1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận thơ mới ở miền nam giai đoạn 1954 1975

104 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp nhận thơ mới ở miền nam giai đoạn 1954-1975
Tác giả Đinh Hoài Bảo
Người hướng dẫn ThS. Phan Mạnh Hùng
Trường học Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Văn học và Ngôn ngữ
Thể loại Công trình nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 902,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng chất tượng trưng đó không đơn thuần mà một sự tiếp thu thuần túy mà là sự pha trộn giữa nhiều yếu tố khác nhau, sự cộng hưởng của thực và mộng, gần gũi và sâu xa, giữa tư tưởng giả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2014

TIẾP NHẬN THƠ MỚI Ở MIỀN NAM

GIAI ĐOẠN 1954-1975

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Đinh Hoài Bảo

Khoa: Văn học và Ngôn ngữKhóa: 2012 - 2016

Cán bộ hướng dẫn:

ThS Phan Mạnh Hùng

Bộ môn: Văn học Việt NamKhoa: Văn học và Ngôn ngữTrường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Tp HCM)

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp mới của đề tài 9

6 Giới hạn của đề tài 9

7 Ý nghĩa thiết thực của đề tài 9

8 Kết cấu của đề tài 10

CHƯƠNG 1 11

1 Tiếp nhận văn học – một phạm trù của Lý luận văn học 11

1.1 Khái niệm Tiếp nhận văn học 11

1.2 Mục đích của Tiếp nhận văn học 13

1.3 Tính chất của Tiếp nhận văn học 15

1.4 Đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng trong tiếp nhận văn học 19

1.4.1 Tác giả văn học 19

1.4.2 Tác phẩm văn học 22

1.4.3 Người đọc 23

1.4.4 Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - người đọc trong tiếp nhận văn học 25

2 Những vấn đề chung về tiếp nhận Thơ mới 28

2.1 Thơ mới – một chỉnh thể trong tiếp nhận văn học 28

2.2 Độc giả của Thơ mới 31

CHƯƠNG 2 33

1 Những yếu tố tác động đến tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn1954-1975 33

1.1 Sự thay đổi hiện thực đời sống 33

1.2 Sự hình thành và phát triển của đội ngũ sáng tác - phê bình mới 37

1.3 Sự xuất hiện của các chủ nghĩa, trào lưu và khuynh hướng mới 41

2 Những quan điểm tiếp nhận Thơ mới giai đoạn 1954-1975 45

2.1 Thơ mới – trong đời sống và hoạt động văn học 45

Trang 3

2.2 Ảnh hưởng của Thơ mới đối với Âm nhạc 60

CHƯƠNG 3 65

1 Tiếp nhận Hàn Mặc Tử 65

1.1 Cuộc đời, con người và số mệnh – những tư liệu mới 65

1.2 Thế giới thơ 69

1.2.1 Mỹ cảm đau thương và sự chuyển hóa huyền nhiệm của nó 69

1.2.2 Cảm thức tôn giáo và dấu ấn Đông-Tây 71

1.3 Nghệ thuật thơ 74

1.3.1 Dưới góc độ Biểu tượng 74

1.3.2 Dưới góc độ Ngôn ngữ thơ 76

2 Tiếp nhận Bích Khê 77

2.1 Đời người – Đời thơ 78

2.2 Một thế giới của cái Đẹp 81

2.3 Đặc điểm nghệ thuật 84

2.3.1 Màu sắc Hội họa và Nhạc tính 84

2.3.2 Yếu tố tượng trưng – một phong cách tiêu biểu 85

3 Tiếp nhận Đinh Hùng 87

4 Tiếp nhận Vũ Hoàng Chương 92

5 Tiếp nhận Đông Hồ 95

6 Tiếp nhận Nguyễn Bính 96

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 4

Sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam gần đây và nhu cầu ứng dụng nó trong việc đánh giá lại những hiện tượng văn học một cách đầy đủ hơn, mà ở đây là đối tượng Thơ mới.

Do nhu cầu khách quan, Thơ mới là một hiện tượng văn học không riêng gì ở Việt Nam mà nổi lên trên khắp khu vực Do vậy, nghiên cứu Thơ mới là một nhu cầu bức thiết, hội nhập

Với quan điểm“Xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm

đà bản sắc dân tộc” [15] của Đảng đề ra Nghiên cứu Thơ mới cho thấy sự phản ánh về đời sống sinh hoạt và tinh thần con người miền Nam Đặc biệt, là

cơ sở so sánh biện chứng với nền văn học miền Bắc trong cùng giai đoạn để

đi đến sự thống nhất nền văn học trên cùng lãnh thổ

-Mục tiêu của đề tài:

Tổng hợp và nhận định lại các quan điểm tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Đồng thời, giới thiệu những tác giả, tác phẩm được quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn này

Thấy được những đặc điểm nổi bật trong việc tiếp nhận Thơ mới ở miềnNam giai đoạn 1954-1975 Thông qua đó, phần nào làm rõ được sự khác biệt trong việc tiếp nhận Thơ mới giai đoạn 1954-1975 so với các giai đoạn văn học trước cũng như có khác biệt gì so với miền Bắc trong cùng thời điểm

Xây dựng điểm nhìn tổng quát về quá trình vận động của Thơ mới trong một giai đoạn lịch sử nhất định Từ đó, góp phần vào công việc nổ lực xây dựng

Trang 5

bức tranh văn học miền Nam và bổ sung thêm nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu khoa học sau này.

Phần nội dung:

Công trình gồm có 3 Chương như sau:

Chương 1: Tiếp nhận văn học và những vấn đề chung trong tiếp nhận Thơ mới

Đây được xem là chương cơ sở, nền tảng để người viết triển khai các phần sau Trong đó, tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến bình diện lý thuyết,

bao gồm khái niệm Tiếp nhận văn học, vấn đề mục đích và tính chất của tiếp

nhận văn học, các đối tượng chính trong hoạt động tiếp nhận và mối quan hệ giữa chúng với nhau Ngoài ra, nhấn mạnh đến các đặc trưng trong nghiên cứu tiếp nhận Thơ mới như tính chỉnh thể, độc giả của Thơ mới

Chương 2: Những yếu tố tác động và những quan điểm tiếp nhận Thơ mới ở

miền Nam giai đoạn 1954-1975

Trình bày 2 nội dung chính:

-Thứ nhất, chỉ ra những yếu tố có ảnh hưởng đến môi trường tiếp nhậnThơ mới ở miền Nam như: Sự thay đổi chất liệu hiện thực; Sự xuất hiện củađội ngũ sáng tác mới; Sự xuất hiện của các chủ nghĩa, trào lưu mới; Bối cảnh truyền thông

-Thứ hai, người viết sẽ dẫn ra những quan điểm tiếp nhận Thơ mới tiêu biểu Trong đó, chú trọng những ý kiến “kháng cự” Thơ mới của các thành viên nhóm Sáng tạo Đồng thời, mở rộng vấn đề cho thấy những đóng góp của Thơ mới với âm nhạc miền Nam giai đoạn 1957-1975 với tư cách tiếp nhận lẫn nhau giữa các loại hình nghệ thuật

Chương 3: Những tác giả Thơ mới được quan tâm tiếp nhận giai đoạn 1954-

1975

Trang 6

Ở chương này, người viết sẽ giới thiệu các tác giả nổi bật được quan tâm tiếp nhận trong giai đoạn 1954-1975 căn cứ theo nguồn tư liệu mà người viết thu thập được Đồng thời, thực hiện việc phân loại các nguồn tài liệu đó trên hai hướng tiếp nhận chính là cuộc đời và thi nghiệp Trong đó, Hàn Mặc Tử và Bích Khê là hai tác giả nổi bật được trình bày kỹ ở chương này.

Kết luận

Thứ nhất, giai đoạn 1954-1975, đất nước chia cắt thành hai miền với hai chế

độ chính trị khác nhau Ở miền Bắc, Thơ mới trong văn học chính thống không được tiếp nhận Ngược lại, ở miền Nam, điều đó diễn ra bình thường

và giúp Thơ mới tiếp tục phát triển

Thứ hai, giai đoạn 1954-1975, bối cảnh xã hội miền Nam đầy hỗn độn với sựđan xem nhiều luồng tư tưởng; nhiều học thuyết mới và hệ hình sáng tác mới

ra đời Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Thơ

mới Đặc biệt, Thơ mới đứng trước áp lực giữa chấp nhận và kháng cự.

Thứ ba, việc tiếp nhận Thơ mới giai đoạn này diễn ra trên một phạm vi thu hẹp hơn các giai đoạn trước, việc nghiên cứu chỉ tập trung ở các tác giả tiêu biểu Trong đó, Hàn Mặc Tử là nhà thơ được quan tâm nhất trong suốt giaiđoạn 1954-1975

Thứ tư, diễn biến của Thơ mới giai đoạn 1954-1975 góp phần cho thấy sự vận động của nó trong suốt tiến trình thơ ca dân tộc Qua sự kiểm chứng của thời gian, Thơ mới cho thấy sự sinh tồn và phát triển mạnh mẽ của nó Từ

đó, đóng vai trò quan trọng trong nền văn học dân tộc trong quá khứ và sau này

Cuối cùng, những thành quả đúc kết của đề tài góp phần vào bức tranh Thơ mới Việt Nam; là một nguồn tư liệu cho những ai mong muốn tìm hiểu vềThơ mới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học là một lĩnh vực phong phú và đa dạng Ở mỗi dân tộc, văn học có

sự phát triển không đồng đều cùng những đặc điểm riêng gắn liền với quá trình hình thành dân tộc ấy Tại Việt Nam, sự đổi mới văn học ngày càng nhận thấy rõ

do quá trình va chạm và tiếp biến với nhiều nền văn học tiên tiến trên thế giới Do

đó, xu hướng hiện đại hóa văn học và nghiên cứu học thuật đã trở thành một nhu cầu tất yếu Tuy nhiên, trước sự tiếp xúc đầy hấp dẫn và thách thức này, ngoài việc chúng ta tiếp thu tinh hoa văn học thế giới thì cũng cần phải quan tâm đến công tác nghiên cứu văn học nước nhà, đặc biệt là các vấn đề về văn học sử; phương diệnđược xem là nền tảng có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Nghiên cứu về lĩnh vực này, không chỉ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về một hay những thời kì, giai đoạn văn học nào đó mà còn giúp đánh giá lại đầy đủ hơn chặngđường lịch sử đã trải qua Ý thức được vai trò quan trọng đó của nghiên cứu văn học sử, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài “Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giaiđoạn 1954-1975” như một nơi trải nghiệm đầy thú vị và ý nghĩa

Trong những năm gần đây, lý thuyết tiếp nhận văn học đang được khai thác nhiều từ giới nghiên cứu trong và ngoài nước Tại Việt Nam, nó đang trở thành một

xu hướng nghiên cứu phổ biến và nổi bật Nhiều nhà nghiên cứu, sinh viên đã lựa chọn lý thuyết này làm cở sở, nền tảng để đánh giá một hiện tượng văn học nào

đó mang tính phố quát; tức nhìn văn học trên một diện rộng Từ đó, các giai thời kì văn học, các giai đoạn văn học được rà xét lại một cách đầy đủ Đồng thời, nghiên cứu về tiếp nhận còn giúp người viết nhận thấy được mối tương quan sâu sắc giữa tác giả, tác phẩm, người đọc Điều đó không chỉ giúp người viết mở rộng tư duy, nâng cao khả năng lý luận mà còn phù hợp với xu thế chung

Thơ mới không phải là hiện tượng cá biệt ở một nền văn học nào, mà là hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nền văn học thuộc các quốc gia Châu Á Tuy sự

Trang 8

ra đời của nó là khác nhau tùy theo hoàn cảnh lịch sử ở mỗi nước, nhưng nhìn chung

nó đồng loạt ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Ở Nhật Bản, một nước có quá trình tiếp xúc sớm với phương Tây, Thơ mới (Tân thể thi = Shintaishi)

đã khai sinh với tập thơ dịch Tân thể thi sao năm 1882 do các giáo sư Đại học

Tokyo phóng tác theo các tác phẩm của các tác giả Anh, Mỹ, Pháp Sau đó, vào

năm 1897, tập thơ mới đầu tiên do người Nhật Bản sáng tác là Cỏ non của

Shimazaki Toson ra đời, mở đầu trào lưu Chủ nghĩa lãng mạn Nhật Bản Tiếp theo

đó, lần lượt các nước lân cận cũng đã cho ra đời những tác phẩm thơ mới nổi bật

Ở Trung Quốc, tập Thơ mới Nữ thần (1921) của Quách Mạt Nhược được xem là

đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc Tiếp nối Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và các nước ở khu vực Đông Nam Á cũng cho ra đời các tác phẩm Thơ mới, đánh đấu một sự chuyển biến đầy sôi động trên diễn đàn văn học Châu lục Từ đây, ta thấy rằng, Thơ mới có một vị trí vô cùng

đặc biệt trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc, nó đã đánh dấu cho sự kết thúc những chuẩn mực, khuôn khổ của thơ cũ để có thể phát triển tự do hơn Đồng thời,

đưa thơ ca mỗi dân tộc chuyển sang xu thế mới: hội nhập và phát triển Do vậy,

nghiên cứu tiếp nhận Thơ mới là một nhu cầu khách quan và cần thiết

Ngay từ Đại hội Đảng lần VI (1986), Đảng đã nêu rõ những quan điểm về vấn đề văn hóa văn nghệ Trong đó, nghị quyết của đại hội về quan điểm về nhiệm

vụ xây dựng văn hóa có đặt ra yêu cầu “Xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc” [15] Kể từ đó trở đi, quan điểm này vẫn

được giữ vững và bổ sung thêm cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước

Có thể nói, chủ chương này đã giúp giới nghiên cứu học thuật có ý thức tìm về với các vấn đề quan trọng của văn hóa dân tộc Hơn hết, việc xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ được hiểu theo nghĩa tiếp tục phát huy các giá trị văn hóa nói chung mà hơn hết, nó mong muốn đạt tới sự thống nhất về văn hóa văn nghệ trên một lãnh thổ, đồng thời nhìn nhận lại những giá trị văn hóa đã qua trong lịch sử Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu những thành tựu của văn học miền Nam đang được đặc biệt chú ý Một phần, người ta muốn đánh giá một cách

Trang 9

khách quan những thiếu sót, những quan điểm chưa đúng về các hiện tượng văn học miền Nam, một phần là để có thể cố gắng đi sâu tìm hiểu về bản sắc, lối sống của con người thời ấy thông qua văn học Qua đó, mọi nổ lực nghiên cứu có thể dần đạt đến một sự thành công nhất định với hi vọng tái hiện lại bức tranh văn học

sử miền Nam một cách đầy đủ nhất Đối với chúng tôi, việc lựa chọn đề tài “Tiếp nhận thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975” không hoàn toàn theo xu thế đó

mà là từ chính bản thân người viết; một người sinh ra trên mảnh đất miền Nam với mong muốn hiểu rõ hơn về quê hương của mình

Từ bốn lý do vừa mang tính chủ quan và mang tính khách quan nêu trên, người viết đã lựa chọn đề tài “Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975” để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khi tiến hành thực hiện đề tài này, người viết đã thu thập và tìm hiểu những

tư liệu liên quan về Thơ mới từ năm 1954 đến nay Trong đó, người viết nhận thấyThơ mới vẫn là một hiện tượng văn học được quan tâm sâu sắc, nhất là việc ngày càng có nhiều bài nghiên cứu về Thơ mới được công bố trên các tạp chí hoặc các diễn đàn khoa học chuyên sâu Tuy nhiên, nói riêng về vấn đề tiếp nhận Thơ mới thì dường như rất hiếm có công trình nào đề cập, nếu có thì cũng chỉ là những bài nghiên cứu riêng lẻ đối với một tác giả chứ chưa đúc kết được đặc điểm chung về tiếp nhận Thơ mới trong từng giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn 1954-1975 Do vậy, trong phần này, người viết chỉ xin nêu ra những bài viết tiêu biểu có liên quan gần nhất và là nền tảng tư liệu quan trọng đối với công trình mà người viết sắp tiến hành

Trong bài “Hàn Mặc Tử trong đời sống văn học miền Nam 1954-1975”, tác

giả Nguyễn Thanh Tâm thông qua việc khảo sát tư liệu giai đoạn 1954-1975 và phân loại vấn đề nghiên cứu đã chỉ ra những thiếu sót trong việc bỏ trống các tư liệu ở miền Nam về Hàn Mặc Tử Điều này dẫn đến việc tiếp nhận thơ ca Hàn Mặc

Trang 10

Tử không đầy đủ và thiếu khách quan Từ đó, tác giả cũng đi sâu phân tích các yếu

tố có tác động đến việc tiếp nhận thơ ca Hàn Mặc Tử trong giai đoạn này

Thứ nhất, tác giả đề cập đến vấn đề bối cảnh học thuật miền Nam

1954-1975, trong đó nhấn mạnh tác động của giới Lý luận - phê bình với các điểm nổi bật như sự vận động trong bối cảnh vô cùng phức tạp về mặt chính trị, tư tưởng, văn hóa,

sự phân hóa mạnh mẽ về lực lượng nghiên cứu cùng nhiều tờ báo, tạp chí, tạp san, nguyệt san… ra đời Sự giao thoa, hiện diện của nhiều luồng tư tưởng, triết mĩ trong đời sống khoa học, văn hóa và tinh thần xã hội, đồng thời chịu tác động khá lớn từ sáng tác văn học cũng như sự hiện diện của tất cả các thành tố của lịch sử văn học Việt Nam trong đời sống lý luận – phê bình văn học lúc bấy giờ

Thứ hai, tác giả đề cập đến Hàn Mặc Tử trong ký ức người thân, bạn bè Để làm rõ cho nội dung này, tác giả đã tổng hợp những kiến giải, bài viết, hồi kí có liên quan đến thân thế, gia đình và các mối quan hệ xoay quanh Hàn Mặc Tử Điều này được xem là cần thiết để đáp ứng phần nào nhu cầu của giới nghiên cứu khi tất

cả các tư liệu về Hàn Mặc Tử đều bị mất trong chiến tranh Tuy nhiên, những kiến giải này về nhà thơ được viết lại bởi trí nhớ nên không thể tránh khỏi sự chủ quan

và gây tranh luận

Thứ ba, tác giả đề cập đến tình hình nghiên cứu, phê bình thơ ca Hàn Mặc

Tử Đây có thể xem là phần quan trọng nhất của bài viết, nó giúp ta nhận thấy rõ những vấn đề trọng tâm về tiếp nhận thơ ca Hàn Mặc Tử trong giai đoạn 1954-

1975 Trong đó, tác giả nhận thấy có hai hướng nghiên cứu chính nổi bật: một là cội nguồn của cảm xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử; hai là nghiên cứu Hàn Mặc Tử trên một số phương diện hình thức nghệ thuật

Về vấn đề cội nguồn của cảm xúc thẩm mỹ trong thơ Hàn Mặc Tử, tác giả

đi sâu lí giải, nhấn mạnh đến vấn đề cốt lõi đem đến mỹ cảm đặc trưng cho thơHàn Mặc Tử thông qua việc phân chia các trọng tâm nghiên cứu từ các nhà nghiên cứu khác nhau với bốn hướng lí giải nổi bật: những chuyển hóa huyền nhiệm trongđau thương, từ sinh mệnh đau thương đến mỹ cảm của đau thương, đức tin và

nguồn thơ Hàn Mặc Tử và cội nguồn phương Đông và phương Tây trong thơ Hàn

Trang 11

Mặc Tử.

Về vấn đề nghiên cứu Hàn Mặc Tử trên một số phương diện hình thức nghệ thuật Tác giả tập trung lí giải sự hấp dẫn của thơ Hàn Mặc Tử thông các góc độ tiếp cận khác nhau từ nhiều nhà nghiên cứu Trong đó, nhấn mạnh nghiên cứu Hàn Mặc Tử từ góc độ biểu tượng, góc độ ngôn ngữ thơ, góc độ bệnh lý học và định mệnh sau cái chết Thông qua đó, sự đa dạng trong hình thức nghệ thuật thơ HànMặc Tử được tiếp tục được gợi mở

Từ các nội dung tác giả nêu ra trong bài nghiên cứu của mình, Nguyễn

Thanh Tâm đã cho chúng ta thấy được những vấn đề cần lưu ý khi nghiên cứu Hàn Mặc Tử trong giai đoạn 1954-1975 Đồng thời, ngầm nhắc nhở chúng ta phải nhận thức rõ hơn về nghiên cứu Hàn Mặc Tử không chỉ ở miền Nam 1954-1975 mà cả sau 1975 trên bình diện cả nước với sự khách quan của khoa học và tuân thủ quy luật kế thừa trong lịch sử

Ngoài bài tổng hợp tình hình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử của Nguyễn

Thanh Tâm như trên, tác giả Trần Hoài Anh trong bài “Bích Khê qua cái nhìn của nhà văn, nhà lí luận và phê bình miền nam 1954-1975” (Tạp chí văn học, số 4-

2006) cũng đã đề cập đến các tác giả Thơ mới quan trọng là Bích Khê Trong đó, tác giả đã giới thiệu và phân loại các bài viết về Bích Khê như: cuộc đời, con người, sự nghiệp thơ ca và những đóng góp to lớn của thơ ông trong nền văn học hiện đại

Về cuộc đời, thông qua các bài nghiên cứu từ nhiều tác giả khác nhau, Trần Hoài Anh nhận thấy các vấn đề về thân thế và đời tư của Bích Khê đều được giới thiệu chi tiết Đồng thời, các tư liệu hiếm trong sự nghiệp văn học của ông đềuđược tìm thấy và thống nhất từ các nhà nghiên cứu Để từ đó, họ có cách nhìn chung về Bích Khê đó là “một nhà thơ tài hoa nhưng mệnh bạc”

Về con người Bích Khê, thông qua biểu hiện về lối sống, lời thuật lại của những người từng tiếp xúc với Bích Khê và những sáng tác của ông, các nhà nghiên cứu nhận thấy Bích Khê là người có tấm lòng yêu tha thiết đối với đất nước

Trang 12

quê hương cũng như với thơ ca của mình Điều này cũng được xem là lẽ sống củaBích Khê cũng như nguồn cảm hứng trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ.

Về đặc điểm và giá trị thơ ca, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy thơ BíchKhê có giá trị về nhiều mặt Những giá trị này gắn liền với tài năng của Bích Khê như khả năng kiến tạo ngôn ngữ một cách độc đáo, sáng tạo những hình ảnh thơ kì diệu và tinh vi, chất họa và nhạc… Từ đây, các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định điểm nổi bật nhất trong sáng tác của Bích Khê chính là “nhà thơ tượng trưng tiêu biểu của phong trào Thơ mới” Nhưng chất tượng trưng đó không đơn thuần mà một sự tiếp thu thuần túy mà là sự pha trộn giữa nhiều yếu tố khác nhau,

sự cộng hưởng của thực và mộng, gần gũi và sâu xa, giữa tư tưởng giản dị và tư tưởng cao sang… Sau cùng, tác giả Trần Hoài Anh đi đến một kết luận mà theo chúng tôi, nó đã đúc kết lại toàn cảnh nghiên cứu về Bích Khê trong giai đoạn 1954-1975:

“Bích Khê qua cái nhìn của các nhà văn, nhà lý luận và phê bình văn học ở

đô thị miền Nam 1954-1975 là một nhà thơ của sáng tạo và cách tân, là người gieo hạt giống thơ cho mùa sau, là người sống “dấn thân” (J Paul Sarte) cho những giá trị đích thực của thơ ca và cuộc sống Đó cũng là khát vọng cháy bỏng của thi nhân như lời ông viết:

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới Của lời thơ lóng đẹp Hạt châu trong

Trang 13

cập đến các vấn đề liên quan đến văn học miền Nam từ sau 1954 trở đi, bao gồm bối cảnh lịch sử - xã hội, môi trường sáng tác và tiếp nhận, thành quả Mà trong

đó, nổi bật lên là sự ra đời của nhóm Sáng tạo với những quan điểm “kháng cự”(chữ của Huỳnh Như Phương) lại với Thơ mới Ở góc độ nào đó, những quan điểm của nhóm Sáng tạo đã mở ra những chiều hướng tiếp nhận khác nhau của độc giả về Thơ mới nói riêng, thơ ca nói chung Chính vì vậy, khi nghiên cứu tiếp nhận

Thơ mới 1954-1975, chúng tôi thấy không thể bỏ qua hiện tượng này Chúng tôi sẽ

thảo luận về nó ở những chương sau của công trình Còn về tác phẩm Văn học miền Nam tổng quát, dù các khía cạnh của văn học miền Nam 1954-1975 đã được

tác giả đề cập đến nhưng nó chỉ dừng lại ở một cái nhìn bao quát căn cứ trên hoàn cảnh lịch sử Như vậy, vấn đề nghiên cứu việc tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam vẫn cần tiếp tục được đặt ra và nghiên cứu thêm

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Từ những lý do nêu trên và căn cứ trên tình hình nghiên cứu thực tiễn trong nước, người viết đặt ra cho mình những mục tiêu và nhiệm vụ khi tiến hành thực hiện đề tài như sau:

-Tổng hợp các quan điểm tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn

1954-1975 Đồng thời, giới thiệu những tác giả, tác phẩm được quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn này

-Rút ra những đặc điểm nổi bật trong việc tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Thông qua đó, làm rõ được sự khác biệt trong việc tiếp nhậnThơ mới giai đoạn 1954-1975 so với miền Bắc trong cùng thời điểm

-Phác thảo một cái nhìn tổng quát về quá trình vận động của Thơ mới trong giai đoạn 1954-1975 Từ đó, góp phần vào công việc xây dựng bức tranh văn học miền Nam và bổ sung thêm nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu khoa học

-Chỉ ra được vai trò quan trọng của Thơ mới trong lịch sử văn học dân tộc

Từ đó, khẳng định sự tồn tại bền bỉ và những tác động của nó đến thế hệ hôm nay

Trang 14

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: để tiến hành nghiên cứu đề tài, người viết đã dựa trên những nền tảng sau:

-Nền tảng về lý thuyết tiếp nhận văn học trong lý luận văn học truyền thống

và trong lý luận văn học hiện đại

-Những công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan về Thơ mới ở miềnNam giai đoạn 1954-1975 là chính, bên cạnh đó cũng tham khảo các nguồn tư liệu

về Thơ mới trong các giai đoạn khác để so sánh, mở rộng vấn đề

Phương pháp nghiên cứu:

-Phương pháp tiếp nhận: Hiểu và nắm vững các lý thuyết tiếp nhận trong việc tiếp cận đề tài Từ đó, người viết có thể triển khai đúng hướng nhằm thực hiện tốt các mục tiêu mà đề tài đặt ra

-Phương pháp thống kê: Người viết đã sưu tầm, sau đó thống kê lại tất cả những công trình, bài viết liên quan về Thơ mới giai đoạn 1954-1975 Đây là nguồn tài liệu quan trọng, là cơ sở để người viết có thể chứng minh cho các quanđiểm của mình trong công trình

-Phương pháp lịch sử: Xem xét vấn đề tiếp nhận Thơ mới dưới góc độ cụ thể Nhận định những quan điểm về Thơ mới trong giai đoạn 1954-1975 dưới cái nhìn khách quan, phù hợp với quá trình vận động, phát triển của văn học từ thấpđến cao, từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp…

-Phương pháp so sánh: Phương pháp này giúp người viết có thể so sánh những quan điểm của các nhà nghiên cứu với nhau khi cùng nói về một vấn đề nào

đó Đồng thời, việc so sánh giúp người viết thấy rõ hơn về sự khác biệt của Thơ mới trong giai đoạn văn học này với giai đoạn văn học khác

-Phương pháp Thi pháp học: Trong phần nói về các tác giả, tác phẩm Thơ mới tiêu biểu và được quan tâm trong giai đoạn này, người viết có thể sử dụng phương pháp thi pháp học để tập trung xem xét về các quan điểm mới mà các nhà nghiên cứu đưa ra Trong đó, nhấn mạnh phương thức biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật đặc trưng của Thơ mới

Trang 15

5 Đóng góp mới của đề tài

Với tư cách là một công trình nghiên cứu khoa học sinh viên, đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu, khái quát và đưa ra những nhận định chung về những quan điểm tiếp nhận Thơ mới ở giai đoạn này Đó sẽ là nguồn tư liệu cần thiết cho những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học miền Nam, đặc biệt là vấn đề tiếp nhận Đồng thời, thấy được Thơ mới như một tác nhân có ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình vậnđộng khách quan của lịch sử văn học dân tộc Qua đó, thể hiện ý thức kế thừa trong học tập, gợi nhắc về việc phải biết trân trọng và phát huy những cách nhìn mới mẻ

về Thơ mới trong thời đại ngày nay

6 Giới hạn của đề tài

- Thơ mới là một hiện tượng đầy phức tạp và được tiếp nhận trong một hành trình lịch sử lâu dài Do vậy, đề tài Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 chỉ phần nào giúp người đọc nhận thấy những đặc điểm tiếp nhận trong giai đoạn này chứ chưa thể hoàn chỉnh bức tranh chung về cả quá trình vận động của Thơ mới

-Xét về phạm vi đề tài, người viết chỉ tập trung làm rõ những tư liệu, quanđiểm tiếp nhận trong giai đoạn 1954-1975, những giai đoạn khác sẽ chỉ nói sơ lược Hơn nữa, việc khái quát vấn đề tiếp nhận trong một giai đoạn lịch sử kéo dài chắc chắn sẽ có những thiếu sót Tuy vậy, người viết sẽ cố gắng thực hiện tốt nhất

có thể, căn cứ trên những tư liệu đã thu thập được

7 Ý nghĩa thiết thực của đề tài

-Góp phần xây dựng cơ sở lý luận về Thơ mới, mở ra cái nhìn mới đầy đủ, khách quan hơn về hiện tượng văn học này

-Những thành quả đạt được trong công trình nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho những công trình nghiên cứu khoa học tiếp theo

Trang 16

-Góp phần bổ sung bức tranh nghiên cứu toàn diện về Thơ mới nói riêng, văn học miền

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm những phần chính như sau:

Chương 1: Tiếp nhận văn học và những vấn đề chung trong tiếp nhận Thơ mới Đây được xem là chương cơ sở, nền tảng để người viết triển khai các

phần sau Trong đó, tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến bình diện lý thuyết, bao gồm khái niệm “Tiếp nhận văn học”, vấn đề mục đích và tính chất của tiếp nhận văn học, các đối tượng chính trong hoạt động tiếp nhận và mối quan hệ của

nó Ngoài ra, nhấn mạnh đến các đặc trưng trong nghiên cứu tiếp nhận Thơ mới như: tính chỉnh thể, độc giả của Thơ mới…

Chương 2: Những yếu tố tác động và những quan điểm tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Trong chương này, thông qua việc trình

bày những yếu tố có ảnh hưởng đến môi trường tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam như: Sự thay đổi chất liệu hiện thực; Sự xuất hiện của đội ngũ sáng tác mới; Sự xuất hiện của các chủ nghĩa, trào lưu mới; Bối cảnh truyền thông Chúng tôi sẽ chỉ

ra những quan điểm tiếp nhận Thơ mới tiêu biểu, đặc biệt là những ý kiến “kháng cự” Thơ mới của các thành viên nhóm Sáng tạo Đồng thời, mở rộng ra để cho thấy những đóng góp của Thơ mới với âm nhạc miền Nam giai đoạn 1954-1975 với tư cách tiếp nhận lẫn nhau giữa các loại hình nghệ thuật

Chương 3: Những tác giả Thơ mới được quan tâm tiếp nhận giai đoạn 1954-1975 Ở chương này, chúng tôi sẽ giới thiệu các tác giả nổi bật được quan

tâm tiếp nhận trong giai đoạn 1954-1975 căn cứ theo nguồn tư liệu thu thập được.Đồng thời, thực hiện việc phân loại các nguồn tài liệu đó trên hai hướng tiếp nhận chính là cuộc đời và tác phẩm Trong đó, Hàn Mặc Tử và Bích Khê là hai tác giả nổi bật được trình bày kỹ

Trang 17

CHƯƠNG 1 TIẾP NHẬN VĂN HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

TRONG TIẾP NHẬN THƠ MỚI

1 Tiếp nhận văn học – một phạm trù của Lý luận văn học

Trước khi đi vào những nội dung quan trọng của đề tài, chúng tôi xin đượcđiểm qua các nội dung cơ bản xoay quanh lý thuyết tiếp nhận Đây được xem là nền tảng, cơ sở để chúng tôi có thể vận dụng chúng trong các phần sau, bao gồm những vấn đề về khái niệm, mục đích, tính chất, đối tượng, mối quan hệ giữa cácđối tượng trong tiếp nhận văn học

1.1 Khái niệm Tiếp nhận văn học

Có thể nói, kể từ khi khái niệm “Tiếp nhận văn học” được đưa ra, nó đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm, thu hút đối với giới nghiên cứu Một mặt, những vấn

đề tồn tại trong khái niệm này đã cho thấy ý nghĩa của nó trong vai trò khẳng định giá trị đích thực của tác phẩm văn học, mặt khác nó cũng mở ra những hướng nghiên cứu mới, giúp giới nghiên cứu bổ sung những điều còn thiếu sót của các vấn đề lý luận từ trước đó Trải qua một thời gian dài, khái niệm này ngày càng

được hoàn thiện theo sự vận động và đổi mới không ngừng của khoa học văn học Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi sẽ không đi sâu vào tất cả các khái niệm mà chỉ xin đưa ra một số khái niệm làm cơ sở phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu

Trong bài viết “Tiếp nhận - bình diện mới của Lý luận văn học” trong công trình “Lý luận và phê bình văn học” (giải thưởng văn học hội nhà văn Việt Nam

năm 1977), Trần Đình Sử đưa ra định nghĩa Tiếp nhận văn học là “một lĩnh vực rộng lớn của lý luận văn học đang còn để ngỏ Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn: sáng tác và tiếp nhận, thì bản thân sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lý luận văn học Nếu lịch sử sáng tác tác phẩm chỉ tính hằng

Trang 18

năm, chục năm, thì lịch sử tiếp nhận phải tính đến thế kỷ hoặc lâu hơn nữa, thậm chí suốt thời gian tồn tại của loài người” [55, 140] Trong định nghĩa này, điều quan trọng mà chúng ta có thể nhận thấy đó là chính là tác giả đã nhấn mạnh đến yếu tố thời gian trong quá trình tiếp nhận văn học, đồng nghĩa với việc xem nó như một quá trình gắn với lịch sử Ở đó, tác giả chia hoạt động của nhà văn thành hai

bộ phận lớn là sáng tác và tiếp nhận Đối với sáng tác, thời gian hoàn thành tác phẩm có thể kéo dài nhưng vẫn có điểm giới hạn của nó Còn tiếp nhận thì ngược lại, đó có thể là một quá trình dài vô hạn gắn liền với sự biến đổi của xã hội loài người Nhìn chung, nội hàm của định nghĩa này vẫn mang tính bao quát, chưa chỉ

rõ về đối tượng và các đặc trưng chuyển hóa giữa các đối tượng trong quá trình tiếp nhận Song, nó cho thấy vai trò quan trọng của tiếp nhận trong đời sống của bất kì nền văn học nào Từ đó, chúng ta cần ý thức bổ sung nó qua mỗi chặng

đường phát triển của khoa học

Tiếp theo định nghĩa của Trần Đình Sử, chúng tôi xin giới thiệu một khái niệm

khác Trong Từ điển thuật ngữ văn học, “Tiếp nhận văn học” được định nghĩa là:

“Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ

sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan điểm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể… Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm

mà được mở rộng vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực thụ cảm, tư duy” [1] Qua định nghĩa này, tiếp nhận văn học có thể xem là quá trình tiếp xúc tác phẩm của người đọc

[1] Dẫn lại từ công trình Tình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau

1986, công trình nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp.HCM.

Trang 19

Định nghĩa nêu rõ mục đích của quá trình tiếp nhận cũng như những yêu cầu giúp người đọc có thể đạt đến mục đích của quá trình đó Đồng thời, nó còn cho thấy vai trò của tác phẩm văn học như một điều kiện tiên quyết để quá trình tiếp nhận có thể diễn ra, gồm các yếu tố cấu thành giá trị và sức hấp dẫn của tác phẩm Điều này cho thấy, mọi đánh giá, nhìn nhận từ độc giả có khả năng quyết định đến việc sống còn của tác phẩm.

Vừa rồi, chúng tôi đã điểm qua hai khái niệm về Tiếp nhận văn học Trong

đó, mỗi khái niệm đều có nội hàm khác nhau gắn liền với cách nhìn của từng tác giả Điểm chung của hai khái niệm này là đã chỉ ra vai trò của tiếp nhận văn học trong đời sống văn học cá nhân cũng như đời sống văn học cộng đồng Nó nhắc nhở chúng ta trong việc nghiên cứu cần lưu ý để tránh thiếu sót và chủ quan khiđánh giá một tác phẩm hoặc cả giai đoạn, thời kì văn học Bên cạnh đó, chúng tôi cũng xin lưu ý, một số công trình khoa học hiện nay không dùng khái niệm “Tiếp nhận văn học” mà thay thế chúng bằng khái niệm “Tiếp nhận thẩm mỹ” Điều này hoàn toàn không có gì sai, chỉ có điều phạm vi sử dụng khái niệm “Tiếp nhận thẩm mỹ” vẫn hẹp hơn khi chỉ nhắc đến một bộ phận độc giả tiếp nhận ở một mức cao, với ý thức nghệ thuật thật sự nhằm đạt đến thấu suốt các giá trị của tác phẩm

Trong đó, “đồng sáng tạo” là kết quả cao nhất của quá trình tiếp nhận này

1.2 Mục đích của Tiếp nhận văn học

Nếu tiếp nhận là quá trình giao tiếp và thu nhận những thông tin nói chung thì tiếp nhận văn học là quá trình người đọc giao tiếp với văn bản để đạt đến khoái cảm thẩm mỹ nhất định

Ở đây, khoái cảm thẩm mỹ được hiểu theo nghĩa đó là sự thấu suốt, thỏa mãn của người đọc trong việc tiếp thu những giá trị mà tác phẩm phản ánh Tuy nhiên, thực tế không phải ai cũng có thể đạt đến khoái cảm thẩm mỹ trong quá trình tiếp nhận Nguyên nhân bắt nguồn từ chính chủ thể tiếp nhận, bằng năng lực

và nhu cầu tiếp xúc tác phẩm của riêng mỗi người, họ có cho mình sự thụ cảm khác nhau về tác phẩm Trong đó, chúng ta cần suy xét về các yếu tố bên trong và

Trang 20

bên ngoài tác động đến chủ thể tiếp nhận Về các yếu tố bên trong, ta cần lưu ý các vấn đề về kiến thức, kinh nghiệm sống, khả năng rung cảm, sự đồng điệu… có ảnh hưởng rất nhiều đến sự tiếp nhận của người đọc Các yếu tố này càng “chín” thì khoảng cách đạt đến khoái cảm thẩm mỹ càng thu hẹp Bên cạnh đó, quá trình tiếp nhận của họ diễn ra trong một môi trường thuận lợi; tức là một môi trường tiếp nhận cân bằng về mặt tâm lí, tránh các tác động tư tưởng cùng một tinh thần nghệ thuật nghiêm túc thì việc tiếp nhận sẽ đạt hiệu quả cao Trong đó, người đọc có thể

dễ nhận thấy những rung cảm chân thành, sâu sắc cũng như dễ dàng giao tiếp gián tiếp cùng tác giả thông qua những nội dung và hình thức mà tác phẩm biểu hiện Khác với lớp người đọc với mục đích như trên, những lớp người đọc khác tìm đến tác phẩm với mục đích giải trí hoặc chỉ đơn giản muốn đọc để quên đi thời gian thì trong những trường hợp này, ta vẫn thấy có sự giao tiếp với tác phẩm nhưng việc thu nhận các giá trị của nó có thể suy giảm rất nhiều Bên cạnh đó, việc tiếp nhận của họ có thể không nghiêm túc, hời hợt dẫn đến hệ quả là việc đánh giá sai lệch về giá trị của tác phẩm

Bên cạnh việc tiếp nhận văn học của mỗi cá nhân, đối với lịch sử văn học lại

mang một ý nghĩa khác Trong công trình nổi tiếng Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, Hans Robert Jauss có viết: “Cái phương thức

thực hiện, thực hiện quá mức hoặc không làm thỏa mãn hay đánh lừa những mong đợi của công chúng đầu tiên trong giây phút lịch sử mà một tác phẩm văn học xuất hiện, sẽ đưa ra những tiêu chí rõ ràng cho việc xác định giá trị thẩm mỹ (tức quyết định tính chất nghệ thuật của tác phẩm)” [26] Ở nhận định trên, ta thấy H Jauss nhấn mạnh đến vai trò lịch sử của người đọc Đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng vai trò đó phụ thuộc vào cộng đồng, tức số đông sự ủng hộ của công chúng,

đây là một luận điểm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận văn chương hiện đại Với quan điểm trên, H Jauss đưa ra một cách nhìn toàn diện, nếu tác phẩm không mang đến sự “thỏa mãn” hay “đánh lừa những mong đợi” của công chúng thì nó sẽ chết đi ngay lập tức hoặc tồn tại chỉ trong một thời điểm Ngược lại, chỉ có những tác phẩm đủ “tiêu chí” của người đọc, tức đảm bảo “tính nghệ thuật” thì mới có thể

Trang 21

bền bỉ với thời gian Ở đây, thuật ngữ “công chúng” của H Jauss có thể hiểu đó là chỉ toàn bộ các chủ thể tiếp nhận văn học bao gồm người sáng tác, nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình, người giảng dạy, người đọc bình dân… Qua đó, mục đích của tiếp nhận văn học không đơn thuần chỉ đi tìm và lý giải những đặc trưng tiếp nhận trong từng cá nhân mà đó còn là quá trình nhằm đạt đến sự thống nhất, tiếng nói chung của cộng đồng Ngoài ra, với chức năng trao đổi, tiếp nhận văn học còn

có vai trò như một cầu nối giữa các nền văn hóa với nhau thông qua việc tiếp nhận qua lại giữa những tác phẩm của văn hóa truyền thống này với một xã hội, truyền thống văn hóa khác Đây cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học nhân loại

1.3 Tính chất của Tiếp nhận văn học

Ngôn ngữ văn học không phải là loại ngôn ngữ bình thường mà là ngôn ngữ nghệ thuật được trau chuốt cẩn thận qua quá trình sáng tạo nghiêm túc của nhà văn Chính loại ngôn ngữ ấy mang trong nó rất nhiều hàm ý, đòi hỏi người tiếp nhận phải bắt đầu quá trình tưởng tượng, suy luận, trực giác thì mới có thể hiểu

được tác phẩm Qua đó, người đọc có thể đi đến kết luận cho riêng mình về việcđồng tình hoặc phản đối về những gì tác phẩm biểu hiện Tuy nhiên, do năng lực ở mỗi người là khác nhau nên sự hiểu về tác phẩm cũng khác nhau, thậm chí đôi khi người đọc rút ra kết luận hoàn toàn sai lệch Trong trường hợp này, chúng ta cần phải suy xét về tính chất của tiếp nhận văn học để có nhận định đúng mực

Trước tiên, chúng tôi xin bàn về tính khách quan của tiếp nhận văn học

Trong một thời gian dài, tiếp nhận văn học được xem như một hoạt động cá nhân, chủ quan thuần túy Luận điểm này xuất phát từ quan điểm người ta cho rằng việc tiếp nhận chỉ dừng lại ở số ít cá nhân mang tính đặc thù, có khả năng hiểu được ý nghĩa của tác phẩm Tuy nhiên, thực tế cho thấy không căn cứ nào để khẳng địnhđược điều đó Hơn nữa, việc thu hẹp đối tượng tiếp nhận trong những cá nhân đặc thù mà quên đi ngôn ngữ là phương tiện sáng tác mang tính phổ biến cho những ai

có khả năng tiếp xúc với nó là cách nhận định phiến diện, cực đoan Bởi vì, nhà

Trang 22

văn sáng tác tác phẩm bao giờ cũng dựa trên hiện thực đời sống và dùng ngôn ngữ

để biểu đạt tư duy Do vậy, bất kì ai tồn tại trong xã hội, đều có thể bằng cách nhìn khách quan của xã hội ấy để tiếp cận với tác phẩm

Về mặt văn bản, tác giả M Epstein trong Giản yếu bách khoa văn học

(1978) viết: “Sự cắt nghĩa dựa trên tính “mở”, tính nhiều nghĩa của hình tượng nghệ thuật, là cái đòi hỏi phải có nhiều vô hạn cách cắt nghĩa để bộc lộ bản chất của nó và đảm bảo khả năng về một đời sống lịch sử lâu dài, được phát triển thêm các ý nghĩa mới” [1] Trong nhận định này, tác giả nhấn mạnh văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại những lớp nghĩa cần được khám phá và nó hoàn toàn có thểđược bổ sung qua thời gian Điều này cho thấy, văn bản bao giờ cũng mang tính gợi mở, nó không phải là khuôn khổ chỉ cho vài người nhận ra ý nghĩa của nó Hơn nữa, mọi sự cắt nghĩa trong văn bản đều bị cái được cắt nghĩa qui định: ngôn từ, thể loại, cấu trúc, bộ phận và chỉnh thể Suy cho cùng, văn bản chính là nơi giúp người đọc đào sâu thêm những tầng nghĩa mới mà đôi khi chính bản thân người sáng tác ra nó trước đó cũng không nhận thấy được

Thứ hai, tiếp nhận văn học mang tính xã hội Điều này dường như quá rõ

ràng khi những vấn đề mà văn học đề cập phần nhiều gắn liền với thực tế, phản ánh tinh thần chung của xã hội Sự phản ánh đó dẫn đến sự đồng cảm giữa những

cá nhân trong xã hội khi tiếp xúc với cùng một tác phẩm Ngay cả những người sáng tác, sự đồng cảm này có thể nhận thấy được khi những các sáng tác của họ có dấu hiệu tương đồng, dù cho chúng ra đời rất khác nhau về mặt không gian lẫn thời gian

Một đặc tính xã hội nữa trong tiếp nhận văn học mà ta có thể kể đến, đó chính là quyền tự do lựa chọn tác phẩm mà họ yêu thích Dù sự hiểu lúc đó của họ với tác phẩm được lựa chọn chưa thật sự đầy đủ, nhưng nhờ vào thời gian, sự trưởng thành cùng kinh nghiệm tích lũy qua những thay đổi trong đời sống xã hội,đến lúc nào đó, họ sẽ có hiểu ra ý nghĩa của tác phẩm

[1]: Dẫn lại từ bài viết Lý thuyết tiếp nhận và phê bình văn học (Tạp chí Sông Hương số 124,

tháng 06/1999) của Trần Đình Sử.

Trang 23

Từ đây, chúng tôi thấy có thể khẳng định môi trường xã hội và tính cách cá nhân sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn tác phẩm Vì vậy, khi đánh giá tác phẩm phải căn cứ trên đối tượng tiếp nhận gắn liền với hoàn cảnh xã hội Nếu tiếp nhận mà bỏ qua yếu tố này thì đôi khi tác phẩm sẽ bị phán xét một cách vô căn cứ.

Do vậy, có những tác phẩm ra đời từ lâu nhưng vẫn được tiếp nhận từ mọi người, chính vì nó vẫn mang một ý nghĩa xã hội nhất định Tuy nhiên, trong trường hợp nếu tính xã hội này trở nên quá ràng buộc, gay gắt thì chính nó cũng gây nên một lực cản nhất định đối với việc phổ biến tác phẩm; giống như việc một số tác phẩm được phép tiếp nhận trong môi trường xã hội này nhưng không được phép tiếp nhận trong môi trường xã hội khác, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu “đón đợi” của người đọc Còn riêng với người viết, dù sự chi phối của nó có tồn tại thế nào thì chung quy,

nó mang một sứ mệnh quan trọng hơn là duy trì hoặc thiết lập các mối quan hệ xã hội bình thường, phổ biến giữa con người với con người thông qua một đối tượng văn chương xác định Ở đó, giá trị tác phẩm như sợi dây liên kết để phát triển nhân cách con người Do vậy, chỉ có những tác phẩm có tinh thần, có nội dung đẹp và hình thức mới mẻ thì mới tồn tại Ngược lại, sáng tác không phù hợp,

đi ngược lại với tinh thần xã hội, trái với thuần phong mỹ tục thì tự nó sẽ đào thải

Thứ ba, chúng tôi muốn đi sâu vào một tính chất mà theo chúng tôi, nó

đóng vai trò quan trọng trong tiếp nhận văn học Đó là tính sáng tạo Sáng tạo

trước hết có thể hiểu đó là quá trình tìm ra cái mới nhưng cái mới đó phải là cái mang lại giá trị hữu ích Trong đó, người đọc với danh nghĩa là người “đồng sáng

tạo” Theo công trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên, khái niệm “đồng

sáng tạo” được định nghĩa “là hoạt động cùng sản xuất sản phẩm tinh thần với tác giả, hoàn thành chu trình sản xuất mà tác giả đã khởi đầu, và chủ yếu là nói sựđồng thể nghiệm, đồng cảm, cùng biểu diễn để làm sống dậy cái điều nhà văn muốn nói” [40, 228] Ở định nghĩa này, vai trò của người đọc được đề cao ngang bằng với quá trình sáng tác ban đầu của nhà văn Trong đó, đồng sáng tạo được xem như một công việc thực thụ, một điểm chốt quan trọng trong toàn bộ chu trình sản xuất một tác phẩm Điều đó nói lên rằng, nếu như không có sự đón nhận, khai

Trang 24

mở của độc giả đối với tác phẩm thì mọi ý nghĩa từ tác phẩm dường như bị khước từ Theo đó, sự đồng sáng tạo rất cần một thái độ nghiêm túc và khách quan, mà theo cách nói của Roman Ingarden thì: “Người đọc là người đồng sáng tạo nên họ cũng phải nỗ lực ngang bằng với nhà văn” Ngoài ra, chúng tôi cũng xin lưu ý, quá trình đồng sáng tạo có thể đạt đến nhiều cấp độ khác nhau tùy theo năng lực của mỗi người Tuy nhiên, nói cho đúng thì “sáng tạo” là hiểu tác phẩm chứ không phải sáng tạo ra một tác phẩm mới Người đọc có thể là công chúng bình dân với những cách cảm mới

mẻ từ tác phẩm, cũng có thể là các nhà lý luận phê bình với nhiều sự lí giải trên nền tảng khoa học để tìm ra điểm hạn chế và nổi trội của tác phẩm hay chính bản thân những người sáng tác, họ vẫn tiếp nhận tác phẩm lẫn nhau để mở mang tầm nhìn, để đồng cảm, để học hỏi, phóng tác… Do vậy: “Văn bản văn học như là lá thư bỏ vào cái chai nút kín, sau khi tác giả thả cái chai xuống nước thì anh ta hiểu rằng từ phút đó sự cắt nghĩa thông điệp của anh ta không còn tuỳ thuộc vào ý đồ của anh ta nữa, cũng như không phụ thuộc vào ý đồ của cá nhân người nhận nào đó Văn bản từ đây như là khả năng mời gọi đối với một cộng

đồng người đọc” (Umberto Eco) [1] Vậy nên, người đọc hoàn toàn có khả năng và tự

do trong đồng sáng tạo với tác giả và tác phẩm Và những kết luận rút ra từ sự

đồng sáng tạo đó có thể quyết định đến sự sống hoặc cái chết cho tác phẩm Do vậy, người đọc phải luôn tỉnh táo trong quá trình tiếp nhận, tránh làm giảm đi giá trị vốn có của tác phẩm

Cuối cùng, tiếp nhận văn học mang tính lịch sử Đây là một tính chất hiển

nhiên khi tiếp nhận văn học vận động theo quy luật khách quan của lịch sử, tồn tại trong các thời kì lịch sử khác nhau, mang bản chất xã hội và bị định đoạt thông qua quá trình tiếp nhận của người đọc Chính điều này đã làm cho “tác phẩm văn học

có một đời sống lịch sử và số phận lịch sử của nó Có những tác phẩm hiển hách

[1]: Trương Đăng Dung, Tác phẩm văn học như là quá trình (2004) Dẫn lại nhận định của Umberto Eco trong bài Một quan niệm về tác phẩm văn học dưới ánh sáng mới của khoa học

nghiên cứu văn học của Nguyễn Thanh Tuấn.

Trang 25

một thời, rồi sau bị lãng quên, trong số đó có tác phẩm sẽ được nhớ lại vào lúc khác, còn phần khác sẽ bị chìm đi mãi mãi Có tác phẩm được tiếp nhận lúc đầu khó khăn, nhưng sau lại có vị trí vững vàng” [40, 229] Do vậy, có thể nói, khi tác phẩm ra đời, bản thân nó chỉ là một nửa được công nhận, phần còn lại chính là đời sống lịch sử mà nó phải trải qua Đó là khoảng thời gian rất dài, thông qua sự tiếp nhận từ nhiều phía, vượt lên những biến cố lịch sử, nó mới được vinh danh như là một kiệt tác thực sự Do vậy, tính lịch sử của tiếp nhận văn học thực chất như một quá trình “chọn lọc tự nhiên” của vô số tác phẩm Điều này cho thấy, chỉ có những tác phẩm thật sự có gía trị thì mới tồn tại, ngược lại những tác phẩm hời hợt, sáo rỗng sẽ bị lãng quên Điều đó như một bài học được báo trước cho những ai dấn thân trên con đường sáng tạo nghệ thuật Đồng thời, qua hành trình lịch sử lâu dài này, sáng tác văn học mới bộc lộ hết những giá trị tiềm tàng của nó.

1.4 Đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng trong tiếp nhận văn học

Tiếp nhận văn học là một quá trình với sự tham gia của nhiều đối tượng Dù trực tiếp hay gián tiếp thì các đối tượng này luôn có một vị trí, vai trò nhất định của mình Đôi khi giữa chúng cũng có sự chuyển hóa với nhau làm cho thế giới tiếp nhận trở nên phức tạp và đa dạng Do vậy, để hiểu rõ hơn về tiếp nhận văn học, chúng tôi xin được điểm sơ qua về các đối tượng có liên quan đến quá trình này; bao gồm tác giả, tác phẩm và người đọc

1.4.1 Tác giả văn học

Có thể nói, tác giả là một đối tượng quan trọng, mở đầu cho quá trình tiếp nhận Nếu không có tác giả thì sẽ không có tác phẩm, mà không có tác phẩm thìđiều kiện cho tiếp nhận cũng không thể diễn ra Vì vậy, việc nhận thức về tác giả

và vai trò của họ trong lý luận văn học từ trước đến giờ vẫn luôn được đề cao Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học và những thay đổi mang tính xã hội, cách hiểu về “tác giả” có phần được bổ sung để ngày càng hoàn thiện Nói như vậy, để

Trang 26

thấy rằng, tác giả đã là một khái niệm vô cùng phổ biến, nhất là với những ngườiđang hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ.

Theo nghĩa rộng, tác giả được hiểu là người sáng tác nên tác phẩm nghệ thuật mang tính sáng tạo và độc đáo Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi sẽ không hướng đến tác giả nói chung mà cụ thể hóa khái niệm này bằng khái niệm

“tác giả văn học” để chỉ rõ nhóm đối tượng sáng tác trong lĩnh vực mà người viết

đang nghiên cứu Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), NXB Giáo dục, 2010) định nghĩa tác giả văn học “là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học

Về thực chất, tác giả văn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới Sự bắt chước, mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặc sáng tác không

có bản sắc, không làm nên tác giả văn học đích thực” [1] Với cách định nghĩa này,

ta có thể thấy tác giả văn học chính là người sáng tác ra tác phẩm ngôn từ có giá trị Trong đó, vai trò của việc sáng tạo được đề cao và là yếu tố chính giúp xácđịnh năng lực của tác giả cũng như giá trị tiềm ẩn của tác phẩm Đồng thời, định nghĩa này còn nêu lên phần nào quan điểm về tác giả văn học chân chính, rằng người đó phải được thẩm định qua tài năng và hành vi sáng tác

Còn trong Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (NXB Thế giới,

2004), chúng ta lại được tiếp cận với một cách định nghĩa khác về tác giả văn học, đó

là “người sáng tạo ra các giá trị văn học mới; bằng cách đó và bằng bản sắc sáng tạo của mình, tác giả văn học là một đơn vị, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, một “gương mặt” không thể thay thế, tạo nên “diện mạo” chung một thời kì hoặc một thời đại văn học” [2] Ở đây, Từ điển văn học cũng định nghĩa tác giả văn học gắn liền

với công việc sáng tạo ra “giá trị văn học mới” Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy tác giả văn học ở đây đã được nâng lên tầm cao hơn Trong đó, định nghĩa tập trung nhấn mạnh vai trò lịch sử của họ trong tiến trình văn học; rằng mỗi

[1], [2]: Dẫn lại từ công tr ìnhTình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau 1986, c ông trình nghiên cứu khoa họ c sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quố c gia Tp.HCM.

Trang 27

cá nhân tác giả dù mang một phong cách khác nhau nhưng đó là điểm nổi giúp xácđịnh sự vận động của văn học trên mỗi chặng thời gian, là yếu tố góp nên sự đa dạng và phong phú cho mỗi nền văn học Bên cạnh hai định nghĩa vừa nêu ở trên, chúng tôi xin giới thiệu một định nghĩa khác về tác giả văn học mà theo chúng tôi,

nó có phần phù hợp hơn trong thời đại ngày nay Trong cuốn từ điển nước ngoài A Glossary of literary terms (seventh edition) (M.H Abrams, Harcourt college publishers), tác giả văn học được định nghĩa “là những cá nhân sử dụng năng lực trí tuệ và trí tưởng tượng của mình, dựa vào kinh nghiệm sống để sáng tạo một tác phẩm văn học đặc sắc của riêng họ Các tác phẩm này, dù là bản thảo viết tay hayđánh máy, vẫn chỉ duy nhất một văn bản được thừa nhận là tác giả - người đã sáng tạo ra nó, ngay cả khi họ nhượng quyền xuất bản và lợi nhuận từ các bản in của tác phẩm cho người khác Và nếu như tác phẩm văn học đó trở nên vĩ đại thì tác giả, người đã sáng tạo ra nó sẽ được dành cho một địa vị văn hóa xứng đáng và đạtđược danh tiếng lâu dài” [1] Ở định nghĩa này, ngoài việc khẳng định tác giả là người có khả năng sáng tạo thì nó còn đề cập đến một vấn đề quan trọng đó là quyền tác giả (Copyright) Đây có thể được xem là yếu tố quan trọng trong việc thừa nhận và bảo hộ công sức sáng tạo miệt mài mà tác giả đã bỏ ra Nhất là khi thị trường xuất bản, học thuật ở nhiều nơi có dấu hiệu như sao chép, in lậu tràn lan,ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của tác giả Qua đó, định nghĩa này thể hiệnđược tính hai chiều, rằng việc thừa nhận phải đi đôi với bảo hộ, điều đó không chỉ giúp văn học có thể phát triển trong môi trường nghệ thuật lành mạnh mà còn góp phần thúc đẩy xã hội ý thức hơn về vấn đề sở hữu trí tuệ (Intellectual property)

[1]: Dẫn lại từ công tr ìnhTình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau

1986, c ông trình nghiên cứu khoa họ c sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quố c gia TPHCM.

Trang 28

1.4.2 Tác phẩm văn học

Trong lý luận văn học, tác phẩm cũng là một trong những đối tượng được quan tâm nghiên cứu Với tư cách là một chỉnh thể phức tạp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, tác phẩm văn học cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

(chủ biên), NXB Giáo dục, 2010), tác phẩm văn học được định nghĩa “là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái

độ của chủ thể trước thực tại Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thểđược viết bằng văn vần hay văn xuôi” [1] Ở định nghĩa này, tác phẩm văn họcđược nhận diện qua hai đặc điểm chính là đặc trưng và phương thức tồn tại của nó

Về đặc trưng, nó phải là sáng tác nghệ thuật về ngôn từ chứa đựng một nội dung thẩm mỹ nhất định, về phương thức nó có thể là truyền miệng hoặc văn bản được ghi lại

Trong Từ điển văn học (bộ mới) Đỗ Đức Hiểu chủ biên, NXB Thế giới, 2004),

tác phẩm văn học còn được hiểu “là phát ngôn phức hợp của người sáng tác ra nó; là

sự phản ánh, khúc xạ, vang hưởng, dự cảm… của đời sống hiện thực; là

đối tượng tích cực của sự tiếp nhận (cảm thụ) văn học” [2] Ở đây, tác phẩm văn học được hiểu với tư cách như một đại diện phát ngôn cho người sáng tác, đồng thời là một chỉnh thể đưa đến sự tiếp nhận ở người đọc Trong đó, tác phẩm thể hiện vai trò trung gian của mình, là cầu nối giữa người sáng tác với người đọc

Ngoài hai khái niệm trong hai quyển Từ điển quen thuộc vừa nêu, Giáo trình

Lí luận văn học tâp 2 (Tác phẩm và thể loại văn học) do Trần Đình Sử chủ biên, NXB

Đại học Sư phạm, 2010 cũng đưa ra một cách hiểu về tác phẩm văn học mà chúng tôi cho là bao quát hơn “đó là sản phẩm sáng tạo vừa tinh thần, vừa vật

[1], [2]: Dẫn lại từ công tr ìnhTình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau 1986, c ông trình nghiên cứu khoa họ c sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quố c gia TPHCM.

Trang 29

chất, vừa là sáng tác của nghệ sĩ, nhưng đồng thời vừa có sự đồng sáng tạo của người hưởng thụ, tiếp nhận” [1] Ở đây, tác phẩm văn học được đặt trong mối quan

hệ nhiều mặt, với chu trình chuyển tiếp từ sáng tác đến tiếp nhận, nó được sinh ra

từ tác giả nhưng chịu sự tác động của độc giả

Có thể nói, dù được hiểu theo cách nào thì tác phẩm văn học bao giờ cũng

là một thực thể hoàn chỉnh và phức tạp Đồng thời, nó phải có sự thống nhất chặt chẽ giữa hai yếu tố là nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật Ở đó, bằng sự sáng tạo của riêng mình, tác giả là người làm ra tác phẩm văn học với nhiều giá trị.Qua đó, nó có khả năng đem đến cho con người những nhận thức mới, những tình cảm mới giúp con người cân bằng cảm xúc, biết cảm thụ cái đẹp và sống có ích

1.4.3 Người đọc

So với tác giả văn học và tác phẩm văn học, người đọc là một đối tượng quan trọng được nghiên cứu kĩ lưỡng trong tiếp nhận văn học Tuy nhiên, do đặc trưng đa dạng, đông đảo và chịu ảnh hưởng của bối cảnh, tư tưởng, văn hóa, xã hội… Người đọc cũng là một đối tượng phức tạp rất khó định nghĩa Trong một thời gian dài, người ta chỉ hiểu người đọc đơn thuần là một cá nhân có “hành vi đọc” Điều này làm cho vai trò người đọc trở nên mờ nhạt hoặc tách rời mối quan

hệ với tác giả và tác phẩm Cho đến khi phân ngành Mỹ học tiếp nhận ra đời, nó đã

làm thay đổi nhận thức của giới nghiên cứu về vấn đề này

Khi nhắc đến Mỹ học tiếp nhận, ta không thể không đề cập đến hai đại diện tiêu biểu của học thuyết này là Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser Ở H Jauss, hai vấn đề chính mà ông đưa ra được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đó là các vấn đề xoay quanh khái niệm “tầm đón đợi” và việc đề xuất viết lại lịch sử văn học

từ phía người tiếp nhận Trong đó, việc hiểu rõ khái niệm tầm đón đợi là một mấu chốt quan trọng để có thể giải thích vì sao H Jauss lại quan tâm đến người đọc và

Trang 30

[1]: Dẫn lại từ công tr ìnhTình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau 1986,

c ông trình nghiên cứu khoa họ c sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học Khoa học xã

hội và Nhân văn – Đại học Quố c gia Tp.HCM.

xem họ như một cơ sở viết lại lịch sử văn học Tuy nhiên, việc thống nhất trong cách hiểu về khái niệm này là không dễ dàng Trong thực tế có rất nhiều cách hiểu

và triển khai khác nhau từ các nhà nghiên cứu Có người cho đó là khả năng ngườiđọc có thể thích ứng cùng tác phẩm trong suốt quá trình tiếp nhận, nói theo cách hiểu của Nguyễn Văn Dân, tầm đón đợi là khái niệm dùng để chỉ “một tầm hiểu biết của mình (độc giả) về mặt văn học và tầm hiểu biết đó sẽ luôn luôn thay đổi theo lịch sử và tùy thuộc vào tác động của tác phẩm được tiếp nhận” [1] Còn theo Hoàng Phong Tuấn, tầm đón đợi là “nơi chủ thể tiếp nhận thể hiện mình qua những quan hệ tương tác trong quá trình tiếp nhận: tương tác giữa kinh nghiệm văn học và kinh nghiệm sống; tương tác giữa văn bản và người đọc tạo nên sự vận động và sự

tự hiệu chỉnh nó trong quá trình đối thoại với những chỉ dẫn mà văn bản văn học gợi ra Hai quan hệ tương tác này diễn ra đồng thời, thẩm thấu vào nhau” [2]

Ở cách hiểu này, Hoàng Phong Tuấn đã cho ta thấy một sự tiên tiến, gợi mở, một chiều kích mới trong khái niệm tầm đón đợi của H Jauss Mà trong đó, độc giả là người đặt mình vào mối quan hệ với những đối tượng khác trong quá trình tiếp nhận, là người có khả năng khám phá các tầng nghĩa của tác phẩm cũng như tác động lại chúng, đồng thời là một sự kiểm nghiệm giữa giá trị của tác phẩm cũng như kinh nghiệm sống của chính họ Từ đó, khái niệm người đọc không còn là một khái niệm đơn thần như một “hành vi đọc” mà đó thật sự là một phương thức thẩm

mỹ mở ra chiều hướng nghiên cứu mới - sự tương giao giữa lý luận tiếp nhận và

mỹ học

Ngoài khái niệm tầm đón đợi của H Jauss, W Iser cũng đưa ra những khái niệm quan trọng khi nói về Mỹ học tiếp nhận đó là “kết cấu vẫy gọi” và “điểm trắng” Hai khái niệm này tuy tách rời nhau nhưng thực chất giữa chúng có mối quan hệ nhất định Trong đó, “điểm trắng” được hiểu đơn giản để chỉ những chỗ trống, những chỗ mở mà tác giả tạo ra trên văn bản của mình để kích thích sự tìm

Trang 31

[1], [2]: Dẫn lại từ công tr ìnhTình hình nghiên cứu Lý thuyết tiếp nhận văn học ở Việt Nam từ sau 1986, c ông trình nghiên cứu khoa họ c sinh viên năm 2012 của Lê Thị Kim Loan, Trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quố c gia Tp.HCM.

tòi, buộc người đọc phải suy ngẫm, liên tưởng mới có thể khám phá được tác phẩm Và những “điểm trắng” này là đem đến cho tác phẩm một “kết cấu vẫy gọi” Điều này cho thấy, tác phẩm văn học bản thân nó phải có khả năng đem đến sự hứng thú, phải chứa đựng nhiều tầng nghĩa mà khả năng khai mở tâm trí ngườiđọc Khi người đọc tham gia vào quá trình tiếp nhận, họ sẽ dần dần lấp được những “điểm trắng” trong tác phẩm Tuy nhiên, sự lấp đầy “điểm trắng” này có thể chính độc giả đưa họ đến một “điểm trắng” mới Do vậy, một tác phẩm văn học bao giờ cũng có vô số “điểm trắng” và không thể chỉ một ngày, hai ngày mà ngườiđọc hiểu hết tác phẩm Mà đó là một quá trình dầy công khám phá, hòa quyện vào tác phẩm với một thái độ nghiêm túc, kiên trì

Có thể nói, những khái niệm mà H Jauss và W Iser đưa ra cùng những thành quả của các nhà nghiên cứu về nó đã mở đường cho một nhận thức mới về người đọc và vấn đề Mỹ học tiếp nhận Từ đây, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa về người đọc qua sự đúc kết từ các nội dung trên:

Người đọc là cá nhân thông qua hành vi đọc để tiếp cận với tác phẩm văn học Trong đó, mọi giá trị của tác phẩm sẽ dần được khám quá thông qua quá trình tiếp nhận thẩm mỹ nhất định Đồng thời, trong cuộc gặp gỡ gián tiếp với tác giả cũng như tiếp xúc trực tiếp với văn bản, người đọc ngoài việc tiếp thu những giá trị được tìm thấy, họ còn có khả năng tác động ngược lại Điều này cho thấy, người đọc có một vai trò quan trọng trong tiếp nhận văn học, là đích đến của mọi hoạt động sáng tác cũng như kiểm định chất lượng văn chương

1.4.4 Mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - người đọc trong tiếp nhận văn học

Khi nhắc đến tiếp nhận văn học, người ta thường cho nó như một quá trình

gắn liền với người đọc Tuy nhiên, nói một cách khách quan, dù trực tiếp hay gián tiếp, tác giả và tác phẩm vẫn đóng một vai trò nhất định trong quá này Hơn nữa,

Trang 32

nếu xem sáng tác và tiếp nhận là một chu trình tiếp nối và mang tính tương tác thì giữa ba đối tượng tác giả - tác phẩm - người đọc luôn có sự chuyển hóa và nhận

thức lẫn nhau để góp nên sự tiến bộ cho văn học, đồng thời loại trừ những giá trị tầm thường ra khỏi khuôn viên của nghệ thuật chân chính

Với tác giả, quá trình tiếp nhận có một ý nghĩa nhất định đối với sự nghiệp văn học của họ Điều này xuất phát từ mục đích của sáng tác văn học là để phổ biến đến độc giả Do đó, độc giả hoàn toàn có quyền quyết định đến sự tồn tại của tác phẩm Tuy nhiên, sự quyết định này không căn cứ vào độc giả duy nhất mà căn

cứ vào số đông độc giả với nhiều lực lượng tiếp nhận khác nhau Bao gồm ngườiđọc bình dân, các siêu người đọc là người sáng tác, nhà phê bình, lí luận… Trong

đó, siêu người đọc là lực lượng mang tính quyết định nhất; họ đại diện cho lớp người đọc hội tụ nhiều ưu điểm về chuyên môn, được đào tạo, có năng lực khoa học và có tiếng nói trong cộng đồng… Đối với người sáng tác, việc tiếp nhận từđộc giả đôi khi sẽ gây ra một áp lực nhất định về dư luận Chính điều này đã đòi hỏi những người sáng tác phải luôn cho mình một tâm thế, một trách nhiệm, một sự cân nhắc trước khi đặt bút sáng tác Ngoài ra, sự đánh giá, phê bình từ nhiều lực lượng tiếp nhận sẽ giúp cho tác phẩm bộc lộ ra những cái hay cũng như những điều còn thiếu sót

Để rồi, tác giả có thể điều chỉnh hoặc định hướng lại trong các sáng tác của mình về sau Do vậy, bản thân tác giả cũng cần hình dung trước về nhóm

đối tượng tiếp nhận mà tác giả hướng tới Bởi vì, tác phẩm làm ra nếu không phù hợp với lực lượng tiếp nhận, với bối cảnh xã hội cần thiết cũng như các quy luật cơ bản của nghệ thuật có thể dẫn đến sự khó khăn hoặc thất bại ngay khi tác phẩm vừa mới ra đời

Ở đây, ta cũng nên chú ý về vai trò của tác phẩm trong tiếp nhận văn học Nếu tác giả là người làm nên tác phẩm để tạo cơ hội cho quá trình tiếp nhận diễn ra thì tác phẩm là cầu nối gián tiếp cho cuộc đối thoại giữa tác giả và người đọc.Tuy nhiên, cuộc đối thoại này là một cuộc đối thoại đặc biệt khi mọi sự giao tiếp giữa tác giả và người

đọc đều thông qua tác phẩm - văn bản nghệ thuật ngôn từ Trong

đó, mọi thông điệp tác giả gửi gắm được thể hiện dưới một thế giới ngôn ngữ đầy gợi mở, có sự tồn tại của các nhân vật, hình tượng văn học, những yếu tố về vần

Trang 33

điệu, những tình huống, xung đột… buộc người đọc phải thật am hiểu, thật tinh tếthì mới có thể phát hiện ra Chính điều này làm cho sự tiếp nhận của độc giả trở nên phong phú và không ai thống nhất với ai được Ở đó, mọi ý nghĩa tác phẩmđược khám phá thông qua trí tưởng tượng và trải nghiệm của chính độc giả Và không

ai có quyền khẳng định một tác phẩm chỉ được hiểu theo một cách mà phải phụ thuộc nên nhiều yếu tố để xác định giá trị đích thực của tác phẩm Ngoài ra, ta cũng cần lưu

ý “tác phẩm văn học là tấm gương khách quan về tầm vóc tiếng nói nghệ thuật, chiều sâu phản ánh, trình độ nghệ thuật, tài năng sáng tạo” [40, 241] Do vậy, việc đánh giá chủ quan về tác phẩm mà không căn cứ vào những điều kiện khách quan để kiểm chứng sẽ ảnh hưởng đến tác phẩm cũng như người sáng tác ra nó Đồng thời, trong cuộc giao tiếp gián tiếp giữa tác giả và người đọc, “tác phẩm tuy phải hiện diện thành văn bản, quyển sách nhưng không giản đơn chỉ là quyển sách, là văn bản ngôn từ, mà

là sự kết tinh của một quan hệ xã hội nhiều mặt” [40, 241] Nó không phải là một chỉnh thể chết lặng mà bản thân luôn vận động thông qua người tiếp nhận để có thể tồn tại Theo đó, quá trình tiếp nhận là một quá trình có thể không bao giờ kết thúc khi tác phẩm đó được lưu truyền thông qua nhiều thế hệ người đọc Từ đây, ta có thể thấy tác phẩm văn học bao giờ cũng được nhìn nhận qua góc nhìn độc giả, thậm chí họ là những người có khả năng chi phối, tác

động lại các giá trị của tác phẩm Do vậy, trong lý luận văn học hiện đại ngày nay, khái niệm tác phẩm văn học không còn được hiểu đơn giản như trước kia, mà nó là

sự kết tinh của văn bản và sự hiểu của người đọc

Bằng việc đặt tác giả và tác phẩm trong quan hệ với người đọc như những

gì đã trình bày ở trên Một mặt, chúng tôi muốn khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa ba đối tượng đó Mặt khác, chúng tôi cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm củađộc giả trong quá trình tiếp nhận Ở đó, mối quan hệ giữa chúng tuy khác nhau về vai trò nhưng không xung đột để loại trừ nhau, đó là “mối quan hệ tương tác có tính chất đối thoại, mang tính bình đẳng, không phải là một quan hệ phụ thuộc, ápđặt quyền uy lên nhau” [2, 113] Từ đó, bản thân các đối tượng tạo nên một quy luật trong sáng tác và tiếp nhận, rằng “Sự hiện hữu của tác phẩm văn học sẽ trở thành hư

vô, nếu không có sự tham dự của người đọc Bởi lẽ, vai trò của người đọc

Trang 34

không chỉ được xác lập khi văn bản mới ra đời, thoát li khỏi nhà văn để bước vào hành trình của hoạt động tiếp nhận, mà sự tham dự của người đọc đã có ngay từ khi bắt đầu hành trình sáng tạo của nhà văn” [2, 113].

2 Những vấn đề chung về tiếp nhận Thơ mới

2.1 Thơ mới – một chỉnh thể trong tiếp nhận văn học

Cũng như một cơ thể sống, Thơ mới có sự hình thành, phát triển và suy tàn của riêng nó Trải qua một chặng đường phát triển ổn định và rầm rộ trong giaiđoạn 1932-1945, Thơ mới đã kịp xây dựng cho mình một cấu trúc sinh động, riêng biệt và phức tạp Để rồi, qua giai đoạn phát triển ấy, với sự tiếp nhận từ người đọc,Thơ mới hoàn toàn được coi là một chỉnh thể hoàn chỉnh với nhiều yếu tố cầnđược xem xét

Về mặt lịch sử, Thơ mới có một địa vị nhất định của mình trong lịch sử văn

học dân tộc Sự ra đời của nó được đánh dấu từ lúc bài thơ Tình già (bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới) của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122 (10/3/1932) cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đã có tiếng vang mạnh mẽ Ngay sau đó, cuộc tranh luận giữa

lối thơ mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt Mãi đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do sự thắng thế của lối Thơ mới, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ Đường Chính từ đây, một bước chuyển mới trong lịch sử văn học dân tộcđược mở ra đúng như tên gọi của nó Thơ mới đã phá bỏ những quan niệm và khuôn mẫu mà thơ cũ đặt ra để đem đến một cách nhìn mới về con người, về thế giới thông qua một phương thức biểu đạt đầy mới mẻ Ngoài ra, nó còn mở ra conđường du nhập tinh hoa văn học phương Tây vào Việt Nam, tạo điều kiện cho thơ

ca Việt Nam có cơ hội hòa nhập, phát triển cùng Thơ ca thế giới Điều đó cho thấy,Thơ mới không đơn thuần là một phong trào thơ nhất thời mà nó thật sự là cuộc cách mạng, một bước chuyển đầy táo bạo trong sự phát triển tất yếu của lịch sử thơ ca Để rồi, khi Phong trào Thơ mới kết thúc, những tác động từ nó đã làm cho các

Trang 35

giai đoạn sau ít nhiều chịu ảnh hưởng Và vấn đề đặt ra, ở mỗi giai đoạn khác nhau, cuộc cách mạng thơ ca này được nhìn nhận như thế nào Bởi vì, chúng ta không thể nhìn nhận Thơ mới một cách đơn giản, như lời khẳng định của Trần

Đình Sử trong bài Địa vị lịch sử của Phong trào Thơ mới “Thơ mới đúng là cuộc

cách mạng thi ca vĩ đại nhất trong lịch sử thơ ca Việt Nam Nó không chỉ là cuộc hiện đại hóa, thoát khỏi thơ ca trung đại như nhiều người nghĩ, mà nó còn làm cho thơ ca Việt Nam thoát khỏi cái bóng cớm Đường luật Trung Hoa hàng nghìn năm,

nó chắp nối thơ Việt với thơ toàn thế giới, nó là cuộc cách mạng bao hàm nhiều cuộc cách mạng Trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có cuộc cách mạng nào bao chứa được nhiều cuộc cách mạng như thế” [18, 57]

Về đội ngũ sáng tác, Thơ mới đã tạo nên một không khí sôi nổi cho văn đàn thời ấy với một đội ngũ sáng tác đông đảo với nhiều phong cách khác nhau Điểm nổi bật trong đội ngũ sáng tác này là họ xuất hiện một cách liên tục, không trùng

lẫn vào nhau Về sau, Hoài Thanh trong bài “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam) đã cho ta thấy những nét đặc sắc riêng về thi phẩm của họ, ông viết:

“Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế

Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng nhưNguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị nhưChế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [65, 34] Bên cạnh những tên tuổi đã gắn bó và được sự tiếp nhận của bạn đọc qua nhiều thế hệ

mà Hoài Thanh nêu ở trên, Thơ mới vẫn còn rất nhiều tên tuổi khác đã đóng góp tài năng của mình để cho ra đời những thi phẩm xuất sắc như Nguyễn Bính, Đông

Hồ, Anh Thơ, Vũ Hoàng Chương, Tế Hanh, Thâm Tâm, Quách Tấn, Vũ ĐìnhLiên, Hồ Dzếch, Bích Khê, Tú Mỡ, Vân Đài Ở đây, chúng ta có thể nhận thấy một điều, với đội ngũ sáng tác đông và đa dạng về phong cách, sự tiếp nhận của công chúng đối với các nhà thơ mới sẽ có phần khác nhau Do vậy, khi nghiên cứu

về tiếp nhận Thơ mới, nhất là những giai đoạn sau khi Thơ mới kết thúc thì buộc chúng tôi phải căn cứ nhiều đến các tác giả được quan tâm Điều đó, giúp chúng

Trang 36

tôi thấy được nhu cầu tiếp nhận của công chúng trong sự vận động khách quan của khoa học cùng những chuyển biến mang tính xã hội.

Về mặt thành tựa, Thơ mới 1932-1945 đã để lại rất nhiều thành tựu trong lịch

sử thơ ca dân tộc Nó đã là một dấu ấn, một bước ngoặt làm thay đổi tư duy trong sáng tác; nó mang đến những nhận thức mới về thế giới, đời sống, con người; nó phá bỏ những ràng buộc, khuôn khổ mà thơ cũ đặt ra để đi tìm những lối diễn

đạt mới đầy ấn tượng và phóng khoáng; nó tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa thơ

ca, là nơi những chủ nghĩa, trào lưu sáng tác nước ngoài được phổ biến sang ViệtNam… Tuy nhiên, đối với chúng tôi, thành tựa lớn nhất mà Thơ mới mang đến là

nó đã đóng góp vào khu vườn thơ ca một cái “tôi” cá nhân hoàn chỉnh và trọn vẹn Bởi vì, quá trình đấu tranh cho Thơ mới suy cho cùng chính là cuộc đấu tranh cho cái tôi Và cái tôi đó là cái tôi đòi hỏi ở cuộc sống mọi thứ mà con người có thể khao khát Khi sở hữu được điều đó, cá tính sáng tạo của người sáng tác mới được thể hiện triệt để, nhu cầu của con người mới được đòi hỏi đúng mực Qua đó, người sáng tác có được cái bản lĩnh nói ra những gì từ chính bản thân họ suy nghĩ,

họ không còn quy về mẫu số chung hay sự quy chụp cái mà xã hội muốn mà hướng về sự đồng cảm nhiều hơn từ phía độc giả

Với những gì chúng tôi trình bày ở trên, ta có thể thấy Thơ mới đã là một chỉnh thể hoàn chỉnh bao gồm một lịch sử phát triển của riêng nó, một đội ngũ gắn liền với một khối lượng tác phẩm cũng như những thành tựa to lớn đã đóng góp cho văn học Việt Nam Hơn nữa, trong chỉnh thể của Thơ mới, nó còn chứa đựng nhiều yếu tố cấu thành, những đơn vị nhỏ hơn Điều đó làm cho Thơ mới trở thành một tâm điểm trong nghiên cứu văn học Đặc biệt, cuốn theo dòng chảy thời gian,Thơ mới ở mỗi giai đoạn được nhìn nhận một cách khác nhau, đó cũng chính là điều kiện giúp cho nghiên cứu tiếp nhận về Thơ mới nói riêng không bao giờ là cũ

mà ngày càng trở nên quan trọng khi mọi thành quả của nghiên cứu tiếp nhận sẽ là một mảnh ghép cần thiết trong bức tranh chung về lịch sử Thơ mới Ngoài ra, với vai trò là một phong trào thơ ca nổi bật, diện mạo Thơ mới hiện lên không đơn thuần của một cá nhân, một tác phẩm tiêu biểu nào mà là một phong trào của số

Trang 37

đông người sáng tác Do vậy, nghiên cứu tiếp nhận Thơ mới trong một giai đoạn nhất định, chúng tôi không thể có cái nhìn chủ quan về bất kì tác giả nào mà phải căn cứ khách quan về môi trường tiếp nhận và đối tượng tiếp nhận thời ấy Điều đó giúp chúng tôi có cách đánh giá phù hợp nhất đối với chỉnh thể tiếp nhận đầy phức tạp này.

2.2 Độc giả của Thơ mới

Vấn đề tiếp nhận Thơ mới suy cho cùng là làm rõ sự vận động của nó dưới góc nhìn của độc giả qua mỗi chặng thời gian Tuy nhiên, việc căn cứ vào loại độc giả nào cũng cần phải được suy xét Bởi vì, trong những trường hợp khác nhau, với không gian thời gian khác nhau, mỗi loại độc giả có ý nghĩa nhất định trong tiếp nhận Do đó, để tránh thiếu sót và hời hợt trong quá trình nghiên cứu đề tài ở các chương sau, chúng tôi xin lưu ý về các đối tượng tiếp nhận Thơ mới

Thứ nhất, đối tượng tiếp nhận là người sáng tác Trong trường hợp này, người sáng tác như một loại độc giả có khả năng tiếp nhận, chịu ảnh hưởng củaThơ mới nhưng cũng có thể không cùng quan điểm tiếp nhận và phản kháng lại nó

Do vậy, người sáng tác là nhóm độc giả nhìn chung là lực lượng có thái độ nhất

định với các quan điểm và phương pháp sáng tác văn học, điểm nổi bật nhất trong

sự tiếp nhận này chính là sự ảnh hưởng bởi các phong trào, trào lưu hoặc phong cách lẫn nhau

Thứ hai, đối với người tiếp nhận là nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình.Đây có thể được xem là loại độc giả quan trọng nhất, có tác động mạnh mẽ đến quá trình tiếp nhận Thơ mới Bởi vì, mọi bài viết, bài bình phẩm hay công trình của họ đều mang những giá trị khoa học nhất định Theo thời gian, lực lượng này ngoài việc cảm thụ tác phẩm, họ còn có khả năng đào sâu, khám phá những khía cạnh mới trong Thơ mới Do vậy, việc tiếp nhận của họ không chỉ đơn thuần vì thú vui

cá nhân mà còn mang ý nghĩa dẫn dắt cho sự tiếp nhận của cộng đồng Đồng

Trang 38

thời, mang đến sự điều chỉnh, định hướng cho những sáng tác sau này của các tác giả.

Thứ ba, đối tượng tiếp nhận là người đọc bình dân (công chúng, quần chúng) Với loại độc giả này, sự tiếp nhận của họ đôi khi không mang tính khách quan, khoa học Phần nhiều, họ tiếp cận tác phẩm với cách hiểu, cách cảm cá nhân Tuy nhiên, với đặc trưng chiếm số lượng đông, họ có quyền quyết định sự tồn tại của tác giả-tác phẩm, rộng hơn là cho một xu hướng, một giai đoạn hay một thời kì văn học nào đó… Đối với Thơ mới, trải qua những giai đoạn biến động khác nhau,

nó vẫn được tiếp nhận và truyền lại một cách trọn vẹn Điều này có thể lí giải bằng việc nó vẫn còn sức hút trong lòng người đọc, được phổ biến rộng rãi trong đời sống tinh thần của quần chúng Suy cho cùng, dù sự am hiểu của họ ở mức nào, mục đích tiếp cận tác phẩm ra sao thì họ vẫn là một đối tượng không thể bỏ qua trong tiếp nhận văn học

Ngày nay, khi nghiên cứu tiếp nhận văn học đương đại hay từ đương đại nhìn về quá khứ thì việc khảo sát người đọc bình dân (công chúng, quần chúng) là

việc làm không thể thiếu Tuy nhiên, với đề tài “Tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai đoạn 1954-1975” thì việc khảo sát người đọc bình dân thời ấy dường như là

không thể Hơn nữa, trong lúc xem xét các nguồn tài liệu, chúng tôi nhận thấy số lượng bài viết liên quan đến tiếp nhận của công chúng về Thơ mới thời ấy là rất hiếm hoi Do vậy, trong công trình này, chúng tôi sẽ căn cứ trên các bài phê bình, bài nghiên cứu từ các siêu người đọc là chính Bên cạnh đó, sẽ cố gắng làm rõ phần nào làm rõ sự tiếp nhận đó dưới góc độ của người đọc bình dân

Trang 39

CHƯƠNG 2 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM TIẾP NHẬN THƠ MỚI Ở MIỀN

NAM

GIAI ĐOẠN 1954-1975

1 Những yếu tố tác động đến tiếp nhận Thơ mới ở miền Nam giai

đoạn1954-1975

1.1 Sự thay đổi hiện thực đời sống

Trong lý luận văn học, hiện thực đời sống bao giờ cũng là vấn đề được quan tâm sâu sắc Nó không chỉ là yếu tố có ảnh hưởng đến sáng tác của nhà văn mà còn tác động đến quá trình tiếp nhận của người đọc Nói riêng về quá trình tiếp nhận, hiện thực đời sống không chỉ là nơi giúp chủ thể tiếp nhận có những nhận thức để tham gia quá trình tiếp nhận mà còn là nơi phản ánh rõ nhất về tinh thần và nhu cầu tiếp nhận của thời đại Do vậy, khi hiện thực đời sống thay đổi, sự tiếp nhận của độc giả cũng có thể thay đổi theo Sự thay đổi này không nhất thiết là hoàn toàn, vì hiện thực đời sống nói chung còn bị chi phối trong mối quan hệ bao gồm

đời sống cá nhân và hiện thực xã hội, giữa nhu cầu chủ quan và nhu cầu khách quan… Vì lẽ này, khi đề cập đến tiếp nhận Thơ mới giai đoạn 1954-1975, người viết không thể không nhắc đến những tác động của hiện thực đời sống

Từ năm 1954 trở đi, nước ta tiếp tục chuyển sang một cuộc chiến tranh nữa

đó là kháng chiến chống Mĩ Mặc dù, không khí chiến tranh vẫn bao trùm và không khá hơn kể từ khi giành thắng lợi trước thực dân Pháp nhưng cục diện và

Trang 40

tình hình nước ta lúc này đã có những thay đổi đáng kể Sự thay đổi này diễn ra trên khắp tất cả các phương diện như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội làm cho hoạt động tiếp nhận thời gian này chịu nhiều sự chi phối

Trong giai đoạn 1954-1975, việc nước ta chia cắt thành hai miền đã dẫn đến

sự khác biệt cơ bản trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc Ở miền Bắc, văn học tiếp tục phát triển theo định hướng và sự chỉ đạo của Đảng,đồng nghĩa văn học miền Bắc lúc bấy giờ bị chi phối và ràng buộc mạnh mẽ bởi các yếu tố về chính trị Còn ở miền Nam, bối cảnh văn học diễn ra trong một không khí hỗn độn gắn liền với một xã hội đầy phức tạp Tuy nhiên, chính điều này đã làm cho miền Nam có một môi trường sáng tác và tiếp nhận thoáng hơn nhiều so với miền Bắc Ở đó, khó lòng nhìn thấy một hướng đi tiêu biểu nào mà là

cả một sự đan xen bởi nhiều luồng tư tưởng, nhiều khuynh hướng tác động lẫn nhau Do đó, nhìn một cách khách quan, dù hoạt động văn học miền Nam lúc này chưa đi đến một sự thống nhất và ổn định, nhưng nó đã vô tình làm cho miền Nam

có nhiều điểm nổi bật, nói như cách của nhà văn Võ Phiến, “… thời kỳ văn học 1954-1975 khởi đầu và kết thúc không có chuyển tiếp Hiếm có thời kỳ văn học nào trong lịch sử được qui định giữa những điểm dứt khoát như thế Giữa hai thờiđiểm dứt khoát, tại miền Nam một nền văn học hình thành thật nhanh, phát triển tưng bừng và vội vã, rồi bị vùi dập tức tưởi Nền văn học ấy có nhiều nét đặc sắc

về phẩm cũng như về lượng, rất quí báu đối với bất cứ ai muốn tìm hiểu về đời sống của văn học Việt Nam trong thời hiện đại” [53, 17] Cũng từ ý kiến trên của

Võ Phiến, ta có thể thấy rằng giai đoạn này rõ ràng đã đã xuất hiện rất nhiều nhân

tố mới trên văn đàn, điều đó không chỉ nói đến những thế hệ mới, những sáng tác mới mà còn có cả việc nhìn nhận những vấn đề trước đó một cách khác hơn Đặc biệt, chính trong thời điểm này, nó đã phần nào làm cho việc tiếp nhận Thơ mới vẫn tiếp tục được diễn ra trong giới nghiên cứu, dù ít nhưng không mất hẳn Tuy nhiên, sự tiếp nhận này rõ ràng có một sự suy giảm dễ nhận thấy kể từ khi phong trào Thơ mới kết thúc

Cũng trong giai đoạn 1954-1975, ngoài việc đất nước bị chia cắt, sự xuất hiện của nhân tố ngoại lai trên lãnh thổ miền Nam đã phần nào ảnh hưởng đến đời

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w