Thời kỳ những năm 1980 Xung quanh tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành với các ý kiến của Ngô Thảo, Nguyễn Thị Minh Thái, Huỳnh Như Phương: - Ngô Thảo chú ý đến các nhân vậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HỮU HƯNG
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HỮU HƯNG
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG SÁNG TÁC
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Hữu Hưng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : NHÌN LẠI HÌNH TƯỢNG NÔNG DÂN TRONG VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRƯỚC NGUYỄN MINH CHÂU 11
1.1.Hình tượng người nông dân trong văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám 11
1.1.1 Trong văn học trung đại 11
1.1.2 Trong văn học giai đoạn 1930-1945 13
1.1.2.1 Trong văn học lãng mạn 13
1.1.2.2 Người nông dân trong văn học hiện thực 18
1.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi 1945 – 1975 24
1.2.1 Người nông dân trong sản xuất 24
1.2.2 Người nông dân trong chiến đấu 27
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NÔNG DÂN TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU NHÌN TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI 33
2.1 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu về cuộc sống và con người 33 2.1.1 Trước năm 1975 33
2.1.2 Sau năm 1975 36
2.2 Những nét nổi bật của hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 40
2.2.1 Hình tượng người nông dân trong cái nhìn đa chiều của nhà văn 40
2.2.1.1 Người nông dân mặc áo lính 40
2.2.1.2 Người phụ nữ nông dân 42
2.2.2 Hình tượng người nông dân trước xu thế đô thị hóa 51
2.2.3 Người nông dân với “Triết lý lão Khúng” 55
2.2.3.1 Thân phận người nông dân với “hoang vu” và “bóng tối” 56
Trang 52.2.3.2 Tính cách người nông dân từ góc nhìn văn hóa ứng xử với một môi
trường tự nhiên 59
2.2.3.3 Người nông dân với vẻ đẹp truyền thống từ góc nhìn văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình – gia tộc, làng – nước 67
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 71
3.1 Nghệ thuật cấu trúc tác phẩm 71
3.1.1 Cách tạo dựng các tình huống 71
3.1.1.1 Dạng tình huống tự nhận thức 73
3.1.1.2 Dạng tình huống tương phản 75
3.1.1.3 Dạng tình huống thắt nút 76
3.1.2 Cách lồng ghép cốt truyện 80
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 83
3.2.1 Miêu tả ngoại hình 84
3.2.2 Khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật bằng độc thoại nội tâm 88
3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 94
3.3.1 Ngôn ngữ trần thuật đa thanh 94
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm 100
3.3.3 Giọng điệu 103
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Minh Châu (1930-1989) so với những nhà văn cùng thế hệ, ông đến với văn học có chậm hơn, nhưng trong nền văn xuôi những năm chống Mỹ cứu nước ông đã có những tác phẩm vươn tới đỉnh cao, và trong sự nghiệp đổi mới của văn học nước nhà khi bước vào những năm tám
mươi, ông cũng chính là nhà văn “tinh anh và tài năng nhất” (Nguyên Ngọc) Nhà văn Nguyễn Khải cũng khẳng định: “Mãi mãi nền văn học kháng chiến,
cách mạng sẽ ghi nhớ những cống hiến to lớn của anh Châu Anh là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này Anh Châu là bất tử”[26, 508]
1.2 Sáng tác Nguyễn Minh Châu luôn luôn gây sự chú ý và hấp dẫn đối với bạn đọc nói chung và đối với giới phê bình nói riêng Chỉ nói
riêng trong khoảng 5 năm , với Cửa sông (1967) và Dấu chân người lính
(1972) đã có trên 17 bài phê bình đăng trên các báo và tạp chí trung ương Sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn được tiếp tục nghiên cứu ở nhiều chuyên luận, công trình nghiên cứu văn xuôi hiện đại, nhiều bài báo,luận án, luận văn tốt nghiệp của sinh viên bậc đại học, cao học và nghiên cứu sinh Tuy vậy, thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu vẫn còn
là một mảng đề tài phong phú Vì vậy, đi sâu tìm hiểu “Hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975” là việc làm cần thiết để có dịp hiểu sâu thêm đóng góp mới của nhà văn ở một “vùng thẩm mỹ” vốn tưởng chừng rất quen thuộc mà vẫn mới lạ trong văn học nước ta và
cũng thực sự là “mảnh đất tình yêu” của nhà văn này
1.3 Hơn nữa, theo lời kể của Gs Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn
Minh Châu luôn day dứt một điều : “ Nếu trời phật cho tôi sống, tôi sẽ viết về
Trang 7cái làng của tôi Tôi có viết một ít trong Mảnh đất tình yêu nhưng còn lành
quá (…) Lão Khúng là kiểu người nông dân làng tôi đấy Nếu còn sống, tôi sẽ viết tiếp truyện Lão Khúng…” Nguyễn Minh Châu còn nói với Gs Nguyễn
Đăng Mạnh như một lời dặn dò tâm huyết trước lúc đi xa: “ Tư tưởng bảo thủ
từ dưới đất đùn lên, nó chủ yếu là nội sinh chứ không phải ngoại nhập Nó chi phối cả chính trị, khoa học, triết học, văn hóa, văn nghệ …Nghĩa là lắt nhắt, thiển cận không nhìn xa, nước đến đâu thuyền dâng đến đấy Nông dân rất tình nghĩa nhưng cũng có lúc rất bạo tàn đấy Nông dân rất thích vua, thích trời và thích cát cứ (…) Nhà văn phải là một thứ côn trùng lấy cái râu mà thăm dò không khí thời đại Nhưng nhà văn muốn có tầm cỡ thời đại thì phải ngụp sâu vào dân tộc mình, nhân dân mình …”[26, 547 ]
Với đề tài này, chúng tôi góp thêm một tiếng nói, một “luận chứng” để
khẳng định thêm cái tầm vóc “lực lưỡng và tầm cỡ” của Nguyễn Minh Châu,
một nhà văn dù viết về đề tài nào cũng luôn “bị ngập chìm trong lo âu, một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người”
2 Lịch sử vấn đề
Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu đã được nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu cũng là đề tài của nhiều khóa luận, luận văn, luận án
ở khoa Văn các trường đại học và Viện nghiên cứu Dưới đây, trong khuôn khổ công trình một luận văn thạc sĩ, chúng tôi tham khảo một số tài liệu có trực tiếp liên quan đến đề tài:
Trang 82.1 Thời kỳ trước 1980
Các bài viết lúc này thường tập trung phân tích, đánh giá về các cuốn
tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu từ Cửa sông (1967) đến “Dấu chân
người lính” (1972), với các ý kiến nổi bật của Phong Lê, Nguyễn Đăng
Mạnh, Trần HữuTá, Nguyễn Kiên, Vũ Tú Nam, Ngô Thảo, Phan Cự Đệ, Vương Trí Nhàn
Nội dung trọng tâm của các bài viết, bài nghiên cứu này thiên về nhận định các sáng tác của Nguyễn Minh Châu ở bình diện nội dung xã hội: Tìm hiểu vấn đề đặt ra trong tác phẩm là gì? Góc độ tiếp cận hiện thực ra sao? Ý nghĩa xã hội của nhân vật, của cốt truyện như thế nào?
Ý kiến chung nhất cho rằng Nguyễn Minh Châu cùng với các nhà văn
thời kỳ chống Mỹ “đã kịp thời viết những tác phẩm… phục vụ trực tiếp cho
cuộc chiến đấu” Dù chưa có “một khoảng thời gian và không gian để bao quát, nghĩ suy và tổ chức lại” cái “hiện thực đang xiết chảy mãnh liệt, tươi rói
và rực sáng” nhưng “nhà văn bị cuốn vào trong lòng hiện thực ấy, gắn bó với
nó và viết về nó bằng tâm huyết của mình”
Đóng góp của Nguyễn Minh Châu được khẳng định trong việc phản
ánh “lý giải một vấn đề thời sự nóng hổi: hai thế hệ trong cuộc chiến đấu…
làm nổi bật lên sự trưởng thành nhanh chóng đến lạ kỳ của thế hệ trẻ và lý giải nó như một tất yếu, một quy luật, một thực tiễn… thể hiện rất rõ một đặc điểm của hiện thực chống Mỹ: thế hệ trẻ đang kế tục xứng đáng cha anh mình” [19]
Trần Trọng Đăng Đàn trên Tạp chí Văn học số 3/1974 thì khẳng định ở
tác phẩm Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện tốt và tương
đối toàn diện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu mà cụ thể là đã “đẩy những hình tượng người anh hùng cách mạng lên gắn với
Trang 9những điển hình mà công chúng đang chờ đợi”, “tạo được những điển hình
văn học với tầm vóc của thời đại”; nhìn nhận về những anh hùng dân tộc,
Nguyễn Minh Châu quan niệm rằng: “Sử dĩ họ thành anh hùng chính là vì
trong họ, cái anh hùng, cái vĩ đại đã chiến thắng được cái khuyết điểm, nhược điểm”
Giới phê bình, nghiên cứu cũng chỉ ra những điểm hạn chế cần rút kinh
nghiệm ở Nguyễn Minh Châu ấy là cách tiếp cận hiện thực còn sơ lược, “quá
nặng về trực quan, chưa vượt qua những khoảng cách về thời gian và không gian”, “chưa kết hợp chặt chẽ việc phục hồi vốn sống trực tiếp với việc tái hiện cuộc sống thông qua tưởng tượng” Người đọc chưa thấy trong tác phẩm
Nguyễn Minh Châu “cái hùng tráng dữ dội của cuộc chống Mỹ cứu nước vĩ
đại” [39]
Đặc biệt, Gs.Phong Lê với bài viết Cửa sông, một hình ảnh về quê
hương chúng ta trong chiến đấu ghi lại không khí bộn bề của hậu phương
khi cả nước lên đường chống Mỹ Đó là làng Kiều Một hình ảnh thu nhỏ của hậu phương trong chiến đấu chống Mỹ Người nông dân hiện lên với vẻ đẹp
tự nhiên về cuộc sống chiến đấu và sản xuất của nhân ta “Có thể nói Cửa
sông là hình ảnh hiên ngang của miền Bắc chúng ta bất chấp đạn bom phá hoại của giặc Mỹ Sự sống, sức mạnh do chính bàn tay chúng ta hàng ngày hàng giờ xây dựng nên thật là lớn, chính là nhân tố quan trọng bảo đảm cho chúng ta có thể đánh bại đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào”[26, 259]
Đặc biệt là nhân vật bác Thỉnh – Một hình ảnh người mẹ Việt Nam chung thủy, đầy tình nghĩa, giàu lòng hy sinh.Hình ảnh người nông dân hiện ra sâu hơn qua vẻ đẹp của những con người và những quan hệ xã hội.Nghĩa lớn làm cho tình riêng thay đổi tầm thước, đậm đà hơn, trong trẻo thêm
Như vậy, có thể nhận thấy thời kỳ này giới nghiên cứu chưa có ý kiến nào đề cập đến vấn đề “vì sao phải viết như thế?” mà chỉ xoay quanh giải đáp
Trang 10những câu hỏi viết cái gì?, viết cho ai? và viết như thế nào? Mặt khác, các bài viết ấy cũng chỉ tập trung vào phân tích đánh giá những tác phẩm cụ thể, chưa
có những bài viết mang tính chất tổng hợp và những bài nghiên cứu chuyên biệt hình tượng người nông dân trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu
2.2 Thời kỳ những năm 1980
Xung quanh tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành với
các ý kiến của Ngô Thảo, Nguyễn Thị Minh Thái, Huỳnh Như Phương:
- Ngô Thảo chú ý đến các nhân vật nữ trong truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là nhân vật Quỳ trong “Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành” để khẳng định: “ Nguyễn Minh Châu đã bộc lộ thế
mạnh của một cây bút có khả năng phân tích và thể hiện được những biến động tâm lý khá phức tạp của một con người không đơn giản” [31, 160] và xu
hướng quan tâm đến những vấn đề thuộc về trạng thái nhân thế của đời sống
để tạo nên chiều sâu cho truyện ngắn
- Cùng với Ngô Thảo, Nguyễn Thị Minh Thái cũng rất “ấn tượng
về nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu”
- Huỳnh Như Phương đánh giá truyện ngắn “Bức tranh” ở ý nghĩa sâu xa, của “sự thức tỉnh”, “sự tự nhận thức” và coi “Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành” là “một thể nghiệm mới về nghệ thuật của một ngòi bút
mà phong cách có lúc tưởng chừng như đã được đinh hình trong những cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh trước đây” [49, 168]
Năm 1985, tuần báo Văn nghệ tổ chức cuộc gặp mặt có cả Nguyễn Minh Châu cùng tham dự Hầu như các nhà văn, nhà phê bình đều rất chú ý đến những nhân vật trong các truyện ngắn nổi bật của Nguyễn Minh Châu
như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra
nhưng dư luận khen chê chưa thống nhất Trước những ý kiến ấy, Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn phát biểu những suy nghĩ về hiện thực đất nước,
Trang 11con người sau chiến tranh và không ngần ngại nói rõ quyết định xông vào mặt
trận đạo đứ với mong muốn “dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc giao
tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong mỗi người, một cuộc giao tranh không
ồn ào những xảy ra từng ngày từng giờ và khắp mọi lĩnh vực đời sống” [49,
177]
Ở chặng đường này, một số ý kiến liên quan gián tiếp đến hình tượng người nông dân có thể kể đến, đó là:
- Năm 1987, Trần Đình Sử trên Báo Văn nghệ số 8 với bài viết
Bến quê – một phong cách trần thuật giàu chất triết lý khẳng định khá chắc
chắn: Nguyễn Minh Châu đã đổi mới tư duy nghệ thuật bằng sự thể nghiệm một hướng trần thuật có chiều sâu nhằm nắm bắt những vấn đề còn ẩn kín của hiện thực cuộc sống
Sau đó, trên báo Văn nghệ số 05 và 06 – 1988, với bài viết Mảnh đất
tình yêu – sự tiếp nối những câu chuyện tình đời, Võ Hồng Ngọc đã phát
hiện sợ chiêm nghiệm, tự đối thoại của nhân vật không chỉ đến một lần trong nhận thức mà là sự xáo trộn, đan xen các lớp thời gian trần thuật nhằm tạo ra một hệ thống điểm nhìn trần thuật bao quát… Tác giả Võ Hồng Ngọc đã nhận
ra: “Nếu như trước đây, mọi vấn đề thuộc về con người chỉ xoay quanh trục
địch – ta, mới – cũ… thì giờ đây tầm mắt nghệ thuật của nhà văn đã mở rộng sang những bình diện mới, soi rọi những tầm sâu mới trong đời sống thực tiễn – tinh thần của con người Hướng tìm tòi của Nguyễn Minh Châu trong
xu thế vận động chung đó của ý thức nghệ thuật hôm nay”[26, 404]
Những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong thập kỷ tám mươi ngày càng được thừa nhận, được phân tích đánh giá sâu sắc kỹ lưỡng hơn, và được khẳng định như một sự kiện có ý nghĩa trong đời sống văn học những năm đầu đổi mới Cũng từ đó, nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng lý thuyết
Trang 12phê bình mới để tìm hiểu thêm nhiều chiều giá trị và đóng góp của tác phẩm Nguyễn Minh Châu
2.3 Thời kỳ sau 1989
Sau khi Nguyễn Minh Châu qua đời, trong niềm thương tiếc sự nghiệp một nhà văn lớn còn dang dở, giới nghiên cứu, phê bình văn học càng tìm hiểu, đánh giá sâu sắc hơn giá trị sáng tác của ông
Trong bài điếu văn của Dũng Hà, Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ
Quân đội đã có nhận định rằng “những trang sách anh để lại, lịch sử văn học
sẽ mãi mãi phải nhắc tới như là những trang sách vừa tài hoa, vừa thấm đậm một tình thương vô bờ bến đối với con người, với đất đai xứ sở”
Ngày 12 tháng 01 năm 1990, tại hội thảo Nguyễn Minh Châu tổ chức ở
trường viết văn Nguyễn Du, nhà văn Nguyên Ngọc đã tiên liệu rằng “Nhất
định rồi sẽ có cả mọt khoa học nghiên cứu về nhà văn hết sức đặc sắc này, của một giai đoạn đặc sắc như giai đoạn mấy mươi năm nay của văn học ta”
Khoa Nguyễn Minh Châu học chưa có nhưng có một Ủy ban bảo trợ di sản nhà văn Nguyễn Minh Châu thì đã được nhanh chóng thành lập ngay sau ông qua đời Và tác phẩm Nguyễn Minh Châu đã trở thành đối tượng nghiên cứu, thành đề tài khoa học của nhiều công trình, luận án, luận văn ở ngành Ngữ văn các trường Đại học Kết quả là năm 1991, nhóm bảo trợ di sản của
nhà văn Nguyễn Minh Châu đã có thể xuất bản cuốn Nguyễn Minh Châu –
con người và tác phẩm, tập hợp, công bố những suy nghĩ, những tìm tòi
khám phá, những đáng giá bước đầu về nhân cách và nghệ thuật của nhà văn này và tất nhiên trong đó cũng đề cập đến một vài khía cạnh về nhân vật
người nông dân Chẳng hạn như Đỗ Đức Hiểu coi Phiên chợ Giát “là một
tâm trạng lớn, là những cảm xúc và suy tư sâu thẳm, một văn bản đa thanh, một tác phẩm văn chương mở…” [49, 253] và ở đó có “sự thẩm thấu giữa hiện tại và quá khứ, giữa giấc mơ và sự thật,… giữa đối thoại, độc thoại và
Trang 13lời người kể chuyện”… “tiếng người kể chuyện nhòe với độc thoại của nhân vật, nhòe với đối thoại với con bò, với người đọc, với lịch sử, với số phận…”
[49, 255] Đó là số phận của người nông dân sống trong “hoang vu” và “bóng tối”
Bên cạnh đó, tập sách Năm mươi năm văn học Việt Nam sau Cách
mạng tháng Tám, do NXB Chính trih Quốc gia phát hành năm 1999, Nguyễn
Tri Nguyên cũng bàn về vấn đề Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác
của Nguyễn Minh Châu sau 1975 Qua phân tích hàng loạt những hình ảnh
có tính chất ẩn dụ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là hình tượng nhân vật, tác giả khẳng định nhà văn đã góp phần đổi mới nền văn học nước nhà từ đơn thanh điệu sang đa thanh điệu trong thi pháp sáng tác; chỉ ra
“Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm
1975” cụ thể đó là sự “thay đổi giọng điệu trần thuật: lúc thì thân tình suồng
sã, lúc thì hài hước kín đáo, lúc thì nghiêm nghị đến khe khắt, nhưng có lúc lại đôn hậu, ấm áp”;khẳng định của Nguyễn Minh Châu “ngôn ngữ phức điệu
và đa thanh điệu ngày càng được gia tăng và trở nên hoàn hảo hơn”
Tôn Phương Lan với chuyên luận Phong cách nghệ thuật Nguyễn
Minh Châu (sự hình thành và những đặc trưng) do Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội xuất bản năm 1999 đã khảo sát khá kỹ về thủ pháp xây dựng nhân vật của Nguyễn Minh Châu, trong đó đề cập cụ thể ở những khía cạnh như: điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu của người kể chuyện
Đặc biệt, Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến với bài viết Đọc Nguyễn Minh
Châu – (Từ Bức tranh đến Phiên chợ Giát) đã đánh giá: “Truyện Bức tranh
đã có sự phức tạp nhưng vẫn còn đơn giản Đến truyện Phiên chợ Giát thì không còn chút nào đơn giản (…) Truyện này là một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân.”[26, 432] Ngoài ra còn có bài viết
của Bùi Quang Trường Khám phá vẻ đẹp người nông dân trong một số tác
Trang 14phẩm văn xuôi viết về nông thôn sau 1975 đăng trên http:
//tapchinhavan.vn/Nghien-cuu-ly-luan-Phebinh (truy cập 28/06/2012) đã đề cập đến vẻ đẹp người nông dân trong muôn mặt đời thường
Và gần đây, năm 2001 ở Tạp chí Nhà văn số 7, trong bài viết Truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, Dương Thi Thanh Hiên đã phân tích đi đến khẳng
định: Nguyễn Minh Châu tạo ra được một thế giới tâm linh cùng các hình ảnh biểu tượng để ngòi bút của mình có điều kiện đi sâu vào tâm lý nhân vật, mở
ra khả năng mớitrong việc chiếm lĩnh hiện thực đời sống…
Qua tìm hiểu lịch sử vấn đề, có thể thấy giới nghiên cứu đã có ý kiến đánh giá, phân tích sâu sắc những cách tân nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu theo hướng thi pháp như: sự nới lỏng khung cốt truyện, tạo những tình huống
trần thuật đa dạng, sự nắm bắt “con người đích thực ở trong con người” khi
xây dựng nhân vật, lý giải cái bề nổi của đề tài, chỉ đề tư tưởng v v mà nhìn chung chưa có sự quan tâm thích đáng và khảo sát một cách có hệ thống vấn
đề hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Nhìn chung những bài viết và công trình nghiên cứu trên đây còn rất ít bài có đề cập đến hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, nhưng phần nào đã cung cấp cho chúng tôi những tiền
đề lý luận và thực tiễn để có điều kiện tiếp cận với đi sâu tìm hiểu đề tài của luận văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
3.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Mảnh đất tình yêu ( tiểu thuyết ), Nxb Tác phẩm mới, 1987
- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn học , 1994
Trang 154 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu nội dung các tác phẩm, phân tích những đặc điểm được thể hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu và từ đó rút ra những luận điểm chính của đề tài
Trang 16CHƯƠNG 1 : NHÌN LẠI HÌNH TƯỢNG NÔNG DÂN
TRONG VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRƯỚC
NGUYỄN MINH CHÂU
1.1.Hình tượng người nông dân trong văn xuôi trước Cách mạng
tháng Tám
1.1.1 Trong văn học trung đại
Từ nghìn xưa, người nông dân đã đi vào văn học dân gian với thân
phận cái cò cái vạc Đó chính là những cư dân nông dân của vùng văn minh
lúa nước Bóng dáng họ có trong thân cò lặn lội, trong con bọ ngựa, con chẫu
chuộc… như một ẩn dụ nghệ thuật của người bình dân
Từ thời cổ đại,người xưa đã nhận thức sâu sắc về người nông dân và đề
cao vai trò của họ Chẳng phải tư tưởng “Dân vi bản” đã được Á thánh Mạnh
Tử xiển dương đó sao: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Dân là quý
nhất, sau đó mới đến giang sơn xã tắc, còn vua thì xem nhẹ Thế nhưng, hình
ảnh người nông dân trong văn học trung đại Việt Nam chỉ tồn tại như một ý
niệm mà thôi Đó là cái bóng dáng “Dân đen-con đỏ” trước họa diệt chủng
của quân cuồng Minh trong Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi: “Nướng dân
đen trên ngọn lửa hung tàn - Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” “Dân đen -
con đỏ” chỉ là sự gọi tên cho những nạn nhân khổ đau dưới gầm trời trước họa
diệt chủng của kẻ thù phương Bắc chứ không phải là những bản thể để tác giả
tham chiếu và chiêm nghiệm đến tận cùng Ngay cả Nguyễn Dữ cũng không
vượt qua “giới hạn” này Truyện Người con gái Nam Xương là một minh
chứng Nỗi oan khiên của Vũ Thị Thiết suy cho cùng cũng chỉ là những điều
mà tác giả mắt thấy tai nghe rồi được kể lại như một câu chuyện nhãn tiền Có
xót có đau đấy nhưng kết thúc bằng một “màn sương huyền bí” theo kiểu
truyện cổ tích thần kỳ Nghĩa là nỗi đau trần thế của người nông dân chỉ được
Trang 17kể lại bằng “một câu chuyện buồn” với nỗi oán trách Trương Sinh ghen tuông
vô cớ chứ không nhận thức sâu sắc rằng đây cũng là một trong rất nhiều hệ
lụy do chiến tranh phi nghĩa gây ra Một thứ “nỗi buồn chiến tranh” thời xa
vắng
Nhìn chung, người nông dân chưa từng đi vào văn học trung đại như một khách thể thẩm mỹ, một đối tượng phản ánh, cho dù trong “tứ dân” họ đứng ở vị trí thứ hai “sĩ - nông - công - thương” Điều này cũng không khó lý giải bởi người sáng tác của văn học trung đại hầu hết là nhà nho, trong khi cái nhìn của họ chịu sự chi phối của lăng kính “cửa Khổng sân Trình” Người
nông dân chỉ là “thứ dân” theo đúng nghĩa đen của từ : “Quân tử chi đức
phong,thảo dân chi đức thảo.Thảo thượng chi phong tức yểu” (Cái đức của
quân tử như gió, cái đức của thảo dân như cỏ Gió thổi tức cỏ rạp theo) Họ (người nông dân) chỉ là những chiếc bóng mờ đằng sau, bên dưới những trượng phu, văn nhân… mà thôi
Phải chờ đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, người nông dân mới thực sự
đi vào văn học thành văn như những người anh hùng
Thật vậy, lần đầu tiên trong văn học, người nông dân hiện lên từ hình dáng lam lũ bề ngoài đến phẩm chất, tâm trạng và hành động anh hùng trước
họa ngoại xâm Họ trở thành bức tượng đài kì vĩ về người nông dân anh hùng
tuy thất thế nhưng vẫn hiên ngang Họ - những con người thấp cổ bé họng ấy được đặt trong sự chọn lựa khắc nghiệt của lịch sử Đó là sự chọn lựa giữa
“Mười năm công vỡ ruộng” với “Một trận nghĩa đánh Tây” Như thể sự tồn
vong của sơn hà xã tắc nằm trong sự lựa chọn mất còn này Thế là bản chất
đẹp đẽ từ nghìn đời đã bộc lộ: “Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn,
danh nổi tợ phao - Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất, tiếng vang như mõ”
Nghĩ là quyết, thấy chính nghĩa là làm, không một mảy may toan tính thiệt hơn Không thể ngồi nhìn giang sơn chìm đắm, không thể hy vọng gì từ phía
Trang 18triều đình: “Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn - Ngày xế non Nam bặt tiếng
hồng” Một sự chuyển mình diệu kỳ trỗi dậy: Từ người nông dân chân lấm tay
bùn trở thành người nghĩa sĩ đánh Tây Từ những con người sống sau lũy tre xanh, chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng bộ, thoắt chốc trở thành những anh hùng làm chủ chiến trường Lần đầu tiên trong văn học, người nông dân được khắc họa với cảnh ngộ, tâm trạng và hành động anh hùng: Đó là tiếng súng xâm lăng nổ rền trên quê cha đất tổ, mà trông tin quan như trời hạn mong mưa Đó
là lòng căm thù “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan,
muốn ra cắn cổ” Đó là sự lựa chọn giữa sống và thác một cách hồn nhiên vì
xã tắc giang sơn và cuối cùng là hành động cao đẹp vì nghĩa cả quên thân để
đi vào lịch sử…
Tuy nhiên, hình tượng người nông dân trong văn học trung đại chỉ mới
là những phác thảo Họ xuất hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Dữ… chỉ ở mức độ là “những điều trông thấy” chứ chưa
làm “đau đớn lòng”, chưa khai thác đến cùng cái bề sâu trong tâm hồn cũng
như thân phận của những con người “không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã
làm ra đất nước” Những gì thuộc về con người, văn học trung đại chưa vươn
tới được Có chăng chỉ là sự bày tỏ một thái độ, những cảm thông nhưng nhìn chung vẫn có một cái gì khoảng cách, thậm chí xa lạ
1.1.2 Trong văn học giai đoạn 1930-1945
1.1.2.1 Trong văn học lãng mạn
Nói đến dòng văn học lãng mạn, không thể không nói đến Tự lực văn đoàn Văn phái này đã đưa ra tôn chỉ gồm chín điểm, trong đó có điểm này:
“Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân Không
có tính cách trưởng giả quý phái” Và chính Nhất Linh - một trong những trụ
cột của Tự lực văn đoàn đã có lần tuyên bố trên báo Tin tức,cơ quan của Mặt
trận Dân chủ Bắc kỳ: “ Tôi vẫn tha thiết mong cho đám bình dân thiệt thòi và
Trang 19thấp kém trong xã hội có những quyền sống mà họ thiếu thốn Tôi đã thất vọng nhiều lần, thất vọng như bao nhiêu người khác đã quá mong mỏi ở những nơi không nên mong mỏi Mặt trận Bình dân Đông Dương mới thành lập đem lại cho tôi một tia ánh sáng hy vọng Lấy trách nhiệm là một nhà văn cùng với những đồng chí khác, tay cầm tay đứng trong hàng ngũ, tôi xin hết sức giúp một phần nhỏ vào công cuộc đòi quyền sống của hết thảy anh em bị thiệt: Mặt trận Bình dân” Dù có người cho rằng đây là biểu hiện của cơ hội
chủ nghĩa, nhưng chúng ta có thể tin vào những phát biểu chân thành của Nhất Linh nói riêng và các nhà văn của Tự lực văn đoàn nói chung trên báo chí và cả trong tác phẩm
Trong truyện Nô lệ, Nhất Linh vạch trần những thủ đoạn cướp đoạt
ruộng đất nông dân của một tên chủ đồn điền cà phê ở Thanh Sơn Những
người nông dân trước đây đang tự do, “ruộng mình mình cấy”, “đường mình
mình đi”, “nghênh ngang ai nát ai cấm” bây giờ mất ruộng,hóa thành những
tên nô lệ làm phu trong đồn điền
Thực lòng mà nói, tuy chứng tỏ ra đau nhức trước thân phận người nông dân, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, những suy nghĩ của Nhất Linh
là tiến bộ, dù chỉ là những nhận thức ban đầu của trí thức tự trọng Đó thực sự
là những băn khoăn của nhà văn về số phận của người bình dân Tác phẩm
Hai vẻ đẹp của Nhất Linh đặt ra câu hỏi là giữa hai vẻ đẹp, nghệ thuật và
nhân sinh thì vẻ đẹp nào đẹp hơn? Và câu trả lời đó là vẻ đẹp nhân sinh,lấy chủ đề về nông thôn, về suy nghĩ của người thanh niên muốn gắn bó với quê hương, phục vụ quê hương Tác phẩm vẫn là câu chuyện về cái tôi, “cái tôi”
đi tìm hạnh phúc trong con đường phục vụ tầng lớp bình dân Nhân vật chính
là Doãn, một chàng thanh niên vốn con nhà nghèo, nhưng làm em nuôi bà Thượng nên được sang Pháp du học, thi đỗ cử nhân Luật Anh ta không thích làm quan, suốt ngày mải mê vẽ những bức tranh về nông thôn, vì Doãn muốn
Trang 20gần gũi với nỗi khổ của dân quê Tuy nhiên, do sống xa quê hương từ thuở bé nên chàng không cảm nhận được cái sục sôi, hăng say lao động và những nhọc nhằn của cuộc sống đời thực Vì thế nên tác phẩm thiếu đi sức nóng, hình tượng nhân vật không sống được, chỉ là những minh họa của mệnh đề Hành động của Doãn đôi khi làm ta cảm động nhưng cũng không ít dè dặt Doãn trở về với nông dân, nhưng lại đứng trong tư thế của người bề trên và ban ơn xuống… Doãn cho rằng đó là nhiệm vụ của người tài trí có tiền Sau những suy nghĩ lao lung, Doãn có một lời tự hứa nhưng tác phẩm đã kết thúc làm cho người đọc không khỏi băn khoăn bởi cái hướng còn quá mơ hồ, không biết Doãn sẽ làm được gì!
Tương tự, Duy trong Con đường sáng, Bảo, Hạc trong Gia đình cũng
giải quyết vấn đề một cách mơ hồ, không dứt khoát Các nhân vật trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn nhìn thấy, biết được người dân đang bị áp bức, bóc lột tàn bạo nhưng họ lại không có cách gì ổn thỏa để giải quyết vấn đề ấy
Đáng kể nhất phải nói đến Thạch Lam và Trần Tiêu Thật vậy, “Thạch
Lam có tinh thần dân tộc đậm đà và một sự cảm thông chân thành đối với
những người dân quê nghèo khổ” [48] Trong các truyện ngắn Gió lạnh đầu
mùa, Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ…Thạch Lam viết về những người dân nghèo
xóm chợ với niềm cảm thương chân thành, sâu lắng Làm sao quên cảnh ngộ
nhà mẹ Lê vật vã trong cơn đói: “Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau, rét run
trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm, vì đèn đóm không có nữa Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét, khổ sở Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm, bởi vì ai nấy đều biết
cũng nghèo khổ như nhau.” (Nhà mẹ Lê) Truyện kết thúc bằng cái chết của
mẹ Lê, một kết thúc đã báo trước bởi cậu Phúc con ông Bá đã hăm dọa nếu đên cầu xin lần nữa nó sẽ thả chó ra cắn Nhưng mẹ Lê vẫn cứ đến nhà ông
Bá bởi “trong lòng vẫn còn chút hy vọng, tuy buổi sáng, lúc vào xin gạo, ông
Trang 21Bá đã đuổi mắng không cho” Truyện khép lại bằng một nỗi tủi hờn len vào
tâm trí mọi người: “Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa
nhỏ con bác Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý đang dỗ cho thằng Hi nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi một lát sẽ về Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa Và
họ thấy một cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ đeo đuổi mãi không biết bao giờ dứt.”
(Nhà mẹ Lê) Ám ảnh hơn cả là Hai đứa trẻ Bác Lê trong Nhà mẹ Lê đã
chết sau một cơn mê sảng vì chó cắn nhưng những con người nông dân nghèo
khổ trong Hai đứa trẻ đã chết dần, chết mòn bởi kiếp sống quẩn quanh, lay
lắt, không lối ra nơi phố huyện điêu tàn Một bức tranh nông thôn xơ xác, não nùng với những mái nhà lụp xụp, tả tơi, những quán chợ vắng ngắt chỏng chơ trong nét chiều đông Rồi những buổi chiều chạng vạng mặt người, những đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom trên mặt đất, nhặt nhạnh, đào bới với hy vọng tìm được chút gì sau phiên chợ tàn Những đứa trẻ không tuổi thơ, những đứa trẻ bị cuộc đời nghèo khổ “ghì đầu sát đất” tối đen mờ mờ nhân ảnh Và trên cái nền không gian ngập đầy “bóng tối” ấy, tồn tại chông chênh những thân phận người: Mẹ con chị Tý, ngày mò cua bắt tép, tối mở quán nước bên vệ đường với hy vọng mong manh để tồn tại Buồn chán đến mức Liên hỏi cũng không buồn đáp, mãi một lúc mới chép miệng trả lời mà như
nói với chính mình: “Ôi chao,sớm với muộn mà có ăn thua gì!” Vợ chồng
bác Xẩm - một hiện hữu khổ đau báo hiệu sự tồn tại của mình trong bóng đêm
phố huyện bằng mấy tiếng đàn bầu “bật ra trong im lặng” Họ ngồi đó, chờ đợi lòng thương cảm người đời trong mỏi mòn lay lắt, rồi rã rời “khoanh mình
trên manh chiếu rách ngủ tự bao giờ” Một bà cụ Thi “hơi điên” có cuộc đời
đầy ẩn ức, bao nhiêu cay đắng dồn cả vào hơi men, nốc cạn rồi gửi vào hư vô bằng tiếng cười khanh khách tiềm tàng nỗi đau không nói Phải chăng đây là hình ảnh “nhãn tiền”, là “tương lai gần” cho những đứa trẻ như An, Liên nếu
Trang 22cuộc đời không mảy may thay đổi, cứ quẩn quẩn, tù đọng, bế tắc Nếu bỏ qua những định kiến một thời, tĩnh tâm đọc lại các truyện ngắn của Thạch Lam
như Gió lạnh đầu mùa, Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ…ta nhận ra một tấm lòng,
một niềm cảm thương chân thành man mác Người đọc nao lòng trước những thân phận bà mẹ, những người vợ đảm đang tần tảo nhưng chịu đựng, hy sinh
thầm lặng trong cuộc đời cũ (Cô hàng xóm , Hai lần chết) Có lúc, Thạch
Lam thể hiện rõ khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Kết thúc các truyện ngắn
Đói, Nhà mẹ Lê, Hai lần chết, Tối ba mươi nhìn đâu cũng thấy nước mắt:
“Sinh lấy hai tay ôm mặt, cúi đầu khóc nức nở” (Đói), “Con Tý đang dỗ cho
nín khóc, nói dối rằng mẹ nó đi một lát sẽ về” (Nhà mẹ Lê), “Huệ gục xuống vai bạn, không trả lời Nước mắt cũng ứ lên rồi lặng lẽ tràn ra má” (Tối ba
mươi), “Dung thấy một cảm giác chán nản và lạnh lẽo Khi bà cả lần ruột
tượng, gọi nàng lại đưa tiền lấy vé, Dung phải vội quay mặt đi để giấu mấy
giọt nước mắt ”(Hai lần chết) Thật đau đớn và tàn nhẫn, nhưng đó lại là sự
thật
Gần với Thạch Lam hơn cả là Trần Tiêu Trong khi Thạch Lam hướng
về những người dân nghèo làm thuê, làm mướn ở phố chợ tồi tàn ngay huyện
lỵ Cẩm Giàng thì Trần Tiêu hướng hẳn về nông thôn Ông nhận ra ước mơ suốt đời của người nông dân là có được một con trâu cày để làm ăn mát mặc
hơn (Con trâu - 1939) Một giấc mơ không bao giờ với tới được cho đến khi
gục chết ngay trên ruộng đồng Ông đi sâu vài những phong tục lễ nghi phiền phức, tranh nhau ngôi thứ ở nông thôn của bọn hào lý, kỳ mục sâu mọt, hiếu
danh (Sau lũy tre - 1937) Ông cảm thông sâu sắc với người đàn bà nông thôn
“hết khổ vì chồng lại khổ lại khổ vì con”, suốt đời hy sinh trong im lặng
không một lời ca thán (Chồng con – 1941)
Nhìn chung, văn học lãng mạn (Tự lực văn đoàn) với thái độ cảm thông với đời sống đói khổ của người nông dân và thiện chí muốn cải thiện đời sống
Trang 23của họ là hoàn toàn chân thành Doãn (Hai vẻ đẹp), Dũng (Đôi bạn) thấy rõ
sự bất công, chênh lệch giàu nghèo, sang hèn trong xã hội Bước đầu tìm thấy nguyên nhân do sự áp bức, bóc lột của bọn quan lại phong kiến Họ tỏ ra có chí khí, có tâm huyết muốn lao vào hành động để cải thiện đời sống dân quê,
để thay đổi bộ mặt xã hội Nhưng rốt cuộc, các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng
chỉ là những “anh hùng chiến bại” trong đường lối cải lương tư sản “Họ đóng
vai những” nhân cách cao thượng “nghiêng mình xuống lũ dân quê đói khổ đáng thương” [17] Họ tỏ ra quý mến người dân lao động nhưng cũng lắm lúc
khinh bỉ, miệt thị người nông dân Người nông dân hiện lên như đám người
ngờ nghệch, dốt nát, ngu muội, sống ù lì, bản năng như những “con lợn không
có tư tưởng” (May quá, Hai chị em của Nhất Linh, Dưới ánh trăng của Khái
Hưng…) Thật lòng mà đánh giá, điều đáng trân trọng nhất ở Tự lực văn đoàn chính là thái độ chân thành cảm thông với đời sống cơ cực của người dân quê, mong muốn cải thiện cuộc sống nông thôn nhưng Tự lực văn đoàn lại tưởng rằng những người địa chủ trí thức sẽ là những người dẫn dắt, nâng đỡ người nông dân thoát khỏi đời sống cơ cực Đây là suy nghĩ hạn chế, hoàn toàn mang tính chất cải lương, nửa vời, ảo tưởng, bế tắc trong việc giải quyết các vấn đề xã hội
1.1.2.2 Người nông dân trong văn học hiện thực
Trong bài viết Nông thôn và người nông dân trong văn học thế kỷ
XX, GS Phong Lê đánh giá: “Trên các kết quả của cách mạng hóa và hiện
đại hóa đã được thực hiện từ trước 1945, chúng ta đã gặt hái được một mùa văn chương ngoạn mục 1930-1945 Trên cả ba dòng văn học: cách mạng, hiện thực và lãng mạn thì dòng văn học hiện thực đã ghi được những thành tựu lớn, những dấu ấn quan trọng trên bức tranh về đời sống nông thôn và người nông dân, qua đóng góp xuất sắc của các tác giả như Hồ Biểu Chánh,
Trang 24Ngô Tất Tố, Trần Tiêu, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Bùi Hiển, Kim Lân, Tô Hoài…”
Thật vậy, trước Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, chưa có
tác phẩm văn học nào phơi bày tội ác của giai cấp địa chủ và nổi khổ ải cùng đường của người nông dân một cách sâu sắc và toàn diện đến thế Đó là câu chuyện thương tâm về số phận của người nông dân: cốt truyện xoay quanh viên Nghị Lại dùng mọi thủ đoạn cướp bằng được tấm sào ruộng của anh Pha Cùng với Pha là bao nhiêu nông dân khác, Trương Thi, San, Thị Ánh… lần lượt đều bị mất ruộng vào tay Nghị Lại Nguyễn Công Hoan đã đi sâu miêu tả nỗi khổ cực trăm bề dẫn đến “bước đường cùng” không gì cưỡng được của người nông dân bị áp bức bóc lột thậm tệ mà còn cố gắng thể hiện sự phản kháng tích cực của họ để giành quyền sống Giáo sư Phan Cự Đệ xem nhân
vật anh Pha có một vị trí đặc biệt trong văn học hiện thực trước Cách mạng: “
Đó là hình tượng nhân vật nông dân duy nhất có sự phát triển về ý thức đấu tranh chống kẻ thù giai cấp đòi quyền sống” Từ nhân vật anh Pha, Nguyễn
Công Hoan cũng đã nhận ra mối quan hệ giữa Nghị Lại và thực dân, dẫn đến
hệ lụy một cổ hai tròng đè nén những người nông dân cùng khổ
Tuy nhiên, tác giả Bước đường cùng không thật dứt khoát trong cách
nhìn Có lúc, Nguyễn Công Hoan sa vào cải lương chủ nghĩa: “Những làng có
người đứng đắn trông nom công việc thì chỉ ba năm bỏ lệ ăn uống hủ lậu, là
đủ có sân gạch, đường rải gạch, có trường dạy trẻ, và làm được bao nhiêu công việc công ích.” Rõ ràng, trong thế giới quan của Nguyễn Công Hoan
vẫn còn mâu thuẫn, khiến ông lúng túng Ông hiểu rõ tình cảnh khổ cực của người nông dân với thái độ cảm thông sâu sắc nhưng lại hiểu biết sơ sài về đời sống tinh thần, thế giới nội tâm của họ Ông bênh vực họ, song, cái nhìn của ông về họ chưa phải cái nhìn tri ân, thắm thiết, lắm lúc còn xa lạ và có phần tàn nhẫn
Trang 25Cùng viết về đề tài nông thôn với người nông dân trước Cách mạng,
Ngô Tất Tố với Tắt đèn thực sự là “một bản tố khổ chân thật, sâu sắc, chan
hòa nước mắt và lòng căm phẫn của hàng triệu nông dân nghèo bị bóc lột”
[17]
Tấn bi kịch trong Tắt đèn căng thẳng ngay từ phút đầu với bức tranh
làng Đông Xá trong những ngày sưu cao thuế nặng: từ mờ sáng, cổng làng đã
bị đóng kín, nội bất xuất, ngoại bất nhập và suốt trong 5 ngày liền “tiếng mõ
cá, trống thúc liên hồi, hiệu ốc, hiệu sừng thổi inh ỏi”, “tiếng thét đây thét đóng”rùng rợn Thế là “Trong hoàn cảnh điển hình như thế, những mâu thuẫn
cơ bản của xã hội, những tính cách của các nhân vật sẽ có điều kiện bộc lộ
một cách toàn vẹn” [17, 42] Thật vậy, Tắt đèn không nói chuyện nông dân bị
cưỡng đoạt ruộng đất mà tập trung tố cáo thứ thuế bất nhân của bọn thực dân đánh vào đầu người hàng năm, đẩy những người bần cố nông phải bán con,
bỏ làng đi ở vú hoặc đi ăn mày rồi chết đường chết chợ Cái cảnh khổ điển
hình “thiếu thuế mất vợ, thiếu nợ mất con” được khắc họa rõ nét qua bi kịch
gia đình chị Dậu Chị phải bán chó, bán con, “giá người bằng giá chó” vẫn không đủ tiền đóng sưu Cùng đường, phải đi ở vú, bán cả “bầu sữa” của
mình mà cuộc đời vẫn “tối đen như mực”
Tóm lại, Tắt đèn của Ngô Tất Tố là một bản tố khổ sâu sắc, tập trung
phản ánh nạn sưu thuế và tình cảnh bần cùng hóa của người nông dân Cùng với tiếng nói đòi cải cách dân chủ, tiếng nói nghệ thuật của Ngô Tất Tố trong
Tắt đèn là một tiếng nói đanh thép đòi hủy bỏ chế độ thuế thân và đòi gấp rút
cải thiện đời sống lam lũ, cực khổ của nông dân “Đó là một bản dự thảo dân
nguyện (đặc biệt là nguyện vọng của nông dân) được nối bằng ngôn ngữ và
hình tượng nghệ thuật” [17, 402] Cái không khí giông bão trong Tắt đèn đã
cho thấy mâu thuẫn giai cấp ở nông dân đã đến độ đối kháng, đòi hỏi phải giải quyết và tất yếu sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp Sự đấu tranh giai cấp đơn độc,
Trang 26tự phát của chị Dậu là một đốm lửa báo hiệu trong tương lai một cuộc bùng
nổ rộng lớn của Cách mạng chống lại đế quốc và phong kiến địa chủ gian ác
Đọc xong trang văn của Ngô Tất Tố, làm sao nguôi trước tiếng khóc xé lòng của chị Dậu hoà lẫn tiếng van lơn tha thiết tội nghiệp của cái Tý Vận
mệnh của phụ nữ và trẻ em đã được đặt ra trong đau nhức Chính vì thế, Tắt
Đèn trở thành một tác phẩm lớn, một “đốm sáng đặc biệt” có tính nhân đạo
sâu sắc nhất trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trước Cách mạng
Khác với Ngô Tất Tố, viết về nông thôn, Nam Cao ít đi sâu vào những xung đột giai cấp Ông tập trung chủ yếu vào những mảnh đời cụ thể và khai thác triệt để “cái hàng ngày” để vươn đến phản ánh cái bản chất, cái cá tính phổ biến, quy luật Người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất buộc phải phiêu dạt lìa bỏ làng quê đi tha hương cầu thực: mẹ con Hiền xiêu dạt ra
thành phố trú ngụ trong những căn nhà ẩm thấp, tăm tối (Truyện người hàng
xóm), con trai lão Hạc phẫn chí bỏ làng đi làm thuê ở đồn điền cao su (Lão Hạc) Dần từ bé phải đi ở cho địa chủ, mẹ mất, mới 15 tuổi Dần phải quán
xuyến việc nhà giúp bố Cái đói dồn người bố đến bước đường cùng: bố Dần thu xếp gửi hai đứa nhó cho hàng xóm để lên rừng kiếm ăn, còn Dần thì cho cưới Chao ôi! Một đám cưới chạy đói có một không hai trong lịch sử văn
chương diễn ra trong âm thầm với bao chua xót đầy quặn lòng: “Đêm tối, đám
cưới mới ra đi Vẻn vẹn có sáu người, cả nhà gái, nhà trai (…) Cả bọn đi lủi thủi trong sương lạnh và bóng tối như một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu
nhau đi tìm chỗ ngủ” (Một đám cưới)
Số phận người nông dân trong nhiều truyện ngắn Nam Cao được đặt ra
ở những thử thách khốc liệt của cảnh nghèo “Cái đời thường”, “cái hằng ngày” được khai thác đến tận cùng khiến người đọc xót xa, đau đớn : Đó là
chuyện miếng ăn và cái đói Bà cái Tý (Một bữa no), anh Đĩ Chuột (Nghèo),
Trang 27Lão Hạc (Lão Hạc), anh Phúc (Hiến văn)…mỗi người một cảnh ngộ, nhưng
chung quy là cảnh nghèo và cái chết của họ mang một ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc
Đọc những tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, chúng ta từng bắt gặp những con người bị dồn đến chân tường với nhưng số phận éo le Nhưng đến Nam Cao,hệ lụy của cái nghèo đã thấy qua từng trang sách Điểm đáng quý ở Nam Cao là cái nhìn nhân hậu, cảm thông đối với người nông dân Các nhân vật của ông dù bị đày đọa, chà đạp nhưng vẫn giữ được nhân cách, phẩm
hạnh của mình: Một Lão Hạc (Lão Hạc) hy sinh cả đời mình vì hạnh phúc
của đứa con Lão khóc nức nở vì đã “phụ bạc” một Cậu Vàng Sắp lìa đời mà vẫn lo liệu chu toàn để khỏi phiền đến bà con lối xóm Một Chí Phèo tưởng như đã bán linh hồn cho quỷ dữ, vậy mà tận đáy sâu tâm hồn vẫn âm ỉ, nhen nhómrồi bùng lên khát vọng làm Người Cái chữ Người viết hoa ấy vẫn cứ
lung linh trong tiếng thét cháy lòng của Chí: “Ai cho tao lương thiện? Làm
thế nào để hết được những vết rạch mảnh chai trên mặt này…” (Chí Phèo)
Chao ôi! Ngay khi hoài thai Chí đã là đứa con bị từ chối, vừa mới sinh ra đã
bị vứt bỏ ở lò gạch hoang Lớn lên bị từ chối quyền làm người Cả Thị Nở với mối tình “năm ngày diễm tuyệt” cũng trở thành người đàn bà thứ hai ruồng bỏ Chí Cùng đường, Chí chọn cái chết để được Sống Chí đã ngã xuống ngay trên ngưỡng cửa của đời sống lương thiện
Lòng ưu ái, cảm thông của một tâm hồn nhân đạo đã giữ lại trên trang viết Nam Cao niềm tin về nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân Những chủng tử tốt đẹp mà hoàn cảnh phũ phàng của xã hội chưa đủ sức làm thui
chột hết Thì ra, Nam Cao không sa vào tự nhiên chủ nghĩa, không “bôi nhọ
nông dân” mà viết về họ bằng một tấm lòng yêu thương nhân đạo Tuy nhiên,
cũng như nhiều nhà văn hiện thực phê phán khác, Nam Cao mới dừng lại ở
đó Ông chưa thấy được hướng phát triển, đổi thay của xã hội và con đường đi
Trang 28của các nhân vật Cái nhìn nói chung của Nam Cao là bi quan, tuyệt vọng Sau Cách mạng tháng Tám, được gần gũi với nông dân, Nam Cao mới nhận
ra những nhược điểm của mình trong những tác phẩm viết về người nông dân
trước Cách mạng Ông bộc lộ chân thành: “Người nhà quê dẫu sao thì cũng
còn là một bí mật đối với chúng ta Tôi gần gũi với họ rất nhiều Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương Nghe các ông nói đến “sức manh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ Tôi cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình vạn kiếp nữa cũng chưa làm được cách mạng Cái thời Lê Lợi, Quang Trung có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ còn trở lại Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi mới ngã ngửa người Té ra người nông dân nước mình vẫn
có thể làm được cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm Tôi đã đi theo
họ đánh phủ.Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ Vô số anh răng đen mắt toét gọi lựu đạn là “nịu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm Mà không hề bận tâm
đến vợ con, nhà cửa như họ vẫn thường thế nữa.” (Đôi mắt)
Nhìn chung, khi viết về người nông dân, Nam Cao cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định, nhưng không thể phủ nhận thành công lớn lao của nhà văn Cùng với chị Dậu (của Ngô Tất Tố), anh Pha (của Nguyễn Công Hoan), nhân vật Chí Phèo thêm một phiên bản nữa về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Trước Nam Cao, các nhà văn khắc họa hình tượng người nông dân theo quan điểm giai cấp Nhưng khi những tác phẩm của Nam Cao ra đời, người nông dân hiện lên thực sự là những “con người nạn nhân” với vấn đề cái đói và miếng ăn đau nhức Đăc biệt, nhà văn đã xây dựng được hình tượng điển hình độc đáo về tình trạng tha hóa của người nông dân do bị cướp hết ruộng đất và cướp cả quyền sống, quyền làm người Con người cô đơn đã
Trang 29xuất hiện qua tấn bi kịch của Chí Phèo với hành trình lội ngược dòng trở về với cuộc sống lương thiện
Nhìn lại hình tượng người nông dân trong văn xuôi hiện đại Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, tuy có lúc đĩnh đạc đi vào văn chương như
những người anh hùng nhưng có nhà văn nào thực sự “đứng về phe nước
mắt” mà hiểu họ, bênh vực họ, nhận ra vẻ đẹp nguyên sơ, lộng lẫy và cả
những thói tận thường thấy ở họ.Họ gánh đất nước trên vai nhưng họ cũng bị chúng ta bỏ quên trong âm u và bóng tối
1.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám 1945, rồi kháng chiến đã đem lại cho nhà văn sự phát hiện lớn lao: Phát hiện ra sức mạnh quật khởi của dân tộc và con người Việt Nam với những nét đẹp mới lạ của đời sống cộng đồng Nguyễn Đình
Thi viết: “Chúng ta đã tìm thấy bao trùm trên chúng ta, bao trùm làng xóm,
gia đình chúng ta một cái gì lớn lao chung ấy là dân tộc” (“Nhận đường”,
Tạp chí văn học số 1/ 1948) Còn Hoài Thanh thì nhận ra một cuộc “tái sinh mầu nhiệm” trong cảnh tưng bừng của cả dân tộc đang trỗi dậy Với tinh thần
đó, văn học 1945 – 1975 nói chung và văn xuôi giai đoạn này nói riêng tập trung hướng đến “đại chúng” hay “công nông binh” mà chiếm phần lớn trong
số đó là giai cấp nông dân: người nông dân trong đời sống lao động sản xuất hằng ngày và người nông dân trong chiến đấu Hình tượng người nông dân trong văn học 1945 – 1975 hiện lên với những đặc điểm có tính phổ quát chung của mẫu hình con người trong văn học giai đoạn này
1.2.1 Người nông dân trong sản xuất
Nói đến người nông dân là nói đến cái cuốc, cái cày, nói đến cảnh sớm hôm cày sâu cuốc bẫm, đổ mồ hôi trên thửa ruộng cánh đồng Bởi vậy, phản
Trang 30ánh chân dung người nông dân trong văn học không thể thiếu những trang viết về người nông dân trong sản xuất
Ở trong hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt của giai đoạn 1945 – 1975, khi
mà văn học tập trung phục vụ kháng chiến, phụng sự cách mạng thì số trang viết về người nông dân trong sản xuất dĩ nhiên sẽ khiêm tốn hơn số trang viết
về chiến đấu Tuy nhiên, người đọc vẫn nhận thấy được bức tranh người nông dân gắn với những hoạt động gần như một thuộc tính của họ
Những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945, người dân “Dọn về
làng”, hát “Bài ca vỡ đất” song vẫn còn ủ dột trong cái đói Chỉ đến năm
1954, miền Bắc được giải phóng thì công cuộc xây dựng, tái kiến thiết đất nước ở miền Bắc mới xôn xao, phấn khởi Người nông dân hăng hái tham gia vào đời sống mới, nhiều vấn đề ở nông thôn được đặt ra, đặc biệt chuyện vào
- ra hợp tác xã Trong chính những người nông dân đã có sự phân hóa Việc lựa chọn con đường làm ăn tập thể được xem là tiêu chuẩn hàng đầu của cái mới, cái tiên tiến Lớp người già thường bị xem như nặng đầu óc bảo thủ, chậm tiếp nhận cái mới và lớp trẻ được coi là đại diện cho cái mới, cho tư
tưởng xã hội chủ nghĩa ở nông thôn (Cái hom giỏ của Vũ Thị Thường, Con
cá song của Bùi Đức Ái, Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Đào Vũ )
Người nông dân trong phong trào hợp tác hóa trước và sau năm 1960 còn xuất
hiện trong Tầm nhìn xa, Người trở về, Gia đình lớn của Nguyễn Khải
Người nông dân làm lãnh đạo ở nông thôn, người nông dân với tư tưởng tư lợi và phường hội khi đã vào hợp tác xã, hay những mâu thuẫn giữa lợi ích tập thể nhỏ, và lợi ích tập thể lớn được phản ánh khá sinh động Những nhân vật cán bộ nông thôn được xây dựng trong văn học là những mẫu người tiêu biểu, tích cực thì thường phải chịu hi sinh lợi ích riêng, gia đình nghèo khó,
vợ con nheo nhóc, vì họ không thể chăm lo cho gia đình riêng mà toàn tâm
dành cho công việc chung Như anh Biền trong Tầm nhìn xa, anh Năm trong
Trang 31Gia đình lớn của Nguyễn Khải, rồi nhiều nhân vật cán bộ xã và hợp tác xã
trong truyện ngắn của Vũ Thị Thường Đặc biệt, trong Tầm nhìn xa còn có
một nhân vật rất đáng chú ý, đó là Tuy Kiền Đây là nhân vật có cá tính, được nhà văn nhìn nhận như một điển hình tiêu cực với thói ranh ma, hám lợi mặc
dù nhiều lúc cũng vô tư, gắn bó với hợp tác xã và rất tháo vát Nhân vật này
được coi như “một hình tượng nông dân vào loại đặc sắc, có sức sống, đáng
kể nhất trong loại hình tượng này của văn học nước ta ở mười năm hòa bình ấy” [35, 33] Tuy Kiền, có lúc như một nhân vật tư tưởng vừa có công lớn
nhưng lại có tầm nhìn gần, và đã manh nha đầu óc trục lợi từ mối quan hệ “ba lợi ích”
Người nông dân trong đời sống sản xuất, mưu sinh thường nhật của họ
còn được miêu tả gắn với mô típ đổi đời Người nông dân nghèo khổ, chịu
nhiều mất mát, thiệt thòi, bất hạnh hướng tới hạnh phúc, hướng tới tương lai
với những khát vọng rất nhân bản như các nhân vật trong Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, Vợ nhặt của Kim Lân, Mùa lạc, Đứa con nuôi của Nguyễn Khải, Anh Keng của Nguyễn Kiên
Nếu thời kì trước, người nông dân hiện lên trong bức tranh tối đen của
sự lầm than, đói kém, bị bóc lột, áp bức thì ở giai đoạn này, chân dung người nông dân có phần tươi sáng hơn, nhất là khi họ gắn với tập thể dưới ánh sáng cách mạng Người nông dân chủ động hơn, hòa mình vào môi trường tập thể (nông trường, hợp tác xã), đón nhận, cảm hóa, nâng đỡ những con người riêng lẻ, cô đơn để từ đấy cùng tìm thấy niềm vui, hạnh phúc Chẳng hạn, như
Đào trong Mùa lạc của Nguyễn Khải, cuộc đời tuy nhiều bất hạnh nhưng cuối
cùng khi đứng trên nông trường Điện Biên trong mùa thu hoạch lạc, giọt mồ hôi cô đổ xuống dường như cũng đã vơi đi mệt nhọc, qua những lời chòng ghẹo, bông đùa cùng với các anh chị em khác như Huân, Duệ
Trang 32Những trang viết về người nông dân trong sản xuất có phần khiêm tốn trong giai đoạn văn học 1945 – 1975 cũng là điều dễ lí giải Trước đó, đã có biết bao tác phẩm viết về người nông dân của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất
Tố, Nam Cao, và đến giai đoạn này, nhiệm vụ chính của văn học là tập trung phục vụ cách mạng Đồng thời, khi miền Bắc được giải phóng, trên cả nước diễn ra hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam thì miền Nam vẫn là tâm điểm của mọi sự quan tâm, cốt hướng đến mục tiêu thống nhất đất nước Miền Bắc vừa sản xuất, phục hồi sau chiến tranh vừa chi viện cho miền Nam; do vậy, đề tài chiếm ưu thế vẫn là con người trong chiến đấu Giai đoạn sau 1954, nhân dân vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống Pháp, hăng hái lao động, sản xuất; những hình ảnh này trở thành trung tâm trong bức tranh “nông dân với lao động sản xuất” của văn học 1945 -1975 Còn ở những vùng miền khác (Trung
Bộ, Nam Bộ), nông dân vừa sản xuất vừa chiến đấu
1.2.2 Người nông dân trong chiến đấu
Từ luống cày, từ cánh đồng, từ làng xóm thân thương quen thuộc, người nông dân trở thành du kích, liên lạc, chiến sĩ hay lặng lẽ làm hậu phương vững vàng cho tiền tuyến Những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, hình ảnh người nông dân kháng chiến xuất hiện khá phổ biến trong văn
học Nếu trong thơ có Cá nước, Phá đường, Bầm ơi, Bà mẹ Việt Bắc, của
Tố Hữu; Đồng chí của Chính Hữu, O tiếp tế Thừa Thiên của Lưu Trọng Lư,
Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung Thông v.v thì trong truyện và kí có truyện
ngắn Đôi mắt của Nam Cao, kí sự Lúa mới của Trần Đăng, Thư nhà của Hồ Phương, Làng của Kim Lân, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng,
Cách mạng và kháng chiến đã thức tỉnh ý thức công dân, tinh thần yêu nước, ý thức giai cấp của quần chúng nói chung và người nông dân nói riêng, lôi cuốn, tập hợp họ vào trong các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng
Trang 33xung quanh Đảng Hình tượng người nông dân được phản ánh trong nhiều tác phẩm văn xuôi với một phẩm chất nổi bật đó là lòng yêu nước nhiệt thành, mãnh liệt Bình thường, cái tình yêu ấy ẩn sâu trong những giọt mồ hôi nơi đồng ruộng, trong những luống cày cần mẫn, trong những luống rau, ruộng
mạ xanh non hay những vụ mùa bội thu Nhưng khi tinh thần kháng chiến đã lan tỏa khắp các nẻo đường quê, thì người nông dân lam lũ với ruộng đồng ấy nói chuyện kháng chiến, tham gia công việc kháng chiến, bộc lộ những tâm trạng căm hờn, buồn rầu hay phấn khởi theo tình hình làng xã, dân nước
Truyện ngắn Thư nhà của Hồ Phương đã ghi lại tâm trạng đau đớn, tê
tái của Lượng, một anh bộ đội cũng ra đi làm nhiệm vụ từ làng quê đồng ruộng Cái tin bố mẹ bị giặc giết, làng xóm tan nát, nhà cửa không còn, người yêu bị giặc cưỡng hiếp đã dày xéo tâm tư anh một cách dữ dội nhưng cũng chính những đau thương đó làm chín chắn thêm suy nghĩ, nhận thức của Lượng Anh nhận ra rằng, mất mát riêng của anh hòa lẫn trong mất mát chung
mà cả dân tộc đang gánh chịu Hòa mình trong tập thể, chia sẻ cùng nỗi đau chung của bà con láng giềng, của quê hương cũng là tâm trang của ông Hai
trong Làng (Kim Lân) Ông Hai là người nông dân rất yêu làng, tình yêu tha
thiết cộng với niềm tự hào về nơi chôn nhau cắt rốn Niềm tự hào ấy càng mãnh liệt hơn khi làng ông hăng hái tham gia làm cách mạng Khi nghe tin đồn thất thiệt về làng Dầu đã theo giặc, ông Hai xấu hổ, đau đớn, nhục nhã đến trào nước mắt Để rồi, khi biết làng ông bị giặc phá, nhà ông bị giặc đốt, nghĩa là làng Dầu không theo giặc,ông vui mừng khôn xiết Thà đau đớn khi nhà, khi làng bị giặc đốt phá còn hơn nhục nhã khi mang tiếng theo giặc, dòng suy nghĩ đó đã nối tiếp những điều gan ruột của người nông dân thế kỉ trước
“Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm
buồn Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì nghe càng thêm
hổ Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh, hơn còn mà
Trang 34chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc –
Nguyễn Đình Chiểu)
Tìm hiểu những nhân vật này, chúng ta nhận thấy rõ nét hơn phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ở khía canh công dân trong thời kì đất nước có chiến tranh Lòng yêu nước của họ được nhấn mạnh, khắc sâu bằng nhiều chi tiết ấn tượng Đây chính là tiền đề cho sự vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, kiên cường, nhiệt tình, quả cảm của người nông dân khi tham gia kháng chiến, như
Nam Cao có lần ghi lại trong Nhật kí ở rừng: “Gần gũi những người Dao đói
rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng sốt sắng, chân thành và tận tụy” Bước vào kháng chiến với những nỗi đau, với lòng
căm thù giặc và đặc biệt là lòng yêu quê hương đất nước sâu sắc, trung thành sau trước một lòng, người nông dân trong văn học 1945 – 1975 dễ dàng hòa mình vào đội ngũ những người lính, những đoàn quân du kích tham gia kháng
chiến Ở Đôi mắt, Nam cao viết: “Người nhà quê dẫu sao cũng còn là một cái
bí mật đối với chúng ta Tôi gần gũi họ rất nhiều Tôi gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương ( ) Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngả ngửa người ra Té
ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng hăng hái lắm Tôi đã theo họ đi đánh phủ Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn” hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm”.Cũng trong
Đôi mắt, Nam Cao còn mô tả anh thanh niên làng vác bó tre đi cản cơ giới
địch say sưa đọc thuộc lòng bài “Ba giai đoạn” kháng chiến Hay trong Con
trâu, Nguyễn Văn Bổng ghi lại hình ảnh người nông dân hăng hái tham gia
chiến đấu bảo vệ trâu, bảo vệ sản xuất Cuộc chiến đấu đó đã làm nổi rõ tấm gương con người mới, sức mạnh của quần chúng, tinh thần đoàn kết tập thể
Ở miền núi, trong Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, người nông dân dưới ách
Trang 35thống trị thực dân phong kiến vùng cao cũng đã dần giác ngộ, vùng lên đi theo cách mạng Bước đầu đến với cách mạng, những hiểu biết về cách mạng đôi khi còn rất mơ hồ, máy móc nhưng nhiệt tình yêu nước và khát vọng vùng lên để giải phóng chính mình và bà con quê hương đã đưa người nông dân
đến gần cách mạng một cách mau chóng hơn Kim Lân đã đưa anh Tràng (Vợ
nhặt) nối theo chị Dậu, anh Pha đi phá kho thóc Nhật, chia cho dân nghèo
Cho dù phản ánh trực tiếp hay mới chỉ là một dự cảm cho tương lai thì các tác giả văn xuôi thời kì này đều nói lên xu hướng vận động chung của tầng lớp nông dân lao động nghèo khổ là xuôi theo dòng thác cách mạng đang lớn mạnh dần Hình ảnh người nông dân quê mùa, mộc mạc nhưng sống với kháng chiến một cách hồn nhiên, nhiệt thành chính là nhân vật phổ biến trong các tác phẩm văn xuôi thời kì chống Pháp
Càng về sau, người nông dân trong chiến đấu càng trở nên thuần thục, nhanh nhẹn, hòa điệu nhịp nhàng cùng cả dân tộc trong cuộc đấu tranh giành
độc lập Điểm lại các tác phẩm Rừng xà nu, Đất Quảng của Nguyễn Trung Thành, Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Gia đình má Bảy,
Mẫn và tôi của Phan Tứ, Hòn Đất của Anh Đức , chúng ta thấy hiện lên
nhiều bức chân dung đẹp của người nông dân anh hùng Ở Tây Nguyên, có dân làng Xô Man với người đứng đầu oai hùng, quắc thước là cụ Mết, với những thế hệ thanh niên dũng cảm, yêu làng, thông minh như Tnú, Mai, Dít,
Heng Họ sống với lời răn như là một câu sấm cụ Mết “Chúng nó đã cầm
súng, chúng ta phải cầm giáo” (Rừng xà nu) Đó là tinh thần quật khởi, sẵn
sàng đấu tranh chống lại kẻ thù Ở Nam Bộ, có những người phụ nữ nông thôn đảm đang vừa lo việc nhà vừa nhanh nhẹn, hăng hái chống giặc, có
những bà mẹ bảo bọc, cưu mang cán bộ Chị Út Tịch trong Người mẹ cầm
súng nổi tiếng với câu nói “còn cái lai quần cũng đánh” và hình ảnh người mẹ
Trang 36bụng chửa vượt mặt vẫn xông lên đánh bốt, chiếm đồn giặc Trong Những
đứa con trong gia đình, cả một gia đình nông dân Nam Bộ từ bố mẹ đến con
cái cùng hòa mình trong dòng sông đạo lí truyền thống: yêu nước, căm thù giặc Chiến, mới vừa đôi tám đã đăng kí đi tòng quân với câu thề mang đầy khẩu khí anh hùng: “Làm thân con gái ra đi, nếu giặc còn thì tao mất” Không thua kém chị, Việt, dù lúc ra chiến trường còn mang theo cả súng cao su
nhưng đã lập được bao chiến công Cũng như vậy, khi khép lại Chiếc lược
ngà, Nguyễn Quang Sáng đã ghi lại hình ảnh “Cháu dừng lại trên bờ mẫu,
những đợt sóng lúa xanh nhỏ nối nhau rập rờn Sau lưng cháu là đám dừa
bị chất độc hóa học , đọt non vừa mới đâm lên, xa trông như một rừng gươm” Cái kết này như tô đâm thêm hình ảnh cả một thế hệ trẻ miền Nam
thời chống Mĩ với sức sống, sức vươn lên mạnh mẽ Còn Thiêm trong Mẫn
và tôi của Phan Tứ hiểu rằng “Loài người đang đánh lấn đế quốc từng bụi tre
một trên làng cá”
Như vậy, từ người nông dân quê kệch, lóng ngóng thời đầu kháng chiến đến bây giờ, trong chặng cuối ác liệt của thời chống Mĩ, việc người nông dân xông pha nơi chiến trường, đối đầu quả cảm với kẻ thù không còn là điều xa
lạ Họ bám đất, bám làng đến nỗi đất đai quê hương đã hóa thân vào mỗi con người: trong chị Sứ có tất cả vẻ đẹp và sức sống của quê hương xứ Hòn, trong
cô Mẫn là kết tinh cả những gì tinh túy chắt lọc của một vùng quê miền Trung nhiều gian khó, sóng gió nhưng cũng không thiếu vẻ trữ tình đằm sâu từ những dòng sông trong xanh, những nương chè, bãi dâu Hình tượng người nông dân trong chiến đấu giai đoạn 1945 -1975 được phản ánh một cách liên tục, không ngừng phát triển, tiếp thu những nét mới từ tình hình thực tế nên ngày càng hoàn bị hơn Giai đoạn đầu, các tác giả tập trung vào những tiền đề
về nhận thức, môi trường tiếp xúc với cách mạng để giác ngộ nông dân; càng tiệm cận với dấu mốc 1975, các nhà văn càng thiên về những thành tích, chiến
Trang 37công, vẻ đẹp của người nông dân trong thực tế chiến đấu Thế giới nội tâm của nhân vật có được chú ý với những đoạn văn cảm động song chưa phải là trong tâm cuốn hút Sức hấp dẫn của hình tượng người nông dân trong chiến đấu à ở những tình cảm đẹp, hành động đẹp vì lí tưởng chung của dân tộc
Cùng với các giai tầng khác trong xã hội, người nông dân gần như là lực lượng nòng cốt giữ vai trò quan trọng trong lịch sử Vì thế, trong các tác phẩm văn học, để tái hiện lại một chặng đường lịch sử kháng chiến oai hùng
ba mươi năm của dân tộc ta, các tác giả không thể không dành một mảng lớn
để viết về sự trưởng thành và cống hiến của người nông dân cho cách mạng Hình tượng này vừa tiếp nối những hình tượng nông dân trong văn học cổ vừa mang những nét mới của thời đại và còn là một hình tượng để đối sánh khi xây dựng, phản ánh chân dung người nông dân trong văn học giai đoạn kế tiếp
Trang 38CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG NÔNG DÂN TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN MINH CHÂU NHÌN TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI
Quan niệm nghệ thuật về con người là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con
người, là “ hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh về đời sống, là hệ quy chiếu
ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật” [53, 275] Chính vì vậy, quan niệm nghệ
thuật về con người là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự vận động và đổi mới văn học
2.1 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu về cuộc sống và con người
2.1.1 Trước năm 1975
Nguyễn Minh Châu là nhà văn quân đội, trưởng thành trong những năm kháng chiến chống Mỹ Bầu không khí chung của thời đại lúc này là sự hăm
hở, sục sôi lên đường đánh Mỹ Tất cả quyết tử cho tổ quốc quyết sinh
Vì thế, mối quan tâm duy nhất của Nguyễn Minh Châu lúc này là
“quan tâm thường trực về vận mệnh dân tộc, về số phận và khát vọng của
nhân dân trong những năm sóng gió” Tâm niệm sáng tác cháy bỏng của ông
lúc này là hướng đến “cuộc đấu tranh vì quyền sống của dân tộc” Do vậy, quan niệm của nhà văn về “con người đẹp nhất” phải là con người mang tầm vóc sử thi, với lý tưởng và nhân cách sáng ngời, có niềm tin sắc son vào cuộc sống và tình yêu Vì thế, nhà văn đã dành gần nửa cuộc đời để say mê ngợi
ca, khám phá vẻ đẹp của cuộc sống và con người trong chiến tranh vệ quốc
Vẻ đẹp lung linh của lý tưởng, của niềm tin vào cuộc sống và tình yêu đã được Nguyễn Minh Châu lặn tìm giữa bể đời mênh mông qua hiện thực chiến
tranh Nói như Nguyễn Minh Châu, niềm tin ấy “như sợi chỉ xanh óng ánh,
bao nhiêu bom đạn dội xuống, cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá
Trang 39nổi” Đó chính là sức mạnh tinh thần làm nên chiến thắng mang âm vang của
thòi đại và cái nhìn lãng mạn của nhà văn Không phải ngẫu nhiên mà thiên
nhiên trong Mảnh trăng cuối rừng được “ướp” trong ánh trăng non đầu
tháng Cả cái tên của truyện cũng tràn ngập chất thơ Đem một “mảnh trăng non” đặt ở “cuối rừng già” đã biến không gian chiến tranh thành không gian của tình yêu diễm tuyệt Những con đường từ hậu phương dẫn ra tiền tuyến được dát vàng bằng từng “mảng ánh trăng” – Trở thành”con đường tình ta đi” dưới mưa bom bão đạn Và trên nền thiên nhiên đó, Nguyệt hiện ra như một vành trăng non trong vắt từ dáng vẻ bên ngoài đến phẩm chất bên trong: dũng cảm, cứng cỏi, thủy chung và giàu đức hy sinh… Khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong cái nhìn đầy lãng mạn ấy, Nguyễn Minh Châu muốn
lý giải với chúng ta rằng: Chiến tranh dù tàn khốc thế nào, vẫn không thể hủy diệt được vẻ đẹp trường cửu của thiên nhiên và tình yêu và niềm tin mãnh liệt, vĩnh hằng của con người Những huyền thoại của dân tộc phải chăng đã được dệt nên từ những câu chuyện tình yêu, tình đồng đội tuyệt đẹp như Lãm và
Nguyệt Mặc dù say sưa ngợi ca những “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm
hồn” như Nguyệt, Lãm nhưng tác giả vẫn có cách ứng xử nghệ thuật hợp lý
để không rơi sâu vào lên gân, khô cứng Câu chuyện tình yêu như một “trò chơi ú tim” đầy rạo rực, lãng mạn được kể lại bởi một anh lính lái xe đang yêu, đang say sưa trong hạnh phúc Nên cái dữ dội của đạn bom có hề hấn gì khi không gian chiến tranh được nhìn qua lăng kính tình yêu vẫn cứ ngập tràn chất thơ Khoảng trời đêm vẫn cứ trong vắt và thời gian chờ đợi tìm gặp người yêu vẫn cứ ảo diệu qua tiếng chim gọi bạn tình nổi lên sâu thẳm
Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh, với quan niệm con người mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng, của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, bên cạnh những hình mẫu nhân vật mang cảm quan nghệ thuật của nhà văn
như Lãm, Nguyệt ( Mảnh trăng cuối rừng), Kinh, Lữ, Khuê, Cận, Lượng…(
Trang 40Dấu chân người lính), Nguyễn Minh Châu cũng đã bước đầu hướng ngòi bút
đến “ những vùng trời khác nhau ở mỗi con người; đã nhận thức được ngoài bầu trời chung là Tổ quốc còn có những khoảng trời riêng trong mỗi cá thể
Đó là Sơn, một người lính lớn lên ở đất Tràng An hoa lệ, cái chất thanh lịch hào hoa của người Hà Thành đã giúp anh dù đối diện với cuộc chiến khốc liệt vẫn không tắt lửa lòng với những tình cảm nhớ nhung lãng mạn; Lê lại là người con của một vùng quê miền Trung đầy nắng gió, đã chai sạn với khốc
liệt cuộc đời “Trong những năm đằng đẵng Sơn cắp sách đi học trên những
đường phố Hà Nội mát mẻ thì Lê đã dắt trâu đi những đường cày thẳng tắp
và sâu hoắm trên cánh bãi sông Lam… Lê không quen thói viễn vông, lãng mạn Cái nhìn của Lê bao giờ cũng nghiêm khắc nhưn một cơn gió Lào”
(Những vùng trời khác nhau) Ấy vậy mà những lý tưởng cao đẹp xả thân vì
Tổ quốc đã gắn kết họ thành đôi bạn, thành đồng chí sẵn sàng hy sinh vì nhau
Đặc biệt với Cửa sông, tác phẩm mà chính Nguyễn Minh Châu xem là
quyển sách vào nghề của mình Ta bắt gặp ở đây cái nhìn trong sáng, điềm tĩnh của nhà văn Các nhân vật ở đây tình cảm và lý trí thống nhất, tất cả sống đúng như mình có, không thấy những lay động quá mức, những khao khát, những đòi hỏi phức tạp, tựa như con sông Kiều ra tới tận biển mà cái tiếng
sóng bật lên vẫn “vừa trang nghiêm vừa dịu dàng” Nhà văn đôn hậu nhìn
nhận mọi chuyện, thắm thiết cùng kỷ niệm, lắng nghe mọi diễn biến xảy ra trong mọi người
Mặt khác, chiều sâu nhân bản trong ngòi bút giàu lý tưởng của Nguyễn Minh Châu không hoàn toàn đơn giản trong hành trình đi tìm cái đẹp Ở
những nhân vật như Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng), Lữ ( Dấu chân người
lính), người đọc vẫn nhận thấy những miền khuất lấp, xa vời, bí ẩn, khó nắm
bắt trong bề sâu tâm hồn, khơi gợi khát vọng tìm kiếm Những trắc trở, éo le