Nhiều nhà nghiên cứu công nhận một số kịch bản của Lưu QuangVũ có sức lay động được lòng người, có hiệu quả to lớn với xã hội, và giá trị nghệ thuật của chúng còn được xếp hạng trong lịc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN NHỊ NƯƠNG
NGHỆ THUẬT KỊCH LƯU QUANG VŨ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 602234
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trân trọng biết ơn Thầy hướng dẫn – PGS.TS Phùng Quý Nhâm và quý Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy cho lớp Văn học Việt Nam khóa 14; cảm ơn qúy Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn; và cảm ơn gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành chặng đường học tập này
Nguyễn Nhị Nương
Trang 3MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật Dưới ánh mặt trời, anh đã có một chỗ đứng vinh dự mà bất kỳ nhà viết kịch nào cũng ao ước Qua những trang kịch sinh động, Lưu Quang Vũ đã góp sức xây đời, tác động tích cực vào xã hội, kiên quyết chống sự bảo thủ trì trệ, sự lộng hành của cái xấu, cái ác Chứng kiến bao cảnh đời chìm nổi thời hậu chiến, Lưu Quang Vũ không ngừng băn khoăn, trăn trở về những nỗi niềm nhân thế và nghiền ngẫm niềm bi cảm của phận người Là thi sĩ, Lưu Quang Vũ rất yêu thơ, anh hằng ao ước thơ của mình sẽ
“thắng được thời gian và ở lại với lòng người” Song chính các kịch bản văn học lại mang đến cho anh những giải thưởng lớn Tuy vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu toàn diện nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ Thực ra, kịch và thơ của anh đều tỏa ra từ một tâm hồn nghệ sĩ giàu xúc cảm Hai túi thơ và kịch ấy như hai bờ của một dòng sông suy tưởng chở nặng tình yêu thương con người, chảy miên viễn về nơi vô tận Những người như Lưu Quang Vũ, cái chết không làm cho anh mất đi , mà tấm lòng nhiệt huyết với đời vẫn hãy còn đọng lại
Sau khi Lưu Quang Vũ đột ngột qua đời, Phan Ngọc cho rằng: “Lưu Quang Vũ là
nhà viết kịch lớn nhất thế kỷ này (thế kỷ XX) và là một nhà văn hóa của Việt Nam”[38,149] Từ năm 1985, qua mấy đợt hội diễn, hầu như khán giả đương thời
không ai là không biết đến Lưu Quang Vũ Từ đó, thoại kịch càng trở nên gần gũi với giới yêu nghệ thuật Nhiều kịch bản của anh đã làm xôn xao đất nước, gây châùn động
dư luận, đề cập đến những vấn đề nóng bỏng nhất của hiện thực “Không ai bằng Vũ
Trang 4trong biệt tài nêu lên cái muôn đời trong cái bình thường, biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thô lỗ để noí cái cao quí.”[38,153] Tất Thắng kể lại: “Ở hội diễn 1985, Vũ là tác giả đạt nhiều huy chương vàng nhất”[38,257] Nhiều nhà nghiên cứu công nhận một số kịch bản của Lưu
QuangVũ có sức lay động được lòng người, có hiệu quả to lớn với xã hội, và giá trị nghệ thuật của chúng còn được xếp hạng trong lịch trình phát triển của văn học kịch nước nhà
Tuy nhiên, khi Lưu Quang Vũ còn sống, trên báo chí cũng có những ý kiến trái chiều Vậy sự thực kịch bản văn học của anh có những thành công và hạn chế gì? Tại sao công chúng lúc bấy giờ lại đổ xô đến rạp xem kịch? Những nhà soạn kịch ngày nay có thể rút kinh nghiệm, học tập được điều gì sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng nghệ thuật viết kịch của người đi trước? Với tình yêu thể loại thoại kịch, người làm luận văn mạo muội xin được vén lớp bụi thời gian, tìm về quá khứ để phần nào hiểu rõ hơn một số văn bản kịch cuả Lưu Quang Vũ và củng cố thêm cho bản thân những kiến thức liên quan đến thể loại văn học kịch
Hiện nay, sách giáo khoa văn học bậc phổ thông chỉ mới giới thiệu trích đoạn tác phẩm kịch của hai tác giả Sêcxpia và Sile Trong các tiết học chính khóa, học sinh chưa có dịp tiếp cận với văn học kịch nước nhà Do đó, ngoài chương trình chính khoá, thiết nghĩ, hoạt động ngoại khoá môn văn học cũng cần giới thiệu và hướng dẫn học
sinh tìm hiểu về kịch Việt Nam với các đại biểu như: Nguyễn Đình Thi (Rừng trúc,
Nguyễn Trãi ở Đông Quan…), Nguyễn Huy Tưởng(Vũ Như Tô…), Vũ Trọng Phụng
(Không một tiếng vang), Đào Hồng Cẩm (Đại đội trưởng của tôi…), Nguyễn Vũ (Mùa
xuân…), Học Phi, Lộng Chương, Lưu Quang Vũ.v.v… Qua các buổi ngoại khóa bổ ích,
hy vọng học sinh có thể hình dung đầy đủ hơn về toàn bộ lịch sử văn học dân tộc và thêm yêu mến bộ môn văn học
Trang 52 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Khi kịch bản của Lưu Quang Vũ được đưa lên sân khấu, rải rác trên các báo, tạp chí có đăng những bài phê bình, bình luận, tỏ rõ sự quan tâm; đặc biệt là từ hội diễn sân khấu năm 1985, sự chú ý quan tâm này càng rõ rệt hơn Có thể phân chia dựa trên mốc thời gian là tháng 8 năm 1988 - thời điểm Lưu Quang Vũ qua đời để thấy rằng cái chết chẳng những không làm cho người đời lãng quên anh mà báo chí vẫn còn nhắc đến nhà viết kịch trẻ tuổi này
2.1 Trước khi Lưu Quang Vũ qua đời (tháng 8 năm 1988) :
Tháng 3 năm 1985, Nguyễn Thị Minh Thái đã viết một bài báo nhận xét về vơ
diễn“Nguồn sáng trong đời” (Lưu Quang Vũ) Theo tác giả bài báo, “đây là một kịch
bản kén khách, tự nó có nhu cầu được trình diễn trước một công chúng có sự trưởng thành nhất định về thẩm mỹ” [32,255] ấn tượng mạnh do kịch bản văn học tạo ra “chính là sự giản dị, không hoa sói hoa hoè, không cầu kỳ mảng miếng, không ồn ào khoa
trương”[32,254], Nguyễn Thị Minh Thái còn liên hệ so sánh vẻ đẹp giản dị mà hàm
súc, tinh tế của vở “Nguồn sáng trong đời” với cái đẹp mộc mạc thường thấy ở kịch của văn hào Sêkhốp Ở một bài khác, khi đề cập đến kịch bản “Người trong cõi
nhớ”(Lưu QuangVũ), Nguyễn Thị Minh Thái viết: “Đạo diễn Đoàn Bá ưa thích chất thơ, chất triết lý của kịch bản ‘Người trong cõi nhớ’ bởi vì tác giả kịch bản có “cách tiếp cận đời sống hiện nay một cách mới lạ, không dẫm lên lối mòn quen thuộc”[32,249]
Sau khi nhận xét, ngợi khen chất lượng văn học của kịch bản, Nguyễn Thị Minh Thái
đã xúc động kết thúc bài báo: “Tôi đã nghe thấy những giọt nước mắt lặng thầm trong
lòng và nhìn thấy lệ long lanh trên nhiều đôi mắt người xem trong khán phòng hôm
ấy…”[32,250] Có lẽ do tập thể đạo diễn, diễn viên giỏi nghề thấu hiểu và biểu đạt
trọn vẹn dụng ý nghệ thuật của tác giả kịch bản nên vở diễn đã tác động sâu sắc đến
Trang 6tâm linh công chúng xem kịch “Người trong cõi nhớ” vì vậy trở thành một trong số
kịch bản được Huy chương vàng hội diễn 1985
Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật số tháng 5 năm 1985 đã đăng một bài viết ngắn điểm qua những vở diễn có giá trị trong đợt hội diễn sân khấu lần II, Nguyễn Phan Thọ
nhắc đến vở “Tôi và chúng ta” (Lưu Quang Vũ) đầu tiên và ví tác phẩm như “một mũi
nhọn trong cuộc đấu tranh chống cung cách làm ăn trì trệ, bảo thủ”[37,80] Còn ở tạp
chí Sân khấu tháng 7 năm 1985, Trần Trọng Đăng Đàn đã cho rằng có không ít tác phẩm đoạt giải cao tại các hội diễn rồi sau đó chìm nghỉm vì không hề gây được chú ý
của công chúng, nhưng vở “Tôi và chúng ta” thì khác, công chúng xem kịch có lúc“reo
vui đồng cảm” nhiều lúc lại “xúc động lắng im, biết bao tràng vỗ tay cổ vũ, ngợi khen nhiệt liệt” Điều Trần Trọng Đăng Đàn tâm đắc nhất là: “kịch ‘Tôi và chúng ta’ bằng cái nhan đề và chủ đề xuyên suốt của nó, đã thông qua nghệ thuật mà lý giải rành mạch, luận chiến sắc bén để bảo vệ quan điểm của chúng ta về tình người, về chủ nghiã nhân đạo cách mạng, về mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể” đập tan sự xuyên
tạc của bọn phản động thù địch, bác bỏ luận điệu: “người theo chủ nghiã xã hội là chịu
chối bỏ tình cảm, không nhìn nhận sự hiện diện cuả cái ‘tôi’, xem cá nhân chỉ là con số không”[5,26]
Trên tạp chí Văn học số tháng 1 năm 1986, Tất Thắng nêu một trong những
nguyên nhân thành công của vở “Tôi và chúng ta” và một số vở kịch khác: “Sức hấp
dẫn mà kịch đạt được do sự nhạy bén, kịp thời mà có thể nói là đúng lúc của đề tài mà kịch diễn tả”[34, 73], Tất Thắng cũng khẳng định vở kịch có sức âm vang mãi mãi và
sẽ tồn tại với thời gian: “Giá trị lâu dài của tác phẩm phụ thuộc vào tính nhân đạo cao
cả và tính triết lý sâu sắc của vấn đề mà nó đặt ra” [34, 74 ] Trên tạp chí Sân khấu
thành phố Hồ Chí Minh (số 1/1986),Vũ Hải giới thiệu những nhà soạn kịch đạt được huy chương vàng hội diễn sân khấu, trong đó Lưu Quang Vũ là người trẻ nhất, chính
Trang 7“chất văn học” [7,10] đã tạo nên sức hấp dẫn cho kịch của anh Krítxtian Hốtsơ đã gọi anh là“Môlie ở Việt Nam (…) với ngòi bút chua cay, với khuynh hướng sâu sắc chống
chủ nghiã xu thời”[38,162]
2.2 Sau khi Lưu Quang Vũ qua đời (từ tháng 8 năm 1988 đến nay):
Tạp chí Sân khấu từng đăng nhiều bài viết tưởng nhớ anh Lượng bài báo viết về kịch của anh nhiều hơn trước Trong một bài báo ngắn, Trần Quế giới thiệu vắn tắt về
Lưu Quang Vũ và nêu lên hiện tượng: “nhiều vở của anh được nhiều đoàn dàn dựng
cùng một lúc dưới nhiều hình thức kịch, chèo, cải lương… Anh đã được tặng giải thưởng văn học kịch bản sân khấu của Hội nhà văn…Báo chí thế giới: Nữu Ước thời báo, Pari matxơ, báo Takahata của Đảng cộng sản Nhật, tạp chí Sân khấu và báo Sự thật Liên Xô…đã viết về anh, coi anh như một trong những nhà viết kịch đang đứng hàng đầu của nền sân khấu Việt Nam” [29,17]
Dưới nhan đề “Những vần thơ thấm đẫm băn khoăn”, nhà nghiên cứu văn học
Huỳnh Như Phương tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ – một nhà thơ trẻ
tâm hồn “phức hợp” nhạy cảm và đầy cá tính Theo Huỳnh Như Phương, ở chặng sau của quá trình sáng tạo, Vũ “được đón chào như một nhà viết kịch đã nói lên một cách
thấm thía những nỗi lo âu và băn khoăn của nhân dân trước những vấn đề thế sự Từ những bài thơ nặng trĩu ưu tư và tâm sự cá nhân, Lưu Quang Vũ đã đi đến những kịch bản kết hợp hài hòa giữa xung đột xã hội và xung đột nội tâm, giữa nghệ thuật tái hiện các quá trình lưu chuyển của đời sống với nghệ thuật thể hiện các trạng thái của tính cách…” [38, 108]
Trên “Tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật” (6/1989), Hà Diệp - tác giả bài báo:
“Về một mảng kịch của Lưu Quang Vũ” đã nhận xét rằng anh là “một tài năng nghệ
thuật thực sự, một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử sân khấu dân tộc từ trước tới nay
Trang 8Kịch của anh tuy đi vào nhiều loại đề tài song tất cả đều tập trung vào chủ đề con người.” [4,34] Mười năm sau ngày anh mất, trong cuốn sách “Một số gương mặt văn chương học thuật Việt Nam hiện đại”(xuất bản năm 1998 ) Phong Lê phác thảo chân
dung và sự nghiệp của 54 tác giả có góp phần vào tiến trình hiện đại hóa đời sống văn
chương và học thuật của thế kỷ XX Theo Phong Lê, “những năm 80 Vũ đạt được rất
nhiều vinh quang trong kịch trường Vũ liên tục dành các đỉnh cao có lúc đến chóng mặt Cũng có thể nói ngọn đuốc Lưu Quang Vũ trở nên rực sáng trong bầu trời sân khấu…Kịch trường không còn Vũ nhưng vẫn còn các vở của Vũ…”[14,423] Phần giới
thiệu Lưu Quang Vũ chỉ có vài trang, nhưng đọc cuốn sách của Phong Lê,những người yêu mến thể loại kịch không khỏi tò mò muốn tìm
hiểu xem kịch bản của Lưu Quang Vũ như thế nào mà anh đã được xem như một tác giả tiêu biểu nhất trong giai đoạn văn học kịch thế kỷ XX
Trong cuốn sách “Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ” ( xuất bản 1999) của Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương, ở cuối phần lý thuyết chung về đặc điểm
của thể loại kịch, cái tên Lưu Quang Vũ đã được nhắc đến như một dẫn chứng để minh
họa: “Kịch là một thể loại khó… một kịch bản tồi thì khó lòng tạo nên một vở diễn có giá
trị được Chính vì vậy mà nhiều nhà văn có thể thử bút ở nhiều lĩnh vực như thơ, truyện,
kí, luận, nhưng ít dám liều nhảy sang kịch và thật sự trở thành một tác gia kịch Trong nền văn học hiện nay của ta, Lưu Quang Vũ là một trường hợp hiếm có Anh là một tên tuổi có vị trí xứng đáng cả trong thơ, truyện và kịch”[9, 107]
Năm 2001, Lưu Khánh Thơ đã tuyển chọn nhiều bài viết về Lưu Quang Vũ, in
thành cuốn sách: “Lưu Quang Vũ – tài năng và lao động nghệ thuật” Trong cuốn sách
đó, Ngô Thảo cho bạn đọc biết rằng: Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã từng cộng tác với
Lưu Quang Vũ tám vở diễn “Điều mà nhà đạo diễn có kinh nghiệm thích và quý ở Vũ,
Trang 9đó là trong kịch, anh luôn có những chi tiết đa nghĩa, đạo diễn muốn nhấn mạnh, cắt nghiã về phía nào cũng có lý, nên phải rất thận trọng để không làm nghèo mất ý nghiã của chi tiết kịch”[38,142] Bản thân Ngô Thảo thì cảm thấy thích thú khi được xem một
số chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong kịch bản và Lưu Quang Vũ qua quá trình sáng tạo vẫn biết lắng nghe ý kiến của những nhà nghệ sĩ khác để đúc rút thêm kinh nghiệm cho bản thân Cho nên anh trưởng thành nhanh chóng so với thời gian đầu khi mới viết
kịch: “Lưu Quang Vũ thường cho nhân vật nói đến cạn lời, nói cả những điều đáng lẽ ra
phải cho khán giả tự rút ra từ toàn bộ tình huống kịch…Nhưng cùng với thời gian, các vở diễn đã mang thêm sức chở, chứa được nhiều suy nghĩ của tác giả về cuộc sống” [38,
148 ]
Ở bài viết “Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỷ XX”( số tháng 5-2001, tạp chí Văn học) Phạm Vĩnh Cư nhắc đến Lưu Quang Vũ như một “kịch gia tiêu biểu” mà hai kịch bản: “Nguồn sáng trong đời” và “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng Theo ông “di sản kịch của Lưu Quang Vũ đồ sộ
về khối lượng, phong phú về nội dung, đa dạng về thể tài và phong cách, còn chờ đợi được nghiên cứu kỹ lưỡng , toàn diện (đáng tiếc, nhiều kịch bản của anh vẫn chưa được
in, làm khó công việc nói trên) Không phải tất cả các sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ đều là những thành công cao - mà cũng thật khó chờ đợi điều này ở một tác gia viết nhiều đến thế trong một thời gian ngắn đến thế – nhưng một số kịch phẩm rõ ràng đã vượt qua thử thách của thời gian và sẽ có cuộc sống dài lâu trong văn học và trên sân khấu nước nhà” [1, 32]
Trên tạp chí Văn học số 7-2001 ở bài viết nhan đề: “Kịch nói giai đoạn từ sau cách
mạng tháng tám đến nay”, tác giả Đình Quang đã phác thảo đôi nét về kịch nói sau
1975 Ông cho rằng: “Hội diễn sân khấu năm 1985 quả là một trang chói lọi của kịch
nói và sân khấu nói chung sau hòa bình…Nghệ thuật cách mạng tới đây mới ghi dấu một
Trang 10chiến thắng quyết định đối với khán giả miền Nam”[27,10] Trong những năm tháng đó
“theo quy luật, một thế hệ tác giả mới xuất hiện, tiêu biểu nhất là Lưu Quang
Vũ”[27,11]
Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng trong bài viết: “Văn học kịch thời kỳ
1975-1985 và những vấn đề xã hội hậu chiến”(in trên tạp chí Văn học số 10-2003) đã điểm
qua các kỳ hội diễn sân khấu tòan quốc trong khoảng 10 năm, và đưa ra những luận
điểm tổng quát, khách quan Theo Phan Trọng Thưởng thì “đội ngũ viết kịch (thời kỳ
1975-1985) tuy không nhiều nhưng lại mạnh Họ tỏ ra có tư chất và tài năng” Lưu
Quang Vũ được xem là một trong số những “tác giả nổi trội” Tổng hợp các nhận định về kịch của Lưu Quang Vũ, Phan Trọng Thưởng đã viết: “Có những người từ góc độ xã
hội học cho rằng kịch của Lưu Quang Vũ hay bởi nó đáp ứng yêu cầu thời sự, được cả xã hội quan tâm, đưa được lên sân khấu những vấn đề quan thiết, nóng bỏng của thực tiễn đời sống…Cũng có người từ góc độ sáng tác mà cho rằng Lưu Quang Vũ đã gặp đất Lại có không ít người từ phía chủ thể nghệ sĩ cho rằng đó là kết quả của tư chất thông minh, của tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần mẫn, của trách nhiệm người nghệ sĩ – công dân”[41,339]
Nói chung, trước năm 1988, một vài nhà nghiên cứu chỉ nêu cảm nhận ngắn gọn của họ sau khi xem kịch Lưu Quang Vũ Thời gian sau khi anh mất, Đình Quang, Vũ Quang Vinh, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đỗ Chu, Doãn Châu, Định Nguyễn, Tôn Thảo
Miên, Phong Lê nhắc tới tên anh như một “hiện tượng xuất sắc, tiêu biểu của kịch
trường Việt Nam những năm 80” [14,433] nhưng họ không bình luận chi tiết, cụ thể về
một tác phẩm kịch nào
Đề cập tới xung đột kịch có bài báo của Hà Diệp, tác giả này cho rằng xung đột trong vở “Tôi và chúng ta” là “xung đột giữa các phương pháp quan liêu với đường lối
Trang 11mới”[4,36] Còn Cao Minh thì đánh giá cao nhiều kịch bản và có ấn tượng sâu sắc về ý
nghiã “ẩn dụ” của “cuộc đấu tranh hết sức khốc liệt, phức tạp giữa phần hồn và phần
xác”[38,175] trong vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt”
Phan Trọng Thưởng viết về “tính dự báo” và thừa nhận rằng Lưu Quang Vũ cùng với các nghệ sĩ “đã góp phần đề xuất được những vấn đề lớn với Đảng và Nhà
nước để từ đó hoạch định chiến lược đổi mới làm thay đổi diện mạo đất nước” [41,248]
Cùng ý kiến với Phan Trọng Thưởng là Vũ Hà trong bài báo “Tôi và chúng ta và Lưu
Quang Vũ”, tác giả này cho rằng “mùa hè năm 1984, Lưu Quang Vũ đã dự báo, một dự báo đầy dũng khí, thực tiễn và táo bạo”[38,178] Tuấn Hiệp còn phát hiện ra cái hay là
ở chỗ kịch Lưu Quang Vũ “không mang những tình tiết dễ dãi và giả tạo”[38,188] Nhiều tác giả có những bài viết ngắn, bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch Ngô Thảo xem đấy là “biệt tài” [38,147] của Lưu Quang Vũ Đạo diễn Phạm Thị Thành cảm thấy “các nhân vật của anh rất hiện thực”[38,251] Ngô Sơn xem các nhân vật tiêu cực hành động và liên tưởng đến những “bộ mặt tiêu cực có hạng mà…báo chí
đã vạch mặt chỉ tên”[38,183].Vũ Hà công nhận Lưu Quang Vũ từng sáng tạo được
những “tính cách sắc sảo, quyết liệt”[38,178] Phạm Vĩnh Cư yêu mến hai nhân vật “bi
kịch” Toàn (Nguồn sáng trong đời) và Trương Ba trong “Hồn Trương Ba da hàng thịt”-
một “bi hài kịch đặc sắc được công chúng trong và ngoài nước tán thưởng”[1,34]
Tất Thắng, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Thị Minh Thái, Nguyễn Đình Nghi đọc
thấy trong ngôn ngữ kịch Lưu Quang Vũ đôi chỗ “hóm hỉnh”, giàu “chất triết lý”, “tinh
tế” làm lòng người xúc động Ngô Thảo cũng thừa nhận ngôn ngữ của nhân vật không
chỉ “tự nhiên, gọn, sáng sủa” mà còn “nhiều lớp lang ý tứ” Tuấn Hiệp gọi đây là thứ ngôn ngữ “dung dị, đậm chất dramatic” với những màn, lớp đối thoại “dường như đưa
khán giả vào cuộc tự vấn lương tâm”[38,189]
Trang 12Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, phê bình kịch của Lưu Quang Vũ, người làm luận văn thấy có một số nhà nghiên cứu viết vài ba bài báo, mỗi bài bàn về nội dung một vở kịch; mỗi tác giả đề cập đến một vài mặt riêng lẻ Không phải những ý kiến đánh giá của họ không chính xác mà thực sự chưa có người nào nghiên cứu toàn diện, tỉ mỉ kịch của Lưu Quang Vũ Cho nên vẫn cần một công trình nghiên cứu có hệ thống, bài bản
và khoa học trên cơ sở tiếp cận, khảo sát văn bản kịch dưới góc độ nghệ thuật
Học tập và kế thừa ý kiến đánh giá xác đáng của những nhà nghiên cứu đi trước,
luận văn này chủ yếu đi sâu tìm hiểu nghệ thuật kịch, nét đặc sắc trong phong cách biểu đạt của kịch Lưu Quang Vũ Trong quá trình thực hiện, luận văn tất yếu vẫn còn hạn chế, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô và các bạn đồng
nghiệp
3.ĐÓNG GÓP CUẢ LUẬN VĂN:
Mọi thành công hay hạn chế của một tác giả văn học luôn có cội rễ sâu xa trong
bối cảnh xã hội, đặc điểm của thời đại và cá tính sáng tạo từ phía chủ thể nghệ sĩ Luận văn này tìm hiểu cơ sở thực tiễn của hiện tượng sân khấu kịch nói sôi động, đầy lôi cuốn khán giả vào những năm 80 cuối thế kỷ XX (thời điểm trước đại hội Đảng lần
thứ VI) trong đó Lưu Quang Vũ là một tác giả rất đáng chú ý
Có người cho rằng ở nước ta, nhiều văn bản thoại kịch viết theo đơn đặt hàng ít
giá trị nghệ thuật nhưng vẫn “ăn khách” Vậy trường hợp Lưu Quang Vũ thì như thế
nào? Tại sao anh có những kịch bản thực sự hấp dẫn được công chúng đương thời ? Giá trị nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ thể hiện ở những mặt nào? Luận văn này nhằm trả lời các câu hỏi trên Đồng thời góp phần khẳng định những cống hiến đa dạng của Lưu Quang Vũ cho thể loại văn học kịch nói riêng và nền văn học hiện đại nói chung
Trang 13Qua nghiên cứu nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ, đánh giá những thành công và hạn chế của tác giả này, luận văn cũng có thể được xem như một trong những tài liệu cung cấp thêm kinh nghiệm về công việc sáng tác kịch để người muốn đi vào con
đường sáng tác xem xét tham khảo Từ “hiện tượng Lưu Quang Vũ”, luận văn nêu
những cảm nhận bứớc đầu về nét đẹp trong việc sáng tác và thưởng thức văn học kịch; góp phần chuẩn bị tư liệu cho những công trình nghiên cứu tổng quát về lịch sử phát triển thể loại kịch nói Việt Nam giai đoạn sau 1975 – một vấn đề đang được đặt ra cho các nhà nghiên cứu- phê bình quan tâm đến thể loại văn học kịch
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
Lưu Quang Vũ là một tác giả có sức viết dồi dào và thành công ở nhiều thể loại Mỗi kịch bản văn học của anh là một cấu trúc thống nhất giữa nội dung và hình thức
Do điều kiện hạn chế về thời gian nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cảm hứng nhân văn và nghệ thuật kịch, các yếu tố cấu thành giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng của kịch Lưu Quang Vũ Đồng thời, vì số tư liệu văn bản tác phẩm còn lại chỉ có hạn, cho
nên luận văn chủ yếu khảo sát một số kịch bản từng đạt giải cao như “Tôi và chúng
ta”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Lời thề thứ chín”, “Nguồn sáng trong đời”, “Bệnh sĩ”, “Người tốt nhà số 5”, “Ông không phải là bố tôi” Bên cạnh đó cũng tìm hiểu một
số kịch bản gần đây còn được dàn dựng lại như “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”,“Tin ở
hoa hồng”, “Đường bay”, “Điều không thể mất”, “Linh hồn của đá”…
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn khảo sát những tư liệu tìm được trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp lịch sử cụ thể tìm hiểu bối cảnh xã hội – chính trị thời kỳ 1975-1985, trước đại hội Đảng lần thứ VI để thấy được những ảnh hưởng, tác
Trang 14động của thời đại đến nhà viết kịch, tìm ra những điểm tiến bộ và xác định vị trí của anh trên văn đàn Xét theo phương thức tái hiện đời sống, loại kịch có những nét đặc thù riêng, khác với loại trữ tình và loại tự sự Những điểm khác biệt về loại thể văn học cũng được lưu tâm để tìm hiểu, khám phá ngôn từ biểu đạt mà tác giả Lưu Quang Vũ chọn dùng trong một số văn bản thoại kịch Đồng thời luận văn cũng kết hợp sử dụng một số phương pháp khác, trong đó có các phương pháp :
Phương pháp so sánh ( đồng đại, lịch đại ) được dùng để có một vài đoạn đối chiếu kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ với một vài tác giả thời trước 1945 hoặc tác giả kịch bản cùng thời để thấy phong cách riêng, cá tính sáng tạo va ømức độ đóng góp của Lưu Quang Vũ cho thể loại văn học kịch
Phương pháp thống kê: Để hiểu rõ đặc điểm nghệ thuật thể hiện trong từng kịch bản văn học, cũng cần thống kê và đưa ra những cứ liệu cụ thể trong quá trình nghiên cứu để làm cơ sở vững chắc cho các luận điểm thêm sức thuyết phục
Luận văn cũng sử dụng các thao tác phân loại, phân tích, tổng hợp để dẫn dắt vấn đề cụ thể, chân xác
5 KẾT CẤU CUẢ LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm bốn chương: Chương một: Vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch những năm 80
(thế kỷ XX)
Chương hai: Cảm hứng nhân văn trong kịch Lưu Quang Vũ
Chương ba: Xung đột và hành động trong kịch Lưu Quang Vũ
Chương bốn: Nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ
Trang 15CHƯƠNG MỘT
VỊ TRÍ CỦA LƯU QUANG VŨ TRONG VĂN HỌC KỊCH
NHỮNG NĂM 80 (THẾ KỶ XX )
1.1 Văn học kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX:
1.1.1 Bối cảnh xã hội:
Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, đất nước tưng bừng hân hoan mừng ngày thống nhất Nhưng ngay sau đó là giai đoạn kinh tế khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn Tình trạng thiếu hụt ngân sách nhà nước đều có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Nguyên nhân khách quan là do chiến tranh kéo dài, ở miền Bắc, dân ta xây dựng được công trình nào là giặc Mỹ đều ném bom phá huỷ, chúng rắp tâm đưa dân ta trở lại thời kỳ đồ đá Mười năm đầu sau giải phóng, đất nước hoang tàn vừa chạy chữa những vết thương chiến tranh vừa phải đối mặt với cuộc bao vây kinh tế, chống phá cách mạng của những thế lực thù địch Kẻ thù không để cho nhân dân ta có được một ngày nào yên ổn Chưa hết chiến tranh biên giới Tây Nam lại nảy sinh chiến tranh biên giới phía Bắc, an ninh vùng biên giới, quần đảo thường xuyên bị đe dọa Quan hệ với một số nước láng giềng nhiều lúc vô cùng căng thẳng Số phận nhân dân càng thêm điêu đứng vì thiên tai lũ lụt…
Nguyên nhân chủ quan là do ta duy ý chí, nóng vội công hữu hoá tư liệu sản xuất, chỉ duy hình thức kinh tế quốc doanh và cơ chế bao cấp của thời chiến, bất kể những nguyên tắc quản lý quan liêu đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự vận động không ngừng của hiện thực cuộc sống Nhận thức về những vấn đề lý luận nền tảng, về chủ nghiã Mác-Lênin còn nhiều bất cập, vận dụng chưa phù hợp vào thực tiễn riêng của nước ta, cho nên suốt mười năm sau chiến tranh, ta vẫn duy trì mô hình kinh tế hiện
Trang 16vật, phủ nhận sản xuất hàng hóa, phủ nhận quy luật giá trị, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Vấn đề giá–lương-tiền là một khâu mắt xích quan trọng chi phối toàn bộ đời sống nhân dân nhưng trong khoảng mười năm sau chiến tranh vẫn chưa tìm ra hướng giải quyết thỏa đáng Chính sách cung cấp cho nhân dân bằng tem phiếu như một hình thức ban ơn Kế hoạch đưa ra là phải cung cấp từng tháng một, nhưng có khi năm sáu tháng mới trả một lần “no dồn đói góp”, thậm chí có vài nơi nợ lâu, mất khả năng thanh toán nợ nên lờ đi cho qua chuyện Ban lãnh đạo Trung ương định giá từng mặt hàng Họp định giá mất cả tháng trời, khi định giá xong thì giá cả thị trường tự do ở bên ngoài đã biến động quá nhiều Do giá cả mà nhà nước đưa ra thấp hơn rất nhiều lần so với giá trị thật của hàng hóa nên nhiều người bán tem phiếu ra thị trường tự do để hưởng tiền chênh lệch Mỗi hộ nông dân đều được phân phối xăng dầu với gía ưu đãi để chạy máy cày, máy gặt nhưng đa số nông dân đều bán tiêu chuẩn xăng dầu của họ cho tư thương,
còn bản thân thì làm ruộng theo kiểu “con trâu đi trước cái cày theo sau” Công
nghiệp, nông nghiệp khó có cơ hội phát triển Mỗi năm, nhà nước phải bù lỗ hàng ngàn
tỉ đồng, ngân quỹ cạn kiệt là do nhà nước bán hàng hóa, vật tư ra với giá quá thấp, dưới 50% giá trị
Những kẻ đầu cơ, tư thương khai thác chênh lệch giá thì ngày càng giàu thêm Đồng chí Trường Chinh trong bài phát biểu tại Hội nghị Bộ chính trị bàn về giá- lương-
tiền từ ngày13/ 5/1985 đến ngày 15/5/1985 đã nêu rõ:“ Do cơ chế quan liêu, chúng ta
đã để mất đi một khối lượng hàng và tiền không nhỏ… Chúng ta đã quăng tiền qua cửa sổ Với cách làm đó thì dù lúc đầu quĩ có nhiều đến bao nhiêu, cuối cùng rồi vẫn thiếu, đã nghèo lại càng nghèo thêm” Tình trạng cửa quyền trong ngành thương nghiệp khá
phổ biến Họ nắm trong tay hàng hóa, theo chính sách nhà nước là phải bán giá rẻû cho người tiêu dùng, nhưng người tiêu dùng thực sự không được mua Đa số nhân viên
Trang 17thương nghiệp ham lợi riêng nên bí mật tuồn hàng bán cho tư thương Vì vậy xã hội
xuất hiện một tầng lớp “tư sản thương nghiệp mới”[3,11] Trước tình hình đó, để bảo vệ
quyền lợi của người lao động, một số tỉnh, thành phố đã xé rào, tự thực hiện việc bù giá vào lương Ở nông thôn, cách làm ăn theo con đường hợp tác xã nông nghiệp cũng nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, bất công Việc cải thiện đời sống cho nhân dân và tìm một cung cách làm ăn theo kiểu thời bình đã trở thành vấn đề vô cùng bức thiết Ởû thời bình, ranh giới giữa các mặt đối lập không rõ ràng như xưa, cuộc đấu tranh với cái ác, cái xấu không những không mất đi mà ngày một căng thẳng hơn, không loại trừ cả việc mỗi người phải đấu tranh với chính bản thân mình Thời bom đạn, tổn thất về tài lực, vật lực dễ dàng nhìn thấy ngay trước mặt Nhưng khi trở lại hòa bình, những tổn thất của về vật chất lẫn tinh thần đôi khi không thể nhìn thấy bằng mắt thường Vấn đề đạo đức nhân sinh có rất nhiều điều đáng lo ngại, nhiều giá trị xã hội đã biến đổi Song từ đường lối chính sách cho đến những hoạt động thực tiễn đều trở nên trì trệ, lỗi thời, ngưng đọng
Công cuộc đổi mới được Đảng tích cực triển khai từ nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI (1986), xóa bỏ hình thái kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vì mục đích thúc đẩy kinh tế phát triển, tất cả để dân giàu, nước mạnh, tiến tới công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ Từ đại hội VI trở đi, đất nước đã có rất nhiều đổi thay về mọi mặt với rất nhiều thành tựu
1.1.2 Tình hình văn học kịch thời kỳ 1975 – 1985:
Thời kỳ từ 1975 đến năm 1985, các thể lọai thơ trữ tình, truyện ngắn, tiểu thuyết về cơ bản vẫn không có gì khác trước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn học tiếp tục tập trung làm nhiệm vụ chính trị Những tác giả theo đuổi đề tài chiến tranh vẫn tiếp nối khuynh hướng sử thi và cảm hứng anh hùng ca, lấy những vấn đề xã hội – lịch sử làm
Trang 18nội dung khai thác chủ yếu, chọn đối tựợng là cộng đồng để miêu tả và phân tích một cách đầy lạc quan Tuy nhiên các tác giả cũng nhận thức được rằng không thể viết về chiến tranh theo những “mô-típ” cũ, ý thức nghệ thuật của các nhà văn đang dần dần biến đổi Trước đây, văn học sáng tác theo đề tài chiến tranh thường xây dựng những biểu tượng lý tưởng về con người, miêu tả phẩm chất con người và kết thúc tác phẩm theo như ta mong muốn Đến thời điểm đầu thập niên 80, các tác phẩm phản ánh hiện thực chiến tranh đã gắn chủ đề đó với việc phản ánh cuộc sống đời thường để bình luận, cảm nhận nỗi đau của số phận con người buộc phải đi qua chiến tranh Song cho đến năm 1983, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh vẫn chưa có sự thay đổi lớn Theo báo cáo bổ sung ở Đại hội nhà văn lần thứ III về các sáng tác văn xuôi đề tài chiến
tranh thì “ Những tác phẩm viết về chiến tranh cho đến nay mới chỉ biết năm mà chưa
biết mười, biết một địa phương, một chiến trường mà chưa biết hết cái toàn cuộc, biết được hành động ở phía dưới mà chưa biết những điều ở bên trên, biết rõ về ta mà chưa biết rõ về địch, biết được cái hiện tại mà chưa biết được cái âm vang của nó trong những thế hệ mai sau” Các nhà tiểu thuyết còn dè dặt trong việc miêu tả những mặt chưa
hoàn thiện của cuộc sống quá độ đi lên chủ nghiã xã hội Thể loại truyện ngắn và thơ cũng rơi vào tình trạng “một giọng” đơn điệu, chưa để lại dấu ấn sâu sắc cho người đọc
Đến năm 1986 - năm diễn ra đại hội Đảng lần thứ VI, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố rằng cửa đại hội VI đã mở ra cho nghệ sĩ, văn nghệ sĩ được cởi trói Nhưng văn học kịch đã đi trước đó một bước, tạo được tiếng vang ngay từ trước đại hội
VI Trong khi đó, phải đến đầu thập niên 90 khi không khí đã thực sự cởi mở, thông thoáng hơn về văn nghệ, mới có những truyện ngắn và tiểu thuyết đổi mới gắn liền với tên tuổi của các cây bút Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng,
Nguyễn Khắc Trường, Vũ Bão.v.v… Tuy nhiên, “sau những thành công quan trọng của
Trang 19tiểu thuyết vào đầu những năm 90, tiểu thuyết thiếu vắng những tác phẩm hay, và hình như đã đánh mất tính năng động và sức mạnh của thể loại” [45,470 ]
Năm 1979, ở hội nghị họp mặt các đạo diễn sân khấu, “một trong những vấn đề
được đưa ra bàn bạc là sự đơn điệu, gần như một kiểu giống nhau giữa các vở diễn, và những tác giả, đạo diễn đã thúc giục nhau tìm tòi sáng tạo”11,69] Những năm tiếp
theo sau đó, bối cảnh xã hội đặt ra nhiều vấn đề bức xúc như cơ chế quản lý, cơ chế phân phối, quan hệ của người nông dân với ruộng đất, hay vấn đề quyền lợi của từng người lao động bình dân.v.v… Nhiều mâu thuẫn tiềm ẩn trong cuộc sống đã đến lúc chín muồi cần phải được giải quyết Có lẽ đó chính là cơ sở hiện thực và cơ sở mĩ học cho sự ra đời hàng loạt những tác phẩm kịch giàu tính luận chiến, xuất phát từ cảm hứng của những nghệ sĩ công dân yêu nước, quan tâm đến vận mệnh của nhân dân
“Nhìn sang kịch nói, có thể khẳng định được sự phát triển mạnh mẽ và tương đối đồng
bộ của loại hình sân khấu đang chiếm vị trí chủ đạo…Mỗi vở diễn đã thực sự góp một tiếng nói riêng bởi trong đó thể hiện đầy đủ thái độ, lập trường, tình cảm và quan niệm của người nghệ sĩ trước hiện thực đời sống Các nghệ sĩ đã tỏ ra năng động, sáng tạo, mạnh dạn khi nhìn về cái thiện , cái ác, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Một số vở đã có tiếng nói kịp thời và tích cực về vấn đề phải thay đổi cơ chế quản lý, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá con người trong xã hội mới.” [45, 684]
So với tiểu thuyết, truyện ngắn và thi ca, những năm 80 (thế kỷ XX), văn học kịch đã thực hiện cuộc bứt phá táo bạo gây được tiếng vang Đề tài xây dựng chủ nghiã xã hội trở thành khuynh hướng sáng tác nổi bật Thế hệ những nhà soạn kịch trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ tiếp tục khẳng định vị thế trong thể loại kịch là: Đào Hồng Cẩm, Học Phi, Hoài Giao, Lộng Chương, Nguyễn Vũ, Tất Đạt, Thanh Hương, Xuân Trình…Nhiều vở kịch tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng công chúng như :
“Tiếng hát” (Đào Hồng Cẩm), “Nhân chứng và lịch sử” (Hoài Giao),“Mùa hè ở biển”
Trang 20(Xuân Trình), “Đừng vội hát tình ca”,“Đỉnh cao mơ ước” ( Tất Đạt), “Thung lũng tình
yêu”, “Vàng” (Thanh Hương), “Hoa và cỏ dại”, “Hà Mi của tôi” (Doãn Hoàng Giang),
“Tôi và chúng ta”, “Nguồn sáng trong đời” (Lưu Quang Vũ).v.v
Qua nhiều năm theo dõi diễn tiến của thể loại văn học kịch, tác giả Phan Trọng
Thưởng đã nhận định: “Mãi đến năm 1985, nghiã là sau khi giải phóng miền Nam mười
năm, cũng là thời kỳ kịch nói cực thịnh , các đoàn nghệ thuật và các nhà hát kịch nói miền Bắc mang năm vở tiêu biểu: Tôi và chúng ta, Nữ ký giả ( Lưu Quang Vũ ), Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt ), Mùa hè ở biển ( Xuân Trình ), Nhân chứng và lịch sử ( Hoài Giao) vào biểu diễn ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam thì công chúng Nam Bộ mới có dịp làm quen và nhận thức một cách đầy đủ về kịch nói Đó là một sự kiện văn hóa có ý nghiã lớn” [ 41,187 ] Nhà nghiên cứu văn học Vũ Quang Vinh cũng đã
có nhận định tương tự trong một bài báo nhan đề : “Vài nét về sự phát triển của kịch nói
ba mươi năm qua (1954 - 1984 )” đăng trên tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật số 1 năm
1985 Những năm 80 cuả thế kỷ XX là “thời kỳ phát triển nhất, khởi sắc nhất của kịch
nói, nếu đem so với hai thời kỳ trước (1954 – 1964 và1965 – 1975) Với sự tăng tiến cả về số lượng và chất lượng các tiết mục, cũng như sự mạnh dạn và phong phú trong những đổi mới , tìm tòi sáng tạo, nên chúng ta vui mừng vì đã có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh”
Kể từ hội diễn nghệ thuật năm 1985, kịch theo đó mà sinh sôi đơm hoa kết trái,
thậm chí nó có phần hơi trội hơn các thể loại sân khấu dân gian truyền thống, “lần đầu
tiên công chúng phía Nam được chứng kiến sức công phá mới của nghệ thuật, chứng kiến sự can dự tích cực của sân khấu vào những vấn đề chính trị – xã hội lớn lao trong đời sống tinh thần chung của đất nước Có lẽ đó là nguồn sinh khí mới để kịch nói tồn tại và phát triển được ở các tỉnh và thành phố Nam Bộ – lãnh địa thiêng liêng của nghệ thuật cải lương Với sự xuất hiện của kịch nói, một tập quán thưởng thức nghệ thuật mới,
Trang 21một thị hiếu nghệ thuật mới đã hình thành , phá vỡ thế độc tôn của cải lương và hát bội, tạo cho kịch nói một diện mạo mới, một phạm vi ảnh hưởng mới trong cả nước.” [ 41,30
] Nhìn một cách tổng thể hoạt động nghệ thuật kịch nổi bật ở thời gian này, Trần Quốc
Vượng nhận xét: “Không có hiện tượng giải thể, trốc rễ văn hóa nhưng có hiện tượng
sụt giá, giảm giá của sân khấu tuồng, chèo và múa rối cổ truyền trước áp lực của sân khấu kịch nói” (Tạp chí Sân khấu số 62 tháng 11/1985 )
Sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị trung ương Đảng đã thúc đẩy
một bước tiến trình phát triển văn học Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng họp lần thứ IV cũng ghi rõ cần “khuyến khích sự đổi mới, sự sáng tạo cái mới
chân chính” Trong bức thư gửi các nhà văn nhân dịp Đại hội hội nghệ sĩ lần II (năm
1984) đồng chí Phạm Văn Đồng cũng đã kêu gọi: “Nhà văn hãy tự tháo gỡ những cái
vướng mắc của mình, của từng người và của cả đội ngũ Chính những vướng mắc này, mấy năm qua đã khiến cho nhiêù nhà văn dưới tầm, có lúc như chưa lao được vào cuộc sống” Có thể nói kể từ khi có chính quyền chuyên chính cho đến thời điểm 1986, chưa
bao giờ người nghệ sĩ được tự do thực hiện quyền dân chủ như ở thời gian này Bên cạnh sự khuyến khích sáng tạo, sự quan tâm mở đường của Đảng , các nhà viết kịch đã có ý thức trau dồi vốn sống, chịu khó tìm tòi sáng tạo để đóng góp công sức vào thành tựu chung của dân tộc Nếu so với thời kỳ từ 1980 trở về trước thì văn học kịch trước
1980 chỉ lác đác có một vài kịch bản có giá trị cao, mùa nghệ thuật kịch lúc đó chưa bao giờ rầm rộ, sôi nổi cũng chưa bao giờ được đánh giá là hoàn chỉnh về nghệ thuật
thể loại:“Những năm đầu sau giải phóng không chỉ riêng kịch mà văn xuôi cũng có phần
hơi chững lại” [45, 669 ]
Còn nếu so với văn học kịch thời kỳ trước giải phóng thì “hội diễn sân khấu năm
1985 được xem là một bản tổng kết chuẩn xác về những thành tựu mà sân khấu đã đạt
Trang 22được trong quá trình mười năm vận động và kiếm tìm không mệt mỏi Hội diễn đã qui tụ về đó tất cả những tinh hoa của sân khấu Việt Nam”[45,684] Thời kỳ trước 1975, mảnh
dất Nam Bộ vốn là kinh đô của kịch hát cải lương, văn học kịch chưa bao giờ thâm nhập sâu rộng vào đời sống nghệ thuật của công chúng đương thời Trong công trình
khảo cứu “Văn học miền Nam tổng quan” thời kỳ 1954 – 1975, Võ Phiến lấy làm ngạc
nhiên khi tiểu thuyết và âm nhạc chịu ảnh hưởng Tây phương được công chúng đón nhận, nhưng diễn kịch thì bà con không xem Lúc đó kịch thường do một số nghệ sĩ làm
để cho trí thức xem, và hầu như chỉ diễn ở các thành phố lớn: “Thơ mới không được
chính quyền chăm bón mà vẫn phát triển rộng rãi (…) Duy thoại kịch(kịch nói), thứ được giảng dạy ở đại học, trao phát bằng cấp xênh xang, được nhà nước làm phận sự trợ cấp mà lại cứ bị kẹt hoài”[41,187] Nhưng kịch sau ngày giải phóng ở miền Nam có
khởi sắc hơn nhiều Kịch đã dần loại bỏ được những tư tưởng sáo mòn cũ kỹ Đề tài hiện đại chiếm vị trí trung tâm, tác giả kịch bản bằng tác phẩm của mình đã tham gia đối thoại với công chúng về những vấn đề nóng bỏng, thiết thực đang đặt ra trong đời sống cần lao
Đến thập kỷ sau, vào năm 1990, hội diễn sân khấu toàn quốc có 20 vở kịch tham
dự, không còn những vấn đề bức bối có tính chất “nước sôi lửa bỏng” “Trong không khí
dân chủ mới, kịch không còn là tiếng nói can đảm đầu tiên như kịch năm 1984 – 1985 (…) Sân khấu kịch lâm vào một cuộc khủng hoảng kéo dài suốt mười năm cuối của thế kỷ XX” [41, 30 ] Tình trạng thiếu những kịch bản hay khiến cho các nhà nghiên cứu nghệ
thuật cho rằng văn học kịch cuối thập kỷ 90 chưa bắt kịp với nhu cầu thẩm mỹ của khán giả đương đại
Thành tựu nghệ thuật văn học kịch ở những năm 80 sau ngày đất nước thống nhất là một dấu son trong quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ của những nhà soạn kịch đương thời nói riêng và những người làm văn nghệ nói chung Vả lại, khi đo,ù các tụ
Trang 23điểm sân khấu ca nhạc hiện đại chưa nở rộ, các phương tiện giải trí , truyền thông như truyền hình, vi-đê-ô, cát- sét, trò chơi điện tử… chưa phát triển Các hoạt động văn hóa như thưởng thức kịch nghệ hoặc các loại hình sân khấu truyền thống, giải trí tập thể… trở nên sôi nổi thu hút công chúng thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều khu vực từ thành thị đến nông thôn Trong một khoảng thời gian không dài (1980 – 1985) kịch đã đạt được một số thành tựu nhất định, chất lượng của một số vở kịch chính là tiền đề cho những thành công vang dội của hội diễn sân khấu năm 1985 Lưu Quang Vũ là một nhà soạn kịch đã đến với thể loại kịch rất đúng lúc, điều này giúp cho anh có cơ may để phát huy năng lực của mình
1.2 Vài nét về quá trình sáng tác và vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch
Việt Nam những năm 80 ( thế kỷ XX):
1.2.1 Vài nét về cuộc đời :
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948, mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 vì một tai nạn giao thông thảm khốc trên chuyến xe từ Hải Phòng về Hà Nội, cả vợ và con anh cũng không tránh được cái chết đau thương Có thể nói gần như cuộc đời Lưu Quang Vũ gói gọn trong thời gian dân tộc ta trường kỳ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Hơn mười năm sau khi đất nước hoà bình, anh qua đời ở độ tuổi bốn mươi, đúng vào lúc bút lực còn đang rất sung sức
Cha của Lưu Quang Vũ là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận Từ năm 1944, Lưu Quang Thuận đã sáng tác một số kịch bản và tham gia đoàn kịch Anh Vũ do Thế Lữ chủ trì Trong những năm kháng chiến chống Pháp, ông là nghệ sĩ mặc áo lính, có một thời gian dài, ông công tác tại Nhà hát Chèo và tham gia những công trình nghiên cứu, bảo tồn loại hình nghệ thuật kịch hát chèo truyền thống của dân tộc Xuất thân
Trang 24trong một gia đình có truyền thống làm văn nghệ, từ nhỏ, Lưu Quang Vũ đã được cha truyền cho niềm đam mê nghệ thuật
Quê Lưu Quang Vũ ở Đà Nẵng nhưng anh sinh ra tại thôn Gia Điền, xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ Cảnh trí nên thơ, không gian núi đồi bao la cao rộng ở đây sẽ còn trở đi trở lại trong rất nhiều tác phẩm của Lưu Quang Vũ Anh trải qua tuổi ấu thơ trên chiến khu Việt Bắc Ngay từ nhỏ, Vũ đã rất yêu thích đọc sách văn học và xem diễn chèo Mỗi khi có một kịch bản mới của cha được dàn dựng là Vũ lại hăm hở đến ngồi xem và mê mải quan sát không bỏ sót điều gì Năm 17 tuổi, Vũ xung phong
đi bộ đội, phục vụ trong binh chủng phòng không không quân Thời gian này anh bắt đầu sáng tác Chùm thơ đầu của anh được in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội với 3 bài :
“Gửi tới các anh”, “Lá bưởi lá chanh”, “Đêm hành quân” Năm 20 tuổi,Vũ xuất bản tập thơ “Hương cây – Bếp lửa”(in chung với Bằng Việt) Vừa chiến đấu, anh vừa hăng
hái tham gia phong trào văn nghệ của đơn vị, đóng góp một số vở kịch ngắn và hoạt cảnh chèo về đề tài bộ đội Năm 1970,Vũ xuất ngũ, trở lại Hà Nội sống những năm tháng gian nan cùng cực nhất, tìm việc làm ở khắp nơi, và làm bất cứ việc gì có thể làm được để kiếm sống một cách chân chính: viết báo, làm thơ, vẽ tranh, in bưu thiếp, bồi giấy để làm bìa, có lúc lại là công nhân thuộc một đội làm đường của Tổng cục Đường sắt Chính những tháng ngày long đong vất vả đó đã giúp Lưu Quang Vũ tích lũy vốn sống làm cơ sở cho các sáng tác nghệ thuật sau này
Năm 1973, Lưu Quang Vũ kết hôn với nhà thơ Xuân Quỳnh Cuộc hôn nhân rất hạnh phúc vì họ vốn là hai tâm hồn đồng điệu cùng yêu nghệ thuật, lại từng phải trải qua những thăng trầm cay cực của cuộc đời riêng Xuân Quỳnh đã đến với Lưu Quang Vũ khi anh đang tuyệt vọng, cô đơn và nghèo khổ cùng cực Chính tình yêu nồng nàn, chân thật của chị đa õgiúp anh lấy lại niềm tin vào bản thân, tin vào con người và những
Trang 25điều tốt đẹp trong cuộc đời Mối tình này đã trở thành cội nguồn của thi cảm dạt dào và xúc động Năm 1978, Lưu Quang Vũ trở thành biên tập viên của Tạp chí Sân khấu Nhờ sự giúp đỡ của cha cộng với vốn kiến thức tích luỹ được trong suốt quãng đời tuổi trẻ lận đận, Lưu Quang Vũ đã thử bút ở thể loại kịch và gặt hái được nhiều thành công Năm 1988, anh qua đời trong sự tiếc thương vô bờ của gia đình và công chúng yêu
nghệ thuật Đạo diễn Phạm Thị Thành đã viết : “ Cái chết của anh cùng chị Xuân
Quỳnh là một hiện tượng làm xúc động cả nước Sự phi thường và tài năng nở rộ như một huyền thoại … Số mệnh anh như ngôi sao sáng, mọc nhanh, sáng rực rỡ và vụt tắt”
[ 38, 254 ]
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật :
Trong tập 3 cuốn sách “Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX”, các tác giả có trích dẫn lời
tự bạch của Lưu Quang Vũ Bằng lời lẽ chân thành, Vũ đã nói rõ những động lực khiến
anh viết kịch cũng chính là những động lực khiến anh làm thơ, đó là “khát vọng muốn
được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến” [25,
750] Theo nhà thơ Vũ Quần Phương, sự thành công của thơ Lưu Quang Vũ bắt nguồn
từ chỗ“Thơ anh được viết ra do một thúc bách nội tâm, từ cảnh ngộ cá thể của
mình”[25,759] Thơ để trút nỗi niềm riêng, vùi trong đó bao đau thương thân phận Với
anh, thơ là niềm đam mê trọn đời, là “giấc mơ phía trước”.“Thơ tưới mát cuộc đời và
an ủi lòng ta” Thơ chỉ để an ủi riêng mình, trong khi đó,“cuộc sống còn dang dở, cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi” Lưu Quang Vũ thực sự ý thức sâu sắc về mục đích
và sứ mệnh của người làm nghệ thuật:
“Cần phải yêu thương hy vọng đấu tranh
Để giải thích và đổi thay cuộc sống” ( Lại sắp hết năm rồi )
Trang 26Khi người nghệ sĩ tiếp cận với hiện thực bộn bề, dồn nén nhiều suy tư, trăn trở;
do đặc trưng riêng, thơ khó có thể chuyển tải thành công những xung đột nóng bỏng của cuộc sống Người nghệ sĩ “đau nỗi đau của mỗi trái tim người” suốt thời gian cầm bút soạn kịch đã hiểu rất rõ câu thơ của chính mình:
“Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ,
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi ” ( Nói với mình và các bạn )
Với tâm niệm về nhiệm vụ “dựng xây đời”, Lưu Quang Vũ không ngừng tìm tòi sáng tạo, làm việc nghiêm túc để thoả khát vọng phấn đấu cho những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đích thực Trước những bức xúc về nghịch cảnh trong đời sống của người
dân lao động với các mâu thuẫn khắc nghiệt đang cần gấp một lời giải đáp,“anh đã tìm
đến kịch, kịch là nơi có thể phô diễn trực diện hơn những khám phá của anh, là nơi anh có thể đóng góp được tích cực hơn vào việc xây dựng xa õhội” [25,773] Việc tiếp sức
cho sân khấu giúp anh có thể giao tiếp, bàn bạc, tranh luận với khán giả thông qua những kịch bản nóng hổi tính thời sự Những kịch bản ấy như một “lời nói riêng mà thấu triệu tâm hồn” Các kịch bản thực sự trở thành tín hiệu giao tiếp của người nghệ sĩ với đồng loại Xoá đi niềm cô đơn trong tâm hồn nhạy cảm, kịch cho anh một mối dây liên hệ với công chúng, những chuyến đi đọc vở ở nơi xa xôi, hẻo lánh không làm anh ngần ngại Ngược lại, anh háo hức được“đi một ngày đàng” để nếu không “học được sàng khôn” thì ít ra cũng mở rộng kho vốn sống của bản thân mà anh thường cho là còn
ít ỏi
Khi đã khẳng định được tài năng trong nghệ thuật soạn kịch, để hoàn thành nhiệm vụ mà nhiều nhà hát, đoàn nghệ thuật yêu cầu, Lưu Quang Vũ phải viết cả ngày lẫn đêm, hầu như không có một giây phút nào nghỉ ngơi, có lúc đang bị bệnh, sốt cao không ăn uống được gì, anh vẫn khoác chăn ngồi viết Thấy vậy, mẹ của anh khuyên
Trang 27bảo: “Con làm việc vừa thôi, phải nghĩ đến bản thân mình một tí chứ” Lưu Quang Vũ liền nói vừa như giải thích với mẹ, vừa như động viên bản thân: “Mình gắng sức một
chút để có vở mới cho đoàn kịch Ít ra cũng là để nuôi sống mấy chục anh em trong một thời gian”[38,224] Đọc đến đây, chắc chắn nhiều người quan niệm rằng mục đích
sáng tác kịch bản của Lưu Quang Vũ chỉ là vì miếng cơm manh áo cho anh em các đoàn nghệ thuật và cho bản thân gia đình anh Nhưng xem xét chất lượng nghệ thuật của một số kịch bản, có thể thấy điều này chỉ là cái cớ để anh tiếp tục con đường làm một người nghệ sĩ muốn sống bằng cảm nhận về sự có ích của bản thân trước cuộc đời
Ở truyện ngắn: “Trang viết cuối cùng”, Lưu Quang Vũ đã gửi gắm một quan niệm
nghệ thuật đúng đắn (trong bức thư của nhân vật Bùi Nguyên), anh viết: “Đối với tôi,
văn học không phải để phô phang tài năng” Mục đích quan trọng hơn cả là “những
trang viết của mình có giúp được cho con người sống tốt hơn không, có góp phần cải biến đời sống để nó ngày một trở nên đáng sống hơn không?”[38,131] Trên chiếc bàn
dùng để ngồi sáng tác, Lưu Quang Vũ có kẻ một dòng chữ to: “Làm việc, làm việc để chiến thắng thời gian và bóng tối” Tạp chí Sân khấu (tháng 9 năm 1988) có đăng bài
báo nhan đề “Anh Lưu Quang Vũ”, tác giả Trần Quế đã trích dẫn lời tâm sự của Lưu Quang Vũ khi anh còn sống: “Không ai biết nên làm việc như thế nào bằng chính nhà
văn… Hầu như không có ngày nào là không viết Không đêm nào tôi ngủ trước hai giờ sáng”[29,17] Anh say mê với nghề nghiệp của mình, cho nên nhiều tác phẩm của anh
cũng xây dựng những hình tượng nhân vật sống hết lòng với công việc “Say mê nghề
nghiệp đến mức có thể hy sinh mình Bởi nếu không tận tụy đến mức có thể hy sinh bản thân thì sẽ không đạt được kết quả cao nhất trong nghề” [38,129 ]
Sau một thời gian sáng tác, Lưu Quang Vũ đã rút ra thêm một số kinh nghiệm, khi
viết về “cái gì mình hiểu sâu hơn, gần mình hơn thì thành công hơn Anh ước ao viết
được những vở thật sâu sắc về tư tưởng, về triết học…” [29, 17] Nhưng sự ra đi ở tuổi 40
Trang 28đã cuốn trôi hết thảy những khát vọng nghệ thuật của một cây bút tài năng đang độ chín
1.2.3 Quá trình sáng tác:
Đầu tiên, Lưu Quang Vũ bước chân vào con đường nghệ thuật bằng thi ca Năm
1968, độc giả làng thơ biết đến một Lưu Quang Vu õ- nhà thơ qua tập thơ: “Hương cây –
Bếp lửa” in chung với Bằng Việt Tập thơ đầu tay của anh thể hiện một cái nhìn đời
hồn hậu lạc quan quay phía nào cũng thấy sự hài hoà ưu ái… Anh bộ đội Lưu Quang Vũ trẻ trung, mơ mộng, trái tim dạt dào cảm hứng hồn nhiên về Tổ quốc, về nhân dân Mỗi chặng đường hành quân, mỗi làng mạc đi qua như còn in dấu trong thơ anh với những cảm xúc thiêng liêng trong trẻo, lạc quan, đầy tin cậy… Những năm ấy buồn vui riêng của mỗi người đều hoà trong tình cảm chung của cả đất nước Nhà thơ trẻ chưa thấy và chưa có ấn tượng gì về sự rạn vỡ hay nghịch cảnh trong đời Sự từng trải, những chiêm nghiệm cá nhân chưa có ở Lưu Quang Vũ lúc này
Nhưng khoảng thời gian đầu khi vừa xuất ngũ thì khác hẳn, Lưu Quang Vũ đã trải qua những năm tháng lao đao, nghề nghiệp chưa ổn định, xin mãi không được việc làm, hạnh phúc gia đình tan vỡ, con thì còn quá nhỏ, nhiều khi anh cảm thấy bế tắc, bi phẫn Nỗi cay đắng thấm vào giọng thơ anh khiến cho không một nhà xuất bản nào dám in những tập thơ anh viết lúc đó Cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt Những tiêu cực xã hội bắt đầu phát sinh… Anh thấy cuộc đời lúc đó sao còn nhiều điều bất như
ý, giống như “cuốn sách xếp lầm trang”.“ Có thể có một chút bi quan quá sớm nhưng
cũng đã thấy một cái gì như linh cảm trước thời cuộc Mười bảy năm sau, những chủ đề này sẽ trở lại trong kịch Lưu Quang Vũ, cố nhiên chín chắn hơn, chừng mực hơn, nhưng rõ ràng nó đã được định hướng từ ngày ấy” [ 25, 761] Một phần lớn thơ Lưu Quang Vũ
vẫn ở dạng bản thảo Sau khi anh qua đời, ba tập thơ nữa mới lần lượt được xuất bản
Trang 29Đó là tập: “Mây trắng của đời tôi”, “Bầy ong trong đêm sâu”, “Lưu Quang Vũ thơ và
đời”
Năm 1979, Lưu Quang Vũ cùng với một số tác giả khác biên soạn tập tiểu luận
“Diễn viên và sân khấu”, sau đó anh lần lượt cho ra đời hai tập truyện ngắn: “Mùa hè
đang đến” (1983), “Người kép đóng hổ” (1984) Năm 1979 cũng là năm đầu tiên, Lưu
Quang Vũ hoàn thành kịch bản dài đầu tay: “Sống mãi tuổi mười bảy” Sau đó là những kịch bản: “ T.15 đi về đâu” ( 1980 ), “Mùa hạ cuối cùng” chưa thể gọi là thành công Cho đến khi đoàn kịch Hà Nội diễn vở “Cô gái đội mũ nồi xám” (1981), do đạo diễn
Nguyễn Đình Nghi dàn dựng thì kịch của Lưu Quang Vũ bắt đầu tạo được sự chú ý của
khán giả Lần lựơt nhiều kịch bản khác ra đời : “Những ngày đang sống” ( viết xong năm 1981, đài truyền hình Việt nam dàn dựng năm 1983.) Kịch bản“Người tốt nhà số
5” (1981) dựng năm 1985, và đến đầu năm 2006, vẫn còn được trình diễn lại nhiều lần
trên sân khấu IDECAF
Trong năm 1981, Lưu Quang Vũ đã hoàn thành kịch bản “Hồn Trương Ba da hàng
thịt” Một số kịch bản được nhiều đoàn dàn dựng như “Thủ phạm là ai?” (1982), “ Cây ngọc lan của Huyền” (1982), “Nàng Sita” (1982), “Hoa xuyến chi” (1982),“Người trong cõi nhớ” (1982), “Nữ ký giả” (1983), “Đường bay” (1984), “Tôi và chúng ta” (1984),
“Hẹn ngày trở lại” (1984), “Nguồn sáng trong đời” (1984), “Lời nói dối cuối cùng”
(!985), “Ông vua hóa hổ” (1985), “Tin ở hoa hồng” (1986), “Khoảnh khắc và vô tận” (1986) Những kịch bản được trình diễn năm 1987 là:“Nêú anh không đốt lửa” , “Hoa
cúc xanh trên đầm lầy”, “Muối mặn đời em”, “Đam San”, “Chết cho điều chưa có”
Những kịch bản ra mắt công chúng năm 1988 là: “Quyền được hạnh phúc” , “Ông
không phải bố tôi” , “Đôi đũa Kim Giao”, “Linh hồn của đá”, “Lời thề thứ chín”, “Trái tim trong trắng”, Điều không thể mất”, “Bệnh sĩ” Cho đến cuối tháng 5 năm 2006, vở
“Bệnh sĩ” vẫn thu hút được nhiều khán giả đến sân khấu IDECAF
Trang 30Ngoài ra, Lưu Quang Vũ còn một số kịch bản ngắn như “Juy-li-et không trẻ mãi”,
“Đoàn thanh tra tới”, “Con tò te” v.v… Con số hơn năm mươi kịch bản gồm cả kịch nói
và kịch hát đủ để chứng minh sức sáng tạo cần cù và bền bỉ của nhà soạn kịch trẻ tuổi Kịch bản cuối cùng còn ở trên bàn làm việc , dưới dạng bản thảo chưa hoàn tất có
nhan đề “Chim sâm cầm không chết” Với chúng ta, Lưu Quang Vũ cũng không chết
Tâm hồn đầy nhiệt huyết, trẻ trung của anh vẫn còn đó, trong từng trang viết mà anh để lại cho đời
1.2.4 Vị trí của Lưu Quang Vũ trong văn học kịch Việt Nam :
“Nói đến sự phát triển của kịch những năm 80, không thể không nhắc đến Lưu
Quang Vũ, người đã trở thành một “hiện tượng” đặc biệt trong giới sân khấu.” [25, 682]
Thời kỳ 1980 – 1985, văn học kịch đi tiên phong làm nhiệm vụ khai vỡ mảnh dất hiện thực, nêu ra những vấn đề cốt lõi bức thiết, những nhu cầu bức xúc của công chúng đối với xã hội, chuẩn bị cho một công cuộc đổi mới đất nước mọi mặt toàn diện và sâu sắc Lưu Quang Vũ đã tham gia tích cực vào diễn đàn nghệ thuật , góp phần giương cao ngọn cờ tiên phong của thể loại văn học kịch, đưa ra công luận các vấn đề nóng bỏng liên hệ đến cuộc sống của người lao động chân chính Nhà văn Nguyễn
Khải từng nói: “Ở Sài Gòn dịp này đi ngả nào cũng đụng phải kịch Lưu Quang Vũ” [38,
220 ] Những kịch bản văn học của anh đã được trình diễn trên khắp đất nước, nói lên tiếng nói của đông đảo người lao động trước những vấn đề hiện thực gai góc, bằng nhiều cách thể hiện khác nhau Tiếng nói nghệ thuật từ kịch Lưu Quang Vũ một thời đã trở thành người bạn đồng hành, hoà nhập vào cuộc sống nhân dân để nắm bắt mạch đập và dòng chảy của thời đại
Trên tạp chí “Nghiên cứu nghệ thuật” số 1 năm 1985, nhận xét về văn học kịch thời kỳ từ năm 1975 đến 1984, nhà nghiên cứu Vũ Quang Vinh cho rằng giai đoạn này
Trang 31thoại kịch của ta đã có nhiều kịch bản có giá trị Ông kể ra một loạt nhan đề kịch của Đào Hồng Cẩm, Tất Đạt, Hoài Giao… và cả các vở kịch do Lưu Quang Vũ biên soạn
Theo Vũ Quang Vinh, “đó là những kịch bản đã phản ánh thực tế bằng những hình
tượng nghệ thuật sống động, giàu sức cuốn hút và đặt ra được những vấn đề có ý nghiã đối với cuộc sống Thêm nữa, đó còn là những kịch bản có cốt truyện hấp dẫn; có kịch tính căng thẳng, bao gồm nhiều chi tiết và sự kiện điển hình tinh lọc…”
“Tác giả trẻ Lưu Quang Vũ vẫn sống mãi trong chúng ta với “Cô gái đội mũ nồi
xám”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Nguồn sáng trong đời”, “Tôi và chúng ta”,
“Khoảnh khắc và vô tận”v.v…”[45,674] Lưu Quang Vũ không chỉ đóng góp cho sân
khấu một khối lượng kịch bản lớn ở tất cả các chủng loaị kịch nói, tuồng, chèo, cải lương mà trên phương diện nghệ thuật viết kịch, anh đã để lại những bài học thật quý giá Sự góp mặt của Lưu Quang Vũ vào dòng kịch thời hậu chiến cùng với các thế hệ đàn anh Đào Hồng Cẩm, Tất Đạt, Thanh Hương, Xuân Trình… đã tạo nên không khí sôi động của kịch thời đó
Lưu Quang Vũ là tác giả trẻ tuổi nhất được nhận phần thưởng cao quý : giải thưởng Hồ Chí Minh Từ năm 2000 đến nay, một số vở kịch của Lưu Quang Vũ đã
được các đoàn nghệ thuật dàn dựng lại Nhà hát kịch Việt Nam dựng vở: “Nguồn sáng
trong đời” Nhà hát kịch thành phố Hồ Chí Minh với vở “Đường bay” trình diễn vào dịp
22 tháng 12 năm 2004 kỷ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam Đoàn ca
kịch Huế dựng lại vở “Điều không thể mất” Hai vở kịch tiêu biểu nhất của anh là
“Hồn Trương Ba da hàng thịt” ( vở diễn xuất sắc nhất trong liên hoan sân khấu các nước XHCN ở Liên Xô năm 1990) và “Tôi và chúng ta” gần đây đã được trình diễn
trong chương trình Nhà hát truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam Sân khấu kịch
IDECAF đã dựng lại vở “Tin ở hoa hồng”, cho đến năm 2006, sân khấu này vẫn liên tục trình diễn hai vở: “Người tốt nhà số 5” và vở “Bệnh sĩ” Ngày 3 tháng 12 năm 2005,
Trang 32vở “Hoa cúc xanh trên đầm lầy” được Nhà hát truyền hình dựng lại phục vụ đông đảo khán giả truyền hình Còn vở “Trái tim trong trắng” được công diễn và phát sóng vào
lúc 20 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 năm 2006 trên đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, kênh số 9 Trong khoảng gần hai mươi năm kể từ ngày Lưu Quang Vũ mất , công chúng vẫn đến rạp để xem kịch của anh do thế hệ diễn viên trẻ hôm nay dàn dựng Thật hiếm thấy tác giả nào mà kịch bản có được sức sống như thế
Cuộc đời Lưu Quang Vũ khá ngắn ngủi nhưng với lòng nhiệt thành, đam mê nghệ thuật và quan niệm sáng tác đúng đắn, anh đã xây dựng được sự nghiệp văn chương phong phú ở cả ba thể loại trữ tình, tự sự và kịch Hoàn cảnh lịch sử – xã hội thời hậu chiến đã có tác động nhất định đến quá trình sáng tác và nội dung tác phẩm của anh Giai đoạn cuối đời, anh đặc biệt thành công trong thể loại kịch và nhiều nhà nghiên cứu đã thừa nhận thành công vang dội của kịch Lưu Quang Vũ trên văn đàn những năm
80 (thế kỷ XX) Độ lùi thời gian cho phép chúng ta đi vào nghiên cứu, khảo sát những văn bản thoại kịch của anh như một việc cần làm để hình dung đầy đủ chân dung tinh thần người nghệ sĩ tài hoa Qua đó xác tín những đóng góp nhiều mặt của anh vào thành tựu chung của văn học hiện đại Việt Nam sau năm 1975
Trang 33CHƯƠNG HAI CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ
Nhan đề của luận văn là “Nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ”, song yếu tố nghệ thuật và yếu tố nội dung trong tác phẩm văn học luôn có sự gắn bó hữu cơ để làm toát lên những giá trị tư tưởng- tình cảm mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Sinh thời, Lưu Quang Vũ không nêu rõ bản thân mình chọn nguồn cảm hứng sáng tác nào là chủ đạo Kịch của anh được sáng tác từ nhiều nguồn cảm hứng phong phú Nhưng luận văn này chủ yếu tìm hiểu cảm hứng nhân văn – một trong những yếu tố tạo nên giá trị dài lâu cho những kịch bản nổi tiếng của anh
Cảm hứng sáng tác là khâu khởi phát của sự sáng tạo.“Thuật ngữ cảm hứng được
hiểu như là nhiệt hứng, niềm say mê, là sự trào dâng của tư tưởng – tình cảm cao độ khi người nghệ sĩ chiếm lĩnh bản chất của cuộc sống ” [20, 81] Cảm hứng nhân văn là
cảm hứng sáng tác theo khuynh hướng tư tưởng nhân văn tiến bộ của thời đại mà nhà
văn đang sống Trên trang 7 của cuốn sách có nhan đề: “Chủ nghĩa nhân văn và chủ
nghiã xã hội” do nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1956, V.P Vôn-ghin đã đưa ra
định nghiã: “Chủ nghiã nhân văn là toàn bộ những quan điểm đạo đức và chính trị bắt
nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên, kỳ ảo, từ những nguyên lý ngoài đời sống của nhân loại, mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó, và những nhu cầu, những khả năng ấy đòi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn.” Nhìn từ khiá cạnh nào đi chăng nữa thì chủ
nghiã nhân văn đều hướng tới sự phát triển tự do, đầy đủ của con người, cho con người quyền được sống theo nghiã đầy đủ nhất của từ này Đối với các nhà nhân văn chủ
nghiã, “hạnh phúc của nhân dân là luật lệ tối cao”, trong cõi thế, không có gì quy ùhơn
con người Chính tinh thần đúng đắn của tư tưởng nhân văn đã tạo nên một giá trị vĩnh
Trang 34hằng không đổi dời, dầu cho thế giới không ngừng vận động và xã hội loài người có biến chuyển như thế nào đi nữa thì những kiệt tác nghệ thuật có giá trị đích thực đều ít nhiều mang tinh thần của chủ nghiã nhân văn
Tiếp nhận kịch Lưu Quang Vũ sẽ thấy ở anh một thái độ nâng niu, trân trọng chất người, xem con người bất toàn là giá trị cao nhất Anh luôn mở rộng lòng mình, viết bằng nhiệt tình của ngòi bút nhân văn nhân đạo chủ nghiã, với đôi tay nhỏ bé mà dường như lúc nào cũng muốn dang ra ôm lấy toàn thể những thân phận bất hạnh, những kiếp người chìm trong gian nan, cay cực
2.1 Đồng cảm với những số phận bi kịch :
Cũng như các nhà văn, nhà thơ có trách nhiệm với đời, Lưu Quang Vũ thường trăn trở về lẽ sống của người nghệ sĩ chân chính Với anh, khi đã hiến mình cho nghệ thuật, nhà thơ phải mang trong lòng một trái tim thao thức:
“Đau nỗi đau của mỗi trái tim người
Để thơ anh mang lửa đến cho đời
Trên chữ tài chữ tâm kia phải lớn”
Lưu Quang Vũ đặc biệt nhấn mạnh đến cái “tâm” của người nghệ sĩ, sự tỉnh táo của chữ “tài” cần được bù đắp thêm bằng cái tình sâu nặng với đời Sau nhiều lần trải nghiệm đớn đau trong kiếp người , người nghệ sĩ nhân văn là cá thể còn nuôi dưỡng được những cảm xúc dạt dào để phổ vào từng giọt chữ sự ấm áp của tình người, tình đời Linh hồn của tác phẩm nghệ thuật cũng nằm ở dây Qua kịch Lưu Quang Vũ,
người xem nhận ra ở anh một thái độ cảm thông và đề cao “quyền được hạnh phúc”
của con người
Trang 35Trong vở “Tôi và chúng ta”, Ngà là nữ nhân vật phải chịu đựng nhiều nỗi éo le,
kém may mắn Tuổi thanh xuân của chị đã qua đi trong cái heo hút, âm u của núi rừng Trường Sơn ngày đánh Mỹ Hoà bình lập lại, thoát khỏi nỗi khổ hạnh do chiến tranh nhưng những thanh niên xung phong như Ngà lại phải đối mặt với bao nỗi khổ đau khác vì thời trẻ phải cầm súng, không được cầm bút để học hành đến nơi đến chốn Lại thêm cuộc đời riêng không có chút gì sáng sủa, chị lỡ yêu một người đàn ông đã có vợ, rồi chị mang thai, dù chưa từng cưới hỏi Ban giám đốc đưa Ngà xuống làm lao công tạp dịch, cái án kỷ luật càng khơi sâu tội lỗi, chị càng thêm đau khổ
Theo lề luật phong kiến: “Nam nữ không được trao đưa hay tiếp nhận vật gì sát
tận tay nhau” (Mạnh Tử); ở hương thôn, gái “không chồng mà chửa” bị phạt vạ, bêu
riếu, nghiêm trị như một trọng phạm Lưu Quang Vũ không tỏ ra ủng hộ cho cách đối xử với con người theo lề thói phi nhân bản như vậy Anh hiểu rằng khi hạnh phúc càng
xa tầm tay, con người càng khát khao hạnh phúc Năm 1984, dù không khí xã hội chưa thực sự cởi mở, anh đã dám nêu lên quan niệm thể tất cho những phụ nữ như Ngà Anh miêu tả một môi trường thân thiện nơi xí nghiệp Thắng Lợi Sau những lầm lỡ, Ngà được các công nhân cùng phân xưởng cảm thông, giúp đỡ Lan Anh thanh minh hộ Ngà: “Chị Ngà muốn có một đứa con Chúng ta tôn trọng ý muốn ấy” Thanh ( nữ kíp trưởng ) thì thẳng thắn nói với giám đốc về hoàn cảnh của Ngà, chị “không còn ở cái tuổi để lập gia đình nữa Nhưng chị lại rất muốn có một đứa con… Đó là quyền của chị ấy.”[48, 17] Giới trẻ và những người lớn tuổi (Ông Quých, Bà Bộng) cũng hết lòng với đứa trẻ vô tội Chuyện về Ngà gợi nhớ câu ca dao của người xưa :
“ Không chồng mà chửa mới ngoan
Có chồng mà chửa thế gian thường tình”
Trang 36Tính nhân văn trong “Tôi và chúng ta” thực chất đã tiếp nối và phát huy truyền
thống nhân đạo của người bình dân xưa
Nếu “Tôi và chúng ta” do Lưu Quang Vũ tự xây dựng cốt truyện thì “Hồn Trương
Ba da hàng thịt” được viết dựa vào một truyện cổ dân gian cùng tên Truyện cổ tích kể
về tài năng chơi cờ của Trương Ba, ban đầu anh ta rất cao ngạo nhưng sau đó biết lỗi và xin được làm học trò của Đế Thích Truyện giáo huấn người đời phải biết khiêm nhường không nên kiêu căng, cũng đừng đánh giá người khác qua cái thân xác bên
ngoài Còn kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” lại khai thác thêm nhiều lớp ý nghiã
mới thông qua cảm hứng về thân phận của người dân “thấp cổ bé họng” Trương Ba được Lưu Quang Vũ miêu tả là một người nông dân rất mực hiền hậu, chân chất nhưng số phận bất hạnh vì quyền sống của người nông dân lương thiện này bị bọn quan chức thiên đình xâm phạm nghiêm trọng
Tác giả đã bộc lộ niềm tin yêu, nỗi thương cảm trước một số phận bất hạnh, oan khiên, nhẫn nhục mà vẫn không được yên ổn, hạnh phúc Qua đo,ù người xem cũng hiểu rõ quan niệm của nhà văn về con người, anh tin rằng những linh hồn cao khiết, chân chính luôn hướng tới cái thiện, họ thà chết chứ không sống tầm thường chiều theo bản năng thân xác, bởi vì người ta sống không chỉ bằng thân xác
2.2.Xót xa khi chứng kiến những đau thương, mất mát vì chiến tranh:
Năm 1972, ngay từ khi chiến sự vẫn đang diễn ra ác liệt, không ai biết bao giờ
cuộc chiến mới kết thúc,“Lưu Quang Vũ đã lắng nghe được bản kết toán chiến
phí mà đến nay nhiều người mới biết: những tổn thất về người và của, những tổn thất về tâm trạng…” [25, 763] Một buổi chiều cuối năm , anh đã viết những dòng thơ dự cảm
về thời hậu chiến:
“Cuộc chém giết lặng dần
Trang 37Các dũng sĩ thân tàn ma dại
Đập nát những cây đàn quý,
Ngồi nướng thịt cóc ăn,
Con mèo đi hai chân
Kêu lên tiếng trẻ khóc”
(‘Chiều cuối’, viết 11/1972)
Sau này, trong các vở kịch viết về những người lính tham chiến, Lưu Quang
Vũ tiếp tục khơi sâu cảm hứng xót xa, tê tái khi con người bất đắc dĩ phải gánh
chịu nạn can qua Ngày ở ngã ba Đông Dương, tiêủ đoàn của Thanh (Tôi và chúng ta)
hứng chịu nhiều nhất bom na-pan và những trận mưa thuốc độc hóa học Mỹ Cuối cùng, cái chết đã đến lúc Thanh chưa quá tuổi ba mươi, chưa từng được hưởng hạnh phúc tình yêu mà Việt muốn đem đến cho chị
Từ năm 1984, Lưu Quang Vũ đã sớm đề cập đến tác hại khôn lường của chất độc hóa học Mỹ, vấn đề này không chỉ có tính thời sự, mãi đến hôm nay, nó không hề cũ đi
mà vẫn hết sức thiết thực Tuần báo“Tuổi trẻ chủ nhật”(trang 12) ra ngày 1/ 8/ 2004 đã
đưa tin về vụ công dân Việt Nam kiện một số công ty hoá chất Mỹ vì chúng sản xuất chất độc da cam cho quân đội Mỹ sử dụng Thông tấn xã AP, mạng Military.com của quân đội Mỹ và báo chí Mỹ đã loan tin này tạo một làn sóng xôn xao dư luận Anđru Dang, đại diện của Quĩ Hòa giải và phát triển FFRD (Fund for Reconciliation &
Development) cho biết: “Người Mỹ biết chất độc da cam là gì và hiểu rằng vụ kiện này
là thích đáng, do lẽ cựu chiến binh Mỹ cũng đã từng kiện các công ty hóa chất ra tòa vì những tổn thương do chất dioxin” Hạ tuần tháng 2 năm 2004, hai dân biểu hạ viện
thuộc Đảng Lao Động là Côhen và Hary đã đưa vấn đề vụ kiện vào nghị trình: “Hạ
viện hoan nghênh … việc tiến hành vụ kiện”
Trang 38Khi cuộc chiến đang diễn ra, đau thương mất mát là những điều thường nhật không thể tránh khỏi, nhưng văn học cách mạng tránh nhắc đến tổn thất Đổi mới quan niệm nghệ thuật, nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức, nhà văn càng xót xa trước
thảm kịch chiến tranh và nhận ra cái giá của cuộc sống hoà bình Vở “Đường bay” kể
lại một bi kịch thê lương đối với người chiến sĩ không quân khi máy móc chưa đủ độ chuẩn xác Biên đội anh Bốn xuất kích trước, biên đội anh Hoà xuất kích sau, bay về hai hướng khác nhau Sau cuộc quyết đấu trên không, anh Bốn chuẩn bị hạ cánh thì phát hiện trong bóng tối trước mặt có một chiếc máy bay, vì máy bộ đàm thông tin liên lạc vẫn bị hỏng, anh Bốn không nghe được tiếng nói từ trung tâm chỉ huy, anh liền tự ý lao lên đuổi theo truy sát và nổ súng Tận mắt nhìn thấy chiếc máy bay bốc cháy, anh Bốn mới hạ cánh Nhưng lúc bước xuống sân bay, Bốn kinh hoàng như người phát điên khi biết chiếc máy bay anh vừa bắn hạ chính là máy bay của anh Hòa- người đồng đội thân thương Không thể tha thứ cho lỗi lầm của bản thân, trong trận không chiến tiếp theo, anh Bốn đã lao thẳng máy bay của mình vào máy bay Mỹ Sau này, con trai anh Bốn (Viễn) yêu Hằng (con gái anh Hoà) nhưng khi biết chuyện của bố mình, Viễn luôn cảm thấy giữa anh và Hằng có một sự ngăn cách vô hình, khó có thể vượt qua Lưu Quang Vũ không né tránh sự thật khốc liệt, dù sự thật ấy chỉ là cá biệt Nhưng cái quá khứ đau thương dù là cá biệt ấy đã gây di căn nặng nề tới thế hệ đời sau, nhiều thiệt thòi, bất lợi mà con em của người lính phải gánh chịu Bằng sự mẫn cảm của người gắn bó máu thịt với nỗi khổ nhân dân, Lưu Quang Vũ sớm nhận ra di họa dài lâu của cuộc leo thang chiến tranh đẫm máu Những mất mát đau thương không thể đếm hết, không thể vơi đi theo thời gian năm tháng So với những đồng đội
đã hy sinh, Tuấn (Đường bay), Thế Anh (Điều không thể mất) may mắn còn được sống
Nhưng đi ra khỏi cuộc chiến, đời họ cũng không có gì sáng sủa hơn, với thương tích đầy
Trang 39trên mình, họ đã mất đi người vợ vì nhiều lý do, trong đó có cả nguyên nhân là cuộc chiến dài lâu, đứt liên lạc, người hậu phương không thể chờ đợi mãi
Lưu Quang Vũ hiểu và đánh giá đúng “cái giá mà người đi trước phải trả cho cuộc sống chúng ta hôm nay” [47, 53] Bằng những trải nghiệm của bản thân, anh hiểu rõ cuộc sống của người lính buổi hậu chiến thật không dễ dàng Ngay cả khi còn giữ được tính mạng của mình, trở lại đời thường, người lính vẫn phải hứng chiụ những mất mát không gì bù đắp nổi: mất đồng đội, mất hạnh phúc tình yêu, người lớn tuổi thì mất cơ hội học hành đến nơi đến chốn, con cháu họ tất nhiên cũng gánh chịu di hại nặng nề…
Bi kịch chiến tranh với những éo le ngang trái, cô đơn bất hạnh trong kịch Lưu Quang Vũ đã tạo được sự đồng cảm sâu xa nơi người xem
2.3 Tin yêu con người và cảm thông với thế hệ trẻ:
Câu chuyện cảm động về“Nguồn sáng trong đời” được viết bởi một ngòi bút tràn
đầy niềm tin vào lòng tốt của con người Hoạ sĩ thương binh (Chí) được cứu thoát khỏi cảnh mù lòa vì có Toàn âm thầm giúp đỡ Vợ của Toàn cũng yêu cầu bác sĩ giấu không cho Chí biết ai đã cho anh đôi mắt Tác giả rất yêu mến, trân trọng những tâm hồn cao thượng, “không sống cho riêng mình”, họ vẫn đang làm đẹp thêm cho đời Lưu Quang Vũ thường tỏ ra đồng cảm với những người trẻ tuổi khi đường đời trước
mặt họ quá nhiều khó khăn thử thách Hưng (Bệnh sĩ), Viễn (Đường bay), Đôn, Tạ, Xuyên (Lời thề thứ chín), Hiệp (Người tốt nhà số năm) đều là những nhân vật trẻ tuổi
non nớt, thiếu kinh nghiệm nhưng từ họ toát lên chất trẻ trung, năng động Lưu Quang Vũ luôn sẵn mối cảm thông với sự giản đơn, nóng vội, xốc nổi của lớp trẻ Với anh, những thanh niên vụng về, không giả dối che đậy thật đáng quý, sự có mặt của họ làm cho cuộc sống thêm sôi nổi, phong phú, tươi nguyên
2.4 Châm biếm, đả kích cái ác, cái xấu:
Trang 40Cảm hứng nhân văn trong kịch Lưu Quang Vũ còn được thể hiện ở thaí độ lên án những lực lượng đi ngược lại quyền lợi của nhân dân Nhà văn không đồng tình với những kẻ cơ hội “làm láo báo cáo hay” để mưu cầu danh tiếng, lợi lộc riêng cho cá nhân , không kể đến những thương đau mà bà con làng xã phải gánh chịu
Xã Hùng Tâm được miêu tả trong “Bệnh sĩ” như một bức tranh hỗn độn, nơi đó
mọi người không được tổ chức tốt để làm việc mà bị xô đẩy chạy theo những thứ hão huyền, kẻ có chức vụ ở địa phương sống bằng những cái giả, đổi mới giả, tiên tiến giả, thành tích giả Chủ tịch xã khoác lác rằng dưới sự lãnh đạo tài năng của ông, đời sống nhân dân sẽ sung túc giàu có, đến mức ai cũng mơ ước sáng ra ngủ dậy thấy mình được là người của xã Hùng Tâm Nhưng thực chất sự việc diễn ra ngược lại, sản xuất nông nghiệp trì trệ, nhân công bị điều đi làm đủ mọi việc tạp dịch, đất ruộng bỏ không, phân bón chẳng có, nạn thiếu thóc, thiếu gạo thiếu ăn luôn đe dọa người dân
Lưu Quang Vũ đã đứng về phía sự thật để vạch mặt cái xấu, cái giả trá vốn đang đầy rẫy ở nông thôn mà chịu nhiều cay đắng nhất vẫn là người nông dân, cả đời lam lũ
nhọc nhằn để rồi cả đời phải chịu thua thiệt như ông Thịnh, bà Xuyên (Lời thề thứ
chín) Lưu Quang Vũ nhấn mạnh điều thứ chín trong “Mười lời thề của quân nhân”
cách mạng: “ Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân Không lấy của dân, không dọa
dân, không quấy nhiễu dân Để tạo lòng tin cậy yêu mến của nhân dân, phải thực hiện quân dân nhất trí” [39, 210] Ýù nghiã cao cả của cuộc đời người lính là “vì nhân dân
quên mình” Nhưng thật đau xót nếu như trong lúc họ chiến đấu hy sinh bảo vệ biên giới thì ở hậu phương, bọn quan tham phè phỡn, kéo bè kéo cánh, mặc sức hoành hành, không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà còn hãm hại thân nhân của bộ đội Lưu Quang Vũ vô cùng căm phẫn trước tệ nạn “cường hào mới” ở nông thôn Dường như trong toàn bộ sáng tác của anh luôn băn khoăn một câu hỏi: Con người là gì