê bình đều có chỗ đứng từ phê bình giáo khoa cho đến phân tâm học, phê bình hiện sinh, thuyết cấu trúc, phê bình tôn giáo… Mỗi một khuynh hướng mở ra một hướng tiếp cận khác nhau đã làm cho tác phẩm được mở rộng phạm vi tiếp xúc, tạo nên những giá trị mới cho tác phẩm văn học mà bằng hệ quy chiếu phương Đông hay quan niệm văn nghệ Mác xít không thể có cái nhìn đầy

đủ Những hệ hình tư duy phê bình mới đã giúp các nhà nghiên cứu miền Nam nắm bắt được tiếng nói đa chiều trong tác phẩm của các nhà văn phương Tây hiện đại như Kafka và nhờ vậy đưa sáng tác của ông đến gần với công chúng hơn

Trang 38

Với những thay đổi trong tư duy triết học cũng như nghệ thuật du nhập từ

phương Tây, đời sống văn hóa miền Nam cũng thay đổi nhanh chóng Trong bối cảnh đó, văn hóa miền Nam hàm chứa những khát vọng chuyển mình Có thể nói đời sống văn học ở miền Nam thời kỳ 1954 - 1975 phát triển hết sức phong phú Sự phát triển đó được biểu hiện đầy đủ ở mọi hình thức sinh hoạt trong đời sống văn hóa - văn học ở miền Nam

Trước hết là lĩnh vực xuất bản Số lượng nhà xuất bản ở miền Nam đông đảo, theo thống kê của Tạp chí Bách khoa số 46, năm 1958, ở miền Nam, số lượng Nhà xuất bản là 54 [Theo 236, 44] Hoạt động của các nhà xuất bản tạo điều kiện cho các nhà văn miền Nam có cơ hội trình làng tác phẩm và cũng tạo điều kiện cho việc xuất bản sách dịch từ các ấn bản ngoại quốc

Cùng với các nhà xuất bản là sự nở rộ của báo chí miền Nam giai đoạn này

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương “Trong những năm 1954 -1975, ở miền Nam Việt Nam, hoạt động báo chí trong đó có báo chí về văn hóa văn nghệ, phát triển phong phú, đa dạng và phức tạp Theo một thống kê chưa đầy đủ, lúc đó ở miền Nam, cứ 1.000 dân thì có 51 ấn bản báo chí Riêng về tạp chí định kỳ (tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san) về văn hóa văn nghệ, trong 20 năm đó, có ít nhất

50 tờ báo đã ra đời và hoạt động, với quá trình dài ngắn khác nhau” [220, 46] Các

công trình lý luận, các lý thuyết văn học hiện đại cùng các tác gia văn học hầu hết được giới thiệu ở các tạp chí này Đặc biệt những tạp chí cấp tiến có xu hướng giới thiệu những tinh hoa văn hóa thế giới có chiều hướng phát triển mạnh như Văn, Văn học, thế kỷ XX, Trình bầy, Đại học, Bách khoa… Viết bài cho các tạp chí là những nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi ở miền Nam như Nguyễn Văn Trung, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Phạm Công Thiện, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến,

Vũ Hạnh… Sự tham gia của báo chí vào đời sống văn hóa tạo nền tảng cho văn học miền Nam phát triển mạnh mẽ

Đời sống phong phú của văn học miền Nam còn được thể hiện qua sự phát triển của lĩnh vực dịch thuật Sách dịch (sách nhập) ở miền Nam luôn có tỉ lệ cao hơn sách nội địa, có những năm lên đến 32 lần (năm 1954) [Xem Phụ lục 2.1, trang 11] Dịch thuật ở miền Nam đa dạng, phong phú và cũng phức tạp, bên cạnh những tiểu thuyết gia phương Tây hiện đại còn xuất hiện những cây bút vốn được xem là

Trang 39

“phía bên kia” như M Gorki, M Sholokhov… Điều này cho thấy việc dịch thuật ở miền Nam thường hướng đến những tác gia hoặc những tác phẩm văn học có đóng góp cho nền nghệ thuật nhân loại hơn là vì thiên kiến chính trị Tuy nhiên vẫn có thể thấy sự ưu tiên dành cho các nhà văn phương Tây, đặc biệt là các nhà văn thuộc trào lưu hiện sinh như A Camus, J.P.Sartre, F.Sagan…Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Kafka ở miền Nam cũng nằm trong quy luật chung của sự phát triển văn

học của miền Nam giai đoạn này

Việc dịch thuật giới thiệu những nhà văn lớn của văn hóa phương Tây, đặc biệt những nhà văn có nhiều cách tân trên địa hạt văn chương trước hết là do sự tác động của bối cảnh chính trị - xã hội của cuộc chiến Mỹ tạo dựng ở miền Nam, mặt khác do sự can thiệp của Mỹ vào đời sống văn hóa ở miền Nam thời kỳ này Điều

đó có thể thấy rất rõ qua việc chính phủ Mỹ đầu tư cho thư viện để phát triển nguồn tài liệu của các thư viện lớn ở Sài Gòn Chẳng hạn như về mặt phát triển sưu tập cho các thư viện của các trường trung học, ngoài kinh phí của chính quyền địa phương, các thư viện trung học còn được cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) tài

trợ để mua sắm sách báo, học liệu với số tiền lên đến hàng trăm ngàn USD [Xem

Phụ lục 2.2, trang 11-12] Việc đầu tư tài chính vào việc phát triển thư viện đã khích

lệ cho văn học trong nước, đặc biệt dịch thuật phát triển

Bên cạnh sự tác động của bối cảnh chính trị - xã hội, của sự can thiệp văn hóa Mỹ, sự phong phú trong đời sống văn học của miền Nam còn do nhu cầu nội tại của nền văn học này

Sự xuất hiện của một đội ngũ các nhà văn, các nhà phê bình, nghiên cứu có khát vọng đưa văn học miền Nam tiến kịp với tiến trình hiện đại của văn học thế giới đã tạo dựng được thần thái mới cho văn học các đô thị miền Nam Với khát vọng đó, việc dịch thuật, giới thiệu trước tác của các nhà văn hóa lớn, đặc biệt là các nhà văn hiện đại như những người mở đường, những công trình phê bình, các lý thuyết văn học phương Tây hiện đại …trở thành một nhu cầu thiết yếu Số lượng dịch giả tăng, số đầu sách dịch tăng, số tạp chí hỗ trợ công tác dịch thuật tăng, thậm chí có những nhà xuất bản chỉ chuyên in sách dịch như nhà xuất bản Giao Điểm hoặc

như tờ báo Văn “trong hơn 11 năm đã dành ra hơn 90 số đặc biệt cho văn học ngoại quốc Tức là xấp xỉ 1/3 tổng số báo xuất bản” [Theo 14, 64] Hoạt động của các nhà xuất bản, báo

chí và dịch thuật đã tạo cơ hội cho các nhà văn đến với đời sống văn học miền Nam, sáng tác của Kafka cũng không nằm ngoài quy luật này

Trang 40

Hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã tạo môi trường văn hóa thuận lợi cho sự tiếp nhận Kafka ở miền Nam có phần ngược lại với những điều kiện văn hóa cho tiếp nhận nhà văn ở miền Bắc Hoàn cảnh lịch sử với những nhiệm vụ to lớn như đặt ra

ở miền Bắc cũng đã tác động đến đời sống văn hóa thời kỳ này Với phương châm

“văn nghệ cũng là một mặt trận”, văn hóa - văn nghệ Việt Nam theo sát những

nhiệm vụ chính trị đặt ra trong cuộc vận động cách mạng của dân tộc “Bản đề

cương văn hóa Việt Nam” năm 1943 đã phác thảo cương lĩnh đầu tiên về văn hóa

nghệ của nước Việt Nam với tư tưởng “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải

do Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo” [Trích theo 191, 11] Trên nền tảng tư

tưởng ấy, văn hóa dân tộc vận động hướng về những nhiệm vụ cấp bách với ba nguyên tắc dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa Trường Chinh trong cuốn

“Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam” đọc tại Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ hai, năm 1948, đã cụ thể hóa tư tưởng đó qua việc xác định phương châm

của nền văn hóa: “về xã hội, lấy giai cấp công nhân làm gốc Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc.Về tư tưởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm gốc Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gốc‟‟ [Trích theo 191, 13] Điều đó được cụ

thể hóa trong thư của Ban chấp hành Trung ương Đảng gửi Đại hội văn nghệ toàn

quốc lần thứ 2 (20.2.1957) “Nêu cao tác dụng của văn học các nước Xã hội chủ nghĩa là lấy văn nghệ trực tiếp phục vụ cho chính trị, phục vụ cho chiến đấu và xây dựng, là phát huy tác dụng của văn nghệ trên những môi trường thích hợp nhất Đó

là vấn đề nguyên lí phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống và của quần chúng cách mạng” [Trích theo 257, 60]

Nền văn hóa chỉ đạo với khuynh hướng chính trị hóa đã tác động sâu sắc đến không chỉ người cầm bút mà còn người thưởng thức nghệ thuật Về sáng tác, văn học nghệ thuật hướng về quần chúng lao động, cổ động cho những nhiệm vụ chính

trị của thời đại Đặc điểm đó được nhà thơ Chế Lan Viên khái quát “Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ” Ở khâu thưởng thức, chú trọng

những tác phẩm văn nghệ được viết theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, hướng về những hình mẫu lí tưởng và những vấn đề tư tưởng hơn là thưởng thức nghệ thuật với những sáng tạo độc đáo Khuynh hướng chính trị hóa văn nghệ đưa

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. R. M. Albérès (2003), Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học châu Âu thế kỷ XX (Vũ Đình Lưu dịch), Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học châu Âu thế kỷ XX
Tác giả: R. M. Albérès
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
2. Tạ Duy Anh (2004), Bố cục hoàn hảo, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bố cục hoàn hảo
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
3. Tạ Duy Anh (2006), Nhân vật, Nxb Hội nhà văn, Công ty sách Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2006
4. Tạ Duy Anh (2007), Người khác, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khác
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
5. Tạ Duy Anh (2008), Thiên thần sám hối, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên thần sám hối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
6. Tạ Duy Anh (2008), Những giấc mơ của tôi, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giấc mơ của tôi
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
7. Tạ Duy Anh (2008), Giã biệt bóng tối, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giã biệt bóng tối
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
8. Tạ Duy Anh (2008), Trò đùa của số phận, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò đùa của số phận
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2008
10. Tạ Duy Anh (2008), Ba đào ký, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đào ký
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
11. Tạ Duy Anh (2008), Làng quê đang biến mất?, Nxb Hội nhà văn, Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng quê đang biến mất
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008
12. Tạ Duy Anh (2013), Đối thủ còi cọc, Nxb Kim đồng, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thủ còi cọc
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Kim đồng
Năm: 2013
13. Tạ Duy Anh (2014), Bước qua lời nguyền, Nxb Hội nhà văn, Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước qua lời nguyền
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2014
320. Bookbuy.vn (2014), Chín tựa sách văn Học Được Đọc Nhiều Nhất Mọi Thời Đại, nguồn http://sachhay.bookbuy.vn/tin-sach/9-tua-sach-van-hoc-duoc-doc-nhieu-nhat-moi-thoi-dai/ Link
328. Phan Lê (lược dịch và tổng hợp), Top 10 cuốn sách tuyệt vời nhất mọi thời đại, nguồnhttp://danviet.vn/tin-tuc/top-10-cuon-sach-tuyet-voi-nhat-moi-thoi-dai-37341.html Link
329. Hoàng Minh, Mười quyển sách văn học hay nhất mọi thời đại, nguồn http://khoahoc247.com/index.php/2013/01/10-quyen-sach-van-hoc-hay-nhat-moi-thoi-dai/ Link
330. Nhã Nam.Vn (2015), Chín tác phẩm nước ngoài kinh điển mà bạn không thể bỏ qua, nguồn http://nhanam.vn/tin-tuc/9-tac-pham-nuoc-ngoai-kinh-dien-ma-ban-khong-nen-bo-qua Link
331. Bích Ngọc (theo Life Span) (2014), Chín cuốn tiểu thuyết nên đọc trong đời, nguồn http://dantri.com.vn/van-hoa/9-cuon-tieu-thuyet-nen-doc-trong-doi-1405287305.htm Link
332. Ngọc Phạm (Tổng hợp theo Bloomberg) (2015), 10 từ khóa người Việt tìm kiếm nhiều nhất trên google, http://danviet.vn/cong-nghe/10-tu-khoa-nguoi-viet-nam-tim-nhieu-nhat-tren-google-649812.html Link
333. Phạm Tăng (2010), Văn hóa đọc ở Việt Nam, cần dựng lại từ nền móng, Tạp chí sức khỏe và đời sống, nguồn http://suckhoedoisong.vn/van-hoa-doc-o-viet-nam-can-dung-lai-tu-nen-mong-n37164.html Link
335. Tiki Viet Nam (2015), Những tác phẩm hay nhất mọi thời đại, nguồn http://tiki.vn/tu-an/nhung-tac-pham-van-hoc-hay-nhat-moi-thoi-dai Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w