Do đó, vai trò của văn hoá văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong giai đoạn 1930 - 1945, đã được một số tác giả chú ý và đề cập trong một số các tác phẩm như: Tác g
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cách mạng tháng Tám thành công đã đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chứng minh sự lãnh đạo tài tình và đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam
trong việc chèo lái con thuyền cách mạng và giải phóng dân tộc khỏi sự áp bức của chủ
nghĩa thực dân Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hoàn thành, không chỉ có sự
nổ lực của một giai cấp, tầng lớp trong xã hội mà là của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân
ta đã đồng lòng, đồng sức chiến đấu, đem hết của cải và sức lực ra để xây dựng nên nhà
nước Việt Nam độc lập, tự do và hạnh phúc Trong thời kì kháng chiến Đảng ta chủ trương mở nhiều mặt trận chiến đấu với kẻ thù như: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa,… Tuy nhiên, trong các mặt trận đó, phải kể đến mặt trận văn hóa văn nghệ, luôn được Đảng
ta xác định là: “Phải soi đường cho quốc dân đi” [17, tr.64]
Văn hóa văn nghệ cũng là mặt trận kháng chiến của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng luôn xem đây là một mặt trận không thể đứng ngoài cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân Tầng lớp văn nghệ sĩ, trí thức đóng một
vài trò quan trọng, góp phần làm cho mặt trận này thực sự trở thành một vũ khí sắc bén,
bằng các bài báo, thơ văn cách mạng, thành lập các tổ chức văn hóa… với nội dung tuyên truyền, cổ động cho các chính sách, chủ trương của Đảng đến quần chúng nhân dân biết
và hiểu về cuộc cách mạng mà Đảng lãnh đạo Thông qua các bài viết, đã thể hiện tiếng
nói và ý thức dân tộc của một tầng lớp trí thức trong xã hội đòi tự do ngôn luận và muốn:
“Xóa bỏ phong kiến, đánh đuổi đế quốc Pháp, xây dựng một nước Việt Nam độc lập dân chủ” [17, tr.63]
Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, văn hóa văn nghệ có một nhiệm vụ rất
quan trọng là phục vụ chính trị, phục vụ nhân dân lao động: “Phụng sự kháng chiến,
phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân lao động, trước hết là công, nông, binh ” [17, tr.7]
Còn các văn nghệ sĩ được xem là các chiến sĩ, và phải: “Đặt lợi của kháng chiến, của Tổ
quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết” [17, tr.8] Văn hóa văn nghệ còn là một vũ khí
cách mạng nên có tác dụng: “Giáo dục cổ vũ đanh thép, thấm sâu vào lòng người, lôi
cuốn tập hợp, tổ chức toàn thể nhân dân vùng lên đuổi giặc, cứu nước, xóa bỏ áp bức bóc lột, xây dựng xã hội chủ nghĩa” [25, tr.63]
Trang 3Tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề văn hóa văn nghệ với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam trong giai đoạn 1930 - 1945, không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những chủ trương của Đảng trong giai đoạn này về lĩnh vực văn hóa văn nghệ, mà còn góp phần làm rõ hơn những đóng góp của văn hóa văn nghệ vào thắng lợi to lớn của cách mạng tháng tám 1945
Vì vậy, với những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Văn hóa văn nghệ
trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam (1930 - 1945)”, làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa văn nghệ là một bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ những năm 1930 - 1945, là một cuộc cách mạng toàn dân, toàn diện, bên cạnh các lĩnh vực đấu tranh như quân sự, chính trị, kinh tế,… thì văn hóa văn nghệ luôn là mặt trận tích cực và là một vũ khí sắc bén cho công cuộc giải phóng dân tộc, góp phần làm nên cách mạng tháng Tám thành công Do
đó, vai trò của văn hoá văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong giai đoạn 1930 - 1945, đã được một số tác giả chú ý và đề cập trong một số các tác phẩm như:
Tác giả Nam Mộc với tác phẩm Luyện thêm chất thép cho ngòi bút (1978), là một
tác phẩm tập hợp một số bài viết nói về quan điểm mỹ học của Mác - Lênin và của Đảng
về đường lối văn nghệ, về sáng tác, nghiên cứu văn học, nghệ thuật, giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng… Nhìn chung, tác phẩm đã nêu lên được nhiệm vụ của văn hóa văn nghệ, vai trò của văn nghệ sĩ trong công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
Tác phẩm Văn nghệ vũ khí của cách mạng (1982), của Nhà xuất bản sự thật Đây
là một tác phẩm nói lên sự nghiệp của văn học, văn nghệ chính là sự nghiệp của Đảng, con đường của văn nghệ phải đi theo con đường phục vụ cách mạng, phục vụ chính trị và phục vụ nhân dân Tuy nhiên, tác phẩm vẫn chưa làm rõ được vị trí, vai trò của văn hóa văn nghệ trong công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ những năm 1930 - 1945
Nhà thơ Tố Hữu với tác phẩm Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa
(1982), với nội dung xây dựng một nền văn nghệ mới cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đòi hỏi văn nghệ phải phục vụ đất nước một cách tích cực hơn Tác phẩm chủ yếu nói về thời kì sau khi đất nước giành được độc lập nên chưa đ áp ứng được nội dung của
đề tài
Trang 4Phạm Văn Đồng - Tố Hữu có viết tác phẩm Sự nghiệp văn nghệ và sứ mạng của
người nghệ sĩ (1984), nói lên vai trò của các văn nghệ sĩ trong kì mới, các anh chị em phải
chiến đấu như thế nào trên mặt trận văn hóa và mặt trận chính trị, làm thế nào để sáng tác nghệ thuật có giá trị cao… Tuy nhiên, vẫn chưa làm rõ sự phát triển của văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân chủ
Ngoài ra, còn một số các tạp chí như Tạp chí Văn hóa Thông tin, tạp chí Xưa và
Nay…, và một số website có đề cập đến vấn đề này
Tóm lại, trên đây là một số tác phẩm đã có nói đến sự phát triển và vai trò của văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ những năm 1930 - 1945, nhưng hầu hết vẫn chưa đầy đủ, làm rõ được vấn đề Tuy vậy, đây là những tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
3 Mục đích nghiên cứu
- Chủ trương của Đảng trong công tác văn hóa văn nghệ phục vụ nhân dân, phục
cách mạng
- Công tác văn hóa văn nghệ phục vụ cách mạng dân tộc dân chủ
- Vai trò của văn hóa văn nghệ đối trong thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930 - 1945)
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930 -1945), các chủ trương, chính sách của Đảng với văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam (1930 - 1945)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong phạm vi không gian và thời gian là những đóng góp của văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam những năm
1930 - 1945
5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu thành văn, tài liệu sách báo ở các thư viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các thư viện ở các tỉnh, thành phố khác
- Các bài viết trong các tạp chí xưa và nay, tạp chí nghiên cứu văn hóa,…
Trang 5- Các bài viết, thông tin trên mạng internet có liên quan tới đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi dựa trên quan điểm s ử học Mácxít để tiến hành nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp lịch sử, phương pháp logic Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng và kết hợp với các phương pháp như:
Phương pháp sưu tầm, xử lí tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh , tổng hợp, đánh giá,… nhằm mở rộng thông tin và làm phong phú nguồn tư liệu để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
6 Đóng góp của đề tài
Văn hóa văn nghệ là phương tiện của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Một trong những bộ phận hợp thành đời sống xã hội của dân tộc ta là khả năng sáng tạo của nhân dân lao động và tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, văn hóa văn nghệ luôn là mặt trận tiên
phong, mở đường cho tư tưởng, cách thức đi của các chủ trương, chính sách của Đảng
đến với quần chúng nhân dân Do đó, đề tài được hoàn thành sẽ làm sáng tỏ thêm vai trò của văn hóa văn nghệ đối với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ luôn được đánh giá cao, một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân Đảng
vạch con đường cho các nghệ sĩ sử dụng ngòi bút của mình như vũ khí sắc bén trong sự
nghiệp phò chính trừ tà và gắn nghệ thuật với tổ quốc và nhân dân, gắn tự do sáng tạo với
tự do nhân dân, hướng tới những giá trị nhân đạo cao cả của con người Vì vậy, đi sâu nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy được những đóng góp lớn lao của lớp văn nghệ sĩ thời kì trước trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dũng cảm vượt qua bao khó khăn, thử thách, lăn lộn với cuộc chiến đấu nhân dân, không sợ hy sinh xương máu đem hết trí tuệ và tài năng sáng tạo của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Với việc hoàn thành đề tài này, không chỉ giúp cho bản thân tôi hoàn thành nhiệm
vụ làm khóa luận tốt nghiệp mà còn làm tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn
đề này
Trang 7Chương 1:
LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VĂN NGHỆ VÀ VĂN HÓA VĂN NGHỆ VỚI
CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1930 1.1 Quan điểm về văn hóa văn nghệ phục vụ chính trị, cách mạng
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là một học thuyết cách mạng mà còn là thế giới quan của giai cấp vô sản Đối với văn hóa văn nghệ trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trên những chặng đường của lịch sử, lí luận văn hóa văn nghệ tập hợp thành cơ sở hoàn chỉnh của tất cả các mặt từ bản chất xã hội đến đặc trưng văn hóa văn nghệ, từ chức năng phê phán xã hội cũ đến nhiệm vụ của văn hóa văn nghệ trực tiếp xây dựng cuộc đời mới Trong nhiều tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước, vấn đề lí luận về văn hóa văn nghệ trong quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin được đề cập đến
C.Max là người đại diện tiêu biểu cho các nhà kinh điển về chủ nghĩa Mác - Lênin,
về chủ nghĩa xã hội, là người đầu tiên đưa ra quan điểm về văn hóa văn nghệ: “Văn nghệ
là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, do đó phải tìm nguyên nhân những biến đổi của văn nghệ trong cơ sở kinh tế, sinh hoạt vật chất xã hội ” [31;
tr.6] Cũng chính C.Max đã đập tan luận điệu xuyên tạc của bọn theo chủ nghĩa xét lại, phủ nhận vai trò tích cực của tư tưởng cách mạng và văn nghệ tiên tiến trong việc giáo dục cuốn chúng nhân dân đứng dậy lật đổ giai cấp bóc lột giành tự do và cơm áo Đồng
thời cũng đập tan thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật và quan điểm coi văn học nghệ thuật là một trò du hí, có tính chất giải trí đơn thuần
Tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm của C.Max, Lênin đã đưa ra những quan điểm có tính chất nguyên lí và những bài học vô tận, một bộ phận khăng khít của sự nghiệp cách mạng vô sản Lênin đ ã đề ra cho văn nghệ sĩ trách nhiệm phải rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, phải hòa mình trong cuộc sống của quần chúng lao
động, từ thực tiễn đó người nghệ sĩ phải đi trước quần chúng một bước: “Họ đã lăn mình
vào lò lửa cách mạng, cố gắng phục vụ cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, gắn liền nghệ thuật với sự sống còn của tổ quốc, của nhân dân (…) nhiều nhà văn nghệ sĩ đã trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” [20; tr.122] Lênin yêu cầu văn nghệ sĩ phải gắn
Trang 8bó với thực tiễn vĩ đại của đất nước đang chuyển mình với quần chúng nhân dân, đang làm nên những kỳ tích trong xây dựng và cũng rất khát khao một nền văn hóa mới
Trong tác phẩm Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa của Tố Hữu, đã
nêu lên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin văn hóa văn nghệ Trong đó nói lên vai trò của văn hóa văn nghệ cũng như những ảnh hưởng qua lại của nó đối với cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng của xã hội: “Chủ nghĩa Max – Lênin coi văn học nghệ thuật là một
hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội, do hạ tầng cơ sở chi phối và có ảnh hưởng lại đối với hạ tầng cơ sở, có tác dụng đối với đời sống Trong xã hội phân chia giai cấp thì văn nghệ muốn hay không cũng là một vũ khí đấu tranh giai cấp phục vụ cho đường lối chính trị của giai cấp nhất định” [20; tr.22] Như vậy, Mác và Lênin đã coi văn
hóa văn nghệ thực sự có những đóng góp rất lớn cho cuộc sống, và đặc biệt là cho cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội, nó sẽ là vũ khí chiến đấu tích cực cho giai cấp nào biết lãnh đạo nó
1.1.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa văn nghệ phục vụ chính trị, cách mạng
Bước vào thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu của thế kỉ, thực tiễn của nước ta lúc đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải giải quyết là làm sao để giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Tuy nhiên, mọi nỗ lực cứu nước của các tầng lớp nhân dân vẫn trong tình trạng bế tắc, chưa có đường lối đấu tranh hữu hiệu Trong sự bế tắc của các xu hướng cứu nước giải phóng dân tộc lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tìm ra con đường đúng đắn cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc - con đường Cách mạng vô sản Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đánh đấu một bước chuyển mới trong phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta Bên cạnh những cuộc đấu tranh bằng vũ trang bạo động thì có một mặt trận luôn được Đảng ta chú trọng và xem đây là một vũ khí sắc bén cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam, đó là mặt trận văn hóa văn nghệ
Từ khi Đảng ra đời, đã định hướng cho văn hóa văn nghệ phát triển theo con đường cách mạng Bằng những lí luận chặt chẽ Đảng, trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa văn nghệ thì văn hóa văn nghệ được xem như một phương tiện tuyên truyền chủ yếu, thông qua sách báo, văn thơ yêu nước, các hội văn hóa,… Để tuyên truyền các chính sách chủ trương của Đảng đến đông đảo quần chúng nhân dân, hiểu rõ hơn quan điểm của Đảng đối với văn hóa văn nghệ, đối với
Trang 9tầng lớp văn nghệ sĩ trong việc phục vụ cách mạng, dưới đây là một vài quan điểm thể hiện điều đó:
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân đế quốc, giành lại độc lập dân tộc, ngoài các biện pháp đấu tranh như chính trị, kinh
tế, quân sự, ngoại giao, thì trên mặt trận văn hóa tư tưởng, văn hóa văn nghệ cũng đóng vai trò cực kì quan trọng để quyết định đến thắng lợi cuối cùng của cách mạng Việt Nam
Đảng ta khẳng định rằng: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị,
văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động, không chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa, có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả ” [33; tr.3] Như vậy
văn hóa đã trở thành một mặt trận không thể thiếu được trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà Đảng ta lãnh đạo
Trên cơ sở đánh giá cao về vai trò và tác dụng của mặt trận văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng mà Đảng đang lãnh đạo, việc xây dựng nền văn hóa văn nghệ để phục vụ đắc lực cho cách mạng Việt Nam là điều hết sức cần thiết Do đó, Đảng ta chủ trương xây
dựng một nền văn hóa văn nghệ: “Mang nội dung xã hội chủ nghĩa, và tính chất dân tộc,
có tính Đảng tính giai cấp và tính nhân dân” [24; tr.40] Đó là một nền văn hóa mang
tính dân tộc và nhân dân sâu sắc, trong đó có những đóng góp to lớn cho công cuộc đấu tranh của nhân dân ta, gắn liền với con đường cách mạng vô sản và hướng đến xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tương lai
Mặt khác, trong bản Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), do Đồng chí Trường
Chinh soạn thảo, văn hóa mà Đảng ta cần xây dựng và hướng đến mang những nội dung tiến bộ và đồng thời cũng phổ biến rộng rãi trong đông đảo quần chúng nhân dân Theo
đó, những nội dung cơ bản được tóm gọn lại trong chủ trương xây dựng nên văn hóa nước
nhà là: Dân tộc, Khoa học, Đại chúng Đây thực sự là một văn kiện trình bày một cách
sáng tỏ quan điểm của Đảng về mục đích thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, thu hút đoàn kết đông đảo mọi tầng lớp nhân dân và đặc biệt là tầng lớp người làm công tác văn hóa văn nghệ, định hướng cho họ con đường đứng lên cứu nước
Đảng còn nêu rõ nhiệm vụ của các nhà văn là phải chống lại văn hóa phát xít, phong kiến lạc hậu, nô dịch, văn hóa ngu dân và phỉnh dân, xây dựng nền văn hóa dân
chủ mới là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Phải xây dựng một nền văn hoá
mới, con người mới gắn liền với cuộc cách mạng chính trị lớn của đất nước ta Một nền
Trang 10văn hóa mới là phải biết bảo tồn trân trọng những giá trị văn hóa tốt đẹp của quá khứ, phù hợp với nguyên tắc xã hội chủ nghĩa và tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa của nhân loại
Từ những quan điểm trên của Đảng về văn hóa văn nghệ, đã thực sự làm cho văn hóa văn nghệ trở thành một mặt trận, một ngọn đuốc soi đường cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam, với những đường lối chủ trương đúng văn hóa văn nghệ không chỉ có vai trò trong cuộc cách mạng dân chủ nữa mà nó đóng góp vào sự phát triển chung của nền văn hóa Việt Nam phát triển vì dân tộc, vì nghệ thuật
1.1.3 Một vài quan điểm khác
Quan điểm của Hồ Chí Minh
Chúng ta biết đến Hồ Chí Minh là một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa, một nghệ sĩ có tấm lòng thương yêu rộng lớn Người mang trong mình sự kết tinh văn hóa truyền thống dân tộc, có sự chắt lọc những giá trị văn hóa đặc sắc của hai nền văn hóa Đông - Tây, trên cơ sở kế thừa đó, là hành trang để Người đi theo ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin, theo tiếng gọi dân chủ của cách mạng tháng Mười Nga và con đường Cách mạng vô sản, người đã chọn đây chính là con đường cứu dân tộc mình thoát khỏi ách thực dân
Với sự vận dụng phù hợp nguyên lý Mác - Lênin vào thực tế cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc và để cho cuộc cách mạng đó có một đường lối rõ ràng người vạch ra và đưa nó vào Cương lĩnh chính trị, những văn kiện Đảng quan trọng Một trong những đường lối không kém phần quan trọng như chiến lược, chiến thuật quân sự trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ là đường lối cho việc phát triển văn hóa văn nghệ, được xem là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc giải phóng dân tộc Vì vậy, Người đã đưa ra nhiều quan điểm về văn hóa văn nghệ xét trên nhiều khía cạnh Sau đây là một vài quan điểm mà Hồ Chí Minh đã nêu ra:
Theo Người, văn hóa văn nghệ phải là vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, văn hóa văn nghệ phải phục vụ chính trị, phục vụ nhân dân lao động Một tác phẩm văn hóa văn nghệ phải luôn biết hướng ngòi bút về nhân dân, chống lại phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, làm cho văn hóa văn nghệ thực sự là một vũ khí chiến đấu phục vụ đắc lực cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng người đã thực sự xem văn hóa văn nghệ
là: “Một mặt trận, nhiệm vụ của văn hóa văn nghệ là phải soi đường cho quốc dân đi ”
Trang 11[17; tr.64], trong cuộc chiến đấu gay go và ác liệt, một cuộc chiến không cân sức thì Đảng phải biết lựa chọn mặt trận văn hóa làm công tác tư tưởng, giáo dục và cổ vũ, động viên quần chúng tham gia cách mạng và cũng xác định tư tưởng cho các chiến sĩ và nhất là cho các văn nghệ sĩ có một tinh thần vững chắc để sẵn sàng chiến đấu, đứng về phía cách mạng để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc
Là một người nghệ sĩ, Hồ Chí Minh cũng muốn đưa ra một hướng đi cho các văn
nghệ sĩ trong cuộc cách mạng dân chủ phải là:“Chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất
định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh” [17; tr.7 ], muốn các văn nghệ sĩ phải có lập trường tư tưởng đúng, phải
đặt lợi ích của kháng chiến, tổ quốc, của nhân dân lên trên hết Người nói: “Ngòi bút của
các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà của anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những con người anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập của tổ quốc” [17; tr.63] Trong các tác
phẩm sáng tác nghệ thuật nay cũng cần phải có “thép” như người đã nói:
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
Và: “Văn hóa phục vụ ai?, cố nhiên chúng ta phải nói là phục vụ công – nông –
binh, tức là đại đa số nhân dân… các đồng chí làm công tác văn hóa cần nói dứt khoát như thế” [17; tr.73] Là một vị lãnh tụ vĩ đại, người thấu hiểu những nổi khổ của những
người nông dân lao động, nên mọi việc người làm đều hướng đến người dân, mọi lợi ích
mà Người tính cũng là giành cho dân, vì vậy không phải ngẫu nhiên mà người luôn hướng ngòi bút của mình về quần chúng, đặc biệt người giành cho giai cấp công nông binh một tình cảm đặc biệt
Trong cuộc cách mạng dân chủ văn hóa văn nghệ phải có tác dụng giáo dục, giải thích cổ động, phê bình, nhằm đối tượng phục vụ chủ yếu là công nông binh Chức năng của văn hóa văn nghệ là phải truyền đạt đến đối tượng những giá trị nghệ thuật, những nội dung phản ánh cuộc sống, cổ động tuyên truyền cho nhân dân biết đến các chính sách của
Đảng, chính sách của các hội văn hóa: “Văn hóa phải gắn liền với lao động, sản xuất, văn
hóa xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông” [17; tr.79] Các tác phẩm văn hóa văn
nghệ được sáng tác ra là từ vốn sống của các nhà văn, những vốn sống đó được lấy từ cuộc sống, chứ không phải ngồi yên mà có thể cho ra đời một tác phẩm có giá trị nghệ
Trang 12thuật cao, gắn liền với cuộc sống con người mà đặc biệt là người nông dân Lao động sản xuất tạo ra những con người mới và cũng tạo ra sức sáng tạo mới, chính vì vậy mà Hồ Chí Minh luôn khuyến khích những văn nghệ hãy đi sâu vào cuộc sống của quần chúng mà tìm hiểu, mà sáng tác, đó chính là nơi khơi dậy nguồn cảm hứng vô tận cho các tác phẩm
có giá trị nghệ thuật
Quan điểm văn hóa văn nghệ của Hồ Chí Minh là sự kết hợp của chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin, sự hiểu biết của nền văn hóa Á - Âu, là sự thể hiện một tấm lòng bao la yêu thương những con người bị áp bức Người đã thay họ lên tiếng và cổ
vũ họ phải tiến lên giành lấy tự do về cho mình Nhưng với các quan điểm về văn hóa văn nghệ của Hồ Chí Minh đó chính là những đường lối đúng đắn cho đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng cần học theo và cho những nhà trí thức, văn nghệ sĩ có một tư tưởng đúng
và một lập trường vững vàng để phục vụ cho tổ quốc và nhân dân
Quan điểm của Đồng chí Trường Chinh
Về văn hóa văn nghệ, có nhiều quan điểm được đưa ra để thể hiện vai trò cũng như tác dụng của nó đối với cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân lao động, của giai cấp
vô sản Từ những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho đến Hồ Chí Minh cũng đều nhận thức sâu sắc về bản chất và tác dụng của văn hóa văn nghệ Do đó, cũng có nhiều quan điểm về văn hóa văn nghệ công tác văn hóa văn nghệ
Đến Trường Chinh - một nhà lí luận, một nhà văn hóa lớn và cũng là người luôn có những quan điểm về chủ trương và đường lối phát triển của nền văn hóa văn nghệ dân tộc, với sự kế thừa đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng ta và tiếp thu sáng tạo những quan điểm văn hóa văn nghệ của Hồ Chí Minh, đồng chí đã đưa ra một số quan điểm về văn hóa văn nghệ như sau:
Trong bài phát biểu tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ IV (1968), trong mục
“Về đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng ta” Trường Chinh đã tán thành những quan
điểm sau:
“1 Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra
2 Văn nghệ ta thực sự phải là văn nghệ của nhân dân
3 Văn nghệ ta phải có tính dân tộc, văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước
ta
Trang 134 Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp góp phần cải tạo hiện thực khách quan một cách cao đẹp góp phần cải thiện hiện thực đó theo một lý tưởng nhất định
5 Mục đích của văn nghệ ta là giáo dục con người mới
6 Tiếp thu có phê phán những tinh hoa văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay
7 Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình
8 Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản, chúng ta xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người” [18; tr.14]
Nói một cách gọn hơn, theo Trường Chinh thì dân tộc ta cần: “1 Tính Đảng; 2
Tính nhân dân; 3 Tính dân tộc; 4 Vấn đề phản ánh hiện thực; 5 Nhiệm vụ giáo dục con người; 6 Tiếp thu tinh hoa văn nghệ trong và ngoài nước; 7 Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa; 8 Tiền đồ văn nghệ của dân tộc” [18; tr.15] Trường Chinh muốn văn hóa văn
nghệ của dân tộc ta phải phục vụ nhân dân, xem vai trò của văn hóa văn nghệ là một mặt trận làm công tác tư tưởng, giáo dục và là tổ chức tuyên truyền các chính sách của Đảng đến nhân dân
Dựa trên tình hình thực tế của nền văn hóa Việt Nam trong thời kì bị thực dân xâm
lược, Trường Chinh đã phê phán nền văn hóa hợp pháp đương thời như sau: “Văn chương
liếm gót gầy, văn chương không đau mà rên, văn chương bò sát đất, đầy rẫy trong nước (…) phản bội tinh thần độc lập dân tộc” [18; tr.77], đó là thứ văn chương làm cho nền
văn hóa Việt Nam đi ngược lại tính dân tộc, tính nhân dân, thứ văn hóa phản bội lại tinh thần yêu nước, yêu tự do, nền hòa bình cho cả dân tộc Cũng chính vì t hứ văn chương đó
mà đồng chí đã có những sáng tạo mới cho nền văn hóa Việt Nam, chống lại thứ văn hóa
phản bội, phải làm cho văn hóa nước ta mang ba nội dung: Dân tộc hóa, Khoa học hóa và
Đại chúng hóa Với các văn nghệ sĩ, phải học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối
chính sách của của Đảng để có một lập trường vững chắc và một phương pháp tư tưởng đúng đắn; phải đi sâu vào đời sống của công, nông, binh và của nhân dân lao động nói chung; trau dồi sự hiểu biết, nâng cao giá trị nghệ thuật của tác phẩm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
Với những quan điểm trên, Trường Chinh đã hướng văn hóa văn nghệ vào việc phục vụ chính trị, phục vụ quần chúng, tập trung vào đấu tranh chống kẻ thù và làm cho nền văn hóa văn nghệ Việt Nam phát triển phong phú, giàu giá trị nghệ thuật, cũng là
Trang 14những quan điểm thể hiện phương hướng mục tiêu hoạt động của văn hóa văn nghệ trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và cho tương lai của nền văn hóa văn nghệ dân tộc xã hội chủ nghĩa
Như vậy, văn hóa văn nghệ là một trong những mặt trận chiến đấu tích cực chống
đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai, dù ở thời bình hay ở trong thời chiến thì công tác văn hóa văn nghệ vẫn mãi là một ngọn cờ đấu tranh mà của đảng và của nhân dân trên mặt trận tư tưởng
1.2 Công tác văn hóa văn nghệ trong cách mạng Việt Nam trước năm 1930
1.2.1 Đội ngũ trí thức yêu nước Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
1.2.1.1 Những điều kiện mới
Bước sang thế kỉ XX, không chỉ riêng Việt Nam mà cả thế giới đang có những chuyển biến sâu sắc, đặc biệt là về kinh tế, xã hội và sự giao lưu văn hóa giữa các châu lục đang dần thu hẹp lại thông qua nhiều con đường khác nhau, chính điều này đã tạo điều kiện cho việc tiếp thu những luồng tư tưởng cứu nước mới, đưa đến cho các dân tộc bị áp bức một cơ hội tìm ra con đường giải phóng dân tộc
Những năm đầu thế kỉ XX, đã tạo ra những điều kiện cho nhân dân Việt Nam
những cơ hội và thách thức cho cách mạng Việt Nam Lúc này, thế giới đã có những thay
đổi mau lẹ và có tác động lớn tới cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa thực dân về cơ bản vẫn tồn tại và phát triển tuy nhiên đến giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện những mâu thuẫn nên dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vào những năm 1914 đến 1918, làm cho đế quốc, thực dân dần suy yếu sau khi chiến tranh kết thúc
Cùng với lúc cuộc chiến của các nước đế quốc xảy ra thì các phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa, phụ thuộc nổi dậy, tuy không đạt được kết quả như mong muốn nhưng đã để lại nhiều kinh nghiệm cho các cuộc đấu tranh sau này Bên cạnh
đó, với việc các nước thực dân trực tiếp khai thác thuộc địa, nó cũng có tác dụng tích cực trong việc đưa kỹ thuật, khoa học công nghệ vào các nước thuộc địa, truyền văn hóa phương Tây vào Đây được xem như là một chuyển biến mới cho cả thế giới mà điều đó được thấy qua sự phát triển của báo chí, phương tiện thông tin truyền thông…
Trong khi đó, tình hình Việt Nam cũng đã xuất hiện những điều kiện mới, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt, với những chính sách nặng nề, áp bức cay nghiệt đã làm cho sự căn giận của nhân dân lên cao hơn bao giờ hết Bên cạnh đó, cuộc khai thác đã làm cho kinh tế xã hội Việt Nam thay đổi một cách sâu
Trang 15sắc đã tạo điều kiện cần thiết cho những phong trào đấu tranh có nhiều khuynh hướng khác nhau như khuynh hướng tư sản, vô sản Đặc biệt là sự xuất hiện của những giai cấp, tầng lớp mới, tuy nhiên vẫn còn non trẻ về chất lượng, chưa thể đóng vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng được
Lúc đầu vai trò lãnh đạo lúc nằm trong tay các sĩ phu tư sản hóa, những con người
đã từng làm cửa Khổng sân Trình này tiếp thu những chuyển biến lớn của thời cuộc đã
làm họ bừng tỉnh (như cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân - 1868), các nhà Nho đã khao khát tìm đến những học thuật mới, mua sách báo Tân Thư, Tân Văn… tìm cách đưa các thanh niên Việt Nam đi du học Nhật Bản, Trung Quốc và sang cả Pháp, Angrieri Chính
họ đã châm ngòi và lãnh đạo một làn sóng cách mạng mới Nhưng càng về sau, vai trò lãnh đạo dần chuyển sang những tầng lớp xã hội mới ra đời tiến bộ và có những đường lối gắn liền với cuộc sống người của quần chúng lao động hơn, đó là giai cấp vô sản, mà đại diện tiêu biểu là tầng lớp Công - Nông có sự liên minh với một tầng lớp trí thức yêu nước
có tinh thần dân tộc
Giai cấp vô sản đã theo con đường cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mác - Lênin
và thành lập nhiều các tổ chức cộng sản ở cả trong và ngoài nước như: Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925), Hội Phục Việt cũng thành lập năm 1925, các thành viên chủ yếu là các thanh niên yêu nước còn trẻ tuổi và có học, họ hoạt động sôi nổi trong
các phong trào đấu tranh như việc rải truyền đơn và hăng hái kêu gọi: “Hỡi đồng bào Việt
Nam! Nếu chúng ta không tự giải phóng được bằng phương pháp ôn hòa, thì chúng ta không ngần ngại hành động quyết liệt để trả thù nhà, nợ nước và để chen vai thích cánh với năm châu” [25; tr.120] Các đảng phái chính trị ra đời phong trào đấu tranh của nhân
dân Việt Nam như có một làn gió thổi mạnh vào làm cho ngọn lửa cách mạng vốn dĩ đã mạnh nay càng thêm bùng cháy dữ dội hơn
Nguyễn Ái Quốc đánh giá tình hình Việt Nam vào những năm đầu thế kỉ XX như
sau: “Có thể ví như một mảnh đất tốt, rất thuận lợi để những người cách mạng gieo hạt
giống cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin” [25; tr.120], trước tình hình mới phong trào
cách mạng phát triển mạnh, nhưng cần một chính đảng để lãnh đạo toàn thể các phong trào đấu tranh của nhân dân trong cả nước, chính Nguyễn Ái Quốc đã nắm lấy thời cơ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, thành lập các tổ chức chính trị, đào tạo cán bộ trẻ… làm cơ sở cho việc thành lập một chính đảng vô sản của cách mạng Việt
Trang 16Nam Năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã nắm lấy quyền lãnh đạo phong trào đấu tranh, dẫn dắt nhân dân giành độc lập, tự do cho dân tộc
Việt Nam trước những điều kiện mới đã có những bước phát triển cả về kinh tế, xã hội và đặc biệt là phong trào đấu tranh của nhân dân ngày càng nâng cao, trước những điều kiện đó tầng lớp trí thức cũng đã có sự phát triển về số lượ ng và chất lượng, kịp thời gia nhập phong trào đấu tranh của nhân dân ta và góp phần phát triển các phong trào đấu tranh, tích cực chuẩn bị việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam
1.2.1.2 Sự trưởng thành của đội ngũ trí thức sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Trí thức là những người có trình độ học vấn nhất định, thuộc nhiều tầng lớp chứ không riêng một tầng lớp nào Họ có thể là một công chức cao cấp, một quan chức một sĩ phu hay một người bình thường làm nghề tự do và căn bản là người tương đối tự do và có trình độ khoa học nhất định hay một nghệ thuật, có thể thuộc loại tài năng cao hay thấp
Đa số thường có những chứng kiến bộc lộ hay kín đáo về thời cuộc, hay xem xét sự tiến hóa lịch sử, có nhận định về các thành quả khoa học nghệ thuật v.v…
Trên thế giới trí thức xuất hiện từ rất sớm, với nước Nga thì tầng lớp trí thức xuất
hiện vào nửa đầu thế kỉ XIX, mang ý nghĩa rõ ràng là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chứng kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc Ở nước ta, trí thức được
gắn với người có học, xuất hiện vào buổi đầu công nguyên khi Nho giáo du nhập vào
nước ta với mục đích giáo hóa và đào tạo quan lại bản xứ, tầng lớp có học đó tồn tại nhằm
làm quan, mang sứ mệnh phò chính thống - đương nhiên họ vẫn chưa hẳn là tầng lớp trí
thức hay người trí thức hiểu theo một cách nghĩ thông thường
Cuối thế kỉ XIX đầu XX, với thay đổi của thời cuộc, cùng đó là chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản và khoa học kỹ thuật phương Tây tràn vào xã hội Việt Nam thông qua Nhật Bản và Trung Hoa Tầng lớp trí thức Việt Nam lúc này hoạt động sôi nổi, đưa ra những chứng kiến, những cách thay đổi đất nước theo con đường giống như Nhật Bản hay Trung Quốc, phần lớn trí thức này đều là các Nho sĩ cách tân như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Trương Vĩnh Ký, Nguyên Khôi… là những người trí thức đầu tiên của nước ta Phần lớn họ không làm quan mà làm nhiều ngành nghề khác nhau và có tiếng nói trong xã hội như làm báo, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thầy giáo… trong đó có một số phần tử ưu tú là những tầng lớp trí thức mới đã đóng vai trò nòng cốt trong các tổ chức văn hóa hoạt động công khai
Trang 17Nhìn chung, đội ngũ trí thức sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất ở tại Việt Nam được phân biệt làm hai loại:
Thứ nhất, trí thức cao cấp gồm những nhà khoa bảng, các thân sĩ còn sót lại, loại
thanh niên có bằng cao cấp đi học từ nước ngoài về, những công chức, những nhà hoạt động nghệ thuật ở trong nước Phần lớn những người ở trong nước đều không được đào tạo chính quy, cơ bản nhưng lại là những người có trình độ tự học công phu và kiến thức khá phong phú, đó là các nhà văn, nhà báo và những sinh viên chưa học xong bậc đại học nhưng đã thực sự đóng góp một phần vai trò của trí thức vào thời đại
Loại thứ hai, trí thức không cao cấp nhưng có tình độ tri thức nhất định, vượt lên
quần chúng bình thường Đó là những công chức bậc trung, những giáo viên tiểu học,
những thư kí nhà buôn v.v… và không nên quên là trí thức làng xã như các ông đồ, ông
tư văn tuy vị trí không cao nhưng luôn được sự hỏi thăm của dân làng
Như vậy, tầng lớp trí thức Việt Nam đã được hình thành và có nhiều cơ hội để phát triển nhanh chóng, có nhiều tiềm năng phát triển với một tinh thần dân tộc, yêu nước sâu sắc, một động lực sáng tạo, tìm tòi cái mới để xây dựng đất nước
Sự trưởng thành của đội ngũ trí thức sau chiến tranh thế giới thứ nhất đó là:
Về số lượng: đến đầu thế kỉ XX chiếm khoảng 6% dân số; đến năm 1929, đội ngũ trí thức đã lên tới gần 40 vạn người, trong đó có 12000 giáo viên, 335.545 học sinh,
23000 viên chức và hàng trăm sinh viên các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề
Về chất lượng: tầng lớp trí thức đã có sự tự vận động bản thân, tự học hỏi, sáng tạo nâng cao hiểu biết, tiêu biểu như ông Lưu Văn Lang, vốn là con nhà nghèo nhưng tự học nên đã nổi tiếng là bác học, vừa là một con người chân chính, cần kiệm chí công vô tư khiến người Pháp phải kiếng nể ông, dưới thời Ngô Đình Diệm muốn mời ông làm quan,
ông đã khảng khái trả lời: “Tôi già rồi, không làm đầy tớ cho ai được nữa! [50] Công
chức nước ta đã đông đảo những bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư, cả những thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, và có rất nhiều người nổi tiếng về học lực như Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường…, về khao học kỹ thuật như Bửu Hội, Đặng P húc Thông, Xuân Diệu… và nhiều hơn nữa Họ đều có nhiều sức sáng tạo cá nhân, có nhiều thành công trong nghiên cứu và sáng tác Phần lớn họ hoạt động sôi nổi trên các lĩnh vực báo chí, các nhà xuất bản, nổi tiếng như Bùi Thế Mỹ, Đào Trinh Nhất, Diệp Văn Kỳ… có những nhà thơ chiếm riêng một địa bàn như Tản Đà, Đông Hồ… chính nhờ họ mà việc đẩy mạnh bước tiến của văn hóa Việt Nam đi kịp với thế giới
Trang 18Cũng ở giai đoạn này tầng lớp trí thức náo nức tìm đường đi cho dân tộc Lúc này
họ mới thấy rõ hơn khả năng của tầng lớp trí thức và cũng ở đây các nhà trí thức đã khuấy động được cả sinh hoạt văn hóa và sinh hoạt chính trị ở Việt Nam, ở đây họ bộc lộ các khuynh hướng và hình thành nên những nhóm phấn đấu cho các khuynh hướng ấy, có nhóm muốn đất nước này chịu hẳn sự trực trị của người Pháp vì họ thấy kinh tế miền Nam tiến nhanh hơn miền Bắc và miền Trung, tiêu biểu là quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh và không được ai hưởng ứng Với Phạm Quỳnh thì lại chủ trương thuyết lập hiến,
do quá thân thiện với Pháp, và mang tiếng là ru ngủ thanh niên nên nhân dân cũng không
tin theo Bùi Quang Chiêu thì là một trí thức ở Pháp được quần chúng nô nức đón chào và cũng bộc lộ rõ khuynh hướng đề huề và hiến pháp khi ông dự đám tang của Phan Châu
Trinh… các nhà trí thức có tư tưởng dân chủ thì dùng tờ báo Thanh Nghị làm diễn đàn nhưng lại không có chương trình hành động, một số tờ báo khác như Tri Tân, Tiếng
Dân… cổ vũ cho lý thuyết dân chủ một cách rụt rè Còn đa số là các nhà giáo ở bậc đại
học và trung học, một số làm công viên chức tuy chăm chú với công việc của mình nhưng
về sau họ dần có tình cảm với phong trào cách mạng
Như vậy, là những người trí thức không chịu khép mình với đời sống công chức
mà họ còn thể hiện quan điểm, những khuynh hướng con đường mới cho mình và còn cho dân tộc một bước đi mới Lúc này một số người tân học đã bắt đầu theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu… họ chưa phải là người cộng sản nhưng họ có trình độ học vấn cao, tiếp thu được các lý thuyết về chủ nghĩa xã hội theo nhiều khuynh hướng (đệ nhất, đệ tam, đệ tứ quốc tế), họ gây ra những cuộc tanh luận về chủ trương đường lối và trực tiếp đấu tranh với bọn thực dân thống trị, cùng những người đại biểu cho phú hào, tư sản
Nhìn chung các trí thức trong giai đoạn này đều hoạt động công khai và tìm đến các cơ quan phát ngôn cho khuynh hướng chính trị của mình, như báo chí có thể làm dư luận sôi nổi lên, một vài cuộc tranh luận nhỏ để chứng tỏ trí thức Việt Nam luôn quan tâm đến những thay đổi của thế giới
Trang 191.2.2 Vai trò của đội ngũ trí thức yêu nước với việc tuyên truyền tư tưởng yêu nước, chủ nghĩa Mac - Lênin
1.2.2.1 Hoạt động tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa Mac -Lênin vào nước
ta
Đầu thế kỉ XX, cả thế giới đang chuyển động, ở Việt Nam những luồng gió mới đang tràn vào làm thay đổi tất cả bộ mặt xã hội Tầng lớp trí thức là người đại diện nắm vai trò quan trọng trong thời kì này, là người đại diện cho trí tuệ, họ đã đặt ra nhiều câu hỏi, tìm ra và đưa ra nhiều con đường cứu nước khác nhau Tuy nhiên trong sứ mệnh lịch
sử vĩ đại đó họ đã tìm thấy và đi theo những con đường mới, trong đó có một con đường
lý tưởng với các trí thức tân học là cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, con
đường chủ nghĩa xã hội
Con đường cách mạng vô sản mở ra cho giai cấp trí thức một hướng đi mới có đầy
đủ phương hướng và mục tiêu, người trí thức đã bắt đầu nắm bắt, học hỏi và tuyên truyền cho nhiều đại đa số quần chúng bằng nhiều phương pháp khác nhau mà chủ yếu thông qua báo chí, văn thơ, nghệ thuật hay là dạy học… Chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự đã trở thành một tư tưởng quan trọng trong hệ tư tưởng của tầng lớp trí thức Vậy việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin đã được giai cấp trí thức truyền vào nước ta như thế nào và kết quả đó được thể hiện ra sao?
Công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin được tầng cấp trí thức truyền vào nước ta chủ yếu bằng các hình thức như báo chí, thành lập các tổ chức, đào tạo cán bộ…
Báo chí: đây là lĩnh vực mà tầng lớp trí thức thường xuyên dùng làm cơ quan
ngôn luận chính của mình, nơi mà họ thể hiện tiếng nói của tầng lớp mình với xã hội Con người trí thức tiêu biểu cho việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin đó là Nguyễn Ái
Quốc, người xem “Báo chí phải là vũ khí tấn công trực diện kẻ thù Báo chí muốn trở
thành công cụ, phương tiện tuyên truyền và là vũ khí cách mạng sắc bén hữu hiệu, ách phải nằm trong tay những người bản lĩnh, có trí thức… ” [40; tr.20], ngay từ khi bắt đầu
với hoạt động chính trị, người bắt đầu với việc tập viết báo, người viết nhiều các bài báo khác nhau nhưng chủ yếu là tập trung việc đả kích chống lại bọn đế quốc phản động thuộc
địa và tay sai bán nước phong kiến, như bài viết Tâm địa thực dân một số bài đăng trên báo Le Paria có bài Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria, Lời kêu gọi… với những lời lẽ
giản dị, nhưng đầy chất châm biếm, mỉa mai
Trang 20Sau khi tin và đi theo chủ nghĩa cộng sản, người đã đặt vấn đề truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Đông Dương và chủ yếu là vào Việt Nam, lúc này người đã viết hai bài
báo giống nhau mang tên Đông Dương, đăng trên hai số Tạp chí cộng sản (1921), nội
dung trong bài người đề cao các cuộc cách mạng ở Đông Dương, coi trọng tinh thần cách mạng của quần chúng ở đây và chắc chắn một điều rằng nhân dân Đông Dương sẽ vượt
qua như người tiên đoán trước: “Người Đông Dương che dấu một cái gì đang sôi sục,
đang gầm thét, và khi thời cơ đến, nó sẽ bùng nổ mãnh liệt Những người tiên phong sẽ thúc đẩy thời cơ mau đến… chủ nghĩa xã hội chỉ việc reo hạt giống giải phóng ” [25;
tr.33], cũng từ sự phân tích tình hình thực tế ở Đông Dương cũng như tại Việt Nam, chính
bác đã nhận định rằng: “Chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn ở châu
Âu” [25; tr.33], và người quay lại khẳng định một cách chắc chắn là: “Trách nhiệm của chúng tôi… những đồng chí của chúng ta có nhiệt tình truyền bá chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người những lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột và
đi vào gia đình chung của giai cấp vô sản quốc tế” [25; tr.34] Ta thấy Đông Dương lúc
này là thuộc địa của Pháp, chúng thực hiện các chính sách vơ vét, bóc lột tất cả, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân trong biển máu, tuy vậy nhân dân Đông Dương lúc nào cũng sẵn sàng để đứng lên đánh đuổi giặc, cướp lấy chính quyền, nhưng họ lại chưa có một chính đảng để lãnh đạo chỉ đường cho phong trào đấu tranh biến thành cuộc cách mạng rộng khắp, vì vậy nắm được yêu cầu đó Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị tư tưởng cho việc thành lập một tổ chức chính trị bao gồm các thanh niên tri thức để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin đến quần chúng nhân dân
Không chỉ viết một hai bài báo để tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin mà người còn sáng lập ra nhiều tờ báo khác nhau làm cơ quan ngôn luận cho các tổ chức chính trị
mà người chủ trương thành lập như Hội liên hiệp thuộc địa, lấy tờ báo Người cùng khổ
làm cơ quan tuyên truyền của hội,… ngoài ra người còn viết một vài tác phẩm văn chương vừa châm điểm đả kích kẻ thù, vừa làm công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác –
Lênin vào trong nước ta như các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp người nói:
“Lênin và cách mạng tháng mười Nga đã vạch ra con đường giải phóng dân tộc ở
phương Đông phải gắn chặt với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới ” [25; tr.73]
Từ những năm 1925 - 1929, là giai đoạn mà Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tổ chức,
đào tạo cán bộ để đưa về nước tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào đấu
tranh của quần chúng mà tiêu biểu là tầng lớp Công Nông Giữa năm 1925, Việt Nam
Trang 21thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc
đã mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc), thời gian của lớp huấn luyện là từ một tháng rưỡi đến hai tháng, do Nguyễn Ái Quốc là giảng viên chính, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, một số người khác làm giảng viên phụ Cho đến 1927, thì có khoảng 10 lớp được tổ chức và 200 người theo học, số cán bộ này một phần được cử đi học tiếp, một phần cử về nước gây dựng nên các phong trào đấu tranh cách mạng trong nước Việc đồng chí Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện chính trị có một ý nghĩa rất lớn, đã đào tạo được cho cách mạngViệt Nam những cán bộ đầu tiên theo đường lối chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin sâu rộng vào quần chúng
Ngoài ra, Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí còn tổ chức phong trào vô
sản hóa, nhằm mục đích đưa hầu hết các hội viên là trí thức, học sinh vào các nhà máy,
hầm mỏ, đồn điền để cùng lao động, ăn ở và đấu tranh cùng với công nhân, truyền bá chủ
nghĩa Mác - Lênin vào công nhân, từ đó gây dựng nên các chi bộ Thanh Niên, Công Hội trong các hầm mỏ, đồn điền… tác động của phong trào vô sản hóa là phong trào đấu tranh
của công nhân có bước phát triển mạnh hơn, ý thức tổ chức cao và có một hành động thống nhất rộng khắp
Như vậy, với việc Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị các công tác tư tưởng, tổ chức và đào tạo cán bộ, gây dựng nên phong trào đấu tranh trong Công nhân, đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, đặc biệt là vào phong trào đấu tranh của Công Nông Vai trò của Nguyễn Ái Quốc là rất quan trọng nhưng bên cạnh người luôn có những trí thức xuất sắc sẵn sàng hy sinh vì đất nước, nhằm mục đích duy nhất là đưa chủ nghĩa vô sản về nước về với phong trào của công nông, và kết hợp chủ nghĩa yêu nước, phong trào công nhân và chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ làm nên một cuộc cách mạng chiến thắng mọi kẻ thù
1.2.2.2 Vai trò của văn hóa văn nghệ đối với cách mạng Việt Nam trước năm 1930
Trí thức Bên cạnh đó còn có các tờ báo chí của các tổ chức cộng sản được thành
lập như tờ báo Thanh Niên Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh thật đặc biệt, lúc dân tộc bị
biến thành một thuộc địa, mất chủ quyền độc lập, nhân dân chịu cảnh đói khổ, nô lệ Tuy nhiên với tư cách là một tầng lớp đại diện cho trí tuệ, những người đầu tiên tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, họ những người trí thức đã luôn trăn trở tìm mọi cách cứu dân tộc thoát khỏi ách thuộc địa
Trang 22Đầu thế kỉ XX, các nhà trí thức đã lao vào con đường cách mạng, với nhiều các khung hướng khác nhau nhưng càng về sau họ được tập hợp trong các tổ chức yêu nước
theo khung hướng vô sản như: Đảng Lập Hiến thành lập ở: “Nam Kì, có một nhóm trí
thức Tây họ tư xưng là Đảng Lập Hiến, họ là nhóm ôn hòa chủ trương “Pháp An Nam đề huề” [17; tr.30], Việt Nam Quốc Dân Đảng là nhóm Nam đồng thư xã, một nhà xuất bản
tiến bộ, do Phạm Tuấn Tài làm chủ nhiệm, đây là nơi hội tụ những trí thức, sinh viên, thanh niên có tinh thần dân tộc, tuy nhiên lại phân tán làm hai phe chủ hòa và bạo lực, sau khi bàn bạc và thống nhất của đại đa số thì đến ngày 25/12/1927, đã bí mật thành lập tổ chức yêu nước trên
Đặc biệt, một tổ chức của một nhóm thanh niên ưu tú như: Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Quảng Đạt… và một số người khác đã thành lập một tổ
chức yêu nước Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, có đường lối rõ ràng, với sự chỉ dẫn của người cộng sản Nguyễn Ái Quốc: “Hội đã tích cực tổ chức các lớp huấn luyện, đưa
thanh niên từ An Nam sang học (Quảng Châu), rồi huấn luyện cẩn thận lại gữi họ về nước…” [26; tr.86] Đây chính là một tổ chức có một vai trò rất lớn trong việc huấn luyện
cán bộ, các thanh niên ưu tú cho phong trào cách mạng Việt Nam, cũng từ trong hội này
mà đã có biết bao trí thức vô sản được đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn về những kiế n thức
cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, về đường lối cách mạng, phương pháp vận động, tổ
chức quần chúng cách mạng, ở đây hội cũng đã cho ra đời các tờ báo như Thanh niên,
Công nông, tập trung giáo dục lòng yêu nước, động viên tinh thần đấu tranh chống đế
quốc và phong kiến của nhân dân, tuyên truyền giác ngộ quần chúng về chủ nghĩa Mác - lênin, đường lối phương pháp cách mạng
Tuy nhiên phong trào cách mạng trong nước lúc này phát triển mạnh, mà các tổ chức yêu nước lại không thể đáp ứng được các yêu cầu của cách mạng nước ta trong tình hình mới, chính vì không đủ sức lãnh đạo cách mạng và việc thành lập một Đảng Cộng Sản là một điều cần thiết Hơn nữa vào năm 1929, liên tiếp có tới ba tổ chức yêu nước được thành lập, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, công kích, chia rẽ nhau Chính
vì những điều kiện trên mà Quốc tế cộng sản đã gữi thư cho Đồng chí Nguyễn Ái Quốc, giao cho người trọng trách phải thành lập ngay ở Đông Dương một chính Đảng cộng sản
Nguyễn Ái Quốc người thanh niên ưu tú của dân tộc, người cộng sản đầu tiên của
cách mạng Việt Nam đã cứu nước và giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô
sản Tuy nhiên, chúng ta đang nói về vai trò của người trí thức trong việc thành lập Đảng,
Trang 23thì ta sẽ biết rằng Nguyễn Ái Quốc trước khi là một người cộng sản thì vốn dĩ người đã là một trí thức, vì được sinh ra trong một gia đình trí thức, được học hành tử tế và sớm tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật mới của phương Tây Bác cũng như bao thanh niên khác, được sinh ra và lớn lên trong một dân tộc mất nước, thấy cảnh nhân dân bị áp bức, nô lệ Là một người có học người hiểu rằng phải làm gì đó cho dân tộc, cho nhân
dân, và kết quả cho quá trình tìm kiếm ấy là sự ra đời của Đảng Cộng Sản nơi tập hợp
đông đảo các tầng lớp nhân dân, các giai cấp trong xã hội có tinh thần yêu nước, muốn
chống lại bọn đế quốc đế và giai cấp phong kiến để sửa cái xã hội cũ đã mấy ngàn năm
làm xã hội mới
Như vậy: “việc thành lập Đảng là một bước ngoặc vô cùng quan trọng trong lịch
sử cách mạng Việt Nam Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” [26; tr.106] và vai trò của người trí thức trong việc tham gia
sáng lập nên Đảng Cộng Sản là vô cùng to lớn, đặc biệt là trong việc chỉ đạo, làm các công tác tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong quần chúng nhân dân
Trang 24Chương 2:
VĂN HÓA VĂN NGHỆ VỚI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ
VIỆT NAM (1930 - 1945) 2.1 Cách mạng dân tộc dân chủ 1930 - 1945
2.1.1 Đường lối cách mạng của Đảng thời kì 1930 - 1945
Đảng Cộng Sản Việt Nam ta ra đời là sự kết tinh của chủ nghĩa yêu nước kết hợp phong trào đấu tranh của công nông và chủ nghĩa Mác - Lênin, với yêu cầu cấp thiết của cuộc cách mạng là phải đánh đổ đế quốc và bọn phong kiến tay sai đang áp bức, bóc lột nhân dân, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ, Đảng phải kêu gọi và lãnh đạo nhân
dân vùng dậy làm cách mạng: “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời, xé tan cái màn
đêm tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cách mạng phản đế phản phong” [26; tr.108]
Ngay sau khi được thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa ra đường lối cách mạng trong thời kì cách mạng dân tộc dân chủ là: cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: trước làm cách mạng tư sản dân quyền sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, hai giai đoạn này phải kế tiếp nhau, có quan hệ khăng khít với nhau Cương lĩnh nêu rõ:
“Đảng chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
b Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
c Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập
d Dựng ra chính phủ công nông binh
e Tổ chức ra quân đội công nông
a Về phương diện kinh tế
b Thủ tiêu tất cả các thuế quốc trái
c Thâu hết các sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng…) của bọn tư bản đế quốc chủ ngĩa Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lí
d Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo
Trang 25e Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo
f Mở mang công nghiêp và nông nghiêp
g Thi hành luật ngày làm 8 giờ” [26; tr.106]
Xuất phát từ việc phân tích thực tiễn phong trào đấu tranh của quần chúng, áp dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo ở Việt Nam mà đảng ta đưa ra đường lối cách mạng chung cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
Trong sách lược vắn tắt cũng ghi rõ: “Đảng phải thu phục cho được đa số dân cày
và phải dựa vào dân cày nghèo, phải hết sức lãnh đạo cho dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” [25; tr.171] Dân cày là lực lượng
cách mạng đông nhất, quan trọng nhất trong cuộc cách mạng, với nông dân thì vấn đề ruộng đất là điều họ quan tâm đầu tiên vì vậy đảng phải giải quyết được vấn đề này cho
họ thì quần chúng sẽ theo và đấu tranh cách mạng
Với đường lối cụ thể cho một giai đoạn cách mạng, chỉ rõ con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta, đó là con đường kết hợp gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội Nhưng trong giai đoạn này nổi bật nhất vẫn là nhiệm vụ chống đế quốc và bọn tay sai phản động, giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc
2.1.2 Công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ thời kì 1930 - 1945
Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, với hai nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và phong kiến tay sai phản động, nhằm giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ Tuy đường lối của Đảng đã rõ ràng nhưng ở mỗi giai đoạn lịch sử lại có những đường lối chiến thuật, chiến lược quân sự khác nhau Vì vậy trong giai đoạn từ 1930 - 1945, cách mạng Việt Nam đã trải qua các giai đoạn sau:
+ Cao trào cách mạng 1930 - 1931:
Trong lúc thế giới đang chao đảo bởi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, thì ở Việt Nam thực dân Pháp phải đối chọi với phong trào cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Tuy Đảng cộng sản ở nước ta mới ra đời, giai cấp lãnh đạo còn non trẻ, lực lượng còn yếu nhưng với việc thống nhất cương lĩnh, đường lối chính trị rõ ràng, Đảng ta
đã nhanh chóng tập hợp lực lượng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh Và mở đầu cho một loạt cuộc đấu tranh đó là các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân như công nhân
nhà máy dệt Nam Định, Cao su Dầu Tiếng, Phú Riềng… và cao điểm nhất tột bậc là trong những ngày của Xô Viết Nghệ - Tĩnh: “Đó là lần đầu tiên nhân dân ta nắm chính quyền ở
địa phương và bắt đầu thi hành chính sách dân tộc, tuy chỉ mới làm được một phạm vi
Trang 26nhỏ hẹp Xô viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn Tinh thần anh dững của nó luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng, nó đã mở đường cho thắng lợi về sau” [26; tr.115]
Như vậy, ngay sau khi được thành lập Đảng ta đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh, lãnh đạo các phong trào của nhân dân, hướng quần chúng vào các cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Dù phong trào có thất bại nhưng đây là cơ hội cho đảng ta rèn luyện trong môi trường mới, nhanh chóng lớn mạnh hơn
+ Giai đoạn 1931 - 1935: Đây là giai đoạn Đảng ta có khôi phục lực lượng cách
mạng, bồi dưỡng cán bộ sau thời gian cách mạng bị khủng bố trắng Năm 1935, đại hội lần thứ nhất ở Ma Cao Đại hội đã nhận định tình hình trong nước và tình hình thế giới, kiểm thảo lại công tác đã qua và ấn định chương trình cho công tác sắp tới
+ Phong trào dân chủ 1936 - 1939:
Bước sang giai đoạn này tình hình có nhiều thay đổi theo chiều hướng thuận lợi
cho việc hoạt động công khai nên t hời kì này Đảng chủ trương: “Chỉ nên đòi các quyền
dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp ” [25; tr.117], tăng cường
đấu tranh công khai, hợp pháp nhưng chủ yếu dùng biện pháp hòa bình như biểu tình, rãi truyền đơn tranh thủ mọi cơ hội để đòi các quyền dân chủ về cho quần chúng, tăng cường tính hợp pháp của Đảng trong trường quốc tế
Dựa vào tình hình trong và ngoài nước Đảng ta đã họp hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng (7/1936), xác định nhiệm vụ cách mạng giai đoạn này: về cơ bản là chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng trước mắt thì phải trực tiếp là đấu tranh chế
độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình Kẻ thù trước mắt của nhân dân là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng Ngoài ra đảng còn quyết định đưa ra nhiều vấn đề như khẩu hiệu, phương pháp đấu tranh và thành lập tổ chức Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương nhằm
liên hiệp hết thảy tất cả các giai cấp trong xã hội
Về cơ bản thì đây là giai đoạn mà Đảng ta đã xác định là đòi các quyền dân sinh, dân chủ Phong trào diễn ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng… và đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng quan tâm, góp phần xây dựng giáo dục
và phát huy sức, uy tín của Đảng sâu rộng trong quần chúng
Trang 27+ Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939 - 1945:
Dựa vào tình hình có nhiều chuyến biến mau lẹ, nên Đảng và Hồ Chí Minh quyết
định hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 8 và xác định: “Cuộc cách mạng trước
mắt của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, lập mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập, hoàn thành cách mạng ruộng đất” [26; tr.118], nhiệm vụ của cách mạng Việt Nan lúc này phải tranh
thủ mọi cơ hội, xây dựng lực lượng, kêu gọi nhân dân chuẩn bị tư tưởng, sẵn sàng cầm vũ khí trên tay khi thời cơ đến Đảng ta sẽ cùng nhân dân giành lại độc lập, lấy đất của bọn địa chủ, bọn tay sai bán nước và bọn đế quốc để chia cho dân nghèo, và hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ
Sau đó là một loạt các cuộc khởi nghĩa như Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương:
“Nam Kỳ im hơi lặng tiếng đã lâu Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây Bắc Sơn đó, Đô Lương đây Kéo cờ khởi nghĩa đánh tây bạo tàn”
[26; tr.119]
Các cuộc khởi nghĩa trên nổ ra như được báo hiệu trước thời cơ cách mạng sắp nổ
ra, chúng ta phải chớp lấy cái thời khắc ngàn vàng ấy để: “Quyết nối gót người xưa, phấn
đấu hy sinh đặng phá tan xiềng xích” [26; tr.118]
Tháng 5/1941, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Minh được thành lập, có nghĩa là liên minh vì nền độc lập của nước Việt Nam Mặt trận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khung hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam
nữ và tuổi tác Nhằm thực hiện hai nội dung cơ bản:
“1 Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập
2 Làm cho dân tộc Việt Nam được sung sướng tự do ” [25; tr.50]
Lúc này Đảng cũng quyết định thành lập đội Việt Nam Tuyên Truyền giải phóng
quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự, về cơ bản là một đội tuyên truyền Cuộc kháng
chiến của nhân dân ta cần phải có sự động viên toàn dân, vũ trang toàn quân, vì vậy quân chủ lực phải có nhiệm vụ giúp đỡ huấn luyện, vũ khí cho các địa phương, cho các đội này trưởng thành lên Xây dựng lực lượng quân đội nòng cốt cho lực lượng vũ trang nhân dân, ngoài ra các đội cứu quốc ra đời đi sâu vào quần chúng gây dựng tinh thần đoàn kết dân tộc, đưa quần chúng vào ho ạt động trong các tổ chức… Bên cạnh đó, đảng phát động các
Trang 28cuộc khởi nghĩa từng phần để làm điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa chuẩn bị nổ ra, mọi hình thức hoạt động văn hóa văn nghệ như báo chí, truyền đơn, thơ cách mạng, biểu tình, viết băng zôn, phát thanh công khai… đều được đảng ta đẩy mạnh nhằm phục vụ mọi hình thức tuyên truyền cho cuộc cách mạng, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa
“11 giờ đêm, ngày 13 tháng 8, Uỷ ban khởi nghĩa đã ra quân lệnh số 1, hạ lệnh
tổng khởi nghĩa
Hỡi quân dân toàn quốc
Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh
Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập cho nước nhà!” [25; tr.637] Giờ khởi nghĩa đã đến cả nước ta, toàn dân ta đã mong đợi ngày này từ
rất lâu, này cả dân tộc ta quyết chiến với những kẻ đã làm cho dân tộc ta chìm trong cảnh
nô lệ, mất tự do và hạnh phúc Cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám nổ ra nhanh chóng trong vòng nửa tháng nhân dân khắp cả nước lần lượt giành lại hết chính quyền trong cả nước, cuộc tổng khởi nghĩa kết thúc trong niềm vui của hàng triệu con người Việt Nam với Bản tuyên ngôn Độc Lập được đọc lên cho ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Một nhà nước của dân và vì dân
Công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam về cơ bản đã nói rõ qua từng giai đoạn lịch sử của cuộc cách mạng Với việc nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đảng
ta đã chứng minh một sự thật rằng non sông Việt Nam là của người Việt Nam và chúng ta quyết không bao giờ để mất một tấc đất của non sông mà ông cha ta đã để lại Và con đường cách mạng vô sản là sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc ta
2.2 Chủ trương của Đảng đối với công tác văn hóa văn nghệ
Từ xưa ông cha ta đã nhận ra văn học là một ngọn cờ chiến đấu tích cực chống giặc ngoại xâm, thể hiện tình yêu đất nước con người, ngọn cờ đó đã được truyền qua biết bao thế hệ như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi đến Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc… với những vần thơ nổi tiếng:
“Chở bao nhiêu thuyền đạo không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
(Nguyễn Đình Chiểu)
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Bác Hồ)
Trang 29Đến năm 1930, Đảng ta ra đời là đại biểu ưu tú xứng đáng kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi lên ngọn cờ sao vàng sáng rực rỡ cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giải phóng đất nước ta, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và đặc biệt là gắn sự phát triển của văn hóa văn nghệ với cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của dân tộc Việt Nam
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ và kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang và tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật Đảng ta hoàn toàn coi trọng công tác tư tưởng và coi văn hóa văn nghệ là một vũ khí đấu tranh sắc bén
2.2.1 Nâng cao vị thế văn hóa văn nghệ phục vụ chính trị , cách mạng
Đảng ta ra đời không chỉ nhằm giúp cho cuộc cách mạng nước ta lớn mạnh đạt đến đích giải phóng dân tộc, giành quyền tự do cho toàn thể nhân dân, mà bên cạnh đó Đảng còn phải không ngừng nâng cao công tác chính trị cho Đảng viên, giúp họ nắm bắt và biết kết hợp các khâu công tác như điều tra, tuyên truyền, tổ chức huấn luyện… nhằm giác ngộ quần chúng, huấn luyện họ đấu tranh cách mạng Những điều trên cũng chính là nhiệm vụ của văn hóa văn nghệ trong cuộc cách dân tộc dân chủ mà đảng ta muốn hướng
tới, muốn văn hóa văn nghệ phải nâng cao vị thế của mình trong cuộc đấu tranh này
Công tác văn hóa văn nghệ trong cuộc cách mạng dân chủ phải nâng cao vị thế của mình, không chỉ nhờ các chính sách của đảng mà điều quan trọng là tự bản thân văn hóa
văn nghệ phải tích cực nâng cao vị thế của mình để nhằm: “Phụng sự kháng chiến, phụng
sự tổ quốc, phụng sự nhân dân” [27; tr.5] là nhiệm vụ chính của văn hóa văn nghệ trong
việc phụng sự chính trị, cách mạng, giúp nhân dân hiểu và vững lòng tin vào cuộc cách mạng chính nghĩa của dân tộc Vì vậy, muốn phụng sự tổ quốc một cách tốt nhất thì chỉ
có một cách duy nhất là phải nâng cao vị thế văn hóa văn nghệ, phải làm cho được
Nền văn hóa văn nghệ của dân tộc ta đang chịu cảnh bị vùi dập, bị thao túng bởi những tên phản bội tổ quốc, phản lại một nền văn hiến ngàn năm, chúng muốn nền văn
hóa ấy phải bị nô lệ, đồng hóa: “Biến thành đồi trụy, ngoại lai và mất gốc, thành một thứ
công cụ đắc lực cho âm mưu đồng hóa, diệt chủng về tư tưởng” [32; tr.82] Phải chống lại
nền văn hóa nô dịch đó, giành lại quyền tự do sáng tác nghệ thuật, nâng cao giá trị nghệ thuật tác phẩm và quan trọng hơn là vị thế của văn hóa văn nghệ sẽ được nâng cao trong các phong trào đấu tranh của quần chúng
Chính vì vậy việc nâng cao văn hóa văn nghệ để phục vụ chính trị, phục vụ nhân dân nên đảng ta luôn chủ trương phải làm, phải học tập hết mình phục vụ cách mạng,
Trang 30phục vụ nhân dân lao động trước hết là giai cấp công nông binh Ngay từ những năm đầu, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần yêu nước những nhà văn chiến sĩ cách mạng đều đến với công tác văn hóa văn nghệ, họ hăng say chiến đấu và sáng tác các tác phẩm nghệ thuật làm vũ khí tuyên truyền, giáo dục bổ trợ cho các công tác huấn luyện, mở rộng mọi hình thức công tác tuyên truyền văn hóa văn nghệ đi sâu vào đời sống
nhân dân như đảng ta chủ trương: “Đảng ta phải mở rộng việc tuyên truyền cổ động ra
(báo sách, truyền đơn, tiểu thuyết…) tài liệu huấn luyện phải viết cho rõ ràng, dễ hiểu và
in cho sạch sẽ” [32; tr.67]
Văn hóa văn nghệ là một bộ phận của cách mạng Việt Nam, trong đó có đảng là lực lượng tiên phong đại diện cho quyền lợi của đa số các giai cấp trong nhân dân mà tiêu biểu là giai cấp Công nông binh Từ đó, việc nâng cao vị thế của văn hóa văn nghệ phải được làm liên tục trong cả cuộc cách mạng của dân tộc ta và hơn nữa muốn vị thế nâng cao thì không có cách nào khác văn hóa văn nghệ phải phục vụ nhân dân lao động, trước hết là giai cấp Công - Nông Phục vụ cho nhân dân là phục vụ cho tổ quốc, phục vụ cho công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, chiến đấu vì nền dân chủ và quyền được hạnh phúc của nhân dân
Ngoài những việc trên thì đảng còn chủ trương với các văn nghệ sĩ phải: “Lăn
mình vào lò lửa cách, cố gắng phục vụ cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp, gắn liền nghệ thuật với sự sống còn của tổ quốc, của nhân dân…” [20; tr.122] Trong cuộc cách mạng
dân chủ của dân tộc thì vai trò của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng là rất quan trọng, với mặt trận văn hóa văn nghệ luôn tỏ ra đây chính là một thứ vũ khí riêng của Đảng ta,
mà trên đó người nghệ sĩ cũng chính là những cán bộ đảng viên dũng cảm, kiên cường vì
họ không chỉ sống chiến đấu mà còn cống vì nghệ thuật vì cái đẹp nhưng cái đẹp đó luôn gắn liền với cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc Việt Nam ta Cũng từ đó đảng ta luôn
hướng: “Ngòi bút phục vụ chính nghĩa trong tay nhà văn chiến đấu (…) phải là một lực
lượng cực kì mạnh mẽ” [49; tr.727]
Trong cả cuộc cách mạng dân chủ mà đảng ta lãnh đạo, mặt trận văn hóa văn nghệ
đã luôn được đảng ta chú ý bồi dưỡng đưa ra các chính sách nhằm nâng cao vị thế của mặt trận văn hóa văn nghệ, giúp cho công tác phục vụ chính trị, cách mạng và tích cực phục vụ cho quần chúng nhân dân trở nên có hiệu quả hơn, cũng từ đó góp phần làm cho văn hóa văn nghệ từng bước phát triển, mạnh và sâu hơn trong lòng nhân dân
Trang 312.2.2 Nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật cho tác phẩm
Mỗi tác phẩm đều có những nội dung riêng và hướng đến một đối tượng nhất định, tuy nhiên để một tác phẩm văn học được quần chúng đón nhận thì nó cần đến rất nhiều các yếu tố, mà trong có giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật là rất quan trọng Đảng ta luôn định hướng cho các văn nghệ sĩ đẩy mạnh sáng tác nhằm phục vụ cho cuộc cách mạng dân tộc nhưng cũng phải tăng cường nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật cho tác phẩm
Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ mà Đảng đang lãnh đạo, các tác phẩm văn
hóa văn nghệ buộc phải nâng cao giá trị tư tưởng, nghệ thuật cho tác phẩm là vì: “Nền văn
hóa, văn nghệ của dân tộc ta bị thực dân kìm hãm, đàn áp, và kiểm duyệt ráo diết, các ấn phẩm, tịch thu sách báo tiến bộ, tù đầy các văn nghệ sĩ yêu nước Đối với một bộ phận văn hóa, văn nghệ khác, chúng nô dịch, biến thành đồi trụy, ngoại lai và mất gốc, thành một thứ công cụ đắc lực cho âm mưu đồng hóa, diệt chủng về tư tưởng, tình cảm, truyền thống dân tộc” [32; tr.82] Văn hóa văn nghệ ta bị mất tự do sáng tác, bị kìm hãm phát
triển do chính sách của thực dân, hơn nữa chúng luôn muốn văn hóa Việt phải phục tùng nhưng kẻ thực dân tàn ác và bạo lực Mất văn hóa thì chúng ta không còn là người Việt nữa, vì vậy, bằng mọi cách Đảng ta phải giải phóng văn hóa văn nghệ, lãnh đạo ngọn cờ này chiến đấu vì nền độc lập, tư do của dân tộc Việt cũng như tự do sáng tạo nghệ thuật, nâng cao giá trị tư tưởng của tác phẩm văn hóa văn nghệ
Kẻ thù của dân tộc ta luôn rêu rao rằng: “Đảng cộng sản áp đặt chuyên chính vô
sản, bắt buộc văn nghệ phải có tính Đảng, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, phải phục vụ đường lối lãnh đạo của Đảng, như vậy đảng tước hết mọi quyền tự do của văn nghệ sĩ, “can thiệp thô bạo” vào lĩnh vực sáng tác” [32; tr.85] Làm chính trị là một công
việc đòi hỏi cần có trí tuệ và văn hóa, vậy ở trong trí tuệ của một con người được hình thành qua quá trình dạy dỗ nhưng còn văn hóa thì nó lại được hình thành từ những lời ru tiếng hát của mẹ, của bà, qua những lời ăn tiếng nói dân tộc Vậy tại sao văn hóa và chính trị lại không kết hợp được với nhau, đặc biệt là trong công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ mà Đảng ta đang lãnh đạo Đảng ta là một chính đảng vô sản, Đảng của những người lao động, của nông dân và công nhân, đại diện cho những người bị áp bức mất tự do đứng lên đấu tranh đòi lại những quyền đó cho toàn dân tộc Đảng đứng lên tập hợp mọi giai cấp trong xã hội trong đó có những văn nghệ sĩ yêu nước, những nhà trí thức có tinh thần dân tộc, lãnh đạo họ, truyền cho họ tư tưởng Mác - Lênin và hướng họ sáng tác phục vụ cách mạng
Trang 32Như vậy là các văn nghệ sĩ tự mình giác ngộ, theo chân lí ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin để sáng tác và phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, đây mới là sự thật mà chúng ta cần phải tự hào chứ tuyệt đối không phải giống như bọn phản cách mạng nói như
ở trên
Ngoài ra, các tác phẩm phải phục vụ cho công việc tuyên truyền, giáo dục quần chúng Lúc này, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời không chỉ nắm giữ nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà còn giải phóng cho nền văn hóa, văn nghệ khỏi ách nô dịch, mọi âm mưu đồng hóa của bọn thực dân và cũng tạo mọi điều kiện vật chất và tinh thần, mọi nhân tố khách quan và chủ quan cho văn hóa, văn nghệ phát triển Văn hóa, văn chương thực sự
đã được Đảng ta chú trọng phát triển, đặc biệt là tầng lớp văn nghệ sĩ, cần phải giữ vững lập trường chiến đấu, kiê n quyết chống lại những lối văn hóa đi ngược lại văn hóa dân tộc, phản bội lại đất nước, nói xấu và xuyên tạc đường lối của Đảng với văn hóa, văn nghệ
Nâng cao giá trị tư tưởng và nghệ thuật cho tác phẩm là một việc quan trọng đối
với mỗi chiến sĩ văn hóa, mỗi tác phẩm là một đứa con tinh thần của mỗi nhà văn, nhà
thơ Vậy việc làm sao để nâng cao được giá trị tư tưởng và nghệ thuật cho một tác phẩm, Đảng lãnh đạo cách mạng và cả ngọn cờ văn hóa văn nghệ, vì vậy trong việc định hướng cho các văn nghệ sĩ phục vụ cho cuộc cách mạng thì Đảng không chỉ nêu ra nhiệm vụ của
văn nghệ sĩ là phụng sự cho kháng chiến mà còn phải luôn đề cao giá trị tư tưởng nghệ
thuật cho tác phẩm của mình như vậy mới là một tác phẩm văn học có dân tộc và khoa
học vì vậy việc cần nâng cao các giá trị của các tác phẩm cần: “Phải đi sâu vào thực tế,
đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, và đặc biệt là quần chúng công, nông, binh… những người làm văn nghệ nên phân công đi vào các mặt chính của thực tế, không nên chỉ đi vào đơn vị bồ đội mà nhẹ nông thôn, quên công xưởng…” [20; tr.33]
Chủ đề mà các văn nghệ sĩ thường nói tới là cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, quần chúng công nhân, nông dân và binh lính, về cuộc sống chủ yếu của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám Đi sâu và đi thẳng vào quần chúng là một cách mà đảng ta khuyến khích, vì các văn nghệ sĩ sẽ làm công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, vận động họ làm cách mạng, đi theo Đảng và làm theo đảng Văn chương là một lĩnh vực cần nhiều vốn sống, đặc biệt ở các nhà văn thì vốn sống càng nhiều thì càng có nhiều giá trị cho tác phẩm của mình, vì vậy Đảng chủ trương các nhà văn nên hoạt động
nhiều nơi, tìm hiểu công nhân, nông dân và cả nông thôn, thành thị: “Phải hết sức cải tạo
Trang 33tư tưởng, học tập chủ trương Mác - Lênin, học tập chủ trương chính sách của Đảng” [20;
tr.35]
Xuất phát từ thực tế, văn hóa văn nghệ Việt Nam đi từ nhiệm vụ chính trị trong từng cuộc giai đoạn cách mạng, mà đề ra phong trào sáng tác, lý luận, có những phương hướng đúng đắn, phương pháp sáng tác tốt nhất cho văn nghệ ta phát triển Tăng cường đi sâu vào thực tế, nếu không vững vàng về lý luận, hiểu hết các chính sách chủ trương của Đảng thì nhất định công việc sáng tác, nâng cao giá trị tư tưởng của tác phẩm khó mà có được Chính vì vậy, Đảng yêu cầu các văn nghệ sĩ phải học tập, rèn luyện, kết hợp lý luận với thực hành, nâng cao tư tưởng về chính trị và học thức từ đó các anh em văn nghệ sĩ sẽ
có một tác phẩm không chỉ chiến đấu với bọn thực dân mà còn giáo dục, cổ vũ lòng dân theo Đảng giành chính quyền
Các văn nghệ sĩ càng phải: “Ra sức phát huy vốn văn nghệ cũ của dân tộc thống
nhất là vốn văn nghệ bình dân” [20; tr.36] Nền văn nghệ của dân tộc ta từ xưa đến nay
vốn rất phong phú, và khi mà văn nghệ ta đang ra sức phát triển trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc thì có rất nhiều khó khăn trong việc tìn kiếm tư liệu một cách đầy
đủ nhưng: “Người văn nghệ sĩ phải biết tìm vốn ấy trong cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm
với quần chúng nhân dân, nhất là nông dân, ở những nơi vốn giàu truy ền thống văn nghệ cũ” [20; tr.36] Học tập và khai thác vốn văn nghệ cũ từ nhân dân đồng nghĩa với việc giữ
gìn, sáng tạo và truyền bá văn nghệ cũ cho thế hệ tiếp theo Quần chúng là người luôn yêu thích những hình thức văn nghệ dân tộc như chèo, tuồng, tranh tết, hát quan họ, vv… nhưng phải là những tác phẩm có nội dung mới, sâu sắc và giá trị nghệ thuật cao
Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng nữa là các văn nghệ sĩ phải tiếp thu vốn văn nghệ tiến bộ của thế giới để học tập, tiếp thu những kinh nghiệm của nền văn hóa phong phú trên thế giới, điều này không chỉ giúp cho vốn sáng tác của các nhà văn đa dạng mà còn năng cao tính giá trị tư tưởng của tác phẩm, mở rộng sự hiểu biết cho độc giả, trực tiếp là cho quần chúng ta biết những nét mới của thế giới bên ngoài Học tập nền văn hóa tiến bộ trên thế giới không phải là bắt chước hay là dập khuôn nền văn hóa văn nghệ thế giới, mà các văn nghệ sĩ phải có những tác phẩm mang tính dân tộc, sáng tạo nghệ thuật
và tính nhân dân, thì lúc này nền văn hóa văn nghệ nước ta mới mang tính Dân tộc, khoa
học và Đại chúng như Đảng ta đã đề ra
Để những tác phẩm sáng tác của các nhà văn có giá trị tư tưởng, nghệ thuật các nhà văn cần phải có sự đoàn kết, cộng tác chặt chẽ với quần chúng nhân dân, đi sâu đi sát vào