1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển tư duy học sinh trong dạy học khóa trình lịch sử việt nam 1930 1945 (sách giáo khoa lịch sử 12 ban cơ bản)

110 908 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Tư Duy Học Sinh Trong Dạy Học Khóa Trình Lịch Sử Việt Nam 1930 – 1945 (Sách Giáo Khoa Lịch Sử 12 – Ban Cơ Bản)
Tác giả Phan Thị Phượng
Người hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Thị Duyền
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 681,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn đó, giới nghiên cứu lý luận dạy học bộ môn đã đềxuất và thử nghiệm nhiều phương pháp dạy học như: dạy học nêu vấn đề, tăngcường sử dụng đồ dùng trực quan, đàm thoạ

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

-*** -PHAN THị PHƯợNG

Khóa luận tốt nghiệp đại học

PHáT TRIểN TƯ DUY HọC SINH TRONG DạY HọC KhóA TRìNH LịCH Sử Việt Nam 1930 – 1945 (SáCH GIáO KHOA LịCH Sử 12 – BAN CƠ BảN)

Qua đú, tụi cũng xin gửi lời cảm ơn chõn thành nhất tới cỏc thầy cụ giỏo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh núi chung và cỏc thầy cụ

Trang 2

giáo trong tổ phương pháp dạy học lịch sử nói riêng cùng gia đình, bạn bè

đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Do thời gian và trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế lại là một sinh viên lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cho nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót Do vậy, tôi rất mong nhận được

sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5, năm 2010.

Sinh viên

Phan Thị Phượng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

A - MỞ ĐẦU 1

B - NỘI DUNG 9

Chương 1: Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử -lí luận và thực tiễn 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Tư duy và tư duy lịch sử 9

1.1.2 Bộ môn lịch sử có điều kiện phát triển tư duy học sinh 12

1.1.3 Một số nội dung phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử 12

1.1.4 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy học sinh qua dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Mặt tích cực 24

1.2.2 Mặt tồn tại 26

Chương 2: Một số nội dung phát triển tư duy học sinh trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam 1930 – 1945 (SGK lịch sử 12, Ban cơ bản) 30

2.1 Vị trí, mục đích, nội dung cơ bản của khóa trình 30

2.1.1.Vị trí……… 30

2.1.2 Mục đích……… 31

2.1.3 Nội dung cơ bản của chương ……… 34

2.2 Nội dung phát triển tư duy học sinh trong dạy học khóa trình……… 37

2.2.1 Nắm vững quan điểm lịch sử………37

2.2.2 “Chân lý bao giờ cũng cụ thể” ……….39

2.2.3 Mối liên hệ nhân quả, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự kiện và hiện tượng………41

2.2.4 Nắm vững quy luật, phân biệt bản chất và hiện tượng ……… 45

Trang 4

2.2.5 Tư duy học sinh thể hiện việc vận dụng kiến thức đã học vào việc tiếp

nhận kiến thức mới và cuộc sống………46

Chương 3: Một số biện pháp phát triển tư duy học sinh trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam 1930-1945 (Sách giáo khoa lịch sử 12, Ban cơ bản) 49

3.1 Các biện pháp sư phạm phát triển tư duy 49

3.1.1 Một số nguyên tắc xác định các biện pháp sư phạm 49

3.1.2 Các biện pháp phát triển tư duy học sinh 54

3.1.2.1 Khai thác triệt để nội dung khóa trình lịch sử ở trường phổ thông…54 3.1.2.2 Vận dụng các hình thức của dạy học nêu vấn đề……… 55

3.1.2.3 Sử dụng đồ dùng trực quan một cách hợp lý là một biện pháp phát triển tư duy học sinh……… 68

3.1.2.4 Liên hệ kiến thức cũ trong nghiên cứu bài mới là một biện pháp phát triển tư duy tái tạo của học sinh……… 75

3.1.2.5 Tăng cường sử dụng tài liệu văn học và các tài liệu khác trong dạy học lịch sử ……… 77

3.2 Thực nghiệm sư phạm……… 80

C - KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NXB Nhà xuất bản

NXBGD Nhà xuất bản Giáo dục

NXBĐHSP Nhà xuất bản Đại học sư phạm

NXBCTQG Nhà xuất bản Chính tri quốc gia

Trang 6

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học kĩ thuật và sự bùng nổ thôngtin, nền kinh tế Việt Nam hòa chung với nền kinh tế thế giới đang chuyểnsang một bước mới đó là nền kinh tế tri thức Đứng trước thực trạng tri thứcnhân loại không ngừng tăng lên theo cấp số nhân, đã đặt lên vai ngành giáodục nhiệm vụ nặng nề hơn là: phải đào tạo, phải bồi dưỡng nguồn nhân lựctiên tiến, đáp ứng yêu cầu của xã hội mới Đó là những con người có trí tuệ,

có tri thức, tự chủ, năng động và sáng tạo Việc phát triển tốt nguồn lực conngười sẽ tạo đà thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội củanước nhà

Cũng như các nhà tương lai học đã khẳng định:“Tương lai của con người hoàn toàn phụ thuộc vào giáo dục” (AlvinTofler) và “giáo dục phải đứng hàng đầu và đóng vai trò chủ chốt trong sự phát triển của xã hội tương lai” (RoyRoaysingh) Tư tưởng trên đã khẳng định trong các nghị quyết của

Đảng, các chính sách của nhà nước ta về giáo dục Hiến pháp năm 1992 xác

định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đồng thời trong công tác giáo dục

đào tạo con người, phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy,rèn luyện và phát huy khả năng suy nghĩ, hành động một cách tự chủ, năngđộng, sáng tạo ngay trong học tập và lao động đối với từng cá nhân, tập thể.Bởi vậy, đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang là vấn đề rất được quantâm

Mặt khác, trong sự nghiệp giáo dục thì bộ môn lịch sử đóng vai trò quantrọng bởi vì tri thức lịch sử là yếu tố của nền văn hóa chung của loài người vàkhông thể coi việc giáo dục con người đã hoàn thành đầy đủ nếu không trang

bị cho học sinh những hiểu biết cần thiết về lịch sử Như nhà sử học Xô Viết

Trang 7

Paralo đã khẳng định: “muốn đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng

ta, cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật, sự hứng thú hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm bớt sự chú ý của chúng ta đối với việc dạy học lịch sử” [31,21].

Cùng với các môn học khác ở trường phổ thông, bộ môn lịch sử cũngcần phải góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra Cho nên,việc học tập lịch sử cũng đòi hỏi phải phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo.Bởi vì, mọi khoa học đều là những tổng kết kinh nghiệm trong cuộc sống, đạttới trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, đi sâu vào bản chất sự kiện, hiệntượng, rút ra quy luật vận động của sự vật và tác động đến nó, từ đó đạt tớichân lý khách quan

Mặc dù, hiện nay phương pháp dạy học lịch sử đã đạt một số thành tựuquan trọng nhưng trong thực tiễn dạy học vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Đó là

vẫn còn tồn tại kiểu dạy: “thầy đọc, trò ghi” một kiểu học“nhồi nhét” lối

“học gạo” Việc dạy học như thế sẽ không phát huy tính độc lập, sáng tạo

trong kiến thức của học sinh, sẽ không phát huy được tư duy của các em Chonên giờ học lịch sử đã gây cho người học cảm giác bị động, nặng nề, nhàmchán Điều đó giải thích vì sao một thực tế không thể chối cãi là tình trạng họcsinh không ham thích môn lịch sử khá phổ biến

Xuất phát từ thực tiễn đó, giới nghiên cứu lý luận dạy học bộ môn đã đềxuất và thử nghiệm nhiều phương pháp dạy học như: dạy học nêu vấn đề, tăngcường sử dụng đồ dùng trực quan, đàm thoại, bài tập nhận thức, sử dụng tàiliệu văn học….nhưng thông qua điều tra thực tiễn chúng tôi thấy khả năng kếthợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học để phát huy tính độc lập, sángtạo và phát triển được tư duy của các em không nhiều Do đó không ngừng

Trang 8

đổi mới phương pháp dạy học, tìm kiếm những phương pháp dạy học mới có

ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy tối đa hiệu quả của quá trình dạy học.Khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1930-1945 là một giai đoạnlịch sử quan trọng Đây cũng là một nội dung lịch sử quan trong trong các kỳthi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi ở trường phổ thông Vì vậy để học sinh tiếpnhận đầy đủ và sâu sắc giai đoạn lịch sử này là một điều vô cùng cần thiết.Bản thân tôi là một sinh viên năm cuối ở trường sư phạm, một giáo viênlịch sử trong tương lai Để chuẩn bị tốt hành trang để bước vững vàng trên

con đường lựa chọn nghề sư phạm, tôi chọn đề tài “Phát tiển tư duy học

sinh trong dạy khóa trình Lịch sử Việt Nam 1930-1945 (sách giáo khoa lịch sử 12, ban cơ bản)” làm khóa luận tốt nghiệp.

Với đề tài trên tôi hi vọng đóng góp phần nhỏ bé vào việc đổi mớiphương pháp dạy học lịch sử Qua đó khẳng định vị trí quan trọng của mônlịch sử trong sự nghiệp giáo dục

2 Lịch sử vấn đề

Liên quan đến đề tài mà chúng tôi còn nghiên cứu có một số tài liệu màchúng tôi đã tiếp cận được đó là:

*Tài liệu ngoài nước:

Những tác phẩm về tâm lý học, lý luận dạy học có liên quan đến kháiniệm tư duy học sinh và con đường phát triển tư duy học sinh

- Tác phẩm “Tư duy của học sinh” (NXBGD, HN, 1970) M.N.

Sacđacốp “đã nói về các quy luật phát triển của các thao tác và hình thức tưduy của học sinh” [20,3]

- Tác phẩm “Phát triển tư duy học sinh” (NXBGD, HN, 1996) của các

tác giả: M Alecxếep, V Onhisuc, M Crugliac ,V Zabôtin, X Vecxcle đãgiới thiệu một số vấn đề xung quanh mối liên hệ giữa tâm lý học –lí luận dạyhọc –logic học, trong việc dạy học Trong đó V Zabôtin đề cập tới vấn đề

Trang 9

phát triển tư duy logic cho học sinh Muốn tư duy sáng tạo thì tối thiểu cũngphải tư duy một cách logic Đặc biệt cần dạy cho học sinh biết đặt vấn đề mộtcách logic, tôn trọng logic của sự tiên đoán chiếu cố tới logic của câu hỏi khitìm lời giải đáp Trên cơ sở phân tích những sai lầm vì thiếu logic của họcsinh trong hai lĩnh vực trên, tác giả nêu lên những khả năng giáo dục cho họcsinh những kỹ xảo của tư duy logic.

Tác giả X.Vecxcle trong bài “Phát triển tư duy biện chứng” đã chứng

minh tầm quan trọng của việc giáo dục tư duy biện chứng cho học sinh trongquá trình dạy học: “Tư duy biện chứng có thể phản ánh đúng đắn thế giớixung quanh và nhiệm vụ của người thầy giáo là rèn luyện cho học sinh nănglực xem xét các sự vật và hiện tượng trong sự vận động, trong những mối liên

hệ, mâu thuẫn và trong sự phát triển Nhưng những người có năng lực trí tuệphát triển thì mới có thể tư duy một cách biện chứng được” [1,5]

Ngoài ra còn một số công trình khác như: “Chuẩn bị giờ học lịch sử

như thế nào?” (N G Đai ri, NXBGD, HN , 1973), “Bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” (I Ia Lecne, NXBGD, HN, 1990)…các

tác giả cũng đã ít nhiều đề cập tới vấn đề phát triển tư duy học sinh ở các khíacạnh khác nhau:

- N G Đai ri trong tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”

đã đề ra phương pháp giải quyết giờ học lịch sử theo hướng mới của lí luậndạy học Xô Viết: Chuẩn bị giờ học nhằm mục đích phát huy óc suy nghĩ độclập và tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

- I Ia Lecne trong tác phẩm “Bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông” đã đưa ra phương pháp phát triển tư duy học sinh trong

dạy học lịch sử ở trường phổ thông bằng cách sử dụng hệ thống bài tập nhậnthức

Trang 10

*Tài liệu trong nước.

- Các tài liệu: “Triết học Mác –Lê nin” (NXBGD, HN, 1998), giáo trình

“Tâm lý học đại cương” (NXBGD, HN , 1997)…có đề cập tới vấn đề tư duy.

- Những tác phẩm về lý luận dạy học bộ môn và các tài liệu tham khảokhác:

+ Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị trong quyển “Phương pháp dạy học

lịch sử”, (NXBGD, HN, 1992) đã khẳng định: “Phát triển tư duy học sinh là

một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục phổ thông trong đó có dạyhọc lịch sử” Cho nên “cần tìm hiểu đặc điểm, nội dung tư duy lịch sử, tìmnhững con đường, biện pháp phát triển tư duy trong học tập lịch sử” [15,107]

+ Với quyển “Phát huy tính tích cực của học sinh qua dạy học môn lịch

sử ở trung học cơ sở” (NXBGD, 1998), Phan Ngọc Liên và Trịnh Đình Tùng

đã khẳng định: “Trong việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học việc pháthuy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa quan trọng” [17,5], “học lịch sử phảiphát huy tính tích cực trong tư duy, không chỉ để hiểu biết những giá trị to lớncủa di sản văn hóa tinh thần mà còn đòi hỏi học sinh phải nhạy cảm với tất cảnhững gì được xã hội và các giai cấp của xã hội ấy và cả nhân loại quan tâm,tăng thêm ý thức trách nhiệm đối với xã hội” [17,27] Trên cơ sở đó các tácgiả đã đề cập tới vấn đề phát triển tư duy học sinh thông qua phương phápdạy học phát huy tính tích cực của học sinh

- Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác được công bố trêntạp chí Nghiên cứu giáo dục và một số Luận văn tốt nghiệp của các sinh viên

có liên quan tới đề tài như Luận văn:“Phát triển tư duy học sinh qua dạy học khóa trình lịch sử thế giới cận đại (thời kỳ thứ nhất ) (SGK lịch sử lớp 10 trường THPT không chuyên ban)” do Tiến sĩ Trần Viết Thụ hướng dẫn; “Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy khóa trình lịch sử Việt Nam 1930-

Trang 11

1945 (SGK lịch sử lớp 12)” do Thạc sĩ Nguyễn Thị Hà hướng dẫn …trong

mỗi bài viết, các tác giả nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của phát triển

tư duy nhưng nhìn chung đều thừa nhận vai trò quan trọng, ý nghĩa về nhiềumặt của phát triển tư duy trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Để việc vận dụng các phương pháp dạy học phát triển tư duy học sinh,bên cạnh các tài liệu nói trên, chúng tôi còn sử dụng các tài liệu hướng dẫn

giảng dạy và sách giáo viên như: “Sách giáo viên lịch sử lớp 12” (Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên), NXBGD, 2007), “Giới thiệu giáo án lịch sử 12”

(Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Xuân Trường, Lê Thị Thu Hương, NguyễnThanh Dũng , Trần Thị Thái, NXBHN, 2008) …

Tóm lại, chúng tôi nhận thấy rằng, tất cả các công trình trên đều ít nhiều

đề cập tới đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu Nhưng theo những gì màchúng tôi thu thập được thì chưa có một công trình nào đề cập cụ thể đến việcphát triển tư duy học sinh trong giảng dạy khóa trình lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1930-1945 trong chương trình lịch sử lớp 12 Nhưng những kết quảnghiên cứu đó là chỗ dựa về mặt lý luận để chúng tôi hoàn thành đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổthông

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng một số biện pháp sư phạmtrong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1930 - 1945 (SGK lịch sử lớp 12– ban cơ bản)

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, để góp phần giải quyết yêu cầu thực tiễn dạy học lịch sử ở

trường THPT hiện nay đang đặt ra một cách cấp thiết là đổi mới phương phápdạy học lịch sử

Trang 12

Thứ hai, thông qua đề tài này chúng tôi góp phần nâng cao hiệu quả dạy

học lịch sử, nâng cao trình độ nhận thức của học sinh, phát huy tính tích cực,chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao khả năng nhận thức và tư duy lịch

sử của các em

Thứ ba, với việc nghiên cứu đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đưa ra những

biện pháp hữu hiệu, có tính khả thi để phát triển tư duy học sinh trong dạy họckhóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ( SGK lịch sử lớp 12 ban

cơ bản)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những tài liệu lý luận và điều tra thực tiễn để rút ra những

cơ sở của việc phát triển tư duy học sinh

- Nghiên cứu chương trình SGK lịch sử và các tài liệu tham khảo khác

để từ đó đề ra các giả thuyết khoa học

- Đề xuất các biện pháp phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sửViệt Nam giai đoạn 1930-1945

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả những đề xuất đó

5 Giả thuyết khoa học

Nếu người giáo viên biết phát hiện và sử dụng đúng đắn những phươngpháp dạy học thích hợp thì sẽ có tác dụng phát triển tư duy học sinh trong dạyhọc lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng và trong dạy học bộmôn lịch sử nói chung

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết:

+ Tìm hiểu các tác phẩm lí luận có liên quan đến đề tài, từ đó bằng cácthao tác tư duy rút ra những luận điểm cơ bản phục vụ cho đề tài

+ Nghiên cứu SGK lịch sử, sách hướng dẫn giảng dạy và các tài liệutham khảo để đề ra các biện pháp thích hợp phát triển tư duy học sinh

Trang 13

- Nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra, khảo sát tình hình thực tế của việc phát triển tư duy học sinhtrong dạy học lịch sử ở trường THPT thông qua dự giờ, phỏng vấn, trao đổikinh nghiệm với các giáo viên phổ thông, với một số giảng viên Khoa SửTrường Đại học Vinh …để tìm hiểu tình hình dạy học lịch sử hiện nay Sau

đó tổng hợp xử lí thông tin và rút ra nhận xét khái quát

+ Soạn và thực nghiệm một bài học cụ thể của phần lịch sử Việt Namgiai đoạn 1930-1945 để chứng minh tính đứng đắn của các đề xuất của luậnvăn

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, cấu trúc củaluận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử - lý luận và

thực tiễn

Chương 2: Một số nội dung phát triển tư duy học sinh trong dạy học

khóa trình lịch sử Việt Nam 1930 – 1945 (SGK lịch sử 12, Ban cơ bản)

Chương 3: Một số biện pháp phát triển tư duy học sinh trong dạy học

khóa trình lịch sử 1930-1945 (SGK lịch sử lớp 12, Ban cơ bản)

Trang 14

B – NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ-

- Về phương diện logic học thì tư duy được định nghĩa: “Tư duy là biểuhiện tối cao của ý thức Tư duy phản ánh tồn tại” [3,8 ]

- Về phương diện tâm lý, tư duy được xem xét như một quá trình tâm lý

Vì vậy, người ta định nghĩa rằng: “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánhnhững thuộc bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quyluật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưabiết” [9,70]

*Đặc điểm của tư duy:

- Tư duy bao giờ cũng xuất hiện khi có vấn đề, tức là chỉ nảy sinh khicon người vấp phải khó khăn, mâu thuẫn trong nhận thức và hành động Đó làtính “có vấn đề” của tư duy

- Tư duy có tính khái quát, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, qua quátrình tư duy, con người phát hiện ra cái chung, bản chất cái quy luật của thế

Trang 15

giới khách quan Như trong “Bút ký triết học”, VI Lê nin đã viết: “Cảm giác

vạch ra cái hiện thực, tư duy và từ vạch ra cái chung”

- Tư duy gắn liền ngôn ngữ Ngôn ngữ là “vỏ vật chất” của tư duy Do

đó, tư duy có tính gián tiếp, không trực tiếp các đối tượng, sự việc riêng lẽnhư giai đoạn nhận thức cảm tính

- Tư duy còn được hiểu là một quá trình, trong bản thân quá trình nàybao gồm các giai đoạn có liên quan chặt chẽ với nhau như: xác định vấn đề tưduy; huy động vốn tri thức, kinh nghiệm có liên quan tới vấn đề tư duy, sànglọc khối lượng kiến thức, chính xác hóa, loại bỏ để hình thành giả thuyết… K.Kplatôlốp và C C Cô lu bép đã cụ thể hóa các giai đoạn của quá trình tư duybằng sơ đồ sau:

Nhận thức vấn đề

Xuất hiện các hiện tượng

Sàng lọc các hiện tượng và hình thành giả thuyết

Kiểm tra giả thuyết

Chính xác hóa khẳng định phủ định Giả thuyết vấn đề Hành động tư duy mới

Ngoài ra, quá trình tư duy còn có đặc điểm là một hành động trí tuệ Conngười sử dụng các thao tác trí tuệ để tư duy như phân tích tổng hợp, so sánh,khái quát hóa, trừu tượng hóa

Trang 16

*Tư duy lịch sử là gì ?

Tư duy lịch sử là quá trình nhận thức lịch sử của con người nhằm phảnánh những đặc trưng, bản chất mối liên hệ giữa các hiện tượng, sự kiện trongquá khứ hiện thực khách quan

*Đặc điểm của tư duy lịch sử:

Tư duy lịch sử của học sinh cũng nằm trong tư duy nói chung nên nócũng chứa đựng đặc điểm của tư duy của con người nói chung Tuy nhiên, dođặc trưng của việc nhận thức lịch sử, bên cạnh các đặc điểm chung, tư duylịch sử của học sinh còn có những đặc điểm khác Các nhà lý luận dạy học bộmôn lịch sử đã rút ra đặc điểm tư duy lịch sử:

- Biết miêu tả khôi phục lại bức tranh quá khứ trên cơ sở tài liệu

- Nêu được nguyên nhân xuất hiện, phát sinh của bất kì sự kiện nào

- Xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên hệ của các sựkiện

- Nhận biết được tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ sựkiện, nhất là sự kiện lớn, quan trọng

- Làm sáng tỏ những biểu hiện đa dạng của các quy luật lịch sử

- Xác định động cơ hoạt động của tầng lớp, tập đoàn hay cá nhân tronglịch sử

- Biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử với đời sống hiện nay vàrút ra bài học kinh nghiệm

Qua đó ta có thể khẳng định một điều rằng: Tư duy lịch sử được hìnhthành trong quá trình học tập lịch sử, nó liên quan đến nhiều loại tư duy khác,trước hết là tư duy biện chứng Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng vềmặt phương pháp của việc học tập lịch sử ở trường phổ thông là học sinh phảinắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhận thứcđúng lịch sử

Trang 17

Tóm lại: Tư duy lịch sử là hoạt động trí tuệ của học sinh nhằm nhận

thức đúng quá khứ, hiểu rõ hiện tại và dự đoán sự phát triển hợp quy luật củatương lai Ở đây, tư duy lịch sử không chỉ thể hiện ở quan niệm duy vật vềlịch sử mà cả phương pháp học tập khoa học để nhận thức lịch sử

1.1.2 Bộ môn lịch sử có điều kiện phát triển tư duy học sinh

Qua nghiên cứu lý luận và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, chúng ta cóthể khẳng định rằng bộ môn lịch sử có thể góp phần phát triển tư duy họcsinh Điều đó xuất phát từ mấy lý do cơ bản sau đây:

Một là: Bộ môn lịch sử không dừng lại ở chỗ cung cấp cho học sinh

những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ mà phải hình thành khái niệm lịch sử, giúpcho học sinh rút ra quy luật, bài học lịch sử Trong đó, khái niệm là hình thức

cơ bản của tư duy Việc rút ra quy luật và bài học lịch sử yêu cầu học sinhphải suy nghĩ, tư duy

Hai là: Trong nhiệm vụ giáo dục, việc xác định những nội dung giáo

dục thông qua bài học cho đến khai thác một cách triệt để những nội dunggiáo dục này đều chứa đựng hoạt động nhận thức, hoạt động tư duy của ngườihọc

Ba là: Trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông từ nội

khóa, ngoại khóa đến việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đều

có tác dụng phát triển tư duy học sinh

Bốn là: Dạy học lịch sử không dừng lại ở chỗ cung cấp cho học sinh khối

lượng tri thức, vấn đề ở chỗ học sinh vận dụng tri thức đó vào cuộc sống laođộng sản xuất như thế nào Điều đó đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy sáng tạo

1.1.3 Một số nội dung phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử

Trang 18

Các nội dung lịch sử là cơ sở để phát triển tư duy học sinh Nội dung lịch

sử rất phong phú, đa dạng, cho nên nội dung phát triển tư duy cũng rất đadạng và phong phú Giáo viên cần tập trung vào các vấn đề sau:

1.1.3.1 Nắm vững quan điểm lịch sử

Quan điểm lịch sử là cách nhìn nhận và đánh giá sự vật, hiện tượngtrong trạng thái vận động, sự phát sinh, phát triển của nó và khuynh hướngcủa nó Như vậy hình thành quan điểm lịch sử cho học sinh nghĩa là hìnhthành quan điểm duy vật và tư duy biện chứng

Để hình thành và phát triển quan điểm lịch sử thì nội dung giảng dạy phảiphù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin về lịch sử, phù hợp với trình độ

sử học về mác -xít cũng như quan điểm của Đảng về mục tiêu và phương phápgiáo dục Nắm vững quan điểm lịch sử là để khôi phục lại bức tranh quá khứ lịch

sử loài người đúng như nó đã từng tồn tại, tránh hiện đại hóa lịch sử

Cụ thể là: Trong khi dạy học lịch sử chúng ta lưu ý học sinh nắm các giaiđoạn, các thời kỳ lịch sử cụ thể của sự phát triển chung của xã hội loài người.Phải nắm được kiến thức cụ thể của mỗi thời kì để tránh tình trạng diễn đạtchung bằng các từ như “tiến bộ”, “lạc hậu”

Mặt khác, qua các khóa trình lịch sử, cần làm cho học sinh thấy rõ tính

kế thừa trong phát triển: trong lòng chế độ cũ đã hình thành mầm mống củachế độ mới, chế độ mới kế thừa, tiếp nhận những tinh hoa, di sản của chế độtrước và đặt cơ sở cho sự ra đời của chế độ mới Từ đó, làm cho học sinhnhận thấy sự thống nhất, tính chất tiến bộ, sự phát triển đi lên, hợp quy luật,

sự đa dạng, đầy mâu thuẫn của lịch sử Cần khắc phục việc nhận thức tảnmạn, rời rạc, cắt đoạn các thời kỳ lịch sử, các hình thái kinh tế -xã hội Chúng

ta cần phải giúp các em thấy rằng mỗi thời kì, mỗi hình thái kinh tế - xã hội làmột bậc thang của sự phát triển xã hội

1.1.3.2 “ Chân lý bao giờ cũng cụ thể”

Trang 19

Nguyên lý “chân lý bao giờ cũng cụ thể” nghĩa là khi nhận xét đánh giámột sự kiện, hiện tượng lịch sử bao giờ cũng phải đặt trong điều kiện lịch sử

cụ thể có ảnh hưởng tới sự ra đời và phát triển của nó

Vận dụng nguyên lý “chân lý bao giờ cũng cụ thể” trong học tập lịch sử,học sinh không chỉ nắm được sự kiện mà còn hiểu sâu sắc, giải thích đượcbản chất sự chuyển đổi của các sự kiện Qua đó, tránh việc hiện đại hóa lịch

sử, gán ghép một cách chủ quan phiến diện cho quá khứ Vì vậy, giáo viêncần hướng dẫn cho học sinh nắm vững diễn biến của sự kiện cụ thể, phân tíchnhững điều kiện lịch sử cụ thể có ảnh hưởng đến sự ra đời và phát triển của sựkiện Qua đó giúp các em giải thích được vì sao một chế độ xã hội, môt nhânvật lịch sử có lúc tiến bộ, có khi lạc hậu, phản động bị đào thải để nhường chỗcho một nhân vật khác, một chế độ xã hội mới

Nguyên lý “chân lý bao giờ cũng cụ thể” được vận dụng vào dạy học lịch

sử, giúp học sinh hiểu sự kiện, nhân vật lịch sử chịu sự tác động, chi phối củahoàn cảnh, nhưng cũng ảnh hưởng trở lại đối với hoàn cảnh một cách cụ thể;khi nào điều kiện lịch sử thay đổi thì tính chất của sự kiện nảy sinh cũng phảnánh sự thay đổi ấy, cũng như hoạt động của mỗi nhân vật lịch sử trong mộtthời kì nhất định cũng góp phần không nhỏ vào sự biến đổi, phát triển của lịch

sử Nói chung, cách nhận thức là cần thiết, hợp với trình độ học sinh và gópphần phát triển tư duy lịch sử của học sinh Công việc này được tiến hànhthông qua sự giải thích của giáo viên, qua cách đặt vấn đề và hướng dẫn họcsinh tự giải quyết

Tóm lại, nhận thức và vận dụng nguyên lý “chân lý bao giờ cũng cụ thể”giúp cho học sinh nắm vững một cách sâu sắc những sự kiện quá khứ, tránhviệc xuyên tạc, bóp méo lịch sử, góp phần vào phát triển tư duy của các em

1.1.3.3 Sự phát triển của sự vật, hiện tượng đều thông qua sự thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập

Trang 20

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữ các mặt đối lập là “hạt nhân” củaphép biên chứng, là quy luật về nguồn gốc, đông lực cơ bản, phổ biến của mọiquá trình vận động và phát triển Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực

cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫnkhách quan, vốn có của sự vật Hai mặt đối lập trong sự vật tồn tại trong sựthống nhất của chúng Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lạitheo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Sự vận động và

sự phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi.Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định tính ổn định và tínhthay đổi của sự vật Do vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động

và phát triển

Qua các khóa trình lịch sử, giáo viên hướng dẫn cho học sinh thấy rõ sựthống nhất của quá trình phát triển xã hội là hợp quy luật nhưng đầy mâuthuẫn và đa dạng Trong đời sống xã hội có nhiều mâu thuẫn, từ khi xã hộiphân chia thành giai cấp thì mỗi giai đoạn lịch sử nỗi lên những mâu thuẫn cơbản khác nhau Thời chiếm hữu nô lệ thì nô lệ mâu thuẫn với chủ nô, thời kỳphong kiến thì giai cấp nông dân mâu thuẫn với giai cấp phong kiến …mâuthuẫn đó chính là nguồn gốc của đấu tranh giai cấp Qua việc trình bày các sựkiện cơ bản trong khóa trình, cần làm cho học sinh hiểu rằng mâu thuẫn trong

xã hội cũng thể hiện mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặtđối lập là nguồn gốc của sự phát triển xã hội, tự nhiên và tư duy Ví dụ: Nô lệ

và chủ nô là sự thống nhất hai mặt đối lập của xã hội chiếm hữu nô lệ, sự đấutranh nô lệ chống chủ nô là động lực phát triển xã hội tiến sang chế độ phongkiến cao hơn Xã hội tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất của hai mặt đối lập tưsản và vô sản Mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản dẫn tới cuộc cách mạng vôsản mà tất yếu là CNXH sẽ thắng lợi cũng như CNTB không tránh khỏi diệtvong Không có giai cấp đối kháng trong một xã hội thì sẽ không có đấu

Trang 21

tranh giữa giai cấp bị trị chống lại giai cấp thống trị Sự thắng lợi của giai cấp

bị trị trong việc lật đổ giai cấp áp bức, làm cho chế độ xã hội này (tiến bộhơn) thay thế một chế độ xã hội khác (đã lỗi thời), làm cho xã hội loài ngườikhông ngừng phát triển

Măt khác, giáo viên cũng cần làm cho học sinh hiểu rằng, sự thống nhấtcủa các mặt đối lập trong xã hội chỉ có tính chất tạm thời, sự đấu tranh giữacác măt đối lập này sẽ phá vỡ một trong hai mặt đối lập này và sẽ nãy sinhmặt đối lập khác Đó là động lực của xã hội

Như vậy, thông qua đấu tranh các mặt đối lập của các mâu thuẫn trong

xã hội mà lịch sử loài người luôn thay đổi và phát triển theo chiều hướng đilên

Tóm lại, việc vận dụng quy luật về thống nhất và đấu tranh giữa các mặtđối lập là vấn đề quan trọng cần thiết để hiểu đúng lịch sử, phát triển cho họcsinh tư duy biện chứng trong học tập

1.1.3.4 Nêu mối liên hệ nhân quả, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự kiện lịch sử

Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan,bao hàm tính tất yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn đến kết quả nhấtđịnh và ngược lại không có kết quả nào không có nguyên nhân Nguyên nhânsinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kếtquả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân Một nguyên nhân có thể sinh ramột hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhântạo nên Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kếtquả có thể diễn ra theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnhhưởng đến sự hình thành kết quả nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau:

có nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân bên trong,nguyên nhân bên ngoài… Nguyên nhân sinh ra kết quả và kết quả cũng có sự

Trang 22

tác động trở lại đối với nguyên nhân Đó là mối quan hệ biện chứng giữanguyên nhân và kết quả

Từ cơ sở lý luận đó chúng ta soi rọi vào lịch sử, xã hội loài người Lịch sửphát triển liên tục, không gián đoạn qua các thời kỳ khác nhau Ở mỗi giai đoạnlịch sử khác nhau, lịch sử của các quốc gia, dân tộc có những nét riêng, đặc thù.Song giữa các hiện tượng lịch sử trong mỗi nước, giữa dân tộc và thế giới baogiờ cũng có mối liên hệ nhân quả, sự phụ lẫn nhau Trong giảng dạy lịch sử nhấtthiết giáo viên phải làm cho học sinh nhận thức cụ thể mối liên hệ ấy Sự nhậnthức của học sinh phản ánh tính biện chứng của quá trình phát triển lịch sử, cầnkhắc phục tình trạng học sinh nắm sự kiện một cách rời rạc không có hệ thống

Sự nhận thức lý luận về liên hệ nhân quả và phụ thuộc lẫn nhau giữa cáchiện tượng có liên quan đến việc nhận thức và các vấn đề về quan điểm lịch

sử, tính cụ thể của chân lý, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đốilập trong học tập các khóa trình lịch sử, có thể xoay quanh các vấn đề sau:

- Xác định mối liên hệ giữa các hiện tượng, biến cố để tìm nguyên nhânchủ yếu, nguyên nhân sâu xa và nguyên cớ trực tiếp, những nguyên nhân thứyếu dẫn đến sự phát sinh của chúng

- Từ sự phân tích những mối liên hệ đơn giản đến việc phân tích nhữngmối liên hệ phức tạp hơn

- Từ việc tìm ra những nguyên nhân của mối liên hệ giữa các sự kiện đếnchỗ phân tích tính chất những liên hệ ấy

- Từ chỗ nêu lên mối liên hệ đi đến xác định tính chất biện chứng, tácđộng qua lại giữa các sự kiện

- Từ chỗ nêu mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện, giáo viên hướng dẫnhọc sinh nắm các giai đoạn, các khâu nằm giữa nguyên nhân và hậu quả

1.1.3.5 Nắm vững quy luật, phân biệt bản chất và hiện tượng

*Quy luật:

Trang 23

- Quy luật là mối liên hệ tất yếu tất yếu cơ bản ổn định và lặp đi lặp lạigiữa các hiện tượng và giữa các bộ phận với nhau trong một hiện tượng.

- Quy luật lịch sử là những mối liên hệ cơ bản, lặp đi lặp lại giữa cáchiện tượng trong sự phát triển của xã hội loài người

- Quy luật lịch sử có đặc điểm riêng: Thứ nhất, cũng như các quy luật

khác, quy luật lịch sử tồn tại một cách khách quan, ở bên ngoài và độc lập với

ý thức con người Con người có thể tìm hiểu, nhận thức, phát hiện ra quy luật

và sử dụng nó để phục vụ cho lợi ích của mình chứ không thể sáng tạo ra nó

và thủ tiêu nó Thứ hai, quy luật lịch sử chính là quy luật hoạt động của con

người trong quá khứ, như nó vẫn độc lập, khách quan với ý chí con người

- Để hướng dẫn học sinh rút ra quy luật lịch sử, giáo viên cần nắm vữngcác nguyên tắc sư phạm sau đây:

+ Việc rút ra quy luật phải phải xuất phát trên cơ sở nghiên cứu những sựkiện lịch sử cụ thể

+ Giáo viên cần vạch ra cái chung, mối liên hệ phổ biến, lặp đi lặp lạicủa các sự kiện, hiện tượng riêng lẽ để hướng dẫn học sinh rút ra quy luật + Quy luật rút ra phải phù hợp với đặc điểm, tâm lý lứa tuổi và trình độnhận thức của học sinh

- Sau đây là một số biện pháp hình thành quy luật:

+ Đối với những quy luật phức tạp, giáo viên có thể không cần phát biểuquy luật mà chỉ nêu nội dung của quy luật thông qua các sự kiện lịch sử cụ thể

Ví dụ: Khi dạy bài “Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII ” (SGKlịch sử lớp 10), giáo viên không cần nêu quy luật sự mâu thuẫn giữa quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất, mà chỉ cần nêu chế độ phong kiến đã kìm hãm

sự phát triển của CNTB ở Pháp là được

+ Đối với học sinh THPT, giáo viên có thể dùng biện pháp nêu quy luậttrước để làm tiền đề, rồi dùng các sự kiện để chứng minh quy luật đó

Trang 24

Ví dụ: Trước khi trình bày kiến thức mới trong giảng dạy bài “Phongtrào giải phóng dân tộc và khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) nước Việt NamDân chủ Cộng hòa ra đời”, giáo viên có thể mở đầu bằng việc nêu quy luật:

“Thắng lợi của cách mạng không phải tự nó đến, mà phải chuẩn bị nó, giànhlấy nó”

*Bản chất là tập hợp tất cả những mặt những mối liên hệ bên trong

tương đối ổn định quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó

*Hiện tượng là biểu hiện những mặt những mối liên hệ bản chất ra bên

ngoài

Trong giảng dạy giáo viên cần giúp cho học sinh rút ra những quy luật vànắm vững nó, phân biệt được bản chất và hiện tượng của các sự kiện lịch sửchứ không dừng lại ở việc cung cấp cho học sinh những sự kiện riêng lẽ.Nếu nắm được quy luật, phân biệt được bản chất và hiện tượng thì họcsinh sẽ nhận thức được lịch sử một cách vững chắc và khoa học Nắm vữngquy luật lịch sử thì học sinh mới biến kiến thức thành niềm tin để phấn đấucho lý tưởng của mình Hơn nữa nó còn là cơ sở để đánh giá đúng đắn sựkiện, hiện tượng có hình thức bên ngoài tương tự như nhau

Muốn học sinh nắm được quy luật, phân biệt bản chất và hiện tượng giáoviên cần khắc sâu củng cố nhấn mạnh cho học sinh những mối liên hệ đượclặp đi lặp lại Gạt bỏ những biểu hiện bên ngoài không bản chất, không quantrọng để đi vào cốt lõi bên trong của sự kiện hiện tượng

1.1.3.6 Tư duy học sinh thể hiện việc vận dụng kiến thức đã học vào việc tiếp nhận kiến thức mới và cuộc sống

Vận dụng kiến thức đã học trong học tập lịch sử nghĩa là chúng ta pháttriển năng lực thực hành cho học sinh Trong học tập lịch sử việc phát triển tưduy gắn chặt với việc phát triển năng lực thực hành Và với việc vận dụng

Trang 25

kiến thức đã học để tiếp nhận kiến thức mới, nó sẽ có tác dụng giúp học sinhvừa nhớ lại kiến thức cũ vừa hiểu sâu sắc kiến thức mới.

Tư duy lịch sử còn thể hiện ở việc vận dụng kiến thức đã học vào cuộcsống Việc vận dụng kiến thức đã học để tiếp nhận kiến thức mới vào cuộcsống, nó không chỉ khái quát kiến thức đã học, vạch ra sự khác nhau, cáigiống nhau giữa các giai đoạn, thời kỳ lịch sử, xác định cái chung, cái riêngtrong quy luật phát triển xã hội Mà điều quan trọng hơn là rút ra những bàihọc quá khứ cho hiện tại “chúng ta hỏi dĩ vãng bắt nó giải thích hiện tại và dựđoán tương lai cho chúng ta” [15,307]

Ngoài những nội dung phát triển tư duy nói trên, để phát triển tư duy chohọc sinh, giáo viên còn cần rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh (bao gồm cả nói

và viết ) vì “ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy” Đồng thời rèn luyện cho họcsinh sử dụng thành thạo các thao tác của tư duy như: phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa

1.1.4 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy học sinh qua dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng

Bộ môn lịch sử cũng như các bộ môn khác ở trường phổ thông đều gópphần vào việc phát triển học sinh Đây là nhiệm vụ song song với các nhiệm

vụ khác như là nhiệm vụ giáo giưỡng, giáo dục và phát triển trở thành nhiệm

Trang 26

Hơn thế nữa, ngành giáo dục và đào tạo cũng đã xác định mục tiêu củamình là phải “tạo ra những con người tự chủ, năng động và sáng tạo, có nănglực giải quyết những vấn đề thường gặp, tự lo được việc làm, lập nghiệp vàthăng tiến trong cuộc sống, qua đó xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội côngbằng và văn minh” [24,17] Mà “muốn đào tạo được những con người khi vàođời là những con người tự chủ, năng động, sáng tạo thì phương pháp dạy họccũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ,làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong quá trình lao động vàhọc tập ngay ở nhà trường phổ thông” [24,17] Vì vậy, phát triển tư duy họcsinh có một ý nghĩa hết sức quan trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nóiriêng

dung đây là một phong trào cách mạng quy mô lớn của nhân dân ta trongnhững năm 1930-1935, phong trào này là bước tập dượt đầu tiên chuẩn bị chothắng lợi của cách mạng tháng Tám sau này

Ở cấp độ cao hơn, với việc phát triển tư duy yêu cầu học sinh phân tích,khái quát, so sánh, nêu đặc điểm ….Từ đó giúp học sinh sẽ hiểu được bản

chất của sự kiện và rút ra quy luật, bài học lịch sử Ví dụ: Hãy rút ra tính chất của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, so sánh đặc điểm của cuộc đấu tranh thống nhất nước Đức và đấu tranh thống nhất nước Ý Quá trình học

sinh tìm kiếm câu trả lời, kết quả học sinh thu được sẽ được khắc ghi bềnvững trong trí nhớ của các em, học sinh sẽ nắm được bản chất của sự kiện, từ

Trang 27

đó có quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề đúng đắn hơn, góp phầnnâng cao hiểu biết của học sinh Như vậy, “chỉ có trong phát triển tư duy, họcsinh mới có thể hiểu rõ bản chất của hiện tượng một cách có hiệu quả” [23,95].

*Về mặt giáo dục:

Bộ môn lịch sử có ưu thế là cung cấp cho học sinh các mặt khác nhaucủa đời sống xã hội loài người, bài học kinh nghiệm ….Do đó có tác dụnggiáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hành vi rất lớn đối với học sinh Pháttriển tư duy học sinh có tác dụng giáo dục học sinh hứng thú nhận thức, hứngthú học tập, lôi cuốn học sinh phát biểu ý kiến, say sưa với công việc tìm tòigiải quyết vấn đề, có thái độ thẳng thắn và dứt khoát khi nhìn nhận, đánh giá

về các vấn đề, các nhân vật và hiện tượng lịch sử Đồng thời hình thành chocác em tình cảm tôn trọng biết ơn những người có công với cách mạng…thái

độ căm thù đối với cái ác, phân biệt được cái đúng cái sai, từ đó xác địnhđược vị trí, vai trò của mình đối với cuộc sống hiện tại Ví dụ: khi học về cáchmạng tháng Tám năm 1945, học sinh sau khi nắm vững kiến thức về sự kiệnnày, các em sẽ có thái độ tự hào hơn về truyền thống yêu nước của dân tộc,biết ơn những người có công với cách mạng, cũng cố niềm tin vào sự lãnhđạo của Đảng, thái độ căm thù chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít, nhậnthức đúng về thắng lợi của cách mạng tháng Tám không phải là một “sự ănmay” như đánh giá một số học giả tư sản cũng như thấy được tính chất chínhnghĩa của cuộc chiến tranh này phân biệt với các cuộc chiến trạnh phi nghĩakhác, từ đó mà có tinh thần, thái độ đấu tranh cho hòa bình của nhân loại.Mặt khác, qua quá trình tư duy học sinh, học sinh ý thức được rằng việcchiếm lĩnh tri thức khoa học không phải là điều đơn giản Từ đó, rèn luyệncho các em đức tính cần cù, lòng kiên nhẫn, đồng thời kích thích sự tò mòham hiểu biết của các em

Trang 28

Với việc phát triển tư duy học sinh, học sinh có điều kiện bộc lộ quanđiểm của mình Bởi vì “chính học sinh rút ra được kết luận mà kết luận củacác em là sự phản ánh quan điểm riêng có căn cứ khoa học của các em” [23,95] Từ đó giáo viên mới biết được cái đúng, cái chưa đúng trong thái độ, tưtưởng của học sinh để kịp thời uốn nắn tạo ra những con người không chỉ có

“tài” mà còn có “đức”

*Về mặt phát triển:

Thứ nhất: Tư duy mở rộng giớ hạn của nhận thức, tạo ra khả năng để

vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm trực tiếp do cảm giác và tri giácmang lại để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng và tìm ra những mốiliên hệ có tính chất quy luật giữa chúng với nhau Như vậy, phát triển tư duycho học sinh giúp cho học sinh không chỉ “biết” mà còn “hiểu” lịch sử để rút

ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động thực tiễn

Thứ hai: Tư duy không chỉ giải quyết những nhiệm vụ trước mắt ngày

hôm nay mà còn có khả năng giải quyết cả những nhiệm vụ ngày mai, trongtương lai, do chỗ nắm được bản chất và quy luật vận động của tự nhiên, xãhội và con người Học lịch sử ta không chỉ ghi lại trong ý thức những sự kiệncủa quá khứ Nếu biết tư duy lịch sử sẽ giúp chúng ta tránh những sai lầmtrong sự phát triển xã hội, tương lai Có thể nói rằng, tư duy lịch sử là hoạtđộng trí tuệ của học sinh nhằm nhận thức đúng quá khứ, hiểu rõ hiện tại và dựđoán sự phát triển hợp quy luật của tương lai

Thứ ba: Tư duy cải tạo thông tin của nhận thức cảm tính làm cho nó có ý

nghĩa lớn trong hoạt động nhận thức của con người, tư duy vận dụng nhữngcái đã biết để đề ra biện pháp giải quyết cái tương tự nhưng chưa biết; chínhđiều đó làm tiết kiệm được công sức con người Nhờ tư duy con người hiểubiết vững chắc về thực tiễn hơn với môi trường và hoạt động có hiệu quả hơn

Trang 29

Tư duy của học sinh càng được phát triển bao nhiêu thì kết quả hoạtđộng của các em càng mang lại hiệu quả nhiều bấy nhiêu, vì rằng tư duy đikèm theo hoạt động và nó đóng vai trò trong hoạt động như một kim chỉ namđộc đáo giúp các em lựa chọn những phương thức hợp lý nhằm đạt mục đích

và kiểm tra cả những kết quả hoạt động đạt được Một học sinh biết tư duy tốt

có thể hoạt động tốt trong mọi trường hợp khác tương tự như vậy Ngược lại,một học sinh không biết suy nghĩ không thể nào hành động tốt được

Ngoài ra, phát triển tư duy còn có ý nghĩa phát triển ngôn ngữ cho họcsinh vì tư duy lúc nào cũng gắn bó với ngôn ngữ cho nên nếu tư duy khôngphát triển thì ngôn ngữ cũng không phát triển được Ngôn ngữ của một họcsinh mạch lạc, có kết cấu chặt chẽ trước hết đó là do tư duy của các em mạchlạc, có kết cấu chặt chẽ theo quy tắc của logic học Vì vậy nếu các em họcsinh tư duy tốt, đứng đắn, các em sẽ có triển vọng nắm vững một ngôn ngữtốt, trong sáng và rõ ràng

Như vậy, phát triển tư duy học sinh có tầm quan trọng rất lớn Bằng việcphát triển tư duy của học sinh, giáo viên thực hiện được nhiệm vụ của mình làđào tạo những con người phát triển toàn diện sẵn sàng thay thế thế hệ đã lớntuổi

Muốn thực hiện được nhiệm vụ đó, phương pháp dạy học phải tiến hànhtheo hướng ngày càng phát huy tính tích cực của học sinh và tăng cường hoạtđộng trí tuệ độc lập của các em trong quá trình thu nhận trí thức, kỹ năng, kỹxảo Chỉ có điều kiện đó mới có thể giáo dục được những con người phát triểntoàn diện và sẵn sàng lao động

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mặt tích cực

Để tìm hiểu thực trạng phát triển tư duy học sinh trong dạy học chúng tôi

đã tiến hành dự giờ, phỏng vấn, trao đổi với học sinh và một số giáo viên dạy

Trang 30

sử trường THPT Yên Thành II: Cô Đinh Thị Vân Thùy, cô Cao Thị Thảo, côPhạm Thị Hương, thầy Hoàng Danh Hùng… Tổng hợp ý kiến của thầy cô vàhọc sinh chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:

- Về phía học sinh: Có một bộ phận học sinh đã ý thức được tầm quan

trọng của môn sử, ham thích tìm hiểu tri thức lịch sử.Trong quá trình học tập

đã tích cực hăng say phát biểu bài, làm bài tập lịch sử, chủ động tìm kiếm cácnguồn thông tin về lịch sử ngoài những kiến thức có sẵn trong SGK và bàigiảng của giáo viên

- Về phía giáo viên: Theo kết quả thu thập được thì hầu hết các giáo viên

đều ý thức được việc sử dụng phương pháp dạy học mới trong quá trình giảngdạy của mình, một số giáo viên đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp trongquá trình dạy học và đã đạt được một số kết quả quan trọng

Nguyên nhân của những mặt tích cực trên là do:

- SGK lịch sử phổ thông hiện nay có nhiều điểm mới về quan niệm vàcách thức biên soạn nó không chỉ là tài liệu thông báo kiến thức mà chủ yếu

là tài liệu hướng dẫn học sinh học tập, giúp các em tìm tòi, nghiên cứu đểhình thành tri thức và kỹ năng Đồng thời, nó là tài liệu tham khảo quan trọng

để giáo viên khai thác, sử dụng khi xây dựng kế hoạch sư phạm và tổ chứchoạt động dạy học So với SGK trước đây, nội dụng bài viết trong SGK lịch

sử hiện nay thường súc tích, ngắn gọn, trình bày theo hướng gợi mở, nêu vấn

đề Trên cơ sở đó, giáo viên giúp học sinh tìm hiểu SGK, từ đó lĩnh hội nộidung học tập Các câu hỏi trong SGK phong phú hơn về loại hình, nhưng chủyếu tập trung vào những câu hỏi phát huy tính tích cực học tập và tư duy sángtạo của học sinh Bên cạnh câu hỏi còn có các loại bài tập, kể cả bài tập nhậnthức Các phương tiện đồ dùng trực quan trong SGK cũng phong phú hơn, nókhông chỉ nhằm mục đích minh họa cho nội dung bài viết mà còn là mộtnguồn nhận thức quan trọng Ngoài ra SGK còn có phần tóm tắt nội dung bài

Trang 31

viết, phần đọc thêm, phần phụ lục mà SGK trước đó không có Chính nhữngđổi mới về SGK hiện nay so với SGK trước đó đã góp một phần nâng caochất lượng học tập lịch sử, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo học tậpcủa học sinh.

- Về phương pháp dạy học, việc giáo viên đã có nhiều cố gắng và biếtcách vận dụng phương pháp dạy học hiện đại vào giảng dạy lịch sử cũngchính là một trong những nguyên nhân quan trọng đã góp phần nâng cao hiệuquả chất lượng giờ học lịch sử

1.2.2 Mặt tồn tại

- Về phía học sinh:

Đa số học sinh không hướng thú học sử Hầu hết không khí học tập củahọc sinh trong giờ sử còn trầm, chỉ một số học sinh tích cực hay phát biểu còn

số đông chỉ biết nghe giảng chép vào Một số học sinh than thở việc học lịch

sử quá khó vì nhiều sự kiện, ngày tháng nên không thích học Nhiều học sinhquan niệm học sử không cần tư duy, “biết lịch sử cũng chỉ mà biết” không cầntìm tòi khám phá để hiểu sâu sắc hơn nữa

Nguyên nhân của điều đó là nhiều học sinh không nắm được bản chấtcủa sự kiện Từ chỗ không hiểu bản chất của sự kiện, việc học của học sinhtrở thành cách học thuộc lòng và ghi nhớ máy móc Từ lâu lịch sử ở nước ta

được học sinh và giáo viên xếp vào các môn “học thuộc lòng” Việc học lịch

sử cứ theo một vòng luẩn quẩn thầy giảng (tóm tắt) lại những kiến thức nhậnđịnh lịch sử đã ghi sẵn trong SGK, học sinh chép lại để trả lời, người học chỉ

có một thao tác đơn giản là chép và học thuộc, không cần suy nghĩ, không cần

tư duy

Mặt khác, còn do chương trình SGK quá tải, kiến thức sự kiện nhiều màmỗi tuần học sinh chỉ học 2 tiết, thời gian ít giáo viên khó đi sâu giải thích hếtbản chất các sự kiện, hiện tượng cho học sinh hiểu Hơn nữa, do thời đại bùng

Trang 32

nổ thông tin với nền kinh tế tri thức mà phần lớn học sinh theo học các mônkhoa học tự nhiên vì học những môn này dễ chọn nghành và nhu cầu xã hộilớn, rất ít học sinh theo học các môn xã hội vì học những môn này khó chọnnghành và đầu ra khó Các em học sử chỉ đơn giản vì nó là môn học chínhkhóa, liên quan đến điểm trung bình và xét duyệt thành tích học tập Cho nênhứng thú học tập bộ môn lịch sử của học sinh ở trường phổ thông là rất thấp Chất lượng học sử của học sinh chưa cao Nguyên nhân của hiện tượngnày do nhiều yếu tố, có thể do vốn kiến thức từ trước của học sinh còn ít, tàiliệu tham khảo không đủ Nhưng nguyên nhân quan trọng là do giáo viênchưa tạo được môi trường hứng thú học tập cho học sinh.

- Về phía giáo viên:

Qua thực tiễn, chúng tôi thấy vẫn còn tồn tại tình trạng ở nhiều trường

phổ thông nhiều giáo viên vẫn duy trì lối dạy học theo kiểu “thầy đọc, trò ghi” rồi các em về “gạo” lại Làm như vậy sẽ không phát huy được tính độc

lập sáng tạo của học sinh Các tri thức thu nhận kiểu như vậy cũng không cógiá trị gì

Bên cạnh tình trạng dạy học “nhồi nhét” ấy chúng tôi còn thấy có không

ít giáo viên lên lớp theo kiểu dạy “khoán” Tức là giáo viên chưa chú ý đến

chất lượng giờ dạy mà chỉ quan tâm cung cấp sự kiện và không làm cho họcsinh nắm được ý nghĩa của vấn đề Phần lớn giáo viên giảng dạy theo kiểutrình bày từng mục sách giáo khoa, đặt vài câu hỏi (thường chỉ nhắc lại nhữngkiến thức đã học hoặc vừa học) cho học sinh trả lời rồi ghi vài ý lên bảng đểhọc sinh chép vào vở Suốt giờ học học sinh chỉ làm mỗi việc là ghi nhữngkiến thức có sẵn trên bảng về nhà học thuộc lòng Với cách giảng trên sẽkhông đem lại hứng thú và không khí giờ học lịch sử hiểu theo đúng bản chấtcủa nó

Trang 33

Một số giáo viên dạy sử còn duy trì lối dạy chỉ dựa vào trí nhớ Khônghiếm trường hợp giáo viên đề ra cho học sinh những nhiệm vụ và những vấn

đề các em thông thuộc từ lâu và ở đây không cần phải suy nghĩ Chẳng hạnnhư lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 được giảng dạy lớp 12 vàlớp 9 học sinh cũng đã được tiếp cận, nếu ở lớp 12 giáo viên đặt ra những câuhỏi cũng giống như ở lớp 9 Tất nhiên học sinh trả lời tốt nhưng trả lời đượckhông phải nhờ hiểu rõ bản chất của câu hỏi mà là bằng con đường nhớ lại.Trong việc làm này trí nhớ đóng vai trò chỉ đạo Với kiểu hoạt động học tậpnhư vậy dĩ nhiên khó mà hi vọng nhà trường có thể giáo dục được những conngười lao động sáng tạo

Hiện nay, việc dạy học ở nhiều trường chỉ nhằm bổ sung thêm những trithức mới vào trí nhớ học sinh mà giáo viên giành ít thì giờ và ít quan tâm đến

vấn đề “vận dụng tri thức” Một số học sinh cho rằng học sử chỉ cần cho con người để “bồi bổ trí nhớ” Cách hiểu sai lầm ấy về mục đích học tập và lĩnh

hội tri thức là nguyên nhân của nhiều thiếu sót trong sự phát triển trí tuệ chohọc sinh

Nguyên nhân của những tồn tại trên là do: Một măt, do nội dung chươngtrình SGK lịch sử quá nặng, trong khi đó số giờ dạy hạn chế Lịch sử dạy tuần

2 tiết, 2 tiết dạy với một khối lượng kiến thức lịch sử nhiều, giáo viên khó cóthể tập trung đi sâu vào một vấn đề nào đó mà phải dạy cho nhanh để kịpchương trình phân phối, cho nên chất lượng giờ dạy thấp Mặt khác, do giáoviên thiếu những tri thức và kỹ xảo cần thiết về mặt phương pháp Việc sửdụng phương pháp dù đã được tiến hành nhưng vẫn chưa thu được những kếtquả như mong muốn Dù chủ trương đổi mới phương pháp không còn là mộtđiều xa lạ với các trường phổ thông, nhưng để có thể tiến hành được chủtrương ấy không phải là một điều đơn giản Về cơ sở vật chất tại các trườngphổ thông hầu hết đều không đủ để đáp ứng cho việc thực hiện phương pháp

Trang 34

mới Ngay trong việc thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp, tuy hầu hếtthầy cô sử dụng phương pháp mới nhưng trong đó vẫn còn nhiều tích chất đốiphó Nhiều thầy cô thực hiện phương pháp mới mà chưa thực sự hiểu hết ýnghĩa của phương pháp, việc sử dụng đang còn lập khuôn máy móc

Từ những nguyên nhân đó nên việc học sinh tự giác, chủ động học tậpdưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy cô giáo là chưa đạt được Thực tế đó đòihỏi nhà trường phổ thông nói chung , việc dạy học nói chung, việc dạy họclịch sử nói riêng cần tiếp tục đổi mới hơn nữa về nội dung và phương phápgiảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo học sinh, gópphần đào tạo các em trở thành một thế trẻ Việt Nam mới đáp ứng yêu cầu củađất nước và thời đại

Trang 35

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM 1930 – 1945

(SGK LỊCH SỬ 12, BAN CƠ BẢN) 2.1 Vị trí, mục đích, nội dung cơ bản của khóa trình

2.1.1 Vị trí

Chương trình lịch sử lớp 12 cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơbản của lịch sử thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 2000 vàlịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 Cấu tạo chương trình như sau:

- Lịch sử lớp 12 gồm 2 phần:

+ Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000, gồm 6

chương , 11 bài , 14 tiết

+ Phần hai: Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000, gồm 5

chương, 16 bài , 32 tiết

Trong phần lịch sử Việt Nam chương II “Việt Nam từ 1930 đến năm1945” kết cấu gồm 3 bài, 6 tiết , chiếm hơn 1/6 tổng số tiết về lịch sử ViệtNam và gần 1/9 chương trình lịch sử lớp 12

Chương II “Việt Nam từ năm1930 đến năm 1945”- là giai đoạn 15 nămvận động của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộngsản Việt Nam Đây là giai đoạn cách mạng Việt Nam thoát khỏi cuộc khủnghoảng về đường lối lãnh đạo, thoát khỏi những thất bại liên tiếp, tình hình đentối tưởng chừng như “không có đường ra”, tìm được con đường cách mạngđứng đắn - con đường giải phóng dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sảntheo tư tưởng của chủ nghĩa Mác -Lê nin Đây là giai đoạn có tính chất bản lề,đặt cơ sở cho toàn bộ thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong giaiđoạn về sau Giai đoạn này lịch sử đã chứng kiến những sự biến đổi lớn lao,nhiều sự kiện hấp dẫn có ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đối vớihọc sinh Việc học tập tốt giai đoạn này của học sinh một mặt cũng cố kiến

Trang 36

thức đã được học ở chương trình lớp 9, mặt khác tạo cơ sở để học sinh hiểucác giai đoạn kế tiếp của lịch sử dân tộc.

Vì vậy, giáo dục lịch sử giai đoạn này là hết sức quan trọng và cần thiết,đòi hỏi người giáo viên phải có năng lực sư phạm tốt, kết hợp đa dạng nhiềuphương pháp giảng dạy

2.1.2 Mục đích

*Về mặt giáo dưỡng

Thông qua việc giảng dạy chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm1945” giúp học sinh nắm được chặng đường 15 năm đầy khó khăn gian khổnhưng cũng đầy oanh liệt của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản qua các đợt tập dược, trải qua các phong trào cách mạng 1930 -

1935, 1936 - 1939, 1939 - 1945 để tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám giànhchính quyền trong cả nước Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đó là kết quảcủa một quá trình chuẩn bị tập dượt suốt 15 năm lịch sử dưới sự lãnh đạo củaĐảng Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã lãnh đạo nhân dân tathực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc đánh đổ ách thống trị của đế quốc thựcdân Pháp –Nhật, giành độc lập cho nước nhà sau hơn 80 năm bị tư bản nướcngoài đô hộ và từng bước hoàn thành nhiệm vụ dân chủ mang lại ruộng đấtcho nông dân

Mỗi một phong trào cách mạng là một bước chuẩn bị và một đợt tậpdượt, hoàn thiện dần Trong phong trào 1930 -1931 “thắng lợi lớn nhất củaĐảng ta ( ) là đã thực hiện đước khối liên minh công – nông” [19,246] độiquân chủ lực đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng Khí thế hùng mạnh củaphong trào công khai, dân chủ, hợp pháp, kết hợp bất hợp pháp (1936 - 1939)

đã động viên một đội quân chính trị hùng hậu làm tiền đề quan trọng cho cáchmạng tháng Tám Những sự kiện 1939 - 1945 cho thấy sự chuyển biến nhanhchóng của tình thế cách mạng trong và ngoài nước Như vậy, giai đoạn 1939-

Trang 37

1945 là giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt: đấu tranh chính trị, xây dựng lựclượng vũ trang, khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, tiến tới tổngkhởi nghĩa.

Khóa trình không chỉ cung cấp cho học sinh các sự kiện về đấu tranhcách mạng mà còn làm sống lại mọi mặt đời sống nhân dân ta lúc bấy giờ,đồng thời giúp cho học sinh thấy được bước chuyển biến, sự du nhập phươngthức sản xuất TBCN trong đời sống kinh tế dưới hình thái thực dân Và nétnổi bật về tư tưởng là sự thắng lợi tất yếu hợp thời đại của chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào cách mạng Việt Nam

Mặt khác, thông qua việc giảng dạy chương “Việt Nam từ năm 1930 đếnnăm 1945” giáo viên còn cung cấp và trang bị thêm cho học sinh một số kháiniệm như: diễn tập, khởi nghĩa từng phần, tổng khởi nghĩa, cách mạng dânchủ tư sản kiểu mới, tình thế cách mạng Đây chính là những “chiếc chìakhóa” giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức cơ bản mà còn hiểu sâusắc về giai đoạn lịch sử này và làm cơ sở để nghiên cứu các giai đoạn lịch sử

kế tiếp theo

*Về mặt giáo dục

Trên cơ sở nắm vững nội dung chương “Việt Nam từ năm 1930 đến năm1945” giáo viên giáo dục nhiều mặt cho học sinh Chương II giúp học sinhđịnh hướng và tin tưởng vào con đường XHCN Học sinh nhận thức được tínhđúng đắn của sự lựa chọn đó Một sự lựa chọn của chính dân tộc, chính lịch

sử và góp phần tạo nên những trang sử đáng tự hào Bồi dưỡng lý tưởng, niềmtin cho học sinh không phải bằng lý thuyết chung chung mà bằng dẫn chứng

sự kiện lịch sử cụ thể sinh động

Qua đó giáo viên còn giáo dục lòng kính yêu Đảng, Bác Hồ và nhữngngười có công với cách mạng Bác là người tìm ra con đường cứu nước đúngđắn, giúp dân tộc ta thoát ra khỏi khủng hoảng về đường lối lãnh đạo cách

Trang 38

mạng Và cũng chính người cùng với Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạonhân dân tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giành chính quyền, lậpnên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Từ đó đưa dân tộc tiến vào kỉ nguyênmới – kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng tháng Tám thành công là thành tựu tuyệt vời của tinh thần, ýchí, trí tuệ con người Việt Nam, của truyền thống lịch sử và văn hóa ViệtNam Tinh thần ấy đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, nó kết tinhthành truyền thống đấu tranh chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Mộtdân tộc nô lệ rên xiết dưới 3 tầng áp bức, đã anh dũng đứng lên quét sạch bộmáy thống trị của đế quốc thực dân, phong kiến, giành lại độc lập tự do, lậpnên nhà nước công nông đầu tiên.Vì vậy, qua dạy học lịch sử giai đoạn nàycần giáo dục cho học sinh truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do của dântộc, biết trân trọng và bảo vệ và phát huy những thành quả của cách mạng.Ngoài ra, góp phần vào thắng lợi của cách mạng tháng Tám chúng takhông thể không nhắc đến những nhân tố quốc tế thuận lợi, đến sự phối hợpchiến đấu, giúp đỡ và ủng hộ hết lòng của bạn bè thế giới (Quốc tế cộng sản,Liên Xô, Đảng Cộng Sản Pháp và những người yêu chuộng hòa bình thếgiới), qua đó giáo dục học sinh – tinh thần quốc tế vô sản, ý thức cộng đồnglòng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới

Bài học từ quá khứ với cách nhìn nhận, đánh giá đứng đắn, hình thànhcho học sinh một thế giới quan khoa học khi đánh giá các sự vật, hiện tượng

đã qua, xây dựng cho học sinh lập trường vững vàng trước những luồng tưtưởng, những quan điểm phản động trái chiều

*Về mặt phát triển

Chức năng giáo dưỡng và giáo dục của bộ môn lịch sử góp phần vàophát triển học sinh, chủ yếu là hình thành ở các em năng lực tư duy và nănglực hành động, nhằm nhận thức đúng quá khứ hiểu rõ hiện tại và dự đoán sự

Trang 39

phát triển hợp quy luật của tương lai Tư duy lịch sử thể hiện rõ nhất, tậptrung nhất ở việc vận dụng kiến thức đã học một cách thông minh, tích cực vàsáng tạo.

Vận dụng vào dạy học chương II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm1945”, ta thấy đây là một giai đoạn cách mạng diễn ra trong bối cảnh trongnước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đầy biến động Vì vậy, đòi hỏingười học phải có óc phán đoán, phân tích so sánh, đối chiếu một cách kháchquan, khoa học mới hiểu đúng và sâu sắc cốt lõi vấn đề Có như vậy học sinhmới thấy được sự đứng đắn và sáng tạo, khả năng nắm bắt tình hình và vậndụng thời cơ của Đảng ta qua việc chuyển hướng và hoàn chỉnh đường lốichiến lược cách mạng, qua việc tổ chức chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩatháng Tám Qua những hiện tượng lịch sử cụ thể, giáo viên khôi phục lại quákhứ giúp các em rút ra kết luận, bài học kinh nghiệm, đồng thời giúp các em

có khả năng kết hợp nhiều phương pháp và cách tiếp cận vấn đề tốt hơn vàphù hợp hơn

Lịch sử từ năm 1930 đến năm 1945 là giai đoạn tiếp nối giai đoạn lịch sửtrước đó và nó cũng quy định, tác động lớn tới giai đoạn lịch sử sau này Họcsinh cần có cái nhìn biện chứng, trong trạng thái vận động của lịch sử để hiểulịch sử

2.1.3 Nội dung cơ bản của chương

Nội dung bao trùm, cơ bản của chương “Việt Nam từ năm 1930 đếnnăm1945” mà học sinh cần nắm vững, đó là con đường cách mạng giải phóngdân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản, con đường cách mạng theo chủnghĩa Mác –Lê nin mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra và được thực tiễn thắng lợicủa cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng Cuộc cách mạngdiễn ra trong vòng 15 ngày song nó đã được chuẩn bị suốt 15 năm lịch sử

Trang 40

Trong vòng 15 năm (1930 - 1945) lịch sử Việt Nam trải qua 3 chặngđường tương ứng với 3 phong trào cách mạng của nhân dân ta do Đảng lãnhđạo.

Phong trào cách mạng 1930 - 1935, có một vị trí vô cùng quan trọngtrọng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước ta Cácvấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam đã được thử nghiệm qua phong trào.Trong phong trào này, lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng đã xây dựngkhối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo Phong trào đãdiễn ra trong phạm vi toàn quốc, quyết liệt và mạnh mẽ mà đỉnh cao là sự tan

rã của chính quyền thực dân phong kiến ở Nghệ -Tĩnh, dẫn tới sự thành lậpchính quyền Xô Viết Mặc dù cuối cùng phong trào bị đàn áp, thực dân Phápcấu kết với chế độ phong kiến phản động dập tắt song phong trào công nông1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ -Tĩnh đã để lại nhiều bài học quýbáu Đó là các bài học về việc giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ, vấn đềchính quyền, liên minh công nông, về việc thành lập mặt trận dân tộc thốngnhất Phong trào là cuộc diễn tập đầu tiên của Đảng và quần chúng cáchmạng chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Phòng trào cách mạng 1936 - 1939 với một sắc thái độc đáo lần đầu tiêndiễn ra trong điều kiện một nước thuộc địa nữa phong kiến như nước ta.Trong khi tình hình quốc tế có những thay đổi, phong trào mang nội dung dânchủ sâu sắc Đó là cuộc vận động dân chủ công khai rộng lớn diễn ra sôi nỗiphong phú trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Nó thuhút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia: nông dân, công nhân, trí thức,tiểu thương, tiểu chủ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo, hòabình Đảng ta đã kết hợp nhuần nhuyễn các khả năng, các phương pháp đấutranh hợp pháp và bất hợp pháp, công khai và nữa công khai để tập hợpquần chúng đông đảo, tập dượt cho họ đấu tranh, tạo nên một lực lượng

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đấu tranh  hợp pháp, bất hợp  pháp công khai, bán - Phát triển tư duy học sinh trong dạy học khóa trình lịch sử việt nam 1930   1945 (sách giáo khoa lịch sử 12   ban cơ bản)
Hình th ức đấu tranh hợp pháp, bất hợp pháp công khai, bán (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w