1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Liên văn bản trong kịch Lưu Quang Vũ . Luận văn ThS. Văn học

120 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa với sự nỗ lực của nhà văn trong quá trình sáng tác là tiếp tục tinh thần phê phán, khơi sâu các vấn đề xã hội, thế sự, đời tư, Lưu Quang Vũ đã phát hiện những mặt trái của của nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HỒNG YẾN

LIÊN VĂN BẢN TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HỒNG YẾN

LIÊN VĂN BẢN TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học

Mã số: 60.220.120

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Lý Hoài Thu

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Lý Hoài Thu

cô giáo đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Văn học, đặc biệt là các thầy cô giáo trong chuyên ngành Lý luận đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn những người thân : Gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi có được kết quả này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Hồng Yến

Trang 4

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀ

HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC KỊCH CỦA LƯU QUANG VŨ 16

Chương 2: LIÊN VĂN BẢN QUA HỆ THỐNG

ĐỀ TÀI, CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT 38

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thế kỉ XX được xem là thế kỉ của lí thuyết văn học với sự ra đời và

phát triển của nhiều trường phái lí thuyết hiện đại phương Tây như chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc, hậu hiện đại Các trường phái lý thuyết vừa có sự tiếp biến, ảnh hưởng vừa phủ nhận nhau đã tạo cho đời sống văn học sự đa dạng và phức tạp Đầu thế kỉ XX, khái niệm về văn bản được phát hiện đã làm thay đổi quan niệm về tác phẩm văn học, cấu trúc tác phẩm, về vị trí của tác giả Nửa cuối thế kỉ XX, khái niệm tính liên văn bản (interxtuality) gắn với tên tuổi nhà nghiên cứu ngôn ngữ học người Thụy Sĩ F.Saussure, nhà thi pháp học Nga Bakhtin, đặc biệt là nhà triết học, nữ quyền luận, nhà tiểu thuyết Pháp gốc Bulgari Kritteva đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Thuyết liên văn bản của Kritteva, Bakhtin, Barthes, Genette, Riffatee, Bloom, đều có nhận thức chung rằng bất kì văn bản nào đều có mối quan hệ với văn bản khác ra đời trước đó Mối quan hệ liên văn bản dựa trên sự kết nối các văn bản với nhau bằng các phương thức trích dẫn, mô phỏng, chuyển thể, pha

trộn, nhái, nhại, đạo văn Thuật ngữ “liên văn bản” dùng để mô tả mỗi văn bản

đều chứa đựng sự tham chiếu của các văn bản khác, qua đó mà chúng nảy sinh nhiều ý nghĩa mới mẻ Liên văn bản có thể là vô thức, có thể được tác giả nhận thức trong quá trình sáng tác, được người đọc nhận thức trong thực tiễn, bởi vậy

mà các giá trị văn hóa không ngừng phát triển Nghiên cứu tác giả, tác phẩm từ góc độ liên văn bản đang thu hút giới nghiên cứu phê bình văn học đương đại không chỉ trên thế giới mà còn được chú ý ở Việt Nam trong những năm gần đây Tiếp cận văn bản tác phẩm từ lí thuyết liên văn bản đã mở ra một hướng tiếp cận mới, nó kích thích quá trình tìm hiểu khoa học và khám phá thế giới văn hóa của người đọc, từ đó mở ra tầng vỉa giá trị mới cho tác phẩm văn chương

Trang 6

1.2 Lưu Quang Vũ là một tác giả lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam

nửa cuối thế kỉ XX Không kể đến sáng tác thơ và văn xuôi, nếu chỉ tính riêng

về sáng tác kịch thì ông là một tên tuổi hàng đầu của kịch trường Việt Nam những năm tám mươi của thế kỉ XX Với số lượng tác phẩm (53 vở kịch trong vòng mười năm sáng tác), Lưu Quang Vũ đã để lại một dấu ấn đặc biệt gây chú

ý trong diễn đàn văn học Sau hàng loạt các vở diễn gây tiếng vang như Nàng

Sita, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9, Nguồn sáng trong đời, đã có rất nhiều ý kiến đánh giá về tài năng sáng tạo của Lưu

Quang Vũ, nhiều ý kiến cho rằng ông là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện

đại” Nhà nghiêu cứu Phan Ngọc nhận xét: “Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch lớn nhất của thế kỉ này của Việt Nam và là một nhà văn hóa” và “có một kịch pháp Lưu Quang Vũ mà cả Đông Nam Á có thể tiếp thu” Với Ngô Thảo thì Lưu

Quang Vũ là “một đỉnh cao” và là một trong tác giả hàng đầu của sân khấu Việt

Nam thập niên tám mươi của thế kỉ XX Nhìn từ góc độ tài năng tỏa sáng, nhà

phê bình Lý Hoài Thu nhận ra “Lưu Quang Vũ đã mang đến cho đời sống sân

khấu một cuộc phục sinh mạnh mẽ” Nhận xét đó đã được kiểm chứng qua thời

gian, và cho đến nay kể từ sau sự ra đi đột ngột của nhà viết kịch thiên tài thì sân khấu Việt Nam lại rơi vào tình trạng thiếu kịch bản hay Nhìn vào thực tế có thể thấy rằng chưa có một tác giả viết kịch bản nào có thể thay thế được vị trí của nhà văn Lưu Quang Vũ Ông là một tác giả có công lao đóng góp lớn cho một thập niên sân khấu có nhiều thành tựu đặc sắc Các vở kịch của ông góp phần nâng cao chất lượng sân khấu cả nước vào thời kì xã hội nhiều biến động và đang còn chồng chất khó khăn Những vở kịch của Lưu Quang Vũ khi được trình diễn đã đem đến cho đời sống tinh thần văn hóa của nhân dân cả nước một bầu không khí phấn chấn, tin tưởng, cởi mở, dân chủ Theo Lưu Khánh Thơ

“trong lịch sử sân khấu nước ta, thời kì của Lưu Quang Vũ có lẽ là thời kì sôi động, giàu sức sống nhất, thu hút đông đảo người xem nhất” Nét độc đáo trong

kịch của Lưu Quang Vũ là “đã làm thay đổi tư duy của người biểu diễn cũng

Trang 7

như của công chúng” Lưu Quang Vũ, một nhà văn có tầm ảnh hưởng rộng lớn

đối với diện mạo văn học và đối với công chúng không chỉ hôm nay mà chắc chắn cả mai sau, tầm đón đợi các vở kịch của Lưu Quang Vũ sẽ còn có sức lan tỏa mạnh mẽ và mãnh liệt qua chiều kích của thời gian

Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ là cây bút tiêu biểu có nhiều đóng góp lớn cho nền sân khấu Việt Nam Ông là một nhà văn có ý thức sử dụng liên văn bản trong các sáng tác của mình Các vở kịch của ông chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau như lịch sử, huyền thoại, triết học, báo chí, khoa học…Tất cả

đã trở thành chất liệu văn chương và nguồn sáng tạo trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ Hơn nữa với sự nỗ lực của nhà văn trong quá trình sáng tác là tiếp tục tinh thần phê phán, khơi sâu các vấn đề xã hội, thế sự, đời tư, Lưu Quang

Vũ đã phát hiện những mặt trái của của nhân sinh xã hội với tinh thần tự vấn, phản biện đối thoại với tinh thần dân chủ cởi mở Nhà văn luôn khát khao thay đổi, vươn tới giá trị sống cao đẹp của con người, luôn hướng tới sự hòa nhập với thế giới hiện đại và tinh thần dân chủ thực sự Chính bởi lẽ đó mà các sáng tác của ông mang tư tưởng cách tân mới mẻ, táo bạo, nhận được nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu và sự hưởng ứng của độc giả, đặc biệt là khán giả xem kịch của ông

1.3 Sức lan tỏa từ những vở kịch và vị trí xuất sắc của Lưu Quang Vũ

trong nền văn học Việt Nam đã trở thành lí do xứng đáng để các nhà nghiên cứu

và các nhà giáo dục lựa chọn đưa tác phẩm của ông vào trong chương trình

giảng dạy phổ thông kể từ năm 2000 Với trích đoạn của hai vở kịch Tôi và

chúng ta; Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã được giới thiệu là

nhà văn tiêu biểu cho thể loại kịch nói hiện đại Việt Nam Việc chọn lựa các trích đoạn kịch của Lưu Quang Vũ giới thiệu trong chương trình phổ thông cùng

với tác giả Nguyễn Huy Tưởng với hai trích đoạn trong vở kịch Bắc Sơn và Vũ

Như Tô đã khẳng định tầm ảnh hưởng của các vở kịch đối với thế hệ trẻ Lưu

Trang 8

vừa chứa đựng những tư tưởng mới mẻ, hiện đại, tiến bộ vừa bảo lưu những giá trị truyền thống nhân văn cao đẹp, đạo đức cốt tử làm người, những khát vọng chân chính là nền tảng để xây dựng một xã hội tốt đẹp vì cuộc sống của con người Những giá trị đó cần được thế hệ trẻ mà đặc biệt là học sinh tiếp nhận như một bài học quý giá về giá trị sống đích thực của con người trong xã hội hiện đại Việc đưa một tác giả kịch bản vào trong chương trình phổ thông một lần nữa thể hiện sự đánh giá cao vị trí và vai trò của nhà văn Lưu Quang Vũ- một nhà văn tiên phong của thời kì đổi mới đã gặt hái được nhiều thành tựu ở thể loại kịch và có những đóng góp xuất sắc cho diện mạo của văn học Việt Nam những năm tám mươi của thế kỉ XX

Với những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Liên văn bản trong

kịch của Lưu Quang Vũ” cho luận văn thạc sĩ của mình Có thể nói đây là một

hướng đi vừa là khám phá cũng vừa là một thử nghiệm khi dùng lí thuyết liên văn bản tiếp cận một tác giả kịch lớn trong văn học Việt Nam Cảm hứng đến với đề tài này hy vọng sẽ đem đến cho chúng tôi những phát hiện mới có ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa xã hội qua một số vở kịch tiêu biểu của nhà viết kịch tài năng Lưu Quang Vũ

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những công trình đánh giá về thơ Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ là tác giả xuất hiện trên diễn đàn văn chương sớm với tập

thơ Hương cây - Bếp lửa in chung với Bằng Việt năm 1968 Tập thơ ngay khi

mới ra đời đã thu hút sự chú ý của các nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận định

về Lưu Quang Vũ là “Một cây bút trẻ đầy triển vọng”, thơ của ông “là tiếng nói

nhỏ nhẹ mà sâu” tình cảm trong thơ là “đúng”, ông được đánh giá “là một ngòi bút thông minh” có rất nhiều ưu điểm và có nhiều triển vọng Nhà nghiên cứu Lê

Đình Kỵ nhận xét tập thơ Hương cây- Bếp lửa : “Thơ Lưu Quang Vũ có một

điệu tâm hồn riêng và không thiếu tâm tình, một tâm tình sâu sắc tự nhiên không dứt ra được” [40,tr.73] Nhà phê bình Lý Hoài Thu nhận ra vẻ độc đáo của tập

Trang 9

thơ Hương cây - Bếp lửa “không cao giọng, không trực tiếp lặn lội trên những

nẻo đường Trường Sơn hay những mảnh đất vùng tuyến lửa như nhiều bạn thơ cùng thế hệ, Thơ Lưu Quang Vũ mang một vẻ đẹp lí tưởng và nặng tình yêu quê hương đất nước” [40.tr.28] Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét về thơ của Lưu

Quang Vũ có "một cách nhìn đời hồn hậu lạc quan, quay phía nào cũng thấy sự

hài hòa ưu ái” [40,tr.77] Đã có rất nhiều những ý kiến đánh giá về thơ của Lưu

Quang Vũ nhưng nhìn chung tất cả đều hướng tới nhận xét là nhìn thấy trong

thơ của Vũ sự “chân thành” và “đắm đuối” trong cảm xúc Người làm thơ cái

cần trước tiên là cảm xúc và tình cảm bởi lẽ nếu cảm xúc không mãnh liệt, tình

cảm không chân thành thì làm sao có thể viết cho “ngòi bút có thần” ở ngôn ngữ

thơ ca được? Lưu Quang Vũ đã thành thực với chính lòng mình khi bày tỏ tình yêu đối với con người, cuộc sống, thiên nhiên, đất nước Tình cảm trong thơ của ông có lúc vui, lúc buồn, có khi chua chát đầy đau khổ… nhưng tất cả lại được nhìn bởi nhân sinh quan tích cực, triết lý sống lạc quan tin tưởng Hai mươi năm sáng tác, Lưu Quang Vũ đã sáng tác hơn mười tập thơ, có những tập thơ đã được

in, có tập thơ chưa xuất bản Các tập thơ được nhiều người biết đến như Hương

cây - Bếp lửa (1968), Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu

(1993), Gửi các anh (1998), đã khẳng định Lưu Quang Vũ là một thi sĩ tài năng,

một cá tính thơ độc đáo trong dòng thơ hiện đại nửa cuối thế kỉ XX Được biết đến là một nhà thơ trước khi là một nhà viết kịch nhưng hành trình thơ ca của Lưu Quang Vũ lại có ảnh hưởng lớn đối với sự thành công ở thể loại kịch

Chính nhà văn đã tâm sự “Trong quan niệm của tôi, thơ và kịch rất gần nhau, có

lẽ thơ với kịch còn gần nhau hơn là thơ với văn xuôi Đều là hai thể loại lớn và khó của văn học, thơ và kịch đều là sự sống và thế giới bên trong của con người

ở dạng tinh chất, cô đọng và mãnh liệt nhất Đối với tôi, kịch cũng là một thứ thơ được trình bày trong không gian và thời gian kì diệu của sân khấu, thông qua diễn xuất của diễn viên” [40,tr.505] Như vậy, những thành công của Lưu

Trang 10

công đó là tiền đề quan trọng để đánh giá về kịch của Lưu Quang Vũ ở chặng sáng tác sau

2.2 Những công trình đánh giá về kịch của Lưu Quang Vũ

Khái quát về đời văn của Lưu Quang Vũ, tác giả Lý Hoài Thu trong cuốn

Lưu Quang Vũ về tác giả và tác phẩm đã có một công trình mang tính tổng lược

và hoàn chỉnh về đường nghệ thuật của Lưu Quang Vũ từ một nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đến khi trở thành một tác giả hàng đầu của sân khấu Việt Nam Bài

viết đã chỉ rõ : “Lưu Quang Vũ có hai mươi năm vui buồn cùng thơ và mười năm

cuối đời song hành cùng kịch, nhưng trong mười năm ấy tài năng của Lưu Quang Vũ đã tỏa sáng và tạo cho mình một phong cách, một “kịch pháp” và trở thành một hiện tượng nổi bật nhất của sân khấu Việt Nam thời kì đổi mới” [40,

tr.42] Sức sáng tạo của Lưu Quang Vũ bắt đầu từ vở kịch đầu tay Sống mãi

tuổi 17 (1979), vở diễn ra mắt của Nhà hát Tuổi trẻ và lần đầu tiên tham gia hội

diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc đạt giải nhất Với vở diễn này, giới sân khấu đánh giá Lưu Quang Vũ là một gương mặt mới, đáng chú ý Sau cái chết đột ngột của cha là nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, Lưu Quang Vũ lập tức bắt

tay vào hoàn thiện kịch bản chèo Nàng Sita và được đoàn chèo Hà Nội dàn

dựng, sau đó vở diễn được hơn 30 đoàn nghệ thuật trong cả nước dựng lại với

đủ các thể loại như: kịch nói, cải lương, dân ca, chèo Với vở kịch này Lưu Quang Vũ đã tạo được tiếng vang lớn trong làng sân khấu của cả nước Nhưng phải đến năm 1984, Lưu Quang Vũ sáng tác 15 vở kịch, hội diễn sân khấu toàn quốc 1985 có tới 8 vở tham gia hội diễn thì 6 vở đạt Huy chương vàng, 2 vở đạt

Huy chương bạc, báo chí gọi ông là cây bút vàng của kịch trường Việt Nam Ba

năm cuối đời sức sáng tạo của Lưu Quang Vũ thật phi thường khi ông hoàn thành tiếp hơn hai mươi vở kịch Trong vòng mười năm ngắn ngủi của cuộc đời, Lưu Quang Vũ đã để lại hơn 50 vở kịch và ông đã trở thành một hiện tượng đặc

biệt của sân khấu Việt Nam Trong cuốn sách Lưu Quang Vũ tài năng và lao

động nghệ thuật, nhà phê bình Ngô Thảo nhận xét : “Hạt giống gieo vào mảnh

Trang 11

đất tốt gặp thời tiết thuận hòa, lại có một nội lực khỏe đã nhanh chóng phát triển Và bóng rợp của tài năng Lưu Quang Vũ trùm lên che mát cả một vùng sân khấu rộng lớn và trải dài đất nước trong một thập niên” [39,tr.53] Nhà

nghiên cứu Phan Ngọc trong Tạp chí Tia sáng, số 5, 1996 khi nói về các vở kịch của Lưu Quang Vũ khai thác mô típ truyện dân gian có nhận xét : “Không ai

bằng Vũ trong biệt tài làm nêu cái muôn thuở trong cái đời thường, biến cổ tích, huyền thoại thành truyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thô lỗ để khẳng định cái cao quý ” [40,tr.266] Lưu Khánh Thơ trong bài viết Đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với nền văn học kịch Việt Nam được in trong cuốn Lưu Quang Vũ – Tác phẩm đạt giải thưởng Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao về tiếng

nói tiên phong trong kịch của Lưu Quang Vũ “Kịch của Lưu Quang Vũ là tiếng

nói trẻ trung, dũng cảm trong phong trào đổi mới ở nước ta Đó là kết quả của nhiệt tâm, sức lực, sự hiểu biết cuộc sống của người nghệ sĩ đồng thời cũng là kết quả của một tình yêu của lòng say mê và khát vọng nghệ thuật” [47,tr.285]

Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng đã nhìn thấy sức sống lâu bền qua các đề

tài hiện đại trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ là ở chỗ “cảm hứng chủ đạo

trong kịch của Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái đẹp, cái thiện

…khát vọng chính của anh là khát vọng hoàn thiện cuộc sống, hoàn thiện con người Cho nên vượt qua những đề tài có tính chất thời sự, kịch của anh hướng tới những giá trị nhân đạo bền vững lâu dài” [40,tr.291] Các nhà nghiên cứu

tập trung vào hai đề tài chính trong kịch của Lưu Quang Vũ là đề tài khai thác

mô típ truyện cổ dân gian và đề tài hiện đại viết về cuộc sống mới để đưa ra những nhận xét đánh giá về tài năng nghệ thuật, cội nguồn sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ Đề tài hiện đại vẫn luôn là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt các sáng tác của Lưu Quang Vũ cho dù nhà văn khai thác các mô típ dân gian trong

các vở kịch Đạo diễn Phạm Thị Thành nhận xét : “Anh hay dùng câu chuyện

huyền thoại cổ tích để viết lên tâm sự của con người ngày hôm nay” [43,tr.174]

Trang 12

da hàng thịt “Từ một truyện cổ dân gian mang tính triết lí cao, Lưu Quang Vũ

đã sáng tác vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Vở kịch đi thẳng vào người

xem vấn đề muôn thuở của con người cũng là vấn đề cấp bách của cuộc sống

hiện tại” [40,tr.322] Nhà phê bình Lý Hoài Thu chỉ rõ trong vở kịch Hồn

Trương Ba, da hàng thịt “Lưu Quang Vũ không lệ thuộc vào nội dung câu

chuyện, đã tìm tòi, vừa mở rộng kích thước tự sự, vừa khơi sâu vào giá trị tư tưởng để tạo nên vở kịch nổi tiếng mà “hạt cơ bản” là giá trị nhân văn sâu sắc

về lẽ tử - sinh” [41,tr.117] Những ý kiến đánh giá về kịch của Lưu Quang Vũ

đều có chung nhận xét : tác giả Lưu Quang Vũ là một tài năng lao động nghệ

thuật, sức sáng tạo đặc biệt “một Molie ở Việt Nam”, đề tài kịch của Lưu Quang

Vũ rất đa dạng đặc biệt bắt nhịp với cuộc sống mới, chất lượng kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn lôi cuốn ở cách tổ chức xung đột kịch, ở ngôn ngữ và nghệ

thuật xây dựng nhân vật Cuốn sách Lưu Quang Vũ, tài năng và lao động nghệ

thuật, Lưu Quang Vũ- tác phẩm đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm cũng đã tổng hợp được rất nhiều các bài viết có giá trị của

các nhà nghiên cứu về Lưu Quang Vũ như Tất Thắng, Phan Trọng Thưởng, Ngô Thảo, Phan Ngọc, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ…

Ngoài ra còn có một số luận án và luận văn đã nghiên cứu một cách hệ

thống về tác giả, tác phẩm của Lưu Quang Vũ Luận án Giá trị tư tưởng và nghệ

thuật trong kịch của Lưu Quang Vũ (Lê Hương Giang), Những giá trị nội dung

xã hội và nghệ thuật trong kịch của Lưu Quang Vũ (Phan Trọng Thành) Luận

văn về Đặc điểm kịch của Lưu Quang Vũ, Mảng kịch dựa trên tích truyện dân

gian của Lưu Quang Vũ, Thế giới nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ, Thế giới nhân vật trong kịch của Lưu Quang Vũ… Điểm qua các công trình nghiên cứu

trên cho thấy thực tế chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu kịch Lưu Quang Vũ hướng tới lí thuyết liên văn bản Lí thuyết liên văn bản có thể không phải là mới nhưng lại là thách thức đối với những ai nghiên cứu kịch của Lưu Quang Vũ Vừa là khó khăn nhưng cũng lại mở ra sự thuận lợi, đó là hướng

Trang 13

nghiên cứu liên văn bản trong sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ vẫn còn là một

đề tài bỏ ngỏ, là khoảng trống cho những vấn đề cần được tiếp tục khai thác

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là liên văn bản trong kịch Lưu Quang Vũ Phạm vi nghiên cứu : Luận văn lựa chọn các vở kịch tiêu biểu của Lưu Quang

Vũ như : Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ông vua hóa hổ Ngọc Hân công chúa,

Sống mãi tuổi 17, Đôi dòng sữa mẹ, Nguồn sáng trong đời, Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Tôi và chúng ta, Ngoài ra luận văn khảo sát thêm một số vở kịch khác như : Lời thề thứ 9, Quyền được hạnh phúc, Cô gái đội mũ nồi xám, Linh hồn của đá…

có những đánh giá đúng đắn và sâu sắc về giá trị nội dung tư tưởng, tầng sâu văn hóa, tính thần dân chủ trong các sáng tác kịch bản Qua đó góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật, vị trí tiên phong, vai trò khơi mở, tầm tư tưởng lớn của nhà viết kịch đồng thời cũng là nhà văn hóa Lưu Quang Vũ - một nhà văn xuất sắc của thời kì đổi mới

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn vận dụng các phương pháp chính sau đây Phương pháp lịch sử - xã hội : tìm hiểu lí thuyết liên văn bản trong tiến trình lịch sử phát triển và hình thành trong bối cảnh xã hội châu Âu Từ đó lược giản những vấn đề cốt lõi nhất của lí thuyết liên văn bản, ứng dụng khía cạnh của lí thuyết phù hợp để phân tích tác giả, tác phẩm của Lưu Quang Vũ trong bối cảnh xã hội Việt Nam Người viết khi ứng dụng lí thuyết liên văn bản vào

Trang 14

văn học Việt Nam suốt chặng đường 1945 đến hết thế kỉ XX Soi xét từ bối cảnh văn hóa xã hội đặc biệt là xã hội Việt Nam những năm 80 của thời kì đổi mới, những yếu tố khách quan, chủ quan có tác động mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo của nhà văn Căn cứ vào bối cảnh chính trị, xã hội của đất nước để có nhận xét đúng đắn về vị trí, vai trò của nhà văn và tác phẩm

Phương pháp loại hình : xem xét, phân tích tác phẩm từ lí thuyết loại hình (kịch), người viết sẽ chú ý đến xung đột kịch, hành động kịch, nhân vật và ngôn ngữ kịch để nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên, đề tài của luận văn là ứng dụng lí thuyết liên văn bản khi xem xét các vở kịch của Lưu Quang Vũ nên phân tích loại hình của kịch sẽ không đề cập sâu mà nhường chỗ cho thuật ngữ liên văn bản mà người viết sẽ sử dụng

Phương pháp cấu trúc - hệ thống : người viết sẽ xem xét cấu trúc của các tác phẩm, mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm, người đọc, người xem Tìm hiểu

sự vận động về nhận thức, tình cảm của nhà văn và của nhân vật trong quá trình sáng tác Qua việc xem xét cấu trúc bên ngoài và bên trong tác phẩm, người viết sẽ hệ thống theo cách diễn giải của thuật ngữ liên văn bản thành chương mục cụ thể

Phương pháp phân tích - tổng hợp : luận văn sẽ phân tích các tác phẩm theo tiêu chí nhất định Có thể theo đề tài, theo chủ đề, theo kiểu nhân vật… trên

cơ sở đó sử dụng phương pháp phân tích sâu một số nhân vật, hoặc tình tiết quan trọng của tác phẩm Trên cơ sở phân tích sẽ có những đánh giá mang tính tổng hợp khái quát

Phương pháp so sánh - đối chiếu : đối với đề tài ứng dụng lí thuyết liên văn bản trong một tác giả, tác phẩm cụ thể luôn phải dùng đến phương pháp đối chiếu so sánh Người viết sẽ đối chiếu với các văn bản ra đời trước đó để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt, chỉ ra sự sáng tạo của nhà văn khi sử dụng liên văn bản So sánh đối chiếu để thấy được đặc sắc trong nghệ thuật và cá tính sáng tạo, khả năng khơi mở những sáng tạo mới của nhà văn

Trang 15

Ngoài ra người viết có thể sử dụng phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp liên văn hóa - văn học, văn học - sân khấu Tất cả phương pháp sẽ

mở ra hướng tiếp cận thú vị cho sự sản sinh vô tận “tính năng sản” của văn bản -

một thuộc tính cơ bản của tính liên văn bản

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Phần nội dung được triển khai thành ba chương

Chương 1 Khái lược về lí thuyết liên văn bản và hành trình sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ

Chương 2 Liên văn bản thông qua hệ thống đề tài, cốt truyện và nhân vật Chương 3 Liên văn bản qua hình thức diễn ngôn

Trang 16

CHƯƠNG 1 : KHÁI LƯỢC VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC KỊCH CỦA LƯU QUANG VŨ

1.1 Khái lược chung về lí thuyết liên văn bản

1.1.1 Xung quanh khái niệm liên văn bản

Liên văn bản là một khái niệm thuộc thi pháp học hiện đại phương Tây xuất hiện nửa sau thế kỉ XX và có thể coi là thành tựu của trào lưu giải cấu trúc Nhà nghiên cứu F Saussure, Bakhtin, Kritteva là những nhà lập thuyết đầu tiên của tính liên văn bản, sau đó mở rộng ra đến công trình của Barthe, Bloom, Eco, Derrda, Genette… Có hai cách tiếp cận thuật ngữ liên văn bản Cách thứ nhất coi liên văn bản như một thủ pháp văn học, với quan niệm này tính liên văn bản giới hạn trong phạm vi các phương thức tạo lập mối quan hệ giữa văn bản hiện hành

và văn bản trước đó Sự kết nối liên văn bản mang ý thức chủ động và phải có dấu hiệu kết nối văn bản xuất hiện trong văn bản được khảo sát quy về phương thức

mô phỏng, ám chỉ, trích dẫn, đạo văn, biên tập, tu chỉnh, chuyển dịch, giễu nhại, pha trộn thể loại Cách thứ hai coi liên văn bản mang tính bản thể luận ở tác giả

Bakhtin, R.Brathes, Kritteva “không có gì ngoài văn bản”, “mọi văn bản đều là

liên văn bản”, tất cả các văn bản đều được kiến tạo dựa vào những mã và những

quy tắc hiện hành Các văn bản được xem là “bức khảm trích dẫn” là “không gian

tiếng vọng” nơi mà nguồn gốc của những trích dẫn tiếng vọng đó biến mất Liên

văn bản là thuộc tính của văn bản và là yêu cầu của mọi sự giao tiếp

1.1.1.1 Lí thuyết liên văn bản của chủ nghĩa cấu trúc

Chủ nghĩa cấu trúc được hình thành từ đầu thế kỉ XX đến những năm

1940 Sự hình thành của chủ nghĩa cấu trúc bắt nguồn từ ngôn ngữ học cấu trúc của F Saussure, chủ nghĩa hình thức Nga rồi vươn sang lĩnh vực khác Với các nhà cấu trúc, nhà văn không chịu trách nhiệm với ý đồ tư tưởng, anh ta bị điều khiển bới cấu trúc, quy phạm, nguyên tắc tổ hợp văn học Nhân vật không đóng vai trò duy nhất mang lại ý nghĩa cho văn bản, ý nghĩa văn bản được tạo bởi sự tương tác các cặp đối lập trong cấu trúc như sống/ chết, tồn tại/ diệt vong, niềm

Trang 17

tin/ chân lí…Mối quan hệ như vậy nối cấu trúc văn bản với cấu trúc văn hóa và tinh thần xã hội

Nửa sau những năm 60 chủ nghĩa cấu trúc bị đả phá, họ phủ nhận sự biểu nghĩa ổn định của cấu trúc, họ cho rằng không có cái gì tồn tại đơn lập, khép

kín, biệt lập của văn bản Văn bản mang tính “đa bội”, văn bản là sản phẩm của

vô số những mã, những diễn ngôn của văn bản trước Kritteva đề xuất tính liên văn bản thay thế tính ổn định, khép kín, biệt lập của văn bản Chủ nghĩa cấu trúc

tiếp nhận cái mới của giải cấu trúc Genette và Riffaterre coi đó là những đóng góp vào việc phát triển lí thuyết liên văn bản

Gerard Genette và tính xuyên văn bản: Genette trong công trình viết năm

1997 đã đề xuất khái niệm xuyên văn bản Xuyên văn bản có năm hình thức quan hệ: liên văn bản, cận văn bản, siêu văn bản, kiến trúc văn bản, ngoa dụ

văn bản Ông quan niệm liên văn bản là “Mối quan hệ cùng hiển diện giữa hai văn bản hoặc một vài văn bản trong một văn bản cụ thể” [trích theo 43,tr.24]

Liên văn bản có ba hình thức biểu hiện là : trích dẫn, đạo văn, và ám chỉ Trong

đó trích dẫn, đạo văn là phân biệt cùng một hình thức đó là sự vay mượn câu

chữ của một văn bản có sẵn để kiến tạo một sản phẩm mới mang ý đồ hoàn toàn mới Tuy trung thành với chủ nghĩa cấu trúc nhưng ông đã có cách nhìn mới Theo Daniel Chandler thì xuyên văn bản của Genette có mấy đặc điểm đáng chú

ý: một là tính tự giác hoặc tính tự ý thức, ông chỉ chú ý đến loại văn bản có tính liên văn bản một cách có ý thức của nhà văn Hai là sự biến đổi từ một nguồn gốc, sự biến đổi này tăng cường thêm tính tự ý thức Ba là tính minh bạch trong trích dẫn Bốn là sự hiểu của người đọc nhận ra sự liên kết của một văn bản đang hiện hữu Năm là quy mô chuyển thể, sự kết hợp của văn bản khác trong văn bản hiện hành Sáu là tính không thể xác định giữa ranh giới cấu trúc thể loại, chuỗi,

tiếp nối Genette có cái nhìn mới về mới về mối quan hệ liên văn bản, theo ông liên văn bản là quan hệ xác thực, có ý thức, có kiểm chứng, có chủ ý của tác giả

Trang 18

Liên văn bản trong quan niệm của Genette gần gũi với phương pháp đọc tiểu

thuyết có khả năng ứng dụng cao trong nghiên cứu

Michael Riffaterre và ảo tưởng quy chiếu : Michael Riffaterre (1924-

2006) là nhà lí luận có quan niệm liên văn bản dưới lăng kính cấu trúc - kí hiệu học Những phân tích của ông thể hiện một cách đọc mới, khám phá những bí ẩn của sản sinh văn bản thú vị Ông chống lại tính quy chiếu thực tại của văn bản, theo ông văn bản và kí hiệu không quy chiếu thế giới thực tại mà quy chiếu các

văn bản khác, các kí hiệu khác Cái gọi là “quy chiếu thực tại” chỉ là ảo tưởng

Riffaterre cho rằng liên văn bản là sự nhận thức của người đọc về các mối quan

hệ giữa tác phẩm với tác phẩm khác xuất hiện trước hoặc sau nó Mặc dù còn có những hạn chế nhưng quan niệm của ông có vai trò quan trọng trong việc phát

triển lí thuyết liên văn bản

Những quan niệm của Genette và Riffaterre đã hình thành một lối đi riêng được các nhà nghiên cứu gọi đó là quan niệm về tính liên văn bản của các nhà thi học cấu trúc

1.1.1.2.Lí thuyết liên văn bản từ Batkhtin đến Chủ nghĩa giải cấu trúc

Mikhail Bakhtin và tính đối thoại : Bakhtin (1895-1975) là nhà triết học,

mỹ học và nghiên cứu văn học lớn của Liên Xô và thế giới thế kỉ XX Trong công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 1924 về vấn đề nội dung, chất liệu, và

hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ ông khẳng định “mỗi lời phát biểu

cụ thể bao giờ cũng hiển diện trong một ngữ cảnh văn hóa đầy ý nghĩa” [trích

theo 43, tr.31] và “chỉ trong ngữ cảnh lời phát biểu mới sống và mới được nhận

biết đúng hay sai, đẹp hay xấu, chân thành hay xảo trá, cởi mở trơ trẽn hay đầy quyền uy, những lời trung tính không có và không thể có” [trích theo 43,tr.31]

Trong tiểu luận Ngôn ngữ tiểu thuyết Bakhtin viết “Bất cứ lời nói nào cũng

nhằm để đáp lại và không thể tránh khỏi ảnh hưởng sâu xa của lời đáp dự kiến

sẽ có” [trích theo 43,tr.32] Mỗi phát ngôn không thể trung tính, nó sẽ bị vây bọc

bởi quan điểm, lập trường, giọng điệu khác và buộc phải gia nhập các mối quan

Trang 19

hệ tương tác, tán đồng, li khai “Lời nói trên đường đến với đối tượng của mình

tất yếu rơi vào môi trường đối thoại luôn cuộn sóng và căng thẳng” [trích theo

43,tr.33] và ông khẳng định thuộc tính của lời nói là tính đối thoại

Bakhtin đặt ngôn ngữ trong quan hệ với tình huống xã hội cụ thể, ý nghĩa của các từ và các phát ngôn tùy thuộc vào chủ thể Theo Bakhtin khi không có ý thức chủ động, người nói không nhận ra mình bị bao bọc bởi muôn ngàn tiếng

nói khác nhau và do đó “chủ động định hướng giữa những tiếng nói khác biệt,

xác định lập trường, lựa chọn ngôn ngữ” [trích theo 43,tr.34] Quan điểm này

trở thành nhân tố quan trọng nó quy định chủ thể trong vòng biến động, trong cuộc đụng độ ý thức Nguyên tắc đối thoại của Bakhtin trở thành tiêu chuẩn sự tiến hóa xã hội Hdquist xác định rằng, với Bakhtin tồn tại là đối thoại, ngôn ngữ

là đối thoại, và tính tiểu thuyết là đối thoại, bởi theo Bakhtin “Ý thức bắt đầu ở

đâu thì ở đó có đối thoại” [trích theo 43, tr.36]

Từ nguyên lí đối thoại Bakhtin tiếp cận thể loại tiểu thuyết, ông xem lí

luận về thể loại tiểu thuyết là tính đối thoại “Sự phát triển của tiểu thuyết là khơi

sâu tính đối thoạị, mở rộng nó và làm cho nó ngày càng trở nên tinh tế”

[3,tr.38] Tiểu thuyết mang tính đa thanh, phức điệu, tính nhiều giọng nói Lời nói của tiểu thuyết tồn tại như một sự lặp lại, có tính giễu nhại, nó đối thoại với lực lượng quan phương, nghiêm trang, những chân lí bất biến giáo điều đầy sức

ỳ bằng một ý thức hệ bình đẳng, dân chủ khỏe khoắn lành mạnh, mang tính chất

tái sinh giàu sức sống Theo Bakhtin, biểu hiện của tính đối thoại là “tính dị

ngôn”, tức là ngôn ngữ luôn thẩm thấu những vết tích khác, những cách dùng

khác, những ý thức khác Lời nói vừa có quan hệ nội bản, vừa có quan hệ liên văn bản Bản chất lời nói luôn có mối quan hệ với lời nói… do đó tự nhiên đã thực hiện sự kết nối liên văn bản, liên ý thức, liên chủ thể đối thoại Với quan niệm ngôn ngữ tiểu thuyết mang tính đối thoại, Bakhtin được xem là nhà khai sáng lí thuyết liên văn bản

Trang 20

JuliaKritteva và tính liên văn bản: Kritteva (1941-) nhà triết học, tâm lí

học, nữ quyền luận và là nhà tiểu thuyết Pháp gốc Bulgari Trong bài viết Từ,

Đối thoại và tiểu thuyết của Kritteva có mục tiêu chính là giới thiệu Bakhtin đến

phương Tây Trong khi làm công việc này, bà đã sáng tạo ra thuật ngữ liên văn

bản nhằm phát triển và thay thế quan niệm tính đối thoại của Bakhtin theo tinh

thần giải cấu trúc Trong bài viết này, bà đề xuất ba chiều kích hay ba sự phối

hợp có tính đối thoại ; đó là chủ thể viết, chủ thể nhận và ngữ cảnh “bất kì văn

bản nào cũng được cấu trúc là bức khảm các trích dẫn Bất kì văn bản nào cũng

là sự hấp thụ và biến đổi các văn bản khác, còn ngữ cảnh bao gồm vô số văn bản tiềm ẩn hoặc hiển lộ ảnh hưởng tác động đến văn bản, bởi vậy ý nghĩa văn bản nảy sinh bên trong ngữ cảnh” [trích theo 43, tr.41]

Để tránh việc gắn thuật ngữ liên văn bản với từ ngữ của truyền thống như

“ảnh hưởng” “nguồn gốc”, Kritteva đề nghị dùng thuật ngữ “sự chuyển vị” thay thế tính liên văn bản với ý nghĩa xem tính liên văn bản như “một hành trình từ

hệ thống kí hiệu này sang hệ thống kí hiệu khác nhằm giải cấu trúc vị trí cũ và thể hiện một địa vị mới sâu sắc hơn” [trích theo 43,tr.42] tức là tính liên văn bản

được hiểu là “một sự chuyển vị của nhiều văn bản, một liên văn bản trong không

gian văn bản” [trích theo 43,tr.42] Liên văn bản không chỉ được đề cập đến

những văn bản được hòa trộn vào văn bản khác mà cần được hiểu như sự chuyển vị của một hay nhiều hệ thống kí hiệu này vào hệ thống kí hiệu khác Kritteva đã lược bỏ tính xã hội của các quan hệ diễn ngôn/ văn bản Đây chính là

sự khác biệt với tính đối thoại trong quan niệm của Bakhtin Đối với Kritteva, liên văn bản là sự xếp chồng các văn bản như là một tấm vải với những kiểu dệt khác nhau cùng tồn tại trong một không gian văn bản Chỉ có văn bản, không có chủ thể, Kritteva muốn giải trừ chủ thể Đối với họ, thế giới hiện lên như một văn bản khổng lồ và chẳng có gì ngoài văn bản Tính liên văn bản của Kritteva gắn liền với tinh thần giải cấu trúc và cảm quan hậu hiện đại

Trang 21

Như vậy quan niệm về tính liên văn bản của Bakhtin và Kritteva có điểm khác biệt Liên văn bản trong tư tưởng của Bakhtin gắn với bản chất ngôn ngữ mang tính đối thoại và chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu xa, trên cơ sở đối thoại, chủ thể không ngừng tìm kiếm các ý thức khác thông qua lời nói, và như thế đối thoại không ngừng mở rộng… Còn đối với Kritteva không có gì khác ngoài văn bản khổng lồ tồn tại nhiều văn bản trước đó Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu liên văn bản không thể là sự đánh tráo văn bản của người bằng văn bản của mình Sự tán loãng trong nhau của các văn bản không xóa mất sự hiển diện của văn bản trước đó Mỗi văn bản là một liên văn bản và thể hiện được đặc điểm tư tưởng thẩm mĩ độc đáo, mới mẻ và mang tính xã hội rõ rệt

Roland Barthes và tính đa bội: Barthes (1915- 1980) là nhà phê bình, kí

hiệu học, triết học người Pháp Quan niệm liên văn bản của ông là chống lại vai

trò của tác giả Đối với Barthes, việc gắn văn bản với tên tác giả là “áp đặt” cho

văn bản ấy một giới hạn, là trang bị cho văn bản ấy ý nghĩa sau cùng, là khép lại sự viết” [trích theo 43,tr.47] Trong các văn bản hiện đại tác giả “vắng mặt”,

tác giả chẳng qua chỉ là chủ thể của của hành động viết Ông thay thế tác giả là

người “viết hiện đại” Theo ông, một khi tác giả đã chết thì văn bản là một không gian đa chiều kích, trong đó“nhiều lối viết khác nhau cùng hòa trộn,

không lối viết nào hoàn toàn mới mẻ” [trích theo 43, tr.47], “văn bản làm nên từ nhiều lối viết, xuất phát từ nhiều nền tảng văn hóa khác nhau, được đối thoại với nhau, phản kháng nhau” [trích theo 43, tr 48] Văn bản giống như một tấm

vải dệt từ vô số sợi chỉ “trích dẫn” mà không rõ nguồn gốc Đó chính là liên văn bản của mọi văn bản

Tác giả đã chết và văn bản là liên văn bản, kéo theo sự lên ngôi của người đọc trước hết là giới phê bình, nhưng giới phê bình cũng cần được lật đổ, văn bản là đa bội và không thể tính đếm, sự viết là đa nguyên, sự hiểu là mênh

mông, phiêu lưu ý nghĩa, không chấp nhận quan niệm “cố định ý nghĩa” Theo

Trang 22

thành không gian “hội tụ những lối viết” tuyệt đối vai trò của người đọc Đây

chính là quan niệm có tính chất phương pháp luận

Trong Lý thuyết về văn bản và Từ tác phẩm đến văn bản Barthes cũng

phân biệt văn bản và tác phẩm Văn bản là cái biểu đạt, tác phẩm là cái được biểu đạt Văn bản là lĩnh vực có tính chất phương pháp luận, còn tác phẩm có thể tìm thấy trên giá sách Văn bản tồn tại biến động trong các diễn ngôn, tác phẩm nhìn thấy phô bày Văn bản tất yếu mang tính đa bội Văn bản không kết thúc ở văn chương hữu hạn mà là ở văn hóa vô hạn, ông đã sáng tạo nên người

đọc liên văn bản Barthes cho rằng “thế giới là văn bản khổng lồ”, ông nhấn

mạnh văn bản mang tính đa bội Tính đa bội được hiểu không phải là tính có nhiều ý nghĩa mà là vô số ý nghĩa Tính đa bội này nêu cao vai trò của độc giả, kiến tạo ý nghĩa của người đọc và giải chủ thể tác giả

Như vậy, có thể tóm tắt ngắn gọn, tính liên văn bản trong quan niệm của Genette là xuyên văn bản; trong quan niệm của Rifaterre là ảo tưởng quy chiếu;

ở Bakhtin là tính đối thoại; trong quan niệm của Kritteva là sự chuyển vị; trong quan niệm của Barthes là tính đa bội Mỗi quan niệm các nhà nghiên cứu đều có

ít nhiều sự khác biệt nhưng vẫn tìm thấy sự thống nhất trong cách hiểu về khái niệm liên văn bản Tính liên văn bản vừa là khái niệm vừa nhằm chỉ tất cả các thủ pháp kiến tạo nên những mối quan hệ giữa các văn bản văn học, vừa nhằm miêu tả thuộc tính bản thể của mọi văn bản Đối với một số nhà lập thuyết quan

niệm liên văn bản là thuộc tính tự chủ của văn bản, nhờ đó chúng năng sản và

biểu nghĩa

Sự tương liên mà bất cứ văn bản văn học nào cũng có với văn bản trước

đó khiến văn bản chỉ có thể hình dung như “bức khảm các trích dẫn” một không

gian hồi thanh thú vị, một mạng lưới đầy vết tích các văn bản khác Lí thuyết này nảy sinh trong bối cảnh tất cả những gì biệt lập, cô lập độc đoán đều bắt đầu

bị tan rã ; ý thức về tính liên hệ, quan hệ, mạng lưới hình thành Liên mạng, liên

ý thức, liên cá nhân là khái niệm gần gũi của tính liên văn bản Với lí thuyết này,

Trang 23

văn bản tồn tại trong thế đa nguyên, năng sản, luôn là sản phẩm của đối thoại ý thức hệ, tư tưởng văn học

Tiếp cận văn học từ lý thuyết liên văn bản mở ra hướng tiếp cận mới mẻ,

nó khơi gợi sự tìm tòi khám phá khoa học và niềm thú vị khi được đắm mình vào văn bản, văn hóa của người đọc Hướng tiếp cận liên văn bản trong một số

vở kịch của Lưu Quang Vũ hứa hẹn sẽ mang lại nhiều phát hiện mới mẻ cho hoạt động nghiên cứu và diễn giải văn hóa của chúng ta ngày nay

1.1.2 Về vấn đề nghiên cứu lí thuyết liên văn bản ở Việt Nam

Tác giả Hoàng Trinh trong những bài viết về kí hiệu học trong những thập niên 1970-1980 có thể xem ông là nhà kí hiệu học đầu tiên giới thiệu và vận

dụng lí thuyết liên văn bản Trong công trình Từ kí hiệu học đến thi pháp học viết năm 1993, ông đã làm rõ khái niệm văn bản, ông viết “một văn bản bao giờ

cũng kế thừa những văn bản có trước và bao giờ cũng mang những tiếng nói hội nhập vào nhau là tính liên văn bản của mọi văn bản” [trích theo 43,tr.8] Trần

Đình Sử trong bài giới thiệu Bakhtin về “Những vấn đề thi pháp Đôt - xtôi -

epxki” viết năm 1993 đã khẳng định tư tưởng của Bakhtin về tính đối thoại, tiểu

thuyết đa thanh, phức điệu và có nhắc đến thuật ngữ liên văn bản Đỗ Đức Hiểu

đã viết một mục về tính liên văn bản trong Từ điển văn học bộ mới Tác giả có

đề cập đến tính đa âm, giống tính đối thoại và là tính liên văn bản Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đã vận dụng lí thuyết liên văn bản để khám phá các hiện tượng chuyển thể từ văn học sang điện ảnh, sân khấu Ông cho rằng cải tác, cải

biên, sự di chuyển mô típ là liên văn bản Liên văn bản tạo nên “tính năng sản” bởi lẽ “không có cái gì là không từng được nói, được viết, được đọc và sẽ tiếp

tục được được nói được sản sinh vô tận” [trích theo 43,tr.11] Bởi vậy mà chúng

tạo nên tính liên văn bản

Như vậy lí thuyết liên văn bản đã được nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam từ khá sớm Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực dịch, vận dụng, đưa vào từ điển

Trang 24

mã tác phẩm nghệ thuật theo tinh thần hiện đại Việc nghiên cứu theo hướng liên văn bản đã đem lại cho lí luận diện mạo mới mẻ, làm phong phú đời sống văn chương và đem đến công chúng cái nhìn đa diện đối với tác phẩm nghệ thuật

1.2 Hành trình sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ

1.2.1 Diện mạo chung của kịch Việt Nam hiện đại

Sân khấu kịch nói xuất hiện vào khoảng những năm 20 của thế kỉ XX Cùng với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam như Thơ mới, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút, thể loại kịch cũng được hình thành trong sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, trực tiếp là văn hóa, văn học Pháp Kịch nói ra đời đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình hiện đại hóa văn học và nghệ thuật Việt Nam Ban đầu chỉ là một số tác phẩm dịch, sau đó mới sáng tác Từ chỗ chỉ phục vụ một số đối tượng thành thị, tầng lớp tri thức, học sinh, thanh niên, kịch nói nhanh chóng chiếm lĩnh nhà hát, sân khấu trở thành một món ăn tinh thần mới lạ, hấp dẫn đối với mọi đối tượng trong xã hội Kịch nói đầu những năm 20

phải kể đến tác giả Vũ Đình Long với Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm; Vi Huyền Đắc với Ông Ký Cóp, Hai tối hôn nhân, Kim tiền Đoàn Phú Tứ với Mơ

hoa, Những bức thư tình, Ngã ba; Nguyễn Huy Tưởng với Vũ Như Tô; Vũ

Trọng Phụng với Không một tiếng vang

Kịch nói giai đoạn 1930 – 1945 thực sự khởi sắc mà Thế Lữ là nghệ sĩ lớn

đặt nền móng đầu tiên cho nền “kịch nghệ” nước nhà Kịch ở giai đoạn này có

đóng góp lớn về mặt nội dung Các vở kịch đã phản ánh được mâu thuẫn lớn trong đời sống xã hội như sự đối kháng giữa cái mới và cái cũ, giữa Tây học và Nho học, giữa đạo đức phong kiến và lối sống tư sản, giữa tự do cá nhân và lối sống ràng buộc gia đình Những xung đột tâm lí xoay quanh mặt trái của lối sống Âu hóa, cám dỗ của đồng tiền Kịch ở giai đoạn này tạo nên đỉnh cao huy hoàng trong lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật Việt Nam

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, lịch sử sang trang mới, văn hóa văn nghệ có thêm nhiệm vụ cách mạng mới Chín năm kháng chiến chống Pháp, đối

Trang 25

tượng phục vụ của văn nghệ đã có thay đổi, nghệ thuật hướng về quần chúng cách mạng Một số vấn đề của đời sống kháng chiến, của cách mạng dân tộc dân chủ

nhân dân được đặt ra Vở kịch Bắc Sơn, Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng, Chị Hòa của Học Phi, vở Lòng dân của Nguyễn Văn Xe…đã phản ánh

được một số vấn đề của cuộc sống kháng chiến Tuy nhiên, thời kì này nghệ thuật

đã được “quần chúng hóa”, sân khấu kịch nói có nhiều hình thức hoạt động linh

hoạt, thể loại kịch ngắn phát triển, số lượng tác phẩm có giá trị không nhiều

Kịch nói thời kì kháng chiến chống Mỹ so với giai đoạn chống Pháp phát triển mạnh mẽ hơn về số lượng và chất lượng Đất nước chia làm hai miền, miền Bắc kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam trực tiếp chiến đấu chống

Mỹ Kịch bám sát đề tài nóng hổi của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước

Đề tài của kịch thời kì này trở nên phong phú, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống, con người mới miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền

Nam đã đi vào đời sống sân khấu kịch Tiêu biểu là vở kịch Con đường dốc của Học Phi, Quẫn của Lộng Chương, Lửa hậu phương của Kính Dân, Bức tranh mùa

gặt của Trần Vượng, Quê hương, Lập xuân của Xuân Trình, Tiền tuyến gọi của

Trần Quán Sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc còn vang vọng mãi qua các

vở kịch Nổi gió, Đại đội trưởng của tôi, Tổ Quốc của Đào Hồng Cẩm, Tình yêu

của anh của Tất Đạt, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh Những vở kịch trên đã tạo nên

tiếng vang lớn và đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống lao động và chiến đấu của nhân dân

Nhìn lại bước đi của lịch sử sân khấu Việt Nam từ những năm đầu của thế kỉ

XX dễ thấy kịch cũng có nhiều biến động và chịu sự chi phối của lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội Mặc dù cuộc sống đầy biến động, nhưng kịch vẫn xuất hiện đường hoàng tự tin có sức mạnh tạo nên nhiều thành tựu đặc sắc Nếu trước

1945, kịch đang đi những bước đi chập chững của một nền sân khấu non trẻ thì sau

1945 (đặc biệt từ 1945- 1975), kịch đã tạo ra một trang sử riêng và đã có những

Trang 26

kịch nói đi dần đi đến sự dân chủ và mang tính chuyên nghiệp cao Bên cạnh những thiếu sót và hạn chế như kịch của chúng ta chưa xây dựng được những nhân vật điển hình, chưa khai thác sâu mặt trái của cuộc sống xã hội, chưa có tác phẩm kịch lớn mang tầm khái quát cao… thì có thể khẳng định từng bước đi của kịch đã góp phần phản ánh hiện thực, tô đậm giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Đóng góp của thể loại kịch ngày càng mang tính chuyên nghiệp đã góp phần khẳng định: Kịch chính

là một loại hình sân khấu được khán giả ưa chuộng Khán giả đến với sân khấu kịch ngày một đông đảo, đây là yếu tố quan trọng khích lệ đội ngũ sáng tác kịch trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên ở thời kì này Lưu Quang Vũ chủ yếu sáng tác thơ và một số

truyện ngắn, truyện ngắn Thị trấn ven sông (1967- 1968) đã đạt giải ba cuộc thi

truyện ngắn trên báo Văn nghệ và đã tạo được tiếng vang Đến giai đoạn sau 1975,

cùng với sự đổi mới của xã hội và đặc biệt là sức sáng tạo dồi dào của một tài năng, Lưu Quang Vũ đã sáng tác một số lượng tác phẩm kịch đồ sộ (khoảng hơn 50 vở kịch trong vòng gần mười năm sáng tác) Ông đã chính thức gia nhập vào đội ngũ những nhà văn sáng tác kịch và trở thành kịch gia sân khấu Việt Nam thời kì đổi mới sôi động của đất nước những năm 80 của thế kỷ XX Nhận định về sự ảnh hưởng mạnh mẽ của kịch Lưu Quang Vũ, nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu đã viết:

“Bằng tài năng và tâm huyết, ông đã chiếm lĩnh sân khấu và chinh phục khán giả

ba miền Bắc, Trung, Nam, đã dành được hàng chục huy chương vàng và bạc cho các kịch bản của mình Có thể khẳng định rằng sự hưng thịnh của sân khấu Việt Nam từ năm 1985 trở đi có phần đóng góp quan trọng từ tài năng và bút lực dồi dào của Lưu Quang Vũ [39,tr.42]

1.2.2 Bối cảnh xã hội, văn học Việt Nam thời điểm kịch Lưu Quang Vũ

Sự kiện đặc biệt trong lịch sử dân tộc đó là chiến thắng ngày 30 04.1975, đất nước vui mừng đón ngày thống nhất Ba mươi năm chiến tranh gian khổ mất mát qua đi, hòa bình trở lại nhưng đất nước lại phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách Mười năm sau ngày giải phóng đất nước phải đối mặt với cuộc bao vây kinh

Trang 27

tế, lực lượng thù địch chống phá cách mạng, chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc, an ninh biên giới biển đảo bị đe dọa thường xuyên, quan

hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa nhiều lúc căng thẳng, thiên tai bão lũ hoành hành Vấn đề đặt ra lúc này là làm thế nào để hàn gắn vết thương chiến tranh trong khi nền kinh tế của chúng ta sau chiến tranh khủng hoảng trầm trọng, đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn

Sau chiến tranh, vấn đề quản lí của nhà nước gặp rất nhiều bất cập do việc vận dụng lí luận Mác - Lê nin không phù hợp với thực tiễn của nước ta trong bối cảnh hiện tại Nhà nước vẫn duy trì hình thức kinh tế quốc dân và cơ chế bao cấp thời chiến, phủ nhận sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Vấn đề tiền lương - một mắt xích quan trọng chi phối đời sống cán bộ công nhân trong thời gian dài vẫn chưa tìm ra cách giải quyết thỏa đáng Tiền lương trả dưới hình thức tem phiếu làm cho đời sống của cán bộ, công nhân eo hẹp Nông nghiệp làm ăn theo cung cách hợp tác xã nông nghiệp, tư liệu

sản xuất không thay đổi nhiều, vẫn duy trì lề lối làm ăn theo kiểu “con trâu đi trước

cái cày theo sau” Cơ chế quản lí theo kiểu hợp tác xã nông nghiệp, kinh tế quốc

dân, bao cấp đã hình thành nên nếp suy nghĩ “cha chung không ai khóc” Cách

quản lí cào bằng, không khích lệ được sự sáng tạo của cá nhân và nguy hiểm hơn nữa nó tạo nên sức ì lớn, cản trở sự phát triển của xã hội Sự thật cho thấy giai đoạn mười năm đất nước sau chiến tranh kinh tế không phát triển, công nghiệp, nông nghiệp không tạo nên sự đột phá, nhà nước phải bù lỗ hàng năm nhiều tỷ đồng Cách quản lí đó tạo điều kiện cho kẻ đầu cơ, tư thương trục lợi, nhiều hiện tượng tiêu cực, bất công theo đó nảy sinh trong xã hội Trước thực tế đó, cần cải thiện cuộc sống nhân dân, tìm một cung cách làm ăn, cơ chế quản lí phù hợp theo kiểu thời bình đã trở thành vấn đề vô cùng bức thiết đối với Đảng và nhà nước ta

Sau 1975, chúng ta không chỉ đối mặt với những khó khăn về vật chất chúng

ta phải đối mặt với những khó khăn về cả tinh thần Cuộc đấu tranh giữa cái tốt và

Trang 28

ra âm thầm và quyết liệt Đời sống tinh thần của con người trở về cuộc sống đời thường diễn ra phức tạp Vấn đề đạo đức nhân sinh, những giá trị của đạo đức con người trong xã hội có nguy cơ đảo lộn Bên cạnh đó đường lối chính sách, hoạt động thực tiễn của nhà nước trì trệ, lỗi thời Tình hình đó đòi hỏi đất nước phải đổi mới Công cuộc đổi mới được Đại hội Đảng tích cực triển khai từ nghị quyết

của đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã chỉ rõ đổi mới là “nhu cầu bức thiết”

là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc Từ năm 1986 với công cuộc

đổi mới do Đảng cộng sản đề xướng và lãnh đạo, ta đã xóa bỏ hình thái kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, từng bước chuyển sang kinh tế thị trường Việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển làm nền tảng tiến tới xã hội giàu mạnh, dân chủ, văn minh là việc làm cần thiết Từ đại hội VI trở đi, đất nước đã có sự thay đổi mạnh

mẽ và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

Đất nước bước vào công cuộc đổi mới đã thúc đẩy nền văn học đổi mới phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc Từ năm 1975 và nhất là từ năm 1986 văn học Việt Nam từng bước chuyển sang giai đoạn mới Có thể xem

từ 1975 đến 1986 là mười năm văn học chuyển tiếp, trăn trở, tìm kiếm con đường đổi mới Từ năm1986 trở đi là chặng đường đổi mới, mạnh mẽ và sâu sắc Giai đoạn cách mạng, văn học sáng tác theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Văn học mang khuynh hướng

sử thi và cảm hứng lãng mạn tập trung vào những vấn đề cộng đồng, đề cập đến cái ta chung Văn học xây dựng biểu tượng lí tưởng về con người, và đã đem đến tinh thần lạc quan tin tưởng vào chiến thắng của dân tộc Bên cạnh thành tựu không thể phủ nhận đồng thời cũng bộc lộ một số hạn chế như : Nội dung một số tác phẩm thể hiện cách nhìn con người và cuộc sống đôi khi đơn giản, xuôi chiều Chất lượng nghệ thuật chưa đồng đều, còn khá nhiều tác phẩm non kém, cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn còn mờ nhạt Văn học tô hồng hiện thực, né tránh nỗi đau, sự mất mát của con người trong chiến tranh

Trang 29

Bước sang giai đoạn văn học của thời kì đổi mới nhất là từ năm 1986, cùng với đất nước, văn học Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố rằng cánh cửa Đại hội VI đã mở ra, văn nghệ sĩ được cởi trói Trong bầu không khí dân chủ của xã hội, văn học nghệ thật đã nhanh chóng đổi mới Trước tiên văn học đổi mới phương thức sáng tác và cách tiếp cận hiện thực để phù hợp với sự vận động của xã hội Nhà văn Nguyễn Minh

Châu- nhà văn tiên phong của thời kì đổi mới đã trình làng với tiểu luận Hãy đọc

lời ai điếu cho một nền văn học minh họa (1987) Tiểu luận này đã chỉ rõ nhược

điểm của giai đoạn văn học minh họa là đã trói buộc văn nghệ sĩ trong thời gian khá dài, vì vậy đã đánh mất tư tưởng độc đáo mang tính khái quát của từng nhà văn Lối sáng tác của giai đoạn văn học minh họa làm thui chột trí tuệ, tài năng, khát khao sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ Chính đường lối chỉ đạo nghệ thuật của nền văn học minh họa đã làm cho văn học của chúng ta không có được nhà văn lớn, tác phẩm xứng tầm thời đại Tư tưởng đổi mới của nhà văn chân chính, trung thực, tâm huyết xuất hiện đúng vào lúc sự nghiệp đổi mới đang là lẽ sống còn của đất nước, nên được đánh giá là một sự nhận đường dũng cảm, nó gợi ra suy nghĩ sâu sắc cho người cầm bút là phải trang bị cho mình một thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn, thay đổi tư duy và phải đổi mới quyết liệt

Văn học thời kì đổi mới đã vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tinh thần dân chủ, nhân văn sâu sắc Văn học phát triển đa dạng về đề tài, chủ đề, phong phú mới mẻ hơn về bút pháp nghệ thuật, đa dạng hơn về thể loại Văn học giai đoạn này đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, tiếp cận con người và hiện thực đời sống, khám phá con người trong mối quan hệ đa dạng phức tạp Cái mới của văn học là tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn đến số phận cá nhân trong hoàn cảnh phức tạp đời thường Bên cạnh thơ ca phát triển mạnh về thể trường ca thì văn xuôi có sự khởi sắc đặc biệt Văn xuôi nhạy cảm với những vấn đề của đời sống, một số cây bút đã có ý thức đổi mới cách

Trang 30

Nguyễn Trọng Oánh với Đất trắng, Thái Bá Lợi với Hai người trở lại trung

đoàn Tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển mạnh mẽ, các nhà văn tiêu biểu là

Nguyễn Mạnh Tuấn với tiểu thuyết Đứng trước biển, Cù lao tràm, Nguyễn Khải với Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ và

Mùa lá rụng trong vườn, Lê Lựu với Thời xa vắng Tập truyện ngắn có giá trị

nghệ thuật cao như tập truyện Chiếc thuyền ngoài xa, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu ; Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Mảnh đất lắm người nhiều ma

của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh…

So với tiểu thuyết và truyện ngắn, những năm 80 của thế kỉ XX, văn học kịch có cuộc bứt phá táo bạo Đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thành khuynh hướng sáng tác nổi bật Các nhà soạn kịch của thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp tục khẳng định vị thế Các tác giả Đào Hồng Cẩm, Học Phi, Hoài Giao, Lộng Chương, Tất Đạt, Nguyễn Vũ, Thanh Hương, Xuân Trình

đã sáng tạo nhiều vở kịch tạo ấn tượng sâu sắc Cuốn sách Những vấn đề lí luận

và lịch sử đã nhìn nhận và đánh giá nền kịch nói Việt Nam trong giai đoạn đầu

thập niên 80 như sau: “Nhìn sang kịch nói, có thể khẳng định sự phát triển mạnh

mẽ và tương đối đồng bộ của loại hình sân khấu đang chiếm vị trí chủ đạo

…Mỗi vở diễn góp phần tạo nên tiếng nói riêng trong đó thể thiện đầy đủ thái

độ, lập trường, tình cảm và quan niệm của người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống Các nghệ sĩ đã tỏ ra năng động, sáng tạo, mạnh dạn khi nhìn về cái thiện, cái ác, lẽ phải, sự công bằng trong xã hội Một số vở đã có tiếng nói kịp thời và tích cực các vấn đề phải thay đổi cơ chế quản lí, thay đổi cách nhìn nhận và đánh giá con người trong xã hội” [20,tr.17]

Trước ngưỡng cửa của sự đổi mới, văn học kịch đã đảm nhiệm vai trò tiên phong Nhà nghiên cứu văn học Vũ Quang Vinh cũng đã có nhận định trong bài

báo đăng trên tạp chí Nghiên cứu số 1 năm 1985 có tiêu đề “Vài nét về sự phát

triển kịch nói ba mươi năm (1954- 1984)” có viết : “Với sự tăng tiến cả về số

Trang 31

lượng và chất lượng các tiết mục, cũng như sự mạnh dạn và phong phú trong những đổi mới, tìm tòi sáng tạo, nên chúng ta vui mừng vì đã có một nền kịch nghệ tương đối hoàn chỉnh” Khi mà các vở diễn của các đoàn nghệ thuật và các

nhà hát kịch nói miền Bắc, tiêu biểu vở kịch Tôi và chúng ta, Nữ kí giả (Lưu Quang Vũ), Đỉnh cao mơ ước (Tất Đạt), Mùa hè ở biển (Xuân Trình), Nhân

chứng và lịch sử (Hoài Giao) vào biểu diễn ở thành phố Hồ Chí Minh và các

tỉnh phía Nam được ví như “năm cỗ xe tăng tiến vào với sức mạnh của những

chiếc xe giải phóng dinh Độc lập ngày nào” [40,tr.249] Sự kiện văn hóa nghệ

thuật đó đã làm thay đổi cảm thức nghệ thuật của người dân miền Nam Kịch đã chiếm được cảm tình của công chúng - nơi mà loại hình nghệ thuật cải lương vốn ngự trị ở vùng đất này Trước thực tế đó, nhà nghiên cứu Phan Trọng

Thưởng đã nhận định kịch nói ở giai đoạn này như sau : “Mãi đến năm 1985,

nghĩa là sau khi giải phóng miền Nam mười năm, cũng là thời kì kịch nói cực thịnh” [20,tr.17] Sự phát triển cực thịnh của kịch có công lao đóng góp to lớn

của nhà văn Lưu Quang Vũ Những năm 80, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân có sự thay đổi lớn, người ta đổ đi xem kịch của Lưu Quang Vũ, các nhà hát luôn đông kín khán giả Nhà văn Nguyễn Khải có quan sát khán giả

miền Nam đến với kịch của Lưu Quang Vũ “Ở Sài Gòn dịp này đi ngả nào cũng

đụng phải kịch của Lưu Quang Vũ” [42,tr.19] Thực tế đã chứng minh “sân khấu thủ đô Hà Nội, sân khấu thành phố Hồ Chí Minh nhiều dịp chứng kiến sự chiếm lĩnh hầu hết các vở diễn của Vũ trên sàn diễn” [42,tr.17] Sở dĩ các vở

kịch của Lưu Quang Vũ được nhân dân đón đợi bởi các vở kịch đã nói đúng được nguyện vọng của nhân dân Các vở kịch đã nói lên tiếng nói của đông đảo người lao động trước vấn đề hiện thực gai góc của xã hội Tiếng nói nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ đã trở thành người bạn đồng hành, hòa nhập vào cuộc sống nhân dân để nắm bắt mạch đập và dòng chảy của thời đại

1.2.3 Những chặng đường kịch của Lưu Quang Vũ

Trang 32

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Vĩnh Phú Ông sinh ra trong một gia đình nghệ thuật, cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, mẹ là Vũ Thị Khánh, nữ sinh Trường Trung học Đồng Khánh, người gốc Hà Nội Ngay từ khi còn nhỏ, Lưu Quang Vũ đã bộc lộ năng khiếu thơ văn

Từ thuở còn là học sinh, Lưu Quang Vũ đã đạt Giải nhất môn Văn toàn thành phố Hà Nội Khi trở thành người lính trong binh chủng phòng không - không quân, ông đã bắt

đầu có thơ đăng trên các báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội Năm

1968, Lưu Quang Vũ ra mắt tập thơ đầu tay Hương cây - Bếp lửa in chung với Bằng

Việt Tập thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ thể hiện một cái nhìn đời hồn hậu, lạc quan,

phía nào cũng thấy sự hài hòa ưu ái Những vần thơ đầu tay của Lưu Quang Vũ “là

tiếng nói thiết tha yêu quê hương và gửi lời trao tin cậy trước cuộc đời” [40,tr.25]

Anh bộ đội Lưu Quang Vũ trẻ trung, mơ mộng, trái tim dạt dào cảm hứng về Tổ quốc,

về nhân dân Trên mỗi chặng đường hành quân, mỗi làng mạc đi qua đều để lại trong

thơ ông những hình ảnh đẹp và cảm xúc thiêng liêng trong trẻo, “Lưu Quang Vũ ngay

từ đầu đã tạo được dấu ấn về lối viết tài hoa, nồng nàn cảm xúc” [40,tr.26]

Sau Hương Cây, trong khoảng mười năm, cuộc đời Lưu Quang Vũ rơi vào tình cảnh long đong, có những lúc ông đã “chạm vào bế tắc” Hôn nhân đầu tan vỡ, rời

quân ngũ, nhọc nhằn trong kế mưu sinh, cuộc sống vật chất thiếu thốn Cũng trong

thời gian đó chiến tranh chưa kết thúc, chồng chất nhiều mất mát hy sinh, “cùng một

lúc tâm hồn đa cảm có phần yếu đuối phải gánh chịu cả nỗi đau về sự mất mát từ hai phía riêng chung” [40,tr.26] Thơ của Lưu Quang Vũ ở giai đoạn này chứa đựng sự

hoài nghi, hoang mang trước cuộc đời Thơ của ông không một nhà xuất bản nào dám cho in, một phần lớn thơ Lưu Quang Vũ vẫn ở dạng bản thảo Sau khi Lưu Quang Vũ

qua đời, ba tập thơ mới được xuất bản : Mây trắng của đời tôi, Bầy ong trong đêm

sâu, Lưu Quang Vũ, thơ và đời

Lưu Quang Vũ đã bén duyên sân khấu, năm 1979 ông đã trở thành phóng

viên của Tạp chí sân khấu Trong cuốn Diễn viên và sân khấu (in chung với

Vương Trí Nhàn và Xuân Quỳnh), đã tập hợp các bài viết của ông về chân dung

Trang 33

các nghệ sĩ Độc giả biết đến Lưu Quang Vũ không chỉ là nhà thơ, nhà văn, mà còn là một nhà báo với những nhận xét tinh tế, sắc sảo và sự am hiểu về sân khấu của ông Lưu Quang Vũ tiếp tục thử sức với thể loại kịch nói vào những

năm sôi động của đất nước, với vở kịch đầu tay Sống mãi tuổi 17 (1979) Nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu cho rằng “Trong hành trình sáng tạo của mỗi người,

thơ thường đến sớm, vào giai đoạn đầu đời khi tâm hồn còn nhiều nét hồn nhiên,

mơ mộng thì kịch đến muộn hơn thường là ở giai đoạn sau, khi người ta có đủ từng trải và khôn ngoan để nhận thức được những mâu thuẫn phức tạp của cuộc sống xung quanh, điều đó đúng với trường hợp của Lưu Quang Vũ” [40,tr.42]

Ở tuổi đời còn rất trẻ (ngoài ba mươi tuổi), nhà văn đã cho ra mắt vở kịch đầu tay Vở kịch này khi tham gia hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1980

đã có 5 giải nhất Thành công của vở diễn đã tiếp cho ông niềm hứng khởi và năng lượng để tiếp tục sáng tạo Nếu như văn học kịch sau 1975 chia thành hai giai đoạn nhỏ, thời kì đầu là mười năm chuyển tiếp 1975 - 1985 với các đề tài

cũ, nội dung các tác phẩm kịch còn đơn giản, bức tranh sân khấu còn nghèo nàn đơn điệu thì sự xuất hiện của Lưu Quang Vũ ở giai đoạn này đã gây được sự chú

ý bởi tính hiện đại trong nội dung và nghệ thuật của vở kịch Từ năm 1980 trở đi

nhiều vở kịch của Lưu Quang Vũ đã làm xôn xao dư luận như: Cô gái đội mũ

nồi xám (1981), Người trong cõi nhớ (1982), Nguồn sáng trong đời (1984), Tôi và chúng ta (1984), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1984), Người tốt nhà

số 5(1984), Lời nói dối cuối cùng (1985), Khoảnh khắc và vô tận (1986) đã

khẳng định được tài năng của nhà viết kịch trẻ Sức sáng tạo phi thường của Lưu Quang Vũ thể hiện trong năm 1984, ông đã sáng tác 15 vở kịch Cho đến năm

1985, hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc đã có 8 vở của ông được dàn dựng Trong số đó có tới 6 vở đạt huy chương vàng, hai vở đạt huy chương bạc Người ta gọi hội diễn năm đó là hội diễn của riêng Lưu Quang Vũ và Lưu

Quang Vũ đã “làm mưa làm gió” trên sân khấu kịch trường Việt Nam

Trang 34

Sau năm 1986, không khí của bầu dân chủ đổi mới đã tạo cho sân khấu

Việt Nam vốn đã phát triển “cực thịnh” (trước 1985), nay lại càng vững vàng tạo

nên nhiều hoa trái và có thêm sự khởi sắc mạnh mẽ Ba năm cuối đời Lưu Quang Vũ với sức sáng tạo phi thường, ông đã sáng tác số lượng tác phẩm lớn, viết tiếp khoảng 15 vở kịch Các vở kịch tiêu biểu đã dược dàn dựng như

Khoảnh khắc và vô tận (1986), Nếu anh không đốt lửa (1987), các vở diễn

năm 1988 như Quyền được hạnh phúc, Ông không phải là bố tôi, Lời thề thứ

9, Bệnh sĩ, Điều không thể mất Ngoài ra ông còn sáng tác một số kịch bản

ngắn như Juy-li-et không trẻ mãi, Đoàn thanh tra tới, Con tò he …Các vở kịch

sau 1986 vẫn tiếp nối chủ đề hiện đại nhưng ấn tượng về cái mới mẻ, sự lôi cuốn

của cái buổi ban đầu xuất hiện thì vẫn còn vẹn nguyên Ngô Thảo nhận xét “Sự

phát lộ tài năng ở Vũ không theo quy luật của sự hội tụ mà lan tỏa trên một mặt bằng rộng rãi” [40,tr.251] Trong suốt mười năm sáng tác với 53 vở kịch ở hầu

hết các đề tài, chủ đề, Lưu Quang Vũ đã dẫn người xem đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác Không nhàm chán khi xem kịch của ông, công chúng tìm đến ông, đồng nghiệp săn lùng ông để cộng sự, nhất là trong các kì chuẩn bị cho hội diễn Lưu Quang Vũ viết nhanh, các kịch bản đều viết liền mạch, không viết lại lần hai, sau đó sửa lại không nhiều Đạo diễn Phạm Thị Thành kể lại rằng Lưu Quang Vũ có lúc viết bốn vở liền một lúc Cảm xúc dạt dào mãnh liệt, sức làm việc phi thường, điều quan trọng hơn cả là Lưu Quang Vũ làm việc với tinh thần

“không choáng ngợp trước những thành công”, “không hiếu thắng, Vũ cứ lặng

lẽ sống, lặng lẽ làm việc với cường độ cao đến mức những người khoẻ mạnh cũng cảm thấy chóng mặt” [40,tr.251]

Lặng lẽ, khiêm nhường làm việc, giống như con ong chăm chỉ hút nhụy thơm đơm mật ngọt cho đời, Lưu Quang Vũ đã cho ra đời một số lượng tác phẩm kịch lớn trong thời gian ông đến với sân khấu chưa dài Mỗi vở kịch của ông đều chứa đựng chân lí sống của con người và thời đại, chứa đựng sự đồng cảm tha thiết với những lương tri và trái tim chân chính Các vở kịch của ông tự

Trang 35

nó đã đánh thức người xem lương tâm, trách nhiệm và có khả năng tự thanh lọc

tâm hồn để hướng tới Chân, Thiện, Mĩ “kịch của ông là tiếng nói dõng dạc cất

lên đòi đổi mới, đòi quyền sống và quyền hạnh phúc, đòi trừng trị cái ác, cái phi nhân đang hủy hoại đời sống con người” [40,tr.43] Thoát khỏi lối mòn của sự

đơn điệu, Lưu Quang Vũ luôn tìm tòi sáng tạo chăm chút cho đứa con tinh thần của mình một diện mạo mới phù hợp với cuộc sống Không chạy theo thị hiếu đám đông để cho ra mắt công chúng những vở kịch tầm thường, không bằng lòng với những gì đã đạt được, Lưu Quang Vũ đã công phu học hỏi, chắt chiu

sáng tạo, đã cố công tạo nên tác phẩm nghệ thuật có giá trị để đời “kịch của Lưu

Quang Vũ hấp dẫn người xem một phần là đã đặt và giải đáp được những câu hỏi bức thiết của con người đêm trước thời kì đổi mới” [40,tr.44] Các nhà

nghiên cứu về kịch của Lưu Quang Vũ đều có nhận xét chung khi chỉ ra thuộc tính trong những vở kịch của ông chính là: đề tài luôn mới mẻ, hiện đại, cập nhật với cái mới của cuộc sống xã hội, khéo léo khai thác xung đột, mâu thuẫn để tạo nên tình thế kịch độc đáo, thế giới nhân vật kịch mang đời sống nội tâm sâu sắc,

cá tính rõ rệt, tư tưởng chủ đề mang tính khái quát, tính triết lí sâu xa Hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ tuy còn một số tác phẩm chất lượng nghệ thuật chưa cao nhưng phần lớn là các kịch bản đều được dựng thành vở và khi công diễn đã

tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội Khi mà cả dân tộc “chứng

kiến sự can dự của sân khấu vào những vấn đề chính trị - xã hội lớn lao trong tinh thần chung của đất nước” [20,tr.18], thì cái tên Lưu Quang Vũ đã trở thành

một hiện tượng của sân khấu Việt Nam” Một học giả người Pháp tên là Christan Hoche sau khi nghiên cứu các vở kịch của Lưu Quang Vũ đã kết luận “Moliere

ở Việt Nam tên là Lưu Quang Vũ” [40,tr.313]

Hành trình kịch của Lưu Quang Vũ không hạn định ở thời gian những năm 80 của thế kỉ XX mà có lẽ hành trình kịch ấy sẽ song hành cùng thời gian của dân tộc Sau cái cái chết đột ngột và định mệnh của gia đình nghệ sĩ - nhà

Trang 36

các đoàn nghệ thuật dàn dựng lại trên sân khấu cả nước Một sự kiện văn hóa nổi bật trong tháng 9 năm 2013 vừa qua là Hội nghệ sĩ sân khấu tổ chức liên hoan các tác phẩm sân khấu của cố tác giả Lưu Quang Vũ nhân kỉ niệm 25 năm ngày mất của ông (29.8.1988 - 29.8.2013) Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam có một liên hoan sân khấu nhỏ dành riêng cho một tác giả và đã có hơn mười đoàn nghệ thuật tham gia Sau 25 năm, xã hội cũng có nhiều biến đổi, nhưng kịch của Lưu Quang Vũ vẫn nguyên vẹn giá trị và sức sống tươi mới trong lòng công chúng

Bằng chứng là trong khoảng thời gian qua, các tác phẩm Hoa cúc xanh trên đầm

lầy, Nguồn sáng trong đời (Nhà hát kịch Việt Nam), Mùa hạ cuối cùng, Cô gái đội mũ nồi xám, Lời thề thứ 9 (Nhà hát tuổi trẻ), Hai ngàn ngày oan trái, Ông không phải là bố tôi (Nhà hát kịch Hà Nội), Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Bệnh

sĩ (Nhà hát kịch việt Nam), luôn thu hút được khán giả Nhận xét về giá trị trong

các vở kịch của Lưu Quang Vũ đối với đời sống xã hội hôm nay nghệ sĩ Nhân

dân Hoàng Dũng, giám đốc nhà hát kịch Hà Nội đã nói: “ Kịch của Lưu Quang

Vũ không hề cũ Thậm chí tôi thấy những cái gì anh viết còn đúng hơn rất nhiều

so với thời điểm cách đây vài chục năm Khi ấy những vấn đề về sự xuống cấp đạo đức trong mỗi gia đình, mỗi con người chưa được đặt ra một cách nghiêm trọng như bây giờ” Kịch Lưu Quang Vũ không hề cũ đó cũng là nhận xét khách

quan của nhiều người nghiên cứu và khán giả mến mộ ông Độ lùi thời gian đã kiểm chứng cho những giá trị đích thực trong các sáng tác và làm rõ thêm tính tư tưởng còn ẩn náu trong các vở kịch của ông

Có thể nói Lưu Quang Vũ đến với văn học kịch trong khoảng thời gian không dài, sự đối lập về thời gian sáng tác (gần 10 năm) và số lượng tác phẩm (hơn 50 vở kịch) đã khẳng định được sức sáng tạo của ông trên hành trình kịch Hơn thế nữa, chất lượng của các tác phẩm đã tạo nên những đỉnh cao trong các

kì hội diễn trong nước và kịch của ông cũng đạt được một số giải thưởng ở Nga,

ở Mỹ trong liên hoan sân khấu quốc tế đã tạo được tiếng vang xa và có chiều sâu Hành trình kịch của Lưu Quang Vũ đã vượt qua cái mốc của đất nước thời

Trang 37

kì đổi mới những năm tám mươi của thế kỉ XX và sẽ luôn hành trình cùng dân tộc trong bối cảnh đổi mới hội nhập Vị trí của Lưu Quang Vũ vô cùng quan

trọng, nhà nghiên cứu Ngô Thảo đã nhận xét : “Nói tới thập niên tám mươi này,

một thập niên sân khấu có những thành tựu đặc sắc, không thể thiếu Lưu Quang

Vũ trong các tác giả hàng đầu” [40,tr.269] Lưu Quang Vũ thực sự trở thành

hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam chặng cuối thế kỉ XX, và có cống hiến lớn đặc biệt ở lĩnh vực sân khấu Ông là một tác giả trẻ tuổi nhất đã được nhà nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật Nhà văn dành cho sáng tác kịch ¼ thời gian của đời người, nhưng những gì mà ông để lại sẽ có giá trị to lớn và thực tiễn cho nền văn học nghệ thuật Việt Nam Trách nhiệm của chúng ta hôm nay, những người đọc kịch, xem kịch, và nghiên cứu kịch Lưu

Quang Vũ cần tiếp tục cùng với những người đi trước khai thác thêm những lớp

vỉa và tầng nghĩa mới trong các vở kịch của ông, góp phẩn khẳng định tên tuổi

của một tài năng nghệ thuật

Trang 38

CHƯƠNG 2 LIÊN VĂN BẢN QUA HỆ THỐNG

ĐỀ TÀI, CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT 2.1 Liên văn bản qua đề tài

Văn học có khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống hết sức rộng lớn và phong phú Đối tượng của văn học bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên, đời sống

xã hội và cuộc sống của từng cá nhân cụ thể Hiện thực khách quan là mảnh đất

vô tận cho sáng tạo nghệ thuật Nhà văn đứng trước yêu cầu của thời đại, bằng vốn sống, vốn văn hóa và tài năng nghệ thuật của mình chiếm lĩnh một lĩnh vực, một phạm vi, một hiện thực khách quan để sáng tác Phạm vi hiện thực ấy chính

là đề tài của tác phẩm Đề tài chính là phương diện của nội dung, đề tài chỉ phạm vi hiện thực được nhà văn lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm, nó được xem như một nhân tố tương ứng trong đối tượng phản ánh riêng của tác phẩm Xác định đề tài của tác phẩm chính là trả lời câu hỏi: tác phẩm viết về cái gì, viết về phạm vi hiện thực nào của cuộc sống?

Đề tài là một khái niệm về loại của hiện thực được miêu tả, hiện thực đời

sống sinh động thì đề tài phong phú Đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống khách quan nhưng đề tài cũng ghi dấu ấn chủ quan của nhà văn Bản thân đề tài không mang tính tư tưởng nhưng việc lựa chọn đề tài trong thời điểm sáng tác

đã bộc lộ rõ khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của nhà văn Đối với một nền văn học, mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có đề tài trung tâm bao quát đề tài cụ thể của từng tác phẩm Đề tài trung tâm tập hợp được những sự kiện, những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống

xã hội, nó thể hiện bản chất nhất của thời kì lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh đề tài lớn, đề tài nhỏ - mặc dù phạm vi phản ánh ít có ý nghĩa đối với đời sống xã hội nhưng nhà văn biết lựa chọn khai thác ở tầm cao của tư tưởng triết học nhân sinh sâu sắc thì đề tài đó cũng có giá trị vô cùng sâu sắc

Trang 39

Đề tài trong hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ thể hiện một sự đa dạng trong việc khai thác hiện thực của nhà văn Lưu Quang Vũ khai thác nhiều đề tài, đi vào khám phá muôn mặt của đời sống xã hội Đặc điểm trong sự lựa chọn

đề tài của nhà văn chính là ở việc ông đã liên văn bản nguồn đề tài có sẵn trong văn học và cuộc sống Từ văn học truyền thống, đến văn học đương thời và các

nguồn thông tin khác trên báo chí… tất cả đều có sức hấp dẫn và gợi “tứ” để

cho Lưu Quang Vũ sáng tác thành các vở kịch độc đáo Liên văn bản không chỉ

là sự hòa trộn của văn bản này vào văn bản khác mà cần được hiểu liên văn bản

là “một hành trình từ hệ thống kí hiệu này đến hệ thống kí hiệu khác nhằm giải

cấu trúc vị trí cũ và thể hiện một địa vị mới sâu sắc hơn” [43,tr.42] Kế thừa đề

tài trong văn học và cuộc sống, mỗi vở kịch của Lưu Quang Vũ là một liên văn bản nghệ thuật thể hiện rõ đặc điểm về quan niệm và tư tưởng thẩm mỹ Mỗi vở kịch của Lưu Quang Vũ là một không gian đối thoại, có lập trường tư tưởng, có trình độ nghệ thuật cao bộc lộ sự tinh tế về liên văn bản

2.1.1 Nguồn đề tài gắn với văn học truyền thống

Trong số hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ có 7 vở kịch khai thác đề tài

dân gian Với số lượng tác phẩm không nhiều nhưng các vở kịch Hồn Trương

Ba, da hàng thịt (1981), Nàng Sita (1982), Lời nói dối cuối cùng (1985), Ông vua hóa hổ (1985), Đăm Săn (1987), Đôi đũa kim giao (1988), Linh hồn của

đá (1988) đã gặt hái được nhiều thành công và làm nên tên tuổi lừng danh của

nhà viết kịch Lưu Quang Vũ Việc nhà văn lựa chọn đề tài từ văn học truyền thống cho những sáng tác của mình cũng đã bộc lộ khuynh hướng trong lập

trường tư tưởng cuả người sáng tác Văn học dân gian vốn là “gốc”vững chắc

trong truyền thống văn học dân tộc Văn học dân gian là mạch nguồn khơi gợi

và nuôi dưỡng sự sáng tạo của văn học nghệ thuật Trở về với văn học dân gian

là trở về với những giá trị vĩnh hằng của đạo lí, lối sống đã trở thành mẫu mực

của cha ông “Ôn cố tri tân” là việc làm cần thiết để qua đó khẳng định bản sắc

Trang 40

đó Là một nhà văn, đồng thời cũng là một trong những “người đi trước” của

phong trào đổi mới văn hóa văn nghệ, Lưu Quang Vũ đã ý thức được sứ mệnh của nhà văn là phải nối kết được quá khứ và hiện tại, phải trở về cội nguồn dân

tộc để “tìm đọc người xưa” trên tinh thần của bối cảnh xã hội ngày nay Với

một nhãn quan tinh tường, Lưu Quang Vũ nhìn thấy văn học truyền thống là

“mảnh đất màu mỡ”, có sức hấp dẫn đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo của

mình Các tác phẩm văn học dân gian khi được chuyển tải liên kết vào trong các

vở kịch của Lưu Quang Vũ đều có sức sống mới mẻ và có giá trị lâu bền là bởi các vở kịch đó mang tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Kế thừa đề tài từ nguồn văn học truyền thống, Lưu Quang Vũ luôn trân trọng giữ gìn và gửi gắm vào các vở kịch của mình những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Lưu Quang Vũ ngợi ca lối sống nền nếp, đúng mực, giàu tình yêu thương, trọng tình người trong gia đình ông Trương Ba Nhà văn cũng đề cao tình bạn, tình người,

lòng khoan dung, nhân từ trong vở kịch Ông vua hóa hổ Phê phán tính dối trá

cũng để khẳng định đức tính trung thực không thể thiếu được của đạo đức làm

người trong vở Lời nói dối cuối cùng Bất tử hóa tình yêu, đạo lí vợ chồng, nghĩa tình thủy chung của con người trong các vở kịch Linh hồn của đá, Nàng Sita

Những chuẩn mực đạo đức ông cha, nền nếp gia phong truyền thống, đạo lí làm người, thuần phong mĩ tục của dân tộc đã được Lưu Quang Vũ chuyển tải, lồng ghép một cách tha thiết và sinh động qua các vở kịch thuộc mảng đề tài này

Tuy kế thừa đề tài từ văn học truyền thống, nhưng các vở kịch của Lưu Quang Vũ lại mang đậm dấu ấn cá nhân và tinh thần thời đại Với cảm quan

“đọc lại” tác phẩm của người xưa, nhà văn đã làm mới đề tài cũ bằng cách mở

rộng đề tài tiếp nối đề tài hiện đại để phù hợp với xã hội ngày hôm nay Bằng tư duy logic, biện chứng, khách quan, Lưu Quang Vũ đã nhìn thấy tính không ổn định của những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trước sự đổi mới của nền kinh tế thị trường Đời sống của mỗi dân tộc trong suốt quá trình phát triển, truyền thống văn hóa, giá trị đạo đức đều có những mặt tích cực và chứa đựng

Ngày đăng: 06/07/2015, 16:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle (1999), Nghệ thuật thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. M.Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (tái bản), Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Barther (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội nhà văn 5. Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện, Nxb trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Barther
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
6. Doãn Châu (2001), Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết, sách Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật, Nxb Văn hóa- thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết", sách "Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật
Tác giả: Doãn Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa- thông tin
Năm: 2001
7. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học- lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học- lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
14. Lí Trạch Hậu (2002), Bốn bài giảng mỹ học (Trần Đình Sử và Lê Tẩm dịch), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn bài giảng mỹ học
Tác giả: Lí Trạch Hậu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2002
15. Lê Bá Hân, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2002, Từ Điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội
16. Hêghen, (2005), Mỹ học, người dịch Phan Ngọc, Nxb văn học, Hà Nội 17. Hoàng Ngọc Hiến (1998), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học", người dịch Phan Ngọc, Nxb văn học, Hà Nội 17. Hoàng Ngọc Hiến (1998), "Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hêghen, (2005), Mỹ học, người dịch Phan Ngọc, Nxb văn học, Hà Nội 17. Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1998
18. Đỗ Đức Hiểu (1998), Mấy vấn đề về kịch và thi pháp kịch, Tạp chí văn học, số 2, 2/ 1998, tr. 3- 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về kịch và thi pháp kịch, Tạp chí văn học, số 2
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 1998
19. Đỗ Đức Hiểu (2002), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
20. Lê Hoa (2010), Thế giới nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc Sĩ văn học, Chuyên ngàng Lý luận văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ
Tác giả: Lê Hoa
Năm: 2010
23. Hoàng Đình Huân (2004), Tìm hiểu một số đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc Sĩ văn học, Chuyên ngành Lý luận văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ
Tác giả: Hoàng Đình Huân
Năm: 2004
24. Kritteva (2011), Một nền thi pháp học sụp đổ (Lã Nguyên dịch), Tạp chí nghiên cứu văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền thi pháp học sụp đổ" (Lã Nguyên dịch)
Tác giả: Kritteva
Năm: 2011
25. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975- Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
26. Phương Lựu (1999), Lí luận phê bình văn học phương tây thế kỉ XX, Nxb Hà Nội 27. Phương Lựu (chủ biên) (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học phương tây thế kỉ XX
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
28. Phương Lựu (2007) Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 1238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu văn học
Năm: 2007
29. Bùi Thùy Linh (2011), Thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ, Luận văn Thạc Sĩ văn học, Chuyên ngành Lý luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ
Tác giả: Bùi Thùy Linh
Năm: 2011
31. Nhiều tác giả , Kịch Việt Nam chọn lọc, (tập 4), Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch Việt Nam chọn lọc
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Sân khấu
32. Đình Quang (2004), Về đặc trưng và hướng phát triển của tuồng chèo truyền thống, Nxb Sân khấu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng và hướng phát triển của tuồng chèo truyền thống
Tác giả: Đình Quang
Nhà XB: Nxb Sân khấu
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm