1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề chủ thể tiếp nhận qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết tự lực văn đoàn

105 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 716 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongquá trình phát triển sinh động, tư duy lí luận văn học hiện đại đã có những khámphá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản nghệ thuật trong quan hệ với nhữngyếu tố khác, với người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ THANH HOA

VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN QUA LỊCH SỬ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đđy lă công trình nghiín cứu của riíng tôi, câc

số liệu vă kết quả nghiín cứu ghi trong luận văn lă trung thực, đượccâc đồng tâc giả cho phĩp sử dụng vă chưa từng được công bố trongbất kỳ công trình năo khâc

Tâc giả luận văn

Trần Thị Thanh Hoa

Trang 3

Để hoăn thănh Luận văn năy, Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến thầy côgiâo, cân bộ Khoa Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Huế đê tạo điều kiệntốt cho tôi trong quâ trình học tập vă nghiín cứu thực hiện đề tăi.

Đặc biệt, tôi xin băy tỏ lòng biết ơn sđu sắc đến thầy giâo, PGS TS.Trần Thâi Học, người đê tận tình hướng dẫn tôi thực hiện vă hoăn thănh Luậnvăn

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới người thđn, bạn bỉ, đồng nghiệp đêgiúp đỡ, động viín vă tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập vă thựchiện luận văn

Xin chđn thănh cảm ơn!

Tâc giả luận văn

Trần Thị Thanh Hoa

iii

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 3

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 11

6 Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG TƯ DUY LÍ LUẬN VĂN HỌC 12

1.1 Bản chất của tác phẩm văn học trong tư duy lí luận văn học 12

1.1.1 Văn bản văn học và hiện thực 12

1.1.1.1 Văn học – hiện thực là một trong bốn quan hệ cơ bản của văn học nghệ thuật 12

1.1.1.2 Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại 13

1.1.1.3 Hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa do thực tiễn gợi ra 14

1.1.2 Văn bản văn học từ lịch sử tiếp nhận 15

1.1.2.1 Tác phẩm từ điểm nhìn lý luận văn học truyền thống 15

1.1.2.2 Tác phẩm từ điểm nhìn lý luận văn học hiện đại 17

1.2 Mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm văn học 19

1.2.1 Từ văn bản đến tác phẩm văn học 19

1.2.2 Văn bản văn học và sự xác lập đời sống thông qua người đọc 20

1.3 Quá trình tiếp nhận văn chương 24

1.3.1 Các giai đoạn của quá trình tiếp nhận văn chương 24

1.3.2 Tính khách quan của tiếp nhận văn chương 25

Trang 5

1.3.3 Tính sáng tạo của tiếp nhận văn chương 27

1.4 Chủ thể tiếp nhận trong quá trình tiếp nhận văn chương 29

1.4.1 Những quan niệm về chủ thể tiếp nhận 29

1.4.2 Vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với đời sống lịch sử của văn chương 31

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ LỊCH SỬ TIẾP NHẬN 34

2.1 Vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ trước 1945 34

2.1.1 Hướng tiếp nhận từ quan điểm đạo đức và xã hội 34

2.1.2 Hướng tiếp nhận từ đặc trưng thể loại 39

2.2 Những vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ 1954-1975 42

2.2.1 Vấn đề tiếp nhận tự lực văn đoàn ở Miền Bắc 43

2.2.2 Vấn đề tiếp nhận tự lực văn đoàn ở miền Nam từ 1954-1975 45

2.3 Những vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ 1986 đến nay 51

2.4 Tầm đón đợi trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 56

2.4.1 Tầm đón đợi 57

2.4.2 Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ tầm đón đợi truyền thống 58

2.4.3 Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn từ tầm đón đợi mới 65

CHƯƠNG 3: TIẾP CẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TỪ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP 70

3.1 Từ thi pháp học 70

3.1.1 Quan niệm về thi pháp học 70

3.1.2 Thi pháp học trong lịch sử tiếp nhận Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 72

3.2 Từ xã hội học 75

3.2.1 Cách hiểu về phương pháp xã hội học 76

3.2.2 Xã hội học trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 79

3.2.3 Quan hệ giữa Xã hội học và cấu trúc ngôn từ mở của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 83

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Trong những năm trở lại đây, thành tựu của lí luận văn học hiện đại đã thể hiệnnhững bước tiến quan trọng trong việc khám phá văn bản nghệ thuật như là cấu trúcngôn từ động Với việc nhận ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm vănhọc, hay nói cách khác, với việc khẳng định vai trò của văn bản trước vai trò của tácgiả, lí luận văn học hiện đại đã vượt lên tư duy lí luận văn học tiền hiện đại Trongquá trình phát triển sinh động, tư duy lí luận văn học hiện đại đã có những khámphá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản nghệ thuật trong quan hệ với nhữngyếu tố khác, với người tiếp nhận Vì vậy mĩ học tiếp nhận nêu lên những giá trị dễthay đổi, trực tiếp gắn liền với cá nhân người đọc thông qua quá trình cụ thể hóavăn bản Từ đây lịch sử văn học không đơn thuần là con số cộng tác giả và tác phẩm

mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch

sử của nó Các nhà lí luận đến từ Mỹ học tiếp nhận cho rằng : Không có văn họcnếu không có người đọc và văn học không phải chỉ là tác phẩm văn học mà văn học

có từ tác phẩm và người tiếp nhận nó, từ đội ngũ thay đổi không ngừng về mặt lịch

sử của những người tiếp nhận, giữ người tiếp nhận cùng thời và người tiếp nhận maisau Lịch sử văn học chỉ có thể là lịch sử lịch sử của mối quan hệ giữa tác phẩm vàngười tiếp nhận Như vậy mọi sự đánh giá và những khác biệt ý kiến về một tácphẩm đều liên quan đến chủ thể tiếp nhận

Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chuyển mình với nhiều thay đổi lớn laotrên mọi phương diện Hòa chung vào dòng chảy của xã hội, văn học Việt Nam cóđiều kiện gặp gỡ, tiếp xúc với nền văn học phương Tây hiện đại nên đã có nhữngbiến chuyển mạnh mẽ Những ảnh hưởng ấy đã nhanh chóng đưa văn học tiến gần

và tiến nhanh hơn đến “quỹ đạo” của quá trình hiện đại hóa Một nền văn học mới

ra đời với những quan niệm thẩm mĩ mới đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự cáchtân, để văn học phát triển phù hợp với thời đại Trước những yêu cầu trên, nhiềunhóm phái văn học đã ra đời đáp ứng có hiệu quả nhu cầu của tầng lớp độc giảmới Trong đó Tự lực văn đoàn đã nhanh chóng vươn lên chiếm giữ vị trí “chủsoái” trên văn đàn trong suốt những năm 30 của thế kỉ XX: “Tự lực văn đoàn

Trang 7

không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan trọng nhất và nhóm cải cách đầutiên của nền văn học hiện đại” Với khoảng 10 năm hoạt động của mình, Tự lựcvăn đoàn đã có nhiều đóng góp cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, đặcbiệt là ở thể loại tiểu thuyết

Trong lịch sử văn học Việt Nam, nhóm “Tự lực văn đoàn” với những thăngtrầm trong lịch sử tiếp nhận đã cho thấy yếu tố quan trọng và phức tạp của chủthể tiếp nhận Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử nghiên cứu Tự lực văn đoàn, vấn đềchủ thể tiếp nhận vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở nhữngthành tựu lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại Chọn vấn đề “Chủ thể tiếpnhận qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn”, chúng tôi muốn có cáinhìn khoa học về một số yếu tố quan trọng chi phối giá trị và sự đánh giá tácphẩm văn học nói chung và nhóm Tự lực văn đoàn nói riêng, từ đó khẳng địnhTác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở những khám phá về bản chất ngôn ngữ

mà còn ở quá trình xác lập đời sống cụ thể thông qua người đọc

Ngoài những lí do trên việc chọn nghiên cứu đề tài này còn xuất phát từnhu cầu thực tế của cá nhân là muốn được tìm hiểu, học tập cập nhật nhữngthành tựu của Lí luận văn học, Mỹ học hiện đại của thế giới, từ đó có thể vậndụng trong công việc giảng dạy và tìm hiểu các tác phẩm văn chương của Tựlực văn đoàn nói riêng và các tác phẩm trong văn học nói chung

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nhóm những công trình gián tiếp

* Các công trình trên thế giới

Ở thế kỷ XX, thế giới bắt đầu quan tâm thực sự đến khâu tiếp nhận văn học.Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ này, Levin Schücking (Đức) đã phát triển một

lý thuyết được nhiều người chú ý tới là xã hội học về thị hiếu, trong đó ông có đưa

ra một ý là không phải chỉ có giá trị nội tại của tácphẩm là cái có thể đảm bảo cho

nó có được sự thành công, mà nó đòi hỏi một loạt điều kiện vật chất và tư tưởng cóliên quan đến phạm trù “công chúng” Năm 1965, Walter Hohmann (người Đức) đãviết một bài báo Về việc nghiên cứu sự tác động của văn học, trong đó lần đầu tiênông trình bày một cách có hệ thống vai trò của công chúng trong quá trình sản xuất

và tiếp nhận văn học Nhưng có một bài báo khác có tiếng vang hơn, đó là bài của

Trang 8

Harald Weinrich (cũng người Đức) viết năm 1967 Vì một nền văn học sử của độcgiả, trong đó ông cố gắng xác định những tiền đề cho một nền “văn học sử của độcgiả” như là một sự ứng đối lại với nền “văn học sử cổ truyền của tác giả”, là loạicông việc chỉ giới hạn nghiên cứu văn học ở khía cạnh sản xuất ra nó Tất cả các sựkiện trên đã làm thành những cơ sở tiền đề cho một “mỹ học tiếp nhận” ra đời [tiếngĐức: “Rezeptionästhetik”], mà người đầu tiên đưa ra được một mô hình hoàn thiệncho nó là Hans Robert Jauss, giáo sư giảng dạy văn học tại trường Đại họcKonstanz, thuộc Cộng hoà Liên bang Đức, trong bài tiểu luận nổi tiếng của ông:Văn học sử như là một sự khiêu khích đối với lý luận văn học

* Các công trình trong nước

Vấn đề tiếp nhận văn học ở trong nước có nhiều chuyển biến ,đầu những năm

60 Nguyễn Văn Trung cũng nhắc đến vấn đề tiếp nhận văn học trong cuốn Lược khảo văn học tập 2, đến năm 1980, giáo sư Hoàng Trinh mới nhắc đến vấn đề tiếp

nhận văn học, nhưng ông lại bàn từ góc độ nền văn học này tiếp nhận một nền vănhọc khác, tức là nó thuộc về lĩnh vực của văn học so sánh

Trên cơ sở mỏng manh đó, tháng 11 năm 1985 Mĩ học tiếp nhận của trườngphái Konstanz Đức lần đầu tiên được Nguyễn Văn Dân giới thiệu ở Việt nam trong

bài Tiếp nhận “Mĩ học tiếp nhận” như thế nào” Cùng năm 1986 Hoàng Trinh viết một bài khá dày dặn về Giao tiếp văn học (Tạp chí Văn học số 4) nhưng không nhắc gì đến Mĩ học tiếp nhận Sang thập niên 90, Nguyễn Lai viết Tiếp nhận văn học một vấn đề thời sự (BáoVăn nghệ số 27, ngày 7-7-1990), Nguyễn Thanh Hùng viết Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học (Báo Văn nghệ số 42, ngày 10-10-1990)

đều nhấn mạnh đến tính chất chủ quan năng động của người đọc Năm 1991 Viện

thông tin khoa học xã hội cho xuất bản cuốn Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, nhưng trong đó chỉ có bài viết của Trần Đình Sử (Mấy vấn đề lí luận tiếp nhận văn học) và của Nguyễn Văn Dân (Lý luận tiếp nhận văn học với sự tiếp nhận văn học – nghệ thuật thế giới ở Việt Nam ta hiện nay), 10 bài còn lại đều là dịch, lược dịch,

lược thuật những bài viết của Schifirnet, Morar, Pascadi, Marian… Năm 1995

Trương Đăng Dung công bố bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mĩ tập trung nghiên cứu vấn đề “văn bản”, “tác phẩm” và sự tạo nghĩa thông

qua hành động đọc

Trang 9

Cuối thập niên 90, đáng chú ý nhất là cuốn giáo trình Tiếp nhận văn học (1997) viết cho trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Huế của Phương Lựu, chuyên luận Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998) của Trương Đăng Dung và bài Lý thuyết tiếp nhận và phê bình văn học (số 124 tháng 06-1999)

Sang đầu thế kỉ 21, bóng dáng của Mĩ học tiếp nhận được xuất hiện trong hai

chuyên luận Đọc và tiếp nhận văn chương(2002) của Nguyễn Thanh Hùng và Tác phẩm văn học như là quá trình (2004) của Trương Đăng Dung Đáng ghi nhận nhất

là năm 2002 Trương Đăng Dung đã dịch tuyên ngôn của Jauss Lịch sử văn học như

là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, và cho đến nay, đây vẫn là văn bản duy

nhất của Mĩ học tiếp nhận được dịch ra tiếng Việt và công bố ở Việt Nam Dưới ảnhhưởng của các công trình trên, trong thập niên đầu tiên của thế kỉ mới cũng rải rác

có các bài viết của Phạm Quang Trung đăng trên website cá nhân (pqtrung.com)

như Lý thuyết tiếp nhận trong đời sống văn chương hiện nay (2009), Chung quanh khái niệm “tầm đón nhận” của H Jauss (2010), ngoài ra có một xu hướng tương đối nổi trội là Vận dụng một số vấn đề của lí thuyết tiếp nhận vào việc giảng dạy và học môn văn trong nhà trường(2009) Cuối thập niên đầu tiên của thế kỉ mới, đáng

chú ý hơn cả là cuộc tranh luận nhỏ giữa Đỗ Lai Thúy và Trần Đình Sử quanh bài

viết Khi người đọc xuất hiện của Đỗ Lai Thúy Trần Đình Sử liền công bố bài Cần

có tiêu chí khoa học để phân biệt người đọc hiện đại và người đọc cổ điển (2010) Cũng năm 2010 Huỳnh Như Phương cho xuất bản cuốn Lý luận văn học, đã dành chương 6 viết về Người đọc và tiếp nhận văn học,trong sự trình bày của mình tác

giả thể hiện rất rõ dấu ấn của Mĩ học tiếp nhận khi “Nghiên cứu tiếp nhận văn học,vai trò của người đọc qua khái niệm “chân trời chờ đợi” và số phận lịch sử của tácphẩm văn học qua lăng kính của sự tiếp nhận” Gần đây nghiên cứu Mĩ học tiếpnhận đáng chú ý nhất là những bài viết của Hoàng Phong Tuấn, năm 2010 anh đã

công bố bài viết Về sự khác nhau giữa "Lý thuyết tiếp nhận" và "Mỹ học tiếp nhận" của Hans Robert Jaub ] và 2012 công bố bài: Một số điểm chính trong lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser Bốn bài tranh luận, hai bài viết, một chương trong giáo

trình lí luận văn học và một cuộc hội thảo cho thấy vấn đề Tiếp nhận văn học trong2,3 năm gần đây trở nên khá sôi động

Trang 10

Các nhà lý luận khác: Hoàng Trinh (Ký hiệu nghĩa và phê bình văn học, Nxb Văn học, 1980); Lê Ngọc Trà (Lý luận văn học, Nxb Trẻ, 1990); Huỳnh Như Phương (Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, cùng viết với Nguyễn Văn Hạnh, Nxb Giáo dục, 1995); Lý luận văn học (nhập môn), Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh, 2010), Đỗ Đức Hiểu (Đổi mới phê bình văn học, Nxb Khoa học xã hội, 1993), Nguyễn Thanh Hùng (Văn học- Tầm nhìn- Biến đổi, Nxb Văn học,1996; Đọc- Hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb GD, 2008); Trương Đăng Dung (Tác phẩm văn học như là một quá trình, Nxb Khoa học xã hội, 2004; Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, 1998); Phương Lựu (Lý luận văn học- chủ biên, Tập I, Nxb ĐHSP, 2002; Giáo trình Tiếp nhận văn học, Nxb Đà Nẵng, 2004); Trần Đình Sử (Giáo trình Lý luận văn học- chủ biên, Tập I, II, Nxb ĐHSP, 2004-2006; Lý luận văn học - chủ biên, Tập II, Nxb ĐHSP, 2008)…

Đó là những tiểu luận, chuyên luận, giáo trình lý luận văn học bậc Đại học.Mỗi người ở những góc độ tiếp cận và sự dẫn giải rộng hẹp, nông sâu khác nhau đãgắn việc đọc, sự đọc của người đọc với quan niệm mới về văn bản tác phẩm văn học

do nhà văn sáng tạo, dưới góc nhìn của chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học Chungqui lại, được nhấn mạnh các luận điểm như sau:

“Xét tác phẩm văn học ở phương diện ký hiệu học với tư cách là một sáng tạo

có tính ký hiệu, một phương tiện giao tiếp thì tác phẩm có hai mặt: Cái biểu đạt và Cái được biểu đạt, văn bản và ý nghĩa Nội dung tác phẩm được mã hóa vào

các phương tiện biểu đạt là văn bản ngôn từ và hình tượng văn học, làm thành ýnghĩa của chúng Người đọc giải mã văn bản ngôn từ và hình tượng để nắm bắt ýnghĩa của tác phẩm Do đó nội dung tác phẩm được thực hiện và mở ra qua ý nghĩa

mà người đọc phát hiện, nội dung tác phẩm chính là tổng hòa mọi ý nghĩa của tácphẩm do hoạt động đọc mở ra ”

Trang 11

Đương thời, ngay từ buổi đầu ra mắt, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã được độc giả

đô thị đón nhận khá nồng nhiệt Việc đánh giá tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ngay từđầu cũng có những ý kiến không đồng nhất thậm chí đối lập Tuy nhiên, xu thếkhẳng định giá trị của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn vẫn chiếm ưu thế và được biểuhiện rõ qua một số công trình nghiên cứu của các cây bút phê bình có uy tín như

Trương Chính với Dưới mắt tôi (1939), Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại (1942), Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học sử yếu (1943)

Sau cách mạng tháng Tám (1945 đến trước 1986), một thời gian khá dài tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn dường như không được ai nói đến Phải tới sau 1954, tiểu thuyết

Tự lực văn đoàn mới được đề cập trở lại nhưng với những đánh giá khác mhau ở haimiền Nam Bắc

Miền Bắc, vào 1957 nhân tái bản Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái Hưng) có loạt bài

tranh luận về tác phẩm này của các tác giả Vĩnh Mai, Trương Chính, Trần ThanhMại, Nguyễn Văn Phú, Nguyên Hồng đăng trên báo Văn các số 10, 13, 14, 17, 18

Ngoài ra, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn được đề cập trong các công trình Lược

thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn, giáo trình Văn học Việt Nam

1930 - 1945, Nxb Giáo dục, 1962, Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn

học Việt Nam hiện đại của Vũ Đức Phúc

Việc “gạn đục khi trong” đối với các giá trị nhân văn của văn chương Tự lựcvăn đoàn được đồng chí Trường Chinh và một số nhà văn, nhà nghiên cứu nhưHoài Thanh, Xuân Diệu nói đến Tuy nhiên tiểu thuyết Tự lực văn đoàn dường như

bị cấm lưu hành, không có trong chương trình môn văn các cấp,dù là ở bậc đại học

Ở miền Nam, tình hình lại như ngược lại, nhất là từ khi Nhất Linh tập hợpthêm một số thành viên mới nhằm khôi phục cái gọi là hậu Tự lực văn đoàn và cảbáo Văn hóa ngày nay Những tác phẩm văn chương Tự lực văn đoàn được phổbiến rộng , được mến mộ và được coi như những chuẩn mực của văn chương hiệnđại Các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, nhất là Nhất Linh được xem là những văntài của lịch sử văn học Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn

nói chung và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói riêng như Khái Hưng người thứ nhất

muốn làm nguyên soái của văn chương sáng giá của Hồ Hữu Tường (1964), Nhất Linh văn tài tiêu biểu của Tự lực văn đoàn của Phạm Thế Ngũ (1965), Hoàng Đạo

Trang 12

một vận động lịch sử của Dương Nghiêm Mậu (1968), Nhất Linh hay khuynh hướng lang mạn phản kháng của Bùi Xuân Bào (1972) cũng được viết trên tinh

thần này

Không chỉ được giới phê bình đề cao, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn được giảngdạy kỹ lưỡng trong nhà trường phổ thông ở Miền Nam Người ta viết nhiều sách ởdạng bài luận để phục vụ cho học sinh trong các kì thi đại học và thi tú tài ban C

Sau Đại hội Đảng VI (1986), tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam thực sựbước vào thời kỳ đổi mới Nhiều cuộc hội thảo với chủ đề Giải tỏa những nghi ánvăn học nhằm trả lại giá trị đích thực cho một số tác giả, tác phẩm và trào lưu vănhọc trong đó có Tự lực văn đoàn được tổ chức, thu hút mạnh mẽ lực lượng nghiêncứu phê bình trong cả nước Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội) đã tổ chức “Hội thảo về văn chương Tự lực

văn đoàn” (27/05/1989) với sự góp mặt của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà văn

tên tuổi như Trương Chính, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Hượu, NguyễnĐình Chú, Phong Lê, Huy Cận, Tô Hoài Với tinh thần đổi mới, đứng trên quanđiểm lịch sử, cuộc hội thảo là sự tập trung nhiều ý kiến khởi đầu cho sự nhìn nhậnthỏa đáng những giá trị đích thực của văn chương Tự lực văn đoàn và nhất là tiểuthuyết Tự lực văn đoàn của giới nghiên cứu phê bình Việt Nam trên nhiều mặt: tínhdân tộc, tinh thần phản phong, ý thức cải tạo xã hội với ý nghĩa tiến bộ, vai tròquan trọng của Tự lực văn Đoàn trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt Nam

Tiếp sau cuộc hội thảo này hàng loạt công trình chuyên biệt về Tự lực văn

đoàn xuất hiện như: Tự lực văn đoàn (1989) của Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh, Tự

lực văn đoàn con người và văn chương (1990) của Phan Cự Đệ, Tự lực văn đoàn, nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hóa trong lịch sử văn học phương Đông (1991) của Trần Đình Hượu, Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn đoàn (1991) của Lê Thị Đức Hạnh; các công trình về các tác giả Tự lực văn đoàn

như bộ ba công trình Khái Hưng nhà tiểu thuyết (1993); Nhất Linh trong tiến trình

hiện đại hóa văn học dân tộc (1995); Hoàng Đạo nhà văn, nhà báo (1999) của Vu

Gia Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về tiểu thuyết Tự lực văn

đoàn như: Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (1994) của Lê Thị Dục Tú, Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho việc xây dựng một nền văn

Trang 13

xuôi Việt Nam hiện đại (1991) của Trịnh Hồ Khoa, Nghệ thuật miêu tả tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (2001) của Dương Thị Hương.

Từ chỗ dường như bị tránh nói đến ở miền Bắc, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

được tái bản và lưu hành rộng rãi với bộ Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1989),

Tuyển tập Tự lực văn đoàn (1995) của nhà xuất bản Văn học và gần đây nhất là bộ Văn chương Tự lực văn đoàn của Nxb Giáo dục (1999) với dung lượng gần 4000

trang khổ 16 x 24 Ngoài ra còn phải kể tới một lượng bản in khá lớn các tác phẩmtiểu thuyết Tự lực văn đoàn của nhiều nhà xuất bản trong cả nước Đi cùng với hệthống các tiểu thuyết này là những bài giới thiệu từng tác phẩm của các nhà phêbình như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,Nguyễn Hoành Khung

Việc đánh giá về Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết Tự lực văn đoànnói riêng diễn ra một cách khá phức tạp và có sự khác biệt qua các thời kì lịch sử ởhai miền Nam - Bắc Lịch trình tìm hiểu, nghiên cứu Tự lực văn đoàn có hơn nửathế kỷ Qua khảo sát, chúng tôi thấy cho đến thời điểm hiện nay có hơn 40 côngtrình, bài viết liên quan đến sự tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà luận văn hướng đến là “Chủ thể tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực

văn đoàn”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu, người viết tập trung khảo sát những ý kiếnđánh giá, những bài viết, những công trình nghiên cứu cơ bản còn để lại văn bản vàđược phổ biến rộng rãi trong khoảng thời gian từ những năm 1935 đến 2005 vớinhững công trình chính :

- “ Dưới mắt tôi” (1939) Trương Chính

- Nhà văn hiện đại(1942) Vũ Ngọc Phan

- “Văn xuôi Thế Lữ”, Lê Đình Kỵ

- “Văn học lãng mạn Việt Nam(1930-1945) xuất bản năm 2002 Phan Cự Đệ

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai việc nghiên cứu đề tài, người viết chủ yếu sử dụng nhữngphương pháp chính sau :

Trang 14

4.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Tìm hiểu, phân tích các giai đoạn tiếp nhận tiểu thuyết tự lực văn đoàn, trên cơ

sở đó tổng hợp khẳng định vấn đề chủ thể tiếp nhận tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

5 Đóng góp của luận văn

Khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận trong việc thẩm định và đánh giá cácgiá trị văn học

Khảo sát quá trình tiếp nhận Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn một cách có hệthống, đánh giá nghiêm túc các công trình nghiên cứu đã có về Tự lực văn đoàn, từ

đó đưa ra một số phương pháp tiếp cận Tự lực văn đoàn khoa học, khách quan,nhằm góp phần đánh giá đúng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục phần nội dungchính được người viết triển khai 3 chương sau:

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC

VĂN ĐOÀN TRONG TƯ DUY LÍ LUẬN VĂN HỌC

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ LỊCH SỬ

TIẾP NHẬN CHƯƠNG 3: TIẾP CẬN TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TỪ MỘT

SỐ PHƯƠNG PHÁP

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG TƯ DUY

LÍ LUẬN VĂN HỌC 1.1 Bản chất của tác phẩm văn học trong tư duy lí luận văn học

1.1.1 Văn bản văn học và hiện thực

1.1.1.1 Văn học – hiện thực là một trong bốn quan hệ cơ bản của văn học

nghệ thuật

Văn học và hiện thực là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận văn học,cho đến nay, dù có rất nhiều hệ thống lí luận giải thích khác nhau, vẫn chưa có líluận nào được nhất trí công nhận Đó là vì hoạt động văn học có nhiều mối quan hệ,

mà mỗi lí luận thường chỉ xây dựng theo một quan hệ nhất định để khái quát thànhnguyên lí, cho nên thường ít gặp nhau Theo sự phân tích của nhà lí luận văn học Mĩ

M H Abrams, mọi lí luận văn học đều xây dựng trên quan hệ của các yếu tố cơ bảnhọp thành hoạt động nghệ thuật sau đây:

Thế giới (hiện thực)Tác phẩm

Nghệ sĩ(tác giả) Người tiếp nhận

Từ quan hệ tác phẩm (văn học) với thế giới ta có lí thuyết mô phỏng cổ xưa vàthuyết phản ánh ngày nay Từ quan hệ nghệ sĩ với tác phẩm, ta có lí thuyết biểuhiện, sáng tạo Từ quan hệ tác phẩm(văn học) với người thưởng thức ta có lí thuyếtgiáo huấn thực dụng truyền thống và lí thuyết giao tiếp, tiếp nhận hiện đại Từ bảnthân tác phẩm trong quan hệ nghệ sĩ và người tiếp nhận ta có vấn đề nội dung, ýnghĩa, kí hiệu, trò chơi, giải trí Như thế vấn đề văn học và hiện thực, cho dù baoquát cả quan hệ tác giả/hiện thực, người đọc/hiện thực vào trong đó thì cũng chỉ baoquát có một phương diện của mô hình hoạt động nghệ thuật nói chung, và quan hệ

đó tác động đến quan điểm đối với các phương diện quan hệ còn lại Từ quan điểm

đó, không có lí do nào để hạ thấp hay phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và hiệnthực cũng như phản ánh luận (Vấn đề là hiểu phản ánh luận như thế nào) Xét từ

Trang 16

phương diện này văn học phản ánh hiện thực vẫn là một nguyên lí cơ bản, quantrọng không thể thiếu, nhưng chỉ là một phương diện mà thôi Phản ánh, theo nghĩatriết học mà nhà triết học Todor Pavlov khái quát, là sản phẩm của “tác động qualại”, do đó nó không đơn giản chỉ là “tái hiện”, “mô phỏng”như lâu nay ta hiểu, mà

nó còn có nghĩa là phản ứng, đáp trả, phủ nhận…cho nên những người phát biểu

“văn học không mô phỏng (hay phản ánh) hiện thực, mà chỉ phát hiện, biểu hiệnthực tại (Cassirer, Adorno…), thậm chí phủ nhận hiện thực, phê phán hiện thực, bóctrần các mặt nạ của hiện thực, vượt lên trên hiện thực, thì cũng đều nằm trong phạmtrù “phản ánh” hiện thực, bởi họ đã hiểu phản ánh rộng hơn, bao quát hơn Chẳng

hạn, bản chất nghệ thuật, tính nghệ thuật chính là sự phủ định tính bản thể của thực tại Hình tượng văn học là sự phủ định đối với chất liệu thực tế của hiện thực Lời

văn nghệ thuật là sự phủ định lời ăn tiếng nói thông tục hằng ngày Trước đây ta chỉkhẳng định phản ánh luận như là lí thuyết tái hiện, nhận thức là đã phiến diện, đốivới các lí thuyết khác không được coi là phản ánh luận đều có thái độ phê phán, thùđịch, như thế lại càng phiến diện Hiểu thế, trong bài này chúng tôi chỉ xét một mốiquan hệ là văn học phản ánh hiện thực, nhưng không xem nó là bình diện duy nhất,quyết định tất cả

1.1.1.2 Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực và thời đại

Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” từng bị hiểu giản đơn thành sao chépcác sự kiện của thời đại, tôn sùng nguyên mẫu, miêu tả người thật việc thật, phảnánh các mâu thuẫn bản chất của xã hội, thời đại…Mặc dù có lúc đã sáng tạo nênnhững sáng tác đáp ứng yêu cầu thực tế lịch sử nhất thời, nhưng do nghèo nàn về tưtưởng và thẩm mĩ, thiếu sức tưởng tượng, cá tính sáng tạo nhợt nhạt…cách hiểu đó

đã bị phê phán vào thời kỳ đổi mới ở Việt Nam những năm 80 – 90 thế kỉ XX Tuy

bị hiểu sơ lược, nhưng bản thân mệnh đề đó vẫn có cơ sở Bởi đó là mệnh đề xác

định một cách tổng quát nhất mối quan hệ giữa văn học với hiện thực và thời đại,không có cách biểu đạt khác Thuật ngữ “mô phỏng” có từ thời cổ đại Xưa nhất,Platon hiểu “mô phỏng” (mimesis) chỉ là mô phỏng bề ngoài, chưa phải chân lí ,đếnAristote đã hiểu đó là mô phỏng con người, hành động, tự nhiên Đối với Aristote

nghệ thuật không mô phỏng cái dĩ nhiên, mà mô phỏng cái khả nhiên của thế giới

để tạo ra thế giới có giá trị triết lí và thẩm mĩ Theo ông thơ ca (tức văn học) do đó

Trang 17

mang chất triết lí hơn lịch sử Từ thời Phục hưng cho đến thời Cận đại, đến trướcchủ nghĩa lãng mạn tư tưởng mô phỏng hiện thực vẫn là tư tưởng chủ yếu của phêbình Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội (Stenhdal), nhà văn là thư

kí của thời đại (Balzac), nếu là nhà văn vĩ đại thì tác phẩm của anh ta phản ánh ít ravài ba khía cạnh chủ yếu của cuộc cách mạng (Lênin) Đối với các bậc thầy của chủnghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các gía trị nhận thức,đạođức, thẩm mĩ của dời sống, lột trần các dối trá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọimặt nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộ của xã hội Các tư tưởng đó đã diễn đạtkhá đúng và hay về mối quan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô,nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân vật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn họcnghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã hội Cho dù quan niệm phương Đôngxưa xem văn học là dùng để nói chí, hoặc chủ nghĩa lãng mạn phương Tây xem vănhọc “biểu hiện tình cảm, khát vọng chủ quan của con người” thì cái chí ấy, cái tìnhcảm ấy cũng đều là phản ánh đời sống xã hội Tuy vậy, coi phản ánh luận là líthuyết duy nhất để giải thích văn học nghệ thuật là chưa đủ, vì với tư cách là nhậnthức luận, phản ánh luận chưa thể đi vào các quy luật sáng tạo của văn học nghệthuật cũng như quy luật tiếp nhận của người đọc Để hiểu nghệ thuật người ta phảinghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học sáng tạo, kí hiệu học, tiếp nhận nghệthuật…nhưng không vì thế mà phủ nhận văn học phản ánh hiện thực, tức là phảnánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trong văn học

1.1.1.3 Hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa do thực tiễn gợi ra

Quan niệm hiện thực của văn học như là tồn tại khách quan, không phụ thuộcvào ý thức con người đã trở nên siêu hình, không phù hợp thực tế Hiện thực là thựctại trong mối quan tâm của con người Từ đó, mỗi hình thái ý thức xã hội có một đốitượng hiện thực tương ứng với nó Hiện thực của văn học không giống với hiệnthực của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và chính trị Một thời gian rất dàichúng ta hiểu “hiện thực” của văn học là cái thực tế hiểu theo một định hướng hẹp( hiện thực đấu tranh thống nhất nước nhà, hiện thực đấu tranh hai con đường, hiệnthưc phong trào thi đua…mà thực chất đó là hiện thực đã được chính trị hoá theomột đường lối nhất định của ý thức hệ ) Hiện thực của văn học không tách rời vớichính trị, nhưng không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực của chính trị Chẳng hạn,

Trang 18

hiện thực chính trị không nhất thiết bao gồm hiện tượng vô cảm của cá nhân đối với

số phận của đồng loại, sự rung cảm trước thiên nhiên…nhưng đó là điều không thể

bỏ qua đối với hiện thực của văn học Điều này L Tolstoi đã nói rất hay trong tác

phẩm Luserne Có thể hiểu, hiện thực của văn học là thế giới ý nghĩa mà con người

sống trong đó cảm thấy được Vũ trụ, thiên nhiên, con người, xã hội, văn hoá, đồvật… chỉ khi có ý nghĩa đối với con người mới là hiện thực Tất cả những gì mà conngười tìm thấy có ý nghĩa đối với cuộc sống và từ đó khám phá những con đường

để đi tới cuộc sống có ý nghĩa tốt đẹp hơn, thú vị hơn trong nghệ thuật đều là hiệnthực Thực tiễn cho phép người ta càng ngày càng phát hiện ra nhiều ý nghĩa củathế giới đối với đời sống và do đó mà cả đối với nghệ thuật Ý nghĩa của sự vật thayđổi theo quá trình thực tiễn Không có hiện thực bất biến, muôn thuở Văn học phảnánh hiện thực đó trong tính đa diện, toàn vẹn và tính thời đại Cũng là hiện thực thờichiến tranh nhưng trong chiến tranh thấy khác, sau chiến tranh thấy khác, sau babốn mươi năm lại thấy khác hơn nữa

Thực tiễn là tính chất quan trọng nhất của hiện thực con người Thực tiến làphương thức tồn tại của con người, là hoạt động tự thực hiện của con người, hoạtđộng của con người để vượt qua hữu hạn nhằm hướng tới lí tưởng vô hạn và tự do.Con người là giống vật luôn ý thức sự hữu hạn của chính mình từ trong mọi hoạtđộng sống như cô đơn, tuổi thọ, khả năng chinh phục thế giới và bản thân, hữu hạntrong sản xuất, trong tình yêu, trong sáng tạo, nhận thức, cảm nhận Trong hoạtđộng vượt lên chính mình con người nếm trải mọi tình cảm từ vui sướng, tự hào,cao cả, đến bất lực, bi đát, khôi hài, nhục nhã, cay đắng… Vì vậy hiện thực conngười rất phong phú, phức tạp, muôn màu

1.1.2 Văn bản văn học từ lịch sử tiếp nhận

1.1.2.1 Tác phẩm từ điểm nhìn lý luận văn học truyền thống

Từ điểm nhìn của lý luận văn học truyền thống, tác phẩm văn học chủ yếu

được tiếp cận từ quan hệ với hiện thực và tác giả nên trong công trìnhVăn học và tiểu thuyết, Doãn Quốc Sỹ cho rằng mỗi tác phẩm là một cơ cấu, một kiến trúc Đây

là giá trị nội tại của tác phẩm và phải lấy chính những yếu tính văn chương mà địnhgiá văn chương Đó là: cốt truyện, nhân vật, bối cảnh, ý nghĩa tượng trưng củatruyện, lời văn giọng văn của truyện Tất cả châu tuần lại làm nên tác phẩm như một

Trang 19

toàn thể bất khả phân Giá trị nội tại của tác phẩm như trên hẳn phải là sự phongphú, phong phú mà cô đọng, phong phú mà chặt chẽ Đây cũng là quan niệm củaTuệ Sỹ khi ông cho rằng: Một tác phẩm xứng đáng “phải khởi lên từ cảm hứng thựctại; vì rằng, ngay qua đó, người ta sẽ thấy một cách như thực đâu là tiếng nói củathực tại và đâu là tiếng nói của lòng người: thực tại tức là lòng người Và cũng từ

đó, người ta sẽ tìm thấy đâu là khát vọng sâu xa đang ẩn kín trong lòng người Mộttác phẩm mà không đủ sức chấn động lòng người để mở ra một thế giới như vậykhông thể xứng danh là một tác phẩm văn học

Không chỉ nhìn tác phẩm văn học từ quan hệ với hiện thực và tác giả nhưDoãn Quốc Sỹ và Tuệ Sỹ, một số nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Namcòn nhìn tác phẩm từ đặc trưng về phương thức phản ánh của văn học Họ cho rằngtác phẩm văn học phải là một công trình nghệ thuật, muốn hiểu tác phẩm phải trên

cơ sở của yếu tính văn chương Đó cũng là quan niệm của Lữ Phương: Một tácphẩm văn chương trước hết phải là một công trình nghệ thuật Mệnh đề xác quyếtnày có giá trị của một cơ sở nền móng để cho mọi kiến trúc văn học - sáng tác hoặc

lý luận - lập ước được vững bền Bởi cái tính cách nghệ thuật này sẽ xác nhận cho

ta biết đó là một tác phẩm văn chương chứ không phải đó là một khúc bánh mì để

ăn, lời nói để sai khiến hoặc bất cứ một vật gì khác Đây cũng là quan niệm củaTam Ích: Một tác phẩm văn chương phải là một sản phẩm của nghệ thuật; cái câuchuyện trong nội dung nó lắt nhắt thôi Nhưng nếu bút pháp tài tình, thì đó là mộtnghệ phẩm

Như vậy, qua các ý kiến trên, ta thấy dù ở góc nhìn nào, quan niệm của các tácgiả, vẫn xem xét tác phẩm từ điểm nhìn của lý luận văn học truyền thống Nghĩa là họchỉ tiếp cận tác phẩm trong mối quan hệ với hiện thực và tác giả mà chưa thấy

được tính chất mở của tác phẩm văn học với tư cách là một văn bản trong một cấu

trúc ngôn ngữ động, có giá trị tạo nghĩa từ sự tiếp nhận của người đọc Vì vậy, quanniệm trên vẫn chưa tiếp cận với quan điểm lý luận văn học hiện đại của thế giới, nêncần được bổ sung bằng một quan niệm khác Đó là quan niệm tác phẩm từ điểm nhìncủa lý luận văn học hiện đại

Trang 20

1.1.2.2 Tác phẩm từ điểm nhìn lý luận văn học hiện đại

Có thể nói, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam là nền lý luận phêbình đa phức Đó là nền lý luận phê bình đan xen nhiều quan điểm, nhiều trườngphái, nhiều khuynh hướng, cả truyền thống lẫn hiện đại, cả Đông lẫn Tây phương

Vì thế trong tư duy lý luận về tác phẩm của lý luận văn học ở đô thị miền Nam, bêncạnh quan niệm tác phẩm từ điểm nhìn truyền thống, người ta còn thấy có quanniệm tác phẩm từ điểm nhìn của lý luận văn học hiện đại Khác với quan niệm của

lý luận văn học truyền thống nhìn tác phẩm như một cái gì khép kín trong quan hệvới hiện thực và tác giả, ở đây tác phẩm văn học được xem như một kết cấu mở.Tác phẩm không là một cái gì được đóng khung: nó mở ra những chân trời Tácphẩm không là sự sống đã đạt tới cùng đích: nó là sự đang trở thành không ngừngnghỉ Văn chương là một hy vọng (Huỳnh Phan Anh ) và Tác phẩm là khả thể, vô sốnhững khả thể Nó mở ra vô cùng Nó hứa hẹn vô số chiều hướng, vô số vóc dáng

Nó là bước đường không ngừng nghỉ Nó biến cái giới hạn thành cái vô hạn Vì làmột kết cấu mở nên theo Nguyễn Văn Trung: Tác phẩm là một tiếng gọi và nóthành công khi được đáp lại, nghĩa là khi gây được một cảm thông nơi người tiếpnhận nó

Như vậy, trong quan niệm của các nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miềnNam, tính chất mở của tác phẩm văn học, gắn liền với sự tiếp nhận của người đọc.Người đọc chính là người nối dài cuộc đời của tác phẩm đến vô cùng, là cơ sở đểbiến cái “hữu hạn” của tác phẩm thành cái “vô hạn” Do đó, tác phẩm văn học làchiếc cầu nối giữa nhà văn và người đọc Nói như Nhật Tiến: Tác phẩm bao giờcũng là một gạch nối liền thế giới tâm tư của người đọc đối với người viết Nếu tácphẩm không phản ảnh đầy đủ nếp sống, cảm nghĩ và giải tỏa được sự băn khoănchất chứa trong lòng độc giả thì vai trò của tác phẩm đâu còn được tồn tại Và vìvậy, với lý thuyết tiếp nhận hiện đại, người đọc đã trở thành đồng sáng tạo với nhàvăn Chính họ là người thổi hồn vào những con chữ lạnh lùng để hóa thân chúngthành những tác phẩm nghệ thuật Vì theo Nguyễn văn Trung: khi đọc một tácphẩm văn chương ta phải xây dựng tác phẩm trong tinh thần của ta, cuốn truyện tậpthơ kia trong thư viện tủ sách xếp cạnh, trăm nghìn những cuốn sách không códấu gì bề ngoài chứng tỏ nó là tác phẩm nghệ thuật Nó chỉ là tác phẩm nghệ thuật

Trang 21

khi ta cầm lấy đọc và cấu tạo lại, dựng lại vũ trụ nghệ thuật, mà tác giả là người đầutiên dựng nên trong trí óc của họ Còn Huỳnh Phan Anh thì cho rằng: Tác phẩm vănchương là một đứa con đi hoang trong cuộc đời và một ngày nào đó, người cha sẽkhông nhìn ra ở nó những đường nét sáng tạo nguyên thủy của chính mình Thưởngngoạn không còn là một hành vi thụ động của ý thức trà dư tửu hậu, nó còn là hànhđộng chiếm hữu đối tượng thưởng ngoạn

Thật vậy, khi lý luận văn học hiện đại nhận thức rằng tác phẩm văn học khôngchỉ mang tính hiện thực mà còn mang tính ký hiệu thì vấn đề ngôn ngữ trong tácphẩm văn học đã trở thành một vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình sáng tạocủa nhà văn cũng như quá trình tiếp nhận của người đọc Vì vậy, kết cấu mở của tácphẩm văn học trong quan niệm của các nhà lý luận phê bình văn học ở đô thị miềnNam theo quan niệm lý luận hiện đại không chỉ có nguyên nhân từ sự tiếp nhận củangười đọc mà còn có cơ sở từ đặc trưng ngôn ngữ của tác phẩm Bởi vì theoNguyễn Văn Trung: Tác phẩm, khi đã hoàn thành đối với tác giả, tách rời tác giả,trở thành một sự vật độc lập và tuy bên trong nó vẫn chuyên chở một ý nghĩa, lờigửi nào đó của tác giả, đối với độc giả bây giờ nó cũng chỉ còn là một hệ thống tínhiệu mà bản chất là hàm hồ, nghĩa là có thể chuyên chở nhiều ý nghĩa khác màngười đọc, nhà phê bình có thể giao cho nó Như vậy, trong quan niệm của mình,Nguyễn Văn Trung đã nhận ra tính chất mở của tác phẩm văn học từ phương diệnngôn ngữ, như một hệ thống ký hiệu Chính điều này tạo nên đặc trưng của ngônngữ tác phẩm văn học với tính chất là trung tâm tạo nghĩa Tác phẩm chỉ là vănchương khi nhà văn sử dụng ngôn ngữ ám chỉ Đã hẳn nếu người ta muốn sự rõ rệt,hiển nhiên ngôn ngữ ám chỉ sẽ là một thiếu sót mơ hồ, nhưng văn chương lại khôngthể có được nếu người ta muốn cái sáng sủa, rõ rệt, hoàn tất Cho nên, cái có vẻthiết sót, mơ hồ của ngôn ngữ ám chỉ chính là nền tảng của văn chương, làm cho cóthể có văn chương Chính vì vậy, tác phẩm văn học bao giờ cũng đa nghĩa, đa trị,nên việc một tác phẩm văn học được đọc và hiểu theo nhiều cách khác nhau cũng làchuyện bình thường trong đời sống văn học

Như vậy, việc nhận thức tác phẩm từ điểm nhìn lý luận truyền thống, đếnđiểm nhìn của lý luận văn học hiện đại đã cho thấy sự phát triển trong tư duy lý luận

ở đô thị miền Nam Đây là một đóng góp đáng ghi nhận Song điều khiếm khuyết ở

Trang 22

đây là họ chưa xác lập được hệ thống lý thuyết về tác phẩm văn học từ điểm nhìncủa mỹ học tiếp nhận với những luận điểm khoa học có tính khái quát như các côngtrình viết về lý thuyết tiếp nhận của chúng ta hiện nay và cũng không nêu ra đượcthuật ngữ “văn bản văn học”, mà gọi là “tác phẩm văn học” Những giới hạn này làđiều tất yếu, có thể từ nhiều nguyên nhân, trong đó không loại trừ nguyên nhân do

sự hạn chế về tính hiện đại của các tư liệu mà họ sử dụng lúc đó so với hiện nay.Mặc dù vậy, những vấn đề lý thuyết về quan niệm tác phẩm văn học của lý luận vănhọc ở đô thị miền Nam cũng có những đóng góp nhất định vào hệ thống lý thuyết vềtác phẩm văn học trong lý luận văn học dân tộc Đồng thời, cũng thức nhận chochúng ta nhiều vấn đề lý luận để tiếp tục tìm hiểu, khám phá nhằm hoàn thiện hệthống quan niệm về tác phẩm văn học, một trong những vấn đề trọng tâm của lýluận văn học trong quan hệ với nhà văn và người đọc

1.2 Mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm văn học

1.2.1 Từ văn bản đến tác phẩm văn học

Nhà nghiên cứu J M Lotman đã nói Định nghĩa được văn bản là một việckhó Trước hết cần loại bỏ quan niệm đồng nhất văn bản với toàn bộ tác phẩm vănhọc Vâng, để đưa ra một định nghĩa văn bản thực sự quả là rất khó, đã có nhiều ýkiến khi xem xét văn bản và tác phẩm văn học đã đồng nhất chúng với nhau, thiếtnghĩ sẽ là phiến diện và thiếu sót khi chúng ta cho rằng văn bản và tác phẩm vănhọc là một Văn bản để trở thành một tác phẩm văn học là một quá trình lớn mà yếu

tố xúc tác quan trọng nhất đó chính là người đọc

Khi lí luận văn học nhận thức được rằng tác phẩm văn học không chỉ mangtính thực tiễn mà còn có tính kí hiệu thì nhiều vấn đề của khoa học văn học đẫ đượcsoi sáng và lí giải từ những cách nhìn mới Văn bản văn học sản phẩm cuối cùngcủa sự sáng tạo nghệ thuật tưởng như đẫ được hoàn thành khi nhà văn đặt dấu chấmhết và Nhà xuất bản in sách, nhưng thực ra đó mới chỉ là bước đầu tiên quan trọng

để nó trở thành tác phẩm văn học Với lớp lớp câu chữ phi vật thể ẩn chứa nhiềunghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng, tác phẩm văn học cóphương thức tồn tại riêng thông qua người đọc Một sáng tác văn học được gọi làtác phẩm văn học với điều kiện nó có giá trị văn học Nhưng giá trị văn học (nếu có)chỉ hình thành trong quá trình đọc mà thôi Vậy quá trình từ văn bản đến tác phẩm

Trang 23

văn học diễn ra như thế nào? Thực chất giá trị của tác phẩm là gì? Có thể đánh giáđược tác phẩm văn học không? … Việc nghiên cứu tác phẩm văn học trong mốiquan hệ với chủ thể tiếp nhận sẽ giúp ta trả lời khoa học cho những câu hỏi đó Vấn đề mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm cũng được nhiều nhà lí luậnkhác nghiên cứu Có người xem mối quan hệ này cũng như mối quan hệ giữa tácphẩm âm nhạc và nốt nhạc Nhà mỹ học tiếp nhận người Đức, ông H R Jauss đãphân biệt hai loại tầm đón nhận của tác phẩm: Một ảnh hưởng được xác định thôngqua văn bản, hai là sự xác định thông qua người đọc Cái đầu tiên diễn ra bên trongtác phẩm, nó là hệ thống mối quan hệ được tạo ra qua tác phẩm, cái thứ hai xẩy rangoài tác phẩm, liên quan đến thế giới của người đọc

J M Lotman cũng nhấn mạnh sự khác nhau giữa văn bản và tác phẩm Theoông, một trong những yếu tố cấu thành tác phẩm là văn bản, nhưng văn bản chỉ cóđược trong mối liên hệ với thực tại nằm ngoài văn bản, mối quan hệ này cũng cómặt trong tác phẩm văn học Cùng một tác phẩm mà có nhiều ảnh hưởng nghệ thuậtkhác nhau, nghĩa là cùng một tập hợp các yếu tố của văn bản sẽ có mối liên hệ vớithực tại nằm ngoài văn bản của những người đọc khác nhau Ông viết: Để hoạt độnggiao tiếp của nghệ thuật được thực hiện cần phải tạo ra nhiều yếu tố cấu trúc giaonhau của mã tác giả và mã người đọc, vì như vậy thì người đọc mới hiểu được cáingôn ngữ tự nhiên mà người ta viết ra văn bản

Julia Kristeva quan niệm văn bản luôn ở trong tư thế vận động, kí hiệu trongvăn bản mang nhiều nghĩa và có nhiều yếu tố hòa nhập vào nhau để làm nên tácphẩm văn học, trong đó có sự kế thừa những văn bản trước đó Đây chính là tínhliên văn bản của mọi văn bản Trong bài “Văn bản khoa học và văn bản” bà viếtVăn bản không phải là hình thức ngôn ngữ của sự thông báo được tập hợp bởi cácnguyên tắc ngữ pháp, vì vậy nó không tự bằng lòng với việc đại diện và biểu đạthiện thực …Nó còn muốn tham dự vào sự vân động và thay đổi của hiện thực Vậy

là một chừng mực nhất định nhà kí hiệu học này cũng thừa nhận mối quan hệ vănbản và hiện thực xã hội

1.2.2 Văn bản văn học và sự xác lập đời sống thông qua người đọc

Nếu lí luận văn học và mỹ học truyền thống kể cả lí luận văn học macxit saunày đều coi trọng tác giả trong quan hệ với hiện thực khi giải mã tác phẩm, thì lí

Trang 24

luận văn học và mỹ học tiếp nhận hiện đại lại quan tâm khám phá bản thể của vănbản nghệ thuật với nhiều quan hệ khác nhau, trong đó quan trọng nhất là quan hệvới người đọc Tất cả các nhà lí luận văn học mới đều thừa nhận tác phẩm chỉ tồntại khi tồn tại người đọc, dù mỗi người có cách quan niệm và lí giải khác nhau Dùvậy trong thực tiễn nghiên cứu phê bình Việt Nam vẫn không tuyệt đối hóa vai tròcủa người đọc mà tùy từng trường hợp cụ thể các nhà lí luận phê bình chú ý đến chủthể Vấn đề là ở chỗ chủ thể tiếp nhận đánh giá Giải mã tác phẩm văn họ như thếnào, trong trạng thái cảm hứng nào với trình độ văn hóa nghệ thuật và vốn sống nhưthế nào Do vậy vấn đề tài năng của người thưởng thức trở nên quan trọng quyếtđịnh sự làm đầy những giá trị mới cho tác phẩm văn học, tránh trường hợp tiếpnhận võ đoán, thái quá và phi lí đi xa với bản chất thẩm mỹ và cấu trúc chỉnh thểnội tại của tác phẩm Vì vậy chỉ có chủ thể tiếp nhận đồng sáng tạo hay chủ thể tiếpnhận lí tưởng chỉ ra được những nội hàm mới mẻ, độc đáo của tác phẩm mới đượcxem là có khả năng tạo nghĩa cho tác phẩm văn học Tuy nhiên yếu tố quan trọngtrung tâm để phát hiện làm đầy những khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm vớingười đọc đồng sáng tạo – người đọc lí tưởng không gì khác ngoài ngôn ngữ Vìvậy bắt buộc người đọc trước hết phải là người am tường và có năng lực ngôn ngữ,sau đó mới nói đến tâm thế thẩm mỹ, tiềm năng văn hóa và tiềm năng nghệ thuật đểbiến ngôn ngữ của tác phẩm văn học thành cấu trúc mở, thành cấu trúc ngôn từđộng, thành quá trình tạo nghĩa

Như vậy thông qua người đọc đời sống văn bản và thực chất của văn bản là gì?

Và đâu là bản chất quy luật; đâu là thành tựu, đâu là hạn chế của mối quan hệ này?

Có nhiều quan niệm và cách lí giải về bản chất của người đọc Dù có chỗ gặp gỡhoặc giao thoa hay khác biệt, thì cái cốt lõi của vấn đề vẫn là xác nhận vai trò chủđộng của người đọc Khi tiếp cận tác phẩm, Aistote gọi là sự thanh lọc tâm hồn, còntrong văn học Trung đại Việt Nam và Trung Hoa thì xem trọng sự tri âm, ký thác,

mà ở đó tác giả và người đọc hiểu nhau đồng điệu thì tự nó tác phẩm nghệ thuật đãđạt đến sự viên thành Đến mỹ học tiếp nhận hiện đại, vấn đề tác phẩm ngày càngđược tiếp tục khám phá Những vấn đề như đặc trưng, bản chất và các mối quan hệcủa tác phẩm được ý thức sâu sắc hơn Không phải ý thức về mối quan hệ giữa tác

Trang 25

phẩm với tác giả là quan trọng mà trái lại ý thức về mối quan hệ giữa tác phẩm vàngười đọc mới là quan trọng

Đi sâu vào cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học tìm hiểu các mối liên kếtvăn bản và quá trình biểu hiện nghĩa và tạo nghĩa của ngôn từ chúng ta thấy thôngqua các mối liên hệ cấu trúc mà hình thành tư tưởng nghệ thuật Xuất phát từ đơn vịnhỏ nhất của văn học là từ, ta phân biệt ba yếu tố liên kết đó là cái biểu đạt, cáiđược biểu đạt và nghĩa Nguyên tắc liên kết lẫn nhau giữa cái biểu đạt và cái đượcbiểu đạt và nghĩa trong trường hợp của từ thông thường sẽ mang tính chất khác sovới từ trong tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học cái biểu đạt do các câu còncái được biểu đạt thì do các đối tượng được biểu đạt thông qua các câu tạo thành.Tức là nghĩa của các từ làm nên nghĩa của câu và nghĩa của câu làm nên chỉnh thểnghĩa cao hơn Người đọc phải làm chiếc cầu nối liền hai lĩnh vực ngôn ngữ và đờisống Giữa hai lĩnh vự này luôn xuất hiện sự bấp bênh vì mọi cảm nhận của ngườiđọc đều mang tính cá nhân do việc không thể khoanh vùng được nghĩa của tácphẩm văn học hơn nữa nghĩa trong tác phẩm văn học không không chỉ là nghĩa mà

là giá trị

Qua việc đọc, trong nhiều trường hợp có hai hoặc nhiều người đọc có nhận xétgiống nhau về hệ thống nghĩa - giá trị của tác phẩm Điều đó chứng tỏ sự đống nhấtnhất định của những kinh nghiệm thẩm mỹ và kinh nghiệm thực tiễn ở một số ngườiđọc đã dẫn tới sự đồng nhất tương đối của nghĩa và giá trị tác phẩm Cho nên mọi

sự đánh giá và những khác biệt ý kiến về một tác phẩm đều liên quan đến nhữngkiểu đọc Tác phẩm văn học không đồng nhất với mọi sự đọc Vấn đề đặt ra là giữarất nhiều kiểu đọc cái gì đảm bảo sự đồng nhất của mọi tác phẩm với chính nó ?Chúng ta trả lời rằng không có cái gì đảm bảo được điều đó Ngay cả tính vật chấtcủa văn bản cũng chỉ có cho đến khi chưa ai đọc đến, sau khi văn bản đã được đọcthì những đặc điểm chất thể qua sự cụ thể hóa của người đọc không còn vai trò gìnữa Ngôn ngữ như đám sương mù lảng bảng, luôn nhờ tâm hồn người sử dụng tỏasáng và sưởi ấm Người đọc đến với văn bản như đến với mê cung của mọi sự liênkết, tạo nghĩa không ngừng Cái văn bản tưởng như đã hoàn thành và khép kín ấyvẫn luôn tạo ra khả năng để có thể lí giải hàng ngàn cách khác nhau mà tính độcđáo, không lặp lại của nó vẫn không thay đổi Từ năm 1962 nhà kí hiệu học và nhà

Trang 26

văn người Ý, ông Umberto Eco đã nhận ra rằng với các khái niệm truyền thốngkhông còn đủ để hiểu các tác phẩm văn học, hội họa và âm nhạc của thời đâị mới.

Vì thế Umberto Eco đã nghiên cứu vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học, lí thuyết thôngtin và kí hiệu học để có đủ tư thế nhìn thẳng vào các vấn đề của nghệ thuật hiện đại.Một trong những phát hiện quan trọng của ông là tính chất mở của tác phẩm nghệthuật Trong một công trình nổi thiếng ông viết “ Tính chất mở là điều kiện của mọi

sự thưởng thức thẩm mỹ, và tất cả mọi hình thức thưởng thức nếu mang giá trị thẩm

mỹ đều mở”

Sự gặp gỡ giữa người đọc và tác phẩm là sự gặp gỡ giữa chủ thể tiếp nhận vàkhách thể văn học Mối quan hệ khách thể, chủ thể được nhiều nhà lí luận gọi là sựphản ánh Khi nói nhà văn trong tác phẩm của mình phản ánh trung thực hoặckhông trung thực hiện thực và tác phẩm đậm đà tính hiện thực là khi chúng ta nhìnnhận tác phẩm thuần túy theo lí thuyết phản ánh Nhưng lí thuyết phản ánh áp dụngvào lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà không mà không xuất phát từ đặc trưng của sựphản ánh nghệ thuật thì dễ có những đòi hỏi không đúng Về phía người đọc líthuyết này nếu được hiểu một cách thô thiển thì sẽ dẫn đến sự tiếp nhận tác phẩmmột cách đơn giản, lâu dần trở thành một thứ phản xạ có điều kiện trong việc thẩmđịnh hiện thực khi thưởng thức tác phẩm nghệ thuật

Trong ý thức của người đọc tác phẩm văn học luôn luôn phải đối diện với mộthiện thực đã được nhận biết Những người đọc lí tưởng thông thường chỉ dừng lại ởviệc đánh giá Còn những người đọc không có khả năng đánh giá mà có khả năngcảm nhận nghĩa (nội dung ) của tác phẩm là do họ thiếu hiểu biết về đặc trưng củasáng tạo nghệ thuật và do họ không có được hệ thống các quan niệm về giá trị vănhọc khi tiếp cận với văn bản văn học Kinh nghiệm thực tiễn của người đọc là chỗdựa quan trọng trong việc đánh giá tác phẩm văn học Người đọc lí tưởng không đểmình bị cuốn hút hoàn toàn bởi tác phẩm mà luôn tạo một khoảng cách nhất địnhgiữa họ và tác phẩm

Ấn tượng thẩm mỹ di động giữa hai cực (tác phẩm và người đọc) cho nên sựthay đổi của một trong hai cực đó đều làm hình thành những giá trị thẩm mỹ khácnhau Đặc biệt ở cực chủ thể tiếp nhận nơi mà thế giới tâm linh luôn có những biếnđộng bất thường mang yếu tố chốc lát vì thế khả năng biến thể của các giá trị thẩm

Trang 27

mỹ liên quan đến một giá trị thẩm mỹ là rất lớn Và khoa học văn học thực sự đứngtrước một thách thức là làm sao có những chuẩn cứ giúp ta so sánh khoanh vùngđược các giá trị thẩm mỹ liên quan đến một tác phẩm Một tác phẩm văn học có giátrị văn học lớn nhất là tác phẩm theo thời gian vẫn tạo ra nhiều ấn tượng thẩm mỹ,nghĩa là tác phẩm đó luôn ẩn chứa tiềm năng thẩm mỹ Có những tác phẩm trongnhiều trường hợp ở mọi giai đoạn lịch sử, giá trị thẩm mỹ chẳng những không mất

đi mà còn định hình thành chuẩn mực cố định Cách gọi, cách đánh dấu tác phẩmquá khứ thuộc về một trào lưu như nghệ thuật Phục hưng, lãng mạn hay hiện đại,hậu hiện đai…là cần thiết Nhưng việc đó không phải là sự đánh giá mà chỉ là sựghi nhận vị trí lịch sử của tác phẩm đã từng được hệ thống quy ước của thời đại đócoi tác phẩm của nó mà thôi Giá trị thẩm mỹ sẽ là tấm hộ chiếu quyết định để tácphẩm văn học của thời đại này bước sang thời đại khác và tiếp tục chịu sự đào thảo,lựa chọn thông qua hệ thống thẩm mỹ quy ước

1.3 Quá trình tiếp nhận văn chương

1.3.1 Các giai đoạn của quá trình tiếp nhận văn chương

Quá trình tiếp nhận văn chương diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau Trước hếtphải hiểu ngôn ngữ, cốt truyện, loại thể để tiếp nhận hình tượng nghệ thuật, cảmnhận nó trong tính toàn vẹn Trong các mối liên hệ của các yếu tố, chi tiết cấu thànhhình tượng Muốn tiếp nhận Truyện Kiều, phải biết tiếng Việt và tiếng Việt trongtruyện Kiều, tiếp đó, nắm diễn biến câu chuyện, rồi thể loại tiểu thuyết và truyệnthơ mà Nguyễn Du sử dụng làm phương tiện tổ chức tác phẩm Và như vậy, ta bắtđầu tiếp xúc với hệ thống hình tượng tác phẩm, các nhân vật, các mối liên quan giữacác nhân vật, các tiết đoạn, các chương, hồi v v… Nhưng nếu dừng lại ở đây thìchúng ta mới nắm được câu chuyện, mới biết mà chưa hiểu Phải tiến lên một cấp

độ thứ hai là thâm nhập sâu vào hệ thống hình tượng để hiểu được ý đồ sáng tác, tưtưởng, tình cảm của tác giả đã kết tinh trong hình tượng như thế nào Tư tưởng tìnhcảm như là chất tinh túy kết tinh ở trong hình tượïng nghệ thuật, người đọc cónhiệm vụ chắc lọc lấy tinh chất đó Người đọc ví như con ong bay đến đóa hoa,không phải để chiêm ngưỡng màu sắc của cánh hoa mà để hút mật ở trong nhụyhoa Ðọc Tây du kí, chẳng hạn, ta tiếp xúc với nhân vật Trư Bát Giới thì không phảichỉ để biết đây là một trong ba đệ tử của Ðường Tăng đến Tây Trúc thỉnh kinh Mà

Trang 28

phải hiểu dụng ý thâm thúy của tác giả ở nhân vật này là muốn nói đến cái chất heo

ở trong mỗi con người Cấp độ thứ ba là người đọc thể nghiệm và đồng cảm hìnhtượng nghệ thuật Sau khi thâm nhập sâu vào hình tượng, người đọc sẽ không còndửng dưng nữa mà tỏ thái độ thiện cảm hay ác cảm, yêu và ghét, vui cười hay khócthương Ðây là giai đoạn không phải người đọc thâm nhập sâu vào hình tượng nữa

mà là, giai đoạn hình tượng thâm nhập sâu vào người đọc Tư tưởng hình tượng đãtrở thành máu thịt của người đọc Cấp độ cuối cùng là cấp độ đề lên thành quanniệm và hiểu biết vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa tư tưởng nghệ thuật và đờisống Ðây là cấp độ cao của tiếp nhận văn chương Ðây là giai đoạn định giá mộtcách nghiêm túc và bắt buộc đối với loại người đọc - nghiên cứu

1.3.2 Tính khách quan của tiếp nhận văn chương

Ðể tiếp nhận văn chương, đòi hỏi người đọc đưa vào đây toàn bộ nhân cáchcủa mình: tình cảm và lí trí, tri giác cảm tính trực tiếp và suy tưởng trừu tượng, cátính, thị hiếu và lập trường chính trị xã hội, tình cảm và thái độ Nhưng như vậykhông có nghĩa là tiếp nhận văn chương hoàn toàn mang tính cá nhân chủ quan tùytiện Ở Phương Ðông hay ở Phương Tây tồn tại một xu hướng xem tiếp nhận vănchương là phạm vi tự biểu hiện thẩm mĩ của người đọc, là phạm vi phụ gia của nănglực sáng tạo của người đọc Mĩ học cổ Ðông Phương (Trung Quốc và Việt Nam…)

có quan niệm tiếp nhận tác phẩm là việc tri kỉ, tri âm, Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu

long đã giải thích: Tri âm thực khó thay!Âm đã khó tri, người tri khó gặp, gặp kẻ tri âm ngàn năm có một Kết thúc Truyện Kiều của mình Nguyễn Du nói là để Mua

vui cũng được một vài trống canh nhưng tâm sự riêng của Nguyễn Du là không biếtđến bao giờ mới có người hiểu mình, tiếp nhận được tác phẩm mình Khóc TiểuThanh là ông khóc cho chính mình:

Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Không biết ba trăm năm sau thì ai trong thiên hạ hiểu được cái chí của mình?

Ai là kẻ tri âm với mình Những người theo chủ nghĩa ấn tượng Pháp chủ trươngngười tiếp nhận văn chương là người kể lại cuộc phiêu lưu của tâm hồn mình giữanhững kiệt tác (A France), phải gạt bỏ mọi qui tắc, công thức để tìm các đẹp tùytheo cảm hứng cá nhân (T Gôchiê) Họ lấy chủ nghĩa chủ quan làm nguyên tắc

Trang 29

quyết định để hiểu và lí giải tác phẩm R Ingarden, nhà hiện tượng học Ba Lan đã

nói: Có bao nhiêu độc giả và có bao hiêu sự đọc mới cho cùng một tác phẩm thì có bấy nhiêu những thành tạo mà chúng ta gọi là những sự cụ thể hóa các tác phẩm.

Trước Ingarden, Potebnhia, nhà ngữ văn học Nga đã xem tác phẩm văn chương nhưmột bình chứa sẽ được người đọc làm đầy bằng những nội dung mà nó còn chưa đủ.Nhà lí luận đồng thời là nhà phê bình Pháp, Roland Barthes phát biểu: Khi đọc tác

phẩm, tôi đặt vào sự đọc cái tình huống của tôi, tình huống hay thay đổi làm ra tác

phẩm, tác phẩm không thể phản đối, chống lại cái ý nghĩa mà tôi phán cho nó Hiển nhiên là vai trò chủ quan của người tiếp nhận cái quan trọng trong quátrình tiếp nhận văn chương nhưng nếu sự sống của tác phẩm nghệ thuật, vai tròquyết định là thuộc về người sử dụng nghệ thuật hoàn toàn thì một vấn đề được đặt

ra là tại sao có những tác phẩm chịu đựng được thử thách của thời gian và gần nhưbất tử lại có tác phẩm sống một cách trầy trật hoặc chết yểu

Thực ra, tiếp nhận văn chương là một hoạt động xã hội - lịch sử, mang tínhkhách quan Chứ không phải là một hoạt động cá nhân chủ quan thuần túy Tácphẩm sau khi thoát ly khỏi nhà văn thì nó trở thành một hiện tượng tinh thần, mộtkhách thể tinh thần tồn tại một cách khách quan đối với người đọc Người đọc tiếpnhận nó là một kiểu phản ảnh, nhận thức thế giới Mà nhận thức nào cũng cóphương diện chủ quan và phương diện khách quan của nó Hơn nữa, một nhận thứcđúng đắn là một nhận thức tiếp cận được với bản chất và quy luật của đối tượng.Nội dung của tác phẩm trước hết là do những thuộc tính nội tại của nó tạo nên, làcái vốn có chứa đựng trong bản thân tác phẩm Việc người đọc khác nhau đã cắtnghĩa khác nhau khi cùng đọc một tác phẩm là thuộc phương diện chủ quan của tiếpnhận Với thuyết Mác hóa - tượng trưng, Roland Barthes cố tình bảo vệ quan điểm

về tính đa nghĩa đến vô hạn của nghệ thuật và bảo vệ tính xác đáng của mọi cáchđọc, đã chẳng những không lưu ý tới tính khách quan của tiếp nhận tác phẩm màcòn thổi phồng một cách vô căn cứ phương diện chủ quan Cần phải thấy rằng đờisống của tác phẩm trong tiếp nhận: tác phẩm nghệ thuật là một sự chuyển hóa qualại giữa đặc thù khách quan và chủ quan, một quan hệ xã hội, một tương quan vớiđộc giả, một tổng thể gồm nhiều quá trình khác nhau, đa dạng, nhưng hệ thống Cóthể nói tác phẩm nghệ thuật gồm có hai phần, phần cứng và phần mềm Phần cứng

Trang 30

là văn bản, là sự khái quát đời sống, là một hệ thống ý nghĩa, tiếp nhận phụ thuộcvào các tương quan đời sống xã hội, phụ thuộc vào lòng người đọc Phần cứng tạo

ra cơ sở khách quan của tiếp nhận Trong phần cứng này, có nhiều phương diện đểtạo ra tính khách quan cho tiếp nhận văn chương thứ nhất là hiện thực đời sốngđược phản ảnh Thứ hai là chất liệu nghệ thuật xây dựng hình tượng phản ánh đờisống là trên cơ sở ngôn ngữ toàn dân, thứ ba là sự định hướng nội tại của tác phẩmvào việc tác động thẩm mĩ do nhà văn tạo nên Nhà văn không giản đơn chỉ làm cáitruyền đạt những hiểu biết đời sống, những quan sát, những phát hiện nghệ thuậtcủa mình mà anh ta còn hướng tới việc thể hiện những cái đó sao cho chúng gây ấntượng nhiều nhất đến công chúng độc giả Ðây là thuộc tính tất yếu của tác phẩm ở

cả nội dung và hình thức

Chính cơ sở khách quan của việc tiếp nhận tác phẩm đã tạo ra ấn tượng chungđồng nhất ở mọi người đọc Phần cứng của tác phẩm tạo ra phần nội dung tươngđồng bất biến từ tác giả đến mọi người đọc Rõ ràng là, độc giả hay khán giả sau khicùng xem xong một tác phẩm nghệ thuật nào đó đều có một ấn tượng chung về mộtnhân vật nào đó Trong dân gian những nhân vật nghệ thuật sau đây đã đi vào cuộcsống có ấn tượng tương đồng ở mọi người: Trương Phi, Tào Tháo; (Nóng nhưTrương Phi, Ða nghi như Tào Tháo) Sở Khanh, Hoạn Thư (người nào lừa đảo phụ

nữ được gán cho hiệu Sở Khanh, người phụ nữ nào hay ghen và ghen một cách cayđộc thì được gán cho hiệu máu Hoạn Thư)

1.3.3 Tính sáng tạo của tiếp nhận văn chương

Tiếp nhận là khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo - giao tiếp của văn chương.Không có tiếp nhận thì không có đời sống của tác phẩm Tác phẩm chưa được sửdụng thì đó chưa phải là sản phẩm đích thực của sản xuất tinh thần Nhưng tác phẩm -người sáng tác và người đọc là 2 việc khác nhau Nhà văn và bạn đọc không phải lànhững người đồng sáng tạo Ðại biểu của lí thuyết người đọc là đồng sáng tạo với tácgiả Potebnya, nhà ngữ văn Nga khẳng định: chúng ta có thể hiểu được tác phẩm thi

ca, chừng nào chúng ta tham gia vào việc sáng tạo nó Yù kiến này không xem ngườiđọc - nguời tiếp nhận là khâu hoàn tất của quá trình sáng tạo - giao tiếp mà xemngười đọc cùng tham gia vào quá trình làm ra tác phẩm Ingarder giải thích rõ thêm

và khẳng định tác phẩm sẽ được cụ thể hóa trong quá trình tiếp nhận của người đọc

Trang 31

Tác phẩm văn chương tự thân nó, chỉ như là một bộ xương, sẽ được người đọc bổsung và bù đắp ở một loại phương diện, nhưng trong một số trường hợp, nó cũng bịbiến đổi hoặc bóp méo Chỉ dưới cái diện mạo mới, đầy đủ và cụ thể hơn này (mặc dùgiờ đây vẫn chưa được hoàn toàn cụ thể), tác phẩm cùng với những bổ sung cho nómới là đối tượng của tiếp nhận và khoái cảm thẩm mĩ.

Ðiều hiển nhiên mà ai cũng thấy là tiếp nhận phải là công việc sau khi văn bảntác phẩm đã thoát ly khỏi nhà văn và tồn tại như một hiện tượng, một sự vật độc lậpkhách quan Ðộc giả chỉ tiếp xúc với tác phẩm là kết quả của quá trình sáng tạo củanhà văn chứ không phải cùng tham gia viết tác phẩm Xem tác phẩm là bộ khung, bộxương, Ingarder đã nhấn mạnh tính chất sơ lược của tác phẩm để từ đó biện hộ cho líthuyết đồng sáng tạo cũng không đúng Thực sự nhà văn không muốn và không đặtmục đích cuối cùng là tái hiện và truyền đạt lại tất cả các đặc điểm cá nhân vốn cócủa đối tượng Nhà văn chỉ chọn lấy cái tiêu biểu, cái điển hình Mục tiêu xã hội và ýnghĩa thẩm mĩ của nghệ thuật là ở chỗ tạo ra những khái quát nghệ thuật

Tiếp nhận văn chương không phải là đồng sáng tạo, nhưng cũng không đơngiản là hoạt động thụ động Hoạt động tiếp nhận văn chương có tính tích cực chủđộng sáng tạo của nó Tính tích cực chủ động sáng tạo của người đọc là ở chỗ bằngvào năng lực cá nhân, kinh nghiệm cá nhân, thị hiếu thẩm mĩ, lập trường xã hội,người đọc tiếp cận tác phẩm cố gắng làm sống dậy hình tượng, khôi phục những nét

lờ mờ, phần chìm của tảng băng, tầng ngầm của toà lâu đài, của hệ thống hìnhtượng …, từ đó thâm nhập vào chiều sâu tác phẩm nhận ra sức nặng của ý nghĩakhái quát của hình tượng Lúc đó, hình tượng từ tác phẩm sống dậy trong lòngngười đọc Ở mỗi người đọc có một hình tượng nghệ thuật riêng Ðỗ Ðức Hiếu đãnói về tính sáng tạo của người đọc như sau: Ðọc văn chương có nghĩa là tháo gỡ các

ký hiệu văn chương trong văn bản, là tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thông qua cáccấu trúc của văn bản (cốt truyện, kết cấu, nhân vật, đối thoại, không gian, thời gian

v v…) đọc là Mác hóa cách đọc, là tổng hợp các khâu của việc đọc - cảm tưởng,phân tích, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá, v v… là phát hiện và sáng tạo đọc trướchết là phát hiện trong văn bản, một thế giới khác, những con người khác, người đọcsống trong một thế giới tưởng tượng của mình, thông qua tác phẩm, xây dựng chomình một thế giới riêng đọc là một hoạt động tích cực; người đọc nhập cuộc hóa

Trang 32

thân, với những cảm xúc riêng của mình, những kỉ niệm, ký ức, khát vọng riêng.đọc có nghĩa là chuyển đổi tác phẩm thành một vũ trụ tình cảm, cảm xúc, tư duy,tình cảm riêng của mình.

Ðiều gì đã cho phép người đọc có thể và có quyền sáng tạo khi tiếp nhận vănbản văn chương như vậy? Tất cả là ở chỗ tính đặc thù của nghệ thuật nói chung vàvăn chương nói riêng

1.4 Chủ thể tiếp nhận trong quá trình tiếp nhận văn chương

1.4.1 Những quan niệm về chủ thể tiếp nhận

Người đọc không đồng sáng tạo với nhà văn, nhưng lại là một yếu tố bên trongcủa sáng tác người đọc đối với sáng tạo nghệ thuật cũng giống như một người tiêu

dùng trong lao động sản xuất Với tư cách là một đòi hỏi, một nhu cầu, bản thân sự tiêu dùng là một yếu tố nội tại của hoạt động lao động sản xuất (C Mác) Người

tiêu dùng là mục tiêu của sản xuất, người đọc là mục tiêu của sáng tác Chính nhucầu của người tiếp nhận, người tiêu dùng, người sử dụng văn chương là yếu tố có ýnghĩa quyết định đối với quá trình văn chương Người đọc hiện lên trước nhà văndưới một hệ thống câu hỏi: Viết cho ai?, Viết để làm gì?, Viết như thế nào? Ngườiđọc yêu cầu, đòi hỏi, chờ đợi và phê bình nhà văn Nhà văn sáng tác để đáp ứng đòihỏi bạn đọc Người đọc tạo nên mối quan hệ trực tiếp với tác phẩm của sáng tác -tiếp nhận

Nhưng ai là người đọc, người tiếp nhận văn chương? Loại hình học người đọcvăn chương chia ra nhiều loại người đọc khác nhau

- Ðứng về phía người tiếp nhận, người ta chia người đọc ra 4 loại Thứ nhất làngười đọc tiêu thụ Ðây thường là loại người đọc đọc ngấu nghiến cốt truyện, hamthích tình huống éo le gay cấn, nhiều khúc mắc cạm bẫy Loại này đọc lướt nhanhvào giờ nhàn rỗi, tìm thú giải trí, có những đánh giá dễ dãi Thứ hai là, loại đọcđiểm sách Loại người này có ý thức tìm ở văn chương những thông tin mới về cuộcsống, đạo đức … để thông báo cho độc giả của các báo Thứ ba là loại người đọcchuyên nghiệp - những người giảng dạy nghiên cứu phê bình ở các trung tâmnghiên cứu Thứ tư là những người sáng tác - nhà văn, nhà thơ đọc theo cảm hứngbất chợt hoặc để tham gia viết những trang phê bình ngẫu hứng

Trang 33

- Ðứng ở góc độ sáng tác người ta chia người đọc ra làm ba loại Thứ nhất:người đọc thực tế Tức là những người đọc, người tiếp nhận sáng tác tồn tại mộtcách cụ thể, cá thể Họ là những người A, người B nào đó trong đời sống, tiếp nhậnvăn chương theo cá tính, theo sở thích cá nhân Như vậy, trước mắt người sáng tác

có biết bao nhiêu người đọc thực tế Nhưng nhà văn không viết để đáp ứng cho từngngười cụ thể mà viết cho người đọc nói chung Thứ hai: người đọc hàm ẩn Ðây làloại độc giả của từng tác giả Loại này tồn tại trong tác giả suốt quá trình sáng tác từnảy sinh ý đồ cho đến kết thúc Nhà văn có chủ đích hướng tới họ là chủ yếu Thứba: người đọc hữu hình hay người đọc bên trong là loại người đọc tồn tại bên trongtác phẩm như một nhân vật luôn đối diện và đối thoại với nhà văn, nhưng khôngphải nhân vật mà là hiện thân của người đọc bên ngoài tác phẩm Tố Hữu viết bàithơ Kính gửi cụ Nguyễn Du, suốt bài thơ tác giả nói với cụ Nguyễn cụ thể nhưngthực tế Tố Hữu chủ yếu viết cho người đọc thực tế hôm nay, nói với người hômnay Trong thơ Tố Hữu dạng nhân vật này thường hay xuất hiện dưới đại từ em nhưmột đối tượng thân thiết gần gũi để tâm sự:

- Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan

- Em ạ ! Cu-ba ngọt lịm đường

- Ðứng ở góc độ thời gian, người ta chia người đọc ra làm 3 loại: Thứ nhất:người đọc hiện tại, tức loại người đọc đang sống đồng thời với tác giả, họ thực sựtiếp nhận tác phẩm của tác giả và lên tiếng khen chê trực tiếp với tác giả Trong sốngười đọc hiện tại, có thể chia ra làm nhiều lớp theo cách khác nhau: người đọcbình thường; người đọc của người đọc - nhà phê bình; người đọc thiếu nhi, thanhniên, công nhân, nông dân, trí thức… Thứ hai: người đọc quá khứ Ðây là loạingười đọc không thể và không bao giờ tiếp nhận tác phẩm cả Nhưng nhiều khi nóquyết định thành bại của tác phẩm, khi Tố Hữu viết Kính gửi cụ Nguyễn Du thì đâyphải là bức thư gởi cụ Nguyễn Du nào đó đang sống thực sự ở đâu đó, mà là gửi cholinh hồn cụ Nguyễn Du Và chính Nguyễn Du lúc sinh thời cũng đã có loại ngườiđọc như thế, đó là Tiểu Thanh Thứ ba: người đọc tương lai Loại người đọc nàychưa tồn tại thực tế sẽ có thể, hoặc không thực sự đọc tác phẩm nhưng vẫn xuất hiệntrong quá trình làm tác phẩm của tác giả, và có khi là chủ đích hướng tới của nhàvăn Nhà văn muốn gởi thế kỉ mai sau, muốn nói chuyện với người 300 năm saunhư Nguyễn Du đã nói:

Trang 34

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Stendhal thì chờ người đọc nửa thế kỉ sau

- Lại có cách chia người đọc theo ý thức hệ Cách này, chia người đọc ra làm

2 loại Thứ nhất: người đọc bạn bè, đây là loại người đọc chỉ hướng, cùng quanđiểm xã hội, lập trường tư tưởng Phần lớn các tác giả có đông đảo bạn đọc loại này

Ðây là loại bạn đọc chí cốt mà Tố Hữu đã nói: Tôi buộc hồn tôi với mọi người để hồn tôi với bao hồn khổ Thứ hai: loại người đọc đối thủ Loại người đọc này trái

với chí hướng, lập trường giai cấp xã hội của mình chẳng hạn cụ Ngáo trong bàithơ Hởi cụ Ngáo của Tố Hữu

Tính quyết định của người đọc đối với quá trình sáng tác văn chương là ở chỗnếu không có người đọc thì không có bản thân quá trình sáng tác Nghệ thuật như làmột hình thức giao tiếp Nó ra đời để đáp ứng nhu cầu giao lưu, trao đổi giữa ngườiviết văn và người đọc văn, nhưng trước hết là để thỏa mãn nhu cầu tự bộc lộ mìnhcủa người sáng tác Người đọc lúc này sẽ là nơi gởi gắm tâm sự của nhà văn Ở đâyngười đọc trở thành người phục vụ nhà văn Ðến lượt mình, nhà văn lại trở thànhngười phục vụ bạn đọc Ðây là một mục tiêu quan trọng của sáng tạo nghệ thuật.Nghệ thuật phục vụ người đọc ở 2 phương diện Một là thỏa nhu cầu nghệ thuật của

họ Hai là đào tạo họ thành những người sính nghệ thuật Rồi những người sínhnghệ thuật đó lại yêu cầu nghệ sĩ không được tự thỏa mãn mà phải nâng mình lên

Ðây là một sự phát triển theo đường tròn xoáy ốc Tác phẩm nghệ thuật - và mọi sản phẩm khác cũng thế, - đều tạo một thứ công chúng sính nghệ thuật và có khả năng thưởng thức cái đẹp, như vậy là sản xuất không những chỉ sản sinh ra một đối tưọng cho chủ thể, mà còn sản sinh ra một chủ thể cho đối tượng (C Mác)

1.4.2 Vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với đời sống lịch sử của văn chương

Cấu trúc nội tại của tác phẩm với tính đa thanh, đa giọng điệu, nhiều tầngnghĩa do thuộc tính phản ánh và khái quát đời sống và chất liệu ngôn từ đã tạo nênphương diện khách quan của đời sống lịch sử tác phẩm nghệ thuật Còn người đọcthực tế tạo ra phương diện chủ quan của đời sống lịch sử tác phẩm nghệ thuật.Chính vai trò năng động sáng tạo của bạn đọc đã làm cho đời sống lịch sử của nghệthuật vô cùng phong phú, sinh động

Trang 35

Ta có thể thấy những yếu tố cụ thể từ phiá người đọc tham gia vạch ra conđường lịch sử của văn chương:

- Khác với tiếp nhận khoa học, tiếp nhận nghệ thuật có một công chúng rộng rãi.Tính chất dân chủ rộng rãi của tiếp nhận sẽ vẽ ra gương mặt đa dạng của tác phẩm.Mọi người, mọi lứa tuổi, mọi giới tính, mọi nghề nghiệp, giai cấp đều có thể tiếp nhậnvăn chương và tiếp nhận theo cách của mình Do đó, ở trong mỗi một độc giả sẽ có mộthình tượng mà hình tượng đó sẽ không trùng khít với hình tượng tác phẩm và cũngkhông trùng khít với hình tượng mà người khác cùng tiếp nhận Quyết định tới tính đadạng và đa diện của nghệ thuật từ phía chủ thể tiếp nhận là do tuổi tác đã đành, còn do

cá tính cảm xúc, quan điểm thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ khác nhau; lại còn do trình độvăn hóa, địa vị xã hội, thành phần giai cấp, năng lực của từng người…

- Mặt khác, lại còn tâm lí tiếp nhận của công chúng Công chúng tiếp nhận cónhiều kiểu Loại tiếp nhận để giết thì giờ lúc chờ đợi, hay rảnh rỗi Loại này chủ yếuđọc ngấu nghiến tiếp nhận một cách bàng bạc, hời hợt Loại người tiếp nhận sâu vềphương diện đồng cảm, đồng điệu của hình tượng Với những người này hình tượngtrở nên sống động một cách kỳ lạ: y như thật Có người đã tưởng thật Có ngườithuơng khóc, hay uất ức thực sự đối với nhân vật: loại người tiếp nhận thiên về lítrí Loại này khai thác sâu phương diện khái quát của hình tượng Họ nặng suy tư,suy tính Hình tượng nghệ thuật đến với họ đều ở bề chìm Loại người tiếp nhận sơlược, nắm bắt hình tượng không trọn vẹn Hình tượng nghệ thuật đến với nhữngngười này không toàn bích và chỉ ở một số phương diện, khía cạnh nào đấy Cuốicùng là loại người tiếp nhận trọn vẹn Loại người này tiếp nhận hình tượng mộtcách đa diện, cả chiều cao, chiều sâu, bề chìm bề nổi nhận ra phong cách nghệthuật, thi pháp và tư tưởng tác phẩm

Tiếp sức, định hướng, chế ước người đọc đó là điều kiện lịch sử - xã hội.Trong điều kiện xã hội phát triển, đời sống văn hóa nâng cao người có điều kiệntiếp nhận nghệ thuật và tiếp nhận tốt hơn trong xã hội có điều kiện kinh tế thấp.Trong điều kiện xã hội có những biến động nào đấy về chính trị -xã hội, ví du,ïđang hoà bình chuyển sang chiến tranh và ngược lại thì việc tiếp nhận nghệ thuậtcủa công chúng cũng sẽ bị ảnh hưởng v v… Ðã có một thời công chúng tiếp nhận

vở chèo Lưu Bình - Dương Lễ ở phương diện tình bạn cao cả đầy ân nghĩa của

Trang 36

Dương Lễ; dám cho vợ đi tìm Lưu Bình để nuôi ăn học thành đạt Trong chế độ đathê, năm the, bảy thiếp, thì người tiếp nhận, kể cả phụ nữ cũng rất tán đồng Dương

Lễ Nhưng trong chế độ chúng ta - chế độ phụ nữ được giải phóng, được tôn trọngthì người ta không tán thành cách làm của Dương Lễ Và vở chèo đó không đượcdàn dựng, không được tiếp nhận như trước đây nữa

Tất cả những điều trên đây chúng ta chỉ mới nói với vai trò người đọc trongtiếp nhận ở góc độ thiên về phương diện nào đó của hình tượng, nhưng chưa nói tớiviệc người đọc mở rộng giới hạn nghĩa cho hình tượng Nói mở rộng giới hạn nghĩakhông có nghĩa là người đọc viết thêm vào tác phẩm, mà người đưa tác phẩm vàohoàn cảnh của mình, quan hệ với mình và phát hiện ra nghĩa cho tác phẩm từ nhữngquan hệ mới, có thể thấy điều này qua lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn

Du và nhiều trường hợp tiêu biểu khác Hình tượng cô Tấm trong truyện cổ tíchTấm - Cám được các loại người nhận khác nhau cảm nhận khác nhau Ðối vớingười bình dân xưa, cô Tấm điển hình cho quan niệm đạo đức ở hiền gặp lành Ðốivới Chế Lan Viên, cô Tấm là của tài năng diệu kỳ:

Ôi đất nước của vạn nghìn cô Tấm

có 4 bước cho người đọc như sau:

Trước hết, lựa chọn sách đọc chọn những sách phù hợp với khát vọng lớn lao,chính đáng của con người như hoà bình, tự do, chống bạo lực, tình yêu, tình bạn,tình người

Thứ đến, định hướng đọc: đọc để làm gì? Ðể thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, giáodục, thẩm mĩ, giải trí, giao tiếp v v…

Thứ ba, phương pháp đọc: tìm các mã của văn bản, các đặc trưng phong cách,các thao tác phân tích, thống kê, đối chiếu

Thứ tư, đánh giá tác phẩm: Giá trị nội dung và tư tưởng xét trên nhiều chiềuđồng đại và lịch đại v v…

Trang 37

CHƯƠNG 2: TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN NHÌN TỪ

LỊCH SỬ TIẾP NHẬN 2.1 Vấn đề tiếp nhận văn xuôi tự lực văn đoàn từ trước 1945

2.1.1 Hướng tiếp nhận từ quan điểm đạo đức và xã hội

Với chủ trương tấn công vào bức tường thành phong kiến đã trở nên lạc hậu,ngay sau khi Tự lực văn đoàn phát hành những tác phẩm đầu tiên đã đón nhậnnhững ý kiến khác nhau từ phía độc giả

Trong tập Dưới mắt tôi (1939) Trương Chính đã dành hơn một trăm trang bình

các tác phẩm chính của Khái Hưng và Nhất Linh Ông tập trung ca ngợi nội dungphá đổ sự áp bức chuyên chế của Khổng giáo, cải tạo xã hội trong các tác phẩm củaNhất Linh và Khái Hưng

Viết về Nhất Linh, ông nhận xét Đoạn tuyệt đã có công đánh dấu một cách rõ

ràng thời kì thay đổi trong lịch sử tiến hóa của xã hội An Nam Tác phẩm "công bố

sự bất hợp thời của một nền luân lý khắc khổ, eo hẹp, đã giết chết bao nhiêu hyvọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bộtđang ao ước sống một đời đầy đủ, một đời mãnh liệt, cường tráng "[8, tr 625] vìtheo ông “gia đình hiện thời chỉ là một chế độ nô lệ đưới một lớp sơn lừa dối” [8, tr.625] Trương Chính đứng về phía Loan - cô gái mới - để cho rằng cô đã làm hết sức

để có được hạnh phúc nhưng sự hy sinh của nàng thành vô nghĩa, vì cô chính là nạnnhân của gia đình nệ cổ, gia đình ấy chỉ cố tìm cách làm cho cô đau khổ mà thôi

Ông khen Đoạn tuyệt không chỉ có giá trị xã hội mà còn có giá trị tâm lý nữa, nó là

"một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại"[8, tr 629] Ông cũng nhận xét khi

Nhất Linh viết Đoạn tuyệt để dùng nghệ thuật tái thiết xã hội Việt Nam trên một

nền tảng vững vàng, theo những nguyên tắc hợp lý và nhân đạo thì có nhiều ngườihoan nghênh đồng thời cũng bị nhiều người phản đối Những người phản đối chính

là các nhà đạo đức cổ không hiểu những nguyện vọng; những nhu cầu mới của

những người mới và không chịu nhìn nhận sự tiến bộ của nhân loại Lạnh lùng được

Trương Chính xem là mũi tên độc thứ hai Nhất Linh bắn vào Khổng giáo Nạn nhâncủa chế độ cũ là Nhung, một người đàn bà trẻ tuổi, nhưng không thể, không dám đilấy chồng "vì Luân lý, vì Đạo đức, vì Danh dự"[8, tr 630] Tác giả "Dưới mắt tôi"khen Nhất Linh đã làm một việc nhân đạo vì "Luân lý ấy là luân lý áp bức, đạo đức

Trang 38

ấy là đạo đức giả dối, danh dự ấy là danh dự hão huyền Hơn nữa tác giả muốncho ta đủ tự do sống theo nguyện vọng của mình, gây lại hạnh phúc gia đình mình

một cách chính đáng "[8, tr 630] Trương Chính bênh vực Lạnh lùng, phê phán

Trương Tửu không hiểu được những điều trên nên đã cả gan kết án tác phẩm.Nhưng đồng thời cũng đứng trên quan điểm đạo đức, Trương Chính cho rằng hành

vi của Nhung đôi khi biểu thị một tâm hồn phóng tứ "Nhưng ta thất vọng khi nhìnthấy nàng quá tự do bỏ nhà đi ngang về tắt với tình nhân Nàng sẽ lấy Nghĩa, không

ai phản đối Nhưng nàng "ăn nằm" với Nghĩa trước khi lấy Nghĩa, thì người takhông thể tha thứ cho nàng được Người ta sẽ nghi nàng bị lôi cuốn bởi sức cám dỗcủa bản năng, theo tiếng gọi của xác thịt hơn theo tiếng gọi của trái tim, nghi chonàng cố ý đi tìm khoái lạc hơn đi tìm chân lý hạnh phúc "[8, tr 632]

Với một số ý kiến chê Tối tăm, Trương Chính nhận định "Theo tôi thấy, lúc

nào ông Nhất Linh cũng chỉ đi theo con đường ông vạch sẵn để di tới mục đích: cảitạo xã hội "[8, tr 635] Trương Chính cho rằng: "Trước kia ông bênh vực một hạngngười đau khổ, vì biết suy tưởng và biết phân tách lòng mình, nên sự đau khổ ấy lạicàng chua chát Bây giờ ông bênh vực một hạng người khác khốn nạn mà khôngbiết mình khốn nạn, vì ngu dại và thất học, đương chìm đắm trong đêm tối một cáchrất đáng thương "[8, tr 636] Đó là những chàng nông phu lương thiện vì dốt nát bịlừa dối, những người cha không dám cho con gái đi học, những bà mẹ không biếtsạch sẽ là gì, những cái Bìm ngoan ngoãn một cách đần độn Trương Chính lýgiải họ bị đày vào cảnh khổ nhục như vậy vì không có ai gợi cho họ những ướcmong khác và theo ông "nhà nghệ sỹ không có quyền đứng ngoài xã hội, ẩn trongtháp ngà để hưởng hạnh phúc mình một cách ích kỉ và khốn nạn Đời của ta có liênquan tới đời của mọi người "[8, tr 636] Ông cũng bày tỏ rõ quan niệm của mình: "Tôi tưởng cái vấn đề nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh đã kết liễu

từ lâu, và bây giờ không ai cứng đầu không chịu hiểu rằng nghệ thuật sẽ là sự mỉamai nếu mục đích của nó không phải là nâng cao trình độ sinh hoạt của nhân loại

"[8, tr 637]

Phê bình Nửa chừng xuân của Khái Hưng, Trương Chính ghi nhận sự phấn

đấu của cá nhân chống lại chế độ đại gia đình, theo ông "tác giả nó biện luận choquan niệm nhân sinh mới và công bố sự bất hợp thời của những tập quán do nền

Trang 39

luân lý cổ truyền tạo ra "[8, tr 642] Khi viết về cuốn Gia đình, mặc dù ông nhận

thấy công cuộc cải tạo xã hội của Hạc có tính cách trưởng giả, chú trọng ở bề mặthơn bề sâu, và Khái Hưng đã tỏ thái độ lạc quan quá dễ dãi ở sự thành công của Hạcnhưng ông không phê bình công cuộc cải tạo ấy Vì theo ông, đời Hạc còn đáng

sống hơn đời lắm kẻ khác Ở khía cạnh tác động xã hội, Trương Chính đánh giá Gia đình là nhát búa cuối cùng vào bức tượng khổng lồ nhưng đã mục nát của thế hệ

trước: chế độ đại gia đình

Về nghệ thuật, nhìn chung Trương Chính hết lời khen ngợi Nhất Linh và Khái

Hưng: Đoạn tuyệt có giá trị tâm lý không ai chối cãi được Nhất Linh đã quan sát rất

tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật và đi sâuvào đời bên trong của họ Trương Chính cho là Nhất Linh còn có tài miêu tả nhân

vật, điều ấy được thể hiện qua nhân vật bà Án trong Lạnh lùng: "Nhất là tả bà Án,

ông đã lột được hết tinh thần một người đàn bà quý phái, ranh mãnh, khôn khéo,biết chiều chuộng con dâu khi cần phải chiều chuộng, biết dạy dỗ khi cần phải dạy

dỗ "[8, tr 634]

Trong khi phê bình các tác phẩm và tác giả Tự lực văn đoàn, chúng ta thấy rõquan điểm của Trương Chính Đối với ông, văn chương phải góp tiếng nói để cảitạo, xây dựng xã hội Hơn nữa, nó còn phải phù hợp với quan niệm về đạo đức của

xã hội

Trương Chính nhiều lần khen nghệ thuật miêu tả tâm lý của Khái Hưng: “Nhàluân lý Khái Hưng lại là một nhà tâm lý nữa"[8, tr 639] Nhà văn "hiểu rằng một cửchỉ, một dáng điệu, một sắc mặt có thể biểu lộ một trạng thái tâm hồn nên tác giảHồn bướm mơ tiên chỉ tả cái dáng điệu ấy, vẽ cái cử chỉ ấy, ghi cái sắc mặt ấy Vàinhận xét có ý tứ cũng đủ làm hoạt động những nhân vật trong truyện "[8, tr 639].Khái Hưng còn được xem là nhà hội họa có tài, đã kết tinh được cái hồn thơ manmác bao trùm cảnh vật và ghi được những màu sắc rất hay biến đổi bằng một ngòibút điêu luyện

Tóm lại, “…một quyển như Hồn bướm mơ tiên là một hòn châu báu”[8, tr

641] Đặc biệt, Trương Chính rất ca ngợi Gia đình, theo ông đó "có thể xem như

một tác phẩm không tì vết”, "Tôi chưa từng thấy trong văn học Việt Nam, một nhàvăn, kể cả Nhất Linh, đã tả người đàn bà một cách xác đáng như Khái Hưng" [8, tr

Trang 40

655] Ông cho rằng tác giả đã giải phẫu tâm lý nhân vật trong truyện một cách công

phu; sự xếp đặt và cách kết cấu trong Gia đình không để ta chê trách được ở chỗ nào cả Trương Chính cũng đánh giá rất cao Đời mưa gió, đó "là một kiệt tác”[8, tr.

668] Với Đời mưa gió thì Khái Hưng và Nhất Linh đã có “nghệ thuật tuyệt diệu”khi tả một người phóng đãng như Tuyết mà làm cho người đọc thương hại nàng,bênh vực nàng Trương Chính cũng đã bước đầu chỉ ra những mặt cần khắc phục Ở

Đoạn tuyệt, tác giả không nên nấp sau lưng nhân vật để nói thay ở đoạn Loan ra toà.

Ông cho rằng như thế là “thiếu thành thực và có hại cho nghệ thuật”[8, tr 629],

“Nửa chừng xuân xếp đặt không chặt chẽ”[8, tr 645], “Vọi trong Trống Mái không

thực Tác giả đã sửa chữa bức tranh của ông nhiều quá”[8, tr 651] Đáng chú ý nhất

là cuộc tranh luận dựa trên quan niệm về mối quan hệ giữa văn chương với đạo đức

và xã hội Nếu như Trương Chính bảo vệ và dành cho Lạnh lùng của Nhất Linh

những lời khen thì Trương Tửu lại kết án chúng Trương Tửu đặt vấn đề : "Một vănphẩm hoàn toàn về nghệ thuật mà có ảnh hưởng tai hại đến cá nhân và xã hội thì

nên hoan nghênh hay bài trừ" và ngay sau đó ông đã lên án trong cuốn Lạnh lùng,

Nhất Linh định phá hoại sự tiến bộ của phụ nữ, chủ trương tự do phát triển xác thịt.Theo ông, Nhung phải ở vậy để thờ chồng, giữ tròn danh tiết Ông hô hào: "Tất cảnhững đàn bà, những cô quan tâm đến vấn đề phụ nữ nên kết án Lạnh lùng", "tất cảnhững bậc phụ mẫu muốn cho con gái khỏi sự phóng đãng quyến rũ, nên cấm tiệtkhông cho đọc Lạnh lùng "[8, tr 630-631]

Thúc Tề lại nhấn mạnh chỉ ở dưới chế độ phong kiến người đàn bà góa trẻ mớiphải ở vậy, còn dưới xã hội mới tình trạng đau đớn ấy không thể có nữa Vấn đềgiải phóng phụ nữ được đặt ra trong sáng tác của Tự lực văn đoàn do vậy đã trởthành vấn đề xã hội rộng lớn, được dư luận quan tâm

Ở đây Trương Chính và Trương Tửu đã đứng ở góc độ khác nhau khi nhận xét

về Lạnh lùng Trương Chính thấy được mặt tích cực chủ yếu của tác phẩm là bảo vệ

quyền sống chính đáng của con người, hạn chế về mặt đạo đức chỉ là thứ yếu Trong

khi đó, Trương Tửu lại quá nhấn mạnh khía cạnh đạo đức nên chỉ thấy Lạnh lùng là

một tác phẩm có hại Cũng xuất phát từ quan điểm xã hội, Dương Quảng Hàm trongcuốn “Việt Nam văn học sử yếu” xuất bản năm 1941 đã thấy được đóng góp của Tựlực văn đoàn không chỉ ở lĩnh vực văn học mà còn tác động về mặt xã hội “công

Ngày đăng: 13/11/2014, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1992),“Thạch Lam - văn chương và cái đẹp”, TC Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam - văn chương và cái đẹp”
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1992
2. Lại Nguyên Ân (2003), "Giải pháp điều hòa xã hội trong văn Thạch Lam", Thạch Lam- tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp điều hòa xã hội trong văn Thạch Lam
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
3. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1974
4. Trường Chinh (1949), "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam", Về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1949
5. Trương Chính(2000),“Tự lực văn đoàn”, Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb văn hoá –Thông tin, Hà NộI (Mai Hương tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn”, "Tự lực văn đoàn trong tiến trình vănhọc dân tộc
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb văn hoá –Thông tin
Năm: 2000
6. Trương Chính (2000), "Nhất Linh", Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb văn hoá –Thông tin, Hà NộI (Mai Hương tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhất Linh
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb văn hoá –Thông tin
Năm: 2000
7. Trương Chính (2000), "Khái Hưng", Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb văn hoá –Thông tin, Hà NộI (Mai Hương tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái Hưng
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb văn hoá –Thông tin
Năm: 2000
8. Trương Chính (2000), "Dưới mắt tôi", Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn hóa-thông tin, Hà Nội (Mai Hương tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn hóa-thông tin
Năm: 2000
9. Trương Chính (1990), "Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn", Tạp chí văn học , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tựlực văn đoàn
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1990
10. Nguyễn Mạnh Côn (2000), "Vĩnh quyết Nhất Linh", Tự lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb văn hoá –Thông tin, Hà Nội. (Mai Hương tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh quyết Nhất Linh
Tác giả: Nguyễn Mạnh Côn
Nhà XB: Nxb văn hoá –Thông tin
Năm: 2000
11. Trương Đăng Dung (1989), "Từ văn bản đến tác phẩm văn học", NXB GD 12. Phan Cự Đệ (1970), Thơ văn cách mạng 1930-1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung (1989), "Từ văn bản đến tác phẩm văn học", NXB GD 12. Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB GD12. Phan Cự Đệ (1970)
Năm: 1970
13. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học vàTHCN
Năm: 1978
14. Phan Cự Đệ (1990), Tự lực văn đoàn-con người và văn chương, Nxb văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự lực văn đoàn-con người và văn chương
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb văn Học
Năm: 1990
15. Phan Cự Đệ (2002), Văn học lãng mạn Việt Nam(1930-1945), NxbVăn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam(1930-1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 2002
16. Phan Cự Đệ (2002), "Chuyện trò với Hoàng Xuân Hãn", Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện trò với Hoàng Xuân Hãn
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
17. Hà Minh Đức (2003), Khảo luận văn chương, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
18. Hà Minh Đức (chủ biên –2001), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Hà Minh Đức (1992), Văn chương Tự lực văn đoàn, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương Tự lực văn đoàn, tập 2
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
20. Hà Văn Đức (2003), "Thế giới nhân vật của Thạch Lam", Thạch Lam-về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật của Thạch Lam
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
21. Phạm Văn Đồng (1976), Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1976

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w