1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của lưu quang vũ

108 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ
Tác giả Trần Thị Mai Phương
Người hướng dẫn TS. Bùi Trần Quỳnh Ngọc
Trường học Trường Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ một mặt khẳng định những giá trị dân gian tồn tại và được kế thừa trong văn học hiện đại trên bước đường đổi m

Trang 1

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Bùi Trần Quỳnh Ngọc

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Mai Phương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cảm ơn TS Bùi Trần Quỳnh Ngọc – giảng viên hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tác giả hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Trần Thị Mai Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Khái niệm văn hóa dân gian và văn học dân gian 6

1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian 6

1.1.2 Khái niệm văn học dân gian 7

1.2 Lưu Quang Vũ - nhà viết kịch hướng về văn hóa dân gian và văn học dân gian để đổi mới văn học 10

1.2.1 Sơ lược về Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ 10

1.2.2 Sơ lược về những yếu tố dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ 12

1.2.3 Những đổi mới văn học thông qua các yếu tố dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ 14

Tiểu kết Chương 1 17

Chương 2 CỐT TRUYỆN DÂN GIAN TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ 18

2.1 Khái niệm cốt truyện 18

2.2 Đặc điểm cốt truyện dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 19

2.2.1 Cốt truyện gốc được sử dụng trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 19

2.2.2 Từ cốt truyện dân gian đến các vấn đề trong xã hội hiện đại qua kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 28

Tiểu kết Chương 2 34

Chương 3 CỔ MẪU TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ 35

Trang 5

3.1 Khái niệm cổ mẫu 35

3.2 Một số cổ mẫu trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 38

3.2.1 Cổ mẫu Hồn và xác 38

3.2.2 Cổ mẫu Thần thánh 48

3.2.3 Cổ mẫu Kẻ bịp bợm 57

Tiểu kết Chương 3 67

Chương 4 MOTIF DÂN GIAN TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC CỦA LƯU QUANG VŨ 68

4.1 Khái niệm motif 68

4.2 Một số motif dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 70

4.2.1 Motif hóa đá 70

4.2.2 Motif phân thân 73

4.2.3 Motif người hóa vật 76

4.2.4 Motif tái sinh 79

Tiểu kết Chương 4 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Những lần nói dối của nhân vật Cuội trong kịch bản văn học

Lời nói dối cuối cùng

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vào những năm 80 của thể kỷ XX, Lưu Quang Vũ trở thành một hiện tượng của sân khấu kịch Việt Nam Trước khi bắt đầu viết kịch, Lưu Quang Vũ từng viết văn và làm thơ, nhưng chỉ cho đến khi tìm đến thể loại kịch, tài năng của ông mới bộc phát mạnh mẽ và được đông đảo công chúng đón nhận nồng nhiệt Với sức sáng tác dồi dào, chỉ chưa đầy 10 năm, ông đã sáng tác hơn 50 vở kịch, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng và tiến trình đổi mới nhận thức kinh tế - xã hội của đất nước nói chung Kịch Lưu Quang Vũ cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông và đại học Các tác phẩm của Lưu Quang Vũ hết sức đa dạng, phong phú ở các mảng đề tài, bối cảnh xã hội và lịch sử khác nhau, từ mảng đề tài hiện đại đến những vở diễn mang chất liệu dã sử dân gian, huyền thoại Kịch Lưu Quang Vũ dù ở bất kỳ khía cạnh nào đều có góc nhìn đa chiều sâu sắc, đi vào ngõ ngách của cuộc sống, góc khuất của tâm hồn con người

Kịch Lưu Quang Vũ có rất nhiều yếu tố dân gian: cốt truyện, nhân vật, cổ

mẫu, motif, thể loại và các chi tiết nghệ thuật khác “Đến hiện đại từ truyền thống”

(Trần Đình Hượu), những yếu tố dân gian này góp phần làm tăng tính triết lí, nhân sinh, tăng chiều sâu, sức hấp dẫn nghệ thuật các tác phẩm kịch của ông

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ, tuy nhiên do mục đích khoa học cụ thể, vấn đề yếu tố dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ chưa được nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ một chuyên luận

Kế thừa những nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ Việc nghiên cứu các yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ một mặt khẳng định những giá trị dân gian tồn tại và được kế thừa trong văn học hiện đại trên bước đường đổi mới văn học; mặt khác góp phần khẳng định giá trị của kịch Lưu Quang Vũ trong nền văn học Việt Nam hiện đại và đáp ứng việc giảng dạy tác phẩm của ông trong

Trang 8

chương trình phổ thông theo một chiều sâu mới Đó là lý do chúng tôi lựa chọn

đề tài nghiên cứu này

2 Lịch sử vấn đề

Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi bước đầu thống kê được một số công trình liên quan đến nghiên cứu của đề tài như sau:

- Tác giả Lưu Khánh Thơ trong bài viết Sự khai thác mô típ dân gian trong

kịch Lưu Quang Vũ (2001) đã đề cập đến khía cạnh cốt truyện khi khai thác tích

truyện dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ Việc dựa vào tích truyện dân gian để viết kịch bản thể hiện dấu ấn và phong cách của Lưu Quang Vũ, đồng thời tạo cho tác phẩm một chiều sâu triết lí Tác giả đã liệt kê 3 vở kịch khai thác tích truyện

dân gian của Lưu Quang Vũ là Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Lời nói dối cuối cùng; Ông vua hóa hổ trên cơ sở so sánh giữa cốt truyện gốc và sự sáng tạo của

Lưu Quang Vũ để làm nổi bật tính triết lí được gửi gắm trong tác phẩm

-"Hồn Trương Ba, da Hàng thịt" từ truyện cổ dân gian đến kịch bản của

Lưu Quang Vũ - Sự phát triển của một triết lý sống của Đặng Hiển (Tạp chí

Triết học số 10, năm 2007) đã so sánh truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da hàng thịt và vở kịch cùng tên của Lưu Quang Vũ trên phương diện triết học Tác

phẩm dân gian đề cao và tuyệt đối hóa vai trò của linh hồn, Lưu Quang Vũ lại có quan niệm khác về mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn Con người chỉ thật sự hạnh phúc khi có sự hòa hợp giữa thể xác và linh hồn Bài viết đã khẳng định những đóng góp to lớn của Lưu Quang Vũ trong việc khai thác truyện cổ dân gian

Hồn Trương Ba, da hàng thịt ở khía cạnh triết lí về quan niệm nhân sinh

- Trong bài viết Kịch Lưu Quang Vũ: Sức hấp dẫn còn mãi của Bùi Mạnh

Nhị (Cổng thông tin điện tử Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn, 2018), tác giả đưa ra ba “người khổng lồ” đã làm nên sự thành công của kịch Lưu Quang Vũ: truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại, sự liên kết giữa các thể loại và quan niệm nghệ thuật, tâm hồn, trái tim nghệ sĩ trong chính con người anh Chính những “người khổng lồ” này đã làm nên sức hấp dẫn trong kịch Lưu Quang Vũ

Trang 9

-Truyền thống và hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ (Luận văn thạc sĩ,

năm 2018) của Nguyễn Thị Hải Vân đã nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ theo hai khía cạnh truyền thống và hiện đại Về mặt truyền thống, luận văn có đề cập đến các vở kịch khai thác tích truyện dân gian và những triết lí được thể hiện trong kịch Lưu Quang Vũ Tuy nhiên, luận văn chưa đi sâu vào việc khai thác các yếu

tố dân gian cụ thể được Lưu Quang Vũ sử dụng trong các tác phẩm

- Bài báo Kịch bản Văn học Lưu Quang Vũ: từ góc nhìn văn hóa bản địa

(Trong Lưu Quang Vũ những đối thoại nghệ thuật, Nxb Đà Nẵng, 1998) đã phân

tích hệ thống ngôi xưng dân dã phong phú, các yếu tố văn hóa cộng đồng truyền thống, việc sử dụng các thể loại văn học dân gian (thành ngữ, tục ngữ, ca dao), bài học nhân sinh qua các quan niệm văn hóa trong kịch Lưu Quang Vũ

- Bài báo Thủ pháp “nhại” trong kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của

Bùi Thị Kim Phượng (Trong cuốn Lưu Quang Vũ những đối thoại nghệ thuật,

Nxb Đà Nẵng, 1998) phân tích việc “nhại” cốt truyện, nhân vật và quan niệm sống trong kịch Lưu Quang Vũ

- Công trình nghiên cứu Tiếp cận vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của

Lưu Quang Vũ từ góc nhìn của phê bình cổ mẫu của Bùi Trần Quỳnh Ngọc

(Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Tp HCM số tháng 9 năm 2019) phân

tích cổ mẫu hồn và xác trong vở kịch nổi tiếng Hồn Trương Ba, da hàng thịt của

Lưu Quang Vũ

Nhìn chung, các công trình trên đây đã nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ trên những bình diện khác nhau Trên cơ sở tham khảo những ý kiến của các công

trình đi trước, đề tài Yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

sẽ giúp chúng tôi có thêm cái nhìn toàn diện về những đóng góp của kịch Lưu Quang Vũ đối với nền kịch nói nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố dân gian được thể hiện trong các tác phẩm của Lưu Quang Vũ

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề yếu tố dân gian trong các sáng tác của Lưu Quang Vũ,

chúng tôi tập trung khảo sát tuyển tập Nàng Sita – Những vở kịch khai thác tích

truyện dân gian (Nxb Trẻ, 2018) và vở kịch Hoa cúc xanh trên đầm lầy của Lưu

Quang Vũ (Nhà hát Tuổi trẻ, 2018)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp khảo sát – thống kê: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi

sẽ tiến hành khảo sát những kịch bản của Lưu Quang Vũ, từ đó thống kê những kịch bản có yếu tố dân gian nhằm làm rõ đề tài

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các yếu tố về nội dung và

nghệ thuật để có cái nhìn chi tiết hơn về giá trị của văn học dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ

4.3 Phương pháp so sánh: So sánh giữa tác phẩm dân gian gốc với cốt truyện

khi được sử dụng trong kịch Lưu Quang Vũ để làm rõ sự sáng tạo của ông và tính triết lý mới mẻ mà ông gửi gắm trong tác phẩm

5 Đóng góp của luận văn

6 Cấu trúc luận văn

Bên cạnh phần mở đầu và kết luận, luận văn được triển khai thành 4 chương:

Trang 11

Chương 1 Những vấn đề chung

Trong chương này, chúng tôi nêu ra các khái niệm văn hoá dân gian và văn học dân gian cũng như mối quan hệ giữa chúng Từ đó, thấy được vai trò của văn hoá dân gian và văn học dân gian đối với nền văn học nói chung, các sáng tác của Lưu Quang Vũ nới riêng Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ chỉ ra các yếu tố dân gian xuất hiện trong kịch Lưu Quang Vũ và những đổi mới văn học của ông

Chương 2 Cốt truyện dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

Nhiệm vụ của chương này là chỉ ra các yếu tố dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ thông qua cốt truyện Lưu Quang Vũ đã kế thừa, làm sống lại, để các tích truyện dân gian tiếp tục can dự vào cuộc sống, xã hội hiện đại, nêu những vấn đề của triết lí nhân sinh, đạo đức, trách nhiệm xã hội của mỗi con người Ngoài những lý thuyết về cốt truyện, luận văn sẽ chỉ ra những cốt truyện dân gian được dùng làm chất liệu sáng tác của Lưu Quang Vũ và các vấn đề trong

xã hội hiện đại được thể hiện thông qua các vở kịch này

Chương 3 Cổ mẫu trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

Chương này sẽ nêu ra một số đặc điểm lý thuyết của cổ mẫu và phân tích một

số cổ mẫu tiêu biểu trong kịch Lưu Quang Vũ như: cổ mẫu hồn và xác, cổ mẫu thần thánh và kẻ mẫu kẻ bịp bợm Từ đó chỉ ra chiều sâu tư tưởng, triết lí, ý nghĩa dân tộc và nhân loại của kịch Lưu Quang Vũ

Chương 4 Motif dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

Ở chương này, trên cơ sở tìm hiểu khái niệm và các đặc điểm của motif, chúng tôi khảo sát một số motif dân gian xuất hiện trong tác phẩm của Lưu Quang

Vũ Những tác phẩm này sẽ được đặt vào hệ thống các truyện dân gian có cùng motif để thấy rõ những điều mới mẻ khi sử dụng motif dân gian trong sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm văn hóa dân gian và văn học dân gian

1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian

Văn hóa dân gian (folklore) là khái niệm rộng, là những sáng tạo vật chất tinh thần của nhân dân bao gồm huyền thoại, âm nhạc, thành ngữ, tục ngữ, truyện cười, tín ngưỡng, truyện cổ tích, truyện kể và phong tục, tập quán

Theo Ngô Đức Thịnh trong Văn hoá dân gian và văn hoá dân tộc (Ngô Đức

Thịnh, 2007), các nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:

Ngữ văn dân gian bao gồm tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ ); trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); câu nói dân gian (thành ngữ, tục ngữ, câu đố)

Nghệ thuật dân gian bao gồm nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật diễn xướng dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )

Tri thức dân gian bao gồm tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu ); tri thức về con người (bản thân); y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục ), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn

Trang 13

hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng

Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian là sản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là "nền tảng tinh thần của xã hội", là "động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội"

Từ những nghiên cứu trên cho thấy, văn hóa dân gian được hình thành trên nền tảng xã hội loài người từ xa xưa, được vun đắp và hoàn thiện bởi con người Trong văn học, văn hóa dân gian là nguồn cội và đồng thời là yếu tố được các nhà văn, nhà thơ hướng đến nhằm khai thác triệt để và bảo vệ các giá trị vốn có Trong văn học hiện đại Việt Nam, các tác phẩm đã sử dụng giá trị văn hóa dân tộc như một sức mạnh làm nên chiều sâu và sức sống trường tồn Những nền văn hóa trên thế giới tồn tại và phát triển đều nhờ vào những giá trị truyền thống mang bản sắc dân tộc như lễ hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán Những giá trị văn hóa đó được lưu giữ, truyền tụng bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó, văn học là một hình thức quan trọng Khi đọc tác phẩm của các nhà văn hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo , chúng ta bắt gặp rất nhiều những chất liệu văn hóa dân gian Phảng phất trong đó là hình ảnh làng quê, con người Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Không chỉ có thơ và văn xuôi, kịch nói cũng tìm về với vốn văn hóa dân gian của dân tộc Các nhà viết kịch tiếp tục kế thừa, khai thác triệt để những yếu tố đó trong đời sống hàng ngày để làm chất liệu sáng tác, từ đó mang lại những giá trị hiện thực cho các tác phẩm

1.1.2 Khái niệm văn học dân gian

Văn học dân gian là những sáng tác truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thuỷ, trải qua quá trình phát triển lâu dài, tiếp tục

tồn tại trong thời đại hiện nay Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “văn học dân

gian (tiếng Anh: folk literature) còn gọi là văn chương (hay văn học) bình dân,

Trang 14

văn chương truyền miệng hay truyền khẩu, là toàn bộ những sáng tác nghệ thuật ngôn từ của nhân dân” (Lê Bá Hán, 2006, tr.404).

Văn học dân gian không đứng yên mà luôn luôn vận động Sự vận động đó diễn ra trong thời gian và không gian sinh sống, làm ăn của nhân dân Vì vậy, việc nghiên cứu văn học dân gian gắn liền với sự vận động của không gian, thời gian

và đặt các tác phẩm văn học dân gian vào các thể loại, vùng miền và thời kì lịch

sử gốc của chúng là điều hết sức quan trọng

Khái niệm “văn học dân gian” khác với khái niệm “văn hóa dân gian” hoặc

“văn nghệ dân gian” vì “văn hóa dân gian” là một khái niệm rộng, bao gồm cả hai khái niệm còn lại Có thể hiểu, văn học dân gian chính là một thành tố của văn hóa dân gian Giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian có mối quan hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ Văn học dân gian có một ví trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống văn hóa dân gian và các loại hình nghệ thuật khác

“Đứng ở vị trí của người nghiên cứu văn học, chúng ta coi tác phẩm văn học dân gian trước hết là những tác phẩm nghệ thuật Tính nghệ thuật là một thuộc tính khách quan của văn học dân gian cho dù thuộc tính đó có được nhân dân nhận thức rõ hay không trong khi sáng tác, diễn xướng và tiếp thu các tác phẩm văn học dân gian” (Đinh Gia Khánh, 2010, tr.8).

Nói về lịch sử văn học dân gian, Đinh Gia Khánh cho rằng lịch sử văn học dân gian không đồng nhất với lịch sử dân tộc, nhưng ở nước ta phương hướng chung của văn học dân gian chắc chắn phải là một với phương hướng chung của lịch sử dân tộc

Văn học dân gian, một bộ phận của văn hóa dân gian, đồng thời là sự biểu hiện của văn hóa dân gian, đã là cái vốn đầu tiên để từ đó xây dựng văn học dân tộc Văn học dân gian tự bản thân đã là dòng văn học quan trọng trong toàn bộ nền văn học dân tộc Nhưng văn học dân gian có một vị trí đặc biệt vì sự ảnh hưởng, tác động của nó đối với sự hình thành và phát triển của dòng văn học viết

là điều không thể phủ nhận

Trang 15

Trước hết văn học dân gian có ảnh hưởng quyết định vào sự hình thành văn học viết bằng chữ Nôm Quá trình phát triển lâu dài của văn học dân gian ở nước

ta chính là quá trình xây dựng ngôn ngữ văn học trên cơ sở rèn giũa ngôn ngữ hàng ngày Ngôn ngữ văn học dân gian lại là chất liệu đầu tiên, chất liệu chính để xây dựng ngôn ngữ văn học bằng chữ Nôm

Văn học dân gian trong thời kì từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX được Chu Xuân Diên cho rằng khi cơ cấu thành phần nhân dân của một thời kì lịch sử nhất định thay đổi thì cơ cấu và chất lượng văn học dân gian của thời kì đó cũng thay đổi Sự biến đổi trong cơ cấu thành phần nhân dân được biểu hiện qua việc tầng lớp sĩ phu yêu nước rời bỏ hàng ngũ thống trị phong kiến để gia nhập phong trào giải phóng của nhân dân Tuy nhiên, việc này không làm ảnh hưởng đến cơ cấu của văn học dân gian bởi nó chỉ là một hiện tượng phân hoá giai cấp đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử Hiện tượng này chỉ ảnh hưởng đến sáng tác của tầng lớp tri thức phong kiến Nguyên nhân biến đổi sâu sắc diện mạo và chất lượng của văn học dân gian là sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế của xã hội Việt Nam, mà sự biến đổi này có biểu hiện ở sự biến đổi về cơ cấu nhân dân trong giai cấp lao động

Như vậy, có thể thấy khi “cơ cấu các thành phần nhân dân” thay đổi thì văn học dân gian chuyển động và thay đổi không ngừng Điều này được minh chứng khi nội dung các tác phẩm văn học dân gian thay đổi theo thời thế và hoàn cảnh lịch sử của đất nước

Văn học dân gian có tác động vô cùng lớn, là nền tảng để hình thành và phát triển văn học viết Văn học dân gian chính là “bầu sữa mẹ” nuôi dưỡng nền văn học viết Tiếp thu những giá trị của văn học dân gian, đã có không ít các nhà văn, nhà thơ sử dụng văn học dân gian làm chất liệu sáng tác và để lại những tác phẩm

vô cùng có giá trị như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Điều đó chứng minh sức sống bền bỉ của văn học dân gian sẽ còn tiếp tục tồn tại và đóng một vai trò quan trọng trong sáng tác, nghiên cứu văn học Việt Nam

Trang 16

1.2 Lưu Quang Vũ - nhà viết kịch hướng về văn hóa dân gian và văn học dân gian để đổi mới văn học

1.2.1 Sơ lược về Lưu Quang Vũ và kịch Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ được coi là một tượng đài của sân khấu kịch Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX Với sức sáng tạo dồi dào, chỉ trong 8 năm (1980 – 1988), ông đã có hơn 50 vở kịch được dàn dựng và công diễn Phần lớn các vở diễn của Lưu Quang Vũ đều tạo được tiếng vang trong lòng khán giả Người ta khâm phục tài năng, sự say mê và sức sáng tạo mãnh liệt của Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ bắt đầu bước chân vào lĩnh vực sân khấu bằng tác phẩm đầu

tay Sống mãi tuổi 17 (1979) do Nhà hát tuổi trẻ dàn dựng và giành Huy chương

Vàng tại Hội diễn Sân khấu toàn quốc 1980 Thành công ban đầu đã trở thành nguồn động lực và sức mạnh thúc đẩy nghị lực, niềm tin cho cây bút trẻ vững bước vào nghề

Lưu Quang Vũ đã tạo nên những dấu ấn rất riêng, rất sáng tạo khi chuyển tải nội dung và mang đến hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho mỗi vở kịch Nhanh chóng, kịp thời, mỗi vở kịch là một vấn đề thời sự nóng bỏng đã trở thành lợi thế lớn để kịch Lưu Quang Vũ có thể phủ sóng trên khắp mọi miền Tổ quốc Kịch Lưu Quang Vũ ngoài yếu tố thời sự còn có tính dự cảm rất cao Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, Lưu Quang Vũ đã đi trước thời đại, viết về những vấn

đề mà mãi cho đến mấy mươi năm sau, người xem vẫn thấy đúng và đồng cảm với kịch của ông

Nghiên cứu về kịch bản của Lưu Quang Vũ, có thể thấy các đề tài được khai thác rất đa dạng và phong phú Đề tài viết về các vấn đề trong xã hội hiện đại có các vở: “Tôi và chúng ta”, “Nếu anh không đốt lửa”, “Bệnh sĩ”, “Lời thề thứ 9”,

“Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, “Ai là thủ phạm”,… Đề tài khai thác từ các tích truyện dân gian có số lượng ít hơn, gồm các vở: “Nàng Sita”, “Hồn Trương Ba,

da hàng thịt”, “Lời nói dối cuối cùng”, “Linh hồn của đá”, “Đôi đũa Kim Giao”

“Ông vua hóa hổ”, “Đam San”, “Nàng Sita” Đề tài khai thác từ lịch sử như “Ngọc Hân công chúa” Dù ở đề tài nào, kịch bản Lưu Quang Vũ đều thể hiện cái nhìn

Trang 17

đa chiều sâu sắc, đi sâu vào ngõ ngách và những góc khuất trong tâm hồn con người

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, kịch Lưu Quang Vũ góp phần to lớn tạo nên diện mạo sân khấu kịch những năm 80 của thế kỷ XX Trong đó, nhiều tác phẩm có sức sống vượt thời gian, có thể xem là những tác phẩm kinh điển của sân khấu Việt Nam Sau hơn 30 năm, Lưu Quang Vũ vẫn là nhà viết kịch có gia tài tác phẩm đồ sộ cả về số lượng và chất lượng Trước Lưu Quang Vũ chưa ai làm được điều này, và sau sự ra đi đột ngột của ông, sân khấu Việt Nam vẫn chưa

có tác giả nào bù đắp được khoảng trống mà ông để lại

Theo nhà nghiên cứu văn học Lưu Khánh Thơ, Lưu Quang Vũ được đánh

giá là “nhà viết kịch xuất sắc của thời kỳ hiện đại” (Lưu Khánh Thơ, 2018, tr.5)

Trong lịch sử sân khấu Việt Nam, thời kỳ của Lưu Quang Vũ có lẽ là thời kỳ sôi động nhất, giàu sức sống nhất và thu hút đông đảo người xem nhất Lưu Quang

Vũ cũng là một trong những người tiên phong trong phong trào đổi mới văn hóa văn nghệ, dùng ngòi bút của mình góp phần đem lại những điều tốt đẹp cho con người và xã hội

Đáng tiếc thay, khi tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ, để lại trong lòng người thân và khán giả mến mộ sự thương tiếc vô cùng to lớn

Lưu Quang Vũ đã trở thành “người trong cõi nhớ” nhưng những nỗi ám ảnh

không nguôi vẫn ở đó, trong các vở kịch ông để lại Người đọc, người xem vẫn hào hứng đối thoại với các vấn đề Lưu Quang Vũ đặt ra trong các tác phẩm, nó gần gũi, đau đáu, chứa đựng những vấn đề thời sự nóng bỏng những cũng đầy triết lý nhân sinh trong cuộc sống Ông đã ra đi nhưng các vở kịch được viết cách đây mấy mươi năm vẫn có sức hấp dẫn to lớn, nồng đượm hơi thở của thời đại và chất chứa tấm lòng yêu thương cuộc đời của Lưu Quang Vũ

Trang 18

1.2.2 Sơ lược về những yếu tố dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ

Theo nhà nghiên cứu văn học Lưu Khánh Thơ, “kịch của Lưu Quang Vũ khai thác nhiều đề tài, đi vào khám phá mọi mặt của đời sống xã hội và con người Có thể phân chia, sắp xếp kịch Lưu Quang Vũ ra làm nhiều loại căn cứ vào cốt truyện của kịch bản Kịch của Lưu Quang Vũ thường được xây dựng trên một cốt truyện chắc chắn, chủ yếu tập trung vào các vấn đề, các sự kiện quan trọng trong đời sống Việc khai thác các mô típ dân gian, dựa vào đó để viết kịch bản mang đậm dấu ấn cá nhân và phong cách của mình đã tạo cho kịch Lưu Quang Vũ một chiều sâu triết lý Nó tạo cho kịch của anh sự phong phú về đề tài, hấp dẫn về cốt truyện, lôi cuốn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ giàu chất thơ” (Lưu Khánh

Thơ, 2018, tr.6, 7) Nhận định trên cho thấy các yếu tố dân gian, đặc biệt là cốt truyện, trong kịch Lưu Quang Vũ đóng một vai trò rất quan trọng tạo nên một vở kịch xuất sắc

Yếu tố dân gian thể hiện ở nhiều phương diện như đề tài, cốt truyện, nhân vật, các cổ mẫu, các motif, ngôn ngữ, v.v… Trong luận văn, chúng tôi giới hạn tìm hiểu những yếu tố này ở cốt truyện, các cổ mẫu và các motif

Theo khảo sát, chúng tôi đã liệt kê được các văn bản kịch Lưu Quang Vũ có yếu

- Đôi đũa kim giao

- Hoa cúc xanh trên đầm lầy

Ngoài vở kịch Nàng Sita được viết dựa trên truyện cổ tích Riêm Kê của

Campuchia, các vở kịch còn lại khai thác từ tích truyện dân gian Việt Nam Nổi

bật nhất, vở kịch Hồn Trương Ba, da dàng thịt được sáng tác dựa trên truyện cổ

Trang 19

tích cùng tên, đã tạo nên một tiếng vang lớn ngay từ buổi đầu ra mắt Lấy ý tưởng

từ truyện cổ tích Chú Cuội cung trăng và thành ngữ Nói dối như Cuội, Lời nói

dối cuối cùng không chỉ dừng lại ở việc thể hiện nhân vật chú Cuội trên sân khấu

và răn dạy con người bài học về sự thành thật, Lưu Quang Vũ đã thể hiện cách nhìn nhận của mình: Những giá trị của cuộc sống không thể, và không bao giờ

được xây dựng bằng sự dối trá Trong Linh hồn của đá, tác giả Lưu Quang Vũ sáng tác dựa trên truyện cổ tích Sự tích Hòn Vọng Phu Tác phẩm thể hiện những

bi kịch của con người, ở đó không chỉ có những đau thương do chiến tranh gây ra

mà còn có sự dằn vặt trước tình yêu và đạo đức luân thường Nổi bật hơn cả chính

là sự đối diện của con người trước những bi kịch đó Ông vua hóa hổ là vở kịch dựa trên một giai thoại ở đời nhà Lý Vua Lý Thần Tông được truyền tụng từng mắc bệnh lạ, lông mọc khắp người gào thét như hổ Trong vở kịch của mình, Lưu Quang Vũ đã xây dựng câu chuyện về 3 nhân vật Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và Thảo Từ Đạo Hạnh là một người có chí khí lớn, mưu cầu việc lớn cho dân cho nước nhưng lại quen dùng sự tàn bạo, cứng nhắc mà quên đi “lòng nhân” của con người Nguyễn Minh Không lại là người hiền lương, không muốn vì đại

sự mà trở nên tàn ác, không muốn máu những người vô tội phải rơi vô nghĩa và luôn dùng “lòng nhân” để đối đãi với con người Còn Thảo – như tên của loài cỏ dại hiền lương, là nhân vật nhân hậu và trong sáng Không dừng lại ở việc tái hiện

giai thoại về vua Lý Thần Tông, vở kịch Ông vua hóa hổ thể hiện triết lý sống

của Lưu Quang Vũ: Tình yêu thương là gốc rễ của đời

Ngoài yếu tố cốt truyện, kịch Lưu Quang Vũ còn thể hiện khá nhiều các motif được sử dụng trong truyện cổ dân gian Việt Nam và nước ngoài Các motif

dân gian có thể kể đến ở đây là người hóa đá (Linh hồn của đá), người hóa vật (Ông vua hóa hổ), “nói dối như Cuội” (Lời nói dối cuối cùng), tái sinh (Hồn

Trang 20

“hồn và xác” xuất hiện trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt với hình ảnh

oái ăm của một con người “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” Cũng trong

vở kịch này, cổ mẫu thần thánh được khai thác một cách triệt để Sự tái sinh của Trương Ba trong thân xác của anh hàng thịt đã gây ra bao nhiêu cơ sự - điều mà trong truyện kể dân gian chỉ mới đề cập đến chứ không cho thấy bản chất sâu xa của những rắc rối đó Cổ mẫu “thần thánh” được khai thác với nhân vật Đế Thích

và Nam Tào, Bắc Đẩu – những vị thần đã trực tiếp gây ra bi kịch cho Trương Ba

Trong vở kịch Lời nói dối cuối cùng, cổ mẫu “kẻ bịp bợm” được Lưu Quang Vũ

thể hiện qua nhân vật Cuội cùng hàng loạt trò lừa bịp với mục đích đùa bỡn hoặc giúp đỡ người khác Chân lý mà ông gửi gắm qua vở kịch là những giá trị của cuộc sống không thể xây dựng bằng những điều giả dối

Ngoài ra, các yếu tố về mặt ngôn ngữ như các đại từ nhân xưng, ca dao, tục ngữ cũng được khai thác một cách hiệu quả trong các kịch bản của Lưu Quang

Vũ Các yếu tố này đã hỗ trợ và làm tăng tính triết lý hiện đại trong các vở kịch của ông

1.2.3 Những đổi mới văn học thông qua các yếu tố dân gian trong kịch

Lưu Quang Vũ

Là nhà viết kịch nhạy cảm với thời cuộc, Lưu Quang Vũ biết cách tiếp nối

và phát huy những giá trị truyền thống để đổi mới văn học Lưu Quang Vũ đã mạnh dạn sử dụng chất liệu dân gian, biến nó thành lời cảnh tỉnh đối với toàn xã hội Ông không quên tận dụng đề tài vô giá từ văn học dân gian để phục vụ cho yêu cầu đổi mới sân khấu nước nhà Tuy nhiên, ông không chỉ sao y bản chính

mà đã ra sức làm mới cái cũ, bồi đắp thêm những tư tưởng cần thiết, đưa những vấn đề cấp bách của cuộc sống hiện đại vào văn học dân gian, khơi gợi những suy nghĩ và cách nhìn mới

Theo nhận định của Lưu Khánh Thơ trong bài viết Tích truyện dân gian

trong kịch Lưu Quang Vũ: “Những vở kịch sáng tác dựa trên cốt truyện dân gian

của Lưu Quang Vũ, tưởng như quen thuộc nhưng lại mang những ý nghĩa mới

mẻ, giúp chúng ta nhận thức và soi chiếu những vấn đề quan trọng trong cuộc

Trang 21

sống một cách đầy đủ, sâu sắc, đa dạng hơn Tài năng của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ một lần nữa được khẳng định trong việc biến cổ tích, huyền thoại thành chuyện của thời hiện tại, gần gũi, quen thuộc Những giá trị truyền thống xa xưa của dân tộc được tái sinh trong sự sáng tạo mới mẻ, hiện đại, giàu ý nghĩa” (Lưu

Khánh Thơ, 2018, tr.11) Có thể thấy, Lưu Quang Vũ đã vượt xa những gì mà một nhà viết kịch thập niên 80 có thể làm được Bằng việc khai thác những tích truyện dân gian, ông đã tạo ra những vở kịch với các sự kiện, nhân vật và những triết lý nhân sinh gắn liền với xã hội hiện đại Lưu Quang Vũ mang những giá trị truyền thống đến với hiện tại, tiếp tục can dự, đi sâu vào cuộc sống, phơi bày những điều

mà chúng ta đều thấy và cảm nhận được nhưng lại chưa bao giờ đủ can đảm đối diện Dù ở thời kỳ nào, tác phẩm của Lưu Quang Vũ đều toát lên giá trị nhân sinh đầy tính hiện thực

Lưu Quang Vũ đã góp phần đổi mới văn học thông qua văn hoá dân gian ở các khía cạnh:

Cốt truyện: Ông mang cốt truyện dân gian vào những câu chuyện của hiện

đại Ông đã thổi vào đó những tầng nghĩa mới mang hơi thở thời đại Từ những vấn đề quen thuộc trong các câu chuyện dân gian, nhà viết kịch đã gợi mở ra những vấn đề nóng hổi, đem đến cho người xem những suy tư, trăn trở Đặt ra những vấn đề đạo đức, nhân sinh trong xã hội giúp cho chúng ta dám nhìn thẳng, nhìn thật vào thực tế cuộc sống để tìm cách giải quyết Tư tưởng trong các vở kịch

sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức, trách nhiệm của con người

Tính dự báo: Kịch bản của Lưu Quang Vũ từng câu chữ từng dòng văn đều

thấm đẫm tính nhân văn và mỗi câu chữ đều có hồn chữ trong đó Những đạo diễn dựng vở của Lưu Quang Vũ đều thành công vì bản thân kịch bản đã hay sẵn và tính dự báo vô cùng lớn Ông đã viết hơn ba mươi năm trước nhưng đến bây giờ những điều đó vẫn đúng Kịch bản của Lưu Quang Vũ đã nói lên suy nghĩ của những người dân Việt Nam lúc đương thời, mong muốn có một người nói ra, và khi nói ra không ai phản đối được vì quá hay và quá đúng

Trang 22

Sự đối thoại: Bên cạnh việc thấm đẫm tính thời sự với hiện thực xã hội nóng

bỏng, những vở kịch của Lưu Quang Vũ tràn đầy sức sống thời đại, khi thể hiện tâm tư nguyện vọng và những trăn trở về cuộc sống Xem kịch của ông, người ta nhận thấy những con người, số phận, tính cách, những biến cố và cách xử lý vấn

đề, những sự việc vẫn đang hiện hữu với đời sống xã hội hiện tại Kịch của Lưu Quang Vũ khiến người xem được soi mình vào đó, được đối thoại, gợi mở cách giải quyết, được thức tỉnh tinh thần đến mức có thể thay đổi hành vi, nhận thức

và lối sống

Trang 23

Tiểu kết Chương 1

Văn hoá dân gian có một vai trò rất to lớn trong đời sống các dân tộc, khẳng định bản sắc văn hoá của quốc gia đó Văn hoá dân gian không chỉ là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học mà còn là một đối tượng quan trọng của xã hội học Trong đó, văn học dân gian là một thành tố biểu hiện cho văn hoá dân gian trên bình diện văn học Nhờ vào văn học dân gian, các yếu tố thuộc về văn hoá dân gian được thể hiện một cách cụ thể, trực quan và lưu truyền rộng rãi, góp phần bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Ngược lại, văn hoá dân gian chính là nền tảng để xuất hiện, tồn tại và phát triển của văn học dân gian

Văn học dân gian có tác động vô cùng lớn, là nền tảng hình thành và phát triển của văn học viết Trong dòng chảy của văn học hiện đại, các tác giả tìm về với cội nguồn dân tộc, xem đó là một chất liệu trong các sáng tác của mình Lưu Quang Vũ cũng không nằm ngoài xu hướng đó Những kịch bản khai thác yếu tố dân gian của Lưu Quang Vũ tuy không nhiều nhưng đã làm nên thành công trong

sự nghiệp viết kịch của ông

Trang 24

Chương 2 CỐT TRUYỆN DÂN GIAN TRONG KỊCH BẢN VĂN HỌC

CỦA LƯU QUANG VŨ 2.1 Khái niệm cốt truyện

Cốt truyện theo Từ điển thuật ngữ văn học được giải thích là “Hệ thống sự

kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành

bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” (Lê Bá Hán, 2006, tr.99) Trong một cốt truyện sẽ

có hai yếu tố gắn bó mật thiết, bổ sung cho nhau chính là nhân vật và các xung đột xã hội Thông qua nhân vật, tác giả thể hiện các xung đột xã hội được đề cập

đến trong tác phẩm, và ngược lại, thông qua các xung đột xã hội, tính cách của các nhân vật được thể hiện rõ ràng nhất

Bên cạnh đó, “Cốt truyện là một hiện tượng phức tạp Trong thực tế văn học, cốt truyện của các tác phẩm hết sức đa dạng, kết tinh truyền thống dân tộc, phản ánh những thành tựu văn học của mỗi thời kì lịch sử, thể hiện phong cách, tài năng nghệ thuật của nhà văn” (Lê Bá Hán, tr.100) Trong các tác phẩm tự sự và

kịch, cốt truyện được xem là phần gốc, là cốt lõi của một tác phẩm Tất cả mọi vấn đề về ý nghĩa của tác phẩm đều được thể hiện thông qua cốt truyện với các nhân vật và xung đột của nó Thông qua cốt truyện, nhà văn không chỉ gián tiếp thể hiện phong cách sáng tác của mình mà còn truyền tải được các vấn đề đạo đức nhân sinh, các mâu thuẫn trong xã hội Vì sự hạn chế về mặt không gian và thời gian, cốt truyện trong kịch phải tập trung cao độ, đủ sức dồn nén để chứa đựng các sự kiện, chi tiết có tính khái quát cao

Cơ sở khách quan của cốt truyện chính là những xung đột xã hội Trong quá trình sáng tác của mình, nhà văn sẽ bị ảnh hưởng bởi những xung đột xã hội đang diễn ra Vì vậy, tác phẩm sẽ thể hiện những xung đột xã hội cũng như lịch sử thời đại mà nhà văn đang sống

Tuy nhiên, xung đột xã hội chỉ là cơ sở khách quan của cốt truyện Khi sáng tác, nhà văn không chỉ phụ thuộc vào các xung đột xã hội mà còn bị chi phối bởi cảm xúc và quan điểm cá nhân Cơ sở chủ quan đóng một vài trò rất quan trong

Trang 25

trong việc hình thành cốt truyện bởi nhà văn không chỉ lấy câu chuyện xảy ra trong thực tế để đưa vào tác phẩm Trong quá trình sáng tác, nhà văn phải chắt lọc, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, xây dựng nhân vật và cốt truyện theo hướng điển hình hóa, từ đó, thể hiện quan điểm, phong cách nghệ thuật và cách nhìn nhận cuộc sống Vì vậy, với cùng một vấn đề xung đột trong xã hội, mỗi nhà văn lại có những câu chuyện và hướng triển khai khác nhau, đem đến cho người đọc những cảm nhận hoàn toàn khác

Ngoài sự thống nhất cao độ giữa hai bộ phận trên trong quá trình cấu thành cốt truyện, hệ thống nhân vật cũng là một yếu tố quan trọng, được hình thành và phát triển trong mối quan hệ tác động qua lại Mỗi nhân vật mang một cá tính khác nhau, thể hiện những tư tưởng trái ngược hoặc bổ trợ cho nhau, tạo nên những xung đột trong cốt truyện

Đối với thể loại kịch, cốt truyện tập trung nhưng không đơn điệu nhàm chán

mà phải phong phú, thu hút người xem Để làm được điều đó, cốt truyện kịch phải

có những xung đột bất ngờ, gợi sự tò mò của độc giả nhưng vẫn phải chặt chẽ Mỗi cốt truyện là sự cô đọng của cuộc sống mênh mông, dàn trải với vô số những

sự việc, con người, được chuyển tải một cách mạch lạc, rõ ràng và tạo nên hứng thú thẩm mỹ nhất định

2.2 Đặc điểm cốt truyện dân gian trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ 2.2.1 Cốt truyện gốc được sử dụng trong kịch bản văn học của

Lưu Quang Vũ

Đối với một kịch bản văn học, cốt truyện là cơ sở để tác giả viết thành kịch bản và từ kịch bản xây dựng thành vở kịch diễn trên sân khấu Lưu Quang Vũ sáng tác kịch theo nhiều đề tài khác nhau, cả trong đời sống hiện đại và những đề tài được mượn chuyện xưa viết lại Những vở kịch khai thác tích truyện dân gian không nhiều nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp viết kịch của ông Phần cốt truyện dân gian được Lưu Quang Vũ sử dụng một cách hiệu quả và làm nên thành công vang dội cho các vở kịch đó

Trang 26

Trong phạm vi 5 vở kịch thuộc mảng kịch khai thác tích truyện dân gian được khảo sát, chúng tôi nhận thấy có ba vở kịch sử dụng cốt truyện cổ tích Việt

Nam là Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lời nói dối cuối cùng, Linh hồn của đá; một vở kịch sử dụng cốt truyện từ truyền thuyết lịch sử Việt Nam là Ông vua hóa

hổ; và vở kịch Nàng Sita là vở kịch duy nhất được xây dựng dựa cốt truyện của

văn học dân gian nước ngoài – Sử thi Ramayana của Ấn Độ

5 vở kịch trên của Lưu Quang Vũ có thể chia thành hai mảng: những vở kịch trung thành với cốt truyện gốc và những vở kịch chỉ giữ lại nhân vật hoặc cốt truyện chính và thay đổi các sự việc diễn ra trong cốt truyện đó

Trong đó, những vở kịch được Lưu Quang Vũ giữ nguyên cốt truyện dân

gian là Linh hồn của đá và Nàng Sita Được xây dựng dựa trên Sự tích đá Vọng

Phu, vở kịch Linh hồn của đá giữ nguyên cốt truyện dân gian với hình ảnh người

vợ chờ chồng mỏi mòn đến hóa đá Câu chuyện kể về một đôi vợ chồng nghèo

sinh được hai người con, một trai và một gái Một hôm, hai vợ chồng đi làm, hai anh em ở chơi cùng nhau, người anh lỡ tay làm con dao văng vào đầu em gái Người anh sợ quá bỏ đi biệt xứ Anh đi lang thang nhiều nơi, cuối cùng trở thành con nuôi của một gia đình ở một vùng biển Bình Định Tại đây, anh gặp gỡ và kết duyên với một người con gái, sinh được một mụn con, vợ chồng hòa thuận, đầm

ấm Một hôm, ngồi bắt chấy cho vợ, anh nhìn thấy cái sẹo trên tai phải liền hỏi

vợ Người vợ kể lại chuyện lúc nhỏ Anh nhận ra đó chính là em gái ruột của mình Người chồng đau đớn, giằng xé nhưng quyết định giữ im lặng và không nói

ra sự thật cho vợ biết Nhân một hôm biển lặng, anh lên thuyền đi đánh cá và quyết không bao giờ quay trở lại nữa Người vợ chiều chiều bồng con lên hòn núi nơi cửa biển chờ chồng cho đến khi hóa đá Người ta gọi đó là đá Trông Chồng

hoặc đá Vọng Phu (Nguyễn Đổng Chi, 1957, tr 357) Câu chuyện cổ tích dừng

lại ở hình ảnh người vợ bồng con hoá đá với ý nghĩa ca ngợi sự thuỷ chung son sắt của người phụ nữ

Lưu Quang Vũ đã giữ nguyên cốt truyện dân gian trong vở kịch Linh hồn

của đá Tuy nhiên, hai nhân vật chính – Thanh và Vịnh là những con người có

Trang 27

tính cách, suy nghĩ rõ rệt hơn Thanh ngây thơ, trong sáng, yêu thương và chung thuỷ một mực với chồng Vịnh hiền lành, chăm chỉ làm ăn và yêu thương vợ con Tuy nhiên, những xung đột kịch đã làm nổi bật sự dằn vặt, đau đớn của Vịnh khi nhận ra bi kịch của mình Vở kịch không dừng lại ở chi tiết mẹ con Thanh hoá đá,

50 năm sau, khi Vịnh quay về bến đá xưa, thời gian đã làm mờ đi một mảng ký

ức đau thương trong lòng người đàn ông phũ đầy sương gió Nhưng khi nhìn thấy

vợ và con hoá thành tượng đá, nỗi đau ngày nào lại quay về, dày xé ông lần nữa

Vở kịch kết thúc trong bài ca của sóng và điệp khúc “Em chờ anh Em chờ anh”

vang lên trong niềm hối tiếc của Vịnh vì đã không dám nói ra sự thật

Vở kịch thứ hai được dựng một cách trung thành với cốt truyện gốc là Nàng

Sita, được viết dựa trên truyện cổ Campuchia có tên là Riêm Kê nhưng nguồn gốc

sâu xa là sử thi Ramayana – một trong hai bộ sử thi vĩ đại của Ấn Độ Truyện cổ

tích Riêm Kê của Campuchia được trích trong 101 vẻ đẹp văn chương thế giới và

Việt Nam kể về Hoàng tử Prệt Riêm, con vua Kinh thành Aôtđia khôi ngô tuấn

tú, thông minh hơn người Mụ dì ghẻ vì muốn con riêng của mình lên ngôi, đã xui giục vua đẩy Prệt Riêm vào rừng sâu Riêm cùng vợ là Xây Đa từ bỏ Kinh thành

ra đi Người em trai là Prệt Lec xin đi theo để phục vụ hai anh chị Trên đường đi,

họ gặp vua xứ quỷ là Riếp Riếp thấy Xây Đa xinh đẹp, rắp tâm chiếm làm vợ Hắn biến thành một con nai nhử Riêm đuổi bắt Nhân lúc Riêm đang đuổi theo con nai, Riếp bắt Xây Đa về đảo Lan ka ngoài biển khơi Trở về không thấy vợ, Riêm đau đớn vô cùng Chàng quyết tâm tìm mọi cách cứu vợ Chàng được Hanuman dẫn theo một đoàn quân khỉ vượt biển, tiến thẳng vào xứ quỷ Anh em Prệt Riêm, được sự phối hợp của đoàn quân khỉ đã đán tan quỷ Riếp, cứu Xây Đa Lúc này, thời gian bị lưu đày cũng vừa hết, anh em Prệt Riêm trở lại kinh đô Người em đang trị vì trao lại ngôi báu cho Prệt Riêm Song, Prệt Kiêm lại nghi ngờ lòng chung thuỷ của vợ vì chàng cho rằng Xây Đa đã thất thân với quỷ Riêp Chàng bắt vợ nhảy vào lửa để chứng minh sự trong trắng của tâm hồn Thần lửa

đã chứng minh nàng vô tội Song, vì lòng ghen tuông mù quáng, Prệt Riêm đuổi nàng vào rừng khi nàng đang có chửa Xây Đa đau đớn vô cùng vì không được

Trang 28

minh oan Nàng lặng lẽ sinh con, sau đó, hoá thân vào đất để chứng minh tấm

lòng trung trinh ngay thẳng của mình (Vũ Tuấn Anh, 2006) Dù lấy cốt truyện từ

Ramayana, nhưng Riêm kê đã có những thành tựu rực rỡ về ngôn ngữ, về tính

nhân đạo cao cả, về việc xây dựng thành công hai nhân vật chính là Prệt Riêm và Xây Đa Câu chuyện phát triển xung quanh mâu thuẫn giữa lực lượng thiện và ác, được biểu hiện thành một motif phổ biến trong truyện cổ tích thế giới: dì ghẻ - con chồng, người - quỷ Các nhân vật có nguồn gốc xuất thân là thần thánh, song gần gũi với con người trần tục, cũng có những giằng xé nội tâm và đại diện cho nét đẹp của con người Campuchia Prệt Riêm nghị lực, ngay thẳng Hanuman tài hoa, sáng suốt, quả cảm và sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa Xây Đa là hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ Campuchia: chung thuỷ, nghị lực, trọng ân nghĩa

Nàng Sita của Lưu Quang Vũ và người cha kính yêu của ông – nhà thơ, nhà

viết kịch Lưu Quang Thuận được viết dựa trên câu chuyện trên Vở kịch là hành trình giải cứu nàng Sita và giành lại ngôi báu của Pơliêm với sự giúp sức của tướng khỉ Hanuman Về cơ bản, cốt truyện của vở kịch giống với cốt truyện dân gian Campuchia Nội dung xoay quanh những vấn đề muôn thuở của cuộc sống như tình yêu, lòng thù hận, sự ghen tuông, đức hy sinh cao cả và tinh thần dám xả thân vì hạnh phúc của người mình yêu Nhưng các giá trị cao đẹp của tình yêu và lòng chung thuỷ cũng mong manh, dễ vỡ trước sóng gió và những mưu ma chước quỷ của cuộc đời Pơliêm yêu thương Si-ta tha thiết như vậy nhưng vì thiếu lòng tin, ghen tuông mù quáng, Pơliêm đã đánh mất tình yêu của chính mình Pơliêm

đã nhục mạ, xua đuổi Si-ta lúc nàng đang mang thai đứa con duy nhất của chàng Nàng phải chạy trốn vào rừng, lời nguyền của nàng là chỉ khi nào một trong hai người chết đi thì mới gặp lại nhau Khi còn lại một mình trong cung điện trống vắng, Pơliêm mới hiểu rằng, dù là đế vương hay dân thường, chỉ có sống trong tình yêu thương, sự tin cậy của những người thân yêu của mình thì mới tìm được

ý nghĩa của sự tồn tại Vở kịch đã mang lại một thông điệp thật đẹp: Chỉ có tình yêu đích thực mới mang lại hạnh phúc cho con người

Trang 29

Ba vở kịch còn lại: Hồn Trương Ba, da hàng thịt; Ông vua hóa hổ và Lời

nói dối cuối cùng đều bắt nguồn từ cốt truyện dân gian Tuy nhiên, với ba vở kịch

này, Lưu Quang Vũ chỉ giữ lại một phần cốt truyện hoặc các tuyến nhân vật chính còn các sự việc diễn tiến của vở kịch hoàn toàn là sự sáng tạo của ông

Truyện cổ tích Hồn Trương Ba, da hàng thịt trong tuyển tập Kho tàng

truyện cổ tích Việt Nam là câu chuyện về một người trẻ tuổi, giỏi đánh cờ tên là

Trương Ba Tiếng lành đồn xa, ở Trung Quốc, có một người tên là Kỵ Như, nghe tiếng Trương Ba bèn tìm sang tỉ thí Hai bên bất phân thắng bại, đến ván thứ ba,

Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí và nói một câu tự đắc: “Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng đừng có hòng gỡ nổi”

Đế Thích trên thiên đình nghe thấy thế bèn cưỡi mây xuống hạ giới, hóa thân thành một ông lão giúp Kỵ Như chuyển bại thành thắng Trương Ba biết đó không phải người trần mà chính là Đế Thích, bèn quỳ xuống lạy và xin thứ lỗi Thấy Trương Ba giỏi cờ, lại chân thành muốn học nước cờ của mình, Đế Thích tặng Trương Ba một nén hương, dặn dò khi nào cần Đế Thích thì đốt lên, ngài sẽ xuất hiện

Một hôm, Trương Ba chết đột ngột Sau khi chôn cất, người vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy nén hương nên đốt và thắp trên bàn thờ chồng Đế Thích tưởng Trương

Ba gọi mình xuống Đến trần gian, ông mới biết Trương Ba đã chết gần một tháng Trong làng có một anh hàng thịt vừa mất, Đế Thích nghĩ ra cách để hồn Trương

Ba nhập vào xác anh hàng thịt Anh hàng thịt sống dậy gây ra bao nhiêu oái oăm

Vợ anh hàng thịt và vợ Trương Ba đều nhận đó là chồng mình nên kiện lên quan

Ở công đường, khi bị bắt mổ lợn, anh hàng lóng ngóng vụng về, nhưng khi đánh

cờ thì lại không ai địch nổi Quan xử vợ Trương Ba thắng kiện

Truyện cổ tích Hồn Trương Ba, da hàng thịt kết thúc khi quan phán cho

anh hàng thịt về nhà Trương Ba, chấm dứt mọi rắc rối tại đó Nhưng Lưu Quang

Vũ đã nhìn ra bao nhiêu cơ sự của cái kết thúc đó Ông tiếp tục khai thác trong vở kịch của mình những bi kịch khác sẽ xảy đến xung quanh nhân vật mang tên hồn

Trang 30

Trương Ba, da hàng thịt “Nơi kết thúc cổ tích là bắt đầu xung đột kịch” (Lý Hoài

Thu, 2011)

Trong kịch bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã bổ sung

thêm và thay đổi nhiều chi tiết:

(1) Trương Ba là một người đàn ông trạc ngoài 50, nét mặt chất phác, xởi lởi, không có tính tự cao tự đại của một anh Trương Ba trẻ tuổi trong truyện cổ tích; (2) Nhân vật Nhân vật Kỵ Như của Trung Quốc được thay thế bằng Trưởng Hoạt;

(3) Cái chết của Trương Ba là do sự tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu;

(4) Sự xuất hiện của các nhân vật trong gia đình Trương Ba: anh con trai, chị con dâu, cái Gái, chị Lụa, cái Tí;

(5) Nén hương của Đế Thích đã đưa vợ Trương Ba lên trời hỏi tội Nam Tào, Bắc Đẩu;

(6) Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác anh hàng thịt;

(7) Trương Ba đối thoại với chính mình;

(8) Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba với Đế Thích;

(9) Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và các thành viên trong gia đình

Việc thay đổi và thêm một số chi tiết đã giúp Lưu Quang Vũ thể hiện thành công khả năng sáng tạo khi viết kịch Câu chuyện không dừng lại đơn giản như chúng ta đã biết Đằng sau kết thúc tưởng như có hậu, khi Đế Thích cứu Trương

Ba sống lại trong hình hài của anh hàng thịt, hồn Trương Ba rơi vào bi kịch khi phải sống nương nhờ thân xác của kẻ khác, sống không được là chính mình

Trong Lời nói dối cuối cùng, Lưu Quang Vũ đã sử dụng nguyên mẫu nhân vật Cuội của truyện cổ tích Nói dối như Cuội và Sự tích Chú Cuội cung trăng

Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ đã thay đổi một phần tính cách và động cơ nói dối của nhân vật Cuội Đồng thời, các sự việc diễn ra cũng được thay mới hoàn toàn

Truyện cổ tích Nói dối như Cuội kể về một chàng trai trẻ tên là Cuội, mồ côi cha

mẹ, ở với chú thím Cuội là người láu lỉnh và rất thạo trong việc lừa người khác Cuội đã lừa gạt mọi người hết lần này đến lần khác:

Trang 31

(1) Lừa lão phú trọc đi từ trong nhà ra ngoài sân

(2) Lén bán con lợn rồi lừa chú thím rằng lợn đã bị bắt xuống âm phủ

(3) Dùng bãi cứt trâu ngoài đường để lừa chú của Cuội tin đó là con chim ngói (4) Báo tin giả, làm cả chú và thím đều nghĩ là chồng/ vợ mình đã chết

(5) Cuốn sách dạy nói dối

(6) Lừa thằng hủi chết thay cho mình

(7) Lừa ông quan đang đi trên đường để lấy quần áo và ngựa rồi quay về nhà (8) Lừa chú thím, khiến cả hai tự chui vào rọ để Cuội đẩy xuống sông

(9) Lừa chú voi rơi xuống hố và đàn quạ chui vào bụng voi để tạo thành một

“con voi biết bay”

(10) Lừa nhà vua đổi hoàng bào lấy “con voi biết bay”, vua chết ngoài biển còn Cuội lên làm vua

Vở kịch Lời nói dối cuối cùng là câu chuyện về hành trình của Cuội, Bờm

và Lụa Lụa là cô gái dệt vải, xinh đẹp, hiếu thảo nhưng vì mẹ ốm nên phải vay

cụ Chánh một số tiền lớn và có nguy cơ bị tịch thu nhà và vườn để trừ nợ Công

Tử Lãn say mê Lụa, hắn bắt Bờm bằng mọi giá phải giúp hắn lấy được cô Lụa Cuội xuất hiện, hứa sẽ giúp công tử Lãn và Bờm tỏ tình với cô Lụa Vào một đêm trăng sáng, khi cô Lụa đang dệt vải, công tử Lãn đứng bên cửa sổ nhà cô, tay chân

ra dấu như đang nói nhưng thật ra người đang phát ra những câu tỏ tình là Cuội, điều đó làm cô Lụa có chút động lòng và một chút ngờ vực về công tử Lãn Sáng hôm sau, người nhà cụ Chánh đến đuổi mẹ con Lụa đi để lấy đất Lụa đành nhắm mắt nhận lời lấy công tử Lãn để có tiền trả nợ Ngày cưới, Cuội giả làm Thành Hoàng mang mẹ con cô Lụa và cả Bờm bỏ trốn Đến kẻ chợ - kinh thành, Cuội lừa 2 đứa bé là Nha và Nhai để lấy “hai chục bánh đa và một xâu bánh gai”, hứa

sẽ trả bằng bất cứ điều gì Ngay lúc đó, trong chợ có tiếng Thái giám thông báo tìm thái y chữa bệnh hiếm muộn cho nhà vua Cuội giả làm thái y, Bờm là thằng hầu, cô Lụa giả làm học trò của Cuội, cả 3 vào cung diện kiến vua Tại đây, Cuội tiếp tục dùng những lời nói dối nhằm dụ dỗ nhà vua nghe theo kế sách của mình Cuội thuyết phục vua tin rằng con mình không thể sinh ra bằng cách thông thường

Trang 32

mà được trời “giáng xuống” nơi kẻ chợ Nhà vua tin thật, cho người ra chợ đón

“con” mình (bé Nha) theo đúng lời nói của Cuội Nhà vua muốn gả Quận Chúa cho Cuội Người hầu của Quận Chúa (cô Sim) đem lòng yêu Nam Trang tài nhân (do Lụa cải trang thành) Bờm lại đem lòng yêu cô Sim Sau một thời gian trong cung, thằng bé Nha không còn thấy thích thú với những gì nó có, nằng nặc đòi về với gia đình Cô Lụa thì đã quá chán ngán những lời nói dối của Cuội nên cũng muốn bỏ đi, Bờm cũng đi theo cô Còn lại một mình, Cuội hối hận với những gì mình đã làm nên muốn đuổi theo cô Lụa – người mà hắn cảm thấy không thể thiếu trong đời mình Khi lũ trẻ hỏi Cuội đi đâu, Cuội trả lời: Ta lên cung trăng với chị Hằng Và đây là lời nói dối cuối cùng

Vẫn là hình ảnh nhân vật Cuội với nguyên mẫu tính cách của một anh chàng thích nói dối nhưng Lưu Quang Vũ đã thay thế những lời nói dối của Cuội theo một chuỗi sự kiện có liên quan đến nhau:

(1) Cuội giả danh công tử Lãn nói những lời tỏ tình với cô Lụa

(2) Cuội giả làm Thành Hoàng để lừa công tử Lãn, mang cô Lụa và Bờm bỏ trốn

(3) Cuội giả danh quan thượng thư lừa Nha và Nhai để lấy hai chục bánh đa

Trang 33

Ông Vua hóa hổ được xây dựng dựa trên các câu chuyện về căn bệnh lạ của

vua Lý Thần Tông Trong tác phẩm Luận về nhân quả của Thích Chân Quang

có viết: Từ Đạo Hạnh là con trai của một nhà nho tên là Từ Vinh Từ Vinh có sự trái ý với Diên Thành Hầu, Hầu cho Đại Diên đánh chết Vì muốn trả thù cho cha, sư định sang Ấn Độ học linh thuật nhưng đường xa hiểm trở đành quay về,

tu hành trong hang đá Từ Sơn Sau đắc đạo, sư tìm đến và đánh chết Đại Diên trả thù cho cha Về sau, Từ Đạo Hạnh kết bạn với Minh Không và Giác Hải Có lần, sư giả hổ dọa Minh Không và Giác Hải Minh Không quở: Muốn làm hổ thì

sẽ được! Sau này, Từ Đạo Hạnh mất, đầu thai vào cung vua và trở thành vua Lý Thần Tông Năm vua 21 tuổi (1448) bỗng mắc bệnh lạ và biến thành cọp Minh Không đã biết trước sự việc, tiến cung, dùng kim được đun trong chảo dầu nóng

để châm cứu giúp vua thoát khỏi kiếp hổ (Thích Chân Quang, 1988, tr.123, 124,

125)

Cũng xoay quanh các nhân vật Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và câu

chuyện nhà vua hóa hổ, Lưu Quang Vũ xây dựng vở kịch Ông vua hóa hổ thành

một câu chuyện về tình bạn, tình yêu giữa Đạo Hạnh, Minh Không và Thảo cùng với hành trình quyền lực làm tha hóa con người Các nhân vật khác xoay quanh tuyến nhân vật chính cũng đa dạng hơn: Lê Dũng, Trang Tỵ, Hoàng Địch, Giáp

và một số nhân vật khác Từ Đạo Hạnh là một anh chàng áo vải, dấy binh khởi nghĩa tìm lại bình yên cho xã tắc Anh mang theo bên mình lý tưởng cao đẹp và tình yêu tha thiết dành cho Thảo Nhưng khao khát chiến thắng đã làm cho Từ Đạo Hạnh bất chấp tất cả, chấp nhận bán linh hồn cho quỷ dữ để mau chóng có được chiến thắng

Có thể thấy, dù trung thành với cốt truyện dân gian hay không, Lưu Quang

Vũ vẫn phát huy một cách tối đa sự sáng tạo trong việc sử dụng yếu tố dân gian

để tạo nên các xung đột kịch, đưa các nhân vật đi từ thế giới của văn học dân gian, bước chân vào thế giới hiện đại và nói về các vấn đề nhức nhối của xã hội

Trang 34

2.2.2 Từ cốt truyện dân gian đến các vấn đề trong xã hội hiện đại qua

kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ

Việc sử dụng chất liệu văn học dân gian trong các sáng tác là một xu hướng phổ biến của các văn nghệ sĩ nói chung, đặc biệt là kịch Lưu Quang Vũ cũng không nằm ngoài xu hướng đó Từ những cốt truyện dân gian có ý nghĩa đơn giản, Lưu Quang Vũ đã thổi vào đó hơi thở của thời đại, mang đến những triết lý mới

mẻ, sâu sắc, phù hợp với thời cuộc

Con người chỉ thật sự hạnh phúc khi là mình toàn vẹn

Vấn đề đấu tranh với chính mình để hoàn thiện bản thân được Lưu Quang

Vũ rất chú trọng Với các tích truyện dân gian, cái xấu và cái tốt, cái thiện và cái

ác được phân định rất rõ ràng Với Lưu Quang Vũ, khi đứng giữa lằn ranh của cái xấu và cái tốt, con người phải trải qua sự đấu tranh quyết liệt với chính mình để

giữ được bản chất tốt đẹp vốn có Lưu Quang Vũ đã táo bạo đẩy những nhân vật kịch hiện đại của mình vào sự lột xác, sự trăn trở nghĩ suy, sự sám hối đến quyết liệt đặng tìm cách giải quyết những vấn đề văn hóa đang ráo riết đặt ra cho sự phát triển xã hội Việt Nam hiện đại (Trần Thị An, 2010) Con người chỉ thật sự

hạnh phúc khi có sự thống nhất giữa linh hồn và thể xác, hay nói cách khác là sự

nhất quán giữa nội dung và hình thức Chân lý “không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo” được vang lên trong kịch của ông, khiến người xem giật mình

nhìn lại, tự vấn rằng: Chúng ta đã thật sự được sống đúng với chính mình? Trong truyện cổ tích, khi hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt đã xảy ra một cuộc cãi vã và kiện tụng Nhưng khi nhân vật “hồn Trương Ba, da hàng thịt” không mổ được lợn (phần thuộc về thể xác) mà đánh cờ rất giỏi (phần thuộc về linh hồn) – nghĩa là linh hồn giành được lợi thế, quan lập tức phán cho “hồn Trương Ba, da hàng thịt” về nhà của Trương Ba Và hẳn nhiên, người ta xem cái thể xác kia hoàn toàn thuộc về Trương Ba, bởi nó mang linh hồn của Trương Ba Lưu Quang Vũ không chấp nhận điều đó Phải chăng việc tuyệt đối hóa linh hồn, chỉ cần linh hồn trong sạch thể xác có sao cũng được là một sự chấp nhận dễ dãi và khiên cưỡng

Đó là cái nhìn của tác giả dân gian Còn trong cuộc sống đương đại (những năm

Trang 35

80 của thế kỷ XX) và cả sau này, con người không thể hạnh phúc khi không được

là mình Làm sao có được một linh hồn thanh cao trong một thể xác hèn mọn, một tâm hồn cao thượng trong một con người có những ham muốn tầm thường Trong văn học trước Cách mạng Tháng Tám, Nam Cao cũng từng cho thấy

bi kịch của Hộ (Đời thừa) khi phải đấu tranh giữa cơm áo gạo tiền và lý tưởng văn chương cao đẹp của chính mình Sự mẫu thuẫn diễn ra gay gắt, anh phải đấu tranh, vật lộn với bản thân Hộ không được là chính mình, phải sáng tác ra những thứ văn chương ba xu, ngôn tình sến sẩm để lừa độc giả Mâu thuẫn giữa lý tưởng cao đẹp của một nhà văn và thực tế cuộc sống khắc nghiệt đã khiến cuộc đời anh rơi vào bi kịch

Lưu Quang Vũ cũng nhìn thấy điều đó Có rất nhiều lý do khiến con người không thể sống là chính mình Vì hoàn cảnh ép buộc, sự kỳ vọng của người khác, tham vọng của chính bản, để giữ hình ảnh đẹp đẽ trong mắt mọi người,… Nhưng

vì bất cứ lý do gì, sự mâu thuẫn này cũng khiến con người rơi vào bi kịch Để Trương Ba sống lại lần thứ hai trong thân xác anh hàng thịt, Đế Thích tưởng rằng ông đã làm được một việc tốt cho Trương Ba nhưng lại vô tình đẩy ông vào bi kịch Sau hai tháng ở trong thân xác anh hàng thịt, Trương Ba ngày một đổi khác dần, ông trở nên xa cách với chính những người thân trong gia đình Ông không còn nhận ra mình của ngày xưa – một ông Trương Ba hiền lành, thanh cao Đã có lúc, Trương Ba phải ôm đầu bế tắc trước những lý lẽ tầm thường của thể xác Sau cùng, khi chỉ còn linh hồn, không còn thể xác để tồn tại, nhưng linh hồn

đó là của riêng Trương Ba – thanh cao, trong sạch, ông đã được là chính mình và chấm dứt mọi bi kịch Thể xác hàng thịt dù tầm thường nhưng lại hoàn hảo khi được chưa đựng linh hồn của chính anh ta “Hồn nào xác nấy” không chỉ đem lại hạnh phúc cho “hồn” và “xác” mà còn là niềm hạnh phúc của những người thân

trong gia đình họ “Từ triết lý đơn giản trong truyện cổ dân gian về vai trò quan trọng thứ nhất của linh hồn, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một vở kịch có sức lôi cuốn mạnh mẽ, gửi tới người đọc một thông điệp sâu sắc về triết lý sống: thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau; con người không thể chỉ sống bằng

Trang 36

thể xác, mà phải luôn luôn đấu tranh với bản thân để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới một nhân

cách hoàn thiện” (Đặng Hiển, 2007)

Sự tắc trách, vô tâm của những kẻ có quyền

Trong Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, xuất hiện nhân vật

Nam Tào và Bắc Đẩu Đây là hai nhân vật đã trực tiếp gây ra cái chết oan ức của Trương Ba Thông qua hai nhân vật này, người xem nhìn thấy sự tắc trách, vô trách nhiệm của một bộ phận những người nắm quyền Chỉ vì để kịp đi dự hội bàn

đào, họ đã không ngần ngại “gạch bừa cái tên nào chẳng được” (Lưu Quang Vũ,

2018, tr.20) Hay hình ảnh cái chết của cu Tỵ - một đứa trẻ chưa tròn mười tuổi –

phải chết oan chỉ vì “bà Vương Mẫu ép, bà ấy không ưa trẻ con” (Lưu Quang

Vũ, 2018, tr.90) Những người dân vô tội với những sinh mệnh quý giá trở thành nạn nhận của thói lạm quyền, cẩu thả của người nắm quyền trong tay Kể cả Đế Thích, một nhân vật tưởng chừng như đã giúp đỡ cho Trương Ba được hồi sinh cũng là người đã vô tình đẩy Trương Ba rơi vào bi kịch “sống dở chết dở” bởi sự chắp vá vô tội vạ của vị tiên cờ Động cơ giúp đỡ Trương Ba của Đế Thích cũng

là vì sự vụ lợi cá nhân, bởi sự tồn tại của Trương Ba có lợi cho sự tồn tại của Đế Thích Trên trời, dưới đất, đã không còn ai muốn đánh cờ với Đế Thích, chỉ có Trương Ba mới chứng minh được ông là tiên cờ Suy cho cùng, Trương Ba, và những người khác, chỉ là những con cờ trong tay của các vị nắm quyền sinh sát trên cao Đến khi mọi việc đổ vỡ, những tiên những thần đó thậm chí không nhận

lỗi mà còn đùn đẩy trách nhiệm cho nhau: chúng tôi chưa hề bênh che cho ông bao giờ cả… chúng tôi chẳng liên quan gì tới ông cả (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.95)

Lũ hèn! – Tiếng chửi bật ra từ miệng Đế Thích dành cho Nam Tào và Bắc Đẩu,

cũng là tiếng chửi của Lưu Quang Vũ dành cho những kẻ có quyền mà cậy quyền, gây ra đau khổ cho nhân dân lầm than Xem kịch Lưu Quang Vũ, người ta sẽ bật cười khi gặp các nhân vật thần tiên này Nhưng đó là cái cười mỉa mai chua chát cho sự đời đầy bất công, ngang trái khi những kẻ có quyền nhưng thiếu trách nhiệm vẫn ngang nhiên trên đời mà không ai trừng trị Đế Thích đã nói thay tiếng

Trang 37

lòng Lưu Quang Vũ về thực trạng đáng buồn của thời đại: Trị tội hết tiên hết thần thì lấy gì cho dân chúng họ thờ (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.89)

Sự suy đồi đạo đức của con người trong xã hội hiện đại

Thời đại ngày nay, người ta vẫn đau đáu về các vấn đề đạo đức đang ngày càng đi xuống Những sự việc đau lòng day dứt cứ diễn ra hằng ngày hằng giờ

Sự xuất hiện của nhân vật anh con trai trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng

thịt đã đẩy nỗi đau của người xem lên tột cùng bởi anh ta là đại diện cho sự suy

đồi của đạo đức Một Trương Ba trong tích truyện dân gian thật sự may mắn vì đã không phải đau lòng như Trương Ba của Lưu Quang Vũ Ông là một người làm

vườn trong sạch, thanh cao, chơi cờ giỏi với những nước đi “khoáng đạt, dũng mãnh, thâm sâu” (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.77) nhưng đành phải bất lực nhìn đứa

con trai của mình, hắn giở đủ mọi mánh khóe, lừa lọc nơi kẻ chợ với mục đích kiếm được nhiều tiền Chỉ cần có tiền, anh ta không từ bất cứ trò dơ bẩn nào Đồng tiền đã chi phối con người Nó làm con người bán rẻ giá trị nhân phẩm và đạo đức Những kẻ như lý trưởng, trương tuần sách nhiễu gia đình Trương Ba cũng chỉ để kiếm chác Anh con trai thì làm mọi cách để kiếm được nhiều tiền và với

anh ta, có tiền thì mọi vấn đề đều được giải quyết nhanh gọn: “Đồng tiền của tôi cũng được việc đấy chứ! Nén bạc đâm toạc tờ giấy!” (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.70)

Xã hội ngày càng đi lên, đạo đức lại ngày càng đi xuống Đồng tiền trở thành thế lực điều khiển hành vi con người Sống với nhau vì tiền, làm việc ác vì tiền, đối

xử tốt xấu với người khác cũng vì tiền Và vì tiền, người ta sẵn sàng bán rẻ linh hồn, lương tâm của chính mình

Thói xu nịnh, dối trá và ưa xu nịnh, dối trá

Vấn đề tiếp theo được đặt ra trong kịch Lưu Quang Vũ là thói xu nịnh, dối

trá và thói ưa xu nịnh, dối trá Trong vở kịch Lời nói dối cuối cùng, Lưu Quang

Vũ đã viết tiếp cho cốt truyện dân gian Nói dối như Cuội Không dừng lại ở việc

Cuội lên làm vua, Lưu Quang Vũ đã để Cuội thâm nhập vào cung và tiếp tục những trò lừa dối của mình Dựa vào căn bệnh của nhà vua và nắm bắt được tâm

lý “ưa dỗ ngọt” của vua và hoàng hậu, Cuội đã dùng những lời nịnh nọt dối trá để

Trang 38

ru ngủ họ Thuốc đắng giải tật và Sự thật mất lòng – ông cha ta đã từng răn dạy

con cháu như vậy Nhưng để chấp nhận sự thật là một việc rất khó Ngược lại những lời ngọt ngào, xu nịnh lại khiến con người ta cảm thấy được vuốt ve, an ủi Bên cạnh Cuội – một kẻ xu nịnh bậc thầy còn có một Sử quan phải biết cách chép

sử sao cho “đời sau biết thời trẫm trị vì nhờ công đức của trẫm xã tắc thịnh vượng, trăm họ sung sướng vui chẳng khác thời Nghiêu Thuấn” (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.141) Sử quan đọc to, rõ những câu như: “Đức lớn của nhà vua đã thấu tới lòng trời Trăm họ hát khúc ân ca ” (Lưu Quang Vũ, 2018, tr.161) ngay lập tức được nhà vua khen ngợi “Thế mới đáng gọi là sử quan của triều đình” (Lưu Quang Vũ,

2018, tr.161) Và hàng loạt những ông quan “mặt như bị thịt, chỉ khéo nịnh” (Lưu

Quang Vũ, 2018, tr.171) Lưu Quang Vũ đã đi trước thời đại, đã nhìn ra được trong xã hội đầy rẫy những kẻ xu nịnh và thích được xu nịnh như thế Có một ông vua và một bà Hoàng hậu thích được vuốt ve thì mới xuất hiện những kẻ nịnh nọt, dối trá như Cuội và càng có những kẻ nịnh hót, dối trá thì vua vua và hoàng hậu càng thích thú đến mức đui mù

Sự ngờ vực, cô đơn và lạc lõng của con người trước thời đại

Vấn đề cuối cùng chúng tôi muốn đề cập đến trong phần này chính là sự ngờ vực và cô đơn, lạc lõng của con người trước thời đại Con người dần trở nên cô đơn trong chính cuộc đời mình, trong chính vòng tay của những con người thân thuộc Trương Ba đã có lúc lạc lõng trong căn nhà của mình, xa lạ với những người mà ông yêu thương Bởi chính ông, trong thân xác hàng thịt, đã đổi khác

và tha hóa đi dần Ông không còn nhận ra chính mình nữa Sau những lời dối trá, lọc lừa, Cuội bị bỏ lại sau lưng sự ra đi của Lụa, Bờm và Nha – những người mà hắn nghĩ mình đang làm mọi việc để giúp họ Cuội không còn ai bên cạnh, sự cô đơn đã giúp Cuội hiểu ra mọi giá trị xây dựng trên nền tảng của sự dối trá sẽ sớm

sụp đổ Hay trong vở Linh hồn của đá, Vịnh đau đớn, giằng xé vì mặc cảm tội

lỗi khi lấy nhầm em gái làm vợ Ngoài già quỷ, Vịnh không thể nói ra điều này với Thanh hay bất cứ ai, sự cô đơn làm nỗi đau của Vịnh càng lớn hơn Năm mươi năm sau, khi quay trở lại bến đá xưa, thấy vợ con mình đã hóa đá vì chờ mong,

Trang 39

nỗi đau trong lòng Vịnh lại trào dâng Hoàng tử Pơliêm trong vở kịch Nàng Sita

đã đánh mất người mà chàng yêu thương nhất bằng sự ngờ vực Sự ghen tuông

mù quáng đã đẩy Sita đi đến chỗ chết, Pơliêm ở lại với nỗi cô đơn và dằn vặt của mình

Trang 40

Tiểu kết Chương 2

Cốt truyện được xem là phần gốc, là cốt lõi của một tác phẩm Tất cả mọi vấn đề và ý nghĩa trong tác phẩm đều được thể hiện thông qua cốt truyện với các nhân vật và xung đột của nó Trong kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ, mảng kịch khai thác từ cốt truyện dân gian không nhiều nhưng lại đóng góp rất lớn vào thành công trên lĩnh vực kịch nói của ông Sử dụng cốt truyện dân gian theo cách riêng của mình, dù trung thành với cốt truyện gốc hay sáng tạo lại dựa trên một phần cốt truyện và nguyên mẫu các nhân vật, Lưu Quang Vũ đều thể hiện được

những vấn đề thời sự và triết lý nhân sinh phù hợp với thời đại

Ngày đăng: 14/05/2021, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w