5. KẾT CẤU CUẢ LUẬN VĂN
4.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ
Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch là yếu tố quyết định giá trị của tác phẩm, bởi vì qua ngôn ngữ, người xem nắm bắt được hành động, tính cách nhân vật, xung đột kịch, cốt truyện kịch, phong cách tác giả và chủ đề tư tưởng của tác phẩm. “Văn học kịch thể
hiện hành động với một tính trực tiếp tối đa. Hành vi của các nhân vật ở đây hiện ra không nhờ đến lời tác giả mà là được tái tạo bằng hình thức phù hợp với nó: bằng độc thoại và đối thoại của bản thân các nhân vật ấy”[22,72]. Giới hạn dung lượng ngôn ngữ tác phẩm kịch phải đáp ứng được nhu cầu trình diễn trên sân khấu để thời gian cốt truyện trong kịch trùng hợp với khuôn khổ chặt chẽ của thời gian sân khấu, có khi các hành động chỉ được gọi tên ra. Các lớp độc thoại, đối thoại phải thật gọn gàng, cô đọng. “Thông qua những lời đối thoại hoặc độc thoại của nhân vật mà biểu hiện được tất cả những điều nhân vật nghĩ, nhân vật muốn và cả những việc anh ta làm nữa”[18,24]. Về thực chất, “yếu tố độc thoại ở kịch có thể hoặc ẩn ngầm trong đối thoại dưới dạng những câu hỏi không có lời đáp, hoặc dưới dạng những độc thoại thật sự, bộc lộ những xúc cảm kín đáo của nhân vật”[23,740]. Do vậy, “không thể vạch một ranh giới rõ ràng dứt khoát giữa lời đối thoại và độc thoại” [22,23]. Tuy nhiên, để khảo sát đầy đủ các khía cạnh trong ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ, người viết luận văn đã phân chia thành hai phần: ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại, đây chỉ là sự phân chia có tính chất tương đối bởi mỗi kịch bản dù ngắn hay dài vốn là một chỉnh thể nghệ thuật. Nhìn chung, kịch Lưu Quang Vũ như một bản hoà tấu đa giọng, có kịch bản mang đậm chất giọng chính luận sôi nổi, bộc trực, thẳng thắn (Tôi và chúng ta…), có chất giọng thâm trầm triết ly,ù xót xa cay đắng (Hồn Trương Ba da hàng thịt, Linh hồn của đa,ù Ông không phải là bố tôi…), cũng có chất giọng châm biếm, mỉa mai, tuyên chiến với cái xấu cái ác (Bệnh sĩ, Lời thề thứ chín…). Song chất giọng chủ đạo vẫn là đằm thắm yêu thương, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của con người, rất mực trân trọng và biết giá người.
4.2.1. Ngôn ngữ đối thoại:
Ngôn ngữ đối thoại đảm nhiệm mọi chức năng trần thuật như giới thiệu nhân vật, nhắc chuyện cũ, đánh giá sự việc ở hiện tại, giúp người xem hiểu rõ mức độ căng
thẳng trong xung đột kịch, cách giải quyết xung đột và tư tưởng- tình cảm của tác giả.
Lời đối thoại gắn liền với việc các nhân vật nói với nhau, hướng vào nhau, tác động lẫn nhau. Trong kịch Lưu Quang Vũ, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật không mang giọng văn vẻ trơn tuột, sáo rỗng. Lời đối đáp vừa có tính khẩu ngữ, giọng chân thực của lời hội thoại vừa mang chất văn học. Thông qua những lớp đối thoại tự nhiên, giản dị, anh khắc sâu tính cách nhân vật, gợi cho người xem nhiêù suy nghĩ về thế thái nhân tình. Theo Vũ Quần Phương, trong thể loại kịch, Lưu Quang Vũ tỏ ra “thăng bằng hơn, tỉnh táo hơn và đã được mến chuộng, được coi là tác giả ăn khách nhất, sung sức nhất.”
[25,767] .
Lưu Quang Vũ có cách giới thiệu nhân vật không rườm rà mà chỉ dùng một lời thoại gọn gàng. Đồng thời, anh chú ý chọn lựa từ ngữ phù hợp tính cách nhân vật, mỗi kiểu nhân vật có một kiểu ăn nói, kiểu câu, ngữ điệu lời nói khác nhau. Sự khác nhau đó là do tuổi tác, nghề nghiệp và cả vị trí xã hội của từng người. Nông dân có cách nói khác với thương lái, người trẻ có kiểu nói khác người già, dân đen nói khác với kẻ có chức quyền… Vở “Nguồn sáng trong đời” có một nhân vật cán bộ, mà Lưu Quang Vũ không đặt tên riêng, chỉ gọi là “ông trung niên”; khi đến bệnh viện khám mắt, ông ta bảo bác sĩ: “Bên phòng khám họ hẹn đến tuần sau. Nhưng tôi muốn vào viện ngay từ ngày mai. Tôi muốn chính bác sĩ Thành bóc cái nhài quạt ra cho tôi…”[51,193]. Những từ “tôi muốn” được lặp đi lặp lại đầy vẻ trịch thượng, lời nói ngắn tỏ rõ uy quyền: “Tôi không có nhiều thời gian. Các đồng chí chữa nhanh cho tôi…”[51,194]. Đây là kiểu nói theo thói quen quan liêu, mệnh lệnh. Cho dù đối tượng nghe là bác sĩ điều trị, và điạ điểm diễn ra hành động ngôn ngữ là tại bệnh viện, không phải tại cơ quan của ông ta nhưng ông ta vẫn dùng toàn câu mệnh lệnh. Ngoài kiểu câu mệnh lệnh ông cán bộ còn dùng kiểu câu hỏi chất vấn, liên tục tấn công đối tượng:
“ÔNG TRUNG NIÊN: Đây rồi, cả trưởng khoa, phó khoa đều ở đây. (bỏ kính ra chỉ vào mắt mình). Thế này là thế nào? Họ đã phẫu thuật bóc cái “nhài quạt” đi cho tôi.
Vậy mà chỉ một thời gian sau khi bỏ băng, mắt tôi lại mọc lên một cái màng trắng , một cái “nhài quạt” nữa. Thế là thế nào? Các anh làm ăn ra sao để đến nỗi cái “nhài quạt” cũng không chữa khỏi ?
BÁC SĨ VẬN: Bác để tôi xem (Nhìn mắt ông bệnh nhân)(…) Bác ạ, như đã thưa trước với bác đấy, chữa thứ này không khó nhưng lôi thôi, phẫu thuật rất tốt rồi nhưng có khi nó lại mọc ra một cái màng mới, lại phải phẫu thuật lần nữa.
ÔNG TRUNG NIÊN: Lần nữa? Lây rây ra mất thì giờ vậy sao? Tôi rất bận. Hừ, vậy mà họ đồn là khoa mắt ở đây tài giỏi, mắt mù cũng chữa được sáng cơ mà ? Chỉ tại các anh vô trách nhiệm thôi. Các anh có biết bao nhiêu việc đang đợi tôi ở cơ quan, vậy mà các anh bắt tôi phải ở đây mổ đi mổ lại, làm ăn thế à?”[51,223].
Giọng nói gay gắt, mạt sát các bác sĩ theo kiểu ông cán bộ này là biểu hiện của một tính cách hãnh tiến, quen thị oai, quen dùng quyền lực để lấn át người đối diện.
Nhân vật này tuy không phải là nhân vật chính nhưng đã gây được nhiều ấn tượng cho người xem.
Càng về sau, các lớp thoại càng được Lưu Quang Vũ viết một cách tự nhiên, sinh động, đời thường thông qua đó khéo léo bộc lộ chính kiến, tránh gây cho người xem cảm giác nhân vật là cái loa phát ngôn của tác giả. Đồng thời vẫn chuyển tải được những chiêm nghiệm của bản thân mình về các vấn đề gai góc mà các nhà văn khác thường né tránh. Nói chung, ngôn từ trong một số vở kịch mà Lưu Quang Vũ đạt giải có chỗ giàu tính triết lý, hàm súc; mang tính hành động, và đôi khi dí dỏm hài hước.
4.2.1.1 . Ngôn ngữ triết lý hàm súc :
Lưu Quang Vũ là người nhập cuộc, nhiều đau đời nhưng không yếm thế, ý thức công dân tích cực khiến anh thường ưu tư về con người và thời cuộc. Cho nên ngôn ngữ trong kịch của anh thường đậm chất triết luận – trữ tình. Đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đình Nghi – người đã dựng tám kịch bản của anh– tâm sự rằng: “Cái hợp giữa tôi và Vũ là khả năng tạo ra những tình huống đa nghiã cho tác phẩm khả năng gợi mở, lay thức tâm hồn và trí tuệ khán giả.”[38,247].
Nhan đề một số vở được tác giả viết theo lối nói ít gợi nhiều của thi pháp thơ.
Chẳng hạn như “Nguồn sáng trong đời”, theo Phạm Vĩnh Cư, ánh sáng là“một biểu tượng mang nặng hàm nghiã triết lý”[1,34]. Nguồn sáng mà Lưu Quang Vũ nói đến là thứ ánh sáng toả ra từ trái tim cao thượng, người ta không nhìn thấy bằng mắt mà cảm nhận được nó bằng tâm hồn. “Bất cứ thành tựu khoa học nào cũng phải dựa trên thành tựu cao hơn đó là lòng tốt của con người”[51,227]. “Người ta chỉ hoàn thiện được nhờ có người khác, nhờ biết vì người khác, nhờ biết yêu thương và được yêu thương”[51,246]. Tình người, lòng tốt chính là nguồn năng lượng làm cho đời người sáng bừng lên và lung linh hy vọng. Những tác phẩm điêu khắc do họa sĩ mù tạo ra chưa đạt chuẩn mực nghệ thuật. Một bức tượng đã hỏi tác giả: “Chúng tôi hoàn thiện sao được khi chính anh không toàn vẹn ?”[51,156]. Có một mối dây liên hệ giữa người nghệ sĩ với tác phẩm của họ; muốn thành công, người nghệ sĩ không chỉ cần nguồn sáng từ bên trong tâm hồn mà còn cần nguồn sáng thực sự của đôi mắt biết nhìn nhận sắc sảo, biết soi rọi tận cùng cái bản chất hiện thực. Câu chuyện kịch đã gợi ra ý nghĩa triết học – nhân sinh của vấn đề ánh sáng chân lý. Aùnh sáng trong vũ trụ vốn là tạo vật của thiên nhiên, nó quan trọng với người như nước đối với cá. Aùnh sáng mở ra sự thông tuệ của tâm hồn, tạo cơ hội tiếp cận chân lý. Aùnh sáng làm lộ rõ bộ mặt của hiện thực, nó soi đường cho cuộc hành trình khám phá đời sống, nó gợi mở nhiều chân trời mới.
Nhờ tấm lòng cao cả của Toàn, họa sĩ mù mới có được ánh sáng. Cũng như nhờ sự ủng
hộ và tình cảm của công chúng yêu nghệ thuật người nghệ sĩ mới thoát khỏi cảnh đời tăm tối. Người nghệ sĩ không thể tồn tại, không thể hoàn thiện bản thân mình nếu không được cuộc đời làm họ mở mắt ra, vỡ lẽ ra bao điều tinh vi và phức tạp. Chính công chúng giúp người nghệ sĩ nhìn rõ, hiểu rõ sự thật để người nghệ sĩ thoát khỏi ảo tưởng “vĩ cuồng” – thứ ảo tưởng tự cho mình là tài hoa bậc nhất, từ đó tự đánh giá đúng hơn giá trị tác phẩm của mình, điều chỉnh những mặt chưa toàn vẹn, để có thể tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật, vươn tới tầm cao. Người nghệ sĩ chỉ có thể sống và làm việc một cách hiệu quả khi “sáng mắt sáng lòng” với một quan niệm sáng tỏ về nghệ thuật chân chính.
Lưu Quang Vũ tin rằng những kỷ niệm đẹp, những tình cảm sâu nặng giữa người với người trong chiến tranh là“Điều không thể mất”. Nhan đề của vở“Điều không thể mất” còn gợi ra vấn đề giữ gìn phẩm chất chiến sĩ kiên trung sau chiến tranh. Khi đối diện với hiện thực mới, ngồi ở địa vị nắm quyền lực, người cựu binh dễ đánh mất chính mình. Nhà viết kịch đã không lảng tránh những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội, đồng thời anh luôn khẳng định giá trị của luân lý, đạo đức truyền thống. Nhan đề “Bệnh sĩ”
mỉa mai những kẻ vừa có chút quyền lực đã mắc chứng khoe khoang, háo danh, làm bậy để quảng cáo cho bản thân mình. Căn bệnh sĩ diện còn đi liền với thái độ coi trọng bằng cấp, đề cao nghề này, xem nhẹ nghề kia, định kiến hạn hẹp về nghề lao động chân tay đã đánh mất sự cân đối về nguồn nhân lực. Đồng thời tác giả còn ngụ ý nói rằng không có nghề nào là thấp kém vì nghề nào cũng cần thiết; nếu người lao động làm ăn chân chính, đóng góp công sức mình cho xã hội thì người lao động nào cũng đáng được trân trọng. Tính hàm súc triết luận còn thể hiện ở nhan đề “Tôi và chúng ta”, gợi cho người xem nghĩ về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Trong mỗi con người dường như đều có một phần đất nước; sự gắn bó số phận cá nhân với số phận dân tộc là một thực tế lịch sử của đời sống vật chất và tinh thần người Việt. Kiến tạo
đất nước phải đi liền với yêu cầu xây dựng nhân cách con người Việt Nam mới, chú ý đến mối quan hệ qua lại giữa cái riêng và cái chung. Đấu tranh cho lợi ích của dân tộc và giai cấp có nghiã là chiến đấu cho tập thể “chúng ta”. Nhưng hoàn toàn không phải vì thế mà bỏ qua cái “tôi” riêng của mỗi người. “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”
nguyên lý này bao hàm cả mối quan hệ giữa hai tồn tại khách quan cái “riêng” và cái
“chung”. Chế độ ta quan tâm đến cái “riêng” của nhân dân lao động, làm sao cho mọi người đủ cơm ăn, áo mặc, được học hành và được hưởng hạnh phúc. Điều gì ích nước lợi dân được nhanh chóng thực hiện, còn điều gì chưa tốt phải sửa đổi ngay. Mục tiêu của cái “chung” là nâng cao đời sống của mỗi cái “tôi”, tạo điều kiện cho mỗi cá thể phát huy tài năng, sở trường. Mục tiêu của cái “riêng” là phấn đấu vì lợi ích chung, đóng góp xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh.
Chất triết lý toát lên từ lời thoaị của một số nhân vật nhưng không phải bằng giọng văn lên gân, thuyết giáo cao siêu mà ngược lại, rất tự nhiên, mộc mạc, dễ hiểu.
Có lúc lời tâm sự bày tỏ quan niệm của tác giả về con người như hoà nhuyễn vào trong lời thoại kịch: “Tôi không muốn chia cuộc đời thành người tốt kẻ xấu, chỉ có người thúc đẩy sự tiến hoá và người cản trở”[48,51]. Con người thường xuyên không hoàn hảo, trong mỗi con người đều có phần được và chưa được, phần sáng và phần khuất tối, điều quan trọng là động viên họ phát huy tối đa cái phần tốt đẹp trong bản thân mình. Lưu Quang Vũ cũng thường gửi gắm quan niệm về lẽ sống chết ở đời: “Sống giả tạo mới thực là chết”[21,329]. Không ai thoát khỏi sinh , lão, bệnh , tử. Cuối cùng cái chết mang người ta đi “Trong chuyến đi này, người ta chẳng có hành lý gì mang theo”[21,333]. Cho nên “so với lẽ sống chết của cuộc đời, mọi thứ của cải là vô nghiã hết, chỉ có tình yêu thương là đáng kể”[21,337]. Con người chân chính luôn vươn tới cuộc sống có ý nghĩa, người sống hết mình là người suốt đời cống hiến và kiên trì tìm tòi, học hỏi: “Không thể không học không tìm hiểu mà việc gì cũng giỏi giang ngay
được”[48,76]. Nhất là nam giới, theo Lưu Quang Vũ, đã là phái mạnh tất phải sống khoẻ khoắn, lành mạnh: “Đàn ông người ta phải đầy đam mê hoài bão, sự nghiệp, tình yêu, nếu không thì cũng phải mê một thứ gì đó: Văn chương, đàn hát, thể thao chẳng hạn. Kẻ tầm thường hơn thì ham tiền”[48,20]. Cuộc sống trở nên vô nghiã, vô vị khi con người thiếu khát vọng, thiếu lý tưởng. Con người – một thực thể sống động, vừa là khách thể vừa là chủ thể sáng tạo. Thế giới loài người vốn dĩ vừa đáng yêu vừa phức tạp và đa dạng. Dù cho lẽ đời nhiều nỗi nhiêu khê thì thời gian sẽ giúp trả lời và khẳng định cái gì là tốt đẹp, ưu việt. “Những con người từng sống tốt đẹp, hữu ích phải còn lại một chút gì của họ trong cuộc sống này”[48,6], vẻ đẹp nhân cách của họ đã truyền lại cho đời bao hoa thơm trái ngọt, vun đắp niềm tin và sưởi ấm trái tim nhân loại. Trong vở “Đường bay”, Tuấn đã nói về mối liên hệ chặt chẽ giữa lối sống và cung cách làm việc của từng người:“Sống bệ rạc, nhơ nhớp trên mặt đất thì không thể đàng hoàng, dũng mãnh trên trời được”[47,42]. Người chiến sĩ phi công nhận ra một điều vô cùng tinh tế: “Ta nhìn nhận hôm nay, nhìn nhận tuổi trẻ bằng những khuôn mẫu của ngày hôm qua, dẫn đến sự trì trệ luẩn quẩn khiến không ai có thể vượt xa hơn đường bay của người đi trước”[47,45]. Cái nhìn khách quan và quan điểm biện chứng thực sự luôn cần thiết khi xem xét mọi khía cạnh của hiện thực bởi vì “cuộc sống không đứng yên một chỗ, có cái hôm qua đúng, hôm nay nó là vật cản”[48,40]. Cuộc vận động không ngừng của đời sống đòi hỏi con ngươì phải vận động theo, nếu không muốn sa lầy, lạc hậu.
Nhiều đoạn đối thoại giàu ý nghĩa hàm ẩn đằng sau lớp nghĩa tường minh. Chẳng hạn như đoạn đối thoại giữa vợ Trương Ba với các quan trên thiên đình:
“BẮC ĐẨU: …Bây giờ, việc đã lỡ rồi. Ôâng nhà có mất sớm thật, nhưng thiết nghĩ:
đằng nào cũng thế thôi, người dưới trần ai cũng một lần chết.
VỢ TRƯƠNG BA: Chết! Các ông có biết chết là thế nào không? Các ông đã phải mất người thân bao giờ chưa ?
BẮC ĐẨU: Quả là…chúng tôi là người cõi giời…Người cõi giời không ai phải cheát…”[21,265].
Bắc Đẩu, Nam Tào đều là quan nhà trời, chưa từng trải nghiệm cảm giác mất mát khi người thân yêu của mình bị cái chết cướp đi nên không hiểu chút gì về nỗi đau sinh ly tử biệt. Phải chăng Lưu QuangVũ ngụ ý nói rằng khi người ta không cùng cảnh ngộ, không cùng giai cấp thì thật khó mà có được sự đồng cảm với nhau. Cũng trong vở kịch này, con người được miêu tả như một sinh thể tồn tại tất yếu vừa có phần hồn vừa có phần xác theo quy luật của tạo hóa. Những dục vọng ghê gớm sẽ xô đẩy người ta vào vũng lầy thấp kém nếu linh hồn thanh tao không đủ lực mạnh để giữ lại các giá trị cao quyù.
Chất triết lý cũng toát lên từ cốt truyện “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, tác giả gợi cho người xem nhiều suy nghĩ về con đường đi đến hạnh phúc. Một nhà khoa học tài năng có thể thành công trong sáng chế nhưng khó có thể đạt đến hạnh phúc đích thực khi anh ta sống giả dối, ích kỷ. Nếu người đời mơ ước quá xa vời hoặc luôn đòi hỏi sự hoàn thiện thì cuộc sống sẽ nặng nề, bất như ý. Những con người toàn thiện toàn mỹ, ngây thơ, vô tư, không chi li tính toán nhưng họ lại không thể sống ở cõi trần mà bị lún sâu giữa bao la đầm lầy. Cái còn tồn tại là một thế giới “nhân vô thập toàn” với biết bao điều bí ẩn trong tâm hồn mỗi người. Những con người đời thường với cá tính, tư tưởng-tình cảm riêng; họ không thể bị điều khiển gắt gao, không thể bị đối xử như những người máy. Đồng thời, tác giả còn bày tỏ quan niệm về nghệ thuật, nghệ thuật phải bắt nguồn từ cuộc sống, từ cảm xúc và niềm say mê sáng tạo của người nghệ sĩ.
Người nghệ sĩ chân chính không bao giờ coi tác phẩm của mình như một món hàng.