1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUYỀN CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÁ NHÂN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG TỪ 2004 ĐẾN NAY

61 257 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 849,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn về tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang , được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, được sự phân công trực t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUYỀN CỦA HỘ GIA ĐÌNH CÁ NHÂN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG TỪ 2004 ĐẾN NAY

SVTH LỚP KHÓA NGÀNH

: : : :

Trần Thị DungDH08QL

2008 - 2012 Quản Lý Đất Đai

-TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012-

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

Mục tiêu nghiên cứu: 3

Đối tượng nghiên cứu: 3

Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN I: TỔNG QUAN 5

I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

I.1.1 Cơ sở khoa học 5

I.1.2 Cơ sở pháp lý 6

I.1.3 Cơ sở thực tiễn 7

I.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 7

I.2.1 Điều kiện tự nhiên 7

I.2.2 Các nguồn tài nguyên 9

I.3 Nội dung- Phương pháp nghiên cứu 10

I.3.1 Nội dung nghiên cứu 10

I.3.2 phương pháp nghiên cứu 10

Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

II.1 ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT 12

II.1.1 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất 12

II.1.2 Điều kiện kt-xh ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất 12

II.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 14

II.2.1 Công tác đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính 14

II.2.2 Công tác Quy hoạch- Kế hoạch sử dụng đất 24

II.2.3 Quản lý việc giao đất cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất 25

II.2.4 Công tác dăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ 25

II.3 Tình hình sử dụng đất đai 27

II.3.1 Diện tích các loại đất 27

II.3.2 hiện trạng sử dụng đất 28

Trang 3

II.3.3 Đánh giá chung một số nội dung QLNN về đất đai và sử dụng đất đai

ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất 30

II.4 Đánh giá tình hình thực hiện một số quyền cuả hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất 30

II.4.1 Đánh giá tình hình thế chấp QSDĐ của hộ gia đình cá nhân từ 2004 đến nay 30

II.4.2 Đánh giá tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ năm 2004 đến nay 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

Kết luận 59

Kiến nghị 60

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài sản đặc biệt quan trọng mà không có bất cứ tài sản nào có thể thay thế được, đất đai thuộc sở hữu toàn dân dưới sự quản lý của nhà nước Nhà Nước thực hiện quyền quản lý thông qua các văn bản quy phạm pháp luật về dất đai Trong quá trình pát triển của đất nước, vấn đề quản lý và sử dụng đất ngày càng được quan tâm Trên cơ sở đó luật đất đai 1993 đã ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của các văn bản QLNN về đất đai trước đó Trong đó những vấn đề về quyền của người sử dụng đất cũng đã có những quy định tương đối cụ thể

Tuy nhiên trên con đường hội nhập và phát triển đất nước, quá trình Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, phát sinh một số vấn đề mà Luật Đất Đai

1993 không thể giải quyết được Trên cơ sở đó, Quốc hội nước CHXHCNVN đã thông qua Luật Đất Đai 2003 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Luật dất đai 2003 ra đời với những quy định hoàn thiện hơn về cơ chế QLNN về dất đai Vấn đề thực hiện quyền của người sử dụng đất một lần nữa được đề cập rất cụ thể Tại Điều 105, 106, 113, 114, 115,116 của luật này, đặc biệt là các quyền CNQSDĐ, thế chấp QSDĐ được quy định với những điều luật cụ thể hơn

Huyện Hòn Đất là một huyện phát triển nhất của tỉnh Kiên Giang thuộc Miền Tây Nam Bộ, nơi có diện tích sản xuất nông nghiệp tương đối lớn và cung cấp một sản lượng nông sản tương đối lớn cho xuất khẩu, đặc biệt là sản lượng lúa gạo Trong những năm gần đây do nhu cầu lương thực của thế giới ngày càng nhiều thúc đẩy xuất khẩu gạo trong nước tăng cao, từ đó giá lúa gạo tăng lên đáng kể Lợi nhuận thu về càng nhiều thúc đẩy giá đất đai tăng lên, kéo theo các vấn đề thực hiện quyền của người sử dụng đất Trong đó phải kể đến 2 quyền được người dân cũng như các cấp Chính quyền quan tâm nhiều nhất là: quyền thế chấp QSDĐ, QSDĐ vàTSGLVĐ; quyền chuyển nhượng QSDĐ

Để hiểu rõ hơn về tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang , được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, được sự phân công trực tiếp của khoa Quản Lý Đất Đai và BĐS, cùng sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi xin tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu đề tài ‘‘Đánh giá tình hình thực hiện quyền của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất tỉnh Kiên Giang từ năm 2004 đến nay”

Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng tình hình thực hiện một số quyền của hộ gia đình cá nhân

sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất từ năm 2004 đến nay Cụ thể là các quyền: thế chấp QSDĐ và TSGLVĐ;CNQSDĐ;thừa kế QSDĐ Trên cơ sở đó, đánh giá về việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định hiện hành của Luật Đất Đai

2003 Qua đó thấy được những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý của nhà Nước cùng với việc đảm bảo thực hiện quyền của người sử dụng đất

Đối tượng nghiên cứu:

Tình hình thực hiện quyền của Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện hòn đất tỉnh kiên giang,từ năm 2004 đến nay bao gồm các quyền:

- Quyền thế chấp

- Quyền chuyển nhượng

Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

:nghiên cứu việc thực hiện các quyền của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất quy định tại các điều 105,106, 113, 114, 115 của luật đất đai 2003, từ năm 2004 đến nay

Trang 6

PHẦN I: TỔNG QUAN I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I.1.1 Cơ sở khoa học

I.1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến quyền sử dụng đất

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

GCNQSDĐ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là chứng thư pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý quan trọng giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất, trong chế độ XHCN đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thống nhất quản lý và người dân chỉ có quyền sử dụng theo đúng kế hoạch và quy hoạch đã được phê duyệt Điều này giúp nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất,điều tiết được giá đất ,

cân bằng được hạn mức đất của từng cá nhân tránh tình trạng đầu cơ đất đai

- Đối tượng sử dụng đất:

Đối tượng sử dụng đất theo Luật đất đai 2003:

+ Các tổ chức trong nước bao gồm các cơ quan nhà nước trong huyện; các tổ chức kinh tế được giao đất , cho thuê đất; tổ chức kinh tế nhận CQSDĐ

+ Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ hoặc nhận CNQSDĐ

+ Cộng đồng dân cư gồm: cộng đồng người Kho7me, người Chăm, người Hoa được Nhà nước giao đất hay công nhận QSDĐ

+ Cơ sở tôn giáo; bao gồm các chùa, thánh thất, nhà thờ,… được UBND Tỉnh công nhậnQSDĐ

+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, Việt Kiều hải ngoại về sinh sống và làm việc được UBNd huyện cho thuê đất, mua nhà ở gắn liền với QSDĐ

- Thế chấp QSDĐ:

Theo điều 342 Bộ luật dân sự năm 2005: “ thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia ( sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ BĐS, động sản có vật phụ thì vật phụ của BĐS, động sản cũng thuộc tài sản thế chấp

- Hợp đồng thế chấp:Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là sự thoả thuận

giữa các bên tuân theo các điền kiện, nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất được Bộ luật này và pháp luật về đất đai quy định, theo đó bên sử dụng đất dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Bên thế chấp được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn thế chấp

- Nhận chuyển quyền sử dụng đất: là việc xác lập quyền sử dụng đất do được

người khác chuyển quyền sử dụng đất theo quy đĩnh của pháp luật thông qua các hình thức chuyển đổi , chuyển nhượng, thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất

- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Trang 7

Thuật ngữ CNQSDĐ ra đời từ Luật Đất Đai năm 1993 vì đấ đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý , người dân chỉ có quyền sử dụng chứ không

có quyền chiếm đoạt, định đoạt đất đai Nhà nước chỉ cho phép người sử dụng đất được CQSDĐ (chuyển quyền sử dụng đất ) của mình cho ngưới khác

CNQSDĐ là việc người có quyền SDĐ hợp pháp chuyển giao đất và quyền SDĐ cho người khác theo những quy định pháp luật đất đai hiện hành

CNQSDĐ là hình thức CQSDĐ trong đó người sử dụng đất ( gọi là bên CQSDĐ) chuyển giao QSDĐ cho người được nhận chuyển nhượng ( gọi là bên nhận QSDĐ), còn người được nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho người chuyển nhượng

của mình liên quan đến đất đai

- Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về

đăng ký giao dịch bảo đảm;

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

- Luật số 17/1999/QH10 ngày 21/12/1999 về luật sửa đổi một số điều luật thuế chuyển quyền

- Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại , thừa kế QSDĐ, thế chấp góp vốn bằng giá trị QSDĐ

- Nghị định 79/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 nghị định của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 17/1999/NĐ-CP nagy2 29 tháng

3 năm 1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại , thừa kế QSDĐ, thế chấp góp vốn bằng giá trị QSDĐ Theo quy định này người dân có quyền rộng hơn trước đây, tạo điều kiện cho người sử dụng dất thực hiện các quyền của mình

- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất;

- Thông tư liên tịch số 06/2010/TTLT-BTP-BTNMT sửa đổi bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 hướng

dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường , hỗ trợ ,tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất

đai

- Luật thuế thu nhập cá nhân ngày 21/11/2007

Trang 8

I.1.3 Cơ sở thực tiễn

Luật đất đai được quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 và chính thức

có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2004 Luật đất đai ra đời có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý đất đai , khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai ; bảo vệ các quyền của người sử dụng đất nhìn cung các quy định của luật đất đai

đã đi vào cuộc sống , nhiều quy định của luật đất đai 2003 đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắnvà phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam luật đất đai

và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất thực hiện đúng đắn các quyền của mình đối với đất đai

Trong thời qian qua, tình hình thực hiện các quyền của người sử dụng đất đang rất được quan tâm ở các địa phương trên cả nước nói chung và khu vực đồng bằng sông cửu long nói riêng Đặc biệt là quyền thế chấp QSDDĐ, quyển CNQSDĐ luôn được quan tâm hàng đầu do nhu cầu sử dụng đất và nguồn lợi từ việc sử dụng đất Hầu hết các địa phương thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đều coi trọng việc thực hiện quyền thế chấp QSDĐ vì nó mang lại nguồn vốn cơ sở đề đầu tư sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, song song với đó là hoạt động CNQSDĐ cũng diễn ra sôi nổi ở khu vực này vì CNQSDĐ tạo ra nhiều cơ hội để người dân phát triển kinh tế, thay đổi ngành ngề của mình và hơn thế nửa là họ có thể mở rộng diện tích đất sản xuất nâng cao đời sống

Chính vì vậy Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai và các văn bản sửa đổi bổ sung về luật đất đai để khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành và đưa ra những quy định đổi mới , cải cách về quản lý Nhà nước phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện tại

I.2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

I.2.1 Điều kiện tự nhiên

I.2.1.1 Vị trí địa lý

Hòn Đất là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Kiên Giang; Bắc giáp tỉnh An Giang; Nam giáp vịnh Thái Lan Tây giáp huyện Kiên Lương; Đông giáp huyện Tân Hiệpvàthành phố Rạch Giá Về hành chánh, hiện nay huyện bao gồm thị trấn Hòn Đất, thị trấn Sóc Sơn và 12 xã là: Bình Giang, Bình Sơn, Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn, Thổ Sơn, Sơn Kiên, Sơn Bình, Mỹ Phước, Mỹ Lâm, Mỹ Thái, Mỹ Thuận, Lình Huỳnh

Huyện Hòn Đất nằm trên quốc lộ 80, nối thành phố Rạch Giá với thị xã Hà Tiên Không chỉ kết nối về các điều kiện giao thương kinh tế, mà huyện Hòn Đất còn là nơi liên kết để phát triển thuận lợi các tuyến, điểm du lịch về lịch sử - văn hoá và du lịch sinh thái, phục vụ thu hút đầu tư trên địa bàn Qua một số di chỉ khảo cổ học được phát hiện như di chỉ Nền Chùa và di chỉ Óc Eo, các nhà khảo cổ đã xác định rằng, địa bàn huyện Hòn Đất ngày nay là một trong những cái nôi của nền văn hoá Óc Eo cổ Hòn Đất là quê hương của nữ liệt sĩ Phan Thị Ràng, tức chị Sứ hay chị Tư Phùng Địa danh này đã từng đi vào văn học với tác phẩm Hòn Đất của nhà văn Anh Đức

I.2.1.2 Diện tích và dân số

Trang 9

Huyện Hòn Đất có diện tích 103956,85km² với tổng số dân là 137.600 người,

chủ yếu gồm ba dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa Huyện được chia thành 14 đơn vị hành

chính cấp xã gồm 2 thị trấn và 12 xã

Bảng 1: Diện tích đất đai theo đơn vị hành chính của Huyện Hòn Đất

I.2.1.3.Khí hậu

Hòn Đất là một trong những khí hậu tiêu biểu cho vùng Đồng bằng sông Cửu

Long, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Mặt khác, có vị trí nằm sát

biển nên khí hậu còn mang tính chất hải dương, hàng năm có 2 mùa khí hậu tương

phản một cách rõ rệt (mùa khô tháng 11-tháng 4 và mùa mưa tháng 5 – tháng 10)

Hòn Đất có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ khá cao và ổn định Nhiệt độ

trung bình hàng năm 270C biên độ nhiệt hàng năm là 30C, tháng có nhiệt độ trung bình

cao nhất là tháng 4 (290C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (25,60C)

Tổng lượng nhiệt hàng năm cao: 9.928 - 10.0740C

Trang 10

Vị trí của Huyện ở vùng vĩ độ thấp, có độ dài của ngày lớn Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7-8 giờ/ngày Vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình 4-6 giờ/ngày Số giờ nắng nhiều, nhiệt độ cao nên năng lượng bức xạ nhận được khá lớn, trung bình hàng năm là 130-150 kcal/cm2

I.2.1.4 Độ ẩm

Huyện Hòn Đất có độ ẩm tương đối bình quân trong năm thường đạt 80-83%, sự chênh lệch độ ẩm giữa các tháng trong năm trên 10% Thời kỳ ẩm nhất trong năm rơi vào tháng 7-8 (mùa mưa), độ ẩm cao nhất 86%, thời kỳ độ ẩm thấp nhất rơi vào tháng 2-3 độ ẩm thấp nhất 76% Hòn Đất chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa từ tháng 5 đến tháng 11 có hướng gió thịnh hành là hướng Tây-Nam, mang theo nhiều hơi nước và gây mưa, tốc độ gió trung bình 3-4,8m/s Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông-Bắc, tốc độ gió trung bình 3m/giây Ngoài chế độ gió theo mùa, Kiên Giang còn có gió thổi theo ngày và đêm, đó là gió đất và gió biển, tốc độ trung bình 2,5-3m/s

Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tháng nhiều nhất là tháng 8, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa nhất là tháng 2.Tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp cuả bão, nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa

I.2.1.5 Thủy văn

Chế độ thủy văn của Hòn Đất bị chi phối bởi 3 yếu tố: thủy triều vịnh Thái Lan, chế

độ thủy văn của sông Hậu và mưa tại chỗ Các yếu tố này tác động từng thời kỳ, từng

vùng khác nhau làm cho chế độ thủy văn nơi đây diễn biến phong phú và đa dạng

I.2.1.6 Địa hình

Hòn Đất có khoảng 50 km bờ biển, được che chắn bởi hệ thống đê bao và rừng phòng

hộ Địa hình thấp, chỉ cao hơn mặt nước biển chưa tới 1 m và nằm trong khu vực tứ giác Long Xuyên - vùng trũng của đồng bằng Sông Cửu Long Những năm gần đây, khí hậu trái đất ấm dần lên, các nhà khoa học từ Viện Khoa học kỹ thuật khí tượng thủy văn - môi trường cảnh báo nước biển đang dâng lên tại Việt Nam và đến năm

2010, mực nước biển sẽ tăng thêm 9 cm so với 3 năm trước đó Nếu điều đó xảy ra, nghĩa là toàn bộ diện tích đất đai của huyện Hòn Đất sẽ bị nhấn chìm

Í.2.1.7.Điều kiện kinh tế

Huyện Hòn Đất là nơi có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Kiên Giang Nơi có diện tích lúa lớn nhất tỉnh khoảng 60.000 ha Đây là vùng có tiềm năng phát triển mạnh về du lịch lẫn nông nghiệp Thủy sản là tiềm năng của vùng, kinh tế của huyện Hòn Đất nổi tiếng hơn các huyện khác với sự giàu có và là khu vực phát triển mạnh về nông nghiệp Hiện tại lúa vẫn là chủ chốt đem lại hiệu quả cao cho vùng

Hiện tại Hòn Đất đang phát triển mạnh về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.600 USD/năm Tuy thu nhập cao nhưng sự chênh lệch giàu nghèo của vùng còn khá lớn

I.2.2 Các nguồn tài nguyên

I.2.2.1 Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Hòn Đất là 103956,85ha,

trong đó: Nhóm đất nông nghiệp chiếm 92,8% đất tự nhiên (riêng đất lúa 59347,8 ha chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp 6728,59ha ,Nhìn chung đất đai ở hòn đất phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Trang 11

I.2.2.2 Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt khá dồi dàovới hệ thống sông ngòi, kênh

rạch dày đặc cung cấp lượng nước cho sinh hoạt của người dân các vùng nông thôn cũng như cung cấp nước phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp., nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của huyện đều bị nhiễm phèn mặn,

do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô

I.2.2.3 Tài nguyên biển: do có vị trí nằm ven biển, bờ biển với ngư trường khai thác

thủy sản rộng nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam, vùng biển ở đây

có trữ lượng cá, rất lớn, trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 100.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết, với trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi

I.2.2.4 Tài nguyên khoáng sản: Có thể nói Hòn Đất là nơi có nguồn khoáng sản dồi

dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sảntrong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây

dựng, xi măng

I.3 Nội dung- Phương pháp nghiên cứu

I.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến việc thự hiện quyền của người sử dụng đất

- Công tác quản lý nhà nước về đất đai có liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

- Tình hình sử dụng đất của huyện

- Tìm hiểu tình hình thực hiện các quyền : thế chấp, thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất từ năm 2004 đến nay

- Đánh giá tình hình thực hiện quyền thế chấp, thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất

I.3.2 phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thu thập số liệu: tiến hành điều tra thu thập số liệu, tài

liệu có liên quan đến tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất trong những năm qua, bao gồm các tài liệu, số liệu về các trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn kiền với đất, đăng ký chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất

Phương pháp thống kê: sau khi đã thu thập các thông tin cần thiết tiến hành xử

lý thống kê các số liệu đã thu thập được như : số lượng hồ sơ thụ lý, thống kê tài liệu

về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thành lập các bảng biểu số liệu về những kết quả đạt được

Trang 12

Phương pháp phân tích tổng hợp: sau khi thống kê các số liệu có liên quan cần

tập trung phân tích chi tiết từng vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu số liệu thu thập được để rút ra lời nhận xét đánh giá về tình hình thực hiện quyền của hộ gia đình ca nhân sử dụng đất tại địa phương

Phương pháp so sánh: so sánh tình hình thực hiện quyền qua các năm

Phương pháp đánh giá: đánh giá các số liệu sau khi phân tích tổng hợp để đưa

ra những kết luận về tình hình thực hiện quyền của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của những cán bộ có chuyên môn

của địa phương về tình hình thực hiện quyền ho655 gia đình cá nhân sử dụng đất ở địa phương

Trang 13

Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

II.1.ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

II.1.1 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

Hòn Đất là một huyện có vị trí địa lý thuận lợi cho nhiều hoạt động KT-XH , có

vị trí nằm trên quốc lộ 80 nối TP Rạch Giá và Thị xã Hà Tiên, là khu vực giáp ranh với các trung tâm kinh tế lớn của tỉnh Hòn Đất không chỉ kết nối giao thương mà còn

là nơi thu hút bởi các điểm du lịch về lịch sử văn hóa và du lịch sinh thái Điều này làm cho nhu cầu sử dụng đất cho các nghành dịch vụ ăn uống giải trí, vui chơi ngày càng cao Để phát triển du lịch và các dịch vụ giải trí thì nhu cầu về nguồn vốn là rất lớn nên việc thế chấp quyền sử dụng đất được các đối tượng sử dụng đất đặc biệt quan tâm

Khu vực 3 hòn: Hòn Đất, Hòn me và Hòn Quéo là một cụm du lịch sinh thái thu hút được nhiều khách du lịch tham quan các di tích cũng như bảo tàng hiện vật sau chiến tranh Do lượng khách tham quan ngày càng tăng nên những năm gần đây các khu vực này luôn có những thay đổi, đường giao thông được mở rộng, cơ sở hạ tầng được xây dựng với những bước phát triển vượt bậc, đất đai ngày càng được quản lý chặt chẽ hơn và được sử dụng hợp lý hơn Hầu hết dất đai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc thực hiện các quyền về thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất ngày càng dễ dàng hơn

Nhờ có khí hậu thuận lợi mưa thuận gió hòa giúp ngành nông nghiệp phát triển ở mức cao hơn so với các vùng lân cận,nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp tăng cao trong đó những người dân ở các vùng lân cậnnhư các huyện Kiên Lương, Giang Thành, thị xã Hà Tiên thường có nhu cầu đến định cư tại Huyện Hòn Đất và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để canh tác, sinh sống thúc đẩy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tăng lên trong nhửng năm qua

II.1.2 Điều kiện kt-xh ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

Thế mạnh kinh tế chủ yếu của huyện là Nông - Lâm - Ngư nghiệp Công nghiệp

và tiểu thủ công cũng đang được chú trọng phát triển GDP năm 2001 chiếm 7,1% GDP toàn tỉnh Qua 8 tháng đầu năm 2008, thu ngân sách Nhà nước huyện là 70,814

tỷ đồng, đạt 73% kế hoạch tỉnh giao và đạt 78,16% kế hoạch so với Nghị quyết HĐND huyện giao, trong đó thu ngân sách xã 16,684 tỷ đồng, đạt 110% kế hoạch tỉnh giao, và đạt 110,15% kế hoạch HĐND huyện giao Chi ngân sách huyện 67,174 tỷ, đạt 67% kế hoạch tỉnh giao và đạt 74,14% kế hoạch HĐND huyện giao Năm 2011 thu ngân sách Nhà Nước huyện là 134,721 tỷ đồng

Tận dụng lợi thế ven biển, Hòn Đất đã phát triển đội tàu đánh bắt hải sản với gần

700 chiếc, sản lượng khai thác tăng hàng năm Bên cạnh đó, nghề nuôi trồng thủy sản

có hướng phát triển tích cực, đạt diện tích 4.230 ha mặt nước ven biển Ngoài ra, huyện còn phát triển thêm các ngành nghề chủ lực ở địa phương như khai thác đá xây dựng, xay xát lúa gạo, chế biến, bảo quản hàng thủy sản và các ngành nghề truyền thống khác Huyện cũng đã và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả theo hướng Nông - Lâm - Ngư nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng; Thương mại - Dịch vụ, đồng thời đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích

Trang 14

phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch lại vùng nguyên liệu, tổ hợp sản xuất hàng tiêu dùng tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch

đề ra và tăng hơn so với năm 2010 là 136.900 tấn Dự kiến trong vụ sản xuất lúa năm

2012 huyện sẽ phấn đấu đưa diện tích sản xuất lúa 02 vụ tăng lên 3.000 ha (chủ yếu là

vụ đông xuân) và sản lượng sẽ tăng thêm 50.000 tấn so với năm 2011 Đồng thời, huyện đang kiến nghị UBND tỉnh bổ sung thêm nguồn vốn khoảng 20 tỷ đồng để đầu

Ngoài cây lúa, huyện Hòn Đất còn phát triển trồng nhiều khoai lang Khoai lang Hòn Đất được thương lái ở thành phố Hồ Chí Minh bao tiêu sản phẩm từ trước với giá cao Năm 2007, toàn huyện có khoảng 195 ha diện tích đất trồng khoai lang, tăng gần 5 lần

và đạt sản lượng 4.485 tấn, gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái, bà con nông dân rất phấn khởi vì trồng khoai lang có lãi cao Tuy nhiên từ cuối năm 2011 đến nay thì diện tích trồng cây khoai lang đã thu hẹp rất nhiều do đầu ra sản phẩm không còn, giá khoai lang giảm mạnh đẩy người trồng khoai lang vào tình thế khó khăn Do thất thoát vốn trong việc trồng khoai lang nên một số hộ dân chuyển sang trồng lúa, và chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ việc thế chấp quyền sử dụng đất, nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất là rất lớn ngoài ra một số hộ dân quyết định chuyển nhượng diện tích đất trồng khoai lang của mình cho các đối tượng khác và sử dụng nguồn vốn vào mục đích khác ảnh hưởng lớn đến tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương

Công nghiệp - Xây dựng

Năm 2011, toàn huyện có trên 720 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (trong đó có 18 doanh nghiệp), tập trung chủ yếu ở các ngành sản xuất nước

đá, khai thác đá xây dựng, chế biến các loại Tổng giá trị sản xuất ước đạt 99 tỷ 898 triệu đồng, vượt 2,86% kế hoạch năm và tăng 15,21% so với năm 2010, trong đó, giá trị sản xuất quốc doanh là 21 tỷ 714 triệu, tăng 10,22%; ngoài quốc doanh là 98 tỷ 184

triệu đồng, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm 2010

Xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất có một làng nghề truyền thống, đó là nghề nắn nồi, chuyên tạo ra những sản phẩm bằng đất nung như cà ràng, nồi, om, ơ, soong, chảo… Xuất hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX Nguyên liệu dùng để nắn nồi là đất sét, phải có đủ các tiêu chuẩn như dễ đánh bóng, chịu nhiệt cao, tính kết dính cao… mà loại đất này có sẵn trên địa bàn huyện Để hoàn thành một sản phẩm bằng đất phải qua nhiều công đoạn, công đoạn đầu là nắn hay còn gọi là tạo hình vì tất

cả các sản phẩm đều có khuôn (khung) bằng gỗ hoặc bằng đất nung, đến công đoạn

vỗ, do đất ướt chứa nhiều nước nên sản phẩm mới đầu thường biến dạng, đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật cao, sau đó là công đoạn làm bóng, tạo hoa văn để sản phẩm được nhẵn bóng hoàn chỉnh Công đoạn cuối cùng là phơi khô và đưa vào nung,

Trang 15

gọi theo ngôn ngữ nhà nghề là “đốt nồi” Trước khi “nung” người thợ phải xếp mọi sản phẩm lên mặt đất, chèn rơm hoặc cỏ khô vào các sản phẩm, phía trên lớp rơm có một lớp củi tràm Người ta thường tiến hành đốt vào ban đêm để dễ theo dõi lửa cháy cho đều Thông thường, các loại sản phẩm “nặng lửa” được đặt ở trung tâm, loại “nhẹ lửa” xếp ở chung quanh để sản phẩm không bị sống hoặc chín quá

Một phần diện tích đất của xã Nam Thái Sơn được sử dụng cho việc khai thác đất sét phục vụ cho nghề nắn nồi đất

Ngày này, mặc dù chịu sự cạnh tranh bởi các sản phẩm kim loại nhưng nghề nắn

nồi ở Hòn Đất vẫn tồn tại và được nhiều người biết đến

Xã hội

Những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục huyện Hòn Đất được quan tâm đúng mức Cơ sở vật chất được tăng cường đầu tư, mạng lưới trường lớp phát triển đến vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc đáp ứng được sự huy động học sinh trong độ tuổi đến trường Đặc biệt phong trào xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh và ngày càng phát huy hiệu quả Từ đầu năm học 2007 - 2008, huyện đã huy động nhân dân và các mạnh thường quân đóng góp 84 triệu đồng cất mới 12 phòng học và trên 300 triệu đồng làm sân chơi, bãi tập, đường đi, tu sửa phòng học Năm học 2006 - 2007, toàn Ngành giáo dục có 15 chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, 32 tập thể và 293 cá nhân được Ủy ban Nhân dân tỉnh tặng bằng khen (trong đó có 24 cá nhân là người ngoài ngành); chiến sĩ thi đua cấp cơ sở 129 người; Ủy ban Nhân dân huyện khen 319 người (trong

đó ngoài ngành 33 người)

Trung tâm Y tế Huyện Hòn Đất được tỉnh Kiên Giang quy hoạch với diện tích 94.500 m2 vào năm 1984 Dự kiến, nơi đây sẽ có bệnh viện đa khoa, trại dưỡng lão, bệnh viện y học cổ truyền và một số dịch vụ y tế khác Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án, một số cán bộ công nhân viên của Trung tâm mượn đất phía sau để sản xuất, còn phần đất phía trước cán bộ huyện chia chác cho nhau xây dựng nhà ở, trong

đó có cả Bí thư huyện Hòn Đất Việc tùng xẻo đất hoàn tất vào năm 1995 Đến năm

1998, khi Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang ra quyết định giao đất cho Trung tâm thì diện tích chỉ vì phần lớn đất đai đã được Phòng Địa còn 17.935,4 m2 Tỉnh đã có các văn bản thu hồi đất bị xà xẻo nhưng không thực hiện được chính huyện hợp thức hoá thủ tục cấp cho cán bộ

II.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Sau khi luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai ngày càng có hiệu quả, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội Hòn Đất

II.2.1 Công tác đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính

Từ năm 1993 đến nay huyện hòn đất không ngừng hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính nhằm phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai Được sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương công tác đo đạc bản đồ địa chính được tiến hành tương đối hoàn thiện Tuy nhiên do việc ứng dụng công nghệ trong việc đo đạc hệ thống bản đồ địa chính còn nhiều thiếu sót, cơ sở vật chất đo đạc chưa đầy đủ, công tác đo đạc bản đồ theo phương pháp điều vẽ ảnh hàng không nên độ chính xác chưa cao Hiện tại cũng có một số địa phương hoàn thành công tác đo đạc bản đồ địa chính theo lưới tọa độ chính quy nhưng con số này không nhiều Đa phần đều phải sử dụng

Trang 16

hệ thống bản đồ địa chính theo đo đạc ảnh hàng không nên gây rất nhiều khó khăn cho

cán bộ quản lý trong việc thực hiện công tác quản lý đất đai tại địa phương

Bảng 1: Diện tích đất đai theo đơn vị hành chính của Huyện Hòn Đất

I.2.1.3.Khí hậu

Hòn Đất là một trong những khí hậu tiêu biểu cho vùng Đồng bằng sông Cửu

Long, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Mặt khác, có vị trí nằm sát

biển nên khí hậu còn mang tính chất hải dương, hàng năm có 2 mùa khí hậu tương

phản một cách rõ rệt (mùa khô tháng 11-tháng 4 và mùa mưa tháng 5 – tháng 10)

Hòn Đất có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ khá cao và ổn định Nhiệt độ

trung bình hàng năm 270C biên độ nhiệt hàng năm là 30C, tháng có nhiệt độ trung bình

cao nhất là tháng 4 (290C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (25,60C)

Tổng lượng nhiệt hàng năm cao: 9.928 - 10.0740C

Vị trí của Huyện ở vùng vĩ độ thấp, có độ dài của ngày lớn Trong mùa khô, số

giờ nắng trung bình mỗi ngày là 7-8 giờ/ngày Vào mùa mưa, số giờ nắng trung bình

Trang 17

4-6 giờ/ngày Số giờ nắng nhiều, nhiệt độ cao nên năng lượng bức xạ nhận được khá lớn, trung bình hàng năm là 130-150 kcal/cm2

I.2.1.4 Độ ẩm

Huyện Hòn Đất có độ ẩm tương đối bình quân trong năm thường đạt 80-83%, sự chênh lệch độ ẩm giữa các tháng trong năm trên 10% Thời kỳ ẩm nhất trong năm rơi vào tháng 7-8 (mùa mưa), độ ẩm cao nhất 86%, thời kỳ độ ẩm thấp nhất rơi vào tháng 2-3 độ ẩm thấp nhất 76% Hòn Đất chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa từ tháng 5 đến tháng 11 có hướng gió thịnh hành là hướng Tây-Nam, mang theo nhiều hơi nước và gây mưa, tốc độ gió trung bình 3-4,8m/s Từ tháng 12 đến tháng 4 có gió Đông-Bắc, tốc độ gió trung bình 3m/giây Ngoài chế độ gió theo mùa, Kiên Giang còn có gió thổi theo ngày và đêm, đó là gió đất và gió biển, tốc độ trung bình 2,5-3m/s

Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, tháng nhiều nhất là tháng 8, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa nhất là tháng 2.Tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp cuả bão, nhưng lượng nước mưa do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa

I.2.1.5 Thủy văn

Chế độ thủy văn của Hòn Đất bị chi phối bởi 3 yếu tố: thủy triều vịnh Thái Lan, chế

độ thủy văn của sông Hậu và mưa tại chỗ Các yếu tố này tác động từng thời kỳ, từng

vùng khác nhau làm cho chế độ thủy văn nơi đây diễn biến phong phú và đa dạng

I.2.1.6 Địa hình

Hòn Đất có khoảng 50 km bờ biển, được che chắn bởi hệ thống đê bao và rừng phòng

hộ Địa hình thấp, chỉ cao hơn mặt nước biển chưa tới 1 m và nằm trong khu vực tứ giác Long Xuyên - vùng trũng của đồng bằng Sông Cửu Long Những năm gần đây, khí hậu trái đất ấm dần lên, các nhà khoa học từ Viện Khoa học kỹ thuật khí tượng thủy văn - môi trường cảnh báo nước biển đang dâng lên tại Việt Nam và đến năm

2010, mực nước biển sẽ tăng thêm 9 cm so với 3 năm trước đó Nếu điều đó xảy ra, nghĩa là toàn bộ diện tích đất đai của huyện Hòn Đất sẽ bị nhấn chìm

Í.2.1.7.Điều kiện kinh tế

Huyện Hòn Đất là nơi có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Kiên Giang Nơi có diện tích lúa lớn nhất tỉnh khoảng 60.000 ha Đây là vùng có tiềm năng phát triển mạnh về du lịch lẫn nông nghiệp Thủy sản là tiềm năng của vùng, kinh tế của huyện Hòn Đất nổi tiếng hơn các huyện khác với sự giàu có và là khu vực phát triển mạnh về nông nghiệp Hiện tại lúa vẫn là chủ chốt đem lại hiệu quả cao cho vùng

Hiện tại Hòn Đất đang phát triển mạnh về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.600 USD/năm Tuy thu nhập cao nhưng sự chênh lệch giàu nghèo của vùng còn khá lớn

I.2.2 Các nguồn tài nguyên

I.2.2.1 Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của Hòn Đất là 103956,85ha,

trong đó: Nhóm đất nông nghiệp chiếm 92,8% đất tự nhiên (riêng đất lúa 59347,8 ha chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp 6728,59ha ,Nhìn chung đất đai ở hòn đất phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản

I.2.2.2 Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt khá dồi dàovới hệ thống sông ngòi, kênh

rạch dày đặc cung cấp lượng nước cho sinh hoạt của người dân các vùng nông thôn cũng như cung cấp nước phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp., nhưng đến mùa

Trang 18

mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của huyện đều bị nhiễm phèn mặn,

do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô

I.2.2.3 Tài nguyên biển: do có vị trí nằm ven biển, bờ biển với ngư trường khai thác

thủy sản rộng nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam, vùng biển ở đây

có trữ lượng cá, rất lớn, trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 100.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết, với trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi

I.2.2.4 Tài nguyên khoáng sản: Có thể nói Hòn Đất là nơi có nguồn khoáng sản dồi

dào bậc nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sảntrong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây

dựng, xi măng

I.3 Nội dung- Phương pháp nghiên cứu

I.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến việc thự hiện quyền của người sử dụng đất

- Công tác quản lý nhà nước về đất đai có liên quan đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

- Tình hình sử dụng đất của huyện

- Tìm hiểu tình hình thực hiện các quyền : thế chấp, thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòn Đất từ năm 2004 đến nay

- Đánh giá tình hình thực hiện quyền thế chấp, thừa kế, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất

I.3.2 phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thu thập số liệu: tiến hành điều tra thu thập số liệu, tài

liệu có liên quan đến tình hình thực hiện quyền của người sử dụng đất trong những năm qua, bao gồm các tài liệu, số liệu về các trường hợp đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn kiền với đất, đăng ký chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất

Phương pháp thống kê: sau khi đã thu thập các thông tin cần thiết tiến hành xử

lý thống kê các số liệu đã thu thập được như : số lượng hồ sơ thụ lý, thống kê tài liệu

về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thành lập các bảng biểu số liệu về những kết quả đạt được

Phương pháp phân tích tổng hợp: sau khi thống kê các số liệu có liên quan cần

tập trung phân tích chi tiết từng vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu số liệu thu thập được để rút ra lời nhận xét đánh giá về tình hình thực hiện quyền của hộ gia đình ca nhân sử dụng đất tại địa phương

Trang 19

Phương pháp so sánh: so sánh tình hình thực hiện quyền qua các năm

Phương pháp đánh giá: đánh giá các số liệu sau khi phân tích tổng hợp để đưa

ra những kết luận về tình hình thực hiện quyền của hộ gia đình cá nhân sử dụng đất trên địa bàn

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của những cán bộ có chuyên môn

của địa phương về tình hình thực hiện quyền ho655 gia đình cá nhân sử dụng đất ở địa phương

Trang 20

Phần II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

II.1.ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

II.1.1 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

Hòn Đất là một huyện có vị trí địa lý thuận lợi cho nhiều hoạt động KT-XH , có

vị trí nằm trên quốc lộ 80 nối TP Rạch Giá và Thị xã Hà Tiên, là khu vực giáp ranh với các trung tâm kinh tế lớn của tỉnh Hòn Đất không chỉ kết nối giao thương mà còn

là nơi thu hút bởi các điểm du lịch về lịch sử văn hóa và du lịch sinh thái Điều này làm cho nhu cầu sử dụng đất cho các nghành dịch vụ ăn uống giải trí, vui chơi ngày càng cao Để phát triển du lịch và các dịch vụ giải trí thì nhu cầu về nguồn vốn là rất lớn nên việc thế chấp quyền sử dụng đất được các đối tượng sử dụng đất đặc biệt quan tâm

Khu vực 3 hòn: Hòn Đất, Hòn me và Hòn Quéo là một cụm du lịch sinh thái thu hút được nhiều khách du lịch tham quan các di tích cũng như bảo tàng hiện vật sau chiến tranh Do lượng khách tham quan ngày càng tăng nên những năm gần đây các khu vực này luôn có những thay đổi, đường giao thông được mở rộng, cơ sở hạ tầng được xây dựng với những bước phát triển vượt bậc, đất đai ngày càng được quản lý chặt chẽ hơn và được sử dụng hợp lý hơn Hầu hết dất đai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc thực hiện các quyền về thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất ngày càng dễ dàng hơn

Nhờ có khí hậu thuận lợi mưa thuận gió hòa giúp ngành nông nghiệp phát triển ở mức cao hơn so với các vùng lân cận,nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp tăng cao trong đó những người dân ở các vùng lân cậnnhư các huyện Kiên Lương, Giang Thành, thị xã Hà Tiên thường có nhu cầu đến định cư tại Huyện Hòn Đất và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để canh tác, sinh sống thúc đẩy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tăng lên trong nhửng năm qua

II.1.2 Điều kiện kt-xh ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất

Thế mạnh kinh tế chủ yếu của huyện là Nông - Lâm - Ngư nghiệp Công nghiệp

và tiểu thủ công cũng đang được chú trọng phát triển GDP năm 2001 chiếm 7,1% GDP toàn tỉnh Qua 8 tháng đầu năm 2008, thu ngân sách Nhà nước huyện là 70,814

tỷ đồng, đạt 73% kế hoạch tỉnh giao và đạt 78,16% kế hoạch so với Nghị quyết HĐND huyện giao, trong đó thu ngân sách xã 16,684 tỷ đồng, đạt 110% kế hoạch tỉnh giao, và đạt 110,15% kế hoạch HĐND huyện giao Chi ngân sách huyện 67,174 tỷ, đạt 67% kế hoạch tỉnh giao và đạt 74,14% kế hoạch HĐND huyện giao Năm 2011 thu ngân sách Nhà Nước huyện là 134,721 tỷ đồng

Tận dụng lợi thế ven biển, Hòn Đất đã phát triển đội tàu đánh bắt hải sản với gần

700 chiếc, sản lượng khai thác tăng hàng năm Bên cạnh đó, nghề nuôi trồng thủy sản

có hướng phát triển tích cực, đạt diện tích 4.230 ha mặt nước ven biển Ngoài ra, huyện còn phát triển thêm các ngành nghề chủ lực ở địa phương như khai thác đá xây dựng, xay xát lúa gạo, chế biến, bảo quản hàng thủy sản và các ngành nghề truyền thống khác Huyện cũng đã và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả theo hướng Nông - Lâm - Ngư nghiệp; Công nghiệp - Xây dựng; Thương mại - Dịch vụ, đồng thời đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích

Trang 21

phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch lại vùng nguyên liệu, tổ hợp sản xuất hàng tiêu dùng tiểu thủ công nghiệp và phát triển du lịch

đề ra và tăng hơn so với năm 2010 là 136.900 tấn Dự kiến trong vụ sản xuất lúa năm

2012 huyện sẽ phấn đấu đưa diện tích sản xuất lúa 02 vụ tăng lên 3.000 ha (chủ yếu là

vụ đông xuân) và sản lượng sẽ tăng thêm 50.000 tấn so với năm 2011 Đồng thời, huyện đang kiến nghị UBND tỉnh bổ sung thêm nguồn vốn khoảng 20 tỷ đồng để đầu

Ngoài cây lúa, huyện Hòn Đất còn phát triển trồng nhiều khoai lang Khoai lang Hòn Đất được thương lái ở thành phố Hồ Chí Minh bao tiêu sản phẩm từ trước với giá cao Năm 2007, toàn huyện có khoảng 195 ha diện tích đất trồng khoai lang, tăng gần 5 lần

và đạt sản lượng 4.485 tấn, gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái, bà con nông dân rất phấn khởi vì trồng khoai lang có lãi cao Tuy nhiên từ cuối năm 2011 đến nay thì diện tích trồng cây khoai lang đã thu hẹp rất nhiều do đầu ra sản phẩm không còn, giá khoai lang giảm mạnh đẩy người trồng khoai lang vào tình thế khó khăn Do thất thoát vốn trong việc trồng khoai lang nên một số hộ dân chuyển sang trồng lúa, và chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ việc thế chấp quyền sử dụng đất, nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất là rất lớn ngoài ra một số hộ dân quyết định chuyển nhượng diện tích đất trồng khoai lang của mình cho các đối tượng khác và sử dụng nguồn vốn vào mục đích khác ảnh hưởng lớn đến tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương

Công nghiệp - Xây dựng

Năm 2011, toàn huyện có trên 720 cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (trong đó có 18 doanh nghiệp), tập trung chủ yếu ở các ngành sản xuất nước

đá, khai thác đá xây dựng, chế biến các loại Tổng giá trị sản xuất ước đạt 99 tỷ 898 triệu đồng, vượt 2,86% kế hoạch năm và tăng 15,21% so với năm 2010, trong đó, giá trị sản xuất quốc doanh là 21 tỷ 714 triệu, tăng 10,22%; ngoài quốc doanh là 98 tỷ 184

triệu đồng, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm 2010

Xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất có một làng nghề truyền thống, đó là nghề nắn nồi, chuyên tạo ra những sản phẩm bằng đất nung như cà ràng, nồi, om, ơ, soong, chảo… Xuất hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX Nguyên liệu dùng để nắn nồi là đất sét, phải có đủ các tiêu chuẩn như dễ đánh bóng, chịu nhiệt cao, tính kết dính cao… mà loại đất này có sẵn trên địa bàn huyện Để hoàn thành một sản phẩm bằng đất phải qua nhiều công đoạn, công đoạn đầu là nắn hay còn gọi là tạo hình vì tất

cả các sản phẩm đều có khuôn (khung) bằng gỗ hoặc bằng đất nung, đến công đoạn

vỗ, do đất ướt chứa nhiều nước nên sản phẩm mới đầu thường biến dạng, đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật cao, sau đó là công đoạn làm bóng, tạo hoa văn để sản phẩm được nhẵn bóng hoàn chỉnh Công đoạn cuối cùng là phơi khô và đưa vào nung,

Trang 22

gọi theo ngôn ngữ nhà nghề là “đốt nồi” Trước khi “nung” người thợ phải xếp mọi sản phẩm lên mặt đất, chèn rơm hoặc cỏ khô vào các sản phẩm, phía trên lớp rơm có một lớp củi tràm Người ta thường tiến hành đốt vào ban đêm để dễ theo dõi lửa cháy cho đều Thông thường, các loại sản phẩm “nặng lửa” được đặt ở trung tâm, loại “nhẹ lửa” xếp ở chung quanh để sản phẩm không bị sống hoặc chín quá

Một phần diện tích đất của xã Nam Thái Sơn được sử dụng cho việc khai thác đất sét phục vụ cho nghề nắn nồi đất

Ngày này, mặc dù chịu sự cạnh tranh bởi các sản phẩm kim loại nhưng nghề nắn

nồi ở Hòn Đất vẫn tồn tại và được nhiều người biết đến

Xã hội

Những năm gần đây, sự nghiệp giáo dục huyện Hòn Đất được quan tâm đúng mức Cơ sở vật chất được tăng cường đầu tư, mạng lưới trường lớp phát triển đến vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc đáp ứng được sự huy động học sinh trong độ tuổi đến trường Đặc biệt phong trào xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh và ngày càng phát huy hiệu quả Từ đầu năm học 2007 - 2008, huyện đã huy động nhân dân và các mạnh thường quân đóng góp 84 triệu đồng cất mới 12 phòng học và trên 300 triệu đồng làm sân chơi, bãi tập, đường đi, tu sửa phòng học Năm học 2006 - 2007, toàn Ngành giáo dục có 15 chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, 32 tập thể và 293 cá nhân được Ủy ban Nhân dân tỉnh tặng bằng khen (trong đó có 24 cá nhân là người ngoài ngành); chiến sĩ thi đua cấp cơ sở 129 người; Ủy ban Nhân dân huyện khen 319 người (trong

đó ngoài ngành 33 người)

Trung tâm Y tế Huyện Hòn Đất được tỉnh Kiên Giang quy hoạch với diện tích 94.500 m2 vào năm 1984 Dự kiến, nơi đây sẽ có bệnh viện đa khoa, trại dưỡng lão, bệnh viện y học cổ truyền và một số dịch vụ y tế khác Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án, một số cán bộ công nhân viên của Trung tâm mượn đất phía sau để sản xuất, còn phần đất phía trước cán bộ huyện chia chác cho nhau xây dựng nhà ở, trong

đó có cả Bí thư huyện Hòn Đất Việc tùng xẻo đất hoàn tất vào năm 1995 Đến năm

1998, khi Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang ra quyết định giao đất cho Trung tâm thì diện tích chỉ vì phần lớn đất đai đã được Phòng Địa còn 17.935,4 m2 Tỉnh đã có các văn bản thu hồi đất bị xà xẻo nhưng không thực hiện được chính huyện hợp thức hoá thủ tục cấp cho cán bộ

II.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Sau khi luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai ngày càng có hiệu quả, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội Hòn Đất

II.2.1 Công tác đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính

Từ năm 1993 đến nay huyện hòn đất không ngừng hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính nhằm phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai Được sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương công tác đo đạc bản đồ địa chính được tiến hành tương đối hoàn thiện Tuy nhiên do việc ứng dụng công nghệ trong việc đo đạc hệ thống bản đồ địa chính còn nhiều thiếu sót, cơ sở vật chất đo đạc chưa đầy đủ, công tác đo đạc bản đồ theo phương pháp điều vẽ ảnh hàng không nên độ chính xác chưa cao Hiện tại cũng có một số địa phương hoàn thành công tác đo đạc bản đồ địa chính theo lưới tọa độ chính quy nhưng con số này không nhiều Đa phần đều phải sử dụng

Trang 23

hệ thống bản đồ địa chính theo đo đạc ảnh hàng không nên gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ quản lý trong việc thực hiện công tác quản lý đất đai tại địa phương

Trang 24

Bảng 2.1: kết quả thành lập bản đồ và hồ sơ địa chính huyện Hòn Đất tính

đến năm 2012

ST Đơn vị hành

chính

Số tờ bản

đồ

Sổ địa chính

Sổ mục

PP đo đạc

Năm đo Điều vẽ

ảnh

Đo lưới chính quy

Trang 25

(Nguồn phòng TNMT huyện Hòn Đất) Tính đến nay toan huyện có 138 tờ bản đồ địa chính cơ bản đáp ứng được nhu

cầu QLNN về đất đai ở địa phương Hầu hết bản đồ địa chính được biên vẽ từ ảnh

hàng không theo chỉ thị 299, nên độ chính xác không cao,ngày càng bộc lộ nhiều sai

xót trong quá trình tra cứu thực tế cả về diện tích, lẫn ranh giới, địa giới, vị trí Do đó

trong quá trình vận dụng vào công tác quản lý của cán bộ địa chính xã, thị trấn và

nhân viên VPĐKQSDĐ thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định chính xác

thông tin và thống nhất trong công tác quản lý

Tính đến tháng 12-2011toàn huyện có 59 sổ địa chính và 35 sổ mục kê Số sổ

này cơ bản được sử dụng và lưu trữ tương đối cẩn thận trong tủ lưu hồ sơ

Hiện nay cùng với chủ trương của UBND tỉnh về hoàn thiện hệ thống bản đồ địa

chính cấp cơ sở , UBND huyện Hòn Đất không ngừng đề xuất với UBND tỉnh về việc

hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính tại địa phương, và hiện nay UBND huyện cùng

với phòng TNMT đang tiến hành hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính bằng phương

pháp đo lưới chính quy, trong tương lai sẽ có được hệ thống bản đồ địa chính chính

quy trên toàn huyện

II.2.2.Công tác Quy hoạch- Kế hoạch sử dụng đất

Công tác QHSDĐ, KHSDĐ là một trong những nội dungquan trọng trỏng mội

dung quản lý Nhà nước về đất đai Nhà nước thống nhất và quản lý đất đai theo Quy

hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và hiệu quả cao Từ vai

tró quan trọng của QHSDĐ,KHSSDĐ và theo QHSDĐ huyện Hòn Đất thời kỳ

2000-2010 được UBND huyện phê duyệt, UBND huyện đã tiến hành thực hiện các kế

hoạch sử dụng đất

Sau 5 năm triển khai thực hiện KHSDĐ kỳ đầu (2000-2005), huyện đã đạt được

một số kết quả trên lĩnh vực quản lý , khai thác tốt tiềm năng đất đai Để tiếp tục có cơ

sở trong việc quản lý khai thác tốt tiềm năng đất đai, UBND huyện lập KHSDĐ 5 năm

từ 2006-2010 theo quyết định số 512/2006/QĐ-UBND Tỉnh tạo thuận lợi cho công tác

QLNN về đất đai, đặc biệt là giải quyết các hồ sơ CNQSDĐ, đơn xin chuyển đổi mục

đích SDĐ và các giao dịch bảo đảm về quyền sử dụng đất

Hiện nay huyện đã cơ bản hoàn thành KHSDĐ năm 2010 và tiếp tục xây dựng

QHSDĐ, KHSDĐ thời kỳ 2011-2015 Theo KHSDĐ trong những năm tới thì diện

tích đất nông nghiệp của huyện sẽ chuyển sang đất phi nông nghiệp 356,5 ha phục vụ

cho việc xây dựng các công trình sự nghiệp, quốc phòng , trụ sở cơ quan, cơ sở tôn

giáo, giáo dục và đào tạo, văn hóa thể thao, các cơ sở sản xuất kinh doanh, chế biến

nông sản, quy hoạch các điểm dân cư, phát triển hệ thống giao thông thủy lợi.Tuy diện

tichh đất nông nghiệp giảm vẫn đảm bảo diện tichh đất trồng lúa đáp ứng cho ngành

xuất khẩu lúa gạo của tỉnh cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Tiếp tục gia

Trang 26

tăng diện tích rừng phòng hộ, rừng phòng hộ ven biển phòng chống thiên tai và chuyển 18,89 ha diện tích đất chưa sử dụng sang đất phi nông nghiệp

Bảng 2.2: Cơ cấu QH sử dụng đất huyện Hòn Đất năm 2011-2015

giảm(-) Tổng diện tích tự nhiên 103956,85 103956,85

Diện tích đất nông nghiệp 96516,23 9705,73 -356,5 Diện tích dất phi nông nghiệp 6728,59 7103,98 375,39

Diện tích đất chưa sử dụng 712,03 693,14 18,89

(Nguồn phòng TNMT huyện Hòn Đất)

II.2.3 Quản lý việc giao đất cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

Trong thời gian qua, Phòng TNMT đã cố gắng thực hiện theo đúng quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận cho các cá nhân trên địa bàn theo đúng đối tượng , đúng mục đích sử dụng do công tác giao đất- thuê đất đối với các tổ chức thuộc thẩm quyền của

Sở TNMT cho nên việc quản lý hồ sơ tài liệu trên địa bàn huyện gặp nhiều khó khăn, thiếu cập nhật và bỏ sót nhiều trường hợp

Thực trạng công tác giao dịch quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn diễn ra rất phức tạ số lượng giao dịch kiểm soát được chiếm tỷ lệ thấp hơn thực

tế Phần lớn người dân không tìm hiểu về pháp luật và không nắm bắt được tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong các giao dịch Chính vì vậy mà giao dịch không hợp pháp vẫn tồn tại khá nhiều nguyên nhân là do nhu cầu về sử dụng đất và nhu cầu sở hữu nhà ở là rất lớn, thường là người dân ở các địa phương khác đến nhưng không đủ điều kiện pháp lý để thực hiện việc chuyển nhượng QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở hợp pháp Số giao dịch này chủ yếu bằng giấy tay

tự lập, viết tay giao dịch trục tiếp giũa hai bên mà không thông qua cơ quan quản lý gây ra những trường hợp QSDĐ không chính xác làm phát sinh khiếu nại sau này ảnh hưởng đến các quyền CNQSDĐ, thừa kế QSDĐ của đối tượng sử dụng đất

II.2.4 Công tác dăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ

Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện Hòn Đất có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và chỉnh lý thống nhất biến động về sử dụng đất, quản lý hồ

sơ địa chính giúp Phòng Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật Đồng thời thực hiện việc tiếp nhận các thủ tục yêu cầu, hồ sơ và trả kết quả về đăng ký quyền sử dụng đất theo quy chế “một cửa” ngày 04 tháng 09 năm 2003 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Đăng kí đất đai là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện đối với các đối tượng là các tổ chức hộ gia đình cá nhân sử dụng đất , bởi nó thực hiện đăng kí đối với đất đai – một loại tài sản đặc biệt có giá trị và gắn bó mật thiết với mọi tổ chức,

hộ gia đình và cá nhân trong quá trình sản xuất và đời sống

Trang 27

Việc đăng kí đất đai thực chất là quá trình thực hiện các công việc nhằm thiết lập hồ

sơ địa chính đầy đủ cho toàn bộ đất đai trong phạm vi hành chính từng xã, phường,thị trấn và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những người sử dụng đất đủ diều kiện, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo đúng pháp luật

 Công tác đăng kí đất đai

Thời kì từ 1993- trước luật đất đai 2003

Luật đất đai 1993 ra đời với những thay đổi lớn : ruộng đất được gia ổn định lâu dài cho các hộ gia đình cá nhân, đất đai ngày càng có giá trị, người sử dụng dất được quyền chuyển đổi chuyển, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất… với những thay đổi đó nhiệm vụ đăng kí đất đai cấp GCN ngày càng trở nên bức bách Từ đó Ủy ban nhân dân huyện Hòn Đất bắt đầu coi trọng va tập trung chỉ đạo các phòng ban triển khai mạnh mẽ công tác cấp GCN trên phạm vi toàn huyện Sau khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực

Luật đất đai 2003ra đời đã có nhiều thay đổi quan trọng trong đó, vấn đề đăng kí và cấp GCNQSDĐ là nội dung thể hiện thay đổi nhiều nhất.Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn có lên quan đã thể hiện quan điểm đổi mới khá rõ nét về vấn đề đăng

kí vá cấp GCNQSDĐ: cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản gọn nhẹ, rút ngắn thời gian, nới lỏng các điều kiện về đăng kí vá cấp GCNQSDĐ Do đó công tác đăng kí vá cấp GCNQSDĐ tại địa bàn huyện Hòn Đất được tiến hành dễ dàng hơn và giảm bớt các quy trình thủ tục không cần thiết Tạo điều iện cho các phòng ban hoàn thành tốt công tác đăng kí và cấp GCNQSDĐ

Bảng 2.3: Công tác cấp GCNQSDĐ huyện Hòn Đất tính đến tháng 12 năm 2011

Trang 28

(Nguồn phòng TNMT huyện Hòn Đất) Toàn huyện có tổng số trường hợp được cấp GCNQSDĐ là 251,757 trường hợp với tổng diện tích 98060,74 ha, trong đó diện tích đã cấp GCNQSDĐ là 76509,68 ha chiếm 75% tổng diện tích dất cần được cấp GCNQSSĐ

Trên địa bàn huyện hầu hết các xã thị trần đều hoàn thành công tác cấp GCNQSSĐ với tỷ lệ chưa cao, nguyên nhân là do một số xã thuộc vùng sâu vùng xa còn khá nhiều đất nông nghiệp và đất ở của bà con dân tộc khơme, Hoa sinh sống phần lớn họ không rành tiếng Việt và ít am hiểu pháp luật nên họ ít quan tâm đến việc thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ cho phần đất của mình Song song với đó cũng co không ít trường hợp sử dụng đất không xác định được chính xác ranh giới thửa đất và nguồn gốc, thời gian sử dụng đất gây khó khăn cho việc cấp GCNQSDĐ trong thời gian tới UBND huyện sẽ cố gắng thực hiện nhanh chóng hoàn thành công tác cấp GCNQSDĐ cho tất cả các thửa đất đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ

II.3 Tình hình sử dụng đất đai

II.3.1 Diện tích các loại đất

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2011 toàn bộ diện tich đất tự nhiên của huyện Hòn Đất là 103956,85ha chiếm 16,3 % diện tich toàn tỉnh Kiên Giang

Bảng 2.3: Diện tich các loại đất năm 2011

DT chưa cấp GCN

Trang 29

SST LOẠI ĐẤT MÃ LĐ DIỆN TÍCH (ha) TỶ LỆ (%)

Theo số liệu thống kê cho thấy đất nông nghiệp có diện tích lớn chiếm 92,8%

tổng diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ ít hơn

6,5%, diện tích đất chua sử dụng chỉ chiếm 0.7% từ đó cho thấy huyện Hòn Đất phát

triển chủ yếu dụa váo nông nghiệp là chính Nông nghiệp là mối quan tâm hàng đầu

trong việc phân bố quỹ dất của huyện phải phân bố quỹ đất sao cho phù hợp với nền

kinh tế và đảm bảo diện tích đất nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu lương thực cũng

như cung cấp nguồn nông sản cho xuất khẩu lúa gạo của ĐBSCL Cần khai thác triệt

để và sử dụng hợp lý hơn diện tích dất chua sử dụng

Nghề trồng lúa từ lâu đã là kinh tế chính của toàn huyện những năm gần đây

diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện có phần tăng lên so với trước song song

với sự tăng diện tích thì tổng sản lượng lúa gạo cũng tăng cao hơn trước rất nhiều do

kỹ thuật canh tác và kỹ thuật gieo trồng chăm sóc ngày càng tiến bộ, cùng với việc

đưa máy móc thiết bị tân tiến vào sản xuất nông nghiệp từ đó thúc đẩy sản lượng lúa

gạo tăng cao đáp ứng được sản lượng xuất khẩu ra nước ngoài thu nhiều lợi nhuận cho

2.1.1 Đất ở tại nông thôn ONT 1138,44

2.5 Đất sông suối , mặt nước chuyên

dùng

SMN 2375,37

Trang 30

2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK

4.1 Đất mặt nước ven biển nuôi trồng

thủy sản

MVT 1453,23

 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Do có địa hình đồng bằng nên đất đai của Hòn Đất khá màu mỡ do thường

xuyên được bồi đắp phù sa , mỗi năm thường có 2-3 tháng ngập nước, nước từ đầu

nguồn đổ về mang theo phù sa bồi đắp cho đất đai của vùng Diện tích đất nông

nghiệp của vùng là khoảng 96516 ha, trong đó có 78701,47 ha đất sản xuất nông

nghiệp , còn lại 16201,93 ha là đất lâm nghiệp Đất sản xuất nông nghiệp ở đây chủ

yếu là trồng lúa, diện tích đất trồng lúa trải đều khắp 12 xã của huyện và một số vùng

ven sông của thị trấn

Bảng 2.5: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Ngoài ra huyện còn có khoảng hơn 200ha đất trồng khoai lang cho năng xuất

cao, và một phần diện tích xã lình huỳnh trồng khóm( thơm) Tại một số nơi của xã

thổ sơn, thị trấn sóc sơn do địa hình đồi núi nên phát triển một số loại cây lâu năm

như: xoài, vú sữa, mít Đặc biệt cây xoài chiếm diện tích lớn và cho năng suất cao

mang lại nguồn thu nhập chính cho đa số các hộ dân ở các xã vùng núi

Ngày đăng: 29/05/2018, 17:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w