Từ những lí do trên, người viết mạnh dạn chọn đề tài: “Biểu tượng trong sáng tác c ủa Vương Mông” với mong muốn kiếm tìm những thông điệp mà nhà văn gửi gắm cũng như mối liên hệ giữa cá
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Th ị Lan Ngọc
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phan Th ị Lan Ngọc
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH PHAN CẨM VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Phan Thị Lan Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến:
Quý thầy cô trong khoa Ngữ văn và phòng Sau đại học trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thực hiện đề tài này
Cô Đinh Phan Cẩm Vân, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình tôi trong
suốt quá trình tôi thực hiện đề tài Qua đây, tôi xin gửi tới cô lời biết ơn chân thành
Xin chân thành c ảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 9 năm 2013
Phan Thị Lan Ngọc
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
M Ở ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 C ấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 12
1.1 Gi ới thuyết chung về biểu tượng 12
1.1.1 Khái ni ệm biểu tượng 12
1.1.2 Bi ểu tượng văn hoá 14
1.1.3 Bi ểu tượng nghệ thuật 15
1.2 Trung Hoa – bi ểu tượng truyền thống văn hóa 17
1.3 Vương Mông – biểu tượng sóng gió cuộc đời 19
CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA VÀ CHỨC NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG TRONG SÁNG TÁC C ỦA VƯƠNG MÔNG 22
2.1 Ý nghĩa của biểu tượng 22
2.1.1 Bi ểu tượng chia li 22
2.1.2 Bi ểu tượng biến hóa 25
2.1.3 Bi ểu tượng hy vọng 36
2.1.4 Bi ểu tượng “hiện đại” 41
2.2 Ch ức năng của biểu tượng 43
2.2.1 Bi ểu tượng và kết cấu tâm lý 43
2.2.2 Bi ểu tượng và giọng điệu u mua 46
2.2.3 Bi ểu tượng và trò chơi tiếp nhận 48
CHƯƠNG 3: THỦ PHÁP XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG SÁNG TÁC C ỦA VƯƠNG MÔNG 58
3.1 Bi ểu tượng và nhan đề tác phẩm 58
3.2 Bi ểu tượng và khả năng tạo nghĩa 63
Trang 63.3 Bi ểu tượng và thời gian ý thức 69
3.4 Bi ểu tượng và khả năng ảo hóa 77
K ẾT LUẬN 86
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 88
PH Ụ LỤC 100
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trung Quốc, đất nước nổi tiếng với những câu chuyện huyền thoại, đất nước
với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, kết tinh trong mình những dấu ấn văn hóa đặc sắc
Nền văn chương Trung Hoa, “một nền văn xuôi và thơ ca nhiều màu vẻ từng làm xúc động biết bao thế hệ người đọc” [54, tr.10] đã và đang mang trong mình dòng chảy
những tác phẩm huyền thoại Từ ngàn xưa, Trung Hoa đã có những tác phẩm được coi là kinh điển không chỉ của nền văn học truyền thống nói riêng mà còn của nền
văn chương Thế giới nói chung Từ những tác phẩm cổ điển như Kinh thi, Sở từ,
Tam Qu ốc diễn nghĩa, Tây Du Ký, Thủy Hử, Sử ký, Đông Chu liệt quốc, Liêu Trai chí d ị, Hồng lâu mộng, đến các tác phẩm thời hiện đại như sáng tác của Lỗ Tấn,
Quách Mạt Nhược, Ba Kim, hay gần đây nhất là những sáng tác của Mạc Ngôn, Vương Mông, Lưu Tâm Vũ, Giả Bình Ao, Thiết Ngưng, Trương Vệ Tuệ, Quách Kính Minh, đều gây được sự chú ý
Văn học Trung Quốc từ xưa đến nay luôn thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lẫn độc giả chính vì sự đa dạng trong phong cách sáng tác, sự tìm tòi đổi
mới về mặt nghệ thuật, sự tiếp thu truyền thống và sự tiếp biến có chọn lọc trong tác
phẩm Điều này đem đến cho văn chương Trung Hoa sự phong phú về đề tài, thể loại, khuynh hướng sáng tác và sự điêu luyện trong bút pháp thể hiện Đây chính là mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu mong muốn tìm hiểu nền văn học mang đậm bản
sắc Á Đông Trong số những nhà văn tiêu biểu, làm nên diện mạo nền văn học hiện đại Trung Quốc không thể không nhắc đến Vương Mông, nhà văn đi đầu trong việc
vận dụng sáng tạo thủ pháp “dòng ý thức” Tây phương hiện đại Điểm nhấn trong
sáng tác của nhà văn chính là hệ thống biểu tượng phong phú Nghiên cứu tác phẩm của ông từ phương diện văn hóa là hướng đi có nhiều ý nghĩa vì:
Th ứ nhất, nghiên cứu biểu tượng là hướng nghiên cứu mới mẻ, được nhiều tác
giả quan tâm Biểu tượng được sử dụng như một phương thức nghệ thuật nhằm phản ánh cuộc sống và liên quan đến vấn đề văn hóa, tìm hiểu biểu tượng phần nào hiểu được nền văn hóa của dân tộc đó
Trang 8Thứ hai, nghiên cứu để thấy được sự giao lưu văn hóa trong sáng tác, không
chỉ tiếp thu từ truyền thống mà Vương Mông còn sáng tạo những biểu tượng độc đáo Nhà văn được nhiều nhà nghiên cứu nhận định đi đầu trong việc đổi mới tiểu thuyết Trung Hoa hiện đại, do vậy những biểu tượng được sử dụng không chỉ thuần túy có trong dân tộc mà chúng cũng mang những nét độc đáo của nhà văn
Từ những lí do trên, người viết mạnh dạn chọn đề tài: “Biểu tượng trong sáng tác c ủa Vương Mông” với mong muốn kiếm tìm những thông điệp mà nhà văn gửi
gắm cũng như mối liên hệ giữa các biểu tượng, khẳng định tính nhân văn của tác phẩm Đồng thời, qua công trình nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng đóng góp một phần tri thức vào việc giảng dạy, nghiên cứu tác phẩm văn học trong nhà trường theo hướng tiếp cận từ mã văn hoá
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên c ứu ngoài nước
Chúng tôi tìm thấy hai công trình nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về biểu tượng trong nền văn hóa Trung Hoa cũng như biểu tượng trong sáng tác của Vương Mông như sau:
+ Luận án tiến sĩ “Biểu tượng văn hóa trong văn học hiện đại Trung Quốc”0
1
(Символ в культуре повседневности современного китая) của tác giả Сюй
Марина Вячеславовна (Xu Marina V) đã có những đóng góp thiết thực trong việc
giải mã và đánh giá hệ thống biểu tượng Trung Quốc Luận án triển khai trong hai
chương Chương 1 Biểu tượng truyền thống văn hóa Trung Quốc tác giả triển khai
các nội dung quan trọng: các khái niệm cơ bản, phân loại các biểu tượng, bối cảnh cho s ự tồn tại các biểu tượng và đại diện trong nền văn hóa, trong đó tác giả chủ yếu
trình bày những biểu tượng về quyền lực, thuyết giáo, cây cối, trang sức, màu sắc,
Chương 2 Phương thức tượng trưng trong cuộc sống hàng ngày là truyền thống
văn hóa Trung Quốc được triển khai ở các nội dung: chức năng văn hóa trong đời
s ống hàng ngày ở Trung Quốc, việc đưa các biểu tượng văn hóa và chức năng các nhân v ật trong văn hóa hàng ngày ở Trung Quốc
1
Ngu ồn: http://www.dissers.ru/avtoreferati-kandidatskih-dissertatsii1/a281.php
Trang 9Như vậy, luận văn nghiên cứu trên bình diện khá rộng những biểu tượng văn hóa xét trên nhiều lĩnh vực như văn học, quân sự, thể thao, tôn giáo, mỹ thuật,… xem xét trong mối quan hệ ngữ nghĩa chủ yếu giúp người đọc tiếp cận nền văn hóa Trung Hoa Tuy nhiên, luận văn chưa tập trung đi sâu vào một tác giả cụ thể để thấy được
biểu tượng văn hóa biến đổi hay sản sinh ý nghĩa khi đi vào tác phẩm
+ Luận án tiến sĩ “Khái niệm sự sáng tạo, cá tính sáng tạo trong văn xuôi và
báo chí c ủa nhà văn Trung Quốc Vương Mông”1
2 (Концепция творчества и творческой личности в прозе и публицистике китайского писателя Ван Мэна)
của tác giả Шулунова, ЕвгенияКонстантиновна (Shulunova, Eugene K) năm 2005
với độ dài 139 trang đã khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn trên nhiều lĩnh vực Tác giả đánh giá Vương Mông là nhà văn vượt ra ngoài tầm cỡ quốc gia vì
tư tưởng và tài năng sáng tạo không ngừng từ cuộc đời truyền kì cho đến tác phẩm mang đầy cá tính Chương 1 tác giả khái quát cá tính sáng tạo trong phê bình văn học
và báo chí Tác giả cho rằng bản chất của văn học là sáng tạo và văn học có khả năng lãnh đạo chính trị Chương 2 tác giả khẳng định giá trị những tác phẩm văn xuôi với
việc người nghệ sĩ cải tạo xã hội và chứng minh bằng cuộc đời riêng tư Chương 3 tác
giả đi vào nghệ thuật tiêu biểu, làm nên phong cách sáng tạo, đầy chất Vương Mông chính là việc sử dụng biểu tượng để phản ánh thế giới Tác giả dành trọn một tiểu
mục cho biểu tượng nước và tiểu mục hai dành cho hệ thống các biểu tượng khác
Biểu tượng theo tác giả chính là phương thức giúp nhà văn thể hiện đa chiều tư duy sáng tạo, là sự trở về quan niệm truyền thống thế giới trong sự mở rộng tư duy con người
Như vậy, luận án có sự phong phú về đối tượng nghiên cứu xét ở các lĩnh vực sáng tác như báo chí, văn xuôi và phê bình của nhà văn Vương Mông Cá tính sáng
tạo được triển khai ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trong đó, nghệ thuật góp phần không nhỏ trong việc phản ánh tư duy sáng tạo chính là biểu tượng Ở đây, biểu tượng được tác giả nhắc đến và đề cập tuy nhiên chưa đi sâu khai thác và
giải nghĩa trong hệ thống cũng như tìm hiểu những thủ pháp xây dựng ý nghĩa
2
Ngu ồn: proze-i-publitsistike-kitaiskogo-pisately
Trang 10http://www.dissercat.com/content/kontseptsiya-tvorchestva-i-tvorcheskoi-lichnosti-v-Trên đây là hai trong số những công trình nghiên cứu biểu tượng trong nền văn hóa Trung Hoa và sáng tác của Vương Mông, mỗi đề tài đều có hướng nghiên
cứu riêng xét theo mục đích của từng ngành khoa học cụ thể vì vậy chưa đi sâu tìm
hiểu biểu tượng trong sáng tác của nhà văn một cách bao quát nhưng phần nào giúp chúng tôi định hướng và hoàn thiện cơ sở lý luận Từ những ý nghĩa trên, chúng tôi
tiến hành tìm hiểu, đánh giá biểu tượng trong tác phẩm của nhà văn một cách toàn
diện và hệ thống
2.2 Tình hình nghiên c ứu trong nước
Các công trình nghiên cứu trong nước về Vương Mông không nhiều, có thể nói
hạn chế về nguồn tài liệu Người viết chỉ tìm thấy hai bài nghiên cứu tương đối khái quát về tác phẩm của nhà văn như sau:
+ Bài nghiên cứu “Vương Mông – Nhà văn đi tiên phong trong việc đổi mới
tiểu thuyết đương đại Trung Quốc” [111, tr.27-34] của GS Lê Huy Tiêu đã khái
quát những đặc trưng cơ bản trong phong cách nghệ thuật, đồng thời đề cập sơ qua về các biểu tượng được sử dụng Tác giả đã định hình phong cách nghệ thuật chính của Vương Mông xét trên các phương diện: dòng ý thức, kết cấu tâm lý, chủ đề đa nghĩa, bút pháp tượng trưng, giọng điệu u mua Đặc biệt trong bút pháp tượng trưng, giáo sư cho rằng nhà văn thường sử dụng hình ảnh mang tính chất ẩn dụ và nêu vài biểu tượng nhưng chỉ ở mức khái quát chứ chưa đưa ra hệ thống phân loại cụ thể cũng như chưa chỉ ra thủ pháp nghệ thuật xây dựng biểu tượng Tuy nhiên bài viết cũng là hướng đi mới giúp người viết có hướng tiếp cận sâu sắc
+ Bài nghiên cứu “Nhà văn nổi tiếng Vương Mông” của PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp
trong công trình nghiên cứu Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kì mới [46,
tr.246-258] cũng nhắc đến hình ảnh ẩn dụ như hồ điệp Tuy nhiên bài viết chỉ tập trung giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn chứ chưa đi sâu vào vấn
đề nghệ thuật, đặc biệt là biểu tượng
Ngoài hai bài viết tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn, những tài liệu, công trình nghiên cứu chỉ nhắc đến Vương Mông như một tác gia sơ lược khi
đề cập đến tiến trình lịch sử văn học dân tộc Đối với đề tài: “Biểu tượng trong sáng tác của Vương Mông” hiện tại trong nước chưa có công trình nghiên cứu Từ đó,
Trang 11người viết nhận thấy nghiên cứu tác phẩm của nhà văn xét từ biểu tượng là hướng đi
mở cần được tìm hiểu kỹ lưỡng
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm phân loại hệ thống biểu tượng, cắt nghĩa, lý giải từ nguồn gốc đến nội dung trong mối quan hệ văn hóa nói chung và tác phẩm nói riêng Đồng thời, tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật xây dựng biểu tượng cũng như chức năng mà biểu tượng đem lại cho toàn bộ tác phẩm Nghiên cứu biểu tượng không chỉ nằm ở yếu tố riêng rẽ mà phải đặt chúng trong hệ thống tác phẩm để thấy được đầy đủ những nét nghĩa cũng như cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các biểu tượng trong sáng tác của nhà văn Vương Mông (bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn)
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Khảo sát các tác phẩm:
- Tiểu thuyết: Hoạt động biến nhân hình, Cáo xanh
- Truyện vừa: Hồ điệp
- Truyện ngắn: Chiếc lá phong, Sáu cây cầu trên đê mùa xuân, Cát-xet
viêm, M ắt đêm, Dải cánh diều, Tiếng mùa xuân
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đề tài nghiên cứu biểu tượng có liên
quan đến hệ thống các ngành khoa học khác như triết học, tôn giáo, văn hóa, dân
tộc, Do vậy, phương pháp này là không thể thiếu
- Phương pháp thống kê: Phân loại hệ thống biểu tượng để sắp xếp theo yêu
cầu cũng như làm rõ tần số xuất hiện của biểu tượng
- Phương pháp nghiên cứu văn học: Nghiên cứu biểu tượng dựa trên cơ sở
phân tích, đánh giá với việc biểu đạt nội dung ý nghĩa
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa học: Dựa trên cách tiếp cận biểu tượng,
Trang 12đi sâu giải mã nền văn hóa ảnh hưởng đến việc sử dụng biểu tượng
- Phương pháp tiểu sử: Nghiên cứu biểu tượng trên cơ sở tìm hiểu cuộc đời
nhà văn để làm sáng tỏ những nét tư tưởng cũng như quan niệm sống của tác giả
- Phương pháp cấu trúc: Biểu tượng chỉ trở thành phương thức nghệ thuật
khi nhà văn đặt nó trong hệ thống cấu trúc tác phẩm
- Phương pháp ký hiệu học: Nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ ký hiệu học
giúp giải mã các nét nghĩa cũng như cách thức phái sinh nghĩa trong tác phẩm
- Phương pháp so sánh: Biểu tượng không phải là tài sản riêng của cá nhân
mà là của chung nhân loại Cùng một biểu tượng mỗi nhà văn lại có cách sử dụng, cách giải nghĩa trái chiều bởi mỗi nền văn hóa có những cách giải nghĩa khác nhau
So sánh để thấy được sự đa dạng trong cách tiếp nhận biểu tượng của từng tác giả
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu xác lập hệ thống biểu tượng trên cơ sở tìm hiểu nghĩa gốc
và sự vận dụng sáng tạo trong tác phẩm đồng thời chỉ ra nét khác biệt với những nhà văn khác Qua đó thấy được những nét đặc sắc về nội dung tư tưởng, chức năng cũng như thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu trong việc xây dựng biểu tượng
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Lời cảm ơn, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và
Phụ lục, Luận văn gồm ba chương chính:
Chương 1 Những vấn đề chung
Trình bày khái quát biểu tượng, biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật dưới những góc độ khác nhau Đồng thời giới thiệu sơ lược về thời đại, cuộc đời giàu
ý nghĩa của Vương Mông
Chương 2 Ý nghĩa và chức năng của biểu tượng trong sáng tác của Vương Mông
Phân loại, giải nghĩa các biểu tượng nhằm làm rõ nguồn gốc các biểu tượng có trong truyền thống văn hóa Trung Hoa cũng như những biểu tượng riêng của Vương Mông Qua đó thấy được chức năng của biểu tượng trong việc triển khai tác phẩm
Trang 13Chương 3 Thủ pháp xây dựng biểu tượng trong sáng tác của Vương Mông
Tìm hiểu thủ pháp nghệ thuật xây dựng biểu tượng để hình thành ý nghĩa biểu tượng, thấy được sự khác biệt trong cách thức xây dựng cũng như nét sáng tạo độc đáo của nhà văn
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Giới thuyết chung về biểu tượng
1.1.1 Khái niệm biểu tượng
Biểu tượng xuất hiện sớm trong tư duy nhân loại ngay từ thời nguyên thuỷ, khi chưa có ngôn ngữ, con người đã biết sử dụng những tín/kí hiệu để đánh dấu và giao tiếp Khởi nguyên của biểu tượng (Symbol) bắt nguồn từ tập quán Hy Lạp cổ đại, một
vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người mỗi người giữ một phần,
chủ và khách, người cho vay và kẻ đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai mảnh với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ
cũ hay tình bạn ngày trước Biểu tượng chia ra và lại kết lại với nhau như vậy nên nó
chứa hai ý nghĩa phân ly và tái hợp Điều này cũng có nghĩa mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ trong cái vừa gãy vừa nối kết
những phần đã bị vỡ ra Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày, trở thành
một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng nhằm diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng
Trong lịch sử đã có nhiều triết gia đã đề cập đến biểu tượng như Chu Hy - Nhà dịch số Trung Hoa thần bí, Hêghen - nhà triết học duy tâm khách quan Đức, sau này
là Singmund Freud - Bác sĩ thần kinh, tâm thần người Áo rồi đến C.G.Jung…
Theo quan niệm của Freud: "Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió
và ít nhi ều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mối liên kết
th ống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa
ti ềm ẩn của chúng" [55, tr.XXIV]
Đối với C.G.Jung, ông cho rằng: "Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để
ch ỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh" [55, tr.XXIV] hay
"Cái mà chúng ta g ọi là biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay c ả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó" [55,
tr.XXIV]
Trang 15Theo Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131-1200) trong
"D ịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết: "Tượng là lấy hình ảnh này
để tỏ nghĩa kia" [12, tr.58]
Biểu tượng được nghiên cứu và tiếp nhận khá sớm trong lịch sử, đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra khái niệm riêng phù hợp với ngành khoa học của mình như Triết học, Tâm lí học, Xã hội học
Theo Từ điển Tâm lý học Biểu tượng là “hình ảnh các vật thể, bối cảnh và sự
kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính chất khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai" [16, tr.41]
Dưới góc độ xã hội học, biểu tượng được hiểu là “hình thức dùng hình này để
tỏ nghĩa nọ” hay nói khác đi “mượn một cái gì đó để tượng trưng cho một cái gì khác” [36, tr.11]
Dưới góc độ văn hóa học, biểu tượng “là bất kì thực thể nào có chứa nghĩa và
có thể quy chiếu sang thực thể khác, chúng được sử dụng và được diễn giải như là một đại diện cho một loại thông tin nào đó căn cứ vào một tương ứng loại suy” [19, tr.71] Cũng theo tác giả, “Để con người có thể tư duy và thông báo với nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong đầu anh ta, con người đã sáng tạo ra một thế giới biểu tượng làm vật thay thế, làm cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại bằng cách mô phỏng một hiện tượng tự nhiên và cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin” [19, tr.72]
Dù đứng trên quan điểm của những ngành khoa học khác nhau nhưng chúng ta vẫn có thể thấy điểm chung của biểu tượng: Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế nhưng cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể
Nó vừa chứa đựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp, được hình thành
do sự phối hợp bổ sung lẫn nhau của các giác quan và sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp Vì vậy, biểu tượng phản ánh đặc trưng của các sự vật, hiện tượng một cách khái quát nhất Nhà nghiên cứu Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho
rằng: "Tự bản chất của biểu tượng, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các
Trang 16thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im
mà bi ến ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra
m ột hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng" [55, tr.XIV, XXIV] Nói như Georges Gurvitch: "Các bi ểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ" [55, tr.XIV]
Con người với khả năng biểu trưng hóa có thể tiếp nhận hình ảnh trong thực tại bằng các biểu tượng và mở rộng khả năng nội hàm của nó Theo phạm vi nghiên cứu
và mục đích của luận văn, chúng tôi làm rõ nội hàm của hai khái niệm cơ bản: biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật
1.1.2 Biểu tượng văn hoá
Văn hoá là một khái niệm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau dưới con mắt của nhiều ngành khoa học, văn hóa liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần
của con người Theo tác giả Nguyễn Văn Hậu, “Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm và được coi như “hạt giống” của đời sống văn hóa” “Cách tiếp cận văn hoá bằng các hình thái bi ểu tượng không có sự đối lập hoàn toàn với các cách tiếp cận văn hoá khác B ởi ở góc độ nào đó để nghiên cứu về văn hoá đi chăng nữa thì văn hoá không
có gì khác là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích luỹ được trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội Hệ thống giá tr ị xã hội đó được khách thể hoá - biểu tượng hoá trở thành các biểu tượng nhờ vào năng lực tượng trưng hoá - một năng lực đặc trưng cơ bản của hoạt động người Biểu tượng được xem như là "tế bào"của văn hoá, nó làm nên toàn bộ đời sống văn hoá và chi phối mọi hoạt động, mọi ứng xử của con người trong đời sống xã
h ội.”2
3
Biểu tượng văn hóa bao gồm những biểu tượng vật thể như trong các ngành hội họa, điêu khắc, kiến trúc (tượng Nữ thần tự do là biểu tượng của nước Mỹ, chợ Bến Thành là biểu tượng của Việt Nam,…) đồng thời là biểu tượng phi vật thể (tín ngưỡng, phong tục, văn học),… Biểu tượng có khả năng mở rộng ý nghĩa hơn chính hình thức cảm tính, tồn tại và phát triển trong một hệ thống ổn định, đặc trưng cho
3
Nguyễn Văn Hậu (19/4/2009), “Biểu tượng như là đơn vị cơ bản của văn hóa”, Tạp chí Văn hóa học
nhu-la-don-vi-co-ban-cua-van-hoa.html)
Trang 17(http://vanhoahoc.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/llvhh-nhung-van-de-chung/1186-nguyen-van-hau-bieu-tuong-nền văn hóa từng dân tộc Tác giả Jean Chevalier cho rằng “biểu tượng có khả năng cùng lúc thâm nhập vào tận bên trong cá thể xã hội”, hiểu ý nghĩa biểu tượng là tiếp
cận bản sắc văn hóa của dân tộc đó
Các biểu tượng văn hóa xuất hiện sâu rộng và có ảnh hưởng đến đời sống tinh thần mỗi dân tộc, là nguồn mạch dân gian nuôi dưỡng những giá trị tâm linh Mối quan hệ giữa biểu tượng văn hóa và con người tạo nên thế tương liên, đối thoại và sự quy ước chung theo chiều sâu Mỗi quốc gia có những biểu tượng đặc trưng cho mình, có khi cùng một biểu tượng nhưng ở mỗi nước lại có cách giải thích nghĩa khác nhau Biểu tượng văn hóa cùng với sự phát triển trong đời sống ngày càng bồi đắp thêm ý nghĩa, ngày càng có nhiều biểu tượng mới xuất hiện theo cá tính sáng tạo của nhà văn Đó là sự mở rộng nội hàm ý nghĩa, một đặc trưng của biểu tượng làm cho văn bản trở nên đa chiều tiếp thu và tiếp biến
Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm
tư, tình cảm sâu kín nhất, những khát vọng của mình cũng bằng biểu tượng Vì thế đi sâu tìm hiểu những biểu tượng văn hoá là tìm thấy những giá trị khoa học và nhân văn của cả dân tộc
1.1.3 Biểu tượng nghệ thuật
Biểu tượng nghệ thuật là một biến thể của biểu tượng văn hóa xét trên một
ngành khoa học cụ thể như hội họa, âm nhạc, Biểu tượng văn học là loại biểu
tượng đa nghĩa, được xây dựng trong sáng tác văn chương Theo C.G.Jung: “Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệ liên cận, cộng thêm vào đó cái
ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì
đó mơ hồ, chưa biết hay bị che giấu đối với chúng ta” [55, tr.29]
So với hình tượng, khả năng tạo nghĩa của biểu tượng vô cùng phong phú, hình
tượng chỉ gói gọn trong phạm vi nghĩa nhất định còn biểu tượng tạo chiều sâu cho văn bản Từ một biểu tượng, chúng ta có thể hiểu nhiều hình tượng riêng biệt, tạo nên tính thống nhất hệ thống biểu tượng Biểu tượng gần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng
dụ… nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ tạo ra những mối liên hệ lâm thời, rời rạc,
những quy ước đơn giản giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, có tác dụng biểu
Trang 18nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo
nghĩa khác Các tác giả “Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới” đã chỉ ra rằng:
“Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu là một qui ước tuỳ tiện trong đó cái biểu đạt
và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa
m ột lực năng động tổ chức” [55, tr.XIX] Gilbert Durand cũng khẳng định: “biểu tượng rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang c ốt yếu và tự sinh” [55, tr.XIX] “Như vậy, biểu tượng phong phú hơn là một
d ấu hiệu, ký hiệu đơn thuần: hiệu lực của nó vượt ra ngoài ý nghĩa, nó phụ thuộc vào cách gi ải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào một thiên hướng nào đó Nó đầy gợi cảm và năng động Nó không chỉ vừa biểu hiện, theo một cách nào đó, vừa che đậy; nó còn vừa thiết lập, cũng theo một cách nào đó, vừa tháo dỡ ra” [55,
tr.XX] Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng dung lượng của cái biểu trưng và cái được
biểu trưng trong biểu tượng không phải là quan hệ 1-1, biểu tượng luôn mang tính
đa trị, “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc giản đơn hơn…cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt”, đây chính là “tính không thích h ợp giữa tồn tại và hình thức, sự ứ tràn của nội dung ra ngoài dạng biểu đạt
c ủa nó” như cách nói của Tevezan Todorov [55, tr.XXVII]
Theo nghĩa rộng, có thể xem tác phẩm văn học là một biểu tượng, một chỉnh
thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp bởi văn học phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua những hình tượng nghệ thuật đặc biệt Việc giải mã biểu tượng góp phần giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm Văn học phản ánh
thế giới hiện đại theo những cách rất riêng, trong đó biểu tượng là phương thức phản ánh có hiệu quả đối với người nghệ sỹ
Theo nghĩa hẹp, biểu tượng “là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, là
m ột loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn” [2, tr.24] Nhìn ở góc
độ này, biểu tượng văn học là một “nhân vật” đặc biệt, được hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hình tượng… nhằm biểu hiện
ý nghĩa của tác phẩm văn học Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo
Trang 19Biểu tượng nghệ thuật được cấu tạo thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học Trong phạm vi ngôn từ nghệ thuật, biểu tượng được chuyển sang các từ-biểu tượng (word – symbol) Các tín hiệu này mở rộng khả năng tạo nghĩa của văn bản
Ti ểu kết
Biểu tượng là hình ảnh cụ thể gợi đến một ý nghĩa trừu tượng mà mối quan hệ
giữa chúng mang sự gắn kết nhất định, được hình thành, phát triển, gắn bó trong đời
sống văn hóa xã hội, là công cụ của tư duy trong tiến trình nhận thức, là sự mã hóa các giá trị tinh thần của loài người Biểu tượng mang trong mình giá trị vĩnh hằng các tầng ý nghĩa văn hóa của một đất nước đồng thời cũng luôn có sự luân chuyển,
bồi đắp ý nghĩa thông qua vốn hiểu biết và tài năng của người nghệ sĩ, do vậy “biểu tượng là một sinh thể có khả năng mở rộng nghĩa theo thời gian” [65, tr.110] Từ
đó, chúng tôi rút ra những đặc trưng chủ yếu của biểu tượng nghệ thuật trong văn
học: tính dân tộc, tính sáng tạo, tính hàm súc và tính khái quát Hệ biểu tượng mang ý nghĩa cơ bản, tồn tại trong tiềm thức loài người (tính dân tộc) và ở mỗi quốc gia, đến lượt mình, mỗi nhà văn lại tiếp thu và tiếp biến theo cách riêng của mình làm nên thế
giới biểu tượng phong phú trong việc phản ánh thế giới (tính sáng tạo) Với giá trị
tiềm ẩn cùng khả năng mở rộng ý nghĩa, biểu tượng vừa mang tính hàm súc, đồng
thời gợi lên tầng ý nghĩa khái quát sâu rộng Vì vậy, việc nghiên cứu biểu tượng văn
học là việc làm thiết thực nhằm giải mã ý nghĩa nội dung, nghệ thuật của tác phẩm,
khẳng định giá trị văn học cũng như phong cách tác giả
1.2 Trung Hoa – biểu tượng truyền thống văn hóa
Trung Hoa là đất nước của nhiều tôn giáo, sự giao thoa giữa các nền văn hóa là điều không tránh khỏi Chiều sâu tư tưởng, bề dày triết lý trong những tác phẩm đã
từng làm kinh ngạc bao thế hệ bạn đọc Đó là Liêu Trai chí dị với những câu chuyện
được bao phủ bởi lớp sương huyễn hoặc kì ảo của giấc mộng mà phản ánh hiện thực
xã hội sâu sắc, đó là Hồng lâu mộng với bao câu chuyện trong Đại Quan Viên để rồi người đọc nhận ra tất cả những vinh hoa đó chỉ là màu hồng phù du, đó còn là Tây
Du Ký với câu chuyện thầy trò Đường Tăng đi lấy kinh mà ẩn chứa triết lý nhân sinh sâu sắc, Như vậy, những tác phẩm có giá trị phải mang ý nghĩa xã hội, phải được
viết từ trái tim chân thành của chính nhà văn và phải mang trong mình ý nghĩa nhân
Trang 20bản Ta còn nhớ tác phẩm Linh Sơn được giải thưởng Nobel của Cao Hành Kiện cũng đã đề cập đến vấn đề nhân sinh, về con đường đời mà chúng ta đi tìm Linh Sơn
như đưa ta bước vào thế giới đầy tâm linh, đi tìm bản thể, cội nguồn hay như tiểu thuyết Mạc Ngôn thông qua những câu chuyện đan xen những tình tiết hư ảo, những
giấc mơ mà phản ánh hiện thực, mang đậm giá trị nhân văn Gốc rễ những tác phẩm
ấy chính là triết lí mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm, là bài học mà độc giả muốn chiêm nghiệm và khám phá
Điều dễ nhận thấy trong văn chương Trung Hoa là tính triết lý vô cùng thâm thúy và hơn cả, biểu tượng nghệ thuật góp phần không nhỏ trong việc phản ánh hiện
thực cũng như thể hiện ý đồ nghệ thuật của người sáng tác Tác giả Trần Lê Bảo cho
rằng “đó là lối tư duy thiên về nhận thức những biểu tượng cụ thể” [4, tr.45] Mô
hình tư duy triết học cổ đại nhất Kinh Dịch chỉ với triết lý âm-dương mà tạo được hệ
thống tín hiệu, biểu tượng phong phú trong việc nhận thức thế giới Từ những hào,
quẻ trong hệ thống đều mang ý nghĩa biểu trưng nào đó “Tư duy mỹ học cụ tượng hình thành trong Chu D ịch đã tạo ra tư duy độc đáo Trung Hoa”, “là đặc điểm tư duy phương Đông, trong đó có tư duy nghệ thuật”, “vì bản thân các phù hiệu tượng trưng trên đã chứng tỏ năng lực tư duy đương thời có thể bao quát bản chất sự việc vào m ột số tượng, một số phạm trù cụ thể” [4, tr.46]
Bên cạnh đó, kho tàng truyền thuyết vô cùng phong phú, bề dày lịch sử đã để
lại biết bao biểu tượng văn hóa đa dạng Chính việc sử dụng hệ biểu tượng mà các tác
phẩm ở những mức độ khác nhau có thể truyền đạt nội dung tư tưởng một cách chân
thực nhất Biểu tượng là thủ pháp đắc dụng, một mặt các nhà văn Trung Quốc tìm đến biểu tượng như tìm về truyền thống cội nguồn, tính hàm súc, ít ý ngoài lời, gợi nhiều hơn tả như các thể thơ Đường luật Mặt khác, những câu chuyện đậm chất huyền thoại, thực ảo đan xen là mảnh đất cho những liên tưởng thú vị cùng hình tượng những giấc mơ, người - vật, hình tượng con đường,… đều để lại dư ba
Văn học hậu hiện đại ngày nay có xu hướng tìm về truyền thống từ cách tân về
mặt thi pháp, sử dụng yếu tố kì ảo, những hệ biểu tượng phong phú nhằm xóa nhòa đường biên lịch sử, đem những yếu tố mới lạ vào tác phẩm nhằm phản ánh thế giới Chúng tôi sẽ đề cập đến nguyên tắc trò chơi đa chiều nhìn từ góc độ biểu tượng trong
Trang 21việc tiếp nhận ở chương sau Đặt trong mối liên hệ với văn hoá, văn học Trung Hoa, chúng tôi bước đầu tiếp cận và giải mã ý nghĩa biểu tượng trong tiểu thuyết của Vương Mông từ những hướng tiếp cận trên
1.3 Vương Mông – biểu tượng sóng gió cuộc đời
Bắt đầu thời kì Ngũ Tứ, tiểu thuyết Trung Hoa tiến mạnh vào giai đoạn mới cùng tiểu thuyết hiện đại thế giới với sự xâm nhập của chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa lãng mạn mới, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa đa đa, 3
4 Thập niên 50 đánh dấu sự tiến triển và gặt hái nhiều thành công của tiểu thuyết Bắt đầu từ năm 1966, nền kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Trung Quốc bước vào thời kì đen tối - thời kì “Cách
m ạng văn hóa” (1966 - 1976) “Mười năm động loạn” do Lâm Bưu và “Bè lũ bốn tên”4
5 giành một phần quyền lực nhà nước khiến cho văn nghệ Trung Hoa lâm vào tình trạng khủng hoảng và trì trệ Nhiều tác phẩm bị đặt dưới tư tưởng chính trị, bị quy thành phái hữu khiến nhiều tác giả rơi vào vòng oan trái như Người trẻ tuổi mới
v ề phòng tổ chức của Vương Mông, Rèn luyện, rèn luyện, Cái tay tròng không vào
của Triệu Thụ Lý, Đã biết từ chối thời tám hoánh của Mã Phong, Nhờ chị dâu của
Tây Nhung,
Sau khi tập đoàn phản Cách mạng bị lật đổ, Trung Hoa bước vào thời kì mới,
thời kì “Cải cách mở cửa” Từ đây, văn học Trung Quốc bước đầu khởi sắc, có bước đột phá, đổi mới từ đề tài đến thi pháp biểu hiện, văn học giai đoạn này với “những khu c ấm về đề tài sáng tác vốn bị những thanh quy giới luật ràng buộc lâu nay đã bị phá v ỡ Những mảnh đất hoang mà văn học đương đại chưa hề đụng đến đã được cày x ới Những nẻo đường mà văn học đương đại từng thử nghiệm khai phá nhưng
l ập tức bị sự phê bình tả khuynh bóp chết nay đã được đánh thông” [105, tr.48, 49]
Minh chứng cho điều này là sự xuất hiện ngày càng nhiều nhà văn không chỉ nổi
4 L ỗ Tấn thời kì đầu chịu ảnh hưởng của Nietzsche, Quách Mạt Nhược, Úc Đạt Phu đã chịu ảnh hưởng của văn học phái
biểu hiện Đức (Cô gái Ca Nhĩ Mĩ Mộng của Quách Mạt Nhược, Khói xanh của Úc Đạt Phu) Các tiểu thuyết Tháp
Lôbênich, Xuân tàn c ủa Quách Mạt Nhược, Tê giác gỗ của Đào Tinh Tôn phân tích tâm lý theo học thuyết Freud, miêu
tả “một loại lưu động của tiềm ý thức”, Ba Kim chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, kịch Tào Ngu được gợi ý từ kịch
c ủa Sêkhôp
5 Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều
Trang 22tiếng trong nước mà còn trên thế giới như: Vương Mông, Uông Tăng Kỳ, Mạc Ngôn,
Giả Bình Ao, Hàn Thiếu Công, Lý Nhuệ, Trương Khiết, Thiết Ngưng, Trương Kháng Kháng, Vương An Ức,
Tóm lại, nền văn học Trung Quốc thời đại mới tính từ sau 1979 “là sự tiếp tục
và phát triển của nền văn học xã hội chủ nghĩa “mười bảy năm” sau ngày thành lập nước (1949-1966) và sự mở rộng đầy sức sống và hy vọng của nền văn học xã hội
ch ủ nghĩa giàu đặc sắc dân tộc Trung Hoa” [46, tr.123]
Vương Mông (15/10/1934), xuất thân trong một gia đình trí thức bình dân ở
Bắc Kinh Tuổi ấu thơ của ông chịu nhiều cực khổ và cay đắng5
6 như chính số phận
Macxim Gorky trong Th ời thơ ấu Ngày 10-10-1948, mới 14 tuổi, Vương Mông đã
được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhà văn hăng hái tham gia công tác Cách mạng
Năm 1956 phong trào đấu tranh chống “phái hữu” nổ ra Tháng 9/1956, Vương Mông cho in tác phẩm “Người trẻ tuổi mới về phòng tổ chức”6
7
nhằm nêu lên những thiếu sót trong bộ máy quản lý chính quyền Vì vậy, ông bị bắt đi lao động bốn năm,
cải tạo ở ngoại ô Bắc Kinh nhưng đối với tình yêu, đối với cuộc sống, lý tưởng và nguyên tắc Cách mạng, Vương Mông đều có tình cảm nồng hậu và thủy chung Cuối năm 1963, Vương Mông cùng gia đình lên Tân Cương, trong khó khăn nhưng nhà văn vẫn luôn lạc quan, yêu đời7
8
Tháng 6/1979 sau khi có sự cải chính về “phái hữu” Vương Mông được “giải oan”, “mi ễn án”, được điều về công tác tại Bắc Kinh Từ đây, sự nghiệp chính trị và
sự nghiệp văn chương của ông bước vào một giai đoạn mới Nhà văn bốn năm liền được Hội liên hiệp hữu nghị các nhà văn Trung Quốc toàn Mỹ tiến cử vào danh sách
Trang 23bình xét giải Nobel văn học, là khách mời của nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế
giới8
9, được đề cử làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa Trung Quốc (1986 – 1989) của nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đúng như vợ ông, bà Phương Nhụy nói: “Anh vinh quang vì sáng tác, kh ổ nhục vì sáng tác, buồn đau vì sáng tác, sung sướng vì sáng tác, nổi danh vì sáng tác mà cũng tai họa vì sáng tác.” [79, tr.335]
Trang 24CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA VÀ CHỨC NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA VƯƠNG MÔNG
2.1 Ý nghĩa của biểu tượng
Vương Mông cho rằng sáng tác của mình ở những năm 50 chẳng qua là “cuộc
th ử bút ít ít nhưng cũng gần ba năm, nói một cách chính xác, chỉ không đầy hai năm,
ho ạt động sáng tác văn học của tôi mới vừa bắt đầu và cất bước” [46, tr.254] Trên
văn đàn, Vương Mông là người năng động, hoạt bát, luôn chủ động đổi mới nghệ thuật, tác phẩm của ông “đi vào công chúng độc giả bằng óc quan sát sắc bén, sâu
s ắc đối với cuộc sống và tinh thần tiến thủ, dũng cảm tìm tòi hình thức biểu hiện nghệ thu ật mới, nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng nước ngoài và xuất bản ở nhi ều nước trên thế giới” [3, tr.162] Mười sáu năm ở Tân Cương, sáng tác của
Vương Mông có thay đổi về mặt chủ đề và thi pháp biểu hiện Nhiều truyện như
Tiếng mùa xuân, Dải cánh diều, Hồ điệp,… đều sử dụng biểu tượng chứa đựng
nhiều hàm nghĩa và gây được hứng thú cho người đọc
Những tác phẩm của Vương Mông chứa đựng một thế giới biểu tượng phong phú nhưng điểm chung nhất, chúng rất gần gũi trong đời sống, đề cập đến xã hội và phản ánh nhận thức của con người trước thực tại Tìm hiểu và giải mã hết thế giới biểu tượng là điều khó khăn, do vậy chúng tôi đã tiến hành phân loại thành bốn hệ thống lớn:
Biểu tượng chia li: cánh hoa rơi, bánh xe, chiếc lá phong
Biểu tượng biến hóa: con cáo, con rối, con bướm, mắt đêm
Biểu tượng hy vọng: cây cầu, cánh diều, tiếng mùa xuân
Biểu tượng “hiện đại”: cát xét
Đây là những nhóm biểu tượng tiêu biểu, có mối quan hệ ý nghĩa trong tác phẩm, là cứ liệu để để khảo sát, đánh giá Từ đó, chúng tôi khái quát giá trị toàn bộ hệ thống trong sáng tác của nhà văn
2.1.1 Biểu tượng chia li
Biểu tượng hoa trong nền văn chương thế giới mang nhiều ý nghĩa Mỗi loại
hoa lại có ý nghĩa riêng biệt và ý nghĩa của bông hoa nói chung là “bản thể thụ
Trang 25động”, “trạng thái thiên đường trên trái đất”, “bông hoa thường hiện ra như một khuôn m ặt – hình mẫu gốc của tâm hồn, một trung tâm tinh thần” [55, tr.428] Đôi
khi bông hoa biểu trưng cho ý nghĩa không bền vững của người phụ nữ (người Maya), thể hiện sự đa dạng của vũ trụ, quà tặng của Thượng Đế (người Mehico), điều
đó có liên quan đến “dòng thời gian đều đặn và với những thời đại hình thành vũ
tr ụ” [55, tr.428] “Được kết hợp một cách tương tự với loài bướm và cũng như chúng, nh ững bông hoa biểu tượng cho linh hồn những người chết” [55, tr.428]
Trong đạo Phật, bánh xe sinh tồn gồm sáu trạng thái, “tất cả những trạng thái
sau khi ch ết này cũng có thể được trải nghiệm theo mô thức cuộc sống thường nhật,
mà chúng t ựa như những biểu tượng” [55, tr.323] Bánh xe với chuyển động của nó
cắt đứt những thứ nhỏ bé mà chúng đi qua
Trong H ồ điệp, khi nhìn thấy một cánh hoa nhỏ bé bên đường, Trương Tư
Viễn trở về với quá khứ, nghĩ tới Hải Vân, nhớ tới cái chết của nàng, bị người ta đối
chất đẩy nàng đến con đường tự vẫn Hải Vân trong ông hiện lên với vẻ tinh khiết vô
ngần, tấm thân trong sáng, nhỏ bé ấy cứ vấn vương mãi khôn nguôi: “Trước mặt ông
là m ột đóa hoa trắng xinh xinh, mọc lên từ một mảng đường bị nứt lở Hoa gì thế
nh ỉ? Hoa gì mà nở được vào đầu đông, nở giữa vết sẹo trên mặt đường nhựa ngàn
v ạn người, xe qua lại? Hay đó chỉ là ảo giác? Bởi vì khi ông cố gắng nắm bắt lấy bông hoa tr ắng nở đầu đông đó thì đóa hoa đã rơi dưới bánh chiếc xe con ông đang
ng ồi Ông như nhìn thấy đóa hoa bị bánh xe nghiền nát Ông cảm được nỗi đau đớn
vì b ị nghiến nát đó Ôi, Hải Vân! Em chẳng bị nghiến nát như thế hay sao? Tấm thân
m ảnh mai, nhỏ bé, lúc nào cũng ngây thơ, chân chất như con trẻ chẳng đã luôn luôn run r ẩy vì yêu, vì giận, vì hạnh phúc, vì thất vọng đó sao?” [79, tr.90] Bông hoa kia
nhỏ bé, bông hoa trắng xinh tựa chừng như tấm thân trong trắng của Hải Vân năm cô mười sáu tuổi, cánh hoa bị bánh xe nghiền nát như chính cuộc đời cô Tất cả đi qua
để lại trong ông sự hồi tưởng về quãng thời gian xưa, mở đường cho những dòng hồi
tưởng, những kí ức về quá khứ xa xăm Nếu như trong Anna Karenina, Lev Tolstoy
để cho bánh xe tàu hỏa kết thúc sự sống của Anna thì Vương Mông đã để cho bánh
xe cuộc đời cắt ngang sự sống Hải Vân Nàng mỏng manh như cánh hoa, bánh xe lướt nhanh đời nàng
Trang 26Biểu tượng lá trong văn hóa thế giới mang ý nghĩa “hạnh phúc và sự phồn
vinh” [55, tr.503] Lá phong cánh mỏng manh, cuống lá nhỏ và thanh nên rất nhạy
cảm trước gió, hình dáng lá gần giống trái tim nên thường được ví cho tình yêu, nhất
là khi chia ly và mùa thu gợi ra những phai phôi, chiếc lá ấy đọng mãi trong ta bao xúc cảm, bao nghĩ suy Hình ảnh lá phong mang ý nghĩa về hạnh phúc, tình yêu và
những điều tốt đẹp trong cuộc sống Mơ thấy lá phong màu xanh, bạn sẽ có sức khỏe, giàu nghị lực, dễ dàng đạt được những điều mình mong muốn Mơ thấy lá phong màu
đỏ, bạn sẽ gặp người bạn đời lý tưởng, nên duyên chồng vợ và sống hạnh phúc suốt đời Mơ thấy lá phong màu đỏ rực rỡ, bạn sẽ có tình yêu viên mãn, cuộc sống như ý, được chạm tay vào cánh cửa yêu thương và hạnh phúc
Truyện ngắn giành giải thưởng văn học trăm hoa Chiếc lá phong là dòng chảy
ý thức lồng ghép trong câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật “anh” và “chị” ở thời hiện tại mà suy nghĩ về quá khứ thông qua hình tượng chiếc lá phong Anh kể lại câu chuyện giữa anh và chị thật đẹp giữa rừng phong ngập tràn sắc đỏ khi họ cùng lắng
nghe những vần thơ của A Phong: “Anh và chị làm quen với nhau trong một buổi dã ngo ại một ngày thu thời sinh viên Từ bấy đến nay đã qua năm mươi năm Lần đi chơi xa ấy, họ tới Bắc Sơn, một nơi nổi tiếng vì lá phong đỏ thắm” với “Đồng núi mùa thu sao cháy r ực?” [79, tr.217] như lời bài thơ mà họ thích “Khi chia tay, anh
và ch ị trao cho nhau nụ hôn đầu khắc cốt ghi lòng, thật thuần khiết và thật nóng
b ỏng, như mộng và nhất là như thơ của A Phong” [79, tr.218] Khi đó, chị đưa anh
chiếc lá phong như gửi gắm tình yêu của mình:
“Còn lá phong thì có hình trái tim, thay th ế cho trái tim non trẻ của chị
Lá phong sinh mi ền bắc, Thu v ề nảy mấy cành
Th ứ này tương tư lắm, Hãy hái l ấy đi anh!”
[79, tr.218]
Nhưng rồi chị bỏ anh đi không một lí do sau lời hứa hai tuần trở về Câu
chuyện tình yêu thật đẹp, được đặt giữa sắc đỏ thắm của lá phong, chiếc lá có hình
trái tim đong đầy cảm xúc nhưng tiếc thay lại dang dở, không thành “Chuyện ấy có
Trang 27thể tính là tình yêu đầu của anh, mà có lẽ cũng không gọi được là tình yêu đầu Họ chưa từng nói lời nào liên quan đến tình yêu Còn như hôn nhau, có lẽ người ngày nay h ẳn không cho rằng hễ hôn thì nhất định là yêu nhau Thậm chí ký ức về vị dịu
ng ọt của đôi môi cũng theo thời gian năm mươi năm mà phai nhạt, mong manh dần, cuối cùng nhòa hẳn
Nhưng anh vẫn giữ chiếc lá phong đó, thậm chí trong những năm cuồng bạo,
T ập thơ A Phong hoàn toàn bị hủy nhưng chiếc lá phong vẫn bình yên, không hề bị
s ứt mẻ.” [79, tr.219]
Anh và chị cũng đã có tình yêu đẹp khi lá phong nhuốm đỏ bầu trời Mùa thu năm nay, chị trở về thăm gia đình anh, anh và chị vẫn giữ cho nhau kỉ niệm đẹp và hình tượng chiếc lá phong xuyên suốt câu chuyện như làm nền cho tác phẩm Màu lá phong đỏ rực gieo mãi vào lòng người đọc những rung cảm sâu xa Cốt truyện không thật sự rõ nét, chỉ thoáng chốc, mờ nhạt, ấy thế mà gợi trong lòng độc giả bao cảm xúc, bao nghĩ suy
2.1.2 Biểu tượng biến hóa
Người Azteque, Mehico, Hy Lạp – La mã coi con bướm tượng trưng cho linh
hồn người đã chết trú ngụ Sự xoay vòng trong quá trình sinh trưởng thể hiện quá trình sinh, diệt như người dân xứ Kasai quan niệm “Theo họ, con người đi từ sống đến chết theo chu trình của con bướm: thời thơ ấu nó là một con sâu nhỏ, khi trưởng thành là m ột con sâu lớn, khi già là một con nhộng, mồ của nó là cái kén, mà từ đấy linh hồn của nó bay ra dưới dạng một con bướm” [55, tr.113], sự đẻ trứng của chúng
biểu hiện sự hóa kiếp, vì thế phân tâm học nhìn thấy ở đó sự tái sinh Trong Kyto
giáo, con bướm “tượng trưng cho linh hồn đã trút bỏ được cái vỏ xác thịt của mình”
[55, tr.113] Ở Nhật Bản, con bướm tượng trưng cho người phụ nữ bởi vẻ đẹp nhẹ nhàng, mỏng manh của nó, hai con bướm tượng trưng cho hạnh phúc vợ chồng Đối
với người Hoa - Việt, biểu tượng con bướm được nhắc tới như lời chúc trường thọ Ý nghĩa hình tượng con bướm bao hàm sự tái sinh, sự biến hóa từ chính đặc điểm sinh
học của mình
Mộng hồ điệp hay Trang Chu mộng hồ điệp là tên người đời sau đặt cho một
Trang 28đoạn văn ở phần Tề vật luận9
10 trong Nam Hoa Kinh Đoạn văn này rất nổi tiếng, sau trở thành một điển tích thường dùng trong văn chương Trung Quốc và Việt Nam Cuộc đời của Trang Tử gắn liền với giấc mơ bướm huyền thoại, gắn với vô số những
ngụ ngôn sinh động, hấp dẫn Nhật Chiêu cho rằng, “Nam Hoa Kinh là một tác
phẩm giàu tưởng tượng, được viết bằng một lối văn bay bổng Nó triết lý bằng những thần thoại và ngụ ngôn tuôn trào trên các trang sách như những làn sóng đầy biến hóa Nó triết lý bằng bươm bướm, chim bằng, giấc mộng và những cuộc tiêu dao, bằng sọ người và cái bóng” [11, tr.157]
Bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần:
“Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự nhiên thích chí, không còn bi ết Châu Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu Không biết Châu, lúc chiêm bao là bướm hay bướm, lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt
có ph ận định Đó gọi là Vật hóa [33, tr.148]
Giấc mơ Trang Chu hóa bướm chỉ là một biểu tượng Văn học luôn gắn liền với đời sống nhằm phản ánh tâm tư, tình cảm của con người, trong đó, giấc mơ là một trạng thái tâm lí được phản ánh Lịch sử văn học Trung Hoa đã có những câu chuyện về giấc mộng khá nhiều, đặc biệt là hai thể loại chí quái và truyền kì Giấc mơ chứa nhiều ảo giác, nhiều hiện tượng nhưng lại phản ánh sự sống một cách thực tiễn
và sinh động Trong thiên Tề vật luận, trước khi nói đến giấc mộng hóa bướm, Trang
Tử có đoạn viết: “Đương lúc nó chiêm bao, không biết mình chiêm bao, lại đoán coi cái chiêm bao L ại có khi thức lớn rồi mới biết đó là giấc chiêm bao lớn!” [125, tr.43] Hóa thân của bướm phải chăng cũng là hóa thân của con người khi ta phải trải qua bao biến động của đời người vạn hóa
10 Tề vật luận thuộc phần Nội thiên (Nam Hoa kinh gồm ba thiên: Nội thiên, Ngoại thiên, Tạp thiên)
Trang 29Mộng trong văn hóa các nước phương Đông là sự gợi dẫn về những gì đã qua,
mọi thứ chỉ là ảo ảnh như Mộng phù kiều (chương cuối Truyện Genji1
11) ở Nhật Bản,
Cửu vân mộng1
12 (Giấc mơ chín tầng mây) ở Hàn Quốc Cuộc sống giàu sang, vinh hoa tột bậc của anh hùng Dương Thiếu Du (nhân vật trong tác phẩm) cũng chỉ là một giấc mộng ở chín tầng mây, vinh hoa phú quý, tình yêu và tước phẩm đều chỉ như một giấc mộng xuân Bashô nhập vào hồn bướm của Trang Chu trong bài haiku kỳ ảo:
“Em là bướm ư
Ta là giấc mộng Trong hồn Trang Chu”
Không chỉ giấc mộng Trang Chu mà nhiều điển tích viết về giấc mộng trong văn học Trung Quốc có cùng ý nghĩa như giấc Nam Kha kể về giấc mộng của chàng Thuần Vu Phần khi tỉnh dậy thấy cuộc sống vinh hoa biến mất, sau này giấc mộng Nam Kha còn đi vào văn học trung đại Việt Nam:
“Giấc Nam Kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy thấy mình tay không”
(Cung oán ngâm khúc - Đặng Gia Thiều)
“Phú quý bao nhiêu người thế gian
Mơ mơ bằng thuở giấc Hòe An”
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Hay giấc mộng hoàng lương (giấc mộng kê vàng) cũng nói về cuộc đời của
nhân vật Lư Sinh Lư Sinh tỉnh dậy, hỏi: “Có lẽ mình nằm mộng chăng?” Lư ông cười và nói: “Việc đời thì cũng như mộng vậy thôi”
Không chỉ là một thành ngữ thường gặp ở phương Đông, Mộng hồ điệp còn
ảnh hưởng đến nhận thức và gợi nhiều bí ẩn trong một số tác phẩm Tây phương
11 Truy ện Genji là một trường thiên tiểu thuyết của nữ sĩ cung đình Nhật Bản có biệt danh là Murasaki Shikibu
(970?-1014?) s ống dưới trướng của thứ phi Akiko trong cung Fujitsubo, triều đại Thiên hoàng Nhất Điều (986-1011) Truy ện được sáng tác vào kho ảng những năm 1010 thời đại Heian bằng chữ viết kana Tác phẩm gồm 54 chương hồi, Mộng phù
kiều là chương cuối của tác phẩm
12 Ti ểu thuyết cổ điển Hàn Quốc do Kim – Man – Chung (Kim Vạn Trọng 1637-1692) sáng tác.
Trang 30Jorge Luis Borges1
13 rất quan tâm đến câu chuyện giấc mơ về bướm của Trang Chu
Trong tiểu luận Sự phản chứng mới của thời gian, ông chọn thời khắc Trang Chu
hóa bướm để triết lý: “Ở bên ngoài mỗi tri giác (hiện tại hay giả thuyết) không tồn tại vật chất; thời gian cũng sẽ không tồn tại ở bên ngoài mỗi khoảnh khắc hiện tại Chúng ta hãy chọn một khoảnh khắc đơn giản nhất: ví dụ, khoảnh khắc của giấc mơ của Trang Châu […] Trang Châu mơ thấy mình là một con bướm và trong giấc mơ
ấy ông không là Trang Châu mà là một con bướm Nếu không gian và cái tôi đã bị xóa bỏ thì làm sao chúng ta có thể gắn liền những khoảnh khắc ấy với khoảnh khắc của việc tỉnh dậy với thời đại Trung Hoa” [28, tr.479-481] Nhận thức về thời gian
của Borger phần nào được gợi ý từ tích Trang Chu và người ta còn nhắc đến Borger
với tác phẩm Phế tích vòng tròn mà sau này Nhật Chiêu có bài nghiên cứu: “Giấc
mơ của bướm Trang Tử và Borges”1
14
Ta cũng có thể thấy được sự ảnh hưởng của tích Trang Chu hóa bướm trong vở
Bão tố (The Tempest) của Shakespeare:
“Ta và gi ấc mộng Làm b ằng chất liệu như nhau,
Và cu ộc đời ta nhỏ bé Hoàn t ất bằng một giấc ngủ thôi”1
15
Cũng như nhận thức của người Trung Hoa, Shakespeare cho rằng cuộc đời đầy
“bão t ố” chỉ gói gọn “bằng một giấc ngủ thôi”, nghĩa là cuộc đời này như một giấc
mộng lớn mà con người phải trải qua
Tóm lại, nhắc tới Mộng hồ điệp người ta thường ví cuộc đời như mộng ảo,
đang vinh hoa phú quý thoáng chốc trở thành hư vô, cuộc đời vạn biến khó lường
13 Jorge Francisco Isidoro Luis Borges (24.8.1899– 14.6.1986) người Argentina, là một trong những nhà văn lớn và có ảnh hưởng nhất thế giới của thế kỷ XX Ông được coi là cha đẻ của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh, người có tri th ức uyên bác từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, các tác phẩm của ông có ảnh hưởng đến nhiều nhà văn sau này
14 Nhật Chiêu (24/2/2009), “Giấc mơ của bướm Trang Tử và Borges”, Tạp chí Văn hóa học
(http://www.vanhoahoc.edu.vn/diendan/viewtopic.php?f=37&t=1319)
15
We are such stuff
As dreams are made on,
And our little life
Is rounded with a sleep
Trang 31Tích Trang Chu hóa bướm cũng như những nội dung cơ bản của triết học Lão Trang
thức tỉnh con người về mộng phú quý công danh Điều đặc biệt, cuộc đời vạn biến ấy
lại có phần giống số phận lên thác xuống ghềnh của chính tác giả
H ồ điệp là bản tự thuật của Vương Mông, là bản tổng kết kinh nghiệm mà ông
trải qua Cuộc đời nhà văn lúc thăng lúc trầm, lúc đẩy lên cao rồi lại bị quy là phái
hữu, bị đưa đi biên cương xa xôi rồi lại được thăng quan tiến chức cũng như hình tượng con bướm trong giấc mộng Trang Chu, biến hóa khôn lường Cuộc đời con người là những chuỗi ngày tháng có vinh có họa, có thuận lợi có đắng cay Tục ngữ Trung quốc có câu “Người không trăm ngày tốt, hoa chẳng nghìn ngày hồng”, Phật
giáo day rằng vạn vật đều có sinh, trú, hoại, diệt hoặc sinh, lão, bệnh, trời có mây gió
bất thường, người có họa phúc trong một sớm một chiều1
16 Hạnh phúc, khổ đau cứ xoay vần với nhau, cuộc đời của Trương Tư Viễn trong Hồ điệp là minh chứng cho
những thăng trầm, sóng gió mà ông đã trải qua
Trương Tư Viễn là nhà hoạt động Cách mạng luôn trung thành với lý tưởng
của Đảng cộng sản, trong thời kì hòa bình thống nhất ông vẫn luôn đóng góp sức mình cho đất nước Năm ba mươi tuổi, Trương Tư Viễn lập gia đình với Hải Vân - cô
nữ sinh làm Chủ tịch Hội học sinh
Hai người có với nhau một đứa con, không may đứa trẻ mất sớm do bị sốt quá cao Trương Tư Viễn không về nhà kịp gặp đứa con của mình Từ đó, tình cảm hai người bắt đầu có sự rạn nứt Hải Vân đau khổ, để có thể nguôi ngoai nỗi nhớ con, cô xin đi học khoa văn học nước ngoài tại một trường đại học ở Thượng Hải và có quan
hệ với người bạn trai cùng lớp Hải Vân sau khi nghe Trương Tư Viễn biết chuyện đã khóc lóc, hứa sẽ cắt đứt với người bạn trai kia
Một năm sau, trong cuộc đấu tranh chống phái hữu, Hải Vân bị lôi ra vì quan điểm ủng hộ những tác phẩm chống Đảng Một tháng sau, Hải Vân đề nghị li hôn và không bao lâu kết hôn với người bạn trai cùng lớp Ngay sau khi ông và Hải Vân chia tay, Mỹ Lan đến vì mục đích tư lợi, “kiên quyết đến lấp chỗ trống do Hải Vân để lại như tất cả đã được định sẵn” Nhưng chính bản thân Trương Tư Viễn cũng cảm thấy
16 “Thiên h ữu bất trắc phong vân, nhân hữu đán tịch họa phúc”
Trang 32“cuộc sống của mình tuân theo cách sắp đặt của Mỹ Lan, có khi thậm chí còn bị cô
ta x ỏ mũi”
Sau khi Hải Vân bị quy là phái hữu, Trương Tư Viễn bị quy là phần tử “tam
phản”, là “Hắc bang” bị xã hội, Đảng và nhân dân “vứt bỏ”, Mỹ Lan lúc này cũng đã
“chính thức dán tờ thanh minh tạo phản, vạch giới hạn triệt để đối với ông”, đệ đơn
ly hôn cũng như gom hết tài sản về phía mình Đông Đông vì hiểu lầm mà tát cha ba cái khiến ông bất tỉnh, Hải Vân thắt cổ tự tử, Trương Tư Viễn bị cách chức, ông lên đường đến bản làng xa xôi nơi con trai làm việc
Chính tại bản làng này, Trương Tư Viễn sống cuộc đời “bác Trương” giữa tình thương của dân làng trong sáu năm trời Một lần ông đọc nhật kí của con ghi lại
những cảm xúc bất cần, hai cha con giận nhau, Trương Tư Viễn bỏ ra ngoài trong lúc
trời mưa, ông bị cảm nặng và ngất xỉu Nhờ bác sĩ Thu Văn cứu giúp, ông dần dần bình phục và dần có cảm tình với nữ bác sĩ
Một hôm, Trương Tư Viễn nhận được quyết định được phục chức, được trở về thành phố và được đón tiếp long trọng Sau khi đập tan “Bè lũ bốn tên”, Trương Tư
Viễn được thăng lên chức Thứ trưởng Từ khi được phục chức, những người bạn trước kia xa lánh nay quay lại đón tiếp ông, Mỹ Lan cũng liên lạc với ông nhưng ông
nhất quyết chối từ, không chấp nhận Sau khi thu xếp công việc ở cơ quan, Trương
Tư Viễn trở về bản làng với tư cách là bác Trương, không xe hơi, không thư kí, không báo trước với lãnh đạo địa phương Ông trở về bản làng với tư cách là bác Trương của sáu năm về trước, được dân làng đón tiếp trong niềm yêu mến, đối với ông đó là niềm hạnh phúc vô bờ
Đông Đông không cùng bố về thành phố vì muốn tự lập Thu Văn cũng không theo ông về dù ông đã ngỏ lời muốn lập gia đình với chị Ông hiểu và tôn trọng quyết
định của chị vì “như thế họ có thể dũng cảm hơn trên đường đi của mỗi người” Ông
trở về thành phố, tiếp tục công việc của mình, dồn sức vào việc phục vụ Đảng, phục
vụ Đất nước, phục vụ nhân dân
Như vậy, cả cuộc đời Trương Tư Viễn gói gọn trong khoảng gần hai trăm trang sách nhưng đã dựng lên bao giấc mộng đời người, trải qua những sóng gió, thăng
trầm của cuộc sống Như một ví dụ về cuộc đời đầy gian nan mà con người phải trải
Trang 33qua, Vương Mông viết: “Đời người như một con thuyền, thế giới như biển cả Tự thân con người như là tay lái điều khiển con thuyền, sự nghiêng ngả của lịch sử và sự
l ựa chọn của thời đại chẳng khác gì nước thay đổi dòng và gió lúc lớn lúc nhỏ” [82,
tr.15] H ồ điệp của Vương Mông đã vẽ nên con thuyền cuộc đời của Trương Tư
Viễn, nổi trôi giữa dòng đời gian nan trước khi cập bến bờ bình yên và hạnh phúc
Tác phẩm được viết năm 1980, một năm sau khi nhà văn được “trắng án” với
tội danh phần tử phái hữu, phải đưa gia đình lên Tân Cương mười sáu năm trời Vì
thế, những tâm nguyện, những chiêm nghiệm về lẽ sống, về chuyện được mất ta đều
có thể tìm thấy trong tác phẩm Đó chính là nét đẹp trong Hồ điệp, bởi thế ngay khi
vừa ra đời, tác phẩm nhận được nhiều lời khen và giành giải thưởng truyện vừa toàn
quốc Thấp thoáng đâu đây, ta vẫn thấy hiện thực cuộc sống giai đoạn những năm
1960 trở về sau, thời kì với bao biến động xã hội Sáng tác của Vương Mông xoay quanh đề tài số phận người trí thức, những nhân vật có lương tri, có nhiệt huyết nhưng bị bi kịch lịch sử vùi dập, những con người phải tự chôn vùi vẻ đẹp tâm hồn để thích ứng với hoàn cảnh khắc nghiệt… Nhân vật của ông, dù là Lâm Chấn “người trẻ
tu ổi mới về phòng tổ chức”, Trương Tư Viễn “ông quan lận đận” hay bà phu nhân
thứ trưởng Trịnh Mai Linh, ngài hiệu trưởng Lộc Trường Tư, đôi bạn trẻ Giai Nguyên và Tố Tố,… vẫn luôn giữ lại cho mình phẩm chất cao quý dù cuộc sống khiến họ gặp không ít gian nan
Con r ối là những hình người cỡ nhỏ làm bằng vải, gỗ cử động được do nghệ sĩ
dùng dây hay tay điều khiển Người xưa ở Ai Cập, Hy Lạp, Nhật Bản, Trung Quốc thường dùng chúng trong các vở kịch, chúng sắm các vai đủ loại người nhằm thể hiện
nội dung tư tưởng mà người diễn muốn gửi tới độc giả, đó có thể là hình dạng khôi hài, ngu ngốc hay chế nhạo Con rối mang ý nghĩa quan trọng vì “nó đã biết diễn đạt cái mà không ai dám nói lên n ếu không đeo mặt nạ: nó là đối tượng của các ham mê
th ầm kín và các ý nghĩ được che giấu, nó là lời thổ lộ kín đáo với người khác về bản thân và là lời tự thú với bản thân” [55, tr.207]
Bản thân con rối không tự cử động mà do người khác giật dây, con rối cử động
theo động tác mà người ta điều khiển nó Vì vậy, ý nghĩa hình tượng “con rối tượng trưng cho con người không có bản lĩnh, không cưỡng được bất cứ xung động nào từ
Trang 34bên ngoài: con người nhẹ dạ, phù phiếm, không có cá tính và vô nguyên tắc” [55,
tr.207] Trong đoạn văn phúng dụ về cái hang, Platon ví cuộc đời là kịch trường, con người là con rối trong kịch trường đó
Năm 1987, Vương Mông cho ra đời tiểu thuyết Hoạt động biến nhân hình1
17
đánh dấu một bước tiến mới trong việc miêu tả thế giới tinh thần nhân vật, được độc
giả tôn vinh là “đỉnh núi cao trong sáng tác tiểu thuyết đương đại” [115, tr.376] Tác
phẩm phản ánh bi kịch lịch sử những con người trong bối cảnh thời đại đang có sự va
chạm giữa hai nền văn hóa Đông Tây Nhân vật chính Nghê Ngô Thành là điển hình nghệ thuật, sống như con rối giữa dòng đời lịch sử đổi thay Nghê Ngô Thành xuất thân trong gia đình địa chủ, từng du học ở phương Tây, hiểu được thế giới văn minh khiến ông mâu thuẫn với chế độ phong kiến ở gia đình “Tại sao anh ta đã phải sống trong nh ững tháng năm như thế, ở những nơi như thế, mà lại vừa không thể chống
Nh ật, mà không dám mà cũng không chịu phục bọn Nhật Vừa không dám mà cũng không th ể ly hôn, vừa không cam tâm yên phận sống với Tịnh Nghi, đã không thể rời
kh ỏi Trung Quốc, không thể thoát ly tất cả những tập tục xấu của người nhà quê Trung Qu ốc, lại không thể cam tâm tình nguyện làm một người Trung Quốc đúng
ch ất Trung Quốc nhất” [80, tr.113] Thế giới tinh thần của Nghê Ngô Thành đầy mâu
thuẫn dẫn đến tâm hồn bị giằng xé, biến hình như con rối thay hình đổi dạng “Đấy là điển hình của con người vô dụng mang nặng tội lỗi của gia đình địa chủ và sự sa đọa
c ủa lịch sử, quốc gia và quê hương” [115, tr.377]
Tịnh Trân, chị vợ của Nghê Ngô Thành cũng là một hình tượng nghệ thuật khá thành công, mười tám tuổi lấy chồng, mười chín tuổi tuổi góa chồng, sống trong truyền thống nền văn hóa phong kiến Cô quyết thủ tiết thờ chồng nhưng có “một sức
m ạnh thần bí” (tính người) đang cùng “một sức mạnh không sao hiểu được” (đạo
đức luân lí phong kiến) vật lộn trong lòng Điều đáng buồn, Tịnh Trân vẫn đứng về phía ý thức phong kiến để giày vò tâm hồn Cô không những nguyền rủa Nghê Ngô Thành khuyên mình cải giá là đồ “cầm thú”, là “thằng điên”, là “mất hết nhân tính”
mà hằng ngày đứng trước gương soi còn chửi bới “sức mạnh thần bí” làm cho con
tim hồi hộp Nhà phê bình Lưu Tái Phục cho rằng “Có thể coi tiểu thuyết trường
17 Ph ụ lục 2
Trang 35thiên này là tấm gương phản chiếu tâm lí văn hóa lịch sử Trung Hoa, nó phán xét
m ột cách rất lạnh lùng mặt đen tối khó thay đổi trong kết cấu tầng sâu của văn hóa
l ịch sử Trung Hoa Và tâm lí văn hóa này chính là cơ sở văn hóa tạo nên sự động
lo ạn suốt 10 năm” [115, tr.377-378] Dù tác phẩm chủ yếu khắc họa bi kịch một gia
đình trước ngày giải phóng, nhưng đối với việc xây dựng văn minh tinh thần xã hội
chủ nghĩa và sự giải phóng toàn diện con người, tác phẩm có giá trị gợi mở rất lớn
Cuộc đời Nghê Ngô Thành bị cuộc đời giật dây mà không biết, ông luôn hướng
tới nền văn minh phương Tây, luôn khao khát thành tựu khoa học nước ngoài, muốn
tạo điều kiện tốt nhất cho hai con nhưng lại bị nỗi lo cơm áo “ghì sát đất” Những
giằng xé trong tâm hồn Nghê Ngô Thành thật đáng thương giữa dòng đời đổi thay,
giữa lịch sử biến động Dù thời nào thì cuộc đời vẫn là một sân khấu rối nên Balzac
mới viết Tấn trò đời, Thackeray mới nổi tiếng với Hội chợ phù hoa Ngày xưa con
rối muốn làm người, ngày nay con người lại hóa làm con rối, cuộc sống bỗng chốc
trở thành kẻ giật dây điều khiển Đừng để chúng ta chịu lời nguyền cuộc sống mà mang kiếp con rối đến cuối đời
T ừ điển biểu tượng văn hóa Thế giới đã trích lời Germain Dieterlen quan
điểm của người Châu Phi về ý nghĩa hình tượng con cáo: “Độc lập mà tự mãn, hoạt
bát, mưu trí đồng thời lại phá phách, táo tợn nhưng lại nhát gan, không biết ngơi ngh ỉ, ranh mãnh nhưng lại ung dung, con cáo hiện thân cho những mâu thuẫn gắn
li ền với bản chất con người” [55, tr.129] Hình tượng con cáo xuất hiện nhiều trong
kho thần thoại, truyền thuyết ở khắp các dân tộc trên thế giới mà “khởi nguyên nó chính là chân dung c ủa con cáo ở trong mỗi chúng ta, mà cái tính hai mặt của nó ta đều biết” [55, tr.129]
Ở Nhật Bản, con cáo biểu tượng cho phồn thực, bạn của thần Inari, thần sung túc, giàu có, bảo hộ cho thức ăn, trồng trọt Sở dĩ con cáo mang ý nghĩa phồn thực vì
“s ức sống mãnh liệt” và “sức mạnh của những dục vọng của nó” Thương gia Nhật
thường lập bàn thờ con cáo để mong nhận được sự phù hộ Lối vào đền thờ thần Inari thường có những cặp cáo đối mặt: một con ngậm chìa khóa những kho thóc, con khác
ngậm quả cầu biểu thị cho thần thức ăn, do vậy được gọi tên là Inari để phân biệt với
những con cáo dữ Kitsune khi nó gây rối loạn thần kinh hay bị quỷ ám
Trang 36Ở Trung Quốc đời Chu, Van Gulit ghi chú: “người ta cho rằng loài cáo có một lượng sinh lực rất lớn, bởi vì chúng sống trong lỗ và vì thế chúng gần gũi với những
s ức mạnh sinh sản của đất Và người ta cũng gán cho cáo một năng lực trường thọ
l ớn” [55, tr.129] Vì thế, biểu tượng con cáo mang ý nghĩa trường sinh Trong truyền
thuyết Trung Quốc, hồ ly là tên gọi của cáo đã tu luyện thành tinh Hồ ly có thể tu hành luyện đạo, tu một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là Yêu hồ, tu
luyện đến một ngàn năm thì chuyển sang Lục vĩ ma hồ (Cáo ma sáu đuôi), khi đến được cảnh giới là chín đuôi Cửu vĩ thiên hồ Mỗi chiếc đuôi là một mạng của hồ ly,
hồ ly con được sinh ra do hồ ly mẹ uống thuốc tiên ngàn năm Hồ ly rất sợ số 7 nhưng rất ưa số 8 (quan niệm của người Trung Quốc là “phát”) Hồ ly cái khi hoá thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kì lạ, thường sử
dụng ưu điểm để hớp hồn đàn ông và thực hiện mục đích của mình Hồ ly thường
sống trong các hang động lạnh, mỗi khi ra khỏi hang động đều thay đổi hình dạng, khi chết mới trở lại y nguyên hình dạng của một con cáo Người Trung Hoa cho rằng
“nó là con v ật duy nhất chào mặt trời mọc: nó gấp hai chân sau, duỗi hai chân trước
ra, khép l ại và vái lạy Nếu nó làm như thế trong nhiều năm, nó có khả năng hóa thân
và s ống giữa loài người mà không làm cho người ta để ý đến mình: nó là hình ảnh con người trong gương, chừng nào dưới mặt trời này còn có những người - cáo” [55, tr.130]
Kho thần thoại, truyền kì, chí quái Trung Quốc không thiếu những nhân vật người – cáo Nàng cáo Đát Kỷ với dung mạo xinh đẹp bao lần khiến Trụ Vương mê
mệt mà mất nước, đó là thế giới làm nên Liêu trai chí dị đầy sắc màu với chuyện tình
người–cáo Trong thế giới của Bồ Tùng Linh, có những con cáo xấu hại người nhưng cũng có cáo tốt giúp người Sức hút của hình tượng này được các nhà làm phim Trung Hoa dựng nên các nhân vật trong Tôn Ngộ Không, Họa Bì Trước khi nghệ
thuật điện ảnh ra đời, nhân vật Đát Kỷ đã được đưa vào các bộ môn nghệ thuật múa
rối hoặc sân khấu Trung Quốc
Trong tiểu thuyết Cáo xanh1
18
, với nhân vật Thanh Hồ, Vương Mông quay trở
về truyền thống, sử dụng ảo hóa như thủ pháp đắc dụng làm nổi bật hình tượng nghệ
18 Ph ụ lục 1
Trang 37thuật Nhà văn đã khắc họa nhân vật Lư Sảnh Cô với bao đặc tính của loài cáo, cũng tinh ranh, kì lạ nhưng không kém phần bí hiểm Lư Sảnh Cô là người con gái có khát
vọng tự do, khát vọng tình yêu nhưng đường tình duyên trắc trở Cô sống thời tuổi trẻ trong sự ghẻ lạnh của mọi người và giữa những lời đồn thổi vì hình dáng bề ngoài như con cáo Những ngày giải phóng tư tưởng, Thanh Hồ viết truyện ngắn và trở nên
nổi tiếng, trở thành ngôi sao mới về văn học nhưng cuộc sống cá nhân thì vẫn lận đận Khi đạt đến đỉnh cao, cô từ bỏ vì nhận thấy tình yêu đích thực không thể với tới Qua rèn luyện khí công, Sảnh Cô cuối cùng trở thành Thanh Hồ - con cáo xanh khiến câu chuyện thêm li kì, hấp dẫn Mối quan hệ giữa con người và xã hội đan xen nhau khiến câu chuyện mang trong mình nét mới mẻ của thời đại
M ắt là cơ quan thị giác, là biểu tượng của tri giác, trí tuệ Trong Upanishad,
con mắt đồng nhất với hai ngọn đèn, một là mặt trời (mắt bên phải) và hai là mặt trăng (mắt bên trái) Ở Ấn Độ, con mắt thứ ba trên trán thần Shiva tượng trưng cho
lửa, cho sức mạnh hủy diệt “Đó là con mắt của đức hiền minh hay là con mắt của luân pháp (Dharma – chakus) trong Ph ật giáo” [55, tr.569] Ở các nước đạo Hồi, Ai
Cập, Bắc Âu, biểu tượng mắt bao hàm những ý nghĩa phong phú mang tính chất tôn giáo sâu sắc Ở Ấn Độ có lễ mở mắt cho các pho tượng thần thánh để chúng có sinh khí Ở Việt Nam, người ta khai sáng cho chiếc thuyền bằng cách vẽ hay chạm trổ hai con mắt ở mũi thuyền
Trong tác phẩm Mắt đêm, toàn bộ câu chuyện là cách nhìn của Trần Cảo đối
với cuộc sống ở tỉnh, những tòa nhà, những cô gái đi giày cao gót, những công trình khiến anh như lạc vào mê cung, anh cảm thấy ngỡ ngàng sau hơn hai mươi năm chưa
đặt chân đến thành phố Hai mươi năm trước, “anh viết một số tác phẩm mà người ta cho là quá đáng nhưng bây giờ những truyện đó lại coi là quá hiền lành Thế là vì những truyện đó mà anh phải đi lưu đày trong một thời gian dài, thật là một trò chơi nguy hiểm” [71, tr.177] Anh đến thành phố để tham gia hội thảo về sáng tác truyện ngắn và kịch bản, đồng thời “tìm một đồng chí lãnh đạo có chức có quyền, là bạn chiến đấu của thủ trưởng mình, một người có quyền cao chức trọng được mọi người kính nể ở địa phương để giúp sửa chữa một cái ô tô bé nhỏ” [71, tr.178] Thế nhưng
đáp lại là con trai người cần gặp tỏ ý khinh miệt, đòi hỏi vật chất để giúp đỡ mặc dù
Trang 38cha cậu và thủ trưởng của Trần Cảo có quan hệ thân tình Khi hắn ta hỏi có quà biếu
gì, Trần Cảo nói có đùi cừu ướp thì hắn tỏ ý chê cười: “Đùi cừu ướp không được [ ] phải nói thật là phải biết lừa bịp… Hà tất phải nhờ cậy ba tôi Nếu có quà biếu xén
và giao việc ấy cho người miệng lưỡi dẻo quẹo thì có nhân danh bất cứ ai cũng thành công tất” [71, tr.184] Sự thay đổi về nếp sống sinh hoạt, lối sống cầu cạnh khiến
Trần Cảo như rơi vào vòng xoáy, đem đến cho anh những nhận thức mới thật lạ lẫm
Biểu tượng mắt đêm chính là sự nhận thức quá trình hiện đại quá nhanh khiến cuộc sống không chỉ thay đổi bởi những bê tông, sắt thép, những công trình, những tòa nhà, những đèn đường sáng lóa mà quan trọng hơn cả là con người bị thoái hóa về
nhân cách M ắt đêm không tập trung thể hiện tư tưởng chủ yếu, càng không có những
lời rao giảng trống rỗng nhưng cái không khí náo nhiệt của cuộc sống ban đêm nơi thành phố lại có sức hấp dẫn độc giả
2.1.3 Biểu tượng hy vọng
Ý nghĩa phổ quát nhất của cây cầu là sự quá độ trạng thái, “từ mặt đất lên trời,
t ừ trạng thái con người lên trạng thái siêu nhân, từ trạng thái phù du sang trạng thái bất tử, từ thế giới của cảm tính qua thế giới siêu cảm tính” [55, tr.137] Cây cầu bắc
từ trời như thần Zeus là cái cầu nhỏ nối liền hai thế giới đưa nàng Iris xinh đẹp, là con đường dẫn vào đền Shinto như dẫn vào chốn linh thiêng mà đi qua chúng gắn liền với nghi thức tẩy uế Cây cầu là thử thách mà chàng hiệp sĩ Lancelot trong huyền thoại Đông Âu phải vượt qua; là thước đo nhân cách trong truyền thuyết Iran, với người chính trực cây cầu trở nên rộng rãi, với kẻ vô đạo thì nhỏ hẹp như lưỡi dao, có khi
biến thành dây leo; là quá trình “thụ pháp” của con người, vượt qua trắc trở để đến sự
nhận thức Ngay cả danh hiệu của hoàng đế La Mã là Pontifex (nay là danh hiệu Giáo hoàng) nghĩa là người bắc cầu, người trung gian giữa thế giới trần tục và thiên đàng,
hướng dẫn con người vươn tới trạng thái cao hơn Cây cầu “là lối đi qua và là nơi
th ử thách [ ] tượng trưng cho bước quá độ giữa hai trạng thái nội tâm, giữa hai điều ước muốn mâu thuẫn nhau: cây cầu có thể chỉ ra lối thoát từ một tình huống xung đột” [55, tr.138] Bên cạnh đó, ý nghĩa của cây cầu có thể dẫn con người đến
chốn hiểm nguy khi “cây cầu đặt con người vào một lối hẹp, không sao tránh nổi sự
Trang 39lựa chọn Và sự lựa chọn đó sẽ cứu thoát hoặc đẩy con người xuống vực thẳm” [55,
tr.138]
Trong Sáu cây c ầu trên đê mùa xuân, hình ảnh cây cầu là sự bắt nguồn từ quá
khứ tới hiện tại và tương lai Biểu tượng cây cầu là nơi để các nhân vật gửi gắm, suy ngẫm cuộc đời Lộc Trường Tư và Trịnh Mai Linh vô tình gặp nhau khi đi chuyến bay cuối của ngày Tuổi xế chiều hai người gặp nhau tâm sự về tháng ngày đã qua, họ cùng nhau đi qua sáu cây cầu, bao buồn vui, bao được mất, bao thăng trầm, bao đắng cay dần hiện lên rõ nét
Cây cầu thứ nhất là cầu sắt Xuân Thủy Dù được làm từ bê tông cốt sắt loại
xấu nhưng mang không khí cổ, xung quanh cầu cảnh vật tĩnh tặng với rặng liễu, hoa
đỗ quyên, nước cầu trong xanh nhưng giờ đây đã thay đổi nhiều do du khách đến càng đông Trên cây cầu đó, Trịnh Mai Linh nghĩ về cuộc “đại cách mạng”, Lộc Trường Tư nghĩ về buổi ngâm thơ, nghĩ về vợ của mình, nghĩ về cuộc hôn nhân của Trịnh Mai Linh khi lấy người chồng hơn bà mười bảy tuổi và những sóng gió của gia đình bà
Cây cầu thứ hai là cầu đá Lãm Nguyệt “lên đến cầu thì tầm mắt không hề bị
ngăn trở, có thể thả sức tha hồ ngắm sắc hồ và sắc núi Bạn sẽ nhìn thấy một vùng sáng như trăng và lấp lánh, đó là hình thể của không khí ở giữa sương mù và ánh sáng Không khí đó không hề hư ảo mà tràn trề sắc xuân, thai nghén một năng lượng chuẩn bị bột phát, một linh hồn hỗn độn – bạn không biết tinh linh ấy là cát hay hung, họa hay phúc” [79, tr.244] “Bước lên cây cầu này, Lộc Trường Tư lập tức nghĩ tới cuộc sống của mình sau khi thôi giữ chức hiệu trưởng” [79, tr.245], ông nghĩ
tới Tiểu Chu – loại người thủ đoạn muốn lên chức hiệu trưởng thay ông, ông cảm thấy hối hận vì đề bạt Tiểu Chu làm trợ lý cho hiệu trưởng Còn Trịnh Mai Linh lại nghĩ đến chồng, về được mất trong cuộc đời mình Tiếng sao đâu đó vọng lại, hai người nghĩ về quá khứ
Cây cầu thứ ba là cầu gỗ Thính Hà, “trên cầu có đình mái lợp bằng cỏ mao,
làm giả cổ và giả dân gian” [79, tr.255], “Ông cảm thấy cái thật và giả của mùa xuân đều thú vị” [79, tr.259], bên trong có bến đậu du thuyền Ông muốn tâm sự thật
nhiều với Trịnh Mai Linh vì từ ngày vợ mất, ông không có ai để chuyện trò, con trai
Trang 40không hiểu ông Ông cảm thấy mình ở một thế hệ khác, không thuộc giới trẻ như con Hai người bàn chuyện chính trị với nhau, về những vần thơ mà Trịnh Mai Linh làm
Họ thong thả bước đi mà suy nghĩ về chuyện đời
Cây cầu thứ tư là Thác Ngọc do hai thân cầu ghép lại với nhau Lúc này, Trịnh
Mai Linh đã đọc hẳn bài thơ của mình khiến Lộc Trường Tư xúc động lắm: “Ông đã sống và đã để lỡ mất bao nhiêu cuộc sống khác” [79, tr.269] “Lòng ông chấn động như sóng, tim ông run mãi không thôi” [79, tr.271] Rồi ông lại phát bực vì chuyện
Tiểu Chu Hai người trò chuyện đến khi có vụ hít và bán ma túy
Cây cầu thứ năm và thứ sáu là Tri Ngư và Vọng Mai “Đi tới hai cây cầu cuối cùng này, Lộc Trường Tư không có điều gì lo ngại nữa” [79, tr.275] Phía ngoài cầu
Tri Ngư là công viên Tri Ngư, họ vừa xem cá vừa nghĩ tới Trang Tử, họ vào lán uống
trà và ăn bánh điểm tâm Sau đó, hai người đến mấy cây cầu gỗ sơn đỏ, đi lòng vòng mua đồ lưu niệm rồi họ đến một cây cầu nhỏ mà đầu cầu là một rừng mai
Vậy là họ đi hết sáu cây cầu với bao hoài niệm, Trịnh Mai Linh cảm thấy hạnh
phúc vì trước đây bà từng làm thơ: “Em mơ thấy cùng anh đi hết cây cầu mùa xuân [ ] chúng ta cùng đi trên cây cầu mùa xuân, chỉ một lần mà đi khắp sáu cây cầu để hồi tưởng lại đời người trong mấy kiếp! Tôi đã sống mấy kiếp rồi, sống trong xã hội
cũ và xã hội mới, sống thời trước và sau “cách mạng văn hóa”, sống thời chiến tranh
và thời hòa bình, lại còn sống thời làm vợ và thời đưa tang chồng nữa chứ Người ta
có được bao nhiêu mùa xuân? Đời người được qua bao nhiêu lần cầu? Tôi không còn nuối tiếc gì nữa” [79, tr.283] Một tháng sau ông thôi giữ chức hiệu trưởng, Tiểu
Chu lên thay với giọng điệu giả dối trong bài phát biểu nhưng khoảng tháng sau thì bị đưa đi học tập vì sai phạm Qua đi hai tháng, ông nhận được tin về cái chết của Mai Linh, bà bị bệnh máu trắng, trước khi đi vẫn còn nhờ con trai chuyền lời đến ông, bà
ra đi không hối tiếc điều gì Ông “đứt từng khúc ruột, khóc không thành tiếng” [79,
tr.289]
Theo Vương Mông, phong cảnh Giang Nam đã gợi hứng cho ông viết nên
thiên truyện diễm tình này Kết cấu tác phẩm xen kẽ: “Hư và thực, sáng và tối, giản
dị và phồn, tuyến này với tuyến kia và hai tuyến khác, có lẽ bản thân hình thức ấy cũng chính là một mặt của sức đẩy từ bên trong để hoàn thiện truyện này” [79,