1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du ký việt nam 1930 1945

146 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối thế kỷ XVIII, du ký xuất hiện rõ nét hơn trong một loạt các tác phẩm Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, H ải trình chí lược của Phan Huy Chú, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương

Trang 1

Nguy ễn Ngọc Tố Uyên

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 2

Nguy ễn Ngọc Tố Uyên

Chuyên ngành : Lí luận văn học

Mã số : 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HOÀI THANH

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Người thực hiện Nguyễn Ngọc Tố Uyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học với

đề tài Du ký Việt Nam 1930 – 1945, tôi đã nhận được sự quan tâm của Ban chủ

nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh cùng quý thầy

cô giảng dạy các chuyên đề thuộc ngành Lí luận văn học (Cao học khóa 23 – Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh) Đặc biệt, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn rất tận tình của Ts Nguyễn Hoài Thanh, người

trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu đề tài này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ts Nguyễn Hoài Thanh, Ban chủ nhiệm khoa

Ngữ Văn, quý thầy cô, các phòng ban của trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh (phòng Sau đại học, Thư viện trường) cũng như gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện Nguyễn Ngọc Tố Uyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI DU KÝ 8

1.1.Giới thuyết một số khái niệm về thể du ký 8

1.1.1 Khái niệm du ký 8

1.1.2 Một số quan niệm về thể du ký 8

1.1.3 Nhận xét 10

1.2.Khái quát về sự hình thành và phát triển của thể du ký 11

1.2.1 Thể du ký trên thế giới 11

1.2.2 Thể du ký ở Việt Nam 15

1.2.3 Vai trò của thể du ký trong văn học Việt Nam hiện đại 20

1.3.Đặc điểm của thể du ký 23

1.3.1 Du ký là thể loại có tính chất tương tác nhiều thể loại 23

1.3.2 Du ký là nơi giao nhau của tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật 27

1.3.3 Du ký là thể loại kết hợp linh hoạt giữa tự sự, trữ tình và nghị luận 28

Chương 2 DU KÝ VIỆT NAM 1930 – 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DI ỆN NỘI DUNG 32

2.1.Cảnh vật thiên nhiên và danh lam thắng tích 32

2.1.1 Cảnh vật thiên nhiên 32

2.1.2 Danh lam thắng tích 44

2.2.Hiện thực sinh động về xã hội và con người 51

Trang 6

2.2.1 Hiện thực về sản xuất và đời sống 51

2.2.2 Phong tục tập quán và tín ngưỡng 61

2.2.3 Hình ảnh con người 70

2.3.Các giá trị nổi bật 78

2.3.1 Giá trị lịch sử 79

2.3.2 Giá trị địa lý 80

2.3.3 Giá trị văn hóa 82

Chương 3 DU KÝ VIỆT NAM 1930 – 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DI ỆN NGHỆ THUẬT 85

3.1.Sự tương tác của các thể loại trong du ký 85

3.1.1 Sự tương tác giữa du ký và phóng sự 85

3.1.2 Sự tương tác giữa du ký với hình thức khảo cứu, khảo sát 88

3.1.3 Sự tương tác giữa du ký và nhật ký 91

3.2.Kết cấu nghệ thuật trong du ký 95

3.2.1 Không gian nghệ thuật đa đạng 96

3.2.2 Thời gian đa chiều 99

3.2.3 Sự linh hoạt về điểm nhìn trần thuật 103

3.3.Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm du ký 109

3.3.1 Lối văn biền ngẫu kết hợp từ Hán Việt 109

3.3.2 Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu chất thơ 112

3.3.3 Từ tiếng Việt đan xen với từ ngữ nước ngoài 114

3.4.Giọng điệu trong tác phẩm du ký 116

3.4.1 Giọng triết lý 117

3.4.2 Giọng điệu trào phúng, phê phán 119

3.4.3 Giọng tâm tình, thuyết phục 121

K ẾT LUẬN 125

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XX được mở ra với nhiều biến động trong dòng chảy văn học dân

tộc Quá trình chuyển giao giữa văn học trung đại với văn học hiện đại đã mang

lại nhiều đổi mới trong các trào lưu văn học, các quan niệm thẩm mỹ, các hình tượng nghệ thuật cũng như các chủ đề, đề tài mới Đặc biệt, trong giai đoạn giao

thời nửa đầu thế kỷ, hệ thống thể loại văn học cũng đã có nhiều biến chuyển trong việc chuyển dịch giữa các thể loại thuộc vùng biên và vùng trung tâm Một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một nền văn học chính là quá trình phát triển, phá vỡ cơ cấu thể loại của nền văn học đương thời cũng như sự tìm tòi cách tân thể loại để hướng tới một nền văn học hiện đại hơn Trong quá trình chuyển mình vươn lên, nền văn học Việt Nam cũng đã xuất hiện những sự phá vỡ và chuyển dịch như thế Các thể loại trước giờ được xem là thuộc vùng ngoại biên đã dần đi vào vùng trung tâm của văn học, đồng thời văn học nước nhà cũng đã mở cửa cho sự du nhập các thể loại mới từ nền văn học phương Tây Một trong số những thay đổi đó, có sự góp mặt rất mạnh mẽ của thể loại du

Không phải đến đầu thế kỷ XX, du ký mới được du nhập vào nước ta Thể

loại du ký, hay còn gọi là thể tài du ký đã xuất hiện trong văn học Việt Nam từ

thời trung đại, thông qua một số tác phẩm ghi chép lại những cảnh vật, sự kiện trong các cuộc du hành của những người lữ khách Cuối thế kỷ XVIII, du ký

xuất hiện rõ nét hơn trong một loạt các tác phẩm Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, H ải trình chí lược của Phan Huy Chú, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký, hay Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ… Tuy nhiên, phải

đến đầu thế kỷ XX, khi nền Văn học Việt Nam có những thay đổi nhất định về

thể loại, du ký mới được phát triển và dần trở thành một dòng chảy liên tục trong dòng sông rộng lớn của văn học dân tộc

Trang 9

Nói về hoàn cảnh xã hội, đầu thế kỷ XX, đời sống ngày càng được nâng cao, giao thông phát triển, nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền được

mở rộng đã tạo điều kiện cho du ký phát triển Với mong muốn lưu lại những cái hay của phong tục tập quán, văn hóa truyền thống và cái đẹp của danh lam thắng

cảnh, đồng thời thể hiện nỗi niềm ưu ái, những cảm xúc chân thành đối với quê hương đất nước, hàng loạt các tác phẩm du ký đã ra đời với nội dung phong phú, nghệ thuật viết đa dạng và nhiều đổi mới Hơn thế nữa, sự khuyến khích phát triển một thể loại văn học tương đối mới trên các mục của các tạp chí, các tờ báo

lớn cũng góp phần mở rộng biên độ hoạt động của du ký

Sau 30 năm được chú ý phát triển (từ năm 1900 đến 1930), du ký đã thể hiện được những ưu điểm của mình bên cạnh các thể loại văn học khác Trong những năm tiếp theo, từ 1930 – 1945, các tác giả du ký ngày càng có những tìm tòi đổi

mới về cả nội dung lẫn hình thức của thể loại này Với việc đi sâu nghiên cứu đề

tài Du ký Vi ệt Nam 1930 – 1945, chúng tôi hi vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái

quát về thể loại du ký trong văn học Việt Nam nói chung, phát hiện ra những đặc điểm nổi bật của du ký giai đoạn 1930 – 1945 nói riêng, đồng thời thấy được

sự phát triển tiếp nối của thể loại này trong quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Du ký ra đời khá sớm nhưng so với các thể loại khác như tiểu thuyết, thơ ca… thì số lượng tác phẩm chỉ chiếm một phần nhỏ trong văn học Việt Nam Chính vì thế mà các bài viết nghiên cứu về thể loại này cũng còn khá khiêm tốn

Đa số các bài viết đều chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược về du ký như:

V ề thể ký của tác giả Tầm Dương (Tạp chí Văn học, số 2, 1967) đề cập

đến du ký như một phần của ký sự;

Th ể ký và vấn đề viết về người thật việc thật của Nam Mộc (Tạp chí Văn

h ọc, số 6, 1967) đưa ra ý kiến du ký là một thứ bút ký phản ánh người, việc

và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn

Trang 10

Quá trình hi ện đại hóa Văn học Việt Nam 1900 – 1945 do Mã Giang Lân

chủ biên (Nxb Văn hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000) cũng nói đến du ký là một trong những thể loại văn học đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ

Một số ít các bài viết đề cập tới du ký một cách cụ thể gắn với tác giả và tác

phẩm như:

Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) có

bàn tới du ký trong sáng tác của Phạm Quỳnh;

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1989) cũng nhắc tới một số tác

phẩm du ký như Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký

Nói về định nghĩa du ký thì có một số cách định nghĩa trong các cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), hay 150 thu ật ngữ văn học của tác giả Lại Nguyên Ân

Về sau này, du ký mới được chú ý nhiều hơn qua hàng loạt các bài viết nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sơn như: Thể tài du ký về Hà Nội nửa đầu

th ế kỷ XX (Báo Văn nghệ quân đội, số 10, 2000), Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ đến

1945 (Tạp chí Văn học, số 8, 2007), Thể tài Du ký trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) (T ạp chí Văn học, số 4, 2007)… Song song đó nhà nghiên cứu

Nguyễn Hữu Sơn cũng dày công sưu tầm, biên soạn và giới thiệu hai bộ tuyển

tập Du ký Việt Nam, Tạp chí Nam Phong (1917 – 1934) (gồm 3 tập) và Phạm

Qu ỳnh – Tuyển tập du ký

Gần đây, du ký được chú ý đến trong một số công trình luận văn của sinh

viên cũng như các học viên cao học như: Du ký trên Nam Phong tạp chí 1934) c ủa Trần Thị Hương (Đại học Sư phạm Hà Nội), Du ký Nam Bộ nửa đầu

(1917-th ế kỷ XX của Võ Thị Thanh Tùng (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn), Thể tài du ký của Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí của Trần Thị Ái Nhi (Đại

học Quy Nhơn), Trương Minh Ký (1855-1900) và tác phẩm du ký bằng thơ

“Chư quấc thại hội” của Trần Thị Tú Nhi (Đại học Quy Nhơn)…

Trang 11

Nhìn chung, việc nghiên cứu du ký Việt Nam chỉ mới dừng lại ở những bài

viết nhỏ lẻ, chưa tập trung thành một công trình mang tính chất hệ thống Các

luận văn nghiên cứu về du ký ở một số góc độ và phạm vi khác nhau Tiếp cận nghiên cứu du ký Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, theo chúng tôi là một công trình nên thực hiện để góp phần vào việc tô đậm thêm diện mạo của du ký Việt Nam hiện đại

3 Đối tượng nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là du ký Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Các tác phẩm du ký giai đoạn này được in rải rác trên các tờ báo, tạp chí cũng như một số tuyển tập của một vài tác giả Trong đó,

phần nhiều tác phẩm được đăng trên các tạp chí và tờ báo nổi tiếng lúc bấy giờ ở

cả hai miền đất nước như An Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí, tạp chí Tri Tân, Nam K ỳ tuần báo… Chúng tôi sử dụng văn bản du ký giai đoạn này để khảo sát,

nghiên cứu, trích dẫn nhằm đánh giá về mặt giá trị nội dung lẫn nghệ thuật của

thể loại du ký Việt Nam 1930-1945 dưới góc độ lý luận, điều kiện ra đời và quá trình phát triển của du ký Những tác phẩm du ký của các tác giả khác (trước

hoặc sau giai đoạn 1930 – 1945), nếu được nhắc đến chỉ với mục đích so sánh, không phải là đối tượng nghiên cứu của luận văn

chủ biên (Nxb Văn học, 2007), bộ Du ký Việt Nam, Tạp chí Nam Phong (1917 –

1934) của tác giả Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm và giới thiệu (Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2007) và bộ Phóng sự Việt Nam 1932-1945 do Phan Trọng Thưởng,

Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Sơn chủ biên (Nxb Văn học, 2000) Đây là các công

Trang 12

trình biên soạn tập hợp khá đầy đủ các tác phẩm ký trên diện rộng Để phục vụ cho việc nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành thống kê các tác phẩm du ký thuộc giai đoạn 1930 – 1945 trong các bộ tuyển tập này, bao gồm gần 100 tác phẩm

của nhiều tác giả khác nhau (chúng tôi sẽ liệt kê các tác phẩm này trong phần

Phụ lục của luận văn) Thiết nghĩ, đây là số lượng du ký khá đầy đủ và đáng tin

cậy giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này Ngoài ra, chúng tôi còn nghiên cứu

một số tác phẩm du ký của vài tác giả khác như Lê Hữu Trác, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… với tư cách là các tác giả của giai đoạn trước, nhằm góp

phần hỗ trợ thêm cho việc nhận định, đánh giá về du ký Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945

5 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kết hợp giữa việc nghiên cứu lí thuyết thể loại với việc ứng dụng

lí thuyết ấy vào thực tiễn đời sống văn học, trong luận văn này, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu những đặc điểm của thể loại du ký Việt Nam giai đoạn 1930 -

1945 (về cả hai mặt nội dung và nghệ thuật) dựa trên những hiểu biết tổng quát

về du ký Hơn thế nữa, ký nói chung và du ký nói riêng có đặc điểm về sự mờ nhòe ranh giới cao giữa các thể loại, nên ngoài việc nghiên cứu lí thuyết thể loại nói chung, luận văn còn chú ý nghiên cứu sự tương tác giữa các thể loại (trong văn học và ngoài văn học) với thể du ký Trong một phạm vi nhất định nào đó, cũng có thể xem đây là một cách nghiên cứu sâu hơn đối với thể loại du ký Từ

những hướng nghiên cứu trên, chúng tôi hi vọng sẽ có một cái nhìn tương đối toàn diện đối với thể loại du ký ở giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nó

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp hệ thống: Đặt du ký Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 trong

tiến trình chung của du ký Việt Nam;

Trang 13

Phương pháp thống kê: Thống kê các tác phẩm du ký Việt Nam thuộc giai đoạn 1930 - 1945 để phục vụ cho việc phân tích, nghiên cứu Đồng thời, phương pháp này cũng giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn khi thực hiện phân loại du ký;

Phương pháp loại hình: Phân chia du ký thành các tiểu thể loại;

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các tác phẩm du ký, đặc

biệt là một số trường hợp các tác phẩm điển hình, từ đó tổng hợp lại để rút ra đặc điểm chung của du ký Việt Nam giai đoạn này;

Phương pháp thi pháp học: Tìm hiểu khảo sát về không gian, thời gian nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật cũng như giọng điệu của các tác phẩm

Phương pháp so sánh: So sánh du ký giai đoạn 1930 – 1945 với các giai đoạn trước đó để thấy được quá trình phát triển cũng như những đặc điểm

của thể loại du ký giai đoạn này;

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng những hiểu biết về văn hóa học, xã hội học để có cái nhìn toàn diện đối với thể loại du ký Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

Cụ thể, ở phần nội dung, chúng tôi trình bày ba chương sau:

Chương 1: Khái quát về thể loại du ký Trong chương này, chúng tôi sẽ

giới thiệu những nét cơ bản về thể loại du ký (khái niệm, các quan niệm về thể

du ký và đặc điểm của thể du ký) Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ nét về

lịch sử hình thành phát triển của thể loại du ký trên thế giới nói chung, ở Việt

Trang 14

Nam nói riêng và có cái nhìn tổng quát về vị trí, đóng góp của du ký trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Chương 2: Du ký Việt Nam 1930 – 1945 nhìn từ phương diện nội dung Ở

chương 2, chúng tôi sẽ tiến hành khai thác đặc điểm những cảm hứng, những nội dung lớn (cảnh vật thiên nhiên đất nước, con người, hiện thực cuộc sống và các phong tục, tập quán của những nơi mà các tác giả đã đi qua) cũng như những giá

trị nổi bật trong du ký Việt Nam 1930 – 1945

Chương 3: Du ký Việt Nam 1930-1945 nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trong chương này, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu những nghệ thuật tiêu biểu của các tác giả du ký trong giai đoạn này Đó là sự phát triển của ngôn từ nghệ thuật,

kết cấu không – thời gian, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và sự tương tác giữa

du ký với các thể loại khác

8 Đóng góp của luận văn

Nhắc đến du ký trong văn học Việt Nam, đã có một số bài nghiên cứu về thể

loại này ở nhiều giai đoạn, nhiều phạm vi khác nhau Luận văn là công trình nghiên cứu và đánh giá về cả hai mặt nội dung và hình thức của du ký Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 một cách khá đầy đủ và có hệ thống Đặt luận văn trong

hệ thống các công trình nghiên cứu khác về du ký, người đọc có thể có được cái nhìn đầy đủ hơn về diện mạo của thể loại du ký Việt Nam nói chung và du ký giai đoạn 1930 – 1945 nói riêng Chúng tôi hi vọng rằng công trình này cũng sẽ đóng góp hiệu quả nhất định vào việc định hướng cách đọc và hiểu một tác

phẩm du ký

Trang 15

C hương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI DU KÝ 1.1 Gi ới thuyết một số khái niệm về thể du ký

1.1.1 Khái niệm du ký

Ký là loại hình văn học có nhiều biến thể và một trong những biến thể của

ký chính là du ký Du ký là một thể loại văn học được biết đến và ưa chuộng ở nhiều quốc gia, dân tộc, nhờ vào những đặc điểm rất gần gũi với nhu cầu đời

sống của con người

Du ký trong tiếng Hán được viết là 遊記, 遊 (du) nghĩa là đi xa, rong chơi,

đi ngắm nghía cho thỏa thích, 記 (ký) là ghi chép một sự việc gì đó để không quên “Du ký” có nghĩa là sách chép các sự đã nghe, đã thấy trong khi đi chơi Như vậy bản thân cách gọi tên của thể loại văn học cũng đã cho thấy được phần

lớn đặc điểm cơ bản của thể loại đó

Trong tiếng Anh, du ký được gọi là “travel literature”, dùng để chỉ một thể

loại văn học được lấy cảm hứng từ những chuyến đi đến những vùng đất mới,

với nhiều lí do, mục đích khác nhau, từ những chuyến đi mang tính chất công cán, sự vụ cho đến những cuộc thám hiểm địa lý… Thuật ngữ “récit de voyage” trong tiếng Pháp cũng dùng để chỉ một thể loại văn học trong đó tác giả kể về

một hay nhiều những chuyến đi, về những dân tộc mình đã gặp, những cảm xúc

tự phát, những điều mắt thấy tai nghe Thể loại văn học này phải thể hiện được

ấn tượng của người viết về những cuộc phiêu lưu, khám phá hoặc là chinh phục

những miền đất mới Thể loại này cũng thường được phóng tác thành các tác

phẩm điện ảnh Đối với các sử gia, du ký là một nguồn tư liệu lịch sử phong phú

và quý giá

1.1.2 Một số quan niệm về thể du ký

Về quan niệm du ký của các nhà nghiên cứu lí luận trong nước, chúng tôi

nhận thấy cũng đã có những cách hiểu tương đối rõ ràng và cụ thể Trong Từ

Trang 16

điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), du ký được định nghĩa là “thể ký ghi

l ại những điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [29, tr.348] Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) xem du ký là “m ột loại hình văn học thuộc loại hình kí mà cơ sở là sự ghi chép c ủa bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe

c ủa chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng

mi ễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong t ục, dân tình của xứ sở ít người biết đến” [12, tr.108]

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong công trình Lí luận văn học, Tập 2: Tác

ph ẩm và thể loại văn học cũng nhấn mạnh: “Du ký là thể loại ghi chép về vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du lịch, du ngoạn Du ký phản ánh, truyền đạt những

nh ận biết, những cảm tưởng, suy nghĩ mới mẻ của bản thân người du lịch về

nh ững điều mắt thấy tai nghe ở những xứ sở xa lạ, những nơi mọi người ít có dịp đi đến, chứng kiến” [39, tr.382]

Sách Các th ể văn chữ Hán Việt Nam của Viện Khoa học xã hội Việt Nam,

Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã định nghĩa du ký một cách chi tiết: “Văn du ký là

lo ại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành trình, vừa để bày t ỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe Đặc điểm của du ký là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có

th ể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận, và phải là chính tác giả ghi chép về chuy ến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông phong

v ật” [2, tr.113]

Dịch giả Ngân Xuyên cũng nêu lên cách hiểu của mình: “(…) du ký là tất cả

nh ững ghi chép khi đến một nơi nào đó Và như thế thì hầu như ở mọi thời đại

và m ọi nền văn hóa đều có du ký Tóm lại, đi và thấy cảnh và người, sự và việc,

Trang 17

r ồi viết ra cảnh ấy người ấy, sự ấy việc ấy, kèm theo suy nghĩ, cảm xúc của mình, có khi còn là phân tích, kh ảo cứu, ấy là du ký” [19, tr.43]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn trong công trình Thể tài Du ký trên Nam Phong t ạp chí (1917-1934) đã nói rõ hơn về du ký: “Thu hút vào địa hạt du ký

có các sáng tác b ằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký, ký

s ự, phóng sự, ghi chép, khảo cứu, hồi ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các

di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, sinh thái, kiến trúc, mỹ thuật; thậm chí có

th ể liên quan tới nhiều phương diện của xã hội học, văn hoá học, khảo cổ học, dân t ộc học và văn hoá - văn nghệ dân gian khác nữa…” [36, tr.21-22]

1.1.3 Nhận xét

Như vậy, từ các định nghĩa, các cách hiểu đã nêu trên của các nhà nghiên

cứu, các nhà lí luận, từ quan niệm thể loại trong nước lẫn quan niệm của các nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy có một sự thống nhất cao trong cách hiểu

và định nghĩa du ký như sau:

Thứ nhất, du ký là một loại hình văn học thuộc loại hình ký

Thứ hai, cơ sở của du ký là đi, xem và ghi chép

Thứ ba, mục đích của du ký là ghi lại những cảnh vật thiên nhiên và

cuộc sống con người ở những vùng đất mới, đồng thời thể hiện tâm tư, tình

cảm, những suy tư, chiêm nghiệm của bản thân người viết Như vậy có thể

thấy một điều rất đặc biệt ở thể loại du ký là sự hiện diện của hình tượng tác

giả trong tác phẩm

Thứ tư, hình thức của du ký rất đa dạng Có thể nói du ký là sự kết hợp

của rất nhiều thể loại bên trong một thể loại, kể cả những thể loại trong văn

học và ngoài văn học

Và thứ năm, du ký chứa đựng một số lượng nội dung phong phú, không

chỉ tái hiện lại cảnh vật, thiên nhiên, con người, mà còn cung cấp cho người đọc một khối lượng lớn các thông tin khoa học về điều kiện tự nhiên – xã

hội của vùng đất được nhắc đến

Trang 18

Tóm lại, du ký là một biến thể đặc biệt và khá năng động của thể loại ký

Mỗi tác phẩm du ký là một câu chuyện về cuộc hành trình của tác giả đến những vùng đất mới Tác phẩm du ký hấp dẫn người đọc bởi hình ảnh, thông tin, tri

thức về nhiều lĩnh vực khác nhau ở những vùng đất mà bản thân người đọc chưa

có dịp đi đến, hoặc đã từng có dịp ghé thăm cũng có thể ôn lại và mở rộng

những trải nghiệm của mình thông qua chính những trải nghiệm của tác giả Tuy nhiên, du ký không tồn tại đơn giản như một thể loại sách khảo cứu, địa lí hoặc

những thể loại hướng dẫn kinh nghiệm du lịch, mà du ký còn mang trong mình tính chất văn học rất rõ rệt, thể hiện qua cách tư duy của tác giả về những điều

mắt thấy tai nghe, những suy tư, trăn trở của chính bản thân người viết về nhiều

vấn đề lịch sử, xã hội, số phận con người, vận mệnh quốc gia, dân tộc… Chính

những điều đó đã tạo nên nét đặc biệt cho thể loại văn học này, một thể loại mà trong đó, xúc cảm thẩm mỹ nghệ thuật được thể hiện và hòa quyện cùng với tư duy khoa học tự nhiên

1.2 Khái quát v ề sự hình thành và phát triển của thể du ký

1.2.1 Thể du ký trên thế giới

Du ký xuất hiện từ rất sớm trên thế giới Một trong những tác phẩm du ký

xuất hiện đầu tiên ở châu Âu là Description of Greece (Sự mô tả về Hy Lạp) của

Pausanias vào thế kỷ thứ II sau Công Nguyên Du ký cũng là một thể loại khá

phổ biến trong văn học Ả Rập thời trung cổ, tiêu biểu là những ghi chép chi tiết

về cuộc hành trình quanh vùng Viễn Đông, Ấn Độ, châu Phi, miền Nam nước Nga, Ai Cập, Tây Ban Nha và các nước khác trên thế giới của hai nhà du hành Ibn Jubayr và Ibn Batutta Tác giả của các tác phẩm du ký bao gồm nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, như các học giả, các nhà ngoại giao, các nhà truyền giáo, nhà thám hiểm hoặc cũng có thể là các thủy thủ Tuy chỉ bước đầu

thể hiện được một số đặc điểm cơ bản thể loại, nhưng các tác phẩm du ký đầu tiên cũng đã để lại những dấu ấn nhất định

Trang 19

Tiếp sau đó, vào thời trung cổ, thể loại du ký đã trở nên phổ biến hơn trong triều đại nhà Tống (960-1279) của Trung Quốc Thể loại này được gọi là "văn

h ọc ghi lại các chuyến du hành” (Youji Wenxue), và thường được viết dưới

dạng ký thuật, văn xuôi, tiểu luận và theo phong cách nhật ký Du ký giai đoạn này đã có bước phát triển cao hơn trong việc mở rộng phạm vi phản ánh Bên

cạnh việc kết hợp rất nhiều thông tin địa lý và địa hình vào các tác phẩm, điển hình như du ký của các tác giả Fan Chengda (1126-1193) và Xu Xiake (1587-1641), các tác giả du ký giai đoạn này còn lồng ghép vào đó những suy nghiệm, tranh luận về lý luận triết học và đạo đức, được thể hiện như một mục đích trung tâm của tác phẩm, trong số đó, nổi bật là tác phẩm Record of Stone Bell Mountain (Ghi chép v ề núi Đá Chuông) của nhà thơ và cũng là nhà chính khách

nổi tiếng Su Shi (1037-1101)

Thời kì Phục Hưng, văn học du ký bùng nổ bởi hai sự kiện quan trọng xảy

ra đồng thời, đó là sự phát minh ra máy in và sự phổ biến về giấy khiến cho sách

trở nên dễ tiếp cận hơn Bên cạnh đó, người châu Âu đã khám phá ra bờ biển châu Phi và sau đó là Tân thế giới, khơi lên cơn khát vàng dưới cơn khát hiểu

biết Sự phát triển và tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp việc đi lại thường xuyên hơn, dễ dàng và ít nguy hiểm hơn, chất lượng cuộc sống được nâng cao khiến nhiều thú vui ra đời, vì vậy mà các tác phẩm du ký càng trở nên thịnh hành, mặc

dù việc đi lại khám phá thế giới và việc đọc những cuốn sách du ký vẫn còn bị coi là không phù hợp trong một thời gian dài, hoặc chỉ dành cho một lớp rất nhỏ thiểu số những người có thời gian và điều kiện để du ngoạn, hoặc để đọc và có

thể tặng nhau những cuốn sách được coi là thứ hàng xa hoa của thời kì đó

Các tác phẩm du ký thời kì này ra đời không chỉ đơn giản là sự ghi chép lại

những cảnh vật ở những nơi mà các tác giả đã đi qua, mà nó còn như một đứa con tinh thần thể hiện niềm đam mê khám phá thế giới và cuộc sống xung quanh

với những triết lý rất khoa học và nhân văn của chính các tác giả đã hoài thai ra

nó Francesco Petrarca (1304–1374), học giả và nhà thơ nổi tiếng người Ý, có

Trang 20

thể là người đi đầu của thể loại “ký sự du lịch” với tác phẩm du ký về chuyến hành trình lên đỉnh Mont Ventoux năm 1336, tác phẩm này được viết vì đam mê

tiến tới thứ mà tác giả miêu tả như một sự vô tận cần đạt tới Tác giả chê trách

và gọi những bạn đồng hành của mình còn ở lại dưới chân núi là “frigid incuriositas”, nghĩa là những người thiếu óc tò mò Tác phẩm du ký này đã cho

thấy được một sự chuyển biến từ thế giới bên ngoài của thiên nhiên với thế giới bên trong của linh hồn, tác giả muốn tiến tới một cuộc sống tốt đẹp, tiến bộ hơn

và đã làm một so sánh ẩn dụ giữa việc leo núi với luân lý về sự tiến bộ của con người trong cuộc sống

Bước sang thế kỷ XVIII, du ký thường được biết đến như là cuốn sách về

những chuyến du lịch, trong đó chủ yếu bao gồm những cuốn nhật ký hàng hải,

như cuốn sách nổi tiếng Captain James Cook's diaries (Nhật ký của thuyền trưởng James Cook) (1784) Giai đoạn này ở Anh, hầu hết các nhà văn nổi tiếng

đều đã từng viết du ký Bên cạnh đó, các quý tộc, giáo sĩ, và những người khác

với tiền bạc và thời gian nhàn rỗi của mình đã thực hiện các chuyến du lịch khắp châu Âu để tìm hiểu về nghệ thuật và kiến trúc của các thời đại trước Du ký vì

thế mà cũng có sự phát triển rộng rãi hơn Thế kỷ XIX, sự bành trướng của chủ nghĩa Thực dân châu Âu kéo theo một hiện tượng mới: một tác giả có thể sống

bằng ngòi bút của chính mình Những nhà văn du ký dần trở nên chuyên nghiệp hơn, họ viết sách với tư cách viết văn là một nghề chính thức của mình, hoặc có

thể là các phóng viên cho những tờ báo giáo dục hướng tới thanh niên ham học

hoặc cho những tuần báo về khám phá như National Geographic (ra đời năm

1888) Du ký bắt đầu xuất hiện một tiểu thể loại rất phổ biến dưới hình thức là

những bài ký thuật về những cuộc thám hiểm, một vùng đất vẫn chưa được khám phá cho những nghiên cứu về thuộc địa và hậu thuộc địa

Nhìn chung, có thể rút ra một vài điểm khái quát sau đây về sự hình thành

và phát triển của thể loại du ký trên thế giới:

Trang 21

Du ký ra đời từ rất sớm trên thế giới Tuy bước đầu chỉ đơn thuần là những ghi chép về cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc của những nơi mà tác giả đã đi qua, nhưng các tác phẩm du ký cũng đã thể hiện được đặc điểm cơ bản của thể loại này là đi, xem và ghi chép Với sự tiến bộ của xã hội loài người, trong cả khoa

học kỹ thuật lẫn nhận thức tư duy của con người về thế giới, du ký ngày càng phát triển phong phú hơn về cả số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là những suy nghiệm, tư tưởng của tác giả gửi gắm trong các tác phẩm du ký

Một điểm đặc biệt nữa là các tác giả du ký không chỉ thuần nhất là các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp mà còn bao gồm rất nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, có thể là các nhà ngoại giao, các học giả, các nhà truyền giáo,

những người lính, các bác sĩ, thủy thủ và các nhà thám hiểm Điều đó cho thấy

một sự phổ biến rộng rãi của thể loại này trong việc đáp ứng nhu cầu khám phá

và ghi chép của con người Đó cũng là một trong những lí do cho thấy vì sao du

ký lại là một thể loại có mặt sớm trong nền văn học thế giới như vậy

Như ở trên đã nói, thể loại du ký được ưa chuộng từ rất sớm và nó được viết

bởi nhiều đối tượng tác giả khác nhau, vì vậy mà thế giới hiện ra trong các tác

phẩm du ký sẽ được nhìn qua nhiều lăng kính, góc độ khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm tính cách cũng như nghề nghiệp của mỗi tác giả Đồng thời, cũng chính vì thế mà du ký là một thể loại mang tính chất tổng hợp về mặt nội dung

Mọi vấn đề trong cuộc sống đều có thể được đưa vào du ký một cách hết sức tự nhiên Du ký vì vậy mà có giá trị rất lớn đối với nhiều ngành khoa học, giống như một pho tư liệu quý giá về các di tích lịch sử - xã hội ở nhiều thời đại khác nhau Trên thế giới, đối với các sử gia, du ký là một nguồn tư liệu lịch sử phù

hợp để xác định và phân tích Du ký đem lại những yếu tố quý giá để làm sáng

tỏ lịch sử của các mối quan hệ quốc tế, lịch sử xã hội và chính trị những vùng

mà tác giả đi qua, điển hình như lịch sử văn hoá vật liệu, thực phẩm, tôn giáo…

Một dẫn chứng tiêu biểu là từ những năm 1980, các chuyến du ngoạn ở châu Phi

của người phương Tây vào thế kỷ XV trở thành đề tài thử nghiệm của việc phân

Trang 22

tích lịch sử, và những công bố khoa học quan trọng đã ra đời Dưới ánh sáng của khoa học phân tích lịch sử, du ký được xác nhận có thể tái tạo những mảnh ghép

lịch sử của châu Phi trong 500 năm vừa qua Như vậy, với hàm lượng kiến thức phong phú, đồ sộ và chân thực về mọi lĩnh vực trong đời sống, du ký đã giúp văn học trở nên gần gũi và thiết thực hơn với độc giả Du ký vì thế mang trong mình nhiều giá trị to lớn và quý giá

1.2.2 Thể du ký ở Việt Nam

Du ký là một trong những biến thể của ký Đặt bên cạnh các thể loại lớn như thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết thì quá trình hình thành và phát triển của ký nói chung và du ký nói riêng không thể đồ sộ bằng Tuy không được chú ý nhiều như các thể loại nói trên, nhưng ký cũng ra đời khá sớm, từ thời Lý – Trần Bi minh ký là hình thức sơ khai của ký trung đại Việt Nam, bao gồm các bài văn

khắc trên bia phong cảnh, bia chùa tháp, đền đài, lăng mộ và khắc trên chuông khánh Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu thì ký chưa thực sự rõ nét, phải đến khoảng

thế kỷ XVIII – XIX, ký mới bắt đầu được định hình diện mạo rõ nét, và phải bước sang thế kỷ XX, ký mới thực sự nở rộ

Nói riêng về du ký, thể loại này xuất hiện muộn hơn, đến khoảng thế kỷ XVIII – XIX mới phát triển mạnh mẽ Trước đó, du ký phảng phất trong những bài thơ đi công cán sự vụ của các ông quan hoặc những bài thơ ghi lại cảnh sắc

dọc đường của các nho sĩ, mà theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên thì “du

ký là tất cả những ghi chép khi đi đến một nơi nào đó” Nói như vậy không có

nghĩa là bất cứ một tác phẩm nào được viết khi đi đây đi đó cũng là du ký Trong thực tế, có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký, du ngoạn, đề vịnh phong cảnh đất nước như thành Thăng Long, núi Bài Thơ, Yên Tử, Hoa Lư, sông Lam, sông Hương đã xuất hiện trong nền văn học trung đại Việt Nam Tính từ thời

Lý – Trần đến hết thế kỷ XVII, nhiều tác phẩm thi ca và văn xuôi đoản thiên

được sáng tác in đậm sắc thái du ký như Hạnh An Bang phủ, Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Thái Tông (1240-1290), Vịnh Vân Yên tự phú của

Trang 23

Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), Bài ký tháp Linh Tế núi Dục Thuý của Trương Hán Siêu (?- 1354), Du Phật Tích sơn ngẫu đề của Phạm Sư Mạnh (thế

kỷ XIV), Du Côn Sơn của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428) Tuy nhiên, du ký

là thể loại nằm trong sự quy định về đặc điểm của thể ký Theo đó, một tác phẩm chỉ khi nào lấy đối tượng miêu tả là hiện thực khách quan, đồng thời thể hiện được tiếng nói cái “tôi” cá nhân, hay nói cách khác là trình bày đối tượng

mình đang phản ánh bằng cảm quan của chính mình một cách trực diện, thì lúc

ấy mới là tác phẩm ký đích thực Chính vì vậy, đến tận thế kỷ XVIII – XIX, khi

Thượng kinh ký sự (1783) của Lê Hữu Trác (1720 – 1791) ra đời thì ký nghệ

thuật đích thực của văn học Việt Nam mới thực sự xuất hiện Xét về mặt thể

loại, Thượng kinh ký sự có nhiều ý kiến khác nhau Điều này cho thấy đây là

một tác phẩm có tính chất giao thoa, đan xen giữa nhiều thể loại, nhiều bút pháp sáng tác nghệ thuật Có thể xem đây là một tác phẩm du ký đỉnh cao của thời

trung đại, ghi chép lại hành trình và những trải nghiệm thú vị của chính tác giả

Lê Hữu Trác Trong các tác phẩm giai đoạn này, chưa bao giờ cái “tôi” cá nhân

lại xuất hiện một cách mạnh mẽ, dày đặc và rõ nét như vậy

Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác đã tạo đà cho hàng loạt các tác phẩm ký

ra đời Các tác phẩm tiếp theo đó như Du Phật Tích sơn ký, Du viên Minh khảm

t ự ký, Ai Lao sứ trình của Phạm Đình Hổ, Tam kiều nguyệt dạ du ký của Ngô Thì Hoàng, Trùng du Tây H ồ ký, Tam Ngô du ký, Đường núi Nam Quan của

Nguyễn Văn Siêu cho thấy sự hoàn thiện về mặt thể loại của du ký

Một cột mốc đáng chú ý trong quá trình phát triển của thể loại du ký chính

là tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược (1830) của Lý Văn Phức Tác phẩm là

bản ghi chép về những điều mắt thấy tai nghe về mọi phương diện đời sống trong dịp đi hiệu lực sang Singapore và vùng biển Tiểu Tây Dương 1830 của Lý

Văn Phức Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na xác định đây “không chỉ là tác phẩm ký đầu tiên viết về thế giới phương Tây mà nó còn mở ra một hướng sáng tác mới” [24, tr.62], “tạo nên một giọng điệu mới cho thể ký Việt Nam thế kỷ

Trang 24

XVIII-XIX” [24, tr.368] Với Tây hành kiến văn kỷ lược, không gian du ký vượt

thoát ra khỏi phạm vi quốc gia dân tộc và được mở rộng ra toàn cầu, từ đó đặt

nền móng cho sự ra đời của những tác phẩm viết về phương Tây sau này và quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt Tiếp sau đó, trên văn đàn Việt Nam cũng

xuất hiện hàng loạt các tác phẩm du ký viết về các chuyến đi mở rộng tầm mắt

ra thế giới như Hải trình chí lược của Phan Huy Chú, Tây hành nhật ký (còn gọi

là Giá viên bi ệt lục) của nhóm tác giả Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản, Ngụy

Khắc Đản

Bước sang thế kỷ XX, làn sóng văn hóa Tây Âu ồ ạt du nhập vào nước ta, thêm vào đó là sự phát triển vượt bậc của chữ quốc ngữ, cùng với sự ra đời của hàng loạt các tờ báo, tạp chí, tòa soạn và các nhà xuất bản trên khắp cả nước, thể

ký được hồi sinh và phát triển rực rỡ Điều kiện kinh tế xã hội phát triển giúp cho việc đi lại được thuận tiện hơn, nền văn hóa tiến bộ giúp con người tự nhận

thức về giá trị của bản thân và ý thức được trách nhiệm với thời cuộc, chính vì

vậy mà du ký trở nên phát triển mạnh và có nhiều thành tựu đáng kể

Thời gian đầu thế kỷ, từ năm 1900 – 1930, chữ quốc ngữ được dùng để thử nghiệm viết văn xuôi, vì thế đây được xem là bước khởi đầu rất quan trọng của

một nền văn học mới Du ký thời kỳ này tuy còn tiếp nối truyền thống như lời văn còn đăng đối theo lối cổ, còn xuất hiện những bài ngâm vịnh mang phong cách nho giáo, nhưng nhìn chung đã có nhiều cách tân về chữ viết, cách hành văn, xa dần giọng văn biền ngẫu, cách tả, cách kể dần trở nên trong sáng, gần gũi với tính cách con người Việt Nam Hơn nữa, du ký cũng phản ánh những

vấn đề thẩm mỹ do thời đại đặt ra Các tác phẩm du ký tiêu biểu có thể kể đến là

Hương Cảng nhơn vật (1909) của Trần Chánh Chiếu, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (1909) của Nguyễn Liên Phong, Hương Sơn hành trình (1914) của

Nguyễn Văn Vĩnh, Long Điền du ký (1917) của Phú Tuấn Năng, Một tháng ở Nam K ỳ (1918-1919), Mười ngày ở Huế (1918) của Phạm Quỳnh, Phan Thiết du

Trang 25

ký (1920) của Tô Văn Có thể nói, du ký giai đoạn này mang tính chất bản lề ở

tất cả mọi phương diện

Những năm tiếp theo, từ 1930 – 1945, công nghệ báo chí xuất bản ngày càng phát triển và mau chóng trưởng thành, cộng hưởng với tinh thần cởi mở, dân chủ hoá đời sống tư tưởng xã hội khi nền văn minh tư sản phương Tây đạt

tới đỉnh cao đã góp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt của hoạt động văn học nghệ thuật Hầu như tất cả các loại hình và thể loại văn học đều thu được thành tựu lớn lao Bên cạnh thơ ca, văn xuôi, kịch thể ký cũng phát triển cao trào, bùng nổ hàng loạt những biến thể phong phú hơn bao giờ hết, “có bước phát triển vượt bậc cả về lượng và chất” [35, tr.18] Cùng với các biến thể phóng sự,

bút ký, tản văn, hồi ký du ký đã gia nhập vào đời sống văn học báo chí của cả nước, góp phần phát triển nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Hơn thế nữa, với chủ trương kéo văn chương gần với đời thường, du ký đã lựa chọn và sử dụng hệ

thống ngôn ngữ nôm na hàng ngày chuyển tải tác phẩm đến người đọc Chính vì

vậy mà du ký thời kỳ này cũng thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng tình yêu tiếng

Việt trong văn chương Du ký giai đoạn này có những tác phẩm khảo cứu về

lịch sử như: Hai mươi lăm ngày đi tìm dấu người xưa (Khuông Việt), Một cuộc

hà nh hương (Trúc Khê – Lê Thanh), Nam du đến Ngũ Hành Sơn, Thăm lăng Sĩ Vương (Nguyễn Trọng Thuật), Dâng hương đền Kiếp (Hoa Bằng và Cách Chi),

Vi ếng mộ Hậu quân Võ Tánh (Biệt Lam Trần Huy Bá) ; cũng có nhiều tác

phẩm như một thiên khảo sát tỉ mỉ về phong tục, văn hóa, địa lý, địa hình của

một vùng đất như: Một ngày ở xứ Chàm (Tam Lang), Định Hóa châu du ký,

Th ụy Anh du ký (Đặng Xuân Viện), Cảnh vật Hà Tiên (Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiêm), Qu ảng Xương danh thắng (Thiện Đình), Quảng Yên du ký (Nhàn Vân Đình), Giống Mọi ở Đồng Nai Thượng, Mười lăm ngày với Mọi có đuôi (Thái

Hữu Thành) ; hoặc cũng có nhiều tác phẩm là sự kết hợp miêu tả vẻ đẹp kỳ thú

của non sông đất nước bên cạnh những phát hiện về tập tục, tín ngưỡng đầy thú

vị, đi kèm với những cảm xúc trước di tích lịch sử hào hùng của dân tộc: Thăm

Trang 26

đảo Phú Quốc (Đông Hồ), Tết chơi biển (Trúc Phong), Từ Hà Nội đến hồ Ba Bể

(Nhật Nham Trịnh Như Tấu), Ban Mê Thuột (Biệt Lam Trần Huy Bá), Miền thượng du Bắc Kỳ (Ngọc Ước), Nước non Cao Bằng (Ngô Tất Tố), Tôi ăn Tết ở Côn Lôn (Khuông Việt)

Nhìn chung, du ký đầu thế kỷ XX đã tự hoàn thiện mình về mặt thể loại Các tác phẩm du ký có những cách tân vượt bậc ở nhiều mặt Đóng góp của các tác giả viết du ký không chỉ là kiến thức và tư liệu, mà còn là một lối viết văn theo hướng hiện đại, gãy gọn hơn, khúc triết hơn và trong sáng hơn để cải cách dần lối từ chương khoa cử của văn chương cũ Về mặt đóng góp cho tiếng Việt và cho văn chương Việt bằng chữ quốc ngữ, thể du ký đã phát huy tác dụng tích cực và có ảnh hưởng lớn, không những ghi lại những điều mới lạ, mà còn thúc

giục mọi người hãy đi và nhìn ra thế giới, để học tập những điều văn minh tiến

bộ, mở rộng tầm mắt, đồng thời để thấy yêu quê hương đất nước mình hơn

Từ năm 1945 trở đi, do hoàn cảnh lịch sử, đất nước bước vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gian khổ và quyết liệt, văn chương vì vậy cũng mang một sứ mệnh đặc biệt phục vụ cho thời kì này Các văn nghệ sĩ dùng ngòi bút của mình để cổ vũ cho chiến đấu, vạch trần âm mưu của quân giặc, các tác phẩm ra đời mang khuynh hướng sử thi Chính vì thế, du ký ít được chú ý đến, tạm thời khép lại sứ mệnh của mình, nhường chỗ cho các thể loại khác Khi đất nước thống nhất, nền kinh tế được phục hồi, đời sống xã hội và tinh

thần được nâng cao, du ký lại hồi sinh Thời gian gần đây, du ký nở rộ và phát triển mạnh mẽ Sự bừng nở của thể loại này không những được chú ý trong văn

học, báo chí mà nó còn phát triển rực rỡ trong điện ảnh, truyền hình Trên văn đàn Việt Nam những năm gần đây xuất hiện nhiều tác phẩm du ký của hầu hết các cây bút trẻ, nội dung và phạm vi du ký được mở rộng, phong phú hơn, chẳng

hạn như những tác phẩm của người Việt viết về nước ngoài như Sydney yêu thương của Trung Nghĩa, Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip, Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương của Ngô Thị Giáng Uyên, Venise và những cuộc tình

Trang 27

Gondola c ủa Dương Thụy, hay bộ ba tác phẩm du ký của Phan Quang gồm Bên

m ộ vua Tần, Thơ thẩn Paris, Chia tay trên sông Hàng loạt các tác phẩm trên

đã tạo nên một sức hút đặc biệt với độc giả Ngoài ra, thể loại du ký cũng khẳng định mình ở một diện mạo mới, đó là sự kết hợp giữa văn học và điện ảnh Du

ký được thể hiện qua những thước phim đặc sắc khám phá thiên nhiên, đất nước, con người khắp nơi trên thế giới, được phát sóng trên những kênh chuyên biệt dành riêng cho du lịch, văn hóa như kênh Du lịch và cuộc sống của HTVC, hay

12 kênh du lịch của đài truyền hình SCTV Nhiều tác phẩm điện ảnh thuộc thể

loại du ký được đánh giá là mang tính khoa học và nghệ thuật cao như Mekong

ký s ự, Ký sự hỏa xa Tất cả các tác phẩm trên, kể cả dưới hình thức văn học hay

điện ảnh, cũng đều tạo một dấu ấn rõ nét trong lòng công chúng thưởng thức Có

thể nói, trải qua nhiều thăng trầm, du ký đã từng bước định hình diện mạo thể

loại và khẳng định mình trong nền văn học Việt Nam

1.2.3 Vai trò của thể du ký trong văn học Việt Nam hiện đại

Xuất hiện từ trước thế kỷ XX, nhưng du ký lại phát triển và khẳng định mình trong một giai đoạn văn học có tính chất giao thời Trưởng thành trong

một xã hội đầy biến động, bên cạnh những thể loại khác, du ký đóng một vai trò không nhỏ trong việc hiện đại hóa nền văn học dân tộc

Trước hết, đúng như Hoài Thanh đã nhận định, văn chương hiện đại khác

với văn chương trung đại ở một chữ “tôi” Trong cuộc đấu tranh ầm thầm, dai

dẳng mà quyết liệt giữa hai nền văn học cũ và mới, giữa văn học nhà nho và văn

học thị dân, du ký xuất hiện như một trong những minh chứng rõ nét nhất Văn

học thị dân đã dần thoát khỏi sự kềm tỏa gần một ngàn năm của văn học nhà nho, trở thành sản phẩm của tầng lớp trí thức Tây học Cùng với các thể loại khác, du ký đã góp phần giải phóng cái “tôi” cá nhân, giải phóng suy nghĩ và cá tính sáng tạo của nhà văn bằng chính những cảm xúc, những suy nghiệm về thế

giới khách quan của chính chủ thể tác giả, hay nói cách khác là những tiếng nói

chủ quan của người sáng tác vang lên trong các tác phẩm du ký Văn học thị dân

Trang 28

vì vậy nhanh chóng hội đủ điều kiện để gia nhập vào quỹ đạo chung của văn học

thế giới

Thứ hai, có thể nói du ký là thể loại tiên phong trong việc báo hiệu sự bắt đầu của một thời đại văn chương mới ở Việt Nam Suốt mười thế kỷ trung đại, thơ ca luôn là sự lựa chọn được ưu ái trong sáng tác văn chương Chính vì thế,

thể loại này đã đạt được những thành tựu vững chắc và có một hình thức ổn định, mẫu mực mang tính cổ điển Đến đầu thế kỷ XX, như một hệ quả tất yếu trong quy luật vận động và phát triển của văn học, trong cuộc cách mạng giữa thơ và văn xuôi, thể ký đã phát triển mạnh mẽ với hàng loạt các biến thể, trong

đó có du ký Và sự hồi sinh của du ký đã làm nên một khởi đầu ngoạn mục, góp

phần đưa văn xuôi vào vị trí trung tâm Du ký vì vậy được ghi nhận là một trong

những thể loại tiên phong, là bước đệm tạo đà cho sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong nền văn học mới về sau

Một vai trò nữa cũng không kém phần quan trọng của du ký trong nền văn

học hiện đại chính là sự kết nối văn học và báo chí Năm 1865, Gia Định báo –

tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời, đánh dấu một cột mốc vô cùng quan trọng mà theo nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đánh giá là “đã phá tung những giới hạn của

h ệ thống giao tiếp xã hội truyền thống” cũng như “góp phần dẫn tới sự manh nha t ầng lớp nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp của xã hội hiện đại” [41, tr.313-

314] Đời sống báo chí và văn học từ đó trở nên sôi động Nếu như trước kia, ở

thời kì trung đại, văn chương được sáng tác chỉ tồn tại trong một vài phạm vi

nhất định giữa những người có cùng đẳng cấp với nhau, người viết không hề nghĩ đến chuyện công bố tác phẩm cũng như không quan tâm đến công chúng độc giả, thì trong nền văn học hiện đại, khi quan niệm nhận thức và thẩm mỹ đã đổi khác, văn học mới và cũ đều được đăng tải lên báo chí, đều đem ra công bố

với mọi người Điều đó cho thấy nhu cầu thưởng thức văn học của các tầng lớp trong xã hội ngày càng phổ biến rộng rãi, và lúc này phương thức truyền tải hữu

hiệu nhất chính là báo chí Nói riêng về ký và du ký, các tác phẩm thuộc thể loại

Trang 29

này hầu hết gắn liền với các chuyên mục như “Việt Nam nhị thập kỉ - xã hội ba

đào kí” trên An Nam tạp chí do Tản Đà sáng lập ra, hay mục du ký trên Nam Phong t ạp chí của Phạm Quỳnh với hàng loạt tác phẩm du ký của nhiều tác giả

khác nhau Du ký là thể loại có tính chất giao thoa giữa báo chí và văn học Chính vì vậy, sự có mặt thường kì của các tác phẩm du ký trên báo chí một mặt giúp cho văn học xích lại gần với công chúng hơn, mặt khác cũng khiến cho người sáng tác có ý thức thúc đẩy sức sáng tạo của mình

Du ký cũng có một vai trò quan trọng trong việc góp phần bồi dưỡng tình yêu văn chương và đặc biệt là nuôi dưỡng tình yêu tiếng Việt Nhà nghiên cứu

Trần Văn Giàu đã nhận định: “quốc ngữ có nhiều khả năng văn hóa chứ không

ph ải chỉ là một thứ chữ thứ yếu cho bình dân giao dịch hằng ngày mà thôi”

[11, tr.287] Thật vậy, năm 1882, chữ quốc ngữ được công bố là văn tự chính

thức ở Nam Kỳ Đến đầu thế kỷ XX, khi nhu cầu duy tân đất nước trở nên cấp thiết thì hiện đại hóa là nhu cầu tất yếu Một cuộc cách mạng thật sự trên lĩnh

vực ý thức hệ đã ra đời, trong đó là sự chú trọng cải biến toàn diện văn hóa giáo

dục Chữ quốc ngữ vì vậy được đưa lên địa vị độc tôn Như đã nói ở trên, với

chủ trương kéo văn chương gần với đời thường, du ký đã lựa chọn và sử dụng

hệ thống ngôn ngữ nôm na hàng ngày để chuyển tải tác phẩm đến người đọc Vì

thế mà du ký thời kỳ này không những giúp cho người đọc được mở rộng tầm

mắt, nhìn ra thế giới bên ngoài để học tập tiếp thu những điều tiến bộ, để thấy yêu hơn quê hương đất nước mình, mà đồng thời, du ký cũng đã thực hiện được nhiệm vụ nuôi dưỡng tình yêu tiếng Việt trong văn chương, trong đời sống thông qua những cách diễn đạt, miêu tả trong sáng và gần gũi với tính cách con người Việt Nam

Nói tóm lại, tuy có nhiều thăng trầm biến động cùng với hoàn cảnh lịch sử

xã hội, nhưng du ký đã từng bước định hình diện mạo thể loại riêng cũng như

khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là trong suốt quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc

Trang 30

1.3 Đặc điểm của thể du ký

1.3.1 Du ký là thể loại có tính chất tương tác nhiều thể loại

Ký là thể loại nằm giữa văn học và báo chí Du ký vì thế cũng không nằm ngoài đặc điểm này Ký nói chung và du ký nói riêng đều mang trong mình

những đặc trưng của cả báo chí và văn học

Theo tinh thần của báo chí, những điều được thông tin đến người đọc phải là

những sự vật, sự việc, con người thật, không những thật mà còn phải cụ thể và

chính xác Trong khi đó, cơ sở của du ký là “sự ghi chép của bản thân người đi

du l ịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những

x ứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến” [12, tr.108] Như vậy, du ký

trước hết gần với báo chí ở chỗ đối tượng được phản ánh trong tác phẩm là cuộc đời thực, là người thực, việc thực Lại kể đến từ “ký” trong du ký có nghĩa là ghi chép sự việc Do đó, nguyên tắc phản ánh của du ký là phải đảm bảo tính chân

thực, và tính xác thực của việc ghi chép là đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của

thể loại này Nếu xét về thời gian ra đời thì ký có mặt sớm hơn báo chí Ký xuất

hiện từ thời trung đại, trong khi báo chí lại sinh sau đẻ muộn hơn ký, khoảng

cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, ký chỉ thực sự phát triển chủ yếu vào thời kì mà tư tưởng lí luận rất đề cao việc sáng tác văn nghệ theo cách ghi chép sự thực đời sống Mà thông tin sự thật lại là mục tiêu chủ chốt của báo chí Chính vì vậy, du ký có mối liên hệ mật thiết với báo chí cũng là điều hoàn toàn

dễ hiểu Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng từng nhận định ký hiện đại “luôn luôn g ắn chặt với đời sống báo chí” [39, tr.363]

Bên cạnh đó, du ký cũng mang trong mình những thuộc tính của văn học Tuy là một thể loại ghi chép về người thật việc thật, nhưng một tác phẩm du ký cũng được tạo dựng từ những yếu tố như bút pháp, giọng điệu, cảm xúc Trong

đó, giọng điệu chính là thứ tạo nên nét riêng cho tác phẩm, thể hiện thái độ, tình

cảm tư tưởng của nhà văn Có thể nói, giọng điệu chủ đạo của du ký là ngợi ca, nhưng mỗi nhà văn lại có cách thể hiện khác nhau, mà ta biết rằng, trong văn

Trang 31

học, đó chính là điều tạo nên phong cách riêng biệt của từng cây bút Ngay trong cùng một tác phẩm, giọng điệu cũng hết sức đa dạng, mang nhiều sắc thái khác nhau Hơn nữa, để xây dựng được những trang ghi chép không hề khô khan mà

vô cùng sống động, giàu hình ảnh, màu sắc cũng như thể hiện được những suy

tư, tình cảm của mình, tác giả du ký cũng phải sử dụng bút pháp nghệ thuật một cách thật linh hoạt như miêu tả, trần thuật, so sánh, bình luận, liên tưởng Như

vậy có thể thấy được rằng, bên cạnh các thuộc tính của báo chí, du ký vẫn là thể

loại đậm chất văn học Tuy nhiên, mang trong mình những yếu tố của văn học nhưng không có nghĩa là du ký đồng nhất với các tác phẩm tự sự như truyện,

tiểu thuyết Bởi vì trong du ký, đề tài và chủ đề được đề cập đến thường không

phản ánh vấn đề về sự hình thành tính cách cá nhân trong tương quan với hoàn

cảnh, mà là các vấn đề mang tính chất khái quát và thời sự, chẳng hạn như kinh

tế, xã hội, chính trị, hay vấn đề phong hóa, đạo đức của chính môi trường xã

hội Do vậy, những con người và sự việc được miêu tả trong du ký không thật

sự rõ nét, nghĩa là không có nhân vật với tính cách và hoàn cảnh thật sự sắc nét,

mà đó chỉ là những bóng dáng lướt qua Hơn nữa, những sự việc được đề cập đến cũng mang tính chất tản mạn, chắp nối theo cảm hứng từng bước đi của người lữ khách, không hề có cốt truyện hoàn chỉnh như truyện và tiểu thuyết Vì

vậy mà du ký có thể xem là thể loại phi cốt truyện

Khi nói đến tính chất tương tác thể loại của du ký, ta không thể không nói đến mối quan hệ của du ký với các thể loại anh em của mình Đặt du ký bên

cạnh các thể loại như ký sự, tùy bút, nhật ký ta sẽ thấy được sự giao thoa khá

lớn của các thể loại này

Ở một thời điểm nhất định nào đó, du ký có thể là tên gọi khác của ký sự Cả hai thể loại này đều là loại hình ghi chép lại những diễn biến khách quan của

cuộc sống thông qua các sự kiện, hoặc kể lại một câu chuyện tương đối hoàn

chỉnh khi nó vừa xảy ra, dưới sự chứng kiến của tác giả Khác với phóng sự, một

thể loại luôn đề cập những vấn đề cấp thiết, nóng hổi đang diễn ra gây nhức nhối

Trang 32

trong đời sống, du ký và ký sự đều có thể đề cập đến những sự việc đang diễn ra nhưng không nhất thiết phải nóng hổi, trực tiếp, và phải có vấn đề mà xã hội quan tâm Trong tác phẩm du ký và ký sự, các sự việc hiện tại và quá khứ có thể đan xen nhau, tùy vào cảm xúc của người viết Cốt truyện trong du ký và ký sự đều không chặt chẽ như trong truyện và người viết có thể sử dụng nhiều biện pháp và phương tiện biểu đạt nghệ thuật để tạo nên hiệu quả thẩm mỹ cho những

sự vật, sự việc được đề cập đến

So với các thể loại văn học khác, sự xuất hiện của cái tôi – người trần thuật,

và cũng là cái tôi – tác giả là một nét đặc trưng riêng của ký Nhưng không phải trong bất cứ một biến thể nào của ký, cái tôi tác giả cũng được thể hiện như nhau Trong ký sự, tác giả cũng có quyền thể hiện cái tôi chủ quan, bình luận, phân tích, nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của bản thân sự sống đang vận động, phát triển Điều này khác với du ký Phần bộc lộ cảm nghĩ của tác giả du ký và

những yếu tố liên tưởng, nghị luận có thể được thể hiện nhiều hơn Cái tôi trong

du ký là cái tôi tình cảm, cảm xúc, có xu hướng tự biểu hiện mình Cái tôi nhà văn không đơn thuần là người chứng kiến và thuật lại sự việc, mà còn chứa đựng tất cả những gì mà tác giả có được trong quá trình sống và chiêm nghiệm

Về điểm này thì du ký gần với tùy bút hơn Trong tùy bút, việc miêu tả đối tượng khách quan thường xen kẽ bộc lộ cảm xúc chủ quan của người viết, tạo nên một thể loại đậm đặc chất trữ tình Du ký cũng thường xuất hiện những đoạn trữ tình ngoại đề để bộc lộ cảm xúc, tâm huyết của nhà văn, cho thấy cách nhìn, cách cảm riêng trước cuộc sống Tuy nhiên, du ký khác với tùy bút ở chỗ,

hiện thực trong tùy bút chỉ là điểm tựa để tác giả vẫy vùng trong biển cảm xúc mênh mông, còn trong du ký, hiện thực vẫn là đối tượng chính cần được chú ý,

cảm xúc của người viết chỉ góp phần làm cho bức tranh thêm sinh động và có chiều sâu nghệ thuật

Xét về tính chất giao thoa thể loại thì có lẽ du ký khá thân thiết với thể loại

nhật ký, đặc biệt là nhật ký văn học Điều dễ nhận thấy trước tiên là cả hai thể

Trang 33

loại này đều ghi chép sự việc theo diễn biến thời gian một cách cặn kẽ, chính xác và thường trọn vẹn một quá trình Vì tôn trọng tính xác thực của sự việc được đề cập nên du ký và nhật ký thường tôn trọng trật tự biên niên Đó cũng là cách để xóa bỏ khoảng cách thời gian trần thuật, tạo ra sự tác động trực tiếp của

hiện thực nghệ thuật tới người đọc Bên cạnh đó, du ký và nhật ký đều ghi chép

sự việc một cách phóng túng, tản mạn, những quy định về khuôn khổ, bố cục hay dung lượng không phải là vấn đề mà hai thể loại này quan tâm Tất cả đều

dựa vào cảm hứng của người viết Tuy vậy, trong việc cung cấp thông tin các sự

kiện cho người đọc, du ký và nhật ký đều có sự sàng lọc những sự vật, sự việc mang tính tiêu biểu, điển hình trong khối lượng tư liệu phong phú, dày đặc Đồng thời, cả hai thể loại đều vượt lên những sự thật đơn thuần để thẩm định giá

trị của sự thật đó cũng như bày tỏ những cảm xúc của cái tôi cá nhân Trong hàng loạt các tác phẩm ký, ta thấy có nhiều du ký được ghi chép dưới dạng nhật

kí như Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ hay Pháp du hành trình nhật ký của

phẩm ký văn học, tuy nhiên, đó cũng là một đặc điểm khá thú vị, thể hiện sự kết

hợp linh hoạt, hài hòa giữa việc phản ánh hiện thực với việc thỏa mãn những tình cảm thẩm mỹ của con người Và du ký cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ trong đặc điểm này

Trang 34

1.3.2 Du ký là nơi giao nhau của tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật

Du ký là thể loại vừa nhận thức phản ánh vừa thể hiện tâm tư tình cảm của

chủ thể thẩm mỹ Du ký được tạo nên từ hoạt động đi, xem và ghi chép Tác giả

du ký một mặt vừa cung cấp cho người đọc những thông tin thực tế chính xác về nhiều lĩnh vực ở những nơi mình đã đi qua, mặt khác vừa thể hiện cảm xúc, suy

tư, chiêm nghiệm của mình về đối tượng phản ánh hoặc những vấn đề ẩn dấu liên quan trong cuộc sống Chính vì vậy mà du ký có thể phản ánh được rất nhiều vấn đề khác nhau theo từng bước chân và cảm hứng của người lữ khách,

đó có thể là những vấn đề đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa, hoặc những vấn

đề xã hội nóng bỏng Những câu chuyện trong du ký thường tản mạn, không có

cốt truyện, không tính cách, không số phận, nhưng du ký vẫn thu hút người đọc

bởi tính chất phiêu lưu, khám phá những điều mới lạ cộng với một khối lượng

kiến thức, thông tin phong phú, có giá trị xác thực cao Tất cả những điều đó đã giúp cho các tác phẩm du ký vừa mang giá trị nghệ thuật, vừa giàu giá trị thông tin khoa học Đặc trưng đó trong du ký chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa

tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học, mà Gorki đã gọi là “sự hợp nhất truyện và nghiên c ứu”

Du ký nói riêng và ký nói chung cơ bản khác với truyện, bởi trong du ký không có một cốt truyện cụ thể cũng như không có một xung đột thống nhất

Nhật vật trong du ký cũng không được miêu tả một cách tỉ mỉ qua quá trình hình thành tính cách trong tương quan với hoàn cảnh, mà đó chỉ là những con người lướt qua, góp phần làm câu chuyện sinh động hơn, không ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm Tuy nhiên, không phải vì thế mà du ký mất đi tính chất truyện

Bởi nếu thiếu đi tính truyện, thể loại này sẽ thiếu đi cái nét hấp dẫn cần thiết đặc trưng của nó Chính tư duy nghệ thuật đã giúp cho tác giả du ký có thể thỏa sức bay bổng trong những cung bậc cảm xúc, tình cảm của mình trước đối tượng khách quan mà tác giả được tiếp xúc và chiêm ngưỡng

Trang 35

Đặc trưng của du ký là phải cung cấp khá nhiều tri thức về mọi lĩnh vực

trong đời sống một cách chính xác Do vậy, người viết du ký đòi hỏi phải có một

tư duy khoa học cao cũng như một thái độ làm việc hết sức nghiêm túc, tỉ mỉ trong việc nghiên cứu, sưu tầm và quan sát thực tế, có như vậy, tác giả du ký

mới có thể làm giàu nhận thức và đem lại sự thỏa mãn tri thức cho người đọc

Du ký thu hút vào địa hạt của mình tất cả những vấn đề liên quan đến hiện

thực cuộc sống như lịch sử, địa lý, sinh thái, phong tục tập quán, văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật, khảo cổ thậm chí bao hàm cả những suy tưởng, cảm nhận của nhà văn trong quá trình tiếp xúc với người thật việc thật Người đọc chắc hẳn sẽ

rất thích thú khi bắt gặp trong du ký không những là giá trị văn chương nghệ thuật mà còn là nhiều giá trị khác như giá trị sử học, văn hóa học, phong tục học, địa lý học Để viết được một tác phẩm du ký thật sự lôi cuốn và thuyết phục, tác giả du ký cần phải có nguồn tri thức uyên thâm về mọi vấn đề trong cuộc

sống, phải biết quan sát, trải nghiệm, và phải có một tâm hồn biết rung cảm trước cái đẹp, trước tình đời, tình người Như vậy, du ký đòi hỏi người sáng tạo

ra nó cần phải hội đủ hai yếu tố là giàu có về vốn sống và sâu sắc về tâm hồn, có như vậy ngòi bút mới có thể đáp ứng được đặc trưng cơ bản của thể loại này, đó chính là sự kết hợp giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học

1.3.3 Du ký là thể loại kết hợp linh hoạt giữa tự sự, trữ tình và nghị luận

“Du ký là th ể loại ghi chép về vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc

đời” [39, tr.382] Do đó, tự sự chính là nền tảng cấu trúc của tác phẩm du ký

Hơn nữa, khi đặc trưng của ký nói chung và du ký nói riêng là ghi chép sự việc, khi tham vọng của ký là “can dự trực tiếp vào mọi lĩnh vực của đời sống”

[39, tr.360], thì việc miêu tả những sự kiện, con người trong đời sống khách quan lại càng không thể vắng mặt trong một tác phẩm ký Với du ký, yếu tố tự

sự thể hiện qua những bức tranh cảnh vật, thiên nhiên, con người xuất hiện theo

từng bước đi, từng chặng đường của người lữ khách, đó còn là những câu

Trang 36

chuyện sinh động có thật hoặc những miêu tả về phong tục tập quán, văn hóa, địa lý vùng miền trong những chuyến đi qua những vùng đất mới lạ của tác giả

du ký Phương thức tự sự có thể giúp nhà văn kể, tả một cách sống động về

những vật, những việc xuất hiện ở hiện tại hoặc trong những hồi tưởng về quá

khứ Một tác phẩm vì vậy sẽ không phải là du ký nếu thiếu đi những yếu tố

tự sự

Như trên đã nói, du ký không được tạo nên bởi những câu chuyện có cốt truyện rõ ràng, những nhân vật có tính cách, số phận sắc nét nhưng vẫn thu hút được sự thích thú của người đọc Truyện trong du ký là những ghi chép tự sự

trực tiếp về người thật việc thật nên có thể xem du ký như một bức chân dung nghệ thuật được chụp ở góc độ đẹp nhất, sinh động nhất Tuy nhiên, tác phẩm

du ký không đơn thuần chỉ là phép cộng khô khan của những sự vật, sự việc được kể, tả trong chuyến du hành của người lữ khách, mà lồng vào đó còn là

những cảm xúc chân thật của người viết với đối tượng được đề cập, miêu tả Đó chính là sự kết hợp giữa phương thức tự sự với trữ tình Trong du ký, chất cảm xúc trữ tình chiếm một vị trí không kém phần quan trọng Đó là những cảm xúc

và suy nghĩ chủ quan của nhà văn trước những sự kiện của đời sống khách quan

Đó có thể là tiếng reo vui, sự say đắm trước vẻ đẹp của cảnh, của người, và cũng

có thể là tiếng kêu, là nỗi lòng xót xa trước những nỗi đau hiện thực Một bức ảnh không thể gọi là đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật nếu như người xem không

thể cảm nhận được cái hồn của nó Du ký thu hút người đọc không chỉ ở những câu chuyện sinh động, những con người có thật hay những trang mô tả cảnh vật giàu hình ảnh, mà còn ở những cung bậc cảm xúc, tình cảm trước đối tượng khách quan mà tác giả đề cập

Nằm trong thể loại ký, là một loại hình văn học trung gian giữa văn học và báo chí nên du ký cũng có sự kết hợp rất linh hoạt các phương thức phản ánh đời

sống Nói đến tính chất báo chí cũng chính là nói đến yếu tố chính luận Hơn thế

nữa, “ghi việc” để “thông tin sự thực” không phải là nội dung cơ bản của ký

Trang 37

N ội dung cơ bản của ký, ngay ở hình thức sơ khai của nó, là thông tin về ý

nghĩa, về giá trị nhân sinh của sự việc được ghi” [39, tr.367] Do đó, trên nền

tảng tự sự, du ký phát triển rất tự nhiên yếu tố nghị luận, và sự phát triển của yếu

tố chính luận trong du ký cũng là điều dễ hiểu Tư duy chính luận được thể hiện

ở nhiều phương diện: nghiên cứu có tính chất khoa học về một hiện tượng, luận bàn chính trị về một vấn đề, khái quát những đặc điểm chung, một tình hình xã

hội Và mục tiêu của chính luận là tác động đến dư luận xã hội đương thời, lối

sống, quyền lợi hiện hành, đề xuất củng cố thay đổi cho phù hợp với quyền lợi giai cấp, lí tưởng, đạo đức Cũng giống như các thể loại khác, trong tác phẩm

du ký luôn tồn tại cái “tôi” cá nhân của tác giả Du ký không dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật thiên nhiên, con người trong từng bước du hành, cũng không đơn giản là những cảm xúc yêu, ghét, vui, buồn trước sự vật, sự việc khách quan, mà du ký còn thể hiện những trăn trở, thái độ, đánh giá trước hiện thực

của người viết Ngôn ngữ người trần thuật trong du ký là ngôn ngữ văn chương, mang nhiều tầng nghĩa, hướng người đọc từ những sự kiện này có thể liên tưởng

tới những sự kiện khác, mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện rõ đặc điểm chung

của ký là “sự nhức nhối của trí tuệ” [39, tr.373] Tính chính luận trong du ký vì

vậy bộc lộ trực tiếp qua ngôn ngữ của cái tôi trần thuật, qua lăng kính chủ quan

của người lữ khách Du ký sử dụng phương thức nghị luận để bình luận, suy nghĩ về mọi khía cạnh của cuộc sống, tuy không gay gắt như một thiên chính

luận thực sự, nhưng cũng đủ để lại dư âm và đánh động trong lòng đọc

Nói tóm lại, là nơi giao thoa của nhiều thể loại, du ký không phải là một thể

loại thuần nhất, mà hội tụ nhiều phương thức chiếm lĩnh và phản ánh đời sống

Cơ sở của du ký là đi, xem và ghi chép Điều đó không có nghĩa du ký chỉ đơn thuần là một bản tự sự khô khan Sự kết hợp các phương thức tự sự, trữ tình và nghị luận giúp cho tác giả du ký có được một cách chiếm lĩnh đời sống vô cùng linh hoạt, gởi gắm được nhiều những giá trị nhân sinh trong tác phẩm của mình

Trang 38

Nhờ đó, du ký tạo lập được một màu sắc riêng biệt không nhầm lẫn trong bức tranh chung đầy màu sắc của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Trang 39

C hương 2

DU KÝ VIỆT NAM 1930 – 1945 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Du ký là sản phẩm của việc đi, xem và ghi chép Như ở trên đã nói, du ký

hấp dẫn người đọc bởi nhiều nội dung mới lạ chứa đựng trong những câu chuyện kỳ thú mang cảm hứng phiêu lưu được phát triển một cách tự nhiên theo

từng bước chân của người lữ khách Mỗi một cuộc hành trình đều mang lại cho người đọc những khám phá đầy bất ngờ và thú vị về cảnh vật thiên nhiên, các di tích lịch sử, con người, hiện thực xã hội, phong tục tập quán, văn hóa ở những vùng đất xa gần khác nhau mà tác giả đã đi qua Du ký vì vậy cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đồ sộ về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, và cũng

vì thế mà các tác phẩm du ký mang trong mình thật nhiều những giá trị học thuật khác ngoài giá trị văn chương

2.1 C ảnh vật thiên nhiên và danh lam thắng tích

Bởi mục tiêu trước tiên của du ký là ghi chép về những cảnh vật trên đường

đi của người lữ khách, nên cũng như các tác phẩm ở giai đoạn trước đó, du ký

Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 nổi bật lên là những trang viết miêu tả về phong cảnh thiên nhiên đầy màu sắc và tạo nhiều cảm hứng cho người viết lẫn người đọc Ngoài ra, các danh lam thắng tích mang dấu ấn lịch sử cũng là những đối tượng không thể bỏ qua của tác giả du ký Điều này cũng không có gì khó

hiểu, khi Việt Nam là một đất nước ngàn năm văn hiến và lòng tự hào dân tộc luôn là một điểm nổi bật nhất trong bản chất con người Việt Nam, thì chắc hẳn tâm hồn và ngòi bút của người viết du ký sẽ không thể dửng dưng trước những

“dấu cũ” của “người xưa” để lại

2.1.1 Cảnh vật thiên nhiên

Du ký trước hết là thể loại ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên Đọc du ký, người đọc sẽ được thưởng ngoạn muôn vàn cảnh trí, sẽ được mở

Trang 40

rộng tầm mắt ra nhiều không gian khác của Tổ quốc Những vẻ đẹp diệu kỳ của phong cảnh đất nước từ Bắc chí Nam, từ địa đầu Tổ quốc đến mũi Cà Mau, từ

miền xuôi đến miền ngược, từ vùng núi đến hải đảo tất cả đều được ngòi bút

của các nhà du ký ghi lại một cách tỉ mỉ, sinh động, đầy màu sắc với nhiều cung

bậc cảm xúc khác nhau

2.1.1.1 C ảnh đồng lúa bát ngát

Việt Nam là đất nước nông nghiệp, vì thế cảnh vật thiên nhiên hiện lên trong tác phẩm du ký thường là những cánh đồng quen thuộc, những cánh đồng lúa

chạy dài trĩu nặng, đong đầy chứa chan bao công sức của người nông dân cần

mẫn Đó là “những thửa ruộng lúa già hạt vàng nặng trĩu, những đám khoai sắp tách t ừng rãnh cát trắng phau đang tắm trong nắng ( ) tưng bừng của sớm mai

hè đẹp đẽ” (Indrapura – Đồng Dương) [7, tr.694] Đặc biệt, từ trên cao nhìn

xuống, những cánh đồng lúa lại càng trở nên tuyệt đẹp hơn: “ruộng nương như bàn c ờ Làng mạc xa xa điểm thành những chấm đen, giữa những thửa ruộng

vàng hoe lúa chín” (Am Tiên) [22, tr.41], r ồi “những ruộng nước trông vừa to bằng chiếc chiếu, liên tiếp nhau, ta có thể tưởng tượng cái cánh đồng bát ngát

c ủa miền hạ lưu xứ Bắc Kỳ là một cái sân gạch khổng lồ Thỉnh thoảng một con đường hay một con sông ngòng ngoèo chạy qua, trông chỉ như những vết rạn vỡ hay n ứt nẻ của mặt đất Đó đây, một vài làng xóm ẩn hiện dưới ngọn cây xanh, nhô lên gi ữa cánh đồng nước, trông như những cù lao ngoài bể” (Hà Nội – Vientiane trong hai giờ) [7, tr.794]

Như ta đã biết, miền Tây Nam Bộ từ lâu nổi tiếng là vùng đất của những cánh đồng lúa trĩu nặng phù sa Chính vì vậy, Biệt Lam Trần Huy Bá đã không

khỏi xúc động mà thốt lên những câu thơ miêu tả vẻ trù phú của ruộng lúa nơi đây:

( ) Tít xa m ột vạch thấp xè , Vuông vuông xanh đỏ vàng the đủ màu

Có ru ộng lúa rũ đầu chín tới,

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w