Xung đột trong kịch Lưu Quang Vũ

Một phần của tài liệu Nghệ thuật kịch lưu quang vũ (Trang 44 - 63)

5. KẾT CẤU CUẢ LUẬN VĂN

3.1. Xung đột trong kịch Lưu Quang Vũ

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ luôn hàm chứa trong nó mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Xung đột nổ ra khi mâu thuẫn đã phát triển đến giai đoạn cao.“Thực chất xung đột là sự va vấp đấu tranh của hành động xuyên với phản hành động…Phản hành động không phải chỉ là hành động của những con người mà còn là những sự kiện cản trở, những hoàn cảnh khó khăn ngăn bước đi của hành động xuyên”[15,45]. Qua xung đột giữa các nhân vật có tư tưởng, hành động, tính cách và lợi ích trái ngược nhau, người xem hiểu được chiều sâu tư tưởng, ý nghiã xã hội của vấn đề mà nhà soạn kịch đề cập đến. Xtanixlápxki có nói: “Mọi hành động đều vấp phải phản hành động mà phản hành động lại thúc đẩy hành động, xung đột liên tục nó tạo nên đấu tranh, cãi cọ, xô xát…”

[15 ,32]. Mỗi lời nói, hành động của nhân vật đều gắn liền với việc phát triển xung đột kòch.

Ở thời Lưu Quang Vũ, công cuộc kiến thiết đất nước đang nảy sinh nhiều mâu thuẫn gay gắt, “những bước ngoặt, những biến cố, những sự kiện quan trọng của đời sống xã hội là nguồn chất liệu quý báu để xây dựng nên một vở kịch” [45, 679]. Cuộc sống hậu chiến bộn bề, phức tạp. Những hiện tượng nhức nhối của cuộc sống hiện thực xét trên bề mặt và cả bề sâu, là những vấn đề đạo đức tinh thần của con người đang đặt ra, đòi hỏi một cách phân tích, đánh giá mới. Giặc Mỹ rút khỏi Việt Nam – điều đó không có nghiã là cuộc đấu tranh đã kết thúc, vẫn còn những mối xung đột gay gắt, dai dẳng, khó có thể dung hòa. Sự phân tuyến không còn rành mạch địch – ta, tốt – xấu, tích cực – tiêu cực một cách đơn giản mà mờ nhòe hơn, tạo điều kiện cho những đối thoại và sự lật trở các khiá cạnh thế sự. Luận văn này chủ yếu tìm hiểu những mối xung đột sau: xung đột giữa cái lạc hậu với cái tiến bộ; xung đột giữa người dân lương thiện tích cực với thế lực đen tối tiêu cực; xung đột giữa tính cách với hoàn cảnh và xung đột giữa thể xác với linh hồn bên trong một con người.

3.1.1.Xung đột giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu:

Tìm hiểu xem nhà viết kịch chọn lựa miêu tả loại xung đột nào sẽ hiểu được phần nào tư chất, sở trường của họ. Mỗi giai đoạn phát triển xã hội đều có mối xung đột cơ bản tương ứng. Trong những năm 80 (thế kỷ XX), xung đột giữa cái lạc hậu với cái tiến bộ chính là vấn đề cốt lõi của thực tại, đồng thời đó cũng là xung đột có tính quy luật.

Do chịu khó quan sát và tìm hiểu, Lưu Quang Vũ đã nhìn rõ mối xung đột bản chất nhất của thời hậu chiến. Đây thực chất là xung đột giữa một bên là cái hợp quy luật, hợp lí, có thể chấp nhận được với cái phi lí, không còn hợp xu thế vận động của đời sống. Miêu tả xung đột này, kịch bản “Tôi và chúng ta” trở thành tác phẩm chuyên chở những băn khoăn lớn của thời đại chứ không phải sự việc nhỏ bé từ những vướng bận riêng tư của nhà văn trong cuộc sống. Vở“Người tốt nhà số năm”(công diễn năm1985)

cũng nêu vấn đề cơ chế quản lý các ngành dịch vụ, cụ thể là ngành điện lực. Sự cúp điện luân phiên ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống và nảy sinh tiêu cực. Có những cơ sở sản xuất không muốn bị giảm năng suất hoặc bị thất thu do cúp điện nên phải chi tiền hối lộ cho “nhà đèn” để duy trì dòng điện liên tục. Sự bất hợp lý tạo kẽ hở cho kẻ xấu tư lợi làm việc với thái độ cửa quyền, gây khó cho người dân. Song tình trạng này chưa tìm được giải pháp hữu hiệu.

Nếu không nhận thức rõ những nguyên lý của phép biện chứng thì tất yếu dẫn đến hành động chủ quan duy ý chí, gây hậu quả khôn lường. Trên trang 662, tập V “Tuyển tập Mác – Ăngghen”, Ăêngghen đã viết: “Cái sự thật đơn giản ( đã bị những lớp tư tưởng khác phủ kín cho đến ngày nay) là : con người trước hết cần phải ăn, uống, ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo v.v… Mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định của một dân tộc hay một thời đại tạo thành một cơ sở trên đó người ta phát triển các thể chế nhà nước, các quan điểm pháp quyền…”. Rõ ràng là cơ sở để hoạch định các chính sách, cơ chế của thời hậu chiến khác với thời chiến.

Do đó chính sách trong từng thời kỳ hẳn nhiên phải khác nhau bởi “chiến tranh không phải là đời sống, chỉ là sự bất bình thường của đời sống”[48,32 ]. Cơ chế quan liêu bao cấp chỉ phát huy tác dụng tích cực trong chiến tranh. Đến thời bình mà cứ mãi duy trì công thức cũ mòn kia thì đất nước chẳng những không tiến mà còn thụt lùi so với toàn khu vực.

“Tôi và chúng ta” khẳng định rõ tính phi lý của cơ chế cũ và đặt ra vấn đề “chiến đấu chống lại cái cũ, cái bảo thủ, trì trệ của một đất nước nông nghiệp lạc hậu”. Ngô Thảo nhận thấy: “Sức hấp dẫn chính của ‘Tôi và chúng ta’ là nhờ tác phẩm đã đi thẳng vào một vấn đề có thật, một vướng mắc còn nổi cộm lên trong đời sống xã hội. Đó là quản lý các xí nghiệp theo lối mới sao cho phát huy được quyền chủ động của cơ sở, chống được thói bao cấp quan liêu” [38,144]. Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ với cái

cũ, lạc hậu cũng không kém phần gay go. Cho nên khi Việt bắt tay vào đổi mới xí nghiệp, những người bảo vệ cơ chế cũ đã chống lại anh, trong số đó không phải chỉ toàn kẻ xấu mà cả những người tốt, những người có tâm huyết. Bởi vì cái cũ đã thấm sâu vào máu thịt, hoà nhập vào tình cảm con người, biến thành thói quen, rất khó lay chuyển. Có những nhà lãnh đạo thủ cựu luôn sợ nước ta đi chệch hướng, nhưng mấy chục năm sau nhìn lại mới thấy “chính những thái độ do dự, đề phòng đã trở thành lực cản của nhiều nhân tố mới… Cái giá chúng ta phải trả ở đây là: đất nứơc mất thêm hàng chục năm thử thách, xã hội mất đi cơ hội phát triển” [24,9].

Nhân vật Bộ trưởng đã nhìn thấy sự lạc hậu của cơ chế cũ: “Bao cấp chính là không tin vào con người – những chủ thể sáng tạo. Và tác hại của cơ chế cũ không phải chỉ làm cho năng suất kém, đời sống thấp mà tác hại đáng sợ hơn là làm sa sút phẩm chất con người, làm hư hỏng con người, phá họai những mối quan hệ giữa người với người, dung túng cho thói quan liêu, ích kỷ, hèn nhát, ỷ lại, tối tăm, ngu muội”

[48,77]. Một trong những kẻ ra sức bảo vệ cái cơ chế lỗi thời là phó giám đốc Chính.

Mục đích của y là muốn giành chiếc ghế giám đốc, y muốn mình “phải có toàn quyền, có chức danh đàng hoàng chứ không phải suốt đời đi làm phó cho kẻ khác”[48,70].

Mới đầu, y giả vờ ngay thẳng, phỉnh phờ giám đốc: “Anh Việt, tôi là người rất ủng hộ anh, nghe tin anh về làm giám đốc xí nghiệp tôi rất vui mừng...”[48,18]. Nhưng thực ra, ngày ngày y ngầm giăng bẫy, gây bè phái, bàn bạc với tay chân của mình:“Ông giám đốc muốn sa xuống hố sẽ có ngay những cái hố”[48,70]. Y đã bám vào những nguyên tắc của cơ chế bao cấp để hạ uy tín của Việt: “ông ấy lại xúc phạm tới những nguyên tắc, những nguyên tắc mà tôi coi là thiêng liêng”. Chẳng những không cùng Việt đổi mới, cải thiện tình hình xí nghiệp mà Chính còn xúi giục bọn tay chân làm đơn khiếu nại, tố cáo lên trên. Khi thanh tra của Bộ xuống, Chính giả vờ như một người mẫn cán:

“Tôi lo việc tiếp nhận các kế hoạch do cấp trên thông qua và lo sao cho các kế hoạch

ấy được hoàn thành”. Hắn xun xoe, khen nịnh cấp trên: “Quả là các kế hoạch trên giao đều đã rất sát với khả năng sản xuất của xí nghiệp, anh em không thể làm hơn”. Sự thật hoàn toàn không phải như Chính nói, kế hoạch trên giao chẳng thấm tháp gì,

“không sử dụng hết sức lao động”, công nhân rảnh rỗi, xí nghiệp thua lỗ, thu không đủ chi “làm ra được một triệu thì tiêu tốn của nhà nước đến bốn triệu”. Lẽ ra kế hoạch sản xuất cho từng xí nghiệp phải từ cơ sở đưa lên thì lại là do cấp Bộ đưa ra “một cách ngược đời” [48,35]. Nhưng Chính không quan tâm đến điều này. Y bằng lòng với các nguyên tắc lạc hậu và bám vào đó để hại Việt. Ba lần bên công an gửi giấy triệu tập Việt thì cả ba lần Chính giấu đi để sau này anh bị quy tội nặng hơn.

Cuộc xung đột giữa cái mới tiến bộ và cái cũ lạc hậu diễn ra không ngừng nghỉ, ban đầu người tiến bộ bị đẩy vào chỗ hiểm nghèo, đúng như Lê-nin đã viết: “Trong lúc cái mới chỉ mới đang nẩy nở thì cái cũ, trong một thời gian nào đó, vẫn còn cứ mạnh hơn cái mới; trong giới tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội thường có hiện tượng như thế… Chúng ta nên nghiên cứu cẩn thận những mầm non đó, dùng mọi cách làm cho nó trưởng thành được thuận lợi và ‘chăm sóc’ những mầm non còn yếu đó”(trang 497, cuốn “Mác- Aênghen và chủ nghiã Mác”,nhà xuất bản Sự thật ấn hành). Ban đầu, cái tiến bộ chưa được công nhận ngay, người táo bạo đi đầu vấp phải “bao sự rắc rối, bao điều tai tiếng, chuốc lấy bao sự phẫn nộ”[48,75] thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Công cuộc dựng xây vị thế cho cái tiến bộ không phải chỉ cần bàn tay, khối óc mà còn có cả máu và nước mắt. Trong hiện thực đời sống, người tiên phong đã bị rơi vào bi kịch hệ lụy. Bởi vì cơ chế cũ quan liêu vốn đem lại đặc lợi cho không ít người có máu mặt, cho nên vô số kẻ muốn níu kéo cái cơ chế này.

Xu hướng khẳng định cái tiến bộ vừa là đòi hỏi của đời sống, vừa là quy luật phát triển của xã hội. Con người không thể cố bấu víu vào cái lỗi thời, lấy đó làm thước đo chân lý. Sự trì kéo cơ chế cũ chỉ làm ảnh hưởng xấu đến tình cảm của người dân đối

với chế độ, bởi lẽ: “sự vật không đứng yên… có cái hôm qua đúng, hôm nay nó là vật cản” [48, 40 ]. Cùng ý tưởng với Lưu Quang Vũ có nhà viết kịch Xuân Trình. Trong vở“Mùa hè ở biển” (sáng tác năm 1985), Xuân Trình nhấn mạnh: người cán bộ phải đổi mới, phải năng động hơn, trước những yêu cầu của hiện thực khách quan. Xuân Trình khai thác đề tài sản xuất nông nghiệp còn Lưu Quang Vũ đề cập đến lĩnh vực công nghiệp. Tuy “Tôi và chúng ta” (1984) ra đời trước “Mùa hè ở biển” một năm nhưng cả hai nhà viết kịch đều nhận thức được xu thế phát triển của lịch sử và có thái độ phê phán sự lạc hậu, chậm tiến. Theo Vũ Tuấn Anh, “Chính cái nhìn hiện thực, sự mạnh dạn trong cách đặt vấn đề mang tính chất những kiến nghị xã hội đã làm nên tiếng vang lớn của nhiều vở kịch như: Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ ), Mùa hè ở biển ( Xuân Trình )…” [45,485].

“Tôi và chúng ta” là tác phẩm được viết bằng tiếng nói của dân chúng, “đi thẳng vào những vấn đề mà cuộc sống chưa giải quyết được. Nó không làm nhiệm vụ minh hoạ, không dừng lại ở mức phản ánh, mà đã vượt lên trước đi trước, trực tiếp tham gia giải đáp, tháo gỡ những vấn đề còn mắc mứu”[37,80]. Nhà văn nhận thức được những khả năng ẩn tàng bên trong người lao động, cổ vũ cho phương thức quản lý nào có thể thúc đẩy công nhân phát huy tối đa năng lực lao động sáng tạo của họ. Trước sau gì, Lưu Quang Vũ cũng thể hiện tinh thần phê phán vì mục đích xây dựng một xã hội dân chủ hơn, nhân văn hơn. Khi “Tôi và chúng ta” được công diễn, “tờ báo Sự thật (Liên Xô) đã viết: Tôi và chúng ta là vở kịch về sự xung đột giữa các phương pháp quan liêu với đường lối mới năng động, và mở ra một không gian rộng lớn cho sự sáng tạo của người lao động… Vở kịch thành công chính vì tác giả đoán biết được sự thay đổi và dám dũng cảm đi vào vấn đề mới mẻ có tính tất yếu ấy”[4,36].

Cuộc đấu tranh không ngừng chống lại cái trì trệ, lỗi thời là cuộc chạy tiếp sức vượt qua vô số chướng ngại vật, khó khăn, chật vật nhưng nhờ vậy, nhân loại mới vượt

lên phía trước. Lòng yêu sự tiến bộ, thái độ sôi nổi, nhiệt tình của tác giả đã tạo nên chất chính luận sắc sảo của vở“Tôi và chúng ta”. Phan Trọng Thưởng rất thích kịch bản này vì Lưu Quang Vũ đã đi đầu “phản biện lại cả một cơ chế. Anh thống kê được cả 21 nguyên tắc tài vụ cũ kỹ, lỗi thời, kìm hãm sản xuất. Anh công khai bảo vệ những tư tưởng mới, những lối nghĩ mới, lối làm ăn mới và công khai phê phán cơ chế quan liêu bao cấp cả trong lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội lẫn trong lĩnh vực tư tưởng tinh thần”[41,246].

3.1.2. Xung đột giữa người dân lương thiện tích cực và thế lực đen tối tiêu cực:

Nhiều vở kịch của Lưu Quang Vũ mang đậm tính chất phê phán, phủ định cái ác, cái xấu, khẳng định cái thiện và cái đẹp thông qua miêu tả xung đột giữa người dân lương thiện, chân thật với thế lực đen tối tiêu cực, tàn ác và giả dối. Đây cũng là mối xung đột thể hiện rõ bản chất của cuộc sống. Chừng nào còn con người thì xung đột này còn tồn tại.

Vở “Bệnh sĩ” tái hiện sinh động xung đột giữa một bên là người dân lao động hiền lương ở xã Cà Hạ, còn bên kia là Nguyễn Toàn Nha – chủ tịch xã và Sửu – thư ký của Nha đại biểu cho thế lực đen tối, xảo trá. Thói sĩ diện đã dẫn Nha đến chỗ lừa bịp mọi người. Nút kịch được thắt chặt lúc Nha vội vã chuẩn bị tổ chức lễ mừng công rầm rộ, mời nhà văn, nhà báo, phóng viên truyền hình về xã. Thấy vậy, nhân vật Ruộng đã lo lắng kêu lên: “nhân công bị điều đi làm đủ việc tạp dịch, đất ruộng bỏ không, phân bón chẳng có, sản xuất bê trễ, không khéo vụ này đói to ”[21,167].

Xung đột càng căng thẳng hơn khi Nha lệnh cho Sửu lấy 8 phòng của trường tiểu học tạm làm chuồng, mượn lợn của dân thả vào để lừa phóng viên. Người dân không đồng tình vì trong chuyện này, lão Sửu (thư ký xã) là kẻ kiếm lợi nhất. Cứ ba đồng chè chén đón khách thì phải vào túi lão một đồng. Nha và Sửu thật ra chưa làm gì để ích nước lợi dân. Người dân biết trò làm lễ báo cáo thành tích là giả dối “Bày ra cái trò

này chỉ oai chỉ đẹp mặt cho mấy ông lãnh đạo, chứ dân thì chỉ thêm đói thêm khổ. Đói mà không được kêu…”[21,203]. Nhưng bọn Nha và Sửu “có chức có quyền, lại thường cả tiếng lấp lời… giả dối, bốc phét, đục nước béo cò, dân khổ bởi phải hứng chịu toàn những thứ dởm” [21, 224]. Xung đột lên tới đỉnh điểm khi dân Cà Hạ phản đối hành động của chủ tịch xã: “Gạo thóc đổ ra mua hết thuốc pháo với giấy vụn chất trong kia, liệu có ăn được không, hay nghe nổ trừ bữa”[21, 203]. Cô Xoan quyết liệt chống đối:

“Việc cần làm thì không làm. Cả mấy xà lan đạm, lân người ta chở đến cho, không chịu bốc về, cứ ngôì chầu hẫu cả ở đây. Chúng tôi không chịu đâu…”[21,203].

Lưu Quang Vũ đã sử dụng thủ pháp lột mặt nạ để cái xấu, cái giả dối lộ nguyên hình, bắt đầu từ chỗ mắt xích lỏng leỏ nhất bị bung ra. Lợn đi mượn lạ chuồng lạ đàn, cắn nhau lung tung. Đúng vào lúc đoàn tham quan đến thì nó phá toang cửa lớp học, một con tức tối xông vào cắn ngay chân anh phóng viên truyền hình. Cái mặt nạ của Nha rơi xuống khi trụ sở xã – nơi chứa thuốc súng bị cháy nổ. Nha may mắn được giữ chức chủ tịch xã nên y ảo tưởng về tài năng phi phàm của mình. Y không biết rằng sự ấu trĩ, tự mãn thường đi liền với thói sĩ diện. Căn bệnh sĩ tai quái này xô đẩy Nha vào vũng lầy giả dối, che đậy. Nha và Sửu khiến người xem liên tưởng tới con ếch, con sâu mà Trang Tử từng nói tới trong “Nam hoa kinh”: “Eách giếng không thể cùng nói về biển vì câu nệ về chỗ ở. Sâu hè không thể cùng nói về băng vì khư khư về mùa. Khúc sĩ – kẻ hiểu biết hạn hẹp không thể cùng bàn về đạo vì bó buộc về lối dạy.” ( Tỉnh oa bất khả dĩ ứ ngư hải giả, câu ư khư dã. Hạ trùng bất khả dĩ ngứ ư băng giả, đốc ư thời dã. Khúc sĩ bất khả dĩ ngứ ư đạo giả, thúc ư giáo dã). Thói háo danh, sĩ diện tới mức không còn biết đến đạo lý của Nha vừa đáng lo ngại vừa đáng trách vì nó làm hại đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Công cuộc đổi mới đất nước không thể thành công nếu những kẻ như Nha còn nắm vị trí chủ chốt, cầm cân nảy mực.

Một phần của tài liệu Nghệ thuật kịch lưu quang vũ (Trang 44 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(136 trang)