Có thể xem đó như là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học nước nhà, một giai đoạn mà nhà nghiên cứu Phong Lê nhấn mạnh, “giai đoạn bản lề, giao thời trên tất cả cá
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EURÉKA
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
Mã số công trình : ………
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
DẪN NHẬP 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX 11
1.2 Thể du ký và diện mạo du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX 12
CHƯƠNG 2 DU KÝ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX - HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ THẾ GIỚI 27
2.1 Những trang tư liệu ghi chép về cảnh quan, văn hóa 27
2.2 Những trang tư liệu ghi chép về đời sống văn hóa xã hội 35
CHƯƠNG 3 DU KÝ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX – ĐI VÀ NHÌN LẠI 46
3.1 Niềm tự hào về nền văn hóa Việt Nam 46
3.2 Khát vọng bắt nhịp với nền văn minh trên thế giới 58
CHƯƠNG 4 DU KÝ VIỆT NAM – PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 65
4.1 Về mặt ngôn ngữ 65
4.2 Về mặt giọng điệu 73
4.3 Về mặt kết cấu tác phẩm 80
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 94
Trang 3TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Sự xuất hiện của những thiên du ký cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền văn học Việt Nam Có thể xem đó như là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học nước nhà, một giai đoạn mà nhà nghiên cứu Phong
Lê nhấn mạnh, “giai đoạn bản lề, giao thời trên tất cả các phương diện của ngôn ngữ và thể loại, của tác giả và công chúng, của nội dung học thuật và tư duy nghệ thuật…” Bên cạnh
đó, sự ra đời của những thiên du ký Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX có nhiều ý nghĩa Không chỉ có vai trò về mặt văn chương mà còn có vai trò trong công tác tư tưởng, cải cách xã hội Bên cạnh đó, du ký Việt Nam còn là một dòng chảy xuyên suốt bắt ngang qua hai thế kỷ Chuyển sang giai đoạn hiện đại, nền văn minh phương Tây đã xâm nhập và làm biến đổi mọi phương diện đời sống của xã hội Việt Nam, kéo theo những biến chuyển lớn trong văn học Nếu chữ Hán và chữ Nôm đóng vai trò quan trọng trong nền văn chương trước đây, thì bước sang thế kỷ XX đã dần nhường vị trí ấy cho chữ Quốc ngữ Trong điều kiện đó, du ký là một thể văn xuôi có điều kiện phát triển rầm rộ, và cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký đã tạo nên một màn dạo đầu rất ngoạn mục cho văn học dân tộc
Hơn thế nữa, du ký không chỉ là những trang văn học mà còn là những trang văn hóa, những trang tư liệu quý giá về phong tục, cảnh sắc thiên nhiên đất nước Ngược dòng thời gian, lần theo những trang du ký đầu thế kỷ XX, độc giả có dịp trở về với lịch sử dân tộc, được dịp ôn lại những năm tháng hào hùng của cha ông, được ngắm những thắng cảnh, thả hồn theo những cảnh quan tuyệt thú của đất nước Chính vì vậy, có thể xem du ký Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX như là một phương diện có tác dụng vực dậy lòng tự tôn và tinh thần yêu nước của dân tộc
Nhấn mạnh vai trò, vị thế và tầm quan trọng của thể du ký xuất hiện đầu thế kỷ XX, cũng như thể hiện được những mong muốn cải cách xã hội, thay đổi nền văn hóa, văn học dân tộc của những tri thức đầu thế kỷ XX cũng không nằm ngoài nội dung mà chúng tôi thực hiện
đề tài này
Trang 4DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Karl Marx đã từng nói, nếu như con nhện dăng tơ, con ong làm tổ một cách vô ý thức, theo bản năng, thì con người bao giờ cũng hoạt động một cách tự giác, có ý thức, có mục đích nhất định Nhất là trong lĩnh vực văn học, vì thế, trên diễn đàn văn học trong những năm 30 của thế kỷ XX đã có cuộc tranh luận khá gay gắt giữa hai luồng tư tưởng trái ngược nhau, một bên là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và một bên “Nghệ thuật vị nhân sinh” Điều này cho
ta thấy rằng, trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật nói chung, sáng tác văn học nói riêng, một tác phẩm nghệ thuật ra đời đều xuất phát từ những nguyên do nhất định và hướng đến những mục đích nhất định
Mặt khác, văn học được ví như là một người thư ký trung thành của mọi thời đại Bởi lẽ, một tác phẩm văn học ra đời thường mang đậm dấu ấn của thời đại đó, phản ánh được các mặt của đời sống vào trong tác phẩm như kinh tế, chính trị, xã hội… Điều này ta có thể nhận thấy rất rõ qua các giai đoạn, qua các thời kỳ văn học của nhiều quốc gia trên thế giới Chẳng hạn, nền văn học Trung Quốc, mỗi thể loại văn học gắn với một triều đại nhất định
và phản ánh được triều đại ấy, ví như Phú gắn với thời Hán, Thơ gắn với đời Đường, Tiểu thuyết gắn với triều đại Minh Thanh Hay như nền văn học Việt Nam, trong mười thế kỷ đầu
thơ là một thể loại chiếm được vị thế cao, nhưng vào những thế kỷ sau, sự xuất hiện của văn
xuôi đã dần dần chiếm được vị thế trên văn đàn Có lẽ vì vậy, trong bài viết Về vị trí của thể
ký trong nền văn học chúng ta, tác giả Nguyễn Huy có viết: “Lịch sử văn học của nước ta
cũng như nhiều nước trên thế giới cho ta thấy có lúc kịch rất phát triển, có lúc tiểu thuyết nổi bật, có lúc thơ chiếm ưu thế, có lúc ký lại được mùa Mỗi giai đoạn của cuộc sống, tùy theo nhu cầu bạn đọc, theo hoàn cảnh và điều kiện xã hội mà thể loại này có ưu thế và thuận lợi hơn thể loại khác” [36, 53]
Trong tiến trình phát triển, nền văn học Việt Nam được đánh dấu bằng rất nhiều bước ngoặt, nhưng bước ngoặt có tầm ảnh hưởng rộng lớn hơn cả về mặt văn hóa cũng như văn học đó là sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ Vì kể từ khi chữ Quốc ngữ xuất hiện đã mở cánh
cửa văn học sang một hướng đi mới Điều này được đánh dấu khi tờ Gia Định báo xuất bản
số đầu tiên vào tháng 4 năm 1865, lúc này, văn xuôi của cả nước mới có điều kiện phát triển, và sự phát triển này càng mạnh như vũ bão với sự ra đời của hàng loạt tờ báo khác
như: Phan Yên báo, Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh Tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ Tân văn… Nhiều thể loại văn học mới ra đời từ đây như truyện dịch, thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình,… và một thể loại không thể bỏ qua, đó là Du ký Có thể nói rằng, những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là “mùa nở rộ” của thể du ký, với nhiều
nhà du hành có tên tuổi như Trương Vĩnh Ký, Phạm Phú Thứ, Trương Minh Ký, Phạm Quỳnh, Cao Chánh, Phạm Vân Anh, Đào Hùng, Nguyễn Thị Kiêm,…
Trang 5Du ký ra đời đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền văn học
của dân tộc, có thể đó là thể loại thử nghiệm bước đi đầu tiên của các thể loại văn học khác ngoài thể thơ Mặc dù, trong những năm gần đây, du ký đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, khảo sát, đánh giá thế nhưng, vị trí và vai trò của thể du ký cần bàn bạc một cách sâu sắc hơn Du ký cần có một cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn, bởi vì, du ký đầu thế kỷ XX tương đối phong phú về loại hình, loại thể: Có dòng du ký người Việt viết về quê hương xứ
sở của mình, nhưng cũng có dòng du ký người Việt viết về những thắng cảnh ở nước ngoài;
có dòng du ký người nước ngoài viết về đất nước Việt Nam Với đề tài Cảm nhận về thế giới trong du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX, chúng tôi tập trung vào hai dòng du ký chính,
đó là dòng du ký người Việt viết về nước Việt và dòng du ký người Việt viết về nước ngoài Thông qua quá trình khảo sát trực tiếp những thiên du ký, chúng tôi mong muốn đem lại một cái nhìn toàn diện hơn về vai trò cũng như vị trí của thể du ký trong nền văn học dân tộc Đồng thời, hiểu được cảm quan của các nhà trí thức Việt Nam đương thời đã Cảm và Nghĩ về thế giới như thế nào trong tương quan so sánh với đất nước Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX cũng không nằm ngoài lý do khi chúng tôi thực hiện đề tài này
2 Tổng quan tài liệu
Trong khi thực hiện đề tài Cảm nhận về thế giới trong du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX,
chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình bàn về thể du ký đã dành sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đi trước, có thể kể đến ở đây:
Trước năm 1975:
Năm 1942, trong công trình Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã có nhận xét về tác phẩm
du ký Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký Vũ Ngọc Phan đã có
nhận xét rằng: “Tập du ký này viết không có văn chương gì cả, nhưng tỏ ra ông là một người có con mắt quan sát rất sành, vì cuộc du lịch của ông là một cuộc du lịch lần đầu, ông lại đi rất chóng Tuy không có văn chương, nhưng cũng phải nhận là ngòi bút của ông thật linh hoạt” Cũng trong công trình này, Vũ Ngọc Phan đã giới thiệu về Phạm Quỳnh và đưa
ra những nhận xét xác đáng về quyển Ba tháng ở Paris (rút ở những bài Pháp du hành trình nhật ký, đăng trên báo Nam Phong từ số 58 – Avril 1922): “Là một quyển du ký rất thú vị,
chuyện ông kể đã có duyên, lại vui, tường tận từng nơi, từng chốn làm cho người chưa bước chân lên đất Pháp, chưa hề đến Paris, cũng tưởng tượng qua được những thắng cảnh và những nơi cổ tích của cái kinh thành ánh sáng dưới trời Tây và chia ít nhiều cảm xúc cùng nhà du lịch”
Năm 1943, công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm xuất bản Trong
mục Ông Phạm Quỳnh và phái Nam Phong, Dương Quảng Hàm đã chia tác phẩm của Phạm Quỳnh thành ba loại: Dịch thuật, Trứ tác và Khảo cứu Trong ba loại ấy, các bài du ký của ông Phạm Quỳnh được liệt vào loại trứ tác: “Trừ các bài luận thuyết, ký sự đoản thiên đăng trên tạp chí, ông có viết mấy tác phẩm ghi chép những điều quan sát, nghị luận trong các
cuộc du lịch của ông: Mười ngày ở Huế (N.P, số 10), Một tháng ở Nam Kỳ (N.P, số 17, 19,
Trang 620), Pháp du hành trình nhật ký (N.P, 1922-1925)” Ở đây, Dương Quảng Hàm chỉ mới
phân loại những tác phẩm du ký của Phạm Quỳnh chứ không đi sâu vào phân tích riêng một tác phẩm du ký nào
Năm 1961, trong Tạp chí Văn học số 8, tác giả Sơn Tùng có bài viết Các thể ký, trong đó
tác giả có nhắc đến du ký với một khái niệm còn sơ lược
Năm 1965, Phạm Thế Ngũ với công trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Tập 3) – Văn học hiện đại năm 1862-1945, trong mục Nhà du ký, tác giả đã nêu một cách sơ lược
về các bộ du ký của Phạm Quỳnh như Mười ngày ở Huế và Trẩy chùa Hương Nhận xét về Trẩy chùa Hương, Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Có phần cảm hứng về tôn giáo nên nhiều vẻ trang nghiêm”; Một tháng ở Nam Kỳ thì “ngã ra giọng phù phiếm xã giao”; Du lịch xứ Lào thì “khô khan như một báo cáo hành chính” và có giá trị hơn cả là phải kể đến tập Pháp du hành trình nhật ký: “Tất cả những nhận định, điều mắt thấy bụng nghĩ, sự gặp gỡ trên
đường, ông đã ném lên trang giấy một cách mộc mạc, tự nhiên”
Năm 1966, trong Tạp chí Văn học số 8, tác giả Tô Hoài có bài viết Bước phát triển mới của các thể ký Trong bài viết này, tác giả xác định các bước của thể ký, trong đó kể đến du
ký là thể loại đầu tiên, tạo tiền đề cũng như tạo bước nhảy cho các loại ký khác
Năm 1967, trong Tạp chí Văn học số 2, tác giả Tầm Dương có bài viết Về thể ký, trong
bài viết này tác giả giới thiệu sơ qua về thể du ký và cho rằng du ký là một danh hiệu của ký
sự dựa trên sự thống nhất với nhau về những đặc điểm nào đó như hồi ký, truyện ký
Năm 1968, công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam Phong (1917-1934) của nhà thư mục Nguyễn Khắc Xuyên, đã xác định du ký là một trong mười bốn bộ môn chính của Nam Phong tạp chí bên cạnh Báo chí, Triết học, Tôn giáo, Xã hội, Chính trị, Kinh tế - Pháp luật, Giáo dục, Phong tục, Ngôn ngữ, Khoa học, Mĩ thuật, Văn học, Lịch sử Trong phần mục lục
du ký, tác giả đã thống kê được 69 tác phẩm du ký đã in trên tờ Nam Phong tạp chí
Năm 1974, công trình Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới của Bùi Đức
Tịnh cũng giới thiệu sơ nét về thể du ký
Sau năm 1975
Năm 1999, công trình Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đã đưa ra một khái niệm đầy đủ về thể du ký: “Du ký là một loại hình văn học thuộc loại hình kí mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người
có dịp đi đến”
Năm 2000, công trình Qúa trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945 do Mã Giang Lân (chủ biên), tác giả Trần Ngọc Vương – Phạm Xuân Thạch có bài viết Văn học dịch và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn giao thời Các tác giả đã nhắc đến du ký
với một khái niệm: “Du ký là một hình thức bút ký văn học được ghi lại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến đi của tác giả đến những miền đất địa danh khác nhau Nguồn gốc của du ký cần tìm trong những hình thức tùy bút và ký sự truyền thống”
Năm 2001, trên Tạp chí Văn học số 11, Phong Lê có bài viết Phác thảo buổi đầu văn xuôi quốc ngữ Tác giả có đề cập đến tác phẩm du ký Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi – 1876 của
Trương Vĩnh Ký
Trang 7Cũng trong năm này, công trình Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) do Vũ Anh Tuấn và Bích Thu (chủ biên) có thiệu sơ nét về tác phẩm Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), Một tháng ở Nam Kỳ, Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh
Năm 2002, trong công trình Đi Tàu đi Tây du ký, Vương Trí Nhàn đã tuyển chọn và giới
thiệu các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Nhất Linh, Lê Văn Trương Trong lời dẫn, tác giả đã nói đến du ký: “Nói hẹp hơn trong phạm vi du ký, có những chuyến đi dẫn tới kết quả lớn lao là phát hiện ra một bộ phận của nhân loại mà chưa ai biết tới; đồng thời lại có những chuyến đi làm thay đổi cả một đời văn”
Năm 2005, trên Tạp chí Văn học số 2, có bài viết Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí của Nguyễn Đình Chú – Trịnh Vĩnh Long Các tác giả của bài viết
đã đề cập đến thể kí trên Nam Phong tạp chí với những bài du ký của Phạm Quỳnh: “Bên cạnh thể loại truyện văn xuôi trên Nam Phong tạp chí, có khoảng 100 tác phẩm thuộc thể kí của hơn 50 tác giả Trong đó có những tác phẩm có tiếng như Một tháng ở Nam Kỳ và Pháp
du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”
Năm 2006, trên Tạp chí Văn học số 6, Hà Minh Châu có bài viết Vũ Bằng và thể loại ký,
tác giả đã nói đến các tác phẩm của Vũ Bằng với sự thể hiện đa dạng các thể ký: “Ký là một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, ký gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tùy bút,…”
Cũng trong năm này, Phạm Thị Tố Thy với công trình luận văn Thạc sĩ Sự nghiệp sáng tác, nghiên cứu và dịch thuật của Trương Minh Ký tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn Trong công trình này, tác giả đã đi vào nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của
Trương Minh Ký Riêng phần du ký của Trương Minh Ký, tác giả chủ yếu nghiên cứu Như Tây nhật trình và Chư quấc thại hội
Năm 2007, Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm, giới thiệu và cho xuất bản Du ký Việt Nam tạp chí Nam Phong (1917-1934) với ba tập dày dặn Có thể nói, đây là nguồn tư liệu rất có giá trị cho những công trình nghiên cứu về thể du ký trên Nam Phong tạp chí
Năm 2009, trên Tạp chí Văn học số 11, tác giả Phong Lê có bài viết Du ký Việt Nam trên chặng đường đầu hiện đại hóa Phong Lê đã đưa ra cách tiếp cận thích hợp, nghiên cứu đặc
trưng và mục tiêu của du ký Tác giả đặt vấn đề chung quanh việc Đi Đó là: Đi đâu? Bằng phương tiện gì? Ai đi và đi với ai? Và đi với mục đích gì? Qua đó có nhiều gợi mở cho việc nghiên cứu thể du ký
Năm 2011, trong công trình cấp trọng điểm Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di sản văn học Nam Bộ 1930-1945, do PGS Đoàn Lê Giang (chủ nhiệm), Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, đã khảo sát tư liệu đồng thời có những đánh giá bước đầu về mảng du ký Nam Bộ
Năm 2011, trong công trình Nam Bộ nhìn từ văn hóa, văn học và ngôn ngữ do Vũ Văn Ngọc (chủ biên), Phạm Thị Thu Hương có bài viết Thể du ký trên báo Nam Kỳ địa phận Đây là bài viết công phu về thể du ký trên báo Nam Kỳ địa phận, dù tác giả chỉ mới đề cập đến các tác phẩm Cuộc du lịch Châu Đốc - Hà Tiên Kam-Pot Phú-Quốc và Dạo rảo xứ Thủ Dầu Một
Trang 8Năm 2012, Đặng Thị Tuyết Mai với công trình đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Cảm nhận về con người và những vùng đất mới trong du ký trên tờ Phụ nữ tân văn Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Tác giả đề cập đến thể loại du ký viết về nước ngoài và địa danh Việt Nam Tuy nhiên, đó là những gợi mở bước đầu về một vấn đề rất lý thú của
du ký: văn hóa nước ngoài qua nhãn quan trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX thông qua du
Trên tạp chí Kiến thức ngày nay số ra tháng 2 năm 2013, Nguyễn Hữu Sơn có bài viết Phạm Quỳnh với thể tài du ký Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến những tác phẩm của
Phạm Quỳnh dưới góc độ văn hóa – xã hội Tuy nhiên, đây chỉ là bài viết mang tính sơ lược, giới thiệu
Qua lịch sử vấn đề chúng tôi vừa trình bày, có thể thấy theo thời gian, thể du ký ngày càng dành được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu, đặc biệt sự xuất hiện dày đặc của nhiều công trình từ sau năm 1975 Tuy nhiên, đó cũng là những công trình nghiên
cứu về du ký chủ yếu trên Tạp chí Nam Phong, dường như thể du ký trên những tờ báo khác
ít được quan tâm chú ý, nhất là các tạp chí ra đời ở miền Nam như Phụ nữ Tân văn, Nam kỳ địa phận,…
3 Mục tiêu – phương pháp
Như chúng ta đã biết bất cứ một nền văn học nào cũng luôn luôn vận động và biến đổi theo quy luật của chúng Trong đó nền văn học Việt Nam cũng không ngoại lệ, để có được một nền văn học văn xuôi Quốc ngữ như ngày hôm nay đó là cả một quá trình đấu tranh và phấn đấu của bao thế hệ Bằng mọi hình thức sáng tác và dịch thuật những cây bút văn xuôi đầu thế kỷ XX đã đóng góp công sức rất lớn vào quá trình hiện đại hóa chữ Quốc ngữ, trong đó
sự xuất hiện của những thiên Du ký đầu thế kỷ XX như là một bước thử nghiệm Thế nhưng trong một khoảng thời gian dài thể Du ký đã bị bỏ quên cùng với sự phai màu, rách nát theo thời gian của những tờ báo đầu thế kỷ XX Thế nên việc khai thác, nghiên cứu và tìm hiểu
để tìm đúng vai trò của thể du ký trong buổi đầu hiện đại hóa nền văn xuôi Quốc ngữ là điều không thể bỏ qua
Một quy luật khác của tự nhiên mà ai cũng phải thừa nhận, đó là sự biến đổi của thời gian
sẽ kéo theo vạn vật cùng biến đổi Nhưng những sự biến đổi ấy sẽ có “người thư ký” trung thành của mọi thời đại ghi chép lại, và “người thư ký” ấy chính là văn học Vì vậy mà
Trang 9những thiên Du ký viết về thế giới xuất hiện đầu những năm thế kỷ XX như là một nguồn tư liệu quý để độc giả ngày nay hiểu được về con người, về thế giới cách đây gần một thế kỷ
Vì thế mà việc tìm hiểu về con người, về thế giới trong cách cảm nhận của những nhà du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX là mục đích thứ hai mà đề tài hướng đến
Để thực hiện được mục đích trên, các tác giả của đề tài đã cố gắng sưu tầm những trang báo đăng tuyển những thiên du ký viết về thế giới trong những năm đầu thế kỷ XX để tiến hành nghiên cứu, khảo sát
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết một cách nghiêm túc những yêu cầu của đề tài, về mặt cơ sở lý luận chúng tôi đã dựa trên một số công trình nghiên cứu của những người đi trước có liên quan đến đề tài để làm nền tảng lý luận cho công trình nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, chúng tôi còn
tiến hành Thu thập và Sưu tầm thêm những tài liệu, những văn bản du ký in trên các tập
chí xuất bản đầu thế kỷ XX để làm nội dung khảo sát và nghiên cứu của đề tài
Về mặt phương pháp nghiên cứu thì các tác giả của đề tài đã tiến hành những phương pháp sau:
Để giải quyết được chương Những vấn đề chung, chúng tôi tiến hành phương pháp Hệ
thống hóa những tư liệu đã sưu tầm được để có một cái nhìn cụ thể và rõ ràng hơn về hoàn
cảnh xã hội, cũng như diện mạo du ký những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Để giải quyết nội dung các chương còn lại chúng tôi tiến hành thực hiện phương pháp Liệt
kê – phân tích – tổng hợp các văn bản tài liệu đã sưu tầm được Bên cạnh đó chúng tôi thực hiện phương pháp So sánh, đối chiếu để thấy được sự khác nhau về quan điểm, cũng
như cách nhìn nhận về thế giới của các nhà du ký đầu thế kỷ XX Cuối cùng, chúng tôi thực
hiện phương pháp Liên ngành để làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài
4 Kết quả - Thảo luận
Trang 10Với đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tác phẩm du ký trên các báo và tạp chí
như: Phụ nữ Tân văn, Nam Kỳ địa phận, Nam Phong tạp chí
Về tác phẩm: viết về nước ngoài có: Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ, Chư Quấc thại hội của Trương Minh Ký, Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1922), Thuật chuyện du lịch ở Paris, Du lịch xứ Lào của Phạm Quỳnh, Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Du ký Sang Tây, Mười tháng ở Pháp của cô Phạm Vân Anh đăng trên Báo Phụ nữ tân văn, Đáp tàu André Lebon, Hai mươi bốn giờ của tôi ở đất Pháp của Cao Chánh đăng trên Phụ nữ Tân văn
Tác phẩm viết về trong nước có: Các nơi cổ tích đất Nghệ An của Nguyễn Đức Tánh, Qua chơi mấy nơi cổ tích đất Ninh Bình của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Một buổi đi xem đền
Lý Bát Đế của Phạm Văn Thư, Cảnh vật Hà Tiên của Mộng Tuyết, Banà du ký của Huỳnh Bảo Hòa, Bài ký chơi Cổ Loa của Tùng Vân, Thăm lăng sĩ vương ủa Nguyễn Trọng Thuật, Các lăng điện xứ Huế của Nguyễn Đức Tính, Cuộc xem cổ tích miền đông bắc Hải
Dương của Nguyễn Đôn Phục, Bài ký phong thổ tỉnh Tuyên Quang của Nguyễn Văn Bân
Đóng góp mới của đề tài
Dựa trên phần nghiên cứu của những thế hệ đi trước, các tác giả đề tài tiếp bước công việc nghiên cứu về thể du ký, một trong những thể loại văn học được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao về vai trò góp phần hiện đại hóa nền văn học dân tộc Một mặt, trên cơ sở những bài nghiên cứu còn mang tính chất khái quát và sơ lược về dòng du ký người Việt viết về nước ngoài của những người đi trước chúng tôi khảo sát và nghiên cứu sâu hơn về phần văn bản Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu dựa trên những điều mà các công trình đi trước
đã làm được và chưa làm được chúng tôi tiến hành bổ sung thêm để góp phần có một cái nhìn toàn diện hơn về thể du ký Và đóng góp mới của đề tài này mang đến một cái nhìn khách quan về hình ảnh của một số nước trên thế giới những năm đầu thế kỷ XX thông qua thể loại du ký và cách nghĩ, cách nhìn nhận về thế giới của thế hệ tri thức Việt Nam trong buổi đầu giao lưu với nền văn minh phương Tây Đồng thời thông qua đó thấy được hình
Trang 11ảnh của đất nước, của dân tộc ta vô cùng bé nhỏ và lạc hậu trong khoảng thời gian cách đây một thế kỷ
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu văn học trên các tờ báo đầu thế kỷ XX không còn xa lạ gì với chúng ta nữa Đã có rất nhiều công trình, luận văn cũng như luận án nghiên cứu về lĩnh vực này thế nhưng với đề tài này sẽ góp phần phác thảo lại vai trò quan trọng của báo chí trong những năm đầu thế kỷ XX cũng như thể loại du ký trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà Đồng thời thông qua đó cho ta thấy được bước phát triển của nền văn học dân tộc Thông qua đề tài, các tác giả có cơ hội hiểu sâu hơn nền văn học dân tộc nói chung và thể
du ký nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XX Hơn thế nữa, đề tài như là một sự khảo sát
về địa lý, du lịch, phong tục,… của một số quốc gia trên thế giới trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX Đồng thời, đề tài còn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo về lĩnh vực nghiên cứu thể du ký Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mục lục, Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, nội dung chính của công trình có 80 trang, chúng tôi chia kết cấu đề tài thành bốn chương, cụ thể như sau:
Chương I Những vấn đề chung có 22 trang, trong chương này chúng tôi thực hiện
nghiên cứu về bối cảnh xã hội Việt Nam để thấy được sự tác động của xã hội đến việc hình thành thể loại du ký Tiếp đó là việc tìm hiểu thể loại du ký cũng như diện mạo của thể loại này trong buổi đầu hiện đại hóa nền văn học nước nhà Và chương này là cơ sở lý luận, lý thuyết cho việc giải quyết các chương sau
Chương II Du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX – Hành trình khám phá thế giới có 20
trang, trong chương này chúng tôi tiến hành khảo sát các văn bản du ký của Phạm Quỳnh, Phạm Vân Anh, Cao Chánh, Nguyễn Bá Trác,… để thấy được cách đánh giá cũng như cách nhìn nhận của thế hệ tri thức Việt Nam lúc bấy giờ nhìn ra thế giới Những điều mà các ký
Trang 12giả quan sát được, ghi chép được, bình luận, bình phẩm cũng được chúng tôi đưa vào chương này Và chương này chính là cơ sở lý thuyết cho chương tiếp theo
Chương III Du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX – Đi và nhìn lại có 17 trang, với chương này
chúng tôi tiến hành khảo sát một số văn bản du ký của một số ký giả Việt Nam trong hành trình họ đi tìm về với cội nguồn lịch sử dân tộc Như nhà du ký Huỳnh Thị Bảo Hòa, Tùng Vân, Nguyễn Đôn Phục, Phạm Văn Thư, Nguyễn Đức Tánh, Phạm Quỳnh, Đào Hùng,…
Để thấy được niềm tự hào của thế hệ trí thức đương thời về những năm tháng lịch sử hào hùng của dân tộc Và trong quá trình đi họ có dịp nhìn nhận lại nền văn hóa của dân tộc và đưa ra những khát vọng của mình như thế nào cũng được chúng tôi làm rõ chương này Và chương II, chương III là cơ sở để chúng tôi tiếp tục thực hiện chương IV
Chương IV Du ký Việt Nam – phương diện nghệ thuật có 21 trang, ở chương này chúng
tôi tìm hiểu nghệ thuật du ký trên ba phương diện: Ngôn ngữ, Giọng điệu và Kết cấu
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trong suốt một thời gian dài hàng chục thế kỷ, xã hội Việt Nam vốn quen với những nếp sống, những phong tục, tập quán chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa Đến những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã bước sang một ngã rẽ mới, đã tiếp thu thêm sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Có thể ví những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX như
là giai đoạn bản lề của lịch sử Bước sang những năm đầu của thế kỷ XX, về cơ bản, thực dân Pháp đã thực hiện xong công cuộc bình định về mặt quân sự và bắt đầu chuyển sang công cuộc khai thác thuộc địa Kể từ đây, mọi phương diện trong đời sống xã hội Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi, từ kinh tế chính trị đến văn hóa xã hội
Về kinh tế: Giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX, nước ta vẫn duy trì nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu Thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế bằng cách mua bán hàng hóa, khai thác nguồn nguyên vật liệu, cho vay nặng lãi, thu thuế cao,… chúng vơ vét nguồn tài nguyên để làm giàu cho chính quốc Với chính sách kinh tế này, yêu cầu Pháp phải lắp đặt
hệ thống giao thông để thuận lợi công việc vận chuyển Chính sự xuất hiện giao thông bằng đường biển đã tạo điều kiện cho các nhà trí thức Việt Nam đương thời đến với thế giới phương Tây và dẫn đến sự ra đời những thiên du ký sau này
Về chính trị: Để thực thi được chính sách kinh tế đề ra, thực dân Pháp đã áp đặt một nền
cai trị đặc biệt: chính sách chia để trị, chia Việt Nam làm ba kỳ với ba chế độ luật pháp khác nhau Đồng thời, thực dân Pháp còn dùng chính sách mị dân bằng cách hô hào những chủ nghĩa lý thuyết Tự do, Bình đẳng, Bác ái, ra sức “khai hóa”, “bảo vệ” nền văn minh cho xứ
sở thuộc địa, nhưng thực chất nhằm ban bố nhiều chính sách mới để thuận lợi cho việc khai thác thuộc địa của chúng Điều này, đã được nhà du ký Phạm Vân Anh phản ánh rất rõ trong những thiên du ký của mình, khi tác giả đặt chân lên đất Pháp những năm 1929-1930
Về xã hội: Trên cơ sở áp bức kinh tế, chia rẽ chính trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam
có nhiều biến đổi Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam là xã hội phong kiến phương Đông, mọi quyền lực nằm trong tay triều đình phong kiến đứng đầu là nhà vua Sau khi có mặt thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới, kết cấu xã hội có nhiều biến động Bên cạnh các giai cấp cũ như Sĩ – Nông – Công – Thương, các giai cấp mới ra đời như công nhân, tiểu tư sản và tư sản Trong cơ cấu giai cấp, nông dân chiếm số lượng lớn, đông đảo nhất và là giai cấp cực khổ nhất trong xã hội Sự chuyển hướng này một mặt khiến cho xã hội nước ta có sự phân biệt ngày càng lớn giữa nông thôn
và thành thị, giữa người giàu và người nghèo Nhưng mặt khác, sự chen chân của thực dân Pháp vào xã hội Việt Nam đã làm mất dần thế lực của nhiều lực lượng bảo thủ và trì trệ tạo điều kiện cho xã hội mới phát triển, hướng theo một xã hội hiện đại hơn
Về văn hóa: Xã hội Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến
chuyên chế tập quyền Nhà Nguyễn đã duy trì Nho giáo và xem như quốc giáo, dùng tư
Trang 14tưởng Nho giáo để thống trị xã hội, lấy luân thường đạo lý của Nho giáo để giáo dục xã hội; lấy bổn phận tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ để làm kim chỉ nam mọi hành động của người quân tử Khi có sự hiện diện của thực dân Pháp, mọi thiết chế, cơ cấu đã bị thay đổi, nhưng thế lực Nho giáo vẫn còn tồn tại và thực dân Pháp đã dựa vào đó để kìm hãm sự phát triển của đất nước ta Đến đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản ra đời đồng thời làm xuất hiện một
tư tưởng mới – tư tưởng dân chủ tư sản Đây là một tư tưởng tiến bộ ảnh hưởng từ nước ngoài thông qua một số sĩ phu yêu nước của phong trào duy tân Bên cạnh đó, việc sử dụng chữ Quốc ngữ đã trở thành một lợi thế cho quá trình hiện đại hóa xã hội nói chung và văn học nói riêng Nhằm hỗ trợ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã đào tạo tầng lớp tay sai bằng cách mở nhiều trường đào tạo tiếng Pháp Thông qua việc đào tạo tiếng Pháp, thực dân Pháp đã đưa nền văn hóa của họ vào nhằm loại trừ dần những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đồng thời kìm hãm văn hóa Việt Chính vì vậy, trong giai đoạn này, ngoài bản sắc văn hóa của dân tộc, chúng ta chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp Nhờ có sự tiếp xúc với văn minh phương Tây, xã hội ta hình thành một tầng lớp trí thức Tây học thay thế dần tầng lớp Nho học vốn bị lỗi nhịp thời đại và mất dần vị trí hướng đạo trong
xã hội Tầng lớp Tây học xuất hiện đầu thế kỷ XX có dịp đi đây đi đó, trí óc họ được mở mang và học có cái nhìn tiến bộ hơn về xã hội và về thế giới
Có thể thấy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã mang lại nhiều sự biến đổi, nhiều bước chuyển hóa trên đất nước ta về nhiều phương diện Pháp phá bỏ chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp xúc sâu rộng với bên ngoài, đưa nước ta hòa vào cuộc sống chung hiện đại của thế giới Hơn thế nữa, sự phát triển của các phương tiện giao thông như
là công cụ đắc lực để người dân Việt Nam đến với thế giới, được nhìn thấy thế giới, trực tiếp tiếp xúc với các nền văn minh hiện đại Và thông qua những chuyến đi như vậy, giới trí thức hay những người có tâm hồn nghệ sĩ sẽ có được những trang ghi chép độc đáo và hấp dẫn mà ngày hôm nay chúng ta gọi là du ký
1.2 Thể du ký và diện mạo du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.2.1 Thể du ký
Khái niệm du ký
Du ký là một loại thể văn học xuất hiện khá sớm trong nền văn học Việt Nam và đặc biệt phát triển vào những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Nội dung của du ký là ghi chép lại sự thật, việc thật, những điều tác giả mắt thấy tai nghe về những vùng đất mới, những phong cảnh đẹp trong lúc ngao du hay đi công cán Mặc dù xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ XIX, nhưng định danh rõ ràng và bao quát hết nội hàm của thể du ký thì phải đợi sang đến thế kỷ XX, khi những công trình nghiên cứu về thể du ký xuất hiện mới có một khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh về thể tài này
Trong lịch sử văn học Việt Nam đã xuất hiện những tác phẩm du ký khá tiêu biểu như
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh, Tây hành kiến văn kỉ lược của nhóm Phạm Phú Thứ Tuy nhiên, do sự chi
Trang 15phối của đặc trưng thi pháp trung đại, những thiên du ký trong thời kỳ này vẫn chưa tạo được một hệ thống thi pháp chuyên biệt như thơ ca hay truyện ngắn Do vậy, bản thân của thể du ký chưa định hình một cách rõ nét, bên cạnh đó, lằn ranh giữa du ký và thể loại khác còn khá nhạt nhòa Vì vậy, phải đợi đến giai đoạn văn học hiện đại, với sự nở rộ của hàng trăm thiên du ký vào đầu thế kỷ XX, đã tạo nên một vị trí vững vàng cho thể du ký trên văn đàn Thế nhưng, thế nào là du ký thì còn rất nhiều quan niệm khác nhau:
Du ký trước thế kỷ thứ XX được nhà nghiên cứu Vũ Hân xếp vào loại Tùy bút: “Đó là thể văn chi chép lại những sự việc đã qua, tác giả có sống thật trong các trường hợp cùng sự việc trình bày và thấy các trường hợp và sự việc đó đặc biệt quá, không thể không nói để thêm vào kinh nghiệm, vào kiến thức chung của người đồng thời, một vị xứ giả Việt Nam sang Tây hoặc sang Tàu để mưu việc quốc sự, lúc về nước thế nào lại chẳng viết bút ký” [32, 182]
Bước sang thế kỷ XX, sự phân định về thể du ký đã khá rõ ràng, với công trình nghiên cứu
Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934, nhà thư mục học Nguyễn Khắc Xuyên gọi du ký với một cái tên khác là du hành: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy sống trong đất
nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn Thì
đây, theo tờ Nam Phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua những
phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên qua Ngũ Hành Sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này ngày càng trở nên quý hoá đối với chúng ta” [58, 34]
Theo Từ điển văn học (bộ mới), các tác giả cho rằng, du ký là một thể loại nằm trong ký
nên mang đặc điểm của ký nói chung Và Ký: “Là một tên gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại,…) chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký
sự, nhật ký… Ký cơ bản khác với truyện (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết) ở chỗ trong tác phẩm ký không có một xung đột thống nhất; phần triển khai của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu thuật” [34, 787]
Như vậy, dựa trên phương diện nội dung, các tác giả trên đã đưa ra khái niệm thể ký nói chung và du ký nói riêng để thấy được sự khác biệt giữa truyện và ký, giữa báo chí và văn học Còn đứng trên phương diện hoạt động của chủ thể sáng tác thì du ký được hiểu theo chức năng khác nhau, trong đó chức năng ghi chép sự thật, việc thật là chính yếu
Còn theo Từ điển tiếng việt (do Hoàng Phê chủ biên) xem thể du ký là: “Ghi lại những điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [46, 264] Theo Từ điển thuật ngữ văn học,
du ký là: “Một loại hình văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ
sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến” [31, 108] Các tác giả công trình Các thể văn chữ Hán Việt Nam đã đưa ra khái niệm về du ký tương đối đầy đủ và rõ ràng: “Văn du ký là
loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe Đặc điểm của thể du ký là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể
Trang 16nghị luận, và phải là chính tác giả ghi chép về chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông phong vật” [60, 113] Bàn về thể du ký, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn cho rằng, du ký được xem như là một thể tài cần phải nhấn mạnh ở mặt đề tài, nội dung và cảm hứng nghệ thuật ở người viết chứ không phải là ở phần thể loại Trong lời giới
thiệu Du ký trên Nam Phong tạp chí (1917-1934), ông viết: “Khi nói đến thể tài du ký cần
được hiểu nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật nơi người viết, chứ không phải ở phía thể loại Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác bằng thơ, phú, tụng và các bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, phóng sự, ghi chép, khảo cứu, hồi
ức về các chuyến đi, các điểm du lịch, các di tích lịch sử, danh làm thắng cảnh, sinh thái, kiến trúc, mỹ thuật; thậm chí có thể liên quan tới nhiều phương diện của xã hội học, văn hoá học, khảo cổ học, dân tộc học và văn hoá văn nghệ dân gian khác nữa Do đó đã xuất hiện thực tế có tác phẩm nằm ở trung tâm thể tài du ký và nhiều trang viết khác lại nằm ở đường biên hoặc hỗn hợp, pha tạp với những sắc độ đậm nhạt khác nhau, cả về đối tượng, phạm vi
đề tài, nội dung hiện thực lẫn phong cách thể loại” [48, 13]
Tóm lại, qua những quan niệm vừa dẫn, đã xác định du ký là một thể tài có nội dung và đặc trưng nghệ thuật riêng, có ranh giới riêng, không phải là một thể loại nằm chung trong vùng với bút ký và ký sự Mặc dù, giữa bút ký, ký sự, hồi ký và du ký đều có nét tương đồng với nhau, đều là ghi chép về sự thật, việc thật nhưng du ký vẫn mang đậm chất du hành, mang nặng cảm tưởng của một người khách du lịch đứng trước một vùng đất mới
Vậy du ký là: Những trang viết về người thật, việc thật, những điều được mắt thấy tai nghe được những nhà du hành đã khám phá và chứng kiến trong hành trình theo ý định của mình khi đến với những miền đất mới
Về đặc điểm du ký
Là người dành nhiều thời gian và tâm huyết để nghiên cứu thể tài du ký, năm 2007,
Nguyễn Hữu Sơn đã sưu tầm và giới thiệu bộ Du ký Việt Nam trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) Trong phần giới thiệu ông có viết: “Một tác phẩm du ký hay không đơn thuần
chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn có dung chứa trong đó nhiều yếu tố lịch sử, địa lý, giáo dục và đôi khi còn phản ánh cả phương diện chính trị nữa Nói cách khác, du ký cùng với bút ký, hồi ký, nhật ký, ký sự, phóng sự, tùy bút,… nằm ở phần giao nhau giữa văn học
và ngoài văn học” [48, 5] Hay trong Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến đã viết:
“Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật sự kiện…) với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M.Gorki) và thường có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc, bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký, ký
sự, phóng sự, tiểu thuyết phóng sự, du ký, hồi ký, nhật ký, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu luận (et-xe)” [67] Qua hai nhận định trên, chúng ta có thể hình dung được phần nào về đặc trưng cũng như về đặc điểm của thể du ký Không giống như tiểu thuyết, cũng không như truyện ngắn nằm trong một khuôn khổ, một phạm vi, một đặc trưng về thi pháp mà du ký có
Trang 17những đặc điểm rất riêng Những đặc điểm này, theo chúng tôi là những căn cứ, cơ sở giúp phân biệt thể du ký với các thể loại khác
Thứ nhất, du ký có tính chất giao thoa giữa báo chí và văn học
Ngay từ khi mới ra đời, giữa báo chí và văn học dường như không có lằn ranh phân cách, chính vì vậy trong suốt một thời gian dài, khái niệm “văn báo bất phân” đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc trong cuộc sống Mặt khác, văn học hiện đại khởi nguồn từ báo chí, báo chí như là “bà đỡ” cho văn học còn văn học mang lại một sức sống mới cho báo chí Về mối quan hệ này, Phong Lê nhận định: “Sự thật dần dần chứng tỏ: báo chí cần sử dụng và
mở rộng địa bàn cho văn chương (gồm cả sáng tác và – nghiên cứu, dịch thuật) để phát triển
số lượng người đọc Và văn chương dựa vào báo chí để rèn luyện và nâng cao khả năng diễn đạt, miêu tả, qua đó từng bước hoàn thiện thể văn mới, do sự tiếp nhận các ảnh hưởng phương Tây; và đưa tiếng Việt – Quốc ngữ lên tầm một ngôn ngữ phong phú, linh hoạt, có năng lực thể hiện mọi trạng huống sinh hoạt xã hội và tâm lý con người” [38, 64] Rõ ràng,
sự hợp tác cùng tồn tại và phát triển là một thực tế giữa báo chí và văn học trong suốt một thời gian dài nhất là trong giai đoạn báo chí vừa mới xuất hiện Chính vì thế, “hàng rào” ngăn cách giữa báo chí và văn học trở nên mờ nhạt và thể du ký như là một minh chứng cho
sự mờ nhạt ấy
Cũng giống như báo chí, mục đích và đối tượng mà du ký hướng đến là người thật, việc thật, cuộc đời thật Có thể nói “sự thật” là kim chỉ nam cho mọi hoạt động báo chí cũng như thể du ký Bất cứ đi đâu, viết cái gì, phản ánh điều gì cũng không ra ngoài khuôn khổ của cái thật Tuy nhiên, bên cạnh nét tương đồng, du ký có một số nét khác biệt so với báo chí Nếu con người và sự việc trong báo chí được khắc họa một cách đậm nét, cụ thể thì con người và sự việc trong du ký chỉ là những hình ảnh, những công việc chung, không thật sự
rõ ràng Nếu báo chí xoay quanh một sự kiện, một công việc nổi trội thì du ký là sự chắp nối của nhiều câu chuyện, nhiều điều tản mạn, và không có những câu chuyện “giật gân” như báo chí
Một phương diện khác cho thấy nét giao thoa giữa báo chí và văn học là ở chỗ tính thời sự của sự kiện, so với báo chí thì tính thời sự của thể du ký không mang tính bức thiết và nóng hổi như báo chí Nếu như ở báo chí miêu tả sự việc một cách hối hả, nóng bỏng mặc dù đó
là những câu chuyện xoay quanh các đề tài quen thuộc trong cuộc sống, thì du ký là sự miêu
tả về những điều xa lạ mà trước giờ chưa được nghe thấy hoặc nhìn thấy Một điều đặc biệt
ở thể du ký khác với thể báo chí, trong du ký luôn xuất hiện nhân vật “tôi” cũng là nhân vật trần thuật và cũng là chính tác giả viết bài du ký ấy Thông qua nhân vật “tôi”, ký giả bộc lộ cảm xúc một cách trực diện, khen chê buồn vui được bộc lộ một cách thẳng thắn qua trang giấy Cho nên, những trang du ký không đậm đặc tính sự kiện, không cứng nhắc, nghiêm ngặt như báo chí, mà có một đặc thù riêng, mềm mại hơn, giàu cảm xúc hơn
Như đã phân tích ở trên, ta thấy giữa báo chí và văn học có sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau Du ký cùng báo chí đi tìm sự thật về cuộc sống, về con người, nhưng ở du ký đó là một sự tìm tòi, khám phá, còn đối với báo chí đó là sự tìm tòi để phản ánh, để lên tiếng Nhưng tựu chung lại, cả báo chí và du ký đều có tầm quan trọng như nhau trong việc cung cấp những thông tin đến người đọc Ngoài tính chất giao thoa với báo chí, du ký còn in đậm
Trang 18dấu ấn hợp nhất giữa truyện và khảo cứu Một thiên du ký cũng có thể được xem là một câu truyện nhưng cũng có thể xem đó là một thiên khảo sát về địa lý, về lịch sử, về văn hóa, về phong tục một địa danh hay một nền văn hóa nào đó
Thứ hai, du ký mang đậm dấu ấn hợp nhất giữa truyện và khảo cứu
Du ký vốn là những trang viết được bắt nguồn cảm hứng từ những chuyến đi Chính thông qua những chuyến đi ấy, các ký giả ngoài sự chứng kiến những điều mới lạ còn được nghe
và ghi chép lại những câu chuyện, có thể là một câu chuyện cổ tích, một câu chuyện thần thoại được lưu truyền trong dân gian về một địa danh, một thắng tích nào đó Chẳng hạn
thiên du ký Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh của ký giả Nguyễn Đức Tánh, Qua chơi mấy nơi
cổ tích đất Ninh Bình của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Một buổi đi xem đền Lý Bát Đế
của Phạm Văn Thư,… Qua những danh thắng, các ký giả giải thích lịch sử có thể bằng những chiến tích trong lịch sử hay có thể bằng một sự tích được lưu truyền trong dân gian Điều này đã làm cho độc giả có lúc đọc du ký nhưng lại ngỡ là mình đang đọc một câu chuyện cổ tích hay là một giai đoạn của lịch sử So với các thể loại khác, du ký tự do hơn trong khuôn mẫu hình thức và bút pháp nghệ thuật Cái sự tự do không gò ép của thể du ký
đã tạo điều kiện cho tư duy nghệ thuật của các nhà ký giả tự do sáng tạo Đứng trước một cảnh đẹp, một tuyệt tác thiên nhiên, niềm cảm xúc của ký giả được tự do bay nhảy, bộc lộ Thế nhưng, ngoài cảm xúc của một nhà văn, một nhà nghệ sĩ, các ký giả còn là một học giả, một nhà nghiên cứu, cho nên tư duy nghiên cứu, tư duy khoa học có ảnh hưởng đến tư duy nghệ thuật Về điều này, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến có nhận xét: “Viết ký đòi hỏi phải có sự chuẩn bị tư liệu nghiêm túc như làm một công trình khoa học” [33, 93] Du ký đòi hỏi tính xác thực cao như báo chí, đòi hỏi người viết du ký phải đảm bảo độ chính xác cao và có một thái độ làm việc nghiêm túc Thậm chí chính xác đến từng con số, từng
khoảng cách nhất định Trong Thuật chuyện du lịch ở Paris, Phạm Quỳnh miêu tả tháp
Eiffel như sau: “Tháp này là một cái kỳ công có một trong nghề kiến trúc bằng sắt Kể về bề cao thời suốt trong thế giới không có cái nhà lầu cột tháp nào cao bằng: tháp Woolworth Building ở New York cao 229 thước, cột đá ở Washington cao 160 thước; Kim tự tháp Khesops ở Ai Cập cao 137 thước mà tháp Eiffel này cao những 300 thước; kể về cách kiến thiến cũng là hùng tráng, ly kỳ: tương đối đầy đủ và rõ ràng công, nặng cả thảy là 7 trăm vạn cân Tây, trong có một vạn hai nghìn mảnh sắt nối lại với nhau bằng 250 vạn cái đanh
sắt nặng cả thảy là 45 vạn cân…” [25, 197] Hay một đoạn khác trong Cảnh vật Hà Tiên của
Mộng Tuyết, tác giả đã miêu tả một cách tỉ mỉ về loại cây trà mi: “Cành to nên có thể uốn làm kiểng được, lá màu xanh lạt, hoa mỏng manh màu trắng như tuyết mà gầy như mai, lại kiệm được cái hương thơm của tạo hóa, nên có người gọi là hoa “tuyết hương” hay “tuyết mai” [48, 562]
Qua cách khảo cứu của Phạm Quỳnh và Mộng Tuyết về hai cảnh vật khác nhau, nhưng cả hai đều đang trên đường hướng đến một quy luật sáng tạo chung, đó là phản ánh cuộc sống sao cho sinh động, căng đầy và hấp dẫn Điều này cũng giống như nhà nghiên cứu B Pô-lê-
vôi đã từng nhận xét trong công trình Viết ký sự của ông: “Người viết ký sự chỉ khi nào đem
thiên tài sáng tác của mình kết hợp với tinh thần đi sâu nghiên từng ly từng tý, cần cù khắc khổ phấn đấu không biết mệt mỏi, chỉ khi nào biết bồi dưỡng cho mình, biết phát hiện
Trang 19những nét chủ yếu điển hình trong vô số hiện tượng và những điều có thể truyền đạt được tinh thần và thực chất của thời đại thì lúc đó mới có thể thực sự thu được thành tựu rõ rệt trong lối văn ký sự” [17, 11]
Thứ ba, du ký là thể loại có sự giao thoa với chính luận
Ký nói chung và du ký nói riêng là một thể loại có sự giao thoa của nhiều yếu tố, trong đó không ngoại trừ tính chính luận Nếu ở những thể loại khác, truyện ngắn hay tiểu thuyết, yếu tố chính luận được thể hiện một cách gián tiếp qua suy nghĩ và hành động của từng nhân vật, thì ở thể du ký, tính chính luận được bộc lộ một cách trực tiếp qua cái tôi trần thuật của chính tác giả Sức mạnh của những trang du ký cho đến ngày hôm nay vẫn còn giữ nguyên được giá trị là nhờ ở sự mổ xẻ, phân tích, mang tính lập luận cao và giàu sức thuyết phục Vốn là một thể loại tương đối tự do, nên du ký luôn chứa đựng những cảm xúc rất thật của người cầm bút Có khi là cảm xúc hồ hởi, phấn khởi và tràn đầy lạ lẫm của một người vừa rời khỏi quê hương xứ sở để đến một miền đất mới Như Phạm Vân Anh đã bày tỏ:
“Cảm tưởng ấy có lẽ không khác gì cảm tưởng của anh nhà quê, từ nhỏ tới lớn, quanh quẩn
ở đầu xóm cuối làng, đến khi lên tỉnh chơi, ngó cái gì cũng thấy hoa cả mắt, lúc bấy giờ không có gì bày tỏ sự bỡ ngỡ của mình hơn là mấy tiếng: “châu cha! Đẹp qúa!” Cảm giác như vậy là phải, người ta đổi khí hậu mà thấy khó chịu thế nào, thì đổi nhỡn giới đi cũng thấy khó chịu như thế” [8, 14] Có khi là cảm nhận về đời sống nhân quần, ở xứ người cũng như xứ mình, đó là lần ký giả Phạm Quỳnh đến xóm Bình Khang “Mông Mạc” - một nơi khuất lấp sau thành Paris diễm lệ Trong lúc điểm binh nhà đua ngựa Longchamp, ký giả đã nhận ra một lẽ sống của đời thường và cũng là niềm trắc ẩn của ký giả về nhân tình, thế thái,
về cuộc đời và về con người: “Người dân ở đây kể cũng không khác gì người dân bên mình,
mà có lẽ người dân ở đâu cũng đại suất cũng thế, cũng thích hội hè đình đám,… Lại len lỏi trong đám đông cũng có các trạng ăn cắp, chực lần lưng móc túi Thật dưới gầm trời, người
ta đâu cũng như đâu Kẻ bình dân vẫn có tính háo hức mà bọn láu cá thì khéo lợi dụng; trò đời chỉ có thế mà thôi” [50, 598] Có khi ta lại bắt gặp ở thiên du ký khác là lòng bùi ngùi, thương tiếc cho những bậc danh nhân đã cống hiến công sức cho dân tộc, nhưng khi mất, nơi yên nghĩ cũng không lấy một nén hương Đó là tâm trạng của thầy trò Nguyễn Đức Tánh trong một chuyến ghé thăm từ đường thi hào Nguyễn Du: “Khi thầy trò bước vào tới nơi thì lấy làm ngạc nhiên: vì thấy nhà thờ một vị đại danh nho mà lại ra vẻ tiêu điều thê lương Phỏng ở nước khác xuất hiện có người lỗi lạc như thế, thì đã tượng đồng, bia đá, ảnh truyền thần, đài kỷ niệm không biết bao nhiêu rồi Mà từ đường tiên sinh thì tuy mái ngói tường vôi, nhưng đã thấp lại nhỏ, trừ cơn hương bát nước của con cháu dâng lên về ngày kỵ lạp ra, thì thường cũng chẳng có ai đoái hoài chi tới, khiến ta ngắm cảnh nhớ người, luống những ngậm ngùi mà phàn nàn tục người mình đối với kẻ anh tài thật lãnh đạm” [25, 841] Nói tóm lại, nhân trong những chuyến đi, bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu học hỏi, tìm tòi, khám phá, các nhà du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX còn dành nhiều thời gian và tâm huyết cho những vấn đề về con người và xã hội Chính từ những suy ngẫm và trăn trở đó, đã tạo ra những thiên du ký mang một phong cách, một sắc thái riêng Là một thể tài khá đặc biệt, trong bản thân đã có sự giao thoa của nhiều hình thức khác nào là báo chí, chính luận, khảo cứu,… do vậy, từ lúc ra đời, du ký không có một vị trí riêng biệt như các thể loại khác mà bị
Trang 20sắp đặt chồng chéo vào “mảnh đất” khác Đó cũng là nguyên nhân vì sao trong một thời gian dài du ký ít được chú ý tới
Phân loại du ký
Có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc phân chia thể loại du ký Ngay từ khi chào đời du ký không có một phạm vi nhất định, không có một lằn ranh xác định mà hòa chung, giao thoa vào các thể loại khác như bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ký Bàn về thể du ký, các
tác giả trong công trình Từ điển thuật ngữ văn học đã xác định: “Du ký – một thể loại văn
học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những nơi xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đến Hình thức của du ký rất đa dạng, có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng, miễn là mang lại những thông tin tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục dân tình xứ sở ít người biết đến Dạng đặc biệt của du ký phát huy cái chất ghi chép về miền xa lạ của nó là du ký về các xứ sở tưởng tượng, có tính chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học Dạng du ký khác đậm đà hương vị phương Đông là ghi chép cảm tưởng, nhận xét về những nơi danh lam thắng cảnh đất nước” [31, 108] Nhận định này cho thấy, các tác giả đã khái quát cơ bản về thể loại và việc phân loại thể du ký Đứng trên phương diện nội dung, các tác giả đã chia du ký ra làm hai dạng, một là những trang du ký ghi chép về các xứ sở tưởng tượng, mang chất không tưởng hay viễn tưởng khoa học Còn dạng thứ hai, là ghi chép những cảm tưởng về quê hương đất nước, dạng này thì mang đậm hương vị của phương Đông Đây là một cách phân loại tương đối hợp lý, tuy có điểm cần thảo luận, đặc biệt là với thực tiễn thể du ký ở Việt Nam Những thiên du ký Việt Nam xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX đều ghi chép về những sự thật, việc thật, những điều tai nghe mắt thấy chứ không mang tính chất viễn tượng hay là sự tưởng tượng
Đứng trên phương diện điểm nhìn chủ thể tác giả và nội dung hiện thực phản ánh trong tác phẩm, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn chia du ký thành năm dòng khác nhau:
Dòng du ký thứ nhất mang tính quan phương, sự vụ, công vụ Kiểu du ký này thường do các trí thức, ký giả quan lại ghi chép về những chuyến đi mang tính chất khảo cứu công việc
và phát ngôn cho tiếng nói quan phương nhiều hơn, vì là những ký giả này nằm trong bộ máy chính quyền nên đó cũng là một điều dễ hiểu Nhưng qua đó, họ vẫn thể hiện được
niềm tự hào dân tộc và cảm xúc chân thành trước vẻ đẹp non sông đất nước Ví như: Cùng các phái viên Nam kỳ của Thượng Chi; Một tháng Nam Kỳ, Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh; Tổng thuật về việc phái bộ Bắc kỳ đi quan sát đường
xe lửa Vinh – Đông Hà của Song Cử,…
Dòng du ký thứ hai là dòng du ký thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự tích liên quan tới một địa điểm cụ thể Loại du ký này thường là kết quả sau những chuyến
đi giới hạn trong một thời gian ngắn Về loại này có thể kể đến như: Ba Bể du ký (Nhạc Anh Hoàng Văn Trung), Banà du ký (Huỳnh Bảo Hòa), Bài ký chơi Cổ Loa (Tùng Vân), Thăm lăng Sĩ Vương (Nguyễn Trọng Thuật),…
Dòng du ký thứ ba thuộc dòng du ký viễn du, đó là những trang viết trong những chuyến
du hành vượt biên giới, đòi hỏi người đi phải có cả kinh phí và ý chí của người ham hoạt
Trang 21động, ham xê dịch Đó là những trang du ký dài hơi, đưa con người đến những chân trời
nhận thức mới Thể loại này phải kể đến Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác); Sang Tây, Mười tháng ở Pháp (Phạm Vân Anh); Đáp tàu André Lebon, Hai mươi bốn giờ của tôi ở đất Pháp (Cao Chánh), Pháp du hành trình nhật ký, Du lịch xứ Lào (Phạm Quỳnh),…
Dòng du ký thứ tư là dòng du ký hướng tới khảo sát, giới thiệu một vùng văn hóa rộng lớn Loại du ký này thì đòi hỏi người viết phải có thời gian và có vốn kiến thức văn hóa sâu
rộng, có sự chuẩn bị tư liệu công phu Có thể kể đến Chơi Lạng Sơn – Cao Bằng (Phạm Quỳnh), Bài ký phong thổ tỉnh Tuyên Quang (Nguyễn Văn Bân), Cuộc xem cổ tích miền Đông bắc tỉnh Hải Dương (Nguyễn Đôn Phục), Các lăng điện xứ Huế (Nguyễn Đức
Tính),…
Dòng du ký thứ năm là dòng du ký mà yếu tố “vị nghệ thuật” chiếm phần quan trọng, ở những trang viết đó thì không nặng về khảo sát địa lý, cũng không nặng về khảo sát công việc mà ký giả chỉ chấm phá một vài nét về phong cảnh thiên nhiên, miêu tả cuộc sống đời thường hay là các lễ hội, đình đám Vì vậy, những trang du ký này thiên về tính miêu tả hơn
là chính luận và khảo cứu Ở đây có thể kể đến Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khê), Một buổi đi xem đền Lý Bát Đế (Phạm Văn Thư), Cuộc thưởng ca ở làng Hữu Thanh Oai (Nguyễn Mạnh Hồng), Tết chơi biển (Trúc Phong), Trẩy chùa Hương (Thượng Chi), Cuộc
đi quan phong làng Thượng Cát (Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục),…
Trong những cách phân loại thể du ký vừa đề cập, chúng tôi nhận thấy rằng cách phân chia theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã mang đến cho người đọc một cái nhìn khái quát về thể du ký Bởi vì cách phân chia như vậy vừa cụ thể, vừa rõ ràng Khi đọc một tác phẩm du ký, người đọc có thể dựa trên những cơ sở đó mà hình thành cho mình một tâm thế tiếp nhận sao cho phù hợp Dĩ nhiên, sự phân chia chỉ mang tính tương đối, có tác phẩm vừa
thuộc dòng du ký này nhưng lại vừa thuộc dòng du ký khác, chẳng hạn Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh vừa thuộc dòng du ký quan phương, công vụ nhưng lại vừa là
dòng du ký viễn du Bởi lẽ, việc phân chia tuy là có sự rõ ràng nhưng chỉ mang tính chất tương đối Tuy là mang tính hình thức, mang tính chất tương đối nhưng cách phân chia du
ký theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã tạo nên được một “sơ đồ du ký” giúp việc tiếp cận thể du ký được dễ dàng hơn
1.2.2 Diện mạo du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX
Khi thực dân Pháp đặt chân trên đất nước ta đã kéo theo hàng loạt sự thay đổi Vốn trước đây dân tộc Việt Nam chỉ chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa thì giờ đây còn chịu
sự tác động của nền văn hóa Pháp Từ khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển mạnh mẽ trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó có văn hóa, văn học Tiền đề hiện đại hóa văn học đầu tiên phải kể đến đó là việc sử dụng chữ Quốc ngữ Khi Pháp khởi sự đặt những cơ sở thống trị ở miền Nam, họ đã nghĩ ngay đến việc đem chữ Quốc ngữ vào thay thế chữ Nôm và chữ Hán, thay thế nền văn hóa Trung Hoa bằng nền văn
Trang 22hóa Pháp Lúc đầu, việc truyền bá chữ Quốc ngữ vô cùng khó khăn vì người dân có ác cảm trước một nền thống trị mới Nhưng sau đó, mọi người nhận ra chữ Quốc ngữ là thứ chữ dễ học do đó đã chấp nhận Song song với việc chữ Quốc ngữ ngày càng lớn mạnh, một nền văn chương mới cũng ra đời để đáp ứng nhu cầu của xã hội Từ một thứ văn chương mang tính “thi dĩ ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo”, lấy nguồn cảm hứng chủ yếu từ quá khứ, lịch sử thì bây giờ chuyển sang một nền văn chương mang tính hiện thực, gắn với đời sống thường nhật Về tư tưởng tình cảm, đã có sự cách tân rõ rệt, những tư tưởng cổ truyền đã được thay thế bằng các quan niệm phương Tây như về tự do cá nhân, bình đẳng Đặc biệt, nhiều thể loại văn học mới xuất hiện như văn xuôi và thơ mới Các thể thơ cũ vốn thịnh hành trong nền văn học truyền thống dần dần bị đẩy lui vào dĩ vãng, và thế vào đó là thể loại báo chí, nghị luận, phê bình, tiểu thuyết,… Những quan niệm mới về nền văn chương đã thúc đẩy văn học phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho du ký phát triển Nguyên nhân thứ hai tạo tiền
đề cho sự xuất hiện của thể du ký chính là sự ra đời của nhà in, nhà xuất bản, đặc biệt là sự
có mặt của báo chí
Thời gian này báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo tiền đề cho thể du ký
phát triển Những tờ báo có vai trò với văn học có thể kể Gia Định Báo, Đại Nam đồng văn nhật báo, Nam Phong, Phụ Nữ Tân văn, Nam kỳ địa phận, An Nam tạp chí, Trung Bắc Tân văn, Mới, Phong Hóa,… Lúc sơ khởi, báo chí có tôn chỉ mục đích là dùng để đưa các thông
tin, tin tức trong xứ và công bố các sắc lệnh của chính phủ Pháp Thời gian sau, báo chí xuất hiện ngày càng nhiều hơn và nội dung đăng tải thông tin cũng phong phú hơn, trong đó mục văn chương được quan tâm hơn bên cạnh các mục bài khác Một số tờ báo hằng ngày có mục Văn uyển để đăng các bài dịch Hán văn, dịch Pháp văn, dịch tiểu thuyết của Tàu và của
Pháp để đáp ứng nhu cầu của độc giả Nhà nghiên cứu Lê Đức Hạnh trong bài viết Báo chí với văn học giai đoạn 1932-1945 cho rằng: “Các báo đã góp phần vào việc thành lập quốc
văn, đưa vào tiếng Việt nhiều danh từ mới về triết học, khoa học, giúp cho tiếng nói ba miền Trung, Nam, Bắc dễ thống nhất với nhau” [27, 445]
Ngoài việc góp phần thành lập nền quốc văn mới, làm cho tiếng nói ba miền trở nên thống nhất, sự ra đời của báo chí và các nhà xuất bản như là một bước đệm, một bước khởi đầu
quan trọng của lĩnh vực văn chương nghệ thuật Gia Định báo (1865 - 1909) đã mở đầu cho
mô hình kết hợp giữa văn học và báo chí, sau này trở thành đặc điểm chung của báo chí đầu
thế kỷ XX Điều đáng chú ý là trên tờ Gia Định báo trong suốt nửa cuối thế kỷ XIX đã đăng các áng văn xuôi như: Truyện đời xưa nhón lấy những chuyện hay và có ích, Chuyến đi Bắc
Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký Sau đó có các bản dịch văn học Pháp sang Quốc ngữ của Trương Minh Ký, chủ yếu là Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, sau đó còn có bản dịch Tê-
Trang 23lê-mặc phiêu lưu ký Và đặc biệt, là tập du ký bằng thơ lục bát Như Tây nhật trình của
Trương Minh Ký Qua đấy chúng ta thấy, đối với văn học nói chung và thể du ký nói riêng trong những năm nửa sau thế kỷ XIX, báo chí có một vai trò đặc biệt quan trọng Phong Lê
đã nhận xét điều này như sau: “Vậy là ngay trong thời khởi đầu, và dẫu là công báo, các sáng tác, phóng tác và dịch văn học đã sớm tìm đến sự chuyên chở trên mặt báo, vì lợi ích của cả hai phía: văn chương và báo chí” [38, 60] Như vậy, ngay từ khi mới ra đời, những thiên du ký của Trương Vĩnh Ký đã được báo chí đưa đến với độc giả Xã hội ngày càng tân tiến, báo chí ngày càng phát triển đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt tờ báo, tạp chí đã đăng tải những thiên du ký có giá trị cùng với những cây bút du ký hết sức ấn tượng như: Phạm
Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Trần Đình,… trên Nam Phong Tạp Chí, Phạm Vân Anh, Cao Chánh, Đào Hùng trên Phụ nữ Tân văn, J.Lê, Focyane, Jacques Đức trên Nam Kỳ Địa Phận,…
Tiền đề thứ ba không thể bỏ qua đối với sự phát triển của du ký, là sự xuất hiện của tầng lớp trí thức Tây học Có thể nói, đây là đội ngũ góp phần lớn vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học nước nhà Chính lòng khao khát học hỏi, tìm tòi khám phá đã thôi thúc họ lên đường sang các nước phương Tây Thông qua những chuyến đi ấy, họ ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy, những điều kỳ lạ chưa từng thấy trên quê hương xứ sở mình Hành trình của họ dù ngắn hay dài, dù trong nước hay ngoài nước, cũng là cơ hội, tiền cho sự xuất hiện của những trang du ký Bên cạnh đó, một trong những yếu tố tiền đề cho sự xuất hiện các trang du ký đã được Biến Ngũ Nhy đã chỉ ra trong một thiên du ký viết vào cuối những năm
1920 Theo Biến Ngũ Nhy, một tác phẩm du ký được hình thành trên ba cơ sở: sự thôi thúc nội tại muốn đi xê dịch, sự thôi thúc trực tiếp từ những thay đổi diễn ra trong không gian sống xung quanh, tác động từ xa trong so sánh với các nước văn minh Chính ba nguyên nhân này đã thôi thúc các nhà du ký cầm bút: “Ba ngày tết tây, rảnh rang công việc, nghĩ mình lẩn quẩn trong chốn phồn hoa như Sài Gòn – Chợ Lớn cũng chẳng có thú vui chi, bất quá cũng dạo quanh các phố, khi ngồi rạp hát, khi nhập tiệc rượu, chẳng có chi là thích chí Bèn trực nhớ lại còn nhiều tỉnh thành trong xứ ta, mà mình là người bổn thổ mà chưa hề biết tới Nghĩ các nước văn minh lấy sự giao du là đều thích ý nên thường hay trẩy sang xứ nầy qua xứ khác, trước là xem phong cảnh, sau là giúp cuộc thương trường, còn chúng ta cứ xẩn bẩn quanh năm trong một chỗ, chẳng chịu vân du các nơi, đến nỗi cuộc thế trong bổn xứ mà cũng chưa thân thuộc” [Dẫn theo 29, 82]
Khác với các thể loại khác, thể ký nói chung và du ký nói riêng ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt hơn Dựa trên các mối quan hệ xã hội, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho rằng:
“Sáng tác văn học thể ký thường thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử ứng với thời kỳ xã hội có sự khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới, làm tăng cường chú
ý đến sự miêu tả các thói tục” [16, 180] Như vậy, ký nói chung và du ký nói riêng ra đời trong hoàn cảnh đất nước có sự khủng hoảng về mặt chính trị Cần lùi lại một chút về giai đoạn những năm cuối thế kỷ XIX, du ký xuất hiện trong quá trình đi công cán của các nhà Nho Còn sang thế kỷ XX, là những trang ghi chép trong các chuyến đi thực hiện công việc của trí thức mới Mặc dù ra đời trong hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa, tự bản thân du ký đã khẳng định sức mạnh, ưu thế của thể loại, chiếm một vị trí xứng đáng trên văn đàn những
Trang 24năm đầu thế kỷ XX Đã gần một thế kỷ trôi qua, sức sống của những trang du ký vẫn chưa được khai thác hết những giá trị Giá trị mà những trang du ký mang lại không chỉ là giá trị văn chương mà còn là giá trị về văn hóa, phong tục tập quán, lịch sử địa lý,… Và có thể là một phần giá trị nào đó của thể du ký góp phần vào công cuộc khai thác tiềm năng phát triển
du lịch của nước nhà
Quá trình phát triển của thể du ký Việt Nam
Trong tiến trình phát triển của xã hội, văn học ngày càng mở rộng đường biên nhằm đáp ứng nhu cầu đọc của con người Phong Lê có lý khi cho rằng: “Du ký không phải là chuyện
lạ với văn học Việt Nam, càng không là chuyện lạ với văn học thế giới Cùng các cuộc phát kiến địa lý; phát minh ra ô tô, tàu hỏa, tàu biển, tàu bay; việc mở mang thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc… thì văn học cũng mở rộng đường biên cho sự miêu tả để đáp ứng nhu cầu
tìm biết những chuyện lạ, mang theo chất exotique, không lúc nào và không ở đâu mà không
cuốn hút con người Còn ở ta dẫu xã hội phong kiến phong bế, lạc hậu, con người vẫn có không ít những cuộc đi, ngắn hoặc dài, nhân đó để lại văn chương những áng văn hay, không chỉ là giúp mở mang tri thức mà còn là in đậm cảm quan lịch sử và dấu ấn thời đại
như Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du… cho đến
những khổ thơ đi sứ của Phan Thanh Giản và Cao Bá Quát” [39, 51] Qua đấy, chúng ta có thể nhận ra quan điểm của GS Phong Lê về sự cắm mốc của quá trình hiện đại hóa của thể
du ký Tác phẩm được đánh dấu ở đây là Thượng Kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du, đó là những áng văn viết bằng chữ Hán xuất hiện khá sớm trong nền văn học trung đại Việt Nam Về điều này, Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Thể tài du ký trên tạp chí Nam Phong (1917-1934), cũng cho rằng: “Trong nền văn học trung đại Việt Nam đã
có nhiều sáng tác thuộc thể tài du ký như thơ ca đề vinh phong cảnh như núi Bài Thơ, sông Hương núi Ngự, cảnh Thăng Long, Hà Tiên, Gia Định,… Đã xuất hiện nhiều tác giả, tác
phẩm nổi bật như Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), Bài ký tháp Linh Tế núi Dục Thúy của Trương Hán Siêu (?-1354), Nam trình liên thi tập của Ngô Thì Ức (1709-1736), Phụng sứ Yên Đài tổng ca của Nguyễn Huy Oánh (1713-1789), Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791), Nhị Thanh động phú, Tây Hồ phong cảnh phú của Ngô Thì Sĩ (1726-1780), Tụng Tây Hồ phú, Ngự đạo hành cung nhật trình của Nguyễn Huy Lượng (1750-1808), Bài ký chơi núi Phật Tích của Nguyễn Án (1770-1815), Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Ghi về vương quốc Khơ-me, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876-) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Như Tây nhật trình, Chư quốc thạc hội của Trương Minh Ký (1855-1900), Hương Sơn hành trình của Chu Mạnh Trinh (1862-1905)” [51, 22]
Trong bài viết Con đường hiện đại hóa văn học của các nước khu vực văn hóa chữ Hán (qua tư liệu văn học Việt Nam và Nhật Bản) tác giả Đoàn Lê Giang cũng đồng quan điểm
với Phong Lê và Nguyễn Hữu Sơn về sự xuất hiện của thể du ký ở Việt Nam Trong quá trình so sánh với Nhật Bản về con đường hiện đại hóa văn học, ông đã tìm ra nét tương đồng
ở hai nền văn học của hai quốc gia, đó là sự xuất hiện của thể du ký: “Ở Việt Nam cũng
Trang 25tương tự: Khởi đầu là các du ký của các nhà văn – quan đại thần khi đi công cán phương
Tây mà tiêu biểu nhất là cuốn Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ viết năm 1863, từ phía các nhà văn cộng tác với Pháp có: Trương Vĩnh Ký với Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), Trương Minh Ký với Như Tây nhật trình (1889), Chư quốc thại hội (1891), đều là
các du ký bằng thơ song thất lục bát ghi chép về những điều mắt thấy tai nghe trên đường ra Bắc và các chuyến đi công cán sang Pháp Công việc này còn kéo dài và nở rộ vào đầu thế
kỷ XX với những tác phẩm của Phan Bội Châu, Trần Chánh Chiếu” [63] Nói một cách ngắn gọn, thể du ký đã được manh nha từ thế kỷ XVII với những bài thơ, bài công cán của các quan đi sứ, đến thế kỷ XVIII – XIX thì thể du ký bắt đầu định hình với sự xuất hiện của
Nhị Thanh độc ký sự, Song tiên sơn động ký của Ngô Thì Sĩ Nhưng để rõ ràng và định hình
về thể loại thì phải chờ đến Thượng kinh ký sự của danh y Lê Hữu Trác (1720-1791), và trở
thành “tác phẩm ký nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn học Việt Nam” [41, 46] Trong
Thượng kinh ký sự, tác giả miêu tả cảnh quan, những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc hành
trình từ Nghệ Tĩnh về Thăng Long để chữa bệnh cho cha con Trịnh Sâm Và cũng là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện cái “tôi” cá nhân xuyên suốt trong tác phẩm: “Sáng hôm sau, tôi về nhà trọ chép lại những bài thơ này và đưa cho quận công hầu xem để ông ta thấy rõ cái tâm trạng của tôi mà thương hại tôi Đồng thời, cũng để cho ông biết không thể nào ép tôi được và xin phụ thân cho tôi được về Bấy giờ có một ông bạn cứ khuyên tôi trốn
về, cần gì phải xin xỏ như thế cho khổ” [57, 156] Sau Thượng kinh ký sự, xuất hiện Du Phật tích sơn ký, Ai Lao sứ trình của Phạm Đình Hổ (1768-1839), Trùng du Tây Hồ ký, Tam Ngô du ký của Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) Cách đó không bao lâu, ông chủ bút của tờ Gia Định Báo – Trương Minh Ký (1889 – 1897) đã viết về thế giới phương Tây với hai tác phẩm bằng thể thơ song thất lục bát Như Tây nhật trình dài trên dưới 2000 câu kể về hành trình sang Tây của mình Như Tây nhật trình kể lại cuộc hành trình dẫn 10 du học sinh qua Châu Âu và Bắc Phi năm 1880, đăng trên Gia Định Báo Thứ hai là Chư quốc thại hội kể lại
dịp Trương Minh Ký được toàn quyền Richaud cho tháp tùng sứ bộ triều đình Huế do Miên Triệu Huỳnh Quốc công dẫn đầu sang Pháp dự Hội chợ quốc tế tổ chức tại Paris năm 1889
Và du ký viết về phương Tây đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong nền văn hóa – văn học dân tộc, là bởi vì: “Chỉ những con người tiên tiến, có khát vọng vươn lên và đặc biệt vượt khỏi tính kỳ thị dân tộc nhỏ nhen phương Đông mới dám nhìn thẳng vào xã hội phương Tây
và phản ánh chúng vào văn học” [41, 62] Có thể nói, những tác phẩm du ký viết về các nước phương Tây trong thời kỳ này được xem như là bước đặt nền móng cho những trang
viết phương Tây ở giai đoạn sau
Trong quá trình phát triển của thể du ký, không thể không nhắc đến Chuyến đi Bắc Kỳ năm
Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký, một tác phẩm du ký khá là tiêu biểu trong thời kỳ sơ
khởi của văn chương Quốc ngữ la tinh Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đánh giá rất cao tác phẩm này: “Là một tập bút ký hiếm hoi viết bằng chữ quốc ngữ của thế kỷ XIX, cho thấy khả năng viết văn xuôi tiếng Việt của cây bút ký giả Trương Vĩnh Ký so với thời đại” [34,
38] Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký có thể xem như là bước khởi đầu
cho việc viết du ký bằng chữ Quốc ngữ ở thế kỷ XIX Những năm cuối thế kỷ XIX là một khoảng thời gian thể du ký không ngừng hoàn thiện về mặt cấu tứ cũng như bút pháp và
Trang 26ngôn ngữ Một sự phát triển vượt bậc trong thể du ký đó là tăng hành trình đi và cách nhìn nhận đánh giá của các ký giả Sang thế kỷ XX, tầng lớp trí thức Tây học xuất hiện ngày càng nhiều, chữ Quốc ngữ bắt đầu thông dụng, lại được tiếp xúc với nền văn minh phương Tây đã dẫn đến sự bùng nổ mạnh mẽ của thể du ký Xét về tiến trình phát triển của thể du
ký, không chỉ nói đến sự tăng vọt lên về số lượng mà cần phải kể đến chất lượng Càng về sau, những trang du ký càng trở nên sắc sảo và độc đáo hơn, nội dung càng phong phú hơn
Vì không những truyền đạt lại cảm xúc mà tác giả còn đưa ra những nhận định, những đánh giá hết sức khách quan và thẳng thắn Sau thời gian chuyển giao, sẽ đến thời kỳ hoàn thiện diện mạo hiện đại của nền văn học dân tộc Sau 30 năm đầu của thế kỷ XX, sự lên ngôi của truyện ngắn và tiểu thuyết cùng với phóng sự, bút ký hồi ký có bước phát triển mới với nhiều tác giả tiêu biểu, thì thể du ký dường như có phần chững lại, thậm chí gần như vắng hẳn trên văn đàn Mặt khác, văn chương trong giai đoạn những năm sau năm 30 của thế kỷ
XX đã tách dần ra khỏi học thuật để trở thành một chuyên môn riêng với những chức năng vốn có của nó Giá trị của văn chương là chủ yếu không còn xen lẫn với các giá trị khác nữa như văn hóa, lịch sử, địa lý,… Chính vì vậy, ngay từ thời kỳ 1930-1945, du ký gần như không còn đất sống, đành nhường chỗ lại cho sự lên ngôi của nhiều thể loại khác với những
tác giả vang bóng một thời Về phóng sự có Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Ngô Tất Tố; về bút ký – tùy bút có Thạch Lam, Nguyễn Tuân; về hồi ký – tự truyện có Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tứ, Tô Hoài
Và như vậy, quá trình phát triển của thể du ký tuân theo quy luật vận động của tự nhiên, có thịnh và có suy, đó cũng là một điều tất yếu Sự xuất hiện của những thiên du ký cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX lại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong nền văn học Việt Nam Có thể xem đó như là minh chứng cho một giai đoạn quan trọng của lịch sử văn học nước nhà, một giai đoạn mà nhà nghiên cứu Phong Lê nhấn mạnh, “giai đoạn bản lề, giao thời trên tất
cả các phương diện của ngôn ngữ và thể loại, của tác giả và công chúng, của nội dung học thuật và tư duy nghệ thuật…” [39, 58] Bên cạnh đó, sự ra đời của những thiên du ký Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX có nhiều ý nghĩa Không chỉ có vai trò về mặt văn chương mà còn có vai trò trong công tác tư tưởng, cải cách xã hội Du ký Việt Nam là một dòng chảy xuyên suốt bắt ngang qua hai thế kỷ, từ trung đại sang hiện đại và qua mỗi thời
kỳ có những bước tiến cả về ngôn ngữ lẫn hình thức Chuyển sang giai đoạn hiện đại, nền văn minh phương Tây đã xâm nhập và làm biến đổi mọi phương diện đời sống của xã hội Việt Nam, kéo theo những biến chuyển lớn trong văn học Nếu chữ Hán và chữ Nôm đóng vai trò quan trọng trong nền văn chương trước đây thì bước sang thế kỷ XX đã dần nhường
vị trí ấy cho chữ Quốc ngữ Trong điều kiện đó, du ký là một thể văn xuôi có điều kiện phát triển rầm rộ, và cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn, du ký đã tạo nên một màn dạo đầu rất
ngoạn mục cho văn học dân tộc
Vai trò của thể du ký Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trong buổi ban đầu xuất hiện, dường như thể du ký chưa thu hút được sự quan tâm và đánh giá đúng mực của các nhà nghiên cứu Thậm chí, có một thời gian do những hạn chế nhất định của thời đại, thể du ký đã bị chìm vào quên lãng Theo dòng thời gian, những
Trang 27trang báo ra đời từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bắt đầu phai màu, hư nát thì công cuộc nghiên cứu, tìm về vai trò của của thể du ký mới được bắt đầu Với sự nỗ lực và tâm huyết của những nhà nghiên cứu, đã mang lại cho thể du ký một vị trí xứng đáng Và vai trò của thể du ký ngày càng được giới nghiên cứu khẳng định, ở phương diện xem thể du
ký như là thể loại mở đường, thể loại dạo đầu cho những áng văn xuôi hay truyện ngắn phát
triển Đánh giá vai trò của thể du ký nói chung và tờ báo Nam Phong nói riêng, trong bài viết Tình hình nghiên cứu phần văn trên Nam Phong tạp chí (1917-1934) từ 1975 đến nay
nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Thuận nhận xét: “Qua việc khảo sát tình hình khai thác và
nghiên cứu phần Văn trên Nam Phong tạp chí, chúng tôi nhận thức rằng: ở nơi “đầu nguồn”
của văn học Việt Nam hiện đại, do những điều kiện khách quan và chủ quan, nhiều năm qua, chúng ta còn chưa khai thác một cách đầy đủ vào gia tài còn rất bề bộn và giàu có của
văn chương dân tộc hồi đầu thế kỷ XX Đi qua thời gian ngót một trăm năm, Nam Phong tạp chí nói riêng cũng như nhiều báo chí khác nói chung đã rách nát, hư hỏng Chúng ta cảm
thấy xót xa và tiếc! Nhiều người còn ngần ngại và né tránh đi vào khai thác và nghiên cứu khu vực văn học trên các báo chí, tạp chí của giai đoạn này Nếu vượt qua những hàng rào
vô hình để đến với khu vực và giai đoạn văn học “đầu nguồn” này một cách khoa học, nghiêm túc, độ lượng và công bằng, thì chắc chắn chúng ta sẽ còn nhận về được một khối lượng văn chương và giá trị to lớn của nó nhiều hơn chúng ta đã tưởng” [54, 108] Như vậy,
sự xuất hiện những thiên du ký cùng với sự nở rộ của báo chí trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền văn học
Nhìn lại quá trình phát triển của thể du ký, chúng ta có thể nhận thấy vai trò của nó trong quá trình hiện đại hóa nền văn xuôi tiếng Việt Những tác phẩm du ký xuất hiện ở thế kỷ XIX hầu hết được viết bằng chữ Hán, đó là một thứ chữ viết mà ta đã tiếp thu từ nền văn hóa Trung Quốc Sau khi Pháp xâm lược, nền văn hóa Trung Hoa đã dần dần thay thế bằng nền văn hóa Pháp và nhân đó chữ Quốc ngữ bắt đầu thịnh hành Song song với việc dùng
chữ Quốc ngữ, những trang du ký bắt đầu ra đời như Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1976) của Trương Vĩnh Ký Trong Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, Trương Vĩnh Ký còn sử dụng
rất nhiều từ Hán Việt mà ngày nay đọc lại khó mà hiểu nghĩa nếu không qua phiên dịch như
là: huyền vũ, quang thếp, lò rèn khí giái, trời đông thiên, ngày chúa nhựt, tiêm tất, Nhiều câu thơ rất khó hiểu tương tự: Tóc quăn như đầu Phật; mặt cũng tựa tựa; còn từ cổ sắp cuống thì ra như hình ông thánh Phao Lồ, một tay chống lên trên cán cây gươm chỉ mũi lên trên mu con rùa,…
Sang đến thế kỷ XX, Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác cũng còn sử dụng nhiều từ Hán Việt, nhưng xét về mặt ý ngữ nghĩa thì có phần dễ hiểu hơn Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi Chẳng hạn: chớp ảnh (chiếu phim), lịch du (du lịch), bôn tẩu (chạy), sinh bình (đời sống), lưu ly vong mệnh (ly biệt quên thân), khu trục (trục xuất),… Đến những trang du ký của Phạm Quỳnh thì thấy xuất hiện nhiều từ rất lạ mới mẻ và hiện đại: giấy thông ngôn, nhảy đầm, nhà lầu, biệt thự, công sở, thẻ căn cước, khiêu vũ, hội chợ, đấu xảo, giao thiệp,… Có
lúc Phạm Quỳnh dịch từ ngữ, có lúc giải thích bằng Pháp văn và Việt văn rất rõ ràng Chẳng
hạn: “ca nô” chạy bằng máy tự động (canos – automobiles), nhà bán rượu (bar), đường phố
Trang 28thowngf (rue), tả bản (manuscrits),… Đây chỉ là những lược dẫn để thấy được bước tiến
hiện đại hóa tiếng Việt, trong đó thể du ký đóng vai trò chủ đạo và dẫn lối Có thể nói, những thiên du ký ra đời trong những năm đầu tiên của thể kỷ XX như là một bước thử nghiệm cho những trang du ký ra đời ở giai đoạn sau Đồng thời tạo ra một bước tiến cho nền văn học dân tộc trong quá trình hiện đại hóa
Bên cạnh có vai trò trong công cuộc hiện đại hóa ngôn từ cũng như nền văn xuôi tiếng Việt, thể du ký còn đóng góp vào quá trình nâng cao dân trí, mở mang kiến thức cho con
người và xã hội Trong bài viết Thể tài du ký trên tạp chí “Nam Phong”, nhà nghiên cứu
Nguyễn Hữu Sơn có nêu nhận xét: “Những trang du ký này vừa có ý nghĩa văn chương vừa
là những tư liệu khảo sát, điền dã về địa lý, lịch sử, phong tục tập quán, góp phần nâng cao nhận thức cho độc giả về thực tế miền sơn cước – nhất là trong điều kiện thông tin báo chí hồi đầu thế kỷ còn rất hạn chế…” [51, 27] Qua đây, thấy được vai trò của thể du ký trong những năm đầu thế kỷ XX như là một kênh thông tin, một nguồn tư liệu, sự kiện hữu ích để nâng cao nhận thức cho thế hệ độc giả đương thời Đồng thời trong giai đoạn này, văn chương vẫn chưa thoát ra khỏi quan niệm truyền thống “văn dĩ tải đạo”, cho nên về phương diện nào đó, những trang du ký còn là những trang viết mang tính chất giáo huấn và còn là những trang học thuật bổ ích
Tóm lại, cùng với sự phát triển của báo chí và chữ Quốc ngữ, thể tài du ký có điều kiện hưng khởi Nhìn lại quá trình phát triển của thể du ký từ cuối những năm thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước những bước tiến vượt bậc cả về đội ngũ sáng tác và số lượng tác phẩm Sự phát triển về cả lượng và chất của thể du ký đã góp phần không nhỏ vào quá trình hiện đại hóa nền văn chương Quốc ngữ dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX và đồng thời là bước đệm cho nền văn chương về sau
Trang 292.1 Những trang tư liệu ghi chép về cảnh quan, văn hóa
Về cảnh quan văn hóa, chúng tôi xin được chia làm hai bộ phận: một là cảnh quan tự nhiên bao gồm cây cối, sông ngòi, những danh lam thắng cảnh tự nhiên Hai là cảnh quan nhân tạo bao gồm những công trình kiến trúc, lăng điện, đền đài, chùa chiền mang giá trị lịch sử, tinh thần Sở dĩ chúng tôi phân chia như vậy, bởi lẽ bất cứ quốc gia nào, miền đất nào, ngoài những công trình được thiên nhiên ban tặng thì còn có những công trình mang tính nhân tạo,
và hai bộ phận này cùng nhau tạo nên mỹ quan văn hóa cho đất nước đó
2.1.1 Cảnh sắc thiên nhiên
Từ xưa ông cha ta đã có câu: “Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”,
đã kích thích sự đi đây đi đó của con người Nhưng trong điều kiện khó khăn của những thế
kỷ trước, người dân ngại xê dịch, phương tiện đi lại còn thiếu thốn nên chưa thôi thúc được tinh thần ấy Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cả Việt Nam và trên thế giới đã dần dần bước vào cuộc sống hiện đại và chính điều này đã làm bùng nổ một phong trào “ngao du sơn thủy” của rất nhiều người, bao gồm nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp trong xã hội Việt Nam Tùy theo điều kiện mà mỗi người chọn cho mình những cuộc du lịch khác nhau Có người thì trải rộng hồn mình theo không gian đất Việt, theo chiều dài của đất nước từ Bắc tới Nam Cũng có người chọn cho mình một hướng đi riêng, đó là ra nước ngoài như Pháp, Thái Lan, Nhật Bản, Lào,… để khám phá những điều mới lạ mà từ trước đến giờ chưa được thấy Theo hành trình du lịch ấy, nhiều trang viết về những vùng đất mới, những nền văn hóa mới lần lượt xuất hiện Với mục đích, tính chất và công việc khác nhau, cả ba nhà du ký Phạm Quỳnh, Phạm Vân Anh và Cao Chánh chọn đất Pháp là nơi trải nghiệm những cảm xúc của mình Nhà du ký Nguyễn Bá Trác chọn cho mình một tua du lịch dài hơi trong vòng sáu năm
để đi vòng quanh khắp trong nước rồi qua Bangkok, đến Hương Cảng, sang Nhật Bản và trở
về Trung Quốc Ký giả Focyane thì đến miền Fiafay của Lào để tham gia vào cuộc săn voi, rồi qua Thái Lan chứng kiến buổi lễ long trọng của các tín đồ Phật giáo Một ký giả khác nữa,
đó là Jacques Đức đã sang Thái Lan để khám phá đền Angkor-Thom, Angkor-Vat, tháp Bayon Theo bước chân của mỗi ký giả, quang cảnh về thiên nhiên đất nước của các quốc gia hiện ra Ví như theo hành trình Phạm Quỳnh trong chuyến đi sang Pháp năm 1922, độc giả đương thời cũng như ngày này có những trang kiến thức vô cùng bổ ích và thú vị Trong lời
Trang 30tựa cho tập Pháp du hành nhật ký, Phạm Quỳnh có viết: “Tôi đi Tây chuyến này định quan
sát được điều gì hay khi trở về sẽ biên tập thành sách để cống hiến các đồng bào Song đợi đến khi về nhà thời lâu lắm; vậy trong khi đi, tôi có giữ quyển nhật ký, ngày ngày ghi chép, được tờ nào gửi về báo đăng trước, toàn là những lời ký thực, không có văn chương nghị luận gì; chẳng qua là những tài liệu để đến khi về nhà làm sách vậy” [50, 346] Ngày 16 Mars
1922, trên chuyến tàu Armand Beshic, Phạm Quỳnh đã bắt đầu cuộc du hành sang đất Pháp Trong chuyến sang Pháp lần này, ký giả thực hiện hai công việc chính, một là thay mặt cho Hội Khai Trí Tiến Đức để dự cuộc đấu xảo ở Marseille, hai là được quan Toàn quyền đặc phái sang diễn thuyết tại mấy trường lớn ở Paris Cuộc du hành đến nước Pháp kéo dài trong sáu tháng, và chính trong thời gian này vừa là một người làm nhiệm vụ, vừa như là một vị khách du lịch, Phạm Quỳnh đã ghi chép tỉ mỉ từng sự kiện, từng địa danh đã đi qua Chính vì
vậy, tập Pháp du hành trình nhật ký, ngoài lịch trình công việc của tác giả, còn là những trang
mô tả về các điểm du lịch, những di tích lịch sử, những danh lam thắng cảnh, những khu sinh thái, những công trình kiến trúc, mỹ thuật ở Pháp Vì thế tập du ký này có thể ví như một cẩm nang du lịch “gối đầu giường” cho những ai chưa đi và có ý định sang Pháp Trên chuyến tàu sang Pháp, Phạm Quỳnh đã đi qua nhiều đất nước khác nhau Với mỗi nơi đi qua, tác giả đều ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy, kèm với những lời bình phẩm, so sánh, nhận xét vô
cùng lý thú Trong Pháp du hành trình nhật ký, cảnh tượng ở bến Singapore vào buổi sáng,
lúc mặt trời vừa mọc, được Phạm Quỳnh ví như một bức tranh sơn thủy: “Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không cảnh gì đẹp bằng, như một bức tranh sơn thủy vậy Lần này mới được trông thấy một nơi hải cảng là lần thứ nhất, thật là một cái cảnh tượng to tát” [50, 365] Trước cảnh tuyệt đẹp của cảng Singapore, tác giả không quên được cảng Sài Gòn ở nước nhà, so với các cảng khác trong cả nước cửa Sài Gòn to lớn đến thế, nhưng so với cảng
ở Singapore thì cảng Sài Gòn còn thua rất nhiều Sự so sánh ban đầu của Phạm Quỳnh mở ra phần nào cho ta thấy được hình ảnh của đất nước Việt Nam trong những thế kỷ trước Nếu như ở Singapore cảnh tượng ban đầu ở cửa biển được ví như một bức tranh sơn thủy thì đến Colombo, với trí tưởng tượng phong phú, Phạm Quỳnh đã ví nơi đây như “một con trường xà nằm quanh trên làn sóng biếc” [50, 365] Vốn là một cửa biển chiếm một vị thế quan trọng trong hoạt động giao thương quốc tế, nối Đông Á với Tây Âu, cho nên hoạt động thương mại
ở Colombo rất tấp nập, nhưng đến cửa biển ở Djibouti thì lại khác hẳn Nếu ở các cửa biển như Singapore, Penang, Colombo có một khí hậu mát mẻ thì đến Djibouti cảnh tượng hết sức nóng bức: “Cả một miền hải tần này là nơi cùng tịch, toàn thị là sa mạc hết, mà khí hậu nóng như lửa đốt, cả năm không được mười ngày mưa Trông xa chỉ cực mục một vùng cát trắng, không có một cái cây, không có một ngọn cỏ Thật là một nơi thiên cùng thủy tận” [50, 372-373] Phạm Quỳnh đã trải dài cảm xúc của mình theo hành trình du lịch, mỗi nơi đi qua là một tâm trạng cảm xúc khác nhau Vì thế, những trang du ký của ông không chỉ là những trang miêu tả cảnh vật khô khan mà thấm đẫm cảm xúc, kèm theo những hình ảnh đối sánh mượt mà, duyên dáng Khi đặt chân xuống thành Marseille, Phạm Quỳnh vô cùng choáng ngợp trước cảnh tượng văn minh của nước Pháp Cho nên đến Marseille, tác giả không vội vàng phóng túng ngòi bút như những nơi khác mà ông có vẻ cẩn trọng và suy xét: “Nhưng cái cảnh tượng ấy lớn lao phiền phức vô cùng, ví như bức tranh trăm nghìn thước, không thể nhìn
Trang 31một lượt mà thu quát được hết; phải tế nhận từng phần, suy xét cho kỹ, thời thưởng giám mới được hết, phẩm bình mới khỏi sai” [50, 384] Sau khi rời Marseille đến với thành phố Lyon, Phạm Quỳnh không ngớt lời khen địa thế và phong cảnh nơi đây: “Địa thế thành Lyon đẹp lắm; ở giữa là nơi họp lưu hai con sông Rhône và Saône, chung quanh những núi non xanh rì, nhà lầu chồng chất, trông thật là kỳ thú Không cảnh gì đẹp bằng đứng trên bờ sông mà ngắm giải trường giang xanh ngắt, trên có hơn chục cái cầu bắc song song” [50, 432]
Nếu đến Pháp, ký giả Phạm Quỳnh đưa người đọc đến với thành phố Paris xa hoa mỹ lệ, thì vào năm 1931 ký giả có dịp đến đất Lào Khi đến với đất Lào, Phạm Quỳnh đã đưa người đọc đến với mọi miền của xứ sở Lào, từ những vùng thôn quê hẻo lánh đến những thành thị sầm uất, náo nhiệt Và điều đặc biệt, nếu độc giả nào theo chân ký giả Phạm Quỳnh đến với thế giới nước Pháp, thì sẽ nhận thấy một sự khác biệt khái quát về nhiều phương diện giữa phương Đông và phương Tây khi đến đất Lào Khác với phong cảnh các nước bên Âu Châu, phong cảnh nước Lào có vẻ heo hút và vắng vẻ hẳn, nhà cửa thưa thớt, cây cối khẳng khiu, như lời ký giả viết lại: “Cái cảnh “rừng thưa” (forêt clai rière) này, thật không gì buồn bằng Cũng là rừng mà mỗi cây cách nhau đến mười thước, lá úa, cành khô, thân ngẳng, mùa hanh này, chỉ đốt cái diêm là cháy lên vèo vèo” [25, 233] Điều thu hút độc giả ở những trang du
ký là bên cạnh sự ngỡ ngàng và thích thú trước những cảnh quan mới, ký giả luôn đối chiếu
so sánh với những cảnh quan của đất nước mình Chẳng hạn, khi trông thấy những con đường
ở Singapore, Phạm Quỳnh đã ví như con đường Catinat ở Sài Gòn Hay là cảnh ngồi trong tàu qua kênh đào Suez, Phạm Quỳnh tưởng tượng như ngồi trong một cái “ghe” chạy trong cái kênh nào ở trong Nam Kỳ Khi đến Marseille, con đường Cannebière nổi tiếng đông đúc
và đẹp nhất, tác giả liền liên tưởng đến con đường Catinat ở Sài Gòn và phố Paul Bert ở Hà Nội Còn ký giả Cao Chánh khi đến Kandy, ngồi trong ô tô nhìn quang cảnh hai bên đường
mà ngỡ như là đang ở các tỉnh miền Tây Nam Kỳ: “Tôi ngồi trên xe lấy tay chỉ hai bên đàng
mà nói: “nhà sơn xanh… Đàn-bà con mắt có tình… Người dân ngơ ngáo… Cảnh giống các miền phía Tây Nam-Kỳ…” Có lúc trông cảnh mà nhớ những hồi cùng với Thân-Điển đi Trà Vinh, Sóc Trăng Có khúc đường như nhắc một đoạn đời của Hà-Trì với tôi dắt Vệ-Á đi Hốc-môn thăm ông Nguyễn Cảm tưởng vô cùng” [19, 10]
Trong chuyến du lịch phiếm sáu năm lẻ vòng quanh các nước ở Châu Á, nhà du hành Nguyễn Bá Trác đã có dịp đến thăm đất nước Nhật Bản Nơi đấy ký giả đến thăm núi Sương Căn, núi Phú Sĩ, phố Tĩnh Cương, hồ Tì Bà, đó là những nơi mà người Nhật Bản rất tự hào về quê hương của họ: “Vừa qua núi Sương Căn đã trông thấy núi Phú Sĩ, sừng sực một bên Người ta nói núi cao 3787 thước, là ngọn núi cao hơn nhất trong tam đảo Trên núi bốn mùa đều có tuyết, trông như một cái quạt treo, phong cảnh tuyệt đẹp Người Nhật lấy đó làm đặc sắc trong nước” [48, 149] Nếu đến đất nước Nhật Bản vào mùa đông, thì sẽ được ngắm cảnh tuyết rơi trông rất là ngoạn mục: “Bấy giờ mưa tuyết vừa tạnh, một dãy núi xanh phơ phơ đầu bạc, đứng trong xe hỏa trông ra, bóng sáng mặt trời chiếu xuống những đống tuyết trong rừng sâu cỏ rậm, như mấy vạn miếng pha lê bầy trên đất, coi ngoạn mục là dường nào” [48, 149] Ngoài sự ghi chép về sắc đẹp của thiên nhiên, các nhà du ký còn quan tâm nhiều đến những cảnh quan nhân tạo, đặc biệt các công trình kiến trúc, đền đài, lăng tẩm Bởi lẽ, cùng với những cảnh sắc tự nhiên, cảnh quan nhân tạo là một trong hai bộ phận không thể thiếu khi
Trang 32đến thăm bất kỳ một đất nước nào Hay nói cách khác, đó là hai bộ phận mỹ quan không thể thiếu được của bất cứ một đất nước nào trên thế giới, vì ngoài mang ý nghĩa về mặt cảnh sắc văn hóa, những công trình này còn mang ý nghĩa về mặt lịch sử, gắn liền với lịch sử hình thành của các vùng văn hóa, của các quốc gia dân tộc
2.2.2 Cảnh quan nhân tạo
Cảnh quan nhân tạo được nói đến ở đây đó là những công trình kiến trúc, những đền đài, cung điện,… được xây dựng ở những vùng đất mà các ký giả đã đặt chân đến
Trên đường sang Pháp, Phạm Quỳnh đã ghé thăm nhiều nơi và ghi chép lại những quang cảnh với một giọng nồng nàn cảm xúc Đứng trước ngôi chùa “Cực lạc” ở Penang, tác giả không những tỏ ra sự ngưỡng mộ trước một công trình kiến trúc công phu và cực kỳ tráng lệ,
mà còn cảm phục trước tình yêu quê hương đất nước của người Tàu khi họ rời xa quê cha đất tổ: “Vào đến cảnh chùa này không thể không cảm phục cái nghị lực khác thường của người Tàu, đi đến đâu cũng gây nên sự nghiệp cơ đồ lớn, nghiễm nhiên là chủ nhân ông trong đất nước người ta, mà giữa cái cảnh phong lưu phú quí ấy không hề bao giờ quên cố quốc, đến đâu cũng cố giữ lấy cái phong vị cũ của nước nhà” [50, 362] Đó chính là bản sắc văn hóa mà người Trung Hoa rất tự hào về dân tộc của họ, tinh thần “uống nước nhớ nguồn” được hòa trộn cùng vào với thiên nhiên cảnh vật Đây cũng là một điều hay mà dân tộc ta cũng có Phạm Quỳnh càng ngỡ ngàng hơn khi đặt chân xuống đất Pháp, một đất nước có nền văn minh vô cùng hiện đại Đầu tiên đến thành phố Marseille, là cửa ngõ của Đông phương và là nơi sinh hoạt quan yếu của nước Pháp, Phạm Quỳnh mang cảm giác vô cùng thán phục, sự lạ lẫm đến với ký giả từ nhà cửa đến phố xá, xe cộ: “Nhà lầu bên này xây toàn bằng đá cả, trông
xa không có cái mầu sáng sủa như các nhà gạch quét vôi trắng của ta Nhưng càng đến gần trông rõ mới biết là to lớn dường nào Nhìn kỹ thấy trong bến và các nơi đường phố lớn có những vật gì như con sâu dâu bò từ từ ở giữa đường: hỏi ra mới biết là những đường xe điện chạy vậy” [50, 384] Ở Marseille, ký giả Phạm Quỳnh còn dẫn người đọc đến một chiếc cầu
có tên Cầu sang ngang Đó là một chiếc cầu nổi tiếng tuyệt đẹp ở thành phố này: “Cầu sang ngang bắc tự bến này sang bến kia, đứng trong phố trông ra như một cái cửa võng treo bằng những sợi dây thép nhỏ trên hai cái cột sắt cao ngất trời, hay là như một mạng nhện to lớn dị
kỳ chăng ở giữa khoảng không vậy” [50, 388] Ngoài ra cái cảnh tượng trên bến thật là hỗn tạp, với đủ thứ tiếng, với đủ hạng người: “Trên bến thời nhà cửa san sát, nhất là hàng cơm, hàng rượu, xe điện chạy như mắc cửi, kẻ đi người lại tấp nập như ngày hội, đủ các giống người, đủ các thứ tiếng, từ bác phu tàu, chú “bắt tê” chửi nhau như ăn gỏi, cho đến ông phú thương tất tả, chị hàng cá đong đưa, khách du lịch ngẩn ngơ, gái giang hồ nhắm nháy, thật là cái cảnh tượng “tứ chiếng quần cư”, có cái vẻ bất tạp, nhưng trông cũng vui mắt như một bức tranh sặc sỡ vậy” [50, 388] Rồi đến nhà thờ Đức Bà Bảo Hộ, Phạm Quỳnh miêu tả: “Một tòa nhà thờ chon von ở giữa cái đống cao, trên đỉnh gác chuông lại có một cái tượng Đức Bà lực lưỡng cao ngót mười thước, nặng hơn bốn nghìn năm trăm cân, những buổi mây quang trời tạnh, đứng khắp thành Marseille ở đâu cũng trông thấy, rõ như bức tranh vẽ, thật cũng là một cái kỳ quan” [50, 397] Còn khi bước vào trường Đấu xảo, ngòi bút của Phạm Quỳnh xoay chuyển để miêu tả từng cảnh tượng ở đấu trường từ mặt trước ra mặt sau, từ bên tả sang bên hữu Dường như ngòi bút của tác giả không ngừng chuyển động để thu lượm mọi cảnh vật
Trang 33nơi đây nào là vườn rộng cây cao, nhà ở hai sở Algérie và Tunisie xây dựng theo kiểu miếu điện của hai xứ ấy Nào là một tòa nhà lực lưỡng như một cái thành đắp bằng đất đỏ theo kiểu cách thành quách của các dân tộc ở phía Tây Phi châu Nhưng tác giả cũng không lấy gì làm vui khi ông nhận ra rằng những ngôi nhà được xây dựng trong trường Đấu xảo là của cải lấy chính từ người dân lao động cực khổ Đó như là một sự xa hoa phung phí: “Khu Indochine có một sở chính, làm theo kiểu đền Đế Thiên Đế Thích của Cao Miên, quy mô thật cũng hoằng
vĩ Nghĩ dựng một tòa này, phí bao nhiêu công phu, tổn hao bao nhiêu tiền bạc, mà trong cốt
gỗ ngoài đắp vôi, xong sáu tháng Đấu xảo lại phá đi, thật cũng tiếc quá; thế là bạc muôn bạc triệu thành ra mây gió cả” [50, 394]
Đến Lyon, ký giả Phạm Quỳnh không quên ghé thăm nhà thờ Fourvières nhân ngày hội Bà Thánh Jeanned’Arc Nhà thờ này được phát tích trên mảnh đất mang nhiều ý nghĩa lịch sử của đất nước Pháp Là một công trình vĩ đại về tầm vóc, kích thước với: “Bề dài 86 thước, bề ngang 35 thước; có bốn cái cột bát giáp cao 50 thước Nhà thờ xây bằng đá cả, còn kiểu là
thuộc về kiểu tạp, vừa có kiểu Hy Lạp, vừa có kiểu byzantine, vừa có kiểu hình trám (ogival)
Cửa tiền có bốn cái cột làm bằng phiến đá một, cao hơn tám thước, cánh cửa bằng đồng coi lực lưỡng lắm” [50, 435] Từ Marseille qua Lyon đến Paris, ký giả Phạm Quỳnh không ngừng ghi chép, vì thế mà tập du ký của ông như là một công trình khảo cứu các di tích thắng cảnh ở xứ nước Pháp vậy Nơi nào có cảnh đẹp là nơi đó có ghi chép, điều hay ở chỗ không phải những trang ghi chép của ký giả Phạm Quỳnh như là những trang ghi chép của một nhà địa lý học, một nhà kiến trúc học hay một nhà sử học mà là cách ghi chép của một nhà văn học Bởi lẽ tác giả vừa viết vừa bộc lộ những cảm xúc, những suy tư, những trăn trở, những tưởng tượng của mình
Trong trí tưởng tưởng của ký giả Phạm Quỳnh đến Paris ắt hẳn sẽ ồn ào, náo nhiệt như những nơi đã đi qua thế nhưng khi đến với Paris quang cảnh hết sức bình thường Ký giả ngỡ như mình đã đi ngang qua nơi đây rồi: “Lúc còn mơ tưởng Paris, tưởng được trông thấy mừng rỡ xiết bao Nay đã đến nơi, thấy điềm nhiên như không, tựa như mình ở đây đã lâu lắm rồi” [50, 439] Ở Paris, ký giả Phạm Quỳnh ghé thăm điện Pathéon là nơi kỷ niệm các danh nhân của nước Pháp, nơi lưu lại những bài học lịch sử cho người Pháp thời nay Phía dưới điện là một cái hầm có mộ của các bậc danh nhân, đồng thời là những nhà văn, nhà thơ lừng danh ở những thế kỷ trước như: Gambetta, J.J.Rousseau, Voltaire, Victor Hugo, Emile Zola… Đến Pháp ta được xem nhiều công trình kiến trúc đạt đến đỉnh cao của nhân loại Chẳng hạn, Tháp sắt Eiffel được ký giả Phạm Quỳnh miêu tả rất chi tiết đến từng con số cụ thể: “Tháp sắt Eiffel do ông kỹ sư Eiffel nghĩ kiểu đốc công dựng lên, bắt đầu ngày 28 tháng
1 năm 1887, đến ngày 31 tháng ba năm 1889 mới hoàn công, nặng 7 triệu cân tây, có một vạn hai nghìn mảnh sắt nối lại với nhau bằng 2.500.000 cái ốc lớn nặng cả thảy là 45 vạn cân; bốn chân mỗi chân to là 26 thước vuông, chôn sâu xuống đất từ 9 thước đến 14 thước Tháp có ba từng, từng dưới cách đất 57 thước, từng giữa cao 115 thước, từng trên cao 275 thước, còn từ đáy lên đến ngọn 300 thước” [50, 468] Rời thành phố Paris hoa lệ, Phạm Quỳnh đưa độc giả đến với Versailles là một tỉnh lỵ khá lớn với sáu vạn người Ký giả chú ý đến hai thắng tích
đệ nhất của nước Pháp là cung vua Louis 14, và vườn Ngự uyển Hai thắng tích này có sự gắn
bó mật thiết với quốc sử nước Pháp Một điều đặc biệt ở nước Pháp, những công trình kiến
Trang 34trúc luôn gắn liền với yếu tố lịch sử, vì thế nước Pháp luôn cuốn hút du khách thập phương Một nơi mà học giả Phạm Quỳnh rất cân nhắc khi đặt chân vào đó là viện bảo tàng Le Louvre Nơi đây không phải là một viện bảo tàng như những viện khác mà tập trung tinh hoa của văn minh Thái Tây: “Hôm nay quyết đi xem viện bảo tàng Le Louvre Đã mấy lần rắp đi
mà vẫn ngần ngại, sợ hãi, như người sắp vào một chốn thiêng liêng, chưa chắc mình đã đủ trai giới, đủ kính cẩn mà dám bước chân vào Chỗ này là chỗ bao nhiêu cái tinh hoa của văn minh Thái Tây đã mấy mươi đời may sưu tập cả ở đây, biết rằng con mắt phàm nhìn vào có hiểu được không?” [50, 500] Đến một nơi quan trọng như vậy, tác giả thấy vốn kiến thức của mình còn hạn hẹp, tự nhận mình là một kẻ phàm trần khó có thể hiểu hết được những tinh hoa
nhiều thế hệ nhân dân Pháp để lại Thuật chuyện du lịch ở Paris không phải là một áng văn
chương về thành phố Paris xa hoa diễm lệ mà là một sự miêu tả và khảo sát về Paris một cách công phu và vô cùng tỉ mỉ Vốn là một nền văn minh được xây dựng từ nhiều thế kỷ, cho nên bất cứ hiện vật gì liên quan đến các danh nhân như chỗ vua Henrin 4 bị ám sát, cái sân mà Molière thường qua lại để đến nhà hát,…tất cả đều được bảo lưu một cách cẩn thận theo năm tháng
Khi nói đến đất nước Lào không thể bỏ qua được ngôi chùa, vì ngôi chùa là một trung tâm văn hóa truyền thống của dân tộc Lào Chùa ở Lào chấp nhận những cuộc vui chơi trần tục của dân gian như nhảy hát, ca múa, những lời đối đáp giao duyên nam nữ trong các lễ hội Vì vậy, chùa ở Lào không mang tính uy nghiêm, biệt lập như ở nước ta, ngược lại giản dị, hiền hòa như chính bản tính của người Lào Chùa đẹp nhất lúc bấy giờ là chùa Sisaket, chùa này được xem như là một nhà bảo tàng các tượng Phật Trong chùa có tượng đủ các loại hình:
“Nào Phật ngồi tòa sen, nào Phật thề với đất, Phật nguyện chúng sinh, Phật dẹp sóng dục….Tượng Phật tính cả thảy được ba bốn nghìn pho, vừa lớn vừa nhỏ, có pho lớn hơn người thật mà toàn bằng đồng đen cả” [48, 245] Cách Vientiane bốn cây số, có một cái tháp lớn, gọi là That Luông, là lăng tẩm của các vua chúa ngày xưa, rất nguy nga hùng tráng, đã mấy lần bị đổ nát nhưng cũng giữ lấy được cái quy mô cũ Đó là nơi vừa lưu lại những giá trị lịch sử, những giá trị văn minh vừa là nơi trưng bày kiệt tác kiến trúc cổ của nước Lào
Còn theo chân nhà du ký Nguyễn Bá Trác đến thành Bangkok, đó cũng là một nơi đô hội, đường sá rộng rãi, dân cư đông đúc, dinh thự nơi đây được xây cất theo lối Tây Phương tiện đi lại có xe điện và xe hỏa Bên cạnh lòng ngưỡng mộ và sự ngỡ ngàng trước một nơi
vô cùng kỳ thú, cũng không ít những nơi mang lại cảm giác hụt hẫng và thất vọng trong lòng của các ký giả Trong trí tưởng tượng của nhà du hành Nguyễn Bá Trác, Hương Cảng phải là một nơi rộng lớn và sầm uất không khác gì ở Bangkok hoặc có thể là hơn thế Nhưng khi đến nơi, ký giả thật sự bị thất vọng trước một quang cảnh không lấy gì rộng lớn và cũng không náo nhiệt Ký giả Nguyễn Bá Trác cho thấy sự thất vọng khi ông miêu tả về cảnh quan ở Hương Cảng: “Khi đến nơi, thì bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm tạo đã khác
Trang 35nhau nhiều lắm Hương Cảng là một cái cù lao nhỏ ở ngoài cửa sông Châu Giang, thuộc về tỉnh Quảng Đông, cách tỉnh thành chừng 75 dặm Chu vi có 30 dặm dài, diện tích có 40 dặm vuông” [48, 98] Đối diện với khung cảnh vắng lặng và im lìm ở cù lao Hương Cảng là thành phố Cửu Long, một nơi rất tấp nập và thương mại rất là thịnh vượng Đứng từ xa trông qua thành phố Cửu Long, ký giả Nguyễn Bá Trác đã cảm nhận và so sánh mọi vật nơi đây rất hóm hỉnh: “Những thuyền nhỏ ghé lại bên tầu lớn như đàn kiến bám vào con sâu”,
“trên đất những nhà liền nhau như úp bát”, “lầu đài chồng chất, từ mé bể cho đến chót núi, hình như một cái ổ tò vò muôn gian nghìn nóc, còn những cây cổ thụ chung quanh chỉ như mấy chậu hoa để dưới nhà lầu”, “dưới nước thì tầu hỏa, trên bộ thì nhà máy, phun khói như mây cả ngày” [48, 98-99] Sau một thời gian ở Hương Cảng, Nguyễn Bá Trác đã đến kinh
đô Nhật Bản Hình ảnh kinh đô Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XX là một kinh đô tất bật và náo nhiệt Quang cảnh nơi đây luôn bận rộn và hối hả: “Nhà ở xếp liền như vây
cá, xe điện chằng chịt như bàn cờ Mỗi ngày sáng sớm bảy, tám giờ chiều tối năm, sáu giờ người đi đầy đường, đều là những người ở các công xưởng, các ngân hàng, các học sinh và các người lao động, đông đúc dị thường, thật là nhân sơn nhân hải” [48, 130] Rời khỏi thành đô Nhật Bản, ký giả Nguyễn Bá Trác trở về kinh đô Bắc Kinh, lúc này kinh đô Bắc Kinh là một nơi náo nhiệt và mang đậm thi vị của yếu tố lịch sử Nguyên Bắc Kinh cổ thuộc
về nước Yên, sau đó trải qua năm triều đại liên tiếp cùng cư ngụ nơi đây đó là Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh Chính vì vậy mà đến vùng đất này, các cung điện đế vương, các đệ trạch công hầu vẫn còn như cũ, cạnh đó cuộc sống hiện đại khiến nơi đây quang cảnh náo nhiệt, và là một thành đô lớn nhất ở đại lục Á Đông
Còn theo chân nhà Ký giả Jacques Đức đến đất nước Seam-Reap (Thái Lan ngày nay), đọc giả sẽ có cảm giác choáng ngợp và nhiều thắc mắc trước những công trình vĩ đại như đền Angkor, Angkor Thom, Angkor Vat, tháp Bayon như chính ký giả đã viết: “Ở Angkor thì không có núi non chi hết, mà lấy đá ở đâu đặng đem lại đó mà cất đền đài cả thể minh mông, đi vô coi thì mỏi chơn mỏi giò mới hết một cuộc đền đài, lại cao hơn năm bảy chục thước tây Đá núi miếng nào miếng nấy bằng trương cái tủ, mà không biết khi trước họ làm
Trang 36sao mà đem lên trọn uy nghi lên tới năm bảy chục thước cao, chẳng những vậy lại miếng đá nào cũng là trạm trổ đục cách khéo léo, rồi đem lại mà ráp lại với nhau vừa khít không trật một mét, và chồng miếng nầy trên miếng kia, không hồ vôi ciment gì hết, mà sao nó dính với nhau, không ngả” [28, 636-813] Bên cạnh đó, ký giả còn bày tỏ sự tiếc nuối trước cảnh ngày một suy tàn, nhiều chỗ hư hỏng của công trình Bayon: “Đền Bayon nầy khéo léo hơn mấy cái đền nào khác ở Angkor là có ý cất cho đặng để Phật; dầu trong ngoài, chỗ trống trải hay là trong hốc kẹt, dù hình lớn hay là nhỏ, thì cũng là chạm kỹ từ nét, song uổng quá, vì đền Bayon tốt hơn hết, mà cũng bị phá hại nhiều hơn hết”
Khác với cách cảm nhận của Phạm Quỳnh và nhiều nhà du hành khác, Phạm Vân Anh chỉ sau những ngày choáng ngợp, “hoa cả mắt” trước cảnh tượng vô cùng to lớn mà trước giờ mình chưa được thấy Phạm Vân Anh đã trở lại với những nhận xét: “Trong mấy ngày ở đây, chúng tôi có coi cùng cả thành phố Marseille và mấy nơi danh thắng Thành phố Marseille lớn thiệt, song gọi là chỗ buôn bán tấp nập phồn hoa, thì cũng chỉ có mấy đường như Cannebière, Conbert Paradis mà thôi Mấy phố tốt đẹp sạch sẽ là mới mở sau này Còn
có nhiều xóm lập ra đã lâu đời, như chỗ gọi là Vieux Port, thì nhà cửa xiêu vẹo, đường lối chật hẹp, coi dơ dáy hôi hám, còn thảm tệ hơn phần nhiều đường hẻm ở Sài Gòn mình Họ cũng liệng rác ra đầy ngoài cửa, phơi đồ ngay ngang lối đi, mất cả vệ-sanh và vẻ lịch sự” [8, 14]
Khi lần đầu tiên ra nước ngoài và được tiếp xúc với mọi thứ đều to lớn và hùng vĩ nên các nhà du ký Việt Nam không tránh khỏi tâm lý choáng ngợp và sự bỡ ngỡ Họ choáng ngợp bởi tầm vóc lớn lao của những công trình hiện đại được xây dựng trên đất khách Cuộc sống văn minh không chỉ thể hiện bởi những công trình kiến trúc đồ sộ hay là những đẹp thiên nhiên mà còn ở cuộc sống xã hội Chính vì vậy, mà ngoài việc miêu tả và ghi chép về cảnh quan thiên nhiên, những trang du ký còn là tập tài liệu khảo cứu về các vấn đề văn hóa xã hội, những phong tục tập quán của các dân tộc trên thế giới
Trang 372.2 Những trang tư liệu ghi chép về đời sống văn hóa xã hội
Đời sống văn hóa xã hội là một phương diện quan trọng của các dân tộc Trong cuộc sống con người không thể thiếu các nhu cầu như ăn, mặc, ở, đi lại và các mối quan hệ giao lưu Chính những nhu cầu này đã tạo nên nét văn hóa đặc sắc ở từng quốc gia, vùng miền, dân tộc
2.2.1 Nét giao thoa văn hóa giữa các quốc gia
Sự tiếp xúc, giao thoa giữa các nền văn hóa luôn diễn ra trong quá trình phát triển của nhân loại Đó là một nhu cầu tất yếu và là một quy luật chung của sự phát triển Chính trong quá trình giao thoa và tiếp xúc văn hóa, các hiện tượng, các yếu tố của nền văn hóa này sẽ thâm nhập vào nền văn hóa kia, hoặc nền văn hóa này vay mượn các yếu tố của nền văn hóa kia, và sau đó cải biến, điều chỉnh sao cho phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước Hoạt động kinh tế và truyền bá tôn giáo là hai trong những nguyên nhân dẫn đến sự giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng người trên thế giới Việc phân chia lại hệ thống thuộc địa sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã tác động sâu sắc đến quá trình giao thoa và tiếp biến văn hóa ở các quốc gia Trong thời gian này, một trong những nền văn hóa có sự ảnh hưởng rộng lớn nhất trên thế giới là nền văn hóa Pháp Chính trong quá trình khai thác thuộc địa, người Pháp đã mang nền văn hóa của họ đến du nhập vào các nền văn hóa khác Bên cạnh
đó, hoạt động tôn giáo là một nguyên nhân tạo nên sự giao thoa văn hóa rất lớn Tuy nhiên, trong giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX, việc truyền bá tôn giáo không còn mang màu sắc đậm như những thế kỷ trước nữa Một nguyên nhân khác góp phần đẩy mạnh sự giao thoa văn hóa ở các quốc gia là sự phát triển mạnh mẽ của phương tiện giao thông Nhờ có phương tiện giao thông sự đi lại giữa các quốc gia thuận tiện hơn rất nhiều Mặc dù trong những năm đầu thế kỷ XX, chất lượng và số lượng phương tiện giao thông không bằng ngày nay Nhưng đó lại là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho con người du hành nói chung và những nhà du ký Việt Nam nói riêng Chính nhờ những phương tiện từ thô sơ đến hiện đại,
từ đi bộ, xe kéo, xe ngựa đến tàu thủy, tàu lửa, ô tô, xe điện và sau này có thêm máy bay đã chở các nhà du ký đến với nhiều miền đất lạ, được tiếp thu và trải nghiệm nhiều vùng miền
Trang 38văn hóa khác nhau Điều này đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn – một trong những người nghiên cứu du ký lưu ý: “Trên cơ sở giao thông từng bước phát triển mà nhu cầu hiểu biết, giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng từ Bắc vào Nam, từ nơi đồng bằng đến miền núi,
từ vùng sâu vùng xa tới thị thành, từ trong nước cho tới nước ngoài Không phải ngẫu nhiên
mà cảm hứng được đi xa nhờ các phương tiện ô tô, xe lửa, tàu thủy, tàu bay vốn gắn liền với
kỹ nghệ hiện đại đã đem lại cho người viết biết bao cảm xúc mới lạ, hấp dẫn” [51, 24] Không chỉ trong giai đoạn mở cửa như hiện nay các quốc gia trên thế giới mới có sự qua lại thông thương mua bán, điều này đã diễn ra trước đây hàng thế kỷ trước Tuy nhiên, ở mỗi
thời kỳ, mỗi giai đoạn lại có những nét riêng Trong chuyến Sang Tây, Phạm Vân Anh đã
cho độc giả thấy được thế lực của người Hồng Mao trến đất Singapore, sự quản lý sắp đặt của người Hồng Mao ở Singapore cũng không khác gì ở bên mình: “Đất nước nào ở dưới quyền thống trị của người Hồng-mao, thì hình như họ xếp đặt sửa sang có phần lịch sự hơn những đất thuộc về các dân tộc khác” [2, 23] Đến Kandy, nhìn cách thiết kế của ngôi chùa Răng Phật, ký giả Phạm Vân Anh nhớ đến Đế Thiên - Đế Thích ở bên Cao Miên, cô lý giải:
“Em thấy cái lối trạm chỗ của những miếng đá này và lối kiến trúc của ngôi chùa kia khiến cho em tưởng nhớ tới Đế thiên Đế thích ở bên Cao Miên Mấy nước này cùng do một nền văn hóa mà ra, cho nên mỹ thuật của họ giống nhau như đúc vậy” [5, 25] Trong một lần trò chuyện với cô Cúc Tữ, ký giả Phạm Vân Anh hiểu rõ hơn về tinh thần người phụ nữ Nhật cũng như nền văn hóa Nhật trong quá trình tiếp thu nền văn hóa người Âu Châu: “Sự kết quả về công cuộc văn minh, họ làm mấy thế kỷ mà chúng tôi làm có năm chục năm cũng được như thế, là do ở chúng tôi cũng có sự giáo dục và cái tinh thần bổn sắc riêng, cho nên tiếng rằng học cái văn minh khôn khéo của họ mà chúng tôi tiêu hóa, chớ không đồng hóa
Sự vật chất ở nước Nhựt thì là Âu châu, nhưng tinh thần vẫn là tinh thần Nhựt” [6, 23] Qua đoạn đối thoại giữa cô Cúc Tữ và ký giả Phạm Vân Anh cho ta thấy được người Nhật Bản làm chủ rất tốt nền văn hóa của họ Mặc dù có sự tác động, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nhưng họ chỉ tiếp nhận một cách có chọn lọc và vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình Người phụ nữ Nhật Bản rất chú trọng công việc nội trợ gia đình, còn công việc chính
Trang 39trị họ xem đó là việc làm của người đàn ông Cho nên, dù bị ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây nhưng họ vẫn giữ được nếp suy nghĩ: “Nói tóm lại chúng tôi vẫn chuyên tâm
về việc gia đình, nghĩ rằng gia đình là gốc cho xã hội mà cái thiên chức của đàn bà là ở đó, nếu biết lo lắng, xếp đặt, thì có phải là vô ích cho đời cho nước đâu” [6, 23]
Cùng chung số phận với nhiều quốc gia khác trên thế giới, Singapore bấy giờ thuộc quyền thống trị của người Anh, cho nên phố xá nhà cửa đều được xây dựng theo phong cách của người Anh Nếu như ở phố của người Pháp đi đâu cũng thấy những nhà lầu to lớn dùng để làm các dinh thự công sở nhà nước thì người Anh những nhà lầu to lớn là các cửa hàng, các hội buôn, các công ty, các ngân hàng Chính vì những tiền đề có được trong giai đoạn thuộc địa đã giúp Singapore sang giai đoạn độc lập đã vươn mình trở thành con Rồng Châu Á Vì nhu cầu đi – xem – ghi chép, ký giả Phạm Quỳnh đến từng nơi ăn chốn ở của người dân trên mảnh đất này Nhà cửa ở đây được làm theo lối “biệt thự” của người Anh, có vườn rộng Còn xe hơi ở Singapore chạy như mắc cửi Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, nền kinh tế
ở Singapore đã rất phát triển, người Trung Quốc đã sớm sang đây khai thác và phân định những nghề nghiệp khác nhau: “Người khách ở Singaopre chỉ có người Quảng Đông buôn bán to và người Phúc Kiến Triều Châu làm các nghề nghiệp nhỏ; còn người Thượng Hải thì
ít lắm” [50, 359] Qua đây ta có thể thấy được thế lực của người Trung Hoa ngay từ đầu thế
kỷ XX đã rất là hùng mạnh và đông đúc Còn Ở xứ Djibouti sự trao đổi mua bán của rất nhiều dân tộc, phần nhiều là người Chà (Indiens), người Do Thái, người Hy Lạp, người Ả Rập Còn người bản xứ là Somalis thì là những ngành nghề khác như đánh xe, gánh mướn
Ở xứ Port Said cũng được Phạm Quỳnh miêu tả: “Thật là một nơi tụ họp đủ các giống người phần nhiều là người Italiens và người Grecs Nhưng ở đây tiếng nói thông dụng nhất là tiếng Pháp, không phải tiếng Anh, mà nói tiếng Pháp ai cũng hiểu, dễ giao thông lắm Nhật báo của người Ai Cập cũng bốn năm tờ làm bằng chữ Pháp Coi đó thì biết chữ Pháp ở Ai Cập thịnh hành là dường nào” [50, 379] Trên đất nước Lào thì “Người An Nam sang Siam cũng nhiều, quá nửa đi kiếm ăn trong các chùa chiền, cũng có người làm nghề nọ nghề kia như: làm vườn, làm ruộng, thợ mộc, thợ may, vân vân; thân lưu lạc nơi đất khách, cả ngày chỉ lấy
Trang 40chén rượu làm thú tiêu khiển” [48, 90] Trong giai đoạn đó, người An Nam cũng đã tìm cách sang mua bán ở Lào: “Con đường thuộc địa thứ chín này hiện đương sửa sang làm rộng ra, cu li An Nam sang làm đông lắm, xem ra cũng chịu được thủy thổ và cũng được đủ
ăn Phần nhiều là người Quảng Bình, Quảng Trị, người Nghệ Tĩnh và người Bắc Kỳ cũng
có, làm ăn lẫn với cả người Lào, nhưng làm cai, thầu khoán thì hầu hết là người An Nam cả” [25, 233] Ở thành Bangkok thì “Việc buôn bán có thế lực nhất là người Anh, rồi đến người Pháp, còn hàng tạp hóa, nhà khách sạn, nhà chứa hàng thì của Hoa Kiều thịnh hơn nhất” [48, 92]
Ngay những năm đầu thế kỷ XX, hoạt động thông thương giữa các quốc gia đã diễn ra khá
là mạnh mẽ Điều này đã mang đến sự giao thoa, hòa nhập ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau giữa các quốc gia Nhưng bên cạnh sự giao thoa đó thì ở các vùng miền đều giữ được bản sắc văn hóa riêng tạo nên nét văn hóa đặc trưng của từng dân tộc
2.2.2 Nét văn hóa đặc trưng của người bản xứ
Ngoài những nét văn hóa có sự giao lưu và sự tương đồng lẫn nhau thì mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia đều có một nền văn hóa riêng, một bản sắc văn hóa riêng và giúp phân biệt giữa cộng đồng người này và cộng đồng người khác Chính vì vậy, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên cho rằng: “Văn hóa của mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác” [21, 8] Ông cha ta từ xưa đã có câu nói: “Đất có lề, quê có thói” là vì vậy Tuy cùng chung một quốc gia, sống chung trên một đất nước nhưng không vùng nào giống vùng nào, không dân tộc nào giống dân tộc nào Ví như dân tộc Việt Nam cùng sống chung trên một mảnh đất hình chữ S, nhưng văn hóa ở ba miền Bắc – Trung – Nam lại có nhiều nét khác nhau Ta có thể đứng trên phương diện này mà nhìn ra thế giới để thấy được sự phong phú và đa dạng
Trong lời giới thiệu số mở đầu cho tập du ký Sang Tây của Phạm Vân Anh, báo Phụ nữ Tân văn đánh giá rất cao về các bài viết cũng như giá trị của thể du ký: “Thể văn du ký là một
thể văn ai cũng ham đọc, và nó dễ khích phát lòng người hơn là tiểu thuyết Tiểu thuyết còn
có thể tưởng tượng ra, chớ du ký là tả những sự thiệt, có khi đọc du ký mà tức là học lịch sử,