Từ những bài thơ nặng trĩu ưu tư và tâm sự cá nhân, Lưu Quang Vũ đã đi đến những kịch bản kết hợp hài hòa giữa xung đột xã hội và xung đột nội tâm, giữa nghệ thuật tái hiện các quá trìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thời gian đi qua, khắc nghiệt nhưng là thước đo sòng phẳng nhất, công bằng nhất
đối với mọi sáng tạo Vượt lên trên tất cả những mất mát, cái còn lại là giá trị những
trang viết mà người nghệ sĩ để lại cho đời Đến với kịch bản văn học của tác giả Lưu Quang Vũ chúng tôi nhận thấy bằng tất cả tài năng và tâm huyết những sáng tạo nghệ
thuật của ông đã “thắng được thời gian và ở lại với lòng người” Qua những trang kịch
sinh động, Lưu Quang Vũ đã góp sức xây đời, tác động tích cực vào xã hội, kiên quyết chống sự bảo thủ trì trệ, sự lộng hành của cái xấu, cái ác Chứng kiến bao cảnh đời chìm nổi thời hậu chiến, Lưu Quang Vũ không ngừng băn khoăn, trăn trở về những nổi niềm nhân thế và nghiền ngẫm niềm bi cảm của phận người Chính vì vậy mà tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ như một dòng sông suy tưởng chở nặng tình yêu thương con người chảy mãi về nơi vô tận Vì lẽ đó, với Lưu Quang Vũ cái chết không làm cho ông mất đi mà tấm lòng nhiệt huyết với đời vẫn còn đọng lại Kể từ năm 1985, qua mấy đợt hội diễn sân khấu hầu như khán giả đương thời không ai là không biết đến Lưu Quang Vũ Nhiều kịch bản của anh đã làm xôn xao đất nước, gây chấn động dư luận Nhiều nhà nghiên cứu công nhận một số kịch bản của Lưu Quang Vũ có sức lay
động lòng người, có hiệu quả to lớn đối với xã hội và giá trị nghệ thuật của chúng góp
phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học kịch nước nhà Và năm 2000 Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật do nhà nước trao tặng đã xác nhận sự
đóng góp quan trọng của nhà soạn kịch Lưu Quang Vũ Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm
hiểu kịch bản văn học của ông là việc làm rất có ý nghĩa trong thời điểm hiện nay Đây
có lẽ cũng là một thái độ trân trọng đối với những tác phẩm kịch; đồng thời cũng là một cử chỉ tỏ lòng kính trọng đối với một tài năng như Lưu Quang Vũ
Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến trái chiều về kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ Vậy sự thực tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ có những thành công và hạn chế gì?
Đâu là nét riêng, độc đáo của nhà soạn kịch trẻ này mà công chúng lúc bấy giờ lại đổ
xô đến rạp xem kịch? Những nhà soạn kịch ngày nay có thể rút kinh nghiệm, học tập
được điều gì sau khi tìm hiểu kỹ lưỡng quan niệm nghệ thuật của người viết kịch đi
Trang 3trước? Với tình yêu thể loại kịch người làm luận văn mạo muội xin được vén lớp bụi thời gian tìm về quá khứ để phần nào hiểu rõ hơn một số kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ và củng cố thêm cho bản thân những kiến thức liên quan đến thể loại kịch Hiện nay, tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông với hai tác phẩm kịch
“Tôi và chúng ta” và “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Qua đó, vị trí, vai trò của thể loại kịch trong nền văn học nghệ thuật nước nhà đang dần được khẳng định Song, trong thực tiễn thì vẫn chưa có sự quan tâm thỏa đáng xứng tầm với sự đóng góp của văn học kịch nói chung cũng như đối với tác giả Lưu Quang Vũ nói riêng Cho nên, chọn
đề tài này chúng tôi mong muốn phần nào bù đắp khiếm khuyết đó Đồng thời, người
làm luận văn mong muốn hoàn thiện hơn kiến thức lịch sử văn học để những giá trị nghệ thuật đích thực không bị bỏ qua và có cơ hội tiếp xúc với cái hay cái đẹp của văn chương trong thể loại kịch
Đó là lí do vì sao chúng tôi mạnh dạng chọn đề tài còn khá mới mẻ này: “Quan
niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong kịch Lưu Quang Vũ”
2 Lịch sử vấn đề
Lưu Quang Vũ bước vào làng viết kịch chuyên nghiệp từ năm 1980, bắt đầu bằng
vở “Sống mãi tuổi 17”, khép lại cuộc đời và sự nghiệp bằng vở “Chim sâm cầm không chết” Hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ đã làm thay đổi bộ mặt của sân khấu nước nhà Từ khi kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ được đưa lên sân khấu, rải rác trên các báo, tạp chí có đăng những bài phê bình, bình luận tỏ rõ sự quan tâm; đặc biệt từ hội diễn sân khấu năm 1985, sự chú ý quan tâm này càng rõ rệt hơn Có thể phân chia dựa trên mốc thời gian là tháng 8 năm 1988 - thời điểm Lưu Quang Vũ qua đời để thấy rằng cái chết chẳng những không làm người đời lãng quên mà ngược lại cái tên Lưu
Quang Vũ vẫn không ngừng được nhắc đến như một “hiên tượng”
2.1 Trước khi Lưu Quang Vũ qua đời (tháng 8 năm 1988)
Tháng 3 năm 1985, Nguyễn Thị Minh Thái đã viết bài báo với tựa đề “Nguồn sáng trong đời – một vở diễn đẹp giản dị” Tác giả bài báo đã nhận xét kịch bản văn
học “Nguồn sáng trong đời” (Lưu Quang Vũ) được viết bằng “một lối bình dị”, ấn tượng mạnh do kịch bản văn học tạo ra “chính là sự giản dị, không hoa sói hoa hòe,
Trang 4không cầu kỳ mảng miếng, không ồn ào khoa trương”[1,254]; Nguyễn Thị Minh Thái
còn liên hệ so sánh vẻ đẹp giản dị mà hàm súc, tinh tế của vở “Nguồn sáng trong đời” với cái đẹp mộc mạc thường thấy ở kịch của văn hào Sêkhốp Ở một bài báo khác, khi
đề cập đến kịch bản “Người trong cõi nhớ” (Lưu Quang Vũ), Nguyễn Thị Minh Thái
viết “Đạo diễn Đoàn Bá ưa thích nhất chất thơ, chất triết lí của kịch bản” bởi vì tác giả kịch bản có “cách tiếp cận đời sống hôm nay một cách mới lạ, không giẫm lên lối
mòn thường quen…đi đến lối phản ánh theo kiểu “hiện thực tả ý”” [1,249] Sau khi
nhận xét, ngợi khen chất lượng văn học của kịch bản, Nguyễn Thị Minh Thái xúc động
kết thúc bài báo: “Tôi đã nghe thấy những giọt nước mắt lặng thầm trong lòng và nhìn
thấy lệ long lanh trên nhiều đôi mắt người xem trong khán phòng hôm ấy ”[1; 250]
Có lẽ, sân khấu đã biểu đạt trọn vẹn dụng ý nghệ thuật của tác giả kịch bản nên vở diễn đã tác động sâu sắc đến tâm linh công chúng xem kịch Vì vậy, “Người trong cõi nhớ” trở thành một trong những kịch bản được Huy chương vàng Hội diễn 1985
Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật số tháng 5 năm 1985 đã đăng một bài viết ngắn
điểm qua những vở diễn có giá trị trong đợt hội diễn sân khấu lần II, Nguyễn Phan
Thọ nhắc đến vở “Tôi và chúng ta” (Lưu Quang Vũ) đầu tiên và ví tác phẩm như “một
mũi nhọn trong cuộc đấu tranh chống cung cách làm ăn trì trệ, bảo thủ” [80] Còn ở
tạp chí sân khấu tháng 7 năm 1985, Trần Trọng Đăng Đàn đã cho rằng có không ít tác phẩm đoạt giải cao tại các hội diễn rồi sau đó chìm nghỉm vì không hề gây được chú ý
của công chúng, nhưng vở “Tôi và chúng ta” thì khác, công chúng xem kịch “có lúc
reo vui đồng cảm” nhiều lúc lại “xúc động lắng im, biết bao tràng vỗ tay cổ vũ, ngợi khen nhiệt liệt” Điều Trần Trọng Đăng Đàn tâm đắc nhất là “kịch Tôi và chúng ta bằng cái nhan đề và chủ đề xuyên suốt của nó, đã thông qua nghệ thuật mà lý giải rành mạch, luận chiến sắc bén để bảo vệ quan điểm của chúng ta về tình người, về chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, về mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể” đập
tan sự xuyên tạc của bọn phản động thù địch, bác bỏ luận điệu: “người theo chủ nghĩa
xã hội là chịu chối bỏ tình cảm, không nhìn nhận sự hiện diện của cái tôi, xem cá nhân chỉ là con số không”
Trên “Tạp chí Văn học” số tháng 1 năm 1986, Tất Thắng nêu một trong những
nguyên nhân thành công của vở Tôi và chúng ta và một số vở kịch khác: “ Sức hấp
dẫn mà kịch đạt được do sự nhạy bén, kịp thời mà có thể nói là đúng lúc của đề tài mà kịch diễn tả”, Tất Thắng cũng khẳng định vở kịch có sức âm vang mãi mãi và sẽ tồn
Trang 5tại với thời gian: “Giá trị lâu dài của tác phẩm phụ thuộc vào tính nhân đạo cao cả và
tính triết lý sâu sắc của vấn đề mà nó đặt ra” Trên tạp chí sân khấu thành phố Hồ Chí
Minh (số 1/1986), Vũ Hải giới thiệu những nhà soạn kịch đạt được huy chương Vàng
hội diễn sân khấu, trong đó Lưu Quang Vũ là người trẻ nhất chính “chất văn học” đã
tạo nên sức hấp dẫn cho kịch anh Và chính Christian Hoche (Pháp) đã gọi ông là
“Môlie ở Việt Nam (…) với ngòi bút chua cay, với khuynh hướng sâu sắc chống chủ
nghĩa xu thời”
Cũng ở “Tạp chí văn học”, số 5 năm 1986 có đăng bài viết khá sâu sắc “Kịch
Lưu Quang Vũ - những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” của Phan Trọng Thưởng
Trước hết, ông đã điểm qua những thành công nổi bật của nhà viết kịch Lưu Quang
Vũ Từ đó rút ra nhận xét “Cùng với các vở: Nhân danh công lí (Doãn Hoàng Giang),
Mùa hè ở biển (Xuân Trình), Tôi và chúng ta và Nguồn sáng trong đời của Lưu Quang
Vũ là những sự kiện nghệ thuật đáng chú ý” Theo Phan Trọng Thưởng, để lí giải
thành công của Vũ thì ngoài những yếu tố như: kịch Lưu Quang Vũ đáp ứng yêu cầu
thời sự, đề cập những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống…với ông thì nên “hướng sâu
sự tìm tòi về phía cá tính sáng tác, phía cá nhân nhà văn” Mặt khác, ông cho rằng “ cảm hứng chủ đạo trong kịch của Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái
đẹp, cái thiện”; “khát vọng chính” của Lưu Quang Vũ là “khát vọng hoàn thiện cuộc
sống, hoàn thiện con người Cho nên, vượt qua cả những đề tài có tính chất thời sự, kịch của anh hướng tới những giá trị bền vững lâu dài”[2; 291] Sau đó, Phan Trọng
Thưởng phân tích một số tác phẩm cụ thể và đi đến kết luận : thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ rất đa dạng nhưng không phân biệt thế giới người tốt và thế giới
người xấu Giải thích cho nhận định này ông khẳng định “Bởi vì trong quan niệm nghệ
thuật của anh, con người về bản thể, tồn tại cả mặt xấu lẫn mặt tốt” [2; 295]
Và Trần Quê trong một bài viết đăng trên “Tạp chí sân khấu”, số 6, năm 1986
đã giới thiệu về Lưu Quang Vũ - “ Một tác giả trẻ trưởng thành từ tạp chí Sân khấu”
Trong bài viết có đưa ra nhận xét: các kịch bản của Lưu Quang Vũ trải rộng trên nhiều
đề tài, nhưng ở bất cứ đề tài nào, tựu chung lại cũng “ nói về con người đương thời,
nhất là con người mới xã hội chủ nghĩa” “ Anh táo bạo sộc tới những vấn đề khó khăn nhất, hóc búa nhất, nói thẳng, nói ngay vào những vấn đề mà có người còn ngần ngại ” Kết thúc bài viết là lời nhận xét “Lưu Quang Vũ đang là một cây bút trẻ nhiều
Trang 6triển vọng, một hiện tượng mới, một nốt nhạc khỏe khoắn trong bài ca hành khúc của nền nghệ thuật sân khấu cách mạng” [2;302]
2.2 Sau khi Lưu Quang Vũ qua đời (từ tháng 8 năm 1988 đến nay)
Đến thời điểm này lượng bài viết tưởng nhớ Lưu Quang Vũ ngày càng nhiều đăng trên tạp chí Sân Khấu Và đặc biệt lượng bài báo viết về kịch của ông nhiều hơn
trước Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu văn học đã có những bài viết đi sâu tìm hiểu kịch Lưu Quang Vũ
Dưới nhan đề “Những vần thơ thấm đẫm băn khoăn”, nhà nghiên cứu văn học
Huỳnh Như Phương tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Lưu Quang Vũ - một nhà thơ trẻ
tâm hồn “phức hợp” nhạy cảm và đầy cá tính Theo Huỳnh Như Phương, ở chặng sau của quá trình sáng tạo, Lưu Quang Vũ “được đón chào như một nhà viết kịch đã nói
lên một cách thấm thía những nỗi lo âu và băn khoăn của nhân dân trước những vấn
đề thế sự Từ những bài thơ nặng trĩu ưu tư và tâm sự cá nhân, Lưu Quang Vũ đã đi đến những kịch bản kết hợp hài hòa giữa xung đột xã hội và xung đột nội tâm, giữa
nghệ thuật tái hiện các quá trình lưu chuyển của đời sống với nghệ thuật thể hiện các trạng thái của tính cách”[4;108]
Trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (6/1989), Hà Diệp - tác giả bài viết: “Về một
mảng kịch của Lưu Quang Vũ” đã nhận xét ông là “một tài năng nghệ thuật thật sự”, một “hiện tượng sân khấu hiếm thấy trong lịch sử sân khấu từ trước đến nay Kịch của
anh tuy đi vào nhiều loại đề tài song tất cả đều tập trung vào chủ đề con người, trước hết là con người hôm nay ”[2;306] Đồng thời, “kịch Lưu Quang Vũ giúp người xem
mở rộng kiến thức cuộc sống và con người ở nhiều lĩnh vực”
Ở báo “Người Hà Nội” (số ra ngày 11- 11- 1989), tác giả Cao Minh đã viết bài
“Kịch Lưu Quang Vũ và những vấn đề của đời sống”, một lần nữa tác giả khẳng định
tài năng và cống hiến của nhà viết kịch trẻ tuổi “Thông qua kịch của mình, Lưu
Quang Vũ góp phần quan trọng làm nên bộ mặt sân khấu thập kỷ tám mươi Và, cất tiếng nói dũng cảm thức tỉnh cái tốt đẹp đang bị lấp phủ, cảnh tỉnh cái xấu đang hoành hành, ngự trị trong cuộc sống đương đại”
Mười năm sau ngày ông mất, trong cuốn sách “Một số gương mặt văn chương học thuật Việt Nam hiện đại” (xuất bản năm 1998) Phong Lê phác thảo chân dung và
Trang 7sự nghiệp của 54 tác giả góp phần vào tiến trình hiện đại hóa đời sống văn chương và
học thuật của thế kỷ XX Theo Phong Lê, “những năm 80 Vũ đạt được rất nhiều vinh
quang trong kịch trường Vũ luôn dành các đỉnh cao có lúc đến chóng mặt Cũng có thể nói ngọn đuốc Lưu Quang Vũ trở nên rực sáng trong bầu trời sân khấu… Kịch trường không còn Vũ nhưng vẫn còn các vở của Vũ…”[3;423] Phần giới thiệu Lưu
Quang Vũ chỉ có vài trang, nhưng sau khi đọc những người yêu mến thể loại kịch không khỏi tò mò muốn tìm hiểu xem kịch bản của Lưu Quang Vũ như thế nào mà ông đã được xem như một tác giả tiêu biểu nhất trong giai đoạn văn học kịch thế kỷ
XX
Ngoài ra trong quyển “Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ” (xuất bản năm 1999) của Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương, ở cuối phần lý thuyết chung về
đặc điểm của thể loại kịch, cái tên Lưu Quang Vũ đã được nhắc đến như một dẫn
chứng để minh họa: “Kịch là một thể loại khó… một kịch bản tồi thì khó lòng tạo nên
một vở diễn có giá trị được Chính vì vậy mà nhiều nhà văn có thể thử bút ở nhiều lĩnh vực như thơ, truyện, kí, luận, nhưng ít dám liều nhảy sang kịch và thật sự trở thành một tác gia kịch Trong nền văn học hiện nay của ta, Lưu Quang Vũ là một trường hợp hiếm có Anh là một tên tuổi có vị trí xứng đáng cả trong thơ, truyện và kịch” [3,107]
Năm 2001, Lưu Khánh Thơ đã tuyển chọn nhiều bài viết, bài nghiên cứu tiêu biểu về Lưu Quang Vũ đăng rải rác trên các tạp chí, và tập hợp lại, in thành sách với
tiêu đề : “Lưu Quang Vũ – tài năng và lao động nghệ thuật” Trong cuốn sách đó, Ngô
Thảo cho bạn đọc biết rằng: Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã từng cộng tác với Lưu
Quang Vũ tám vở diễn “Điều mà nhà đạo diễn có kinh nghiệm thích và quý ở Vũ đó là
trong kịch anh luôn có những chi tiết đa nghĩa, đạo diễn muốn nhấn mạnh, cắt nghĩa
về phía nào cũng có lý, nên phải rất thận trọng để không làm nghèo mất ý nghĩa của chi tiết kịch” [7;142] Bản thân Ngô Thảo thì cảm thấy thích thú khi được xem một số
chi tiết nghệ thuật nghệ thuật đặc sắc trong kịch bản và Lưu Quang Vũ qua quá trình sáng tạo vẫn biết lắng nghe ý kiến của những nhà nghệ sĩ khác để rút kinh nghiệm cho bản thân Cho nêm ông trưởng thành nhanh chóng so với thời gian đầu khi mới viết
kịch: “Cùng với thời gian, các vở diễn đã mang thêm sức chở, chứa được nhiều suy
nghĩ của tác giả về cuộc sống”[7;148] Ở bài viết “Thể loại bi kịch trong văn học Việt
Nam thế kỷ XX ”(số tháng 5- 2001, tạp chí văn học) Phạm Vĩnh Cư nhắc đến Lưu
Quang Vũ như một “kịch gia tiêu biểu” mà hai kịch bản: “Nguồn sáng trong đời” và
Trang 8“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng Theo
ông “di sản kịch của Lưu quang Vũ đồ sộ về khối lượng, phong phú về nội dung, đa
dạng về thể tài và phong cách, còn chờ đợi được nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện… Không phải tất cả các sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ đều là những thành công cao -
mà cũng khó chờ đợi điều này ở một tác gia viết nhiều đến thế trong một thời gian ngắn đến thế - nhưng một số kịch phẩm rõ ràng đã vượt qua thử thách của thời gian
và sẽ có cuộc sống lâu dài trong văn học và trên sân khấu nước nhà”[2; 268]
Năm 2003, Viện văn học và Nhà xuất bản giáo dục đã ra mắt bạn đọc quyển
“Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm” Qua cái nhìn tổng quan và phần tuyển chọn những công trình nghiên cứu, những tư liệu được sưu tầm công phu Đây có thể xem như một công trình nghiên cứu mang tích chất tổng hợp, bao quát sự nghiệp sáng tác của Lưu Quang Vũ Hầu như quyển sách đã tập hợp khá đầy đủ những nghiên cứu có giá tri cao trong việc đánh giá sáng tác của Lưu Quang Vũ nói chung và kịch bản của ông nói riêng Với phần kịch bản của Lưu Quang Vũ có đến 21 bài viết, nhận xét và khẳng định vị trí và đóng góp của nhà viết kịch trẻ này Nhiều cách thức tiếp cận được
đề cập đến như: thể loại, kịch pháp, mô- tip dân gian, tư tưởng triết học, phép ứng xử
Ở chương trình trung học phổ thông, kịch bản văn học cũng được đưa vào giảng
dạy, khi mà thể loại kịch chỉ chiếm một số lượng ít ỏi Qua đó phần nào khẳng định vị trí, vai trò của tác giả Lưu Quang Vũ đối với nền văn học kịch nước nhà và nhà soạn
sách đã nhận định “Lưu Quang Vũ không chỉ trở thành một hiện tượng đặc biệt đặc
biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX mà còn được coi là
Trang 9một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại”
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, phê bình kịch của Lưu Quang Vũ, người làm luận văn nhận thấy những nhà nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu, bàn về nội dung của từng
vở kịch riêng lẻ, hay một số khía cạnh nhất định Qua những đánh giá riêng lẻ như vậy, nhìn chung vẫn chưa bao quát hết một cách toàn diện, tỉ mỉ kịch của Lưu Quang
Vũ Cho nên, thực hiện luận văn này chúng tôi sẽ khảo sát văn bản kịch trên cơ sở tiếp cận ở phương diện quan niệm nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ Chân lí là sự kế thừa và tiếp nối đồng thời phát triển; do đó, học tập và kế thừa ý kiến đánh giá xác
đáng của những nhà nghiên cứu đi trước để từ đó chúng tôi định hướng đúng đắn khi
thực hiện luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu
Mọi thành công hay hạn chế của một tác phẩm văn học luôn có cội rễ sâu xa trong bối cảnh xã hội, đặc điểm của thời đại và một yếu tố không thể thiếu đó là cá tính sáng tạo từ phía chủ thể nghệ sĩ Vì thế, qua luận văn, người viết mong muốn tìm hiểu rõ hơn về hiện tượng sân khấu kịch nói sôi động, đầy lôi cuốn khán giả vào những năm 80 cuối thế kỷ XX (thời điểm trước đại hội Đảng lần thứ VI) trong đó Lưu Quang
Vũ là một tác giả rất đáng chú ý Có người cho rằng ở nước ta, nhiều văn bản thoại
kịch viết theo đơn đặt hàng ít giá trị nghệ thuật nhưng vẫn “ăn khách” Vậy trường hợp
Lưu Quang Vũ thì như thế nào? Tại sao ông có những kịch bản thực sự hấp dẫn được công chúng đương thời? Giá trị nghệ thuật của kịch Lưu Quang Vũ thể hiện ở những mặt nào? Qua quá trình nghiên cứu, luận văn nhằm trả lời các câu hỏi trên
Ngoài ra, thực hiện đề tài này, người viết mong muốn tìm hiểu một cách thấu đáo
về quan niệm nghệ thuật của một nhà viết kịch từ việc khám phá giá trị mới của những kịch bản văn học Qua đó, người viết có thể nêu những cảm nhận bước đầu về nét đẹp trong việc sáng tác cũng như thưởng thức văn học kịch Để từ đó, có cái nhìn khái quát
và hệ thống những nét đặc sắc trong kịch của Lưu Quang Vũ, góp phần tôn vinh chân dung một nghệ sĩ tài năng, một hiện tượng độc đáo của thể loại văn học kịch nói riêng
và nền văn học hiện đại nói chung
Trang 10Qua nghiên cứu, luận văn có thể được xem như một trong những tài liệu cung cấp thêm kinh nghiệm, tích lũy những kiến thức cần thiết phục vụ cho quá trình giảng dạy của chúng tôi sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
Lưu Quang Vũ với sức viết dồi dào cùng quá trình lao động nghệ thuật đầy tâm huyết, trong khoảng thời gian gần mười năm, ông đã cho ra đời một khối lượng kịch bản văn học đồ sộ - hơn 50 tác phẩm Trong đó, mỗi kịch bản văn học là một mặt cắt của hiện thực; ở đó, hiện lên những số phận những cảnh đời khác nhau Do điều kiện
nghiên cứu nên luận văn chỉ tập trung vào vấn đề “quan niệm nghệ thuật về hiện thực
và con người” – những yếu tố góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng và
làm nên một phong cách của kịch Lưu Quang Vũ Đồng thời, vì số tư liệu văn bản tác phẩm còn lại có hạn, cho nên luận văn chủ yếu khảo sát một số kịch bản từng đạt giải
cao được in trong “Lưu Quang Vũ tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh ” Bên
cạnh đó, luận văn còn tìm hiểu một số kịch bản văn học thời gian gần đây được dàn
dựng lại như Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Tin ở hoa hồng, Điều không thể mất…
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn khảo sát những tư liệu tìm được trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trước hết, phương pháp lịch sử được sử dụng để đi vào tìm hiểu bối cảnh chính trị- xã hội thời kì 1975- 1985 , trước đại hội Đảng lần thứ VI để thấy được những ảnh hưởng, tác động của thời đại đến nhà viết kịch, tìm ra những điểm tiến bộ ; từ đó, xác
định vị trí của Lưu Quang Vũ trên văn đàn Đồng thời, luận văn cũng kết hợp sử dụng
một số phương pháp khác Trong đó, có phương pháp so sánh (đồng đại, lịch đại) được dùng để đối chiếu kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ với một vài tác giả trước năm
1945 hay các tác giả kịch bản văn học cùng thời để thấy phong cách riêng, cá tính sáng tạo và mức độ đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với thể loại văn học kịch Và xét theo phương thức tái hiện đời sống, cái nhìn về con người thì thể loại kịch có những nét đặc thù riêng, khác với trữ tình và tự sự Do vậy, những điểm khác biệt về thể loại văn học cũng được lưu tâm để tìm hiểu, khám phá Ngoài ra, phương pháp hệ thống cũng được
sử dụng để hiểu rõ đặc điểm “quan niệm nghệ thuật” thể hiện trong từng kịch bản văn
Trang 11học cụ thể; và việc hệ thống cần để đưa ra những liệu cứ cụ thể trong quá trình nghiên cứu để làm cơ sở vững chắc cho các luận điểm thêm thuyết phục
Như vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng kết hợp các phương pháp trên cùng với các tao tác tư duy như: phân tích, phân loại, liệt kê, tổng hợp, chứng minh, khái quát hóa, hệ thống hóa để làm sáng tỏ vấn đề được nêu ra một cách
cụ thể, chân xác
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Những vấn đề chung về quan niệm nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật
Hiện nay, trong nhiều công trình nghiên cứu, thuật ngữ quan niệm nghệ thuật
đã trở nên khá quen thuộc Có nhiều vấn đề được tìm hiểu như: quan niệm nghệ thuật
của tác giả, sự đổi mới quan niệm nghệ thuật trong từng giai đoạn…Và, vấn đề quan niệm nghệ thuật đang trở thành mối quan tâm của những người đi sâu vào nghiên cứu văn học Nhưng quan niệm nghệ thuật là gì? Cho đến nay, khái niệm và những vấn đề xung quanh khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất, vẫn có nhiều cách lí giải, nhiều cách tiếp cận khác nhau
Ở quyển “Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học Việt Nam” các tác giả đã nhìn
nhận khái niệm quan niệm nghệ thuật từ hai góc độ: sáng tác và nghiên cứu Từ góc độ
sáng tác, quan niệm nghệ thuật được hiểu là “Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con
người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó”[2; 184] Để từ đó, tổng hợp thành “cái mô hình nghệ thuật
về thế giới và con người bao quát” có tính chất công cụ để thể hiện cuộc sống Còn ở
góc độ nghiên cứu, theo ý kiến các tác giả thì quan niệm nghệ thuật chẳng những
“cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của tác phẩm văn học cụ thể” mà còn “cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của văn học” Như vậy, khái quát lại “Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời
sống, là hệ qui chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thước đo của hình thức văn học và
là cơ sở của tư duy nghệ thuật”.[2; 185]
Còn các tác giả của, “Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ” cho rằng: Nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến “quan niệm của tôi” nghĩa là “quan niệm của một cá
tính sáng tạo” Điều này có nghĩa là ngoài đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo, thì quan
niệm nghệ thuật cũng phải có tính chất độc đáo vì nó được soi sáng bởi một cái nhìn
Trang 13riêng Và Huỳnh Như Phương đã khẳng định “Văn học mang tính thẩm mỹ tích cực là
vì cùng với thế giới nghệ thuật, nhà văn đã đem đến cho văn học một quan niệm nghệ thuật” Để thuyết phục hơn, tác giả đã đưa ra nhận định của Bêlinxki viết về Gogol:
“Tác giả không bị đối tượng của mình làm cho thụ động, ông ở trên đối tượng, ông
chế ngự đối tượng, ông không nhìn đối tượng như một cái gì tự nó, mà là đối tượng ở trước ta, cho ta; vì thế nhiều khi trong tác phẩm của ông, chúng ta nhận ra được cái nhìn riêng, quan niệm chủ quan của ông” [1;212]
Trước đây, trong giới lí luận văn học Nga đã có nhiều tác giả ứng dụng khái niệm quan niệm nghệ thuật để khảo sát các nền văn học trên thế giới như: P.X.Likhasốp, I Êrêmin, V.R.Secbina, V.V.Timôphiep, N.G Giunlinxki…Ở Việt Nam, vấn đề này được lưu ý như là một công cụ đắc lực cho việc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn, bởi để sáng tạo một tác phẩm văn học, nhà văn phải có quan niệm về thế giới ấy qua góc nhìn nghệ thuật như một điều kiện không thể thiếu Trần
Đình Sử cho rằng: “Tìm hiểu khái niệm quan niệm nghệ thuật trong nghiên cứu văn
học Xô Viết ta thấy rằng quan niệm nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn với quan niệm thế giới quan, triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung, nhưng tự bản thân nó đã là một “ý thức hệ” đặc biệt gắn liền với miêu tả nghệ thuật”[9; 93]
Như vậy, quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, con người thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà văn thông qua mức độ, phạm vi, khả năng chiếm lĩnh đời sống của nhà văn đó Quan niệm nghệ thuật gồm nhiều vấn đề như: thế giới, con người, các phạm trù thẩm mỹ Tuy nhiên, cái thúc đẩy sức sáng tạo nghệ thuật chính là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người; rõ hơn, đó là quan niệm nghệ thuật về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người
Nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến “ý hướng” của nhà văn hướng đến thế giới và con người ngay trong khi sáng tạo văn học Qua “ý hướng” đó, nhà văn bộc
lộ thái độ, trình độ nhận thức và cách lí giải của mình đối với thế giới và con người Vì
thế, Huỳnh Như Phương đã khẳng định “quan niệm nghệ thuật về thế giới và con
người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm” Tuy nhiên,
trong công trình nghiên cứu “Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu”, Lê
Trang 14Tiến Dũng đã đưa ra cách hiểu quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà
văn thực chất là “cái nhìn của nhà văn về thế giới và con người” Mỗi nhà văn sẽ có
một cái nhìn thế giới khác nhau và do đó sẽ có một thế giới nghệ thuật khác nhau”[3;3] Do vậy, nghiên cứu quan niệm nghệ thuật sẽ chỉ ra được chiều sâu của thế
giới và con người Hay nói cách khác, quan niệm nghệ thuật về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện sự thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí giải nghệ thuật ứng với một thế giới nghệ thuật tồn tại ngay trong khám phá của nhà văn Trên cơ sở quan niệm nghệ thuật đã hình thành trước trong tư duy, trong cảm xúc, tác giả có thể lựa chọn và xây dựng những hình tượng nghệ thuật khác nhau Và mỗi hình tượng nghệ thuật như vậy trong những tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả lại gặp nhau ở cùng một điểm dưới sự chỉ đạo của quan niệm nghệ thuật của nhà văn Dù có thể nhà văn không phát biểu công khai quan niệm của mình hoặc có thể nó hiện diện một cách vô thức trong ý thức nhà văn Tuy nhiên, nhiều nhà văn lớn khi ý thức sứ mệnh nghệ thuật của mình đã có ý thức sáng tạo ra quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của riêng mình và có nhiều
sự cách tân Chính điều này chi phối quá trình thai nghén tác phẩm và phong cách nghệ thuật của nhà văn, đồng thời, giúp đọc giả xác định được mức độ chiếm lĩnh con người của hình tượng văn học và sự đóng góp tích cực của hiện tượng văn học đó vào lịch sử văn học
Trong văn học Việt Nam, phong trào Thơ mới 1932 - 1945 sở dĩ đã chinh phục
đông đảo bạn đọc chủ yếu không phải vì một kiểu làm thơ mới, mà vì một quan niệm
nghệ thuật mới, gắn liền với một cách cảm nhận mới về thế giới và con người Đó là văn học nghệ thuật hướng tới sự phát huy bản ngã, đối lập lại với tính chất phi ngã của văn học thời phong kiến Quan niệm nghệ thuật này vừa đề cao vai trò của cá tính, vừa bộc lộ khát vọng hòa hợp với “tha nhân”; vừa thể hiện ước mơ đi xa đến một chân trời khác, một quê hương khác; lại vừa bị ám ảnh bởi tiếng gọi của trần gian này, của thế giới này
Còn quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của các nhà văn hiện thực
phê phán là “nghệ thuật vị nhân sinh” Vũ Trọng Phụng từng viết: “Các ông muốn tiểu
thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là thực sự ở đời” Với nguyên tắc coi hiện thực trực tiếp là đối tượng của nghệ
thuật và đặc biệt coi trọng mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh mà văn học hiện
Trang 15thực phê phán đã phát hiện ra nhiều kiểu nhân vật mới, làm phong phú thêm khả năng chiếm lĩnh hiện thực khách quan và con người
1.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thế giới
Thế giới được tạo nên bởi thiên nhiên, vũ trụ và con người Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiện tượng tinh thần, tồn tại bất biến Chủ nghĩa duy vật quan niệm thế giới là hiện tượng vật chất luôn vận động, không ngừng biến đổi Trong văn học, mặc dù chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác
đặc biệt là triết học nhưng quan niệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh
thần mà nó được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật Chính vì thế, quan niệm nghệ thuật
về thế giới là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn, đó là cuộc đời hay hiện thực cuộc sống dựa trên cảm nhận của cá nhân được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, được nhìn ở góc độ nào đó Trong thơ cổ điển, nhà thơ nhìn thế giới trong sự vĩnh hằng của
nó Trong thế giới đó, có “thay đổi”, có vận động nhưng là đổi thay vận động trong sự
vĩnh hằng của muôn đời, trong nhịp điệu tuần hoàn của thời gian: xuân qua, hạ đến, thu tàn, đông sang Nhà thơ bằng lòng với việc của muôn đời: với Nguyễn Du thì
“Trăm năm trong cõi người ta” (Truyện Kiều- Nguyễn Du), còn Thôi Hiệu “Nghìn
năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng Hạc Lâu), hay đó là một “thế sự du du”, một
thiên địa “vô cùng” (Ý trong câu thơ của Đặng Dung: Thế sự du du nại lão hà / Vô
cùng thiên địa nhập hàm ca – Cảm hoài) Rõ ràng, mỗi nhà thơ có một góc nhìn khác
nhau về thế giới vĩnh hằng, đó không chỉ đơn thuần miêu tả, tái hiện thế giới mà người
đọc còn nhận ra tâm thế ung dung tự tại của thi nhân trước mọi biến dời của thế sự
trước mắt Đó chính là quan niệm về một thế giới tĩnh tại, ít nhiều cố định qua những hình ảnh ước lệ, công thức trong thơ cổ điển Ngược lại, với Xuân Diệu thì cái nhìn
của ông nghiêng về “quan niệm thế giới đổi thay”[3;25] Trong quan niệm của ông
dường như không có gì là vĩnh cửu mà tất cả đều có thể biến dời: từ thiên nhiên cho
đến lòng người; từ cỏ hoa cho đến tình yêu Ở bài thơ “Đi thuyền” ông ví cuộc đời
giống như con thuyền đang trôi, mọi vật đổi thay đến không ngờ:
“Thuyền qua mà nước cũng trôi,
Lại thêm mây bạc trên trời cũng bay;
Tôi đi trên chiếc thuyền này
Trang 16Giòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi, Cái bay không đợi cái trôi;
Từ tôi phút trước, sang tôi phút này…”
Những cái thuộc về thế giới khách thể đổi thay không ngừng trong dòng
tuôn chảy của thời gian: “thuyền qua”, “nước cũng trôi”, mây bạc trên trời “cũng bay” Những cái thuộc về thế giới chủ thể cũng không đứng yên “Giòng mơ tơ tưởng cũng
thay khác rồi” Tất cả đều vận động theo quy luật tất yếu, không phụ thuộc vào cái này
hay cái kia, “cái bay”, “cái trôi” Hình tượng “tôi phút trước” và “tôi phút này” không phải là sự phân thân mà ẩn chứa quan niệm đầy tính chất triết học về đổi thay: có “tôi
phút trước”, có “tôi phút này” như những chủ thể độc lập Bài thơ Đi thuyền tuy ngắn
nhưng đã hàm chứa khá đầy đủ ý vị triết học trong quan niệm nghệ thuật về thế giới
đổi thay của Xuân Diệu
Như vậy, ứng với mỗi quan niệm nghệ thuật về thế giới là một thế giới nghệ thuật trong cái nhìn của mỗi nhà văn mà ta cần khám phá
1.1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người
Con người là đối tượng hướng tới của văn học nhưng con người trong văn
học không phải là con người nguyên bản của đời sống “mà là quan niệm về con người
ấy, một cách thẩm mỹ và nghệ thuật” (theo Trần Đình Sử) Nói cách khác, cần phân
biệt quan niệm con người như một phạm trù tư tưởng, đạo đức xã hội với quan niệm nghệ thuật về con người như một phạm trù nghệ thuật thẩm mỹ Nếu muốn khám phá
sự cảm nhận con người tới mức độ nào, thì cần khám phá quan niệm nghệ thuật về con người trong hình thức miêu tả nhân vật Nhưng đó không phải phân tích nhân vật trong tác phẩm để chỉ ra: tính cách, khí chất, bản chất xã hội, tác giả lên án cái gì, khẳng
định cái gì và nghệ thuật miêu tả nhân vật… Trái lại, cần phải khám phá cách cảm
nhận con người qua việc miêu tả nhân vật, tức là, con người được cảm nhận qua các nhân vật của tác giả cụ thể, tác phẩm cụ thể gắn chặt với cái nhìn của nhà văn Một khi
đã hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thì chúng ta sẽ hiểu nhân vật
đó sâu sắc, toàn diện hơn
Chẳng hạn như, nhà văn Nguyễn Công Hoan, với quan niệm “Cuộc đời là
một sân khấu hài kịch”, đã nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của con người, để phỉ nhổ
Trang 17vào những xấu xa, bỉ ổi của xã hội, để cười ra nước mắt những điều xấu xa của con người dưới đáy nhằm lên án xã hội đảo điên Con người trong quan niệm của Nguyễn Công Hoan hoàn toàn bị tha hóa, thậm chí bị vật hóa, đồ vật hóa… Từ vị quan béo tốt, một bà lớn với khuôn mặt thịt nung núc, đến những đứa ăn mày, ăn xin, kẻ cắp, người
trốn nợ, bà cụ nhà quê… tất cả đều là những con người bị tha hóa Cách nhìn “cuộc
đời là một sân khấu hài kịch” đã chi phối sâu sắc nhà văn trong việc chọn đề tài, chủ
đề, xây dựng nhân vật, biến cố và tình tiết… mang đậm chất hài kịch Cái nhìn phê
phán khiến cho tác phẩm của ông có sức công phá mạnh mẽ đối với xã hội thực dân nửa phong kiến; từ đó toát lên nhu cầu cần phải thay đổi tận gốc rễ cái xã hội tối tăm, mục ruỗng và tàn bạo để trả lại chân dung thật sự cho con người
Riêng nhà văn Nam Cao, với quan niệm “nghệ thuật không nên là ánh trăng
lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”
(Giăng sáng); ngòi bút của ông đã thể hiện sâu sắc một khía cạnh mới khi miêu tả con
người Đó là “Con người bị tha hóa bủa vây nhưng quyết không chịu tha hóa đến
cùng” Đến Nam Cao, kiểu con người tha hóa được khai thác một cách toàn diện từ
ngoại hình đến tâm lí, tính cách trên cơ sở một quan niệm khá sâu sắc, thấm đượm tinh thần nhân đạo Chí Phèo là nhân vật điển hình cho kiểu con người bị tha hóa nhưng quyết không chịu tha hóa đến cùng Nhà văn Nam Cao đã cố gắng đi tìm những nét
đẹp còn ẩn sâu trong tâm hồn của những người nông dân bị tha hóa và đó là một quan
niệm tiến bộ về con người của ông
Như vậy, chỉ có một quan niệm nghệ thuật về con người không ngừng mở rộng, đổi mới thì nhà văn mới có khả năng phản ánh các chiều sâu của nhân vật Đồng thời, chính sự vận động không ngừng của quan niệm nghệ thuật về con người làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn học ngày càng sâu sắc, phong phú và tạo
thành “lịch sử của sự cảm nhận và miêu tả của con người trong văn học”
1.1.3 Những yếu tố tác động đến sự hình thành quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn
Trước hết, ta cần phân biệt quan điểm sáng tác và quan niệm nghệ thuật Đây là hai khái niệm không đồng nhất Quan điểm là lập trường, chính kiến của một người hay một tổ chức về một lĩnh vực Có quan điểm về chính trị, tôn giáo, triết học, nghệ thuật…Trong văn học, nói đến quan điểm sáng tác là nói đến sức mạnh, chức năng của
Trang 18văn học với đối tượng cụ thể (viết cho ai?), mục tiêu cụ thể (viết để làm gì?), trên cơ
sở ấy xác định một nội dung cụ thể (viết cái gì?) và một hình thức thích hợp (viết như thế nào?) Do đó, quan điểm sáng tác có vai trò như một định hướng cho nghệ sĩ khi sáng tác Chẳng hạn như, quan điểm sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán là hướng đến phản ánh hiện thực như nó vốn có, dù rằng những hiện thực đó đôi khi thật xót xa, nhếch nhác và cay đắng Còn quan điểm sáng tác của các nhà văn, nhà thơ cách mạng là tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì định hướng cho người cầm bút nên quan
điểm sáng tác sẽ chi phối đến nội dung và hình thức tác phẩm Từ đó có thể khẳng định, quan điểm sáng tác chỉ một phần nào đó ảnh hưởng đến các nhà văn Còn đối với
quan niệm nghệ thuật của người cầm bút thì ẩn chìm trong ý thức và thể hiện ở nhiều yếu tố, ở sâu bên trong mạch ngầm của tác phẩm Nếu nhà văn đưa ra quan niệm nghệ thuật trước mà không thể hiện trong tác phẩm của mình thì chúng chỉ được ghi nhận như ý hướng sáng tác
Văn học bắt nguồn từ cuộc sống Do đó, hiện thực khách quan hay còn được gọi là hoàn cảnh lịch sử cũng góp phần chi phối ảnh hưởng đến cách nhìn của nhà văn
về cuộc sống và con người Hiện thực khách quan đầu thế kỷ XX là một xã hội thực dân nửa phong kiến với bao nhiêu áp lực nặng nề, phơi bày nhiều mặt bất công ngang trái Con người Việt Nam thời này chịu nhiều khổ cực: sự đày đọa cuộc sống dưới ách
đế quốc thực dân và phong kiến; sự hủy hoại văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc;
sự xâm nhập của văn minh phương Tây trong ý đồ đen tối của thực dân Pháp Hoàn cảnh lịch sử trên đã tác động tới việc hình thành quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của các nhà văn hiện thực phê phán Phản ánh hiện thực khách quan như nó tồn tại, chú trọng miêu tả con người gắn với hoàn cảnh, tính cách con người bị quy
định bởi hoàn cảnh Và, văn học hiện thực phê phán đã tạo ra một bước ngoặc mới
trong việc khám phá đời sống con người Đó là một ví dụ để chứng minh tác động của hoàn cảnh lịch sử đến quan niệm nghệ thuật của người cầm bút Lưu ý rằng, dù bị tác
động bởi hoàn cảnh lịch sử nhưng nhà văn với quan niệm mang tính nghệ thuật cao
không đơn thuần tái hiện lại chân xác hiện thực, mà bày tỏ một cách nhìn trước cuộc sống và qua đó gửi gắm tâm sự, ước vọng của mình về cuộc đời và con người qua nhiều bình diện
Trang 19Ngoài ra, một yếu tố tác động không nhỏ đến quan niệm nghệ thuật về thế giới
và con người của nhà văn đó là thế giới quan Mỗi tác phẩm là một bức tranh về sự sống được phản ánh thông qua thế giới quan của nghệ sĩ Vì vậy, thế giới quan của nghệ sĩ đóng một vai trò quan trọng Người nghệ sĩ phải nhận thức thế giới một cách tinh tế, điều này quyết định bởi năng lực quan sát, cái nhìn độc đáo mang tính phát
hiện của nhà văn Cho nên khi “Hai người cùng nhìn xuống, một người chỉ nhìn thấy
vũng nước, người kia lại nhìn thấy những vì sao” (Đốp- gien- cô)
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, triết học, chính trị- xã hội và thẩm
mỹ hay đó chính là quan niệm về thế giới chung chung Song song đó, quan niệm nghệ thuật là cái nhìn về thế giới, là cách cảm nhận riêng của mỗi tác giả về cuộc đời, về con người gắn liền với sự miêu tả nghệ thuật, phương diện nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật chịu sự chi phối của thế giới quan nhưng nó có sự chuyển hóa từ quan niệm triết học, chính trị, xã hội… sang sự nhận thức có tính nghệ thuật, sự cảm nhận nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm Nói về mối quan hệ giữa thế giới quan và quan niệm
nghệ thuật Trần Đình Sử viết: “Xem quan niệm con người và thế giới là yếu tố của thế
giới quan nhà văn, nhấn mạnh vai trò của thế giới quan nhà văn là rất đúng Nhưng nếu tất cả đều quy về quan niệm thế giới quan, quy về quan niệm xã hội là xem nhẹ
đặc trưng sáng tạo nghệ thuật của tác giả”[9; 93] Như vậy, thế giới quan của nhà văn
là rộng lớn, còn quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn chỉ là một yếu tố hay một vấn đề mà tác giả lựa chọn phản ánh Vấn đề đó phải có tầm khái quát cao, phải được nhà văn lí giải một cách thấu đáo Chính vì thế, quan niệm nghệ thuật qui định giá trị của tác phẩm cũng như vị trí của nhà văn Khẳng định điều này, chúng
ta nghĩ ngay đến Nam Cao Từ những sự việc, những con người bình thường của cuộc sống nhưng qua lăng kính chủ quan của nhà văn những điều đó trở nên ý nghĩa và sâu sắc Do vậy, tác phẩm của ông bao giờ cũng giàu tâm huyết, chứa đầy tính nhân văn,
có giá trị phổ quát về kiếp sống, lẽ sống của đời người Rõ ràng, từ một thế giới chung người nghệ sĩ đã đưa ra quan niệm về thế giới của riêng mình Chính điều này, tạo nên nét đặc sắc riêng của mỗi tác phẩm, nét độc đáo của mỗi nhà văn và làm nên sự đa dạng phong phú của văn chương
Trên đây, chúng tôi đã tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong sáng tác Tuy nhiên, quá trình sáng tạo nghệ thuật là thiên
Trang 20chức của người cầm bút, sự tác động của những yếu tố khách thể góp phần đem đến cho nhà văn một cách tự biểu hiện qua quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người
1.1.4 Một số phương diện của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện trong tác phẩm văn học
Quan niệm nghệ thuật của nhà văn bộc lộ qua mô hình nghệ thuật về thế giới và con người, qua cách tổ chức các tuyến nhân vật, các sự kiện, cách giải quyết mâu thuẩn trong tác phẩm… khi quan niệm thay đổi thì thời gian, không gian, cách lí giải, cách đánh giá cũng thay đổi và tất nhiên cách xây dựng hình tượng cũng thay đổi Trong những cấu trúc xã hội khác nhau thì mô hình nghệ thuật cũng khác nhau Nằm trong từng cấu trúc xã hội, kết cấu của mô hình khá bền vững Nó quyết định những tri giác, cảm xúc của người nghệ sĩ, nó buộc người nghệ sĩ phải chọn cho mình một mô hình nghệ thuật nhất định để thể hiện Chẳng hạn, trong mô hình văn học trung đại các nghệ sĩ hay dùng nguyên tắc ước lệ để miêu tả nhân vật Nguyễn Du miêu tả Từ Hải
"Vai năm thước rộng thân mười thước cao" Trong văn học dân gian kiểu xây dựng
nhân vật theo hai tuyến thiện, ác cũng là một kiểu mô hình Đặc trưng của văn học hiện thực phê phán là kiểu kết thúc nhân vật không có lối thoát như chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo Giai đoạn chống Mỹ có mô hình nhân vật hy sinh tình cảm riêng vì nghĩa lớn như chị Tư Hậu, anh Trỗi Mô hình nghệ thuật rất đa dạng, nó có thể là của thời đại, giai đoạn, tác giả… Chẳng hạn, mô hình nhân vật trong sáng tác của Nam Cao là người nông dân tri thức nghèo… Việc đi sâu tìm hiểu mô hình nghệ thuật sẽ giúp ta nhận ra những đặc điểm chung, khái quát trong từng hình tượng nghệ thuật cụ thể; như thế sẽ phản ánh đầy đủ cuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ
Ngoài ra, quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở điểm nhìn, cái nhìn của nhà văn Người nghệ sĩ nhìn cuộc sống và các quá trình đang diễn ra ở góc độ nào, nhiều hay chỉ một góc độ, khoảng cách giữa người trần thuật và sự việc được trần thuật –
điểm nhìn của người cầm bút Hiện thực cuộc sống thì đa dạng, phong phú mà năng
lực nhận thức của con người là có giới hạn Mỗi nhà văn chỉ có thể phản ánh một vài mặt nào đó của hiện thực, có thể đó là mặt bản chất hoặc không bản chất Quan niệm
nghệ thuật của nhà văn thể hiện cái giới hạn tư duy của nghệ thuật “ là sự miêu tả hữu
hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc
ở đâu đó, con người và cảnh vật phải được nhìn ở góc độ nào đó”[2; 185]
Trang 21Vậy điểm nhìn là một trong những yếu tố tạo nên sự phong phú, đa chiều của tác phẩm đem đến sự thành công cho tác giả Nó làm cho người đọc nhìn thấy những
đổi thay trong quan niệm của nhà văn cũng như quá trình tiến hóa của văn học
Không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật cũng là một khía cạnh của quan niệm nghệ thuật Nó là cái mà thế giới nhân vật tồn tại Nhà văn miêu tả lại không gian, thời gian kèm theo những lí giải theo cách cảm nhận riêng của tác giả về con người, về cuộc đời Chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử là gắn liền với mức độ cảm
thụ và quan niệm của người nghệ sĩ nên thời gian, không gian ở mỗi thời đại có “màu
sắc” riêng Chẳng hạn, thời gian của người cổ trung đại là tuần hoàn vĩnh cửu, quá
khứ, hiện tại, tương lai cùng tồn tại trong thì hiện tại, không gian là vũ trụ bao la Thời gian của con người hiện tại là tuyến tính, không gian gắn liền với từng con người cụ thể… Thời gian, không gian trong văn học có sự co giãn kì diệu Thời gian vận động
cả ba chiều, có thể đang ở thì hiện tại nhưng ngay lập tức quay về quá khứ hoặc vươn tới tương lai xa xôi mà không bị vấp một cản trở nào Thời gian nghệ thuật có thể dồn nén cả một cuộc đời, một thời kì vào trong khoảnh khắc Cũng như thời gian, không gian nghệ thuật cũng không bị trói buộc bởi giới hạn nào Nó có thể là không gian hẹp như: xó bếp, gác xép, căn phòng… nhưng cũng có khi rộng lớn bao la như: chân mây cuối trời… Không gian nghệ thuật có khả năng dịch chuyển rất nhanh Huy Cận đã
mở ra một không gian có cả thiên đường và trần thế chỉ trong hai câu thơ “Nắng xuống
trời lên sâu chót vót - Sông dài trời rộng bến cô liêu” Ở mỗi giai đoạn văn học, không
gian có màu sắc riêng Chẳng hạn, không gian trong văn học dân gian là cây đa, bến nước, nơi hò hẹn…; ở thơ trung đại là không gian sơn thuỷ hữu tình, thơ mới là không gian lạnh lẽo, hờ hững, mong manh Nhìn chung, thời gian, không gian trong văn học gắn liền với sự cảm thụ của người nghệ sĩ với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm nghệ thuật về thế giới, con người
Mô-tip các nhân vật, biến cố trong tác phẩm cũng thể hiện quan niệm nghệ
thuật của tác giả về thế giới và con người “Hầu như mọi vật của Nguyễn Công Hoan
đều có ngoại hình xấu xí Điều này trở thành một thói quen, một ý thức thẩm mỹ của
ông” Do nhìn cuộc sống một cách bi quan, hoài nghi cho nên Nguyễn Công Hoan chỉ
nhìn ở những phương diện xấu xí của con người Ông còn quan niệm “phía xấu dễ
nhập tâm hơn phía tốt”
Trang 22Quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở nhiều yếu tố khác: mối quan hệ giữa người và người, người với tự nhiên, trạng thái tình cảm của nhân vật Thơ cách mạng thường biểu hiện một sự lạc quan, yêu đời, một niềm tin vào tương lai, sự tin tưởng,
yêu đương “người với người sống để yêu nhau”
Quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở nội dung và hình thức nghệ thuật Nó chi phối cách xây dựng hình tượng nhân vật, cách sắp xếp các chi tiết, sự kiện, giọng
điệu, ngôn từ…trong tác phẩm văn học Do không chấp nhận thực tại nên Chế Lan
Viên không tái hiện thực tại mà tìm về với quá khứ, với hình ảnh của tháp Chàm, hình
ảnh của đất nước Chiêm Thành rực rỡ
Quan niệm nghệ thuật của tác giả còn chịu ảnh hưởng của cái vô thức Nhà thơ Hàn Mặc Tử thường bị ám ảnh bởi hình tượng: trăng, máu, hồn,…Vì thế, khi sáng tác những hình tượng ấy gần như luôn xuất hiện trong cõi vô thức của tác giả
Quan niệm nghệ thuật của một tác giả thể hiện ở rất nhiều yếu tố trong tác phẩm Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà văn sẽ giúp ta khám phá những phương diện quan trọng của tác phẩm Chính vì thế, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà văn có ý nghĩa rất quan trọng; đặc biệt văn học Việt Nam sau 1975 chứng kiến nhiều
sự tìm tòi, đổi mới trong quan niệm Qua việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật ở kịch Lưu Quang Vũ sẽ phần nào khẳng định sự hoàn thiện và phát triển của nghệ thuật viết kịch trong tiến trình văn học hiện đại
1.2 Tác giả Lưu Quang Vũ với thể loại kịch
1.2.1 Sơ lược về thể loại kịch
1.2.1.1 Khái niệm về kịch
Nói đến khái niệm kịch, cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của nhóm tác giả Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, thuật ngữ kịch được dùng theo hai cấp độ
Ở cấp độ loại hình: “Kịch là một trong ba phương thức cơ bản của văn học
(Kịch, tự sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Kịch bản vừa dùng
để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch
Theo đó tiếp nhận kịch bản chính là tiếp nhận phương diện của văn học kịch”[2;142]
Nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành
Trang 23động, cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói (Riêng kịch câm không diễn tả bằng lời) Kịch được xây dựng trên cơ sở những mâu thuẩn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột mang
tính phổ biến (giữa thiện và ác, giữa cao cả và thấp hèn, giữa ước mơ và hiện thực, ) Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua hành
động của các nhân vật và theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật kịch Nói đến
kịch là nói đến kịch tính Các kịch tính được hình thành, phát triển và giải quyết qua hành động kịch
Ở cấp độ loại thể: “thuật ngữ kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học – sân
khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này kịch còn được gọi
là chính kịch” [2;143]
Kịch thực ra không phải là một thể loại văn học đơn thuần, không nên đánh
đồng kịch bản với nghệ thuật sân khấu nói chung bao gồm kịch nói, kịch hát, kịch
múa, nhạc kịch… Bất cứ loại kịch nào, kể cả kịch câm cũng có kịch bản, nhưng chỉ có kịch hát, nhất là kịch nói mới có kịch bản văn học Là đối tượng của lý luận văn học, kịch bản văn học là một trong ba loại chính của văn học Sự khác nhau giữa nó với thể loại trữ tình là điểm rất rõ nhưng với loại tự sự thì kịch còn có nhiều điểm tương đồng
Belinski cho rằng: Tác phẩm kịch là “Sự dung hợp của các yếu tố đối lập của tính
khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình”, không phải chỉ trong loại hình kịch mới
có sự dung hợp các yếu tố của loại hình khác Trong thơ truyện, ký đều có, nhưng kịch
có ưu thế trong sự kết hợp khả năng biểu hiện của tự sự và trữ tình Kịch là một thể loại văn học nhưng lại gắn liền sinh tử với sân khấu, vì thế kịch sẽ không bao giờ là một thể loại văn học đơn thuần như tự sự và trữ tình Kịch bản viết ra vừa để đọc, vừa
để đọc vừa đẻ diễn, do đó đọc kịch bản văn học nếu chúng ta tách hoàn toàn với nghệ
thuật sân khấu thì không thể hiểu được
Như vậy, nhìn từ góc độ nào ta cũng thấy kịch bản văn học là một bộ phận hợp thành của nghệ thuật sân khấu Không phải ngẫu nhiên mà khi sáng tác kịch bản, nhà văn bao giờ cũng tính đến các yếu tố không gian, thời gian, khả năng biểu hiện nghệ thuật của các phương tiện sân khấu nhất là sự diễn xuất của các diễn viên Nhưng kịch bản văn học không chỉ có đời sống gắn bó với nghệ thuật sân khấu mà nó còn có
đời sống độc lập riêng của nghệ thuật ngôn từ Có thể xem “Kịch”, “Kịch bản văn học”
hay “Văn học kịch” như những khái niệm đồng nghĩa chính là vì thế
Trang 241.2.1.2 Một số lưu ý về đặc trưng của kịch bản văn học
a Kịch tính là đặc trưng nổi bật nhất của kịch
Trong bài “Sự phân chia văn học thành loại và thể”, Bêlinxki đã nói về sự giống nhau giữa tự sự và kịch như hai phương thức biểu hiện đời sống Theo Bêlinxki, kịch giống tác phẩm tự sự vì: Ở đây cũng hiện hữu một hành động xác định đang tự vận động cái bên trong, cái lý tưởng (tức là cái chủ quan) đã trở thành cái bên ngoài, cái hình thức (tức là cái khách quan) Muốn phản ánh đời sống trong tính khách quan, tác phẩm tự sự và kịch phải dựa vào một hệ thống sự kiện, biến cố được tổ chức thành cốt truyện Tuy cùng xây dựng cốt truyện để phản ánh đời sống theo nguyên tắc khách quan, nhưng từ trong bản chất, kịch và tự sự là hai loại tác phẩm có nội dung thể loại rất khác nhau Kịch khác tác phẩm tự sự ở kịch tính Kịch tính là đặc điểm nổi bật của thể loại kịch Không có xung đột, mâu thuẫn thì không có kịch tính Kịch tính bao giờ cũng được tạo thành bởi những hành động đối nghịch Không phải ngẫu nhiên, trong ngôn ngữ của nhiều nước Châu Âu, chữ “Kịch” đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (đrama) mà nghĩa của nó là hành động Và hơn hai nghìn năm nay, phạm trù “hành
động” bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm của các hệ thống lý thuyết kịch Aristote gọi
bi kịch là “Sự bắt chước một hành động quan trọng và hoàn chỉnh” Hegel cho rằng
kịch phải trình bày cho chúng ta một biến cố, một kỳ công, một hành động, nhưng nó phải tước mất tính chất bên ngoài của chúng và phải đưa một cá nhân có ý thức và
hành động vào thay thế Ông nói tiếp “Hành động là cái ý chí được thực hiện và đây là
một ý chí mà người ta biết nguồn gốc, điểm xuất phát bên trong cũng như kết quả cuối cùng”
Như vậy, hành động kịch bao giờ cũng bao hàm động cơ, mục đích, mưu đồ,
do đó nó bão hòa nội dung tâm hồn, thể hiện khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của cá nhân con người Làm nổi bật sức mạnh của hành động thể hiện khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người chính là đặc trưng thể hiện loại của tác phẩm kịch Có thể định nghĩa, kịch tính là trạng thái căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn, xung đột, được tạo ra bởi những hành động thể hiện các khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người Trong kịch, hành động bộc lộ ý chí tự do của con người làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột gay gắt giữa cá nhân và xã hội, giữa chủ thể với cái tất yếu, khách quan, thúc đẩy sự vận động của hệ thống sự kiện, biến cố trong cốt
Trang 25truyện, mang lại kịch tính cho tác phẩm Cho nên, kịch tính không phải là dấu hiệu hình thức cũng không thuộc phương diện nội dung cụ thể như đề tài, chủ đề của tác phẩm mà là đặc điểm mang tính loại hình của nội dung thể loại
b Cốt truyện kịch tập trung cao độ
Nếu kịch tính là đặc điểm của nội dung thể loại thì sự tập trung cao độ của cốt truyện là đặc điểm kết cấu của kịch bản văn học Đây là đặc điểm gắn với yêu cầu biểu diễn của nghệ thuật sân khấu Không gian và thời gian hạn hẹp của sân khấu
đòi hỏi hành động kịch phải thống nhất và cốt truyện kịch phải có sự tập trung cao độ
Tính tập trung cao độ biểu hiện trước hết ở các bộ phận cấu thành cốt truyện kịch Bộ phận cấu thành duy nhất của cốt truyện kịch là hành động được triển khai qua một hệ thống sự kiện diễn ra theo trật tự thời gian Cốt truyện kịch thường đơn tuyến Mỗi vở kịch thường chỉ tập trung phát triển một tuyến cốt truyện Bởi vì, yêu cầu về sự thống nhất hành động cho phép mỗi vở kịch chỉ theo đuổi một mục đích, hướng vào một vài chủ đề then chốt, cơ bản, nhằm gợi ra một vài hứng thú nào đấy, mọi chi tiết cùng toàn
bộ hệ thống sự kiện biến cố được sử dụng để tạo dựng cốt truyện đều phải dồn về một mối, hướng tới mục đích ấy, góp phần thể hiện chủ đề ấy, làm nổi bật cảm hứng ấy Để gây hứng thú cho người xem, thi pháp cốt truyện của kịch rất coi trọng việc sáng tạo ra cái bất ngờ Muốn tạo ra cái bất ngờ, người sáng tác phải biết dẫn dắt các sự kiện biến
cố rẽ vào những chỗ ngoặt, những bước nhảy vọt, những đoạn đột biến, biến cố trong cốt truyện phải được liên kết, tổ chức chặt chẽ, lôgich Cho nên, thi pháp kịch vừa coi trọng việc sáng tạo ra cái bất ngờ, vừa chú ý tổ chức những chi tiết có chức năng giới thiệu, báo trước, đặt tính cách, số phận, động cơ, ý đồ của các nhân vật và các sự kiện, biến cố vào một quan hệ nhân quả tất yếu nhằm mang lại cho cốt truyện sự hấp dẫn mà vẫn tự nhiên Cốt truyện của tác phẩm kịch lại thường phát triển với nhịp điệu mau lẹ,
vì thế tác phẩm kịch không được phép mở rộng không gian, kéo dài thời gian diễn biến của các sự kiện, biến cố Việc tôn trọng nguyên tắc về sự tập trung của cốt truyện đã chi phối cách thức tổ chức bố cục của kịch bản văn học Một vở kịch thường được chia thành ba hoặc năm hồi tương ứng với ba giai đoạn vần động hết sức mau lẹ của hành
động kịch: thắt nút (trước đó thường có phần trình bày) - đỉnh điểm - mở nút (có thể
thêm phần vĩ thanh)
Trang 26
c Tính chất xác định của tính cách là đặc điểm cơ bản của nhân vật kịch
Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất, nhưng trong cuộc đời thực, người bình thường không thể nói to trước đám đông những toan tính xấu xa, những dục vọng thấp hèn của mình giống như các nhân vật trên sàn diễn Cho nên, hình tượng con người trong kịch cũng thuộc loại hình tượng mang tính
ước lệ cao nhất Nó là nhân vật của trò diễn mà diễn viên là người đóng vai các nhân
vật ấy trên sân khấu Tác phẩm trữ tình, nhất là tác phẩm tự sự, tìm đủ mọi cách làm
mờ tính chất trò diễn của nghệ thuật Tính chất trò diễn lại thường xuyên được tô đậm, không cần che đậy trong kịch văn học và nghệ thuật sân khấu Đây là đặc điểm ta dễ dàng phân biệt nhân vật kịch với hình tượng trữ tình và hình tượng tự sự Là hình tượng trò diễn, nhân vật kịch chịu sự chi phối, ràng buộc chặt chẽ bởi những điều kiện, luật lệ của nghệ thuật sân khấu Như đã nói ở trên, do cốt truyện trong kịch bản văn học phải tập trung chính vì vậy mà số lượng nhân vật kịch không thể nào nhiều như tự
sự, tiểu thuyết được Là hình tượng trò diễn, nhân vật kịch được cụ thể hóa bằng chất liệu riêng Tuy kịch bản không có nhân vật người kể chuyện, không cho tác giả tự do can thiệp, mách nước cho độc giả, vì kịch bản viết ra không phải để đọc mà là để biểu diễn trên sân khấu Khi viết kịch bản, chất liệu quan trọng nhất mà nhà văn có thể sử dụng để xây dựng hình tượng nhân vật là lời thoại cùng với giọng nói của các nhân vật Qua lời đối thoại và độc thoại, nhân vật kịch cất lên tiếng nói tự biểu hiện, tự bộc
lộ thế giới nội tâm đầy bí mật của mình nhưng thế giới nội tâm của nhân vật kịch không phải là thế giới tự đóng kịch trong bản thân Lời của nhân vật kịch là lời nói tác
động tới các nhân vật khác trong một môi trường đối thoại giữa các lời nói khác nhau
Nhân vật kịch không được khắc họa với nhiều khía cạnh tỷ mỉ, các nhân vật kịch phần
đông đều đơn giản về mặt bên trong hơn so với hình tượng tự sự Tuy nhiên, tính cách
nổi bật, xác định không có nghĩa là đơn giản một chiều, xoay quanh nét tính cách nổi bật còn có những nét tính cách khác vừa liên đới vừa biến thái làm cho gương mặt nhân vật sinh động, đa dạng hơn
Nhân vật văn học quả là tổng hợp của nhiều vai trò như vai xã hội, vai tâm
lý, vai tư tưởng, vai tính cách Trong tác phẩm tự sự, các vai trò này nhiều khi không
đồng nhất với nhau Vai trò của nhân vật kịch thường mang tính chất đơn nhất và hay
bị đồng nhất với vai tính cách Cho nên, thể hiện tính cách của nhân vật kịch vẫn là nhiệm vụ quan trọng của các vai diễn trên sân khấu
Trang 27d Lời thoại và hành động là phương tiện biểu hiện tính cách
Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện, cho nên không xuất hiện ngôn ngữ của người kể chuyện Tuy vậy, vẫn có lời chú thích trực tiếp của tác giả, trước hết là nhằm nêu rõ thời gian, đặc điểm, bối cảnh của câu chuyện hoặc để nói
rõ các hành động không lời của nhân vật, những lời hướng dẫn ấy chỉ có giá trị với người đọc, đạo diễn, diễn viên, còn trong lúc trình diễn chỉ có lời của nhân vật Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm kịch có ba dạng ngôn ngữ đối thoại (lời các nhân vật nói với nhau), ngôn ngữ độc thoại (lời nhân vật nói với chính mình, lời nói thầm của nhân vật) và ngôn ngữ bàn thoại (lời nhân vật nói riêng với khán giả)
Ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ có tính hành động Hệ thống ngôn ngữ ấy có nhiệm vụ mô tả chân dung nhân vật kịch bằng một loạt các thao tác hành động, là cơ
sở giúp cho đạo diễn, diễn viên xử lí thích hợp với hành động của nhân vật trên sân khấu
Ngôn ngữ kịch là một hình thái ngôn ngữ hội thoại gần gũi với đời sống: súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu ngữ
Ngôn ngữ kịch mang tính tổng hợp và phải phù hợp với tính cách nhân vật Trong kịch, thoại cũng là hành động đầy kịch tính Kịch khai thác triệt để chức năng hành động của lời nói, cho nên đây là đặc điểm thể hiện bản chất thể loại của ngôn ngữ kịch Chức năng hành động của lời nói bộc lộ đầy đủ nhất trong lời đối thoại của các nhân vật Trong đối thoại, muốn lời thoại trở thành hành động có kịch tính, mỗi lời nói phải bộc lộ một mục đích, một khuynh hướng ý chí Triệt để khai thác chức năng hành động của lời thoại, kịch văn học sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện hữu hiệu để khắc hoạ tính cách Tính cách nhân vật là một cấu trúc phức tạp Trong tính cách vừa có yếu tố thuộc tâm lý, tính cảm, tính khí, khí chất, vừa có yếu tố thuộc tư tưởng, quan niệm, vừa có yếu tố thuộc về cá tính cá nhân, vừa có yếu tố thuộc
về cái chung, cái xã hội
1.2.2 Kịch Lưu Quang Vũ trong đời sống văn học những năm 80 cuối thế kỷ XX
1.2.2.1 Vài nét về tiểu sử tác giả Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại xã Thiệu Cô, huyện Hạ Hoà (Phú Thọ), quê gốc ở Đà Nẵng
Trang 28Là con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh
Thuở nhỏ, Lưu Quang Vũ sống cùng gia đình ở chiến khu Việt Bắc, khi hoà bình lập lại (1954), gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội
Từ 1965 đến 1970, ông nhập ngũ, phục vụ trong quân chủng phòng không không quân Đây là thời kì tài thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ Từ 1970 đến 1978, Lưu Quang Vũ xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để sinh sống
Từ tháng 8 năm 1979, Lưu Quang Vũ làm phóng viên tạp chí sân khấu
Năm 1988, giữa lúc tài năng đang vào độ chín, tên tuổi vang dội trên văn đàn Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ 5 cùng với vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ
Nói đến Lưu Quang Vũ là nói đến một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại Con đường sự nghiệp khởi đầu từ thơ và kết thúc rực rỡ ánh hào quang
ở kịch Không chỉ có vậy, truyện ngắn của Lưu Quang Vũ, những bài bình luận sân
khấu của ông cũng tạo được bản sắc, giọng điệu riêng, để lại những dư vị khó quên trong lòng người đọc
Từ thuở bé, Lưu Quang Vũ đã sớm bộc lộ năng khiếu hội họa và cốt cách của một thi
sĩ tài hoa, đa cảm trong tương lai
Bước chân vào con đường nghệ thuật, Lưu Quang Vũ được biết đến đầu tiên như một bài thơ, một "Cây bút trẻ nhiều triển vọng" - Hoài Thanh đã nồng nhiệt đón chào những bài thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ bằng những lời đánh giá cao như vậy
Tập thơ đầu tay “Hương Cây - Bếp lửa” in chung với Bằng Việt ở độ tuổi 20 đã làm
xao động bao bạn đọc bởi chất tươi mát, ngọt ngào và những hoài niệm đẹp đẽ về tình yêu, cuộc sống, tiêu biểu cho tiếng nói của thế hệ trẻ thời chống Mĩ hào hùng Từ tập
thơ đầu trong tươi vui, trong trẻo ấy, đến những bài thơ "viển vông, cay đắng, u buồn"
viết trong những năm chiến tranh, người đọc cảm nhận sâu sắc sự chuyển biến trên hai chặng đời khác nhau của một con người
Về văn xuôi, Lưu Quang Vũ cũng có duyên nợ với vài chục truyện ngắn trong
ba tập “Người kép đóng hổ” (1983), “Mùa hè đang đến” (1983), “Truyện ngắn Lưu
Quang Vũ” (1994) Truyện ngắn của Lưu Quang Vũ từ đầu những năm 80 đã là sự báo hiệu, là bước tiền trạm cho các vấn đề nổi lên bức xúc trong văn xuôi hôm nay
Trang 29Không chỉ làm thơ, viết văn, Lưu Quang Vũ còn viết phê bình Cuốn “Diễn
viên và sân khấu” viết chung với Vương Trí Nhàn, Xuân Quỳnh là một trong những
quyển sách quý hiếm viết về những nghệ sĩ tài năng trên sàn diễn
Như một sự tiếp nối tất yếu, Lưu Quang Vũ đến với kịch, tìm thấy ở kịch mảnh
đất màu mỡ cho tài năng mình toả sáng Hoạt động sân khấu từ khi có mặt của Lưu
Quang Vũ sôi nổi và nhộn nhịp hẳn lên Kịch Lưu Quang Vũ được lưu diễn trên khắp chiều dài, chiều rộng của đất nước tham dự vào đời sống nhân dân Vinh quang đến với anh ngay từ vở kịch đầu tay “Sống mãi tuổi 17” được nhận huy chương vàng tại Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1980 Kể từ đó Lưu Quang Vũ được nhắc đến như một hiện tượng xuất sắc, tiêu biểu của kịch trường Việt Nam Năm 1985 trong Hội diễn sân khấu toàn quốc, Lưu Quang Vũ đã đạt sáu huy chương vàng, hai huy chương bạc Năm 1988, trước lúc mất, anh đã hoàn thành một lúc bốn vở, lại bắt tay vào bốn
vở mới Sức làm việc với tốc độ như vậy thật phi thường Giáo sư Phan Ngọc nhận
định “Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất thế kỷ này của Việt Nam, là một nhà
văn hoá” Hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ đã làm thay đổi diện mạo của sân khấu
Việt Nam những năm 80
Trong lịch sử sân khấu nước ta, thời kỳ kịch của Lưu Quang Vũ có lẽ là thời kỳ huy hoàng, sôi động nhất Nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình đã đánh giá cao tài năng, tâm huyết và những đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền văn học nói chung
Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 về nghệ
thuật sân khấu (với các vở kịch: “Tôi và chúng ta”, “Lời thề thứ 9”)
Tác phẩm chính: “Sống mãi tuổi 17” (1979), “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (1981), “Mùa hạ cuối cùng” (1981), “Cô gái đội mũ nồi xám” (1981), “Nàng Xita” (1982), “Nữ kí giả” (1983), “Tôi và chúng ta" (1984), “Ông vua hoá hổ” (1985), “Hoa cúc xanh trên đầm lầy” (1987), “Lời thề thứ 9” (1988)
Trong số kịch bản của Lưu Quang Vũ, có hai trích đoạn được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông Đó là vở “Tôi và chúng ta” (lớp 9) và “Hồn Trương Ba,
da hàng thịt” (lớp 12)
Trang 301.2.2.2 Kịch Lưu Quang Vũ hòa vào dòng chảy văn học những năm 80 cuối thế kỷ XX
Sau năm 1975, khi khúc nhạc khải hoàn vừa tấu xong, những cảm xúc mạnh
mẽ về chiến công vẻ vang tạm lắng xuống thì mặt trái chiến tranh cũng bộc lộ và được nhận thức Đứng trước hiện thực còn ngỗn ngang trăm mối, văn học nói chung và kịch nói riêng phải làm gì? Đó là nỗi băn khoăn, trăn trở của các thế hệ cầm bút
Với đặc trưng riêng, kịch có khả năng nắm bắt và phản ánh nhanh, kịp thời những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội Thế mạnh của kịch là ngôn từ được chuyển hóa vào hình tượng, vào mâu thuẩn, vào xung đột hiện diện ngay trên sân khấu thông qua nghệ thuật biểu diễn của diễn viên Do vậy, một mặt kịch nói vẫn hướng vào đề tài chiến tranh, tiếp tục đề xuất, lí giải mới về hiện thực chiến tranh; mặt khác, trong không khí dân chủ và nhiệt huyết công dân mới, kịch nói hướng vào những vấn đề xã hội- chính trị nóng bỏng đang đặt ra trong thực tế đời sống Đấy là, mười năm sau chiến tranh cơ chế quan liêu bao cấp đã đến lúc bộc lộ hết những hậu quả nặng nề của
nó trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội Hàng loạt chủ trương chính sách đã tỏ
ra lỗi thời Những quy luật đặc thù của đời sống chiến tranh đã hết hiệu lực, không còn phù hợp với trạng thái phát triển của đất nước trong điều kiện lịch sử mới Bảng giá trị
đạo đức - xã hội mới cũng thay đổi Chính những hiện tượng nhức nhối của cuộc sống
hiện thực xét trên bề mặt, và ở bề sâu, cùng những vấn đề đạo đức tinh thần của con người đang được đặt ra, đòi hỏi một cách phân tích và đánh giá mới Những chuyển biến ấy, đã tạo một lực đẩy mạnh mẽ cho sân khấu từ những năm 80 đến trước thời kỳ
đổi mới phát triển sôi động Sự phát triển đó cũng là lẽ tự nhiên và hợp quy luật Bởi,
cũng như các thể loại văn học khác, kịch không chỉ có nhiệm vụ phản ánh kịp thời những vấn đề thời sự đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn có chức năng dự báo những vấn đề của tương lai Và, kịch đã tham gia trực tiếp vào đời sống, nói lên tiếng nói của
đời sống với mọi giai điệu và màu sắc khác nhau Muốn trở thành người bạn đồng
hành với cuộc sống, kịch không thể đứng cao hơn, cũng như không thể đứng xa, né tránh những vấn đề gai góc của cuộc sống, mà phải hòa nhập để nắm bắt được mạch
đập và dòng chảy của nó.Vì vậy, thời kỳ này xuất hiện khá nhiều kịch bản văn học viết
về cuộc sống mới và con người mới trong sản xuất và trong xây dựng, số phận con người sau chiến tranh… Dường như đó là hướng chủ đạo, chi phối cảm quan của người nghệ sĩ Một đội ngũ tác giả có tên tuổi được hình thành, đó là Đào Hồng Cẩm,
Trang 31Doãn Hoàng Giang, Tất Đạt, Xuân Trình, Thanh Hương, Lưu Quang Vũ… với những kịch bản đã một thời khắc dấu vào dòng kịch Việt Nam hiện đại Nhắc đến Doãn
Hoàng Giang người ta không quên “Hoa và cỏ dại”, “Hà Mi của tôi”, “Nhân danh
công lý”, nghĩ về Xuân Trình là người ta nhớ đến “Mùa hè ở biển”, tên tuổi của Tất
Đạt gắn liền với “Bình Minh đó trái tim anh”, “Đỉnh cao ước mơ”, nữ tác giả Thanh
Hương với “Sống trong thung lũng tình yêu và Vàng”, nhà viết kịch quân đội Đào Hồng Cẩm cũng cất lên “Tiếng hát tuyệt vời”, và tác giả trẻ Lưu Quang Vũ vẫn sống mãi trong chúng ta với “Cô gái đội mũ nồi xám”, “Hồn Trương Ba da hàng thịt”,
“Nguồn sáng trong đời”, “Tôi và chúng ta”, “Khoảnh khắc và vô tận”…
Nói đến sự phát triển kịch những năm 80, không thể không nhắc đến Lưu Quang Vũ, người đã trở thành một “hiện tượng” đặc biệt trong giới sân khấu Lưu Quang Vũ không chỉ đóng góp cho sân khấu một khối lượng kịch bản khổng lồ (hơn
50 vở kịch) ở tất cả các chủng loại: Kịch nói, tuồng chèo, cải lương; mà hơn thế nữa, trên phương diện nghệ thuật viết kịch, ông đã để lại những bài học thật quí giá.Tuy trình làng muộn hơn nhưng Lưu Quang Vũ đã chiếm được vị trí hàng đầu trên sân
khấu trong thập kỷ 80, cùng với thế hệ đàn anh, Lưu Quang Vũ đã “làm nên một giai
đoạn sân khấu cực kỳ sôi động, hấp dẫn, ít khả năng lặp lại trong lịch sử nghệ thuật
dân tộc” [6;562] Là một nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, Lưu Quang Vũ đã nhanh
chóng bao quát được sự biến đổi của hiện thực trên cả bề rộng và chiều sâu của nó Hầu hết những vở còn để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng công chúng là những vở
động chạm đến những vấn đề vừa nóng bỏng chất thời sự lại vừa chứa đựng chiều sâu
triết lí, mang ý nghĩa lâu dài, không bao giờ xưa cũ (“Hồn Trương Ba da hàng thịt”,
“Nguồn sáng trong đời”, “Tôi và chúng ta”…) Nét quán xuyến trong toàn bộ sáng tác
của Lưu Quang Vũ, làm nên phong cách kịch Lưu Quang Vũ là tính hiện đại và tính nhân văn Ngay cả khi ông viết về đề tài lịch sử, dân gian, trong nước hay nước ngoài,
đó là yếu tố tạo nên sự gần gũi, đồng cảm với công chúng đương thời Trong kịch bản
của Lưu Quang Vũ có mặt nhiều nghành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Từ đề tài công nghiệp (“Tôi và chúng ta”, “Khoảnh khắc và vô tận”, “Quyền
được hạnh phúc”, “Nếu anh không đôt lửa”) đến đề tài nông nghiệp (“Bệnh sĩ”) Từ
nghành y tế (“Nguồn sáng trong đời”, “Vi khuẩn Han- xen”) đến ngành giáo dục (“Mùa hạ cuối cùng”, “Tin ở hoa hồng”); từ hậu phương đến tiền tuyến (“Lời thề thứ chín”, “Điều không thể mất”); từ chiến tranh đến hòa bình, từ thành thị đến nông
Trang 32thôn… tất cả đều hiện lên trong kịch của Lưu Quang Vũ với một ý nghĩa xã hội sâu sắc Ngoài ra, kịch của ông còn là tiếng nói của những người gặp: một ông giám đốc, một chị công nhân, một bác sĩ, kỹ sư, có cả những kẻ lang thang, những người say rượu, những người bán rong… Muôn mặt đời thường đã đi vào tác phẩm và trở thành những điển hình nghệ thuật truyền tải những thông điệp về cuộc sống Do vậy, người xem đến với sân khấu không phải chỉ để giải trí, để thưởng thức cái hay, cái đẹp của nghệ thuật mà chủ yếu để thể hiện một thái độ đồng tình hay không đồng tình trước những vấn đề lớn lao, nóng bỏng của cuộc sống
Năm 1984, vở “Tôi và chúng ta” của Lưu Quang Vũ đã gây được tiếng vang
lớn và ông trở thành một trong những tác giả mở đầu cho đề tài đổi mới trong cơ chế sản xuất và quản lí Và, tác phẩm được giới phê bình đánh giá cao đó là vở “Hồn Trương Ba da hàng thịt” Vở kịch này được viết năm 1984 nhưng đến năm 1987, trong không khí đổi mới dân chủ, mới được ra mắt công chúng Ngay khi mới công diễn vở kịch đã gây chấn động dư luận, tạo ra một không khí tranh luận sôi nổi rộng khắp Bởi
vở kịch đã đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ Năm 1985, Lưu Quang Vũ là tác giả gặt hái nhiều thành công nhất trong các kỳ Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp từ Bắc chí Nam Ông có tám kịch bản tham dự thì tất cả đều đoạt giải, trong đó có sáu vở đoạt Huy chương vàng, hai vở đoạt Huy chương bạc Bằng sự nhạy bén của người nghệ sĩ, Lưu Quang Vũ luôn tìm thấy trong cuộc sống vốn ngổn ngang nhiều điều cần trao đổi Và năm 1988, chưa bao giờ những vấn đề bức thiết của cuộc sống lại được Lưu Quang Vũ
đưa lên sân khấu ào ạt như thế Đây là năm được mùa nhất những vở kịch của ông, đồng thời cũng là năm sân khấu mất đi một nhà viết kịch tài năng Với “Quyền được
hạnh phúc” đã tập trung cao nhất tư tưởng dân chủ của Lưu Quang Vũ Còn vở “Ông không phải là bố tôi” là sự đan xen xót xa giữa quá khứ ấu trĩ và cuộc sống hiện tại
Đặc biệt vở “Lời thề thứ chín” lại mang niềm trăn trở về mối quan hệ giữa tiền tuyến
và hậu phương người lính Một số vở khác như “Bệnh sĩ”, “Trái tim trong trắng”,
“Điều không thể mất” đều là những bức tranh hiện thực sinh động với nhiều nỗi niềm băn khoăn về cuộc sống
Mỗi kịch bản của Lưu Quang Vũ đã thực sự góp một tiếng nói riêng, bởi trong
đó thể hiện đầy đủ thái độ, lập trường, tình cảm và quan niệm của người nghệ sĩ trước
hiện thực đời sống Người nghệ sĩ đã tỏ ra sáng tạo, mạnh dạn khi nhìn về cái thiện, cái ác, lẽ phải và sự công bằng trong xã hội Một số vở diễn đã có tiếng nói kịp thời và
Trang 33tích cực về vấn đề phải thay đổi cơ chế quản lí, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá con người trong xã hội mới Đó là kết quả của lòng nhiệt tâm, sức lực, sự hiểu biết cuộc sống của người nghệ sĩ đồng thời cũng là kết quả của một tình yêu, lòng say mê
và khát vọng nghệ thuật Và thành quả trong sáng tác của ông được ghi nhận như một
đóng góp xuất sắc cho nền văn học kịch Việt Nam Từ đấy, “ Sân khấu đã vượt lên
trước tất cả các bộ môn nghệ thuật khác trong việc xông vào những vấn đề xã hội
đang gay cấn và nóng bỏng; vượt lên trên các nghành nghệ thuật khác, nó dẫn đầu
trong việc phanh phui thực trạng xã hội của chúng ta, phơi bày những thực tế phức tạp gay gắt của đời sống xã hội, cố gắng vẽ nên bức tranh chân thật của xã hội và con người chúng ta hiện nay, và trong chừng mực nhất định, nó đề xuất một số kiến nghị
xã hội ít nhiều quan trọng”[3;562]
Với quan niệm mới về con người, với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật” như
một cung cách ứng xử mới đối với chất liệu hiện thực, văn học đương đại nói chung, kịch nói riêng trong đó tiêu biểu là kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ đã có được những thành công đáng kể Những ghi nhận trên như một sự phác họa diện mạo kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ trong đời sống văn học những năm 80 của thế kỷ XX
Đó được xem như những thành tựu bước đầu khai vỡ mảnh đất hiện thực, đụng chạm đến những nhu cầu bức xúc của công chúng đối với xã hội mà kịch đã đạt được trong
quá trình mười năm vận động và kiếm tìm không mệt mỏi
Trang 34CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HIỆN THỰC
TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ
Quan niệm nghệ thuật về hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến
cố lịch sử và đời sống cộng đồng Mà đó còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực, đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Vì vậy, hiện thực đời sống trong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những
không gian vô tận cho văn học thỏa sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ
2.1 Tham dự vào dòng chảy mảnh liệt của cuộc sống
Lưu Quang Vũ bộc bạch: “Động lực xui giục tôi viết kịch cũng như làm thơ, đó
là khát vọng muốn được bày tỏ, muốn được thể hiện tâm hồn mình và thế giới xung quanh, muốn được tham dự vào dòng chảy mãnh liệt của đời sống, được trao gửi và dâng hiến”[4;316]
Tắm mình vào “dòng chảy mãnh liệt của đời sống”, Lưu Quang Vũ luôn cảm nhận được những mạch sóng ngầm chứa nhiều kịch tính Chính sự tôn trọng lô-gic hiện thực và chân lý đời sống đã mang đến sự gần gũi trong tác phẩm kịch của ông Mỗi vở kịch của ông là một câu chuyện đời thường mà ẩn chứa bên trong nhiều triết lí sâu xa: Nếu “Tôi và chúng ta”, “Nếu anh không đốt lửa” là thái độ kiên quyết đấu tranh để cho những người có đức, có tài, có tâm được lên nắm cương vị quan trọng thay thế bộ máy lỗi thời, mục ruỗng,… thì “Ông không phải là bố tôi”, “Bệnh sĩ” là cái nhìn giễu cợt xen lẫn buồn bã trước những ấu trĩ, thói hư tật xấu của một thời,…Từ một bức tranh thu nhỏ trong phạm vi gia đình đến khung cảnh rộng lớn của một nhà máy, một nông trường; từ một mảnh đất của tình yêu đến chiến trường khốc liệt, từ quá khứ đến hiện tại,… Qua bàn tay tái tạo của ông, tất cả đều hiện lên với dáng vẻ vừa chân thực, vừa có sức lay động mạnh mẽ Là một nghệ sĩ tâm huyết với đời, với
nghề, Lưu Quang Vũ tâm niệm “cuộc sống, chỉ gắn bó với cuộc sống, sống hết mình
với cuộc sống mới tránh khỏi sự khô cạn tài năng – thứ hiểm họa luôn đe dọa người nghệ sĩ ở bất cứ lứa tuổi nào, địa vị nào”[4;292] Với ông, cuộc sống thực sự là nguồn
sinh lực nuôi dưỡng tài năng và mang đến cho tâm hồn ông những cảm hứng sáng tạo mới