lực…để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh; đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-*** -
NGUYỄN THANH HUYỀN
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO VIỆT NHÂN THỌ BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ : 60 34 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ VĂN VIỆN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới
sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Đỗ Văn Viện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự góp ý cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc tài liệu được liệt kê đầy đủ phần tài liệu tham khảo
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Văn Viện cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô trong Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang, các phòng ban chức năng của công ty, văn phòng tổng đại lý công
ty bảo hiểm AIA tại Bắc Giang, văn phòng tổng đại lý công ty bảo hiểm ichi Bắc Giang đã cung cấp những số liệu minh chứng Trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin trân trọng tiếp thu các ý kiến phê bình, đóng góp của các nhà khoa học và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn
Dai-Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 42.1.3 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14 2.1.4 Bảo hiểm nhân thọ và nguyên tắc trong kinh doanh BHNT 18 2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp BHNT 20 2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty Bảo hiểm
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho công ty Bảo hiểm nhân thọ
Trang 53 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1.2 Đặc điểm cơ bản công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang 37
4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang 50
4.1.3 Nguồn lực cơ sở vật chất, công nghệ của công ty 58
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của Bảo Việt
Trang 64.3 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
4.1 Doanh thu phí bảo hiểm của công ty giai đoạn 2012-2014 51 4.2 Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT trên thị trường Bắc Giang 52 4.3 Hiệu quả khai thác của TVV công ty BVNT Bắc Giang giai đoạn
Trang 9DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
2.2 Thị phần doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm 2014 28
Trang 101 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 20 năm hình thành và phát triển, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ngày càng lớn mạnh khẳng định vai trò và vị thế trong nền kinh tế quốc dân Đặc biệt từ sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài trong sự kết hợp với đẩy mạnh nội lực, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được những tiến bộ to lớn cả về số lượng và chất lượng Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm luôn ở mức cao xấp sỉ 15% Doanh thu phí bảo hiểm trên GDP sấp xỉ 2% Tuy nhiên còn khá thấp so với khu vực ASEAN (3.2%) và trên thế giới là 6.5%
Với sự phát triển mạnh mẽ của các công ty bảo hiểm nhân thọ (BHNT) cạnh
tranh đã và đang tạo ra những tác động không nhỏ tới Bảo Việt nhân thọ theo cả hai
chiều tích cực và tiêu cực Về mặt tích cực: việc cạnh tranh với những đối thủ mạnh
có bề dày kinh nghiệm trong kinh doanh BHNT trên thế giới có công nghệ và kỹ thuật hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến, Bảo Việt nhân thọ đã tự đánh giá lại mình để tìm ra giải pháp khắc phục, tự thay đổi để có thể cạnh tranh được
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, muốn tồn tại, phát triển và củng cố uy tín của mình, mỗi doanh nghiệp phải vận động tích cực, phát huy tìm tòi mọi biện pháp giảm thiểu chi phí và không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh Bởi vậy để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay các doanh nghiệp phải nắm bắt được thông tin về thị trường về nguồn khách hàng trên cơ sở các thông tin về cung, cầu và giá cả trên thị trường giúp cho doanh nghiệp tìm ra cơ cấu sản phẩm tối ưu, xác định được giá bán hợp lý đảm bảo vừa tận dụng được nguồn lực hiện có, vừa mang lại lợi nhuận cao Để thực hiện tất cả các điều nói trên yếu tố con người đóng vai trò quan trọng hơn cả, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh luôn được các doanh nghiệp quan tâm nhất Trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bài toán nhân sự đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức cạnh tranh và quyết định
sự thành công của doanh nghiệp Các hoạt động đầu tư tài chính hiệu quả tạo lòng tin cho khách hàng của doanh nghiệp, đó cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp tăng khả
Trang 11năng cạnh tranh của mình Doanh nghiệp cũng cần đa dạng sản phẩm bảo hiểm để phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, giữ khách hàng cũng như giữ thị phần Hội nhập đã và đang tạo dựng một môi trường kinh doanh quốc tế ngày càng được cải thiện với những cơ hội và thách thức cho mọi quốc gia Cùng với nó là các rào cản thương mại mang tính bảo hộ của từng quốc gia sẽ bị dỡ bỏ Điều đó tạo điều kiện cho các hoạt động thương mại được tự do, cạnh tranh tất yếu trở nên quyết liệt hơn Trong tiến trình hội nhập, ngành bảo hiểm đã, đang và sẽ phải đối mặt với các thách thức rất lớn, đó là tình hình cạnh tranh khốc liệt trên thị trường Để tồn tại, các doanh nghiệp bảo hiểm không còn con đường nào khác ngoài việc phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong thị trường toàn cầu Trong những năm qua, Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang đã không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách chú trọng đổi mới công nghệ, quan tâm tới đội ngũ cán bộ để nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, quan tâm tới đội ngũ tư vấn viên để tăng khả năng cạnh tranh của mình
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang”
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang trong những năm gần đây, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty trong thời gian tới
- Định hướng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty những năm tới
Trang 121.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là: Các nội dung liên quan đến năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang
1.3.2 Phạm vị nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung
+ Các vấn đề lý thuyết và thực tế về năng lực cạnh tranh
+ Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang + Các Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang
1.3.2.2 Về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, trong mối quan hệ với các bạn hàng, đối tác của công ty và đối thủ cạnh tranh
1.3.2.3 Về thời gian
Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ 2012 đến 2014, số liệu điều tra năm 2014
Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 7 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
1.3.3 Xác định câu hỏi nghiên cứu
+ Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang trong thời gian qua như thế nào?
+ Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang?
+ Cần có những giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang trong thời gian tới?
Trang 132 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia…vv Theo Các Mác (1978) “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Theo từ điển kinh doanh (1992) thì cạnh tranh được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”
Theo từ điển bách khoa Việt Nam (1995): Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Theo nhà kinh tế học Mỹ P A Samuelson (1989), cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường Tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo
Tại diễn đàn Liên hiệp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây
Cạnh tranh là sự cố gắng nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:
Trang 14Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh Đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật Tức là phải có một đối tượng mà các chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt Trong kinh tế, với các chủ thể cạnh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận Còn với chủ thể cạnh tranh bên mua là sự giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình
Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể,
đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thông lệ kinh doanh ở trên thị trường Còn giữa những người mua với người mua, hoặc giữa những người mua với những người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn
cả đối với người mua
Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định hoặc ngắn (từng vụ việc), hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảng không gian nhất định, hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một ngành), hoặc rộng (một nước, giữa các nước)
2.1.1.2 Phân loại cạnh tranh
* Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
Cạnh tranh được chia thành ba loại:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành
Trang 15giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn
* Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật phát triển, cạnh tranh còn làm tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, thúc đẩy xã hội phát triển
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này, có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
* Căn cứ vào cấp độ cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành ba loại
- Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không có người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng nhất, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh
nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành so với đối thủ cạnh tranh (Đỗ Hoàng Toàn, 2008).
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán
có các sản phẩm không đồng nhất với nhau Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay
uy tín khác nhau Đây là loại hình thức cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay
để giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình
cạnh tranh phổ biến hiện nay (Đỗ Hoàng Toàn, 2008)
- Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên
Trang 16thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu (Đỗ Hoàng Toàn, 2008).
2.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.2.1 Quan điểm về năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhà chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích bằng năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp doanh nhgiệp
Năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn
bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001)
Theo Michael E Porter (1990), năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển chính bản thân doanh nghiệp
Thông thường người ta đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố nội tại như quy mô, khả năng tham gia cạnh tranh và rút khỏi thị trường sản phẩm, năng lực quản lý, năng suất lao động, trình độ công nghệ Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh này lại bị tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài (Nhà nước và các thể chế trung gian) Doanh nghiệp nào có khả năng đổi mới và sáng tạo lớn thì doanh nghiệp
đó có khả năng cạnh tranh cao
Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thể hiện ở chiến lược kinh doanh thích hợp và hiệu quả kinh doanh từ khâu nắm thông tin đến khâu tổ chức sản xuất, từ đổi mới công nghệ đến phương pháp quản lý phục vụ, từ đổi mới mặt hàng, các loại hình dịch vụ đến công việc tiếp thị, quảng cáo
Như vậy, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” dù đã được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và phổ biến Tuy thế, từ các quan điểm trên có thể hiểu năng lực cạnh tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn như nhân lực, vật lực, tài
Trang 17lực…để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh; đồng thời, biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước đối thủ, xác lập vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường; từ đó, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững
Từ những quan niệm trên, đề tài đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh như sau Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của mình một cách lâu dài và bền vững trên thị trường cạnh tranh bằng cách tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hợp lý, cách bán thuận tiện và thu được mức lãi mong muốn
Năng lực cạnh tranh theo nghĩa hẹp được đo lường bởi thị phần Tuy nhiên nếu chỉ hiểu năng lực cạnh tranh theo nghĩa hẹp thì chưa thực sự đầy đủ bởi vì xét
về mặt hiệu quả, doanh nghiệp dẫn đầu về thị phần chưa chắc đã đạt hiệu quả kinh doanh cao Vì vậy, để hiểu đầy đủ về năng lực cạnh tranh còn phải dựa trên phân tích nguồn lực
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia Một đất nước có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì môi trường kinh doanh phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ
mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả
2.1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
* Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là một chỉ tiêu tổng hợp, bao gồm nhiều nhóm yếu tố khác nhau: chất lượng và trình độ phát triển của thể chế nhà nước, vị trí vai trò quản lý của nhà nước, các thể chế của nền kinh tế thị trường, độ mở cửa của nền kinh tế, trình độ quản lý của doanh nghiệp, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chất lượng và
số lượng lao động, khoa học công nghệ là những yếu tố quyết định năng lực cạnh
tranh quốc gia Năng lực canh tranh quốc gia được quyết định bởi sự lành mạnh của
các môi trường kinh tế vĩ mô, vi mô, chất lượng chiến lược và hiệu quả kinh doanh của các công ty (Goger H Ford,2003)
Trang 18* Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Là năng lực tồn tại, duy trì và gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường của các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác khi các sản phẩm thay thế hoặc các sản phẩm tương tự được đưa ra với mức giá thấp hơn các sản phẩm cùng loại, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính
về chất lượng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn
* Năng lực cạnh tranh của hàng hóa
Là cơ sở để tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và tập trung ở các yếu tố: giá cả, chất lượng, hệ thống phân phối và thương hiệu của doanh nghiệp Một hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt hơn hẳn so với sản phẩm hàng hóa cùng loại Năng lực cạnh tranh của hàng hóa lại phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.2.3 Các công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh
Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sử dụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp, từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào, dưới đây là một số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng
mà các doanh nghiệp bảo hiểm thường áp dụng
Trang 19đinh 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ, vốn điều lệ của doanh nghiệp BHNT không được thấp hơn mức vốn pháp định của doanh nghiệp BHNT là
600 tỷ đồng Vốn điều lệ cao giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm tạo được uy tín trên thị trường và tạo niềm tin nơi công chúng Vốn điều lệ cao đồng nghĩa với sức mạnh tài chính mạnh và khả năng chống đỡ rủi ro của doanh nghiệp cao
Doanh thu phí bảo hiểm: là một tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Doanh thu phí bảo hiểm cao thể hiện tính hiệu quả, năng lực và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Doanh thu phí bảo hiểm cao chứng tỏ doanh nghiệp đó cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt cho thị trường, thu hút được khách hàng
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản có thể thanh toán ngay và tài sản nợ phải thanh toán ngay Chỉ tiêu này đo lường khả năng đáp ứng nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Rủi ro xảy ra đối với người tham gia bảo hiểm là bất ngờ và không thể dự đoán được, chính vì vậy khả năng thanh toán sẽ chỉ ra khả năng doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu chi trả số tiền bảo hiểm cho khách hàng khi có rủi ro xảy ra
* Nguồn nhân lực
Trong các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyên cung cấp các sản phẩm dịch vụ vô hình thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng dịch vụ, đặc biệt là đội ngũ TVV của công ty Vì vậy đòi hỏi đội ngũ TVV phải chuyên nghiệp, nắm chắc điều khoản của sản phẩm bảo hiểm, giúp họ có thể tiếp cận tư vấn cho khách hàng sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của họ, từ
đó tăng hiệu quả khai thác sản phẩm bảo hiểm
Về số lượng lao động, để mở rộng thị phần, tăng số hợp đồng khai thác và cũng để phục vụ tốt khách hàng các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phải có đội ngũ TVV đông về số lượng
Về chất lượng lao động của nguồn nhân lực của doanh nghiệp BHNT được thể hiện qua tiêu chí phong cách phục vụ khách hàng chuyên nghiệp, hiệu quả khai thác, nắm chắc các điều khoản hợp đồng bảo hiểm, có khả năng thuyết trình, thuyết phục khách hàng Đối với doanh nghiệp BHNT còn phải đầu tư phát triển đội ngũ
Trang 20nhân viên, đặc biệt nhân viên dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, có khả năng giao tiếp và thuyết trình Như vậy chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và quyết định đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp BHNT Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ trong tương lai Có đội ngũ TVV giỏi, có khả năng
tư vấn và thuyết phục khách hàng tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được nhiệm vụ kinh doanh của mình
* Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ
Các doanh nghiệp BHNT có thể phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng sản phẩm dịch vụ cơ bản mà còn thể hiện qua các sản phẩm bổ trợ bán kèm sản phẩm chính điều đó tạo nên sự đa dạng và độc đáo cho sản phẩm của doanh nghiệp
Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ rất dễ bắt trước, vì vậy để tạo ra sự khác biệt cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở sản phẩm cơ bản các doanh nghiệp sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở nên đa dạng và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của khách hàng, từ đó dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp
Ngoài ra công ty bảo hiểm nhân thọ còn có thể nâng cao khả năng cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của dịch vụ thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của dịch vụ Khi có cùng dịch vụ, chất lượng dịch vụ nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng
Trang 21cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sự thay đổi các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm, mức giải quyết quyền lợi bảo hiểm đảm bảo lợi ích và bảo vệ người tham gia bảo hiểm Chất lượng dịch vụ sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được thể hiện qua chất lượng dịch vụ khách hàng của công ty, bởi khi khách hàng mua sản phẩm BHNT họ không tiêu dùng ngay nên chưa cảm nhận được giá trị của sản phẩm, họ chỉ có thể cảm nhận được thông qua chất lượng dịch vụ khách hàng Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang nghiệp Làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ tăng doanh thu phí, tăng số lượng hợp đồng Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng nâng cao chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó
* Năng lực quản trị điều hành doanh nghiệp
Một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bất kỳ nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh nghiệp, những quyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp, có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động doanh nghiệp BHNT Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để doanh nghiệp có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành một doanh nghiệp người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực mà doanh nghiệp đó xây dựng cho hoạt động của mình Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị của doanh nghiệp
Trang 22* Cạnh tranh bằng chính sách phân phối
Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng, để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của khách hàng, từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, thông thường kênh phân phối của doanh nghiệp được chia thành các loại sau Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi nó lại mang lại những trở ngại rườm rà
Nhà bán lẻ
Nhà bán buôn
Nhà bán lẻ
Đại
lý
Nhà bán buôn
Nhà bán
lẻ
Trang 23doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có
xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì? thu thập thông tin thông qua sự phân tích
và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì, kinh doanh những
gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu, trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng, kết thúc quá trình bán hàng, để tạo được uy tín hơn nữa đối với khách hàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán, như vậy chính sách marketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗ trợ các chính sách khác Do vậy chính sách marketing không thể thiếu được trong bất cứ hoạt động của doanh nghiệp
2.1.3 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.3.1 Đối với nền kinh tế xã hội
Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ có ý nghĩa đối với riêng bản thân doanh nghiệp hay chỉ với người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nền kinh tế xã hội của quốc gia thậm chí là quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, cuộc chạy đua của các doanh nghiệp có vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển đối với nền kinh tế và nâng cao năng suất lao động xã hội Khi tham gia một cuộc cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp đều muốn giành thắng lợi dù rõ ràng đó không phải là việc dễ dàng Tất yếu cho chiến thắng của mình là sự cố gắng của họ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường có như vậy mới thu hút được mối quan tâm của khách hàng và thu được nhiều lợi nhuận bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của mình Mà cụ thể là họ sẽ cố gắng để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, hạ giá thành nếu có thể, tạo lập và duy trì niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp Và như vậy trong cuộc chạy đua đó, những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ sẽ tự khắc rút khỏi thị trường nhường chỗ cho những doanh nghiệp mới, những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Sự loại trừ bởi cạnh tranh này của nền kinh tế thị trường đã đảm bảo cho sự phát triển
đi lên của nền kinh tế Kinh tế phát triển vững mạnh chính là một sự bảo đảm vững
Trang 24chắc cho sự tiến bộ xã hội Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi mà nền kinh tế của một quốc gia gắn liền với nền kinh tế thế giới bởi sự phát triển của công nghệ thông tin đã thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia thì cạnh tranh có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu Và như vậy cạnh tranh chính là một trong những động lực để phát triển kinh tế xã hội trên toàn thế giới
Chúng ta từ đây có thể thấy nếu cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường là một cuộc cạnh tranh công bằng
và đúng pháp luật thì có thể tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc tới không chỉ doanh nghiệp và người tiêu dùng trực tiếp đối với sản phẩm của doanh nghiệp đó mà còn tới toàn bộ nền kinh tế xã hội của một quốc gia và nền kinh tế toàn cầu Nhưng cũng cần phải chú ý rằng bản thân cạnh tranh cũng chứa đựng những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đó là việc các doanh nghiệp luôn chạy theo lợi nhuận mà không chú trọng đến các vấn đề xã hội như tình trạng phân hoá giàu nghèo, vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên Mục tiêu tồn tại phát triển của doanh nghiệp và quốc gia mâu thuẫn với nhau nên vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào
để hài hoà giữa mục tiêu của cá nhân các doanh nghiệp và mục tiêu của toàn xã hội Bên cạnh đó là thực trạng cạnh tranh thiếu công bằng, cạnh tranh gian dối, điều này làm các doanh nghiệp làm ăn chân chính cảm thấy bị không còn động lực để cạnh tranh trên thị trường, họ có thể nản lòng và như vậy cạnh tranh mất đi tác động tích cực của nó Đối với việc này tất cả các quốc gia đều phải hết sức lưu tâm để đảm bảo cho các doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp có thể tồn tại phục vụ xã hội
2.1.3.2 Đối với doanh nghiệp
Trước hết, việc nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp chính là
cơ sở cho sự tồn tại của doanh nghiệp đó Trên thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là tất yếu khách quan Các doanh nghiệp luôn phải tìm cách để đánh bại đối thủ của mình và trong cuộc chiến đầy khó khăn đó sẽ phải có người chiến thắng và kẻ thất bại Người chiến thắng sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, còn kẻ thất bại sẽ bị đào thải khỏi thị trường Mà điều này chắc hẳn không một doanh nghiệp nào muốn xảy đến cho doanh nghiệp của mình Và vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể duy trì chỗ đứng của mình trên thị trường nhiều biến động là
Trang 25việc mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải nghĩ đến để tránh nguy cơ thất bại
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn đề gắn liền với mục tiêu lợi nhuận vốn là lý do tồn tại của doanh nghiệp Đối với những doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận thì lợi nhuận cao nhất chính là mục tiêu hàng đầu của họ, mà lợi nhuận cao nhất này chỉ có được khi doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, thường xuyên phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hoặc tiềm ẩn vốn hết sức đa dạng và phức tạp, họ chính là lực lượng thường xuyên đe doạ đến vị thế và chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường Cũng vì thế mà doanh nghiệp nào có được năng lực cạnh tranh cao hơn thì doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển với tư cách là người chiến thắng so với các đối thủ của mình
Có thể nói không một doanh nghiệp nào khi tham gia thị trường lại muốn mình thảm bại trước các đối thủ khác và vì không muốn thất bại nên họ luôn cố gắng để tồn tại và đứng vững trên thị trường Làm được điều đó là không hề đơn giản đối với bất cứ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ Họ phải cạnh tranh hết sức khốc liệt với các đối thủ, giành giật khách hàng, tạo vị thế chỗ đứng Người ta thường nói “Thương trường như chiến trường” Rõ ràng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiêp trên thị trường
Bên cạnh đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn là cơ sở để phát triển sản xuất kinh doanh của bản thân doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là động lực cho sự phát triển sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường là doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như thị hiếu ngày càng khó chiều của họ nhưng phải tốt hơn đối thủ của mình; sản phẩm có sức thu hút và có khả năng tiêu thụ lớn hơn và điều này
có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Từ chỗ có được vị trí vững chắc trên thị trường, doanh nghiệp có thể nghĩ đến việc mở rộng sản xuất kinh doanh và tăng được thị phần của mình trên thị trường Để đạt được những thành tựu đó, doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới mẫu mã sản phẩm,
Trang 26nắm bắt được thị hiếu của khách hàng, thường xuyên chú trọng tới công nghệ sản xuất tiên tiến để tạo ra những sản phẩm không chỉ có mẫu mã đẹp mà còn có chất lượng tốt phục vụ tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng Cùng với những hoạt động
đó, doanh nghiệp cũng cần phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị để giảm chi phí sản xuất và chi phí kinh doanh đến mức tối đa, có như vậy mới hạ được giá thành sản phẩm Đây vốn được coi là một liệu pháp hàng đầu đối với các chủ doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình trên thị trường mà giá vẫn luôn là nhân tố được quan tâm nhiều nhất khi khách hàng lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ Với phương châm “khách hàng là thượng đế”, các doanh nghiệp luôn cố gắng hết sức để thỏa mãn mọi yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ không những mẫu mã đẹp, chất lượng tốt mà giá cả phải hợp lý, phải chăng Để thành công trong thế giới cạnh tranh vô cùng khốc liệt ngày nay, một điều cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải ý thức được đối thủ cạnh tranh của mình đang làm gì và phải tìm ra được con đường cho mình để bắt kịp hoặc vượt qua sản phẩm của đối thủ Và cũng để cạnh tranh thành công, doanh nghiệp cần phải thực hiện các nghiên cứu và phát triển sản phẩm đó là lý do cho sự tồn tại của phòng nghiên cứu và phát triển Qua việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, doanh nghiệp
sẽ hiểu được mong muốn cũng như nhu cầu và khả năng biến nhu cầu của khách hàng thành hiện thực để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng tốt nhất Như vậy năng lực cạnh tranh chính là một yếu tố quyết định sự mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp
2.1.3.3 Đối với người tiêu dùng
Như đã nói ở trên, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và việc nâng cao năng lực cạnh tranh đã khiến cho các doanh nghiệp có thể sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất với giá cả hợp lý nhất để phụ vụ các “ thượng đế” của mình Rõ ràng, khách hàng là những người được lợi nhiều nhất từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Bằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người tiêu dùng
sẽ có cơ hội được hưởng những hàng hoá tốt nhất với nhiều chủng loại khác nhau, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn vô biên vô hạn của khách hàng Để luôn
Trang 27dẫn đầu và tồn tại được trên thị trường, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng, công dụng của sản phẩm đồng thời phải sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và các quy trình sản xuất, quản lý tiên tiến để cắt giảm chi phí Vì vậy, khách hàng sẽ luôn có những sản phẩm hoàn thiện nhất với giá cả phải chăng nhất
Cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp thuận và lòng trung thành của khách hàng Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng sản xuất, phương thức sản xuất, và sự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ Cạnh tranh là một tiền đề của hệ thống sở hữu tự do bởi niềm tin rằng càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng những hàng hoá có chất lượng tốt hơn Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng các giá trị tối ưu đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ
2.1.4 Bảo hiểm nhân thọ và nguyên tắc trong kinh doanh BHNT
2.1.4.1 Khái niệm BHNT
Có nhiều khái niệm khác nhau về BHNT Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp
vụ bảo hiểm cho trường hợp sống hoặc chết Nhưng có thể hiểu BHNT là một sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra, còn người tham gia bảo
hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn (Nguyễn Văn Định, 2005)
Như vậy, thực chất của BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro và các sự kiện
có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người
2.1.4.2 Đặc điểm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
+ Là sản phẩm vô hình
Người mua không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc, của sản phẩm; đồng thời người mua cũng không cảm nhận bằng các giác quan của mình như cầm, nắm,… Khi mua sản phẩm người mua chỉ nhận được lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả quyền lợi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
+ Là sản phẩm có hệ quả xê dịch
Khi mua sản phẩm, khách hàng không nhận được lợi ích tức thì của sản
Trang 28phẩm Từ lúc mua cho đến lúc cảm nhận được giá trị của sản phẩm là khoảng thời gian khá dài, số tiền mà bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm có giá trị khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện của từng hợp đồng, phụ thuộc vào sự kiện bảo hiểm mà khách hàng gặp phải
+ Là sản phẩm có chu trình sản xuất kinh doanh ngược
Các doanh nghiệp không phải bỏ vốn trước, mà là nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và sẽ thực hiện nghĩa vụ sau với người được hưởng quyền lợi bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Do vậy, khó có thể tính được chính xác hiệu quả của một sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vào thời điểm bán sản phẩm Khả năng sinh lời của sản phẩm thường được đánh giá trong thời gian dài
2.1.4.3 Một số nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh BHNT
* Quy luật số đông bù số ít
Trong thực tế, khi chúng ta quan sát một sự kiện nào đó lập đi lập lại nhiều lần thì chúng ta sẽ tính toán được xác suất tương đối chính xác khả năng xảy ra của biến cố đó Quy luật số đông là cơ sở khoa học giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm xác định được xác suất của rủi ro nhận bảo hiểm, tính phí và quản lý các quỹ dự phòng chi trả, đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp xác định rủi ro và phân tán rủi
Trang 29ro Bảo hiểm áp dụng quy luật số đông người tham gia bảo hiểm bù đắp cho số ít người không may bị rủi ro
* Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm
Là nguyên tắc được xác định trong mối quan hệ giữa người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm Người tham gia trong hợp đồng bảo hiểm phải là người có thể được hưởng lợi khi người được bảo hiểm sống hay có thể chịu tổn thất
và thiệt hại về tài sản khi người được bảo hiểm chết Như vậy theo nguyên tắc này người tham gia bảo hiểm có thể là người có quan hệ gia đình (quan hệ huyết thống), người có quan hệ kinh tế (người sử dụng lao động và người lao động), người có quan hệ tài chính (ngân hàng)
* Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Người tham gia bảo hiểm phải khai báo đầy đủ, chính xác các thông tin về bệnh tật, hồ sơ sức khoẻ của người được bảo hiểm dù có yêu cầu hay không yêu cầu khai báo Nhà bảo hiểm chỉ bảo hiểm cho những rủi ro không biết trước có như vậy thì mới đảm bảo được quỹ bảo hiểm, tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm Nguyên tắc này cũng để đảm bảo sự công bằng cho những người tham gia bảo hiểm
* Nguyên tắc khoán
Là nguyên tắc mà số tiền bảo hiểm được ấn định trước trong hợp đồng bảo hiểm Tính mạng con người là vô giá vì vậy khi rủi ro xảy ra không ai có thể tính chính xác mức độ thiệt hại, chính vì vậy nhà bảo hiểm phải thực hiện nguyên tắc khoán Người tham gia bảo hiểm đồng thời có thể tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cùng một lúc và tại nhiều công ty bảo hiểm khác nhau, và sẽ được nhận số tiền
bảo hiểm chi trả từ các hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp BHNT
2.1.5.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô
* Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế luôn chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu sự tác động của một số nhân tố sau:
Trang 30Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao sẽ xuất hiện nhu cầu bảo hiểm cao, do thu nhập của người dân tăng lên Đây là cơ hội
đồng thời là thách thức cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Tỷ lệ lạm phát: Lạm phát làm cho sự biến động của đồng tiền khôn lường Việc đầu tư của doanh nghiệp trở nên may rủi, doanh nghiệp không muốn bỏ tiền đầu tư Người dân không muốn tham gia BHNT do thời gian dài, ảnh hưởng tới giá trị đồng tiền
Nhận xét: Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời, đây là yếu tố mà các doanh nghiệp khi xác lập kế hoạch, mục tiêu, nghiên cứu thị trường …đều cần tham khảo
* Yếu tố chính trị, pháp luật
Hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của Chính phủ, các xu hướng ngoại giao của Chính Phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Sự ổn định hay không về chế độ chính trị tác động đến việc hoạch định chiến lược, chương trình hành động của doanh nghiệp nhằm nắm bắt cơ hội,
giảm thiểu nguy cơ xảy ra, tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp
Mỗi ngành kinh doanh đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Vì vậy doanh nghiệp cần am hiểu pháp luật để chủ động đối phó với sự thay đổi Môi trường pháp luật đầy đủ và hoàn thiện sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động bình đẳng và có điều kiện thuận lợi để phát triển Yếu tố này sẽ thúc đẩy hay kìm hãm các doanh nghiệp mở rộng hay thu hẹp kinh doanh
Nhận xét: Đây là yếu tố có tác động gián tiếp nhưng rất quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngành Các doanh nghiệp phải quan tâm đến yếu tố này để hoạt động kinh doanh theo đúng khuôn khổ pháp luật và đầu tư phát triển lâu dài
* Yếu tố môi trường văn hóa, xã hội
Gồm những chuẩn mực, những giá trị, trình độ dân trí, phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng, dân số, tỷ lệ tăng dân số, nghề nghiệp và phân phối thu nhập, tuổi thọ,
tỷ lệ sinh tự nhiên và sự phân bố dân cư Những hiểu biết và thông tin về văn hóa xã hội và dân cư giúp nhà quản trị hoạch định chiến lược một cách hiệu quả
Trang 31Nhận xét: Sự thay đổi của các yếu tố văn hóa- xã hội có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới thói quen tiêu dùng sản phẩm, do đó cần phải thường xuyên nắm bắt những thay đổi trong môi trường văn hóa- xã hội để có những phản ứng kịp thời trước đối thủ cạnh tranh
2.1.5.2 Nhân tố môi trường vi mô
* Đối thủ cạnh tranh
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh, vấn
đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưng cũng không nên coi đối thủ là kẻ địch, cách xử lý khôn ngoan nhất không phải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định, điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mình vào khách hàng có nghĩa
là mình đã thành công một phần trong cạnh tranh, mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướng tới khách hàng, trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với nhau chủ yếu là khách hàng Vì thế trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh mà khách hàng được tôn vinh là thượng đế, để có và giữ được khách hàng, doanh nghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng, lôi kéo khác hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị Đối thủ cạnh tranh vừa tạo ra động lực, vừa tạo ra sức ép cho doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới, tự hoàn thiện mình để giành lợi thế cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh trực tiếp hay tiềm ẩn sẽ giúp doanh nghiệp tự điều chỉnh các phương thức, chiến lược kinh doanh của mình cho phù hợp
Nhận xét: Doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để xác định vị thế của mình, từ đó, xây dựng các chiến lược kinh doanh phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh so với đối thủ
Trang 32hiện ở các mặt sau
Khách hàng quyết định hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giá nào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà người tiêu dùng chấp nhận Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào? Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hàng lựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lưạ chọn theo ý thích của mình và cũng quyết định phương thức phục vụ của người bán Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trường chuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trở thành thượng đế Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố khách hàng, khách hàng có thể ganh đua với doanh nghiệp bằng cách yêu cầu chất lượng sản phẩm cao hơn, hoặc ép giảm giá xuống, mặt khác khách hàng còn làm cho các đối thủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và dẫn đến làm tổn hao đến lợi nhuận của doanh nghiệp Nhóm khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là những nhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn, nhóm khách hàng mua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ
có thể tìm được nhà cung cấp khác một cách dễ dàng hoặc nhóm khách có đầy dủ thông tin về sản phẩm, giá cả thị trường, giá thành của nhà cung cấp, điều này đem lại cho khách hàng một lợi thế mạnh hơn trong cuộc mặc cả so với trường hợp họ chỉ có ít thông tin
Bên cạnh đó sự yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụt giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, điều này thể hiện ở chỗ nếu doanh nghiệp không theo đuổi kịp những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xu hướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác mà doanh nghiệp đó có thể đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của họ Hiện tượng này dẫn đến lượng khách hàng sẽ giảm đi và ngày một thưa dần nếu doanh nghiệp không kịp thời đáp ứng nhu cầu của họ, và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảm sút, điều đó chứng tỏ yếu tố khách hàng có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp
Đối với các công ty BHNT, ngoài khách hàng bên ngoài là những người tham gia BHNT, còn có khách hàng bên trong đó là các tư vấn viên BHNT, đây là khách hàng đặc biệt của doanh nghiệp Khi đi ký kết hợp đồng BHNT thì họ là nhân viên
Trang 33công ty, là người đại diện công ty đàm phán với khách hàng để ký kết hợp đồng, đồng thời họ cũng là đối tác của công ty Tư vấn viên BHNT có vai trò rất lớn, bởi kênh phân phối chủ yếu của các công ty bảo hiểm là thông qua hệ thống TVV, họ mang lại doanh thu và hợp đồng cho công ty Tư vấn viên cũng tạo ra áp lực cho công ty, khi mà có nhiều doanh nghiệp BHNT xâm nhập thị trường họ có điều kiện
so sánh về những ưu đãi mà các công ty đem lại cho họ Chính vì vậy công ty cũng phải có những chế độ ưu đãi về tiền hoa hồng, về chính sách thăng tiến trong nghề nghiệp để giữ chân các TVV giỏi
Nhận xét: Doanh nghiệp phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu khách hàng, thu thập thông tin, định hướng tiêu thụ trong hiện tại và tương lai, làm cơ sở hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh
* Sản phẩm thay thế
Những sản phẩm thay thế cũng là một trong các lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng ngành Sự ra đời của sản phẩm mới là một tất yếu nhằm đáp ứng biến động của nhu cầu của thị trường theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú, chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm
bị thay thế Các sản phẩm thay thế nó sẽ có ưu thế hơn và sẽ dần thu hẹp thị trường của sản phẩm thay thế Để khắc phục tình trạng thị trường bị thu hẹp các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sản mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã hay nói cách khác doanh nghiệp phải luôn hướng tới khách hàng để tìm độ thoả dụng mới
Trong vài năm gần đây, cũng như các ngành kinh doanh khác, các ngân hàng lớn đã có mặt để cung cấp các dịch vụ cho người dân tỉnh Bắc Giang, sự góp mặt của ngân hàng Vietvombank, Techcombank, MB, VP bank, Với lãi suất cao, thủ tục nhanh chóng, chất lượng dịch vụ tốt cộng với mạng lưới ngân hàng nhiều tạo sức cạnh tranh rất lớn về việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư giữa ngân hàng và BHNT Dưới góc độ của nhà đầu tư thì đầu tư vào BHNT có lãi suất rất thấp so với gửi vào ngân hàng, thời gian tham gia thì dài hơn, thêm vào đó là sự bấp bênh của đồng Việt Nam
Trang 34Ngoài ra bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện, và bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện cũng là sản phẩm thay thế cho bảo hiểm nhân thọ Hiện số người tham gia
và tiếp cận với dịch vụ BHXH tự nguyện, BHYT tự nguyện chưa cao, nhưng trong những năm tới số người này có xu hướng tăng lên Những đe dọa của các sản phẩm thay thế có tác động không nhỏ tới Bảo Việt nhân thọ Bắc Giang và các công ty BHNT khác trên thị trường
2.1.5.3 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
* Năng lực về tài chính
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Bất
cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãi ngộ nhân sự, những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không
có điều kiện để mua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanh toán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với khách hàng, làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được
và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản, như vậy khả năng tài chính là yếu tố quan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển
* Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh, bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu con người, chỉ có con người mới tạo được uy tín
và hình ảnh của doanh nghiệp mà tất cả những yếu tố này hình thành nên khả năng
Trang 35cạnh tranh Vậy muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phải chú ý quan tâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ cán
bộ nhân viên tới đội ngũ tư vấn viên của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính là những người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịu sào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực cao nhất
và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất, họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dưới quyền
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa
đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó, bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề,
có óc sáng tạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc, có như vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước kia ban lãnh đạo có thể họ không có trình độ chuyên môn cao chỉ cần họ có thâm niên công tác lâu năm trong nghề là họ yên trí đứng ở vị trí lãnh đạo, và đội ngũ nhân viên không cần giỏi về chuyên môn, tay nghề, vẫn có thể tồn tại lâu dài trong doanh nghiệp Ngày nay với quy luật đào thải của nền kinh tế thị trường nếu như nếu ban lãnh đạo không có đủ trình độ chuyên môn cao, không có năng lực lãnh đạo thì trước sau họ cũng sẽ bị đào thải, sẽ phải rời khỏi vị trí mà họ đang nắm giữ
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi, tài tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hết mình,
họ luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và phát triển, trách nhiệm và quyền lợi của họ được bảo đảm được nâng đỡ và phát huy Ở đâu có nhân viên nhiệt tình có trách nhiệm có sự sáng tạo thì ở có sự phát triển vững chắc, bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra đã có người thực hiện Như vậy, để có năng lực cạnh tranh thì những người trong doanh nghiệp đó phải có ý thức, trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc của mình, muốn vậy khâu tuyển dụng đào tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 36* Cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ
Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đối với đối thủ cạnh tranh Bởi vì trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đối với công ty BHNT có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì việc quản lý hợp đồng, quản lý khách hàng, quản lý nhân viên và thực hiện giải quyết quyền lợi bảo hiểm sẽ được nhanh chóng, thuận lợi
Tóm lại, tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì bên cạnh một số nhân tố thuộc môi trường bên trong hay còn gọi là các nhân tố nội tại còn có các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt Nam
2.2.1 Tổng quan về thị trường BHNT Việt Nam
Mặc dù nền kinh tế trong những năm gần đây còn gặp nhiều khó khăn nhưng thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn đạt những bước tiến với kết quả khá ấn tượng Các doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường là: Prudential với 6.522 tỉ đồng chiếm 35,5% thị phần, Bảo Việt Nhân thọ với 5.199 tỉ đồng chiếm 28,3% thị phần, Manulife với 2.158 tỉ lệ 13%, các công ty bảo hiểm nhân thọ khác chiếm 11,7% thị phần Theo kết quả của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (AVI) công bố, thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2014 không có sự thay đổi đáng kể so với cùng kỳ năm 2013 Dẫn đầu thị trường về tổng doanh thu phí bảo hiểm năm 2014 vẫn là Prudential Việt Nam (32,85%), Bảo Việt Nhân thọ (26,94%), Manulife Việt Nam (11,49%), Dai-ichi Life Việt Nam (9,51%), AIA Việt Nam (8,45%), các doanh
nghiệp còn lại chiếm 10,76% thị phần (Tạp chí điện tử Diễn đàn đầu tư –
BizLIVE.vn)
Trang 37BVNT Prudential Manulife AIA Dai-ichi Khác
26,94%
32,85%
11.49%
8.45 9,51%
10,76%
Trong khi đó, nhóm dẫn đầu thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới năm 2014 vẫn là Prudential Việt Nam (ước đạt 24,6%), Bảo Việt Nhân thọ cũng đang theo rất sát (ước đạt 24%) Ở nhóm 3, doanh nghiệp bảo hiểm kế tiếp là Manulife Việt Nam, Dai-ichi Life Việt Nam và AIA Việt Nam có khoảng cách về
thị phần doanh thu khai thác mới không quá xa dao động quanh 11% (Tạp chí điện
t ử Diễn đàn đầu tư – BizLIVE.vn)
BVNT Prudential Manulife AIA Dai-ichi Khác
Trang 38Sau nhiều năm dẫn đầu về doanh thu phí bảo hiểm, số lượng hợp đồng khai thác Bảo Việt nhân thọ đã dần dần đánh mất vị trí số một cho Prudential Sự tham gia của các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài vào Việt Nam, đã làm cho thị trường bảo hiểm cạnh tranh ngày càng gay gắt Tính đến cuối năm 2012, tổng số lượng đại lý có mặt trên thị trường đạt 225.963 người tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 122.694 người, Bảo Việt Nhân thọ 27.762 người và AIA 18.242 người Số lượng đại lý mới tuyển dụng trong năm 2012 là: 141.973 người tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái, các doanh nghiệp bảo hiểm có số lượng đại lý mới tuyển dụng nhiều nhất thị trường theo thứ tự là: Prudential (49.366 người), AIA (18.950 người) và Bảo Việt Nhân thọ (16.607 người)
Theo thống kê của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường năm 2014 là 52.680 tỷ đồng, tăng
14.2% so với năm 2013 (tapchitaichinh.vn) Trong đó, Bảo hiểm nhân thọ tăng
17,9% Sự tăng trưởng mạnh của thị trường bảo hiểm nhân thọ, theo các chuyên gia trong ngành, là tất yếu, bởi Việt Nam là quốc gia đông dân nhất trong khu vực nhưng lại có tỷ lệ người tham gia bảo hiểm thấp nhất, chỉ khoảng 5 - 6% dân số, về quy mô, tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm trên GDP năm 2014 mới đạt 2,44%, thấp so với mức 3,2% trong khu vữc ASEAN và 6,2% trên toàn thế giới Nhận thức về hình ảnh bảo hiểm nhân thọ của người dân còn chưa sâu, rộng; kênh phân phối chưa tiếp cận đến mọi tổ chức, cá nhân
Theo nhận định của các chuyên gia, không chỉ năm 2014 mà cơ hội cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong dài hạn được đánh giá
là rất lớn Tuy nhiên, có thể thấy các công ty bảo hiểm nhân thọ mới chỉ tập trung vào phân khúc thị trường khách hàng trung lưu và sinh sống ở thành thị
Sự phục hồi của kinh tế và điều kiện sống của người dân đã được cải thiện, đây là thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển lành mạnh hiệu quả của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Có thể thấy, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều trong những năm gần đây Sự góp mặt của nhiều tập đoàn tài chính lớn trên thế giới đã thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt
Trang 39Nam phát triển theo chiều hướng tích cực trên nền tảng cạnh tranh lành mạnh, công bằng Cũng không thể phủ nhận sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm nhân thọ trong thời gian qua có sự đóng góp lớn của nhiều sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm tiên tiến và người dân cũng đang cởi mở hơn trong việc bỏ tiền vào bảo hiểm Tuy nhiên, trong thị trường vẫn còn có những nhận định khá cẩn trọng đối với tốc độ tăng trưởng doanh thu khai thác mới của nhiều công ty bảo hiểm, thậm chí
là sự e ngại về tốc độ tăng trưởng này Cạnh tranh trên thị trường sẽ được đẩy lên cao hơn, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải đẩy mạnh phát triển cả theo chiều sâu (nâng cao chất lượng) và phát triển thị trường để tìm hướng phát triển mới Có thể điều này sẽ thúc đẩy quá trình tái cấu trúc một cách tự nhiên, theo qui luật của thị trường và sẽ có tác dụng làm cho thị trường phát triển lành mạnh hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trong những năm tới khi đời sống vật chất của con người được cải thiện, xu hướng tiêu dùng cũng sẽ có sự chuyển biến Cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp đang rộng mở khi tầng lớp trung lưu gia tăng, kéo theo nhu cầu mua bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình
2.2.2 Kinh nghiệm của một số công ty
2.2.2.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty BHNT Hà Nội
Là công ty BHNT đầu tiên thực hiện kinh doanh dịch vụ BHNT trên thị trường Việt Nam, BVNT Hà Nội nói riêng cũng như Bảo Việt nhân thọ nói chung có được lợi thế là người đi trước, được “độc quyền” kinh doanh trong thời gian đầu mà không phải chịu bất cứ sự cạnh tranh nào từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khác Bảo Việt nhân thọ Hà Nội còn có thương hiệu Bảo Việt có tiếng từ hơn 40 năm qua Và điều này cũng đã ít nhiều giúp công ty có được uy tín, danh tiếng ban đầu và được mọi người biết đến nhiều hơn, thuận lợi hơn trong công tác tuyên truyền quảng cáo
BVNT Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Bảo Việt nhân thọ được đầu tư cơ sở vật chất, có mạng lưới TVV rộng khắp, hoạt động trên địa bàn dân cư có trình độ dân trí cao, có thu nhập cao và ổn định Hơn 20 năm hoạt động, Bảo Việt nhân thọ Hà Nội đã nhanh chóng phát huy thuận lợi và không ngừng đổi mới để đáp ứng tốt hơn
Trang 40nhu cầu của khách hàng Trước áp lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm nhân thọ có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều kinh nghiệm, đã hoạt động lâu năm trên thế giới như Prudential, Manulife, AIA…với công nghệ kỹ thuật hiện đại, phương pháp quản lý tiên tiến đã giúp cho BVNT Hà Nội tự nhìn nhận đánh giá lại mình, có cơ hội học hỏi để khắc phục những nhược điểm chủ quan, áp dụng các phương pháp quản lý điều hành tiến bộ
Để đạt được kết quả kinh doanh tăng trưởng liên tục, BVNT Hà nội đã chú trọng phát triển hệ thống phân phối, phát huy ưu điểm của kênh phân phối truyền thống Số lượng TVV tuyển dụng mới không ồ ạt như một số năm trước mà đi dần vào sự ổn định Cùng với đó là việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng hỗ trợ nhằm giúp các TVV phát huy hết khả năng của mình Ngoài chế độ tuyển dụng công ty còn hỗ trợ các ban, nhóm về đào tạo kỹ năng tuyển dụng, tổ chức các hội nghị tuyển dụng quy mô lớn, hội nghị tuyển dụng theo địa bàn, tổ chức theo ban
Bên cạnh đó BVNT Hà Nội còn chủ động đi đầu trong việc thực hiện mở rộng kênh phân phối qua ngân hàng, với việc ký kết với ngân hàng Techcombank
BVNT Hà nội còn chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên của công ty, đối với cán bộ lâu năm cử đi đào tạo tập huấn, nâng cao trình độ chuẩn hóa đội ngũ BVNT Hà Nội chú trọng đến đội ngũ dịch vụ khách hàng, quy chuẩn đội ngũ cán bộ làm công tác dịch vụ khách hàng, chuyên nghiệp, nhiệt tình
2.2.2.2 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam
Công ty BHNT Prudential Việt Nam được thành lập năm 1999, với số vốn 15 triệu USD Chỉ sau 01 năm hoạt động Prudential Việt Nam đã có 100.000 hợp đồng BHNT Năm 2004, Prudential đã là công ty dẫn đầu tại thị trường Việt Nam với thị phần cao nhất Năm 2009, Prudential là công ty thứ hai trên thị trường BHNT Việt Nam có mặt tại 63 tỉnh thành phố Để đạt kết quả tốt như vậy, Prudential Việt Nam chú trọng khâu tuyển dụng TVV, tăng cường tuyển dụng để đảm bảo mật độ bao phủ của TVV, từ đó có thể tiếp cận và phục vụ khách hàng nhanh nhất Xu hướng hợp tác độc quyền với ngân hàng trong việc bán sản phẩm bảo hiểm được bắt đầu tại thị