Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong đó có sáng tác của các nhà nho Cần vương là một giai đoạn có vai trò, vị trí hết sức đặc biệt trong lịch sửvăn học dân tộc.. Phong trào Cần Vương “giúp v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN TRANG
CON NG¦êI TRUNG NGHÜA TRONG S¸NG T¸C CñA C¸C NHµ NHO CÇN V¦¥NG CUèI THÕ Kû XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ VÂN TRANG
CON NG¦êI TRUNG NGHÜA TRONG S¸NG T¸C CñA C¸C NHµ NHO CÇN V¦¥NG CUèI THÕ Kû XIX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS BIỆN MINH ĐIỀN
NGHỆ AN - 2014
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX 8
1.1 Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc 8
1.1.1 Giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam 8
1.1.2 Văn học hình thành và phát triển trong bối cảnh mới với nhiều sự kiện đặc biệt chi phối 12
1.1.3 Văn học phân hóa thành nhiều khuynh hướng, nhiều tư trào khác nhau 20
1.2 Tư trào Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX 24
1.2.1 Phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX và vấn đề trung quân - ái quốc, “vì vua” - “vì nước” đặt ra cho nhà nho 24
1.2.2 Tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và quan niệm trung nghĩa của nhà nho 27
1.2.3 Các tác gia tiêu biểu của tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và sự gặp nhau trong tư tưởng “Cần vương” -“hộ quốc” 34
Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG 48
Trang 42.1 Các dạng thái biểu hiện và đặc điểm của hình tượng con người
trung nghĩa trong văn học nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX 48
Trang 5cái tôi tác giả) trong sáng tác của các nhà nho Cần vương 48
2.1.2 Con người trung nghĩa qua nhân vật khách thể được miêu tả trong sáng tác của các nhà nho Cần vương 64
2.2 Sự đa dạng và thống nhất của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương 74
2.2.1 Sự đa dạng của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương 74
2.2.2 Sự thống nhất của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương 80
2.3 Ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX 84
2.3.1 Những tấm gương của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng .84
2.3.2 Cái đẹp và sức sống của mẫu hình con người trung nghĩa 91
Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG CUỐI THẾ KỶ XIX 100
3.1 Sự lựa chọn thể loại 100
3.1.1 Các thể văn chính luận (luận, thuyết, thư, biểu, tấu,…) 100
3.1.2 Các thể thơ (thơ cổ phong, thơ đường luật,…) 106
3.1.3 Các thể văn biền ngẫu (đối liên, hịch,…) 114
3.2 Bút pháp 117
3.2.1 Bút pháp trữ tình 117
3.2.2 Bút pháp chính luận 120
3.2.3 Một số bút pháp khác 123
3.3 Giọng điệu và ngôn ngữ 124
3.3.1 Giọng điệu 124
3.3.2 Ngôn ngữ 126
Trang 6KẾT LUẬN 129 TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học nửa sau thế kỷ XIX (trong đó có sáng tác của các nhà nho
Cần vương) là một giai đoạn có vai trò, vị trí hết sức đặc biệt trong lịch sửvăn học dân tộc Giai đoạn văn học này gắn liền với sự kiện thực dân Pháptiến hành xâm lược nước ta và cuộc chiến đấu kiên cường, bất khuất của đôngđảo nhân dân ta hưởng ứng ngọn cờ Cần vương, chống ách xâm lược của thựcdân Pháp Những sự kiện mang tính thời sự đó đã chi phối toàn bộ đời sốngvăn học và làm thay đổi diện mạo văn học Văn học theo sát tình hình chínhtrị, phục vụ cuộc đấu tranh chính trị Điều đáng chú ý nữa, giai đoạn văn họcnày là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ văn học được sáng tác dưới sự chi phốicủa ý thức hệ phong kiến, thuộc loại hình văn học trung đại, nó mang nhữngnét đặc thù khác hẳn với các giai đoạn trước và sau đó Hiện còn nhiều vấn đề
về nội dung, tư tưởng, về hình thức ngôn ngữ, thể loại, về các khuynh hướngcũng như các tác gia, tác phẩm tiêu biểu… của văn học giai đoạn này đặt racho giới nghiên cứu phải tìm hiểu, giải quyết
1.2 Phong trào Cần Vương (“giúp vua”) nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại
thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi(một ông vua yêu nước) đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp.Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX tuy dưới danh nghĩa Cần Vươngnhưng thực chất là phong trào dân tộc, phong trào yêu nước chống chủ nghĩathực dân xâm lược kết hợp với chống triều đình phong kiến đầu hàng đã diễn
ra sôi nổi, rộng khắp Phong trào tuy thất bại nhưng đã tô thắm thêm truyềnthống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam Từ đây xuất hiện tư trào văn
Trang 7học Cần vương mà các tác giả là những nhà Nho - những thủ lĩnh - nhữngchiến sĩ kiên gan, tích cực, một lòng vì nước - vì vua.
Tư trào văn học Cần vương là một hiện tượng lớn, độc đáo, nhưng khôngphải không phức tạp, nhất là trong sự tiếp nhận của hậu thế Tìm hiểu, nghiêncứu sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX nhằm hướng tớimột sự nhìn nhận chung nhất về tư trào văn học Cần vương, sự đánh giá thỏađáng đối với những đóng góp xuất sắc của các nhà nho Cần vương cho vănhọc nửa sau thế kỷ XIX nói riêng và văn học dân tộc nói chung
1.3 Tư trào văn học Cần vương bao gồm nhiều tác giả xuất sắc với
nhiều tác phẩm văn học có giá trị, có ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc màhậu thế có thể chưa cảm thấu hết Ngay việc sưu tầm, tập hợp, biên dịch tácphẩm của các nhà văn Cần vương vẫn đang là bài toán đòi hỏi giới nghiêncứu phải giải quyết, phải giới thiệu rộng rãi cho đông đảo công chúng hiệnnay được biết
Mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cầnvương cuối thế kỷ XIX là một mẫu hình đẹp, có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều
phương diện Con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần
vương cuối thế kỷ XIX là vấn đề lớn, và không phải không phức tạp, đòi hỏi
phải có sự tìm hiểu nghiên cứu một cách công phu, nghiêm túc, khoa học.Đây là công việc lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm thực sự của giới nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Con người trung nghĩa trong sáng
tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX.
2.2 Giới hạn của đề tài
Trang 8Đề tài bao quát sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX,chủ yếu tập trung vào ba tác giả tiêu biểu: Nguyễn Xuân Ôn, Phan ĐìnhPhùng, Nguyễn Quang Bích.
Văn bản các tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào các cuốn:
- Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (Trần Văn Giàu giới thiệu và chú
thích; nhiều tác giả sưu tầm, biên soạn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1976
- Thơ văn Nguyễn Quang Bích (Đinh Xuân Lâm giới thiệu và chú thích;
nhiều người dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 1973
- Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (Đinh Xuân Lâm giới thiệu và chú thích;
nhiều người dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 1977
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.1 Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu văn học nửa sau thế kỷ XIX nói
chung, sáng tác của các nhà nho Cần vương nói riêng
Văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX với tư cách là một giai đoạnthuộc thời kỳ văn học trung đại đã có khá nhiều những công trình nghiên cứuquan tâm Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:
1 Trần Văn Giàu (giới thiệu), Chu Thiên, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh
Khôi (biên soạn - 1976), Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học,
Hà Nội [15]
2 Nguyễn Lộc (1976), Văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX, Nxb Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội [38]
3 Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Đinh Thị Khang, Trần Quang Minh,
Nguyễn Phong Nam, Lã Nhâm Thìn (2007), Giáo trình văn học trung đại
Việt Nam, tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội [46].
4 Nguyễn Phong Nam (1997, tái bản 2004), Giáo trình văn học Việt
Nam giai đọan cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội [48].
Trang 95 Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Phan Côn,… (1978), Lịch sử văn học
Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội [72]
Những công trình trên chủ yếu là những giáo trình về lịch sử văn họcdùng cho sinh viên các trường đại học Có những công trình đã viết cách đâyvài ba thập kỷ nên không tránh khỏi những hạn chế, nhất là hạn chế trongphương pháp nghiên cứu (các tác giả chủ yếu vận dụng phương pháp lịch sử,phương pháp xã hội học) Tiếp tục nghiên cứu về văn học giai đoạn này khiđặt trên toàn bộ tiến trình văn học dân tộc với cái nhìn mới và vận dụngnhững phương pháp mới có thể kể đến các tác giả với các công trình: Trần
Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [28], Nguyễn Hữu Sơn với Văn học trung đại Việt Nam - quan niệm con người và tiến trình
phát triển [58], Đoàn Thị Thu Vân cùng một số tác giả trong công trình tập
thể: Văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X - cuối thế kỷ XIX) [70]… Với
những công trình đó, các tác giả nghiên cứu đã đưa đến cái nhìn khái quát vềlịch sử và tình hình văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đồngthời giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này
Trong cái nhìn khái quát và hệ thống về tình hình lịch sử, tình hình vănhọc và điểm lại những tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này, các nhànghiên cứu đã có nhắc tới phong trào Cần vương, nhắc tới những tác giả cóđóng góp lớn cho khuynh hướng sáng tác chủ đạo của văn học lúc ấy -khuynh hướng yêu nước chống Pháp, như: Nguyễn Đình Chiểu, Trương Định,Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng… Tuy nhiên,những công trình đó chỉ nghiên cứu trên tổng thể, trong cái nhìn khái quátnhất về những đặc điểm nổi bật và điểm tên những tác giả tiêu biểu trong suốtmột chặng đường dài nửa thế kỷ Còn việc nghiên cứu cụ thể hơn về mộtphong trào sáng tác nổi bật trong giai đoạn này - phong trào văn học Cầnvương, và đi sâu vào khám phá giá trị tác phẩm của các tác giả thuộc phong
Trang 10trào văn học này thì lại không nằm trong phạm vi của những công trình đó,hoặc nếu có thì cũng chỉ nghiên cứu riêng lẻ về cuộc đời, sự nghiệp của mộtvài tác giả như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích (trong chương năm,
chương sáu thuộc phần III của công trình: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XVIII - hết thế kỷ XIX) [39]).
Trong lịch sử nghiên cứu về sáng tác của các nhà nho Cần vương, sángtác của hai tác giả Nguyễn Xuân Ôn và Nguyễn Quang Bích được quan tâm,nghiên cứu nhiều hơn cả Công trình khảo cứu do Đinh Xuân Lâm giới thiệuvới sự tham gia của nhiều tác giả, dịch giả đã sớm ra mắt người đọc hai tập
sách: Thơ văn Nguyễn Quang Bích [33], Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn [34].
Những công trình này là sự khảo cứu khá toàn diện, khá đầy đủ về thân thế,cuộc đời chiến đấu, sự nghiệp sáng tác và nội dung tư tưởng trong sáng táccủa các tác giả Ngoài ra, có một vài bài viết về hai tác giả được đăng trên cáctrang báo địa phương, những bài viết trong các cuốn sách tổng kết về lịch sử,chủ yếu ca ngợi họ với tư cách là người anh hùng của quê hương, chẳng hạn:
“Nhà văn thân yêu nước Nguyễn Xuân Ôn - ngọn cờ đầu của phong trào Cần
vương Bắc Nghệ An cuối thế kỷ XIX” [36], “Cụ Nghè Ôn, giai thoại và truyền thuyết” [51], hoặc có đề cập đến một nét nào đó trong sáng tác của họ: “Tây
Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích” (Trần Vân Hạc), “Cái buồn trong thơNguyễn Quang Bích” (Trần Đình Sử),…
Với tác giả Phan Đình Phùng, các sáng tác của ông đã được lưu lại trong
cuốn Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [15], có nhiều bài viết ca ngợi ông
đã được đăng tải trên các trang báo, các tạp chí: Phan Đình Phùng, cuộc đời
và sự nghiệp [54], “Tấm lòng của Phan Đình Phùng rạng ngời như trăng sao”
[69] Các công trình nghiên cứu lớn về ông chủ yếu ở phương diện lịch sử, ở
tư cách là một lãnh tụ yêu nước của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX
3.2 Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa và con người
trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX
Trang 11Các công trình nghiên cứu về sáng tác của các nhà nho Cần vương chủyếu đánh giá những giá trị chung về nội dung tư tưởng, hướng đến nội dungyêu nước trong văn học Trong “Lời giới thiệu” của công trình nghiên cứu
Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [15], tác giả Trần Văn Giàu đã nói đến
những tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của thơ văn yêu nước giai đoạn này,trong đó có thơ văn của các tác giả Cần vương, đó là tư tưởng: “Việc nghĩaphải làm, không kể đến thành bại”[15; 24], “Tư tưởng trung quân: hình ảnh
vua càng mờ xuống, vị trí dân càng lên cao” [15; 32] Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là những đánh giá khái quát về vấn đề trung - nghĩa trong suốt cả giai
đoạn cuối thế kỷ XIX chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu về tư tưởngtrung nghĩa và con người trung nghĩa giai đoạn này Con người trung nghĩa cóđược nhắc tới như một hình tượng đẹp trong văn học nhưng còn chung chung
và rải rác trong các công trình nghiên cứu về giai đoạn cuối cùng của thời kỳvăn học trung đại Việt Nam
Có thể nói, hình tượng con người trung nghĩa là một hình tượng đẹp, cógiá trị trong văn học Cần vương, văn học yêu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIXnói riêng và văn học trung đại nói chung Đây vẫn là vấn đề cần phải được đisâu nghiên cứu để thấy được trọn vẹn vẻ đẹp của con người Việt Nam trongquá khứ
Luận văn là công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề này với tư cách như mộtvấn đề chuyên biệt và với cái nhìn hệ thống
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát, luận văn nhằm tìm và xác định những đặc điểm của mẫuhình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuốithế kỷ XIX, khẳng định giá trị và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của mẫu hình conngười này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 124.2.1 Đưa ra một cái nhìn chung về tư trào văn học Cần vương và sángtác của các nhà nho Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX.
4.2.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những đặc điểm và ý nghĩa xãhội - thẩm mỹ của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhànho Cần vương cuối thế kỷ XIX
4.2.3 Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật thể hiện hìnhtượng con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vươngcuối thế kỷ XIX
Cuối cùng rút ra một số kết luận về vai trò và đóng góp của các nhà nhoCần vương cho lịch sử văn học dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chính: phương pháp liên ngành, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loạihình, phương pháp cấu trúc - hệ thống…
-6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp
- Luận văn là công trình đi sâu tìm hiểu con người trung nghĩa trong sángtác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX với cái nhìn tập trung và hệthống
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việctìm hiểu và nghiên cứu sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về sáng tác của các nhà nho Cần vương trong
văn học nửa sau thế kỷ XIX
Trang 13Chương 2: Hình tượng con người trung nghĩa trong sáng tác của các
nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX
Chương 3: Phương thức thể hiện hình tượng con người trung nghĩa
của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG
TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX
1.1 Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc
1.1.1 Giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam
Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ X và khép lại khi hết thế
kỷ XIX (Văn học hiện đại được xem là từ đầu thế kỷ XX đến nay) Đấy là ýkiến chung, cơ bản là thống nhất của giới nghiên cứu Xét riêng văn học trungđại - một thời kỳ - và cũng là một loại hình văn học với những đặc trưngriêng, lấy thể loại làm tiêu chí cơ bản, có thể chia thời kỳ văn học trung đạithành bốn giai đoạn: văn học thế kỷ X - XIV, văn học thế kỷ XV - XVII, vănhọc thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX, và văn học nửa sau thế kỷ XIX (1858 -hết thế kỷ XIX) Vậy là, giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX là chặng đường cuốicùng của văn học trung đại Việt Nam Mốc lịch sử của văn học giai đoạn nửasau thế kỷ XIX: bắt đầu từ sự kiện thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta(1858), và kết thúc khi thực dân Pháp hoàn thành công cuộc bình định, chuẩn
bị cho công cuộc khai thác thuộc địa (1898) Mốc văn học: bắt đầu bằng thơvăn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn hiện thực -trào phúng của Nguyễn Khuyến (Tam nguyên Yên Đổ) và Trần Tế Xương(Tú Xương)
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX có một vị trí rất đặc thùtrong lịch sử văn học dân tộc Mặc dù chỉ diễn ra trong nửa thế kỷ, khoảngthời gian ngắn ngủi so với một nghìn năm văn học trung đại nhưng đây là giaiđoạn có nhiều sự kiện văn hóa, văn học quan trọng Đây là giai đoạn cuốicùng của văn học trung đại, có vai trò khép lại một chặng đường dài suốtmười thế kỷ của thời kỳ văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ý thức hệ
Trang 15phong kiến và chuẩn bị một số điều kiện cho sự thay đổi phạm trù văn họcdiễn ra vào đầu thế kỷ XX Văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX có diệnmạo, đặc điểm riêng
Nhà nho vẫn là lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học giai đoạn nửacuối thế kỷ XIX, vẫn là những nho sỹ mang ý thức hệ phong kiến, điểm kháctrước là phần lớn họ xuất thân từ tầng lớp trung và dưới của xã hội Họ vừa lànhững chủ thể sáng tạo văn học giai đoạn này vừa là nhân vật chính của lịch
sử bởi họ được chứng kiến cuộc xung đột dữ dội của thời đại - cuộc đụng đầulịch sử giữa chủ nghĩa thực dân Pháp và nhân dân Việt Nam Họ có mối quan
hệ khá chặt chẽ với nhân dân Trước cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dântộc, ngoại trừ một bộ phận ít ỏi làm tay sai cho giặc, còn hầu hết họ đứng vềphía nhân dân chống thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, nếm trải bikịch của dân tộc, của thời đại
Công chúng văn học ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX vẫn là những ngườibiết chữ Hán và chữ Nôm Văn hóa phương Tây cùng với sự chi phối bởi quyluật đời sống của chủ nghĩa thực dân khi thực dân Pháp tiến hành khai thácthuộc địa ở Việt Nam đã khiến cho tâm lý của đám đông công chúng có sựthay đổi ít nhiều, tuy nhiên vẫn chưa tạo ra được một lớp công chúng mới
Về ngôn ngữ, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn tồn tại haithành phần chữ Hán và chữ Nôm Có tác giả viết hoàn toàn bằng chữ Hán nhưNguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, Miên Thẩm , có tác giả vừa viết bằngchữ Hán, vừa viết bằng chữ Nôm như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, cótác giả lại viết chủ yếu bằng chữ Nôm như Nguyễn Đình Chiểu, Trần TếXương… Chữ quốc ngữ giai đoạn này được khích lệ dưới nhiều hình thức:báo chí, phiên âm, dịch thuật…, nhưng nhìn chung, chữ Quốc ngữ chủ yếu làcông cụ để truyền bá đạo Gia tô hoặc được dùng để phiên âm một số tác phẩmchữ Nôm và chữ Hán ra chữ quốc ngữ chứ chưa có một nền văn học sáng tác
Trang 16bằng chữ Quốc ngữ Báo chí đã ra đời nhưng chỉ có tính chất công báo, nhằmphục vụ trực tiếp chính sách cai trị của thực dân Pháp chứ chưa có báo chívăn học Ảnh hưởng của văn học nước ngoài đối với văn học giai đoạn nàyvẫn chủ yếu là văn học Trung Quốc như những giai đoạn trước chứ chưa phảiảnh hưởng của văn học phương Tây như giai đoạn từ đầu thế kỷ XX trở đi Tuy nhiên, tính chất thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học và đã làmthay đổi diện mạo văn học Vào thời điểm này, vấn đề mang tính thời sự, cấp
bách nhất của đời sống cộng đồng không gì ngoài chuyện chiến hòa, sinh
-tử, duy tân - thủ cựu Văn học dù muốn dù không cũng bị cuốn hút vào vòng
xoáy này Và đương nhiên, những khuôn mẫu văn chương cũng phải biến đổi
để kịp thích ứng với yêu cầu thực tế Có thể khẳng định, trước kia chưa cómột giai đoạn nào mà sự chuyển biến về chủ đề và đề tài trong văn học lạinhanh chóng và theo sát biến cố đến vậy Tính chất quy phạm (xét ở phươngdiện đề tài, chủ đề) đã có những thay đổi đáng kể Mặc dù mới nhìn thoángqua, diện mạo văn chương vẫn như cũ song thực tế không phải vậy Vẫn làcâu chuyện về những con người yêu nước, con người trung nghĩa nhưng hoàncảnh mà nhân vật nếm trải lúc này hoàn toàn khác so với những gì từng cótrước đây; cũng là những nguyên lý đạo đức truyền thống nhưng cách biểuhiện đã khác, chẳng hạn chuyện chống lại mệnh vua, phỉ báng triều đình màvẫn được coi là trung nghĩa…; hay nỗi u hoài, mặc cảm tội lỗi của một bộphận đông đảo các nhà nho khi nhận ra sự lỗi thời của mình trước thời cuộc;hoặc sự xuất hiện của những người nghĩa dân anh hùng… là điều chưa từng
có hoặc hiếm hoi trong lịch sử văn học nước ta Ngay đến cả các vấn đề xãhội, các đối tượng mà văn chương trào phúng nhằm vào cũng khác: đa dạng,phong phú nhưng lại tập trung hơn so với những gì truyện tiếu lâm dân gian,truyện Trạng từng đề cập tới Điều này chứng tỏ đã có sự đổi thay trong quanniệm nghệ thuật, trong thi pháp của các tác giả, chính những vấn đề nóng
Trang 17bỏng của cuộc sống, của dân tộc đang diễn ra trước mắt khiến cho nhà vănphải có những điều chỉnh thích hợp
Về mặt hình thức nghệ thuật, phương pháp chính của văn học giai đoạnnửa cuối thế kỷ XIX vẫn là phương pháp sáng tác truyền thống của văn họcphong kiến những giai đoạn trước Nhưng do yêu cầu phản ánh trung thực vàgần gũi để động viên chiến đấu nên văn học đã vận dụng nhiều chất liệu hiệnthực, mang sắc thái phê phán và ít nhiều đã phá vỡ những khuôn khổ củaphương pháp sáng tác truyền thống, vươn lên một bước theo hướng chủ nghĩahiện thực Đặc biệt là với Trần Tế Xương, tác giả kết thúc giai đoạn này, đồngthời có thể coi là người có công chuẩn bị cho việc mở đầu giai đoạn kế tiếp,nhà thơ đã có nhiều đóng góp trong việc sáng tác với phương pháp mang đậmtính hiện thực, làm tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực của thời
kỳ sau
Trong bộ phận văn học chữ Hán, phong cách biểu hiện của thơ vẫn chưa
có gì đổi mới, vẫn chưa thoát khỏi tính quy phạm với những công thức, ước lệcủa văn học phong kiến Riêng văn xuôi chữ Hán có phần khác trước, câu văntrong sáng, giản dị hơn, lập luận cũng chặt chẽ, lô gích hơn
Trong bộ phận văn học chữ Nôm, nghệ thuật biểu hiện một mặt kế thừatruyền thống, mặt khác có sự đổi mới đáng kể Văn học giai đoạn này bớt lốidiễn đạt chung chung, ước lệ, không cụ thể mà bám sát đời sống Trong thơhiện thực trào phúng nổi bật lên tính cụ thể, tính cá thể rõ nét, các nhà thơdùng tiếng cười để xua tan mọi suy nghĩ siêu hình, tự biện
Cùng với lối biểu hiện có tính chất cá thể, cụ thể, thơ thời kỳ này cònxuất hiện cái tôi trữ tình, phong cách cá nhân khá rõ nét Những đại từ ngôi
thứ nhất số ít như tôi, tớ, anh, em, ông, mình,… đã thay thế cho ta hoặc một
ẩn ngữ cùng loại Điều này đã làm cho văn học giai đoạn này có tiếng nóiriêng, vừa gần gũi vừa đại chúng
Trang 18Như vậy, với quãng thời gian nửa thế kỷ, giai đoạn văn học nửa sau thế
kỷ XIX không chỉ tạo ra một diện mạo riêng, một sắc thái riêng mà còn giànhđược một vị trí rất đáng lưu ý trong toàn bộ tiến trình lịch sử văn học ViệtNam Ở giai đoạn này, văn học một mặt vẫn đang trong phạm trù văn họctrung đại, chưa thoát ra khỏi sự chi phối của tính quy phạm với những đặc thù
về nội dung và hình thức, song đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới mẻ làmtiền đề cho những bước phát triển đột phá trong giai đoạn kế tiếp Sự biếnđộng của lịch sử, xã hội là nguyên nhân chính tác động một cách sâu sắc đếnđời sống văn học Trên quan điểm vận động của lịch sử, có thể nói giai đoạnvăn học nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn cuối cùng, đánh dấu sự kết thúc củathời kỳ văn học trung đại trong văn học Việt Nam, đồng thời đây cũng là giaiđoạn chuẩn bị một số điều kiện cho sự thay đổi phạm trù văn học (từ trung đạisang hiện đại) diễn ra vào đầu thế kỷ XX
1.1.2 Văn học hình thành và phát triển trong bối cảnh mới với nhiều
sự kiện đặc biệt chi phối
Biến cố quan trọng có tác động mạnh mẽ nhất đối với quá trình hìnhthành và phát triển của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX chính là cuộcxâm lăng do thực dân Pháp phát động nhằm vào Việt Nam năm 1858 Biến cốnày đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, kéo theo những xáotrộn, những thay đổi sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống, trong đó cóvăn học
Thực ra, dã tâm thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp đã manh nha từnhững năm cuối của thế kỷ XVIII, khi chế độ phong kiến Việt Nam ngàycàng đi sâu vào khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng Tư bản phương Tây vàPháp nhòm ngó Việt Nam từ rất sớm, bằng con đường buôn bán và truyềnđạo Trong cuộc chạy đua xâm lược Việt Nam, Pháp tỏ ra tích cực hơn cả,chớp mọi cơ hội để can thiệp vào Việt Nam Cuối thế kỷ XVIII, khi phong
Trang 19trào nông dân Tây Sơn nổ ra, Nguyễn Ánh cầu cứu nước ngoài nhằm khôiphục lại quyền lực Giám mục Bá Đa Lộc đã chớp cơ hội đó tạo điều kiện cho
tư sản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng Hiệp ước Véc-xai năm 1787 VớiHiệp ước này, tư bản Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đánh lại nhà Tây Sơn,đổi lại, Pháp được sở hữu cảng Hội An, đảo Côn Lôn và được độc quyềnbuôn bán tại Việt Nam Nhưng hiệp ước 1787 đã không được thực hiện bởi lẽngay sau đó, vào năm 1789, cách mạng Pháp bùng nổ, những biến động chínhtrị, những đổi thay trong nội bộ triều đình cùng những rắc rối trên phươngdiện đối ngoại với các nước lân bang… khiến chính quyền Pháp bỏ lỡ cơ hộican thiệp ngay vào Việt Nam Thêm vào đó, chính cung cách ứng xử của cácvua Nguyễn khá nhẫn nhịn, nhún nhường, không để người Pháp phật lòngcũng khiến Pháp trở nên chần chừ, phải mất thời gian kiếm cớ, chưa thể ra taysớm hơn
Tuy nhiên, chúng vẫn không từ bỏ âm mưu của mình và âm mưu đó đãđược coi là “quốc sách” để rồi hết chính phủ này đến chính phủ khác thaynhau theo đuổi Năm 1858, lấy cớ triều đình nhà Nguyễn cự tuyệt bang giao
và giết giáo sĩ, giáo dân, chính phủ Pháp quyết định dùng vũ lực để thực hiệntham vọng của mình Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp - TâyBan Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng, dụng ý của Pháp là sau khi chiếmđược Đà Nẵng sẽ tiến thẳng ra Huế, buộc triều đình Huế đầu hàng, bẻ gãy ýchí kháng chiến của đối phương Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1958, Pháp gửi tốihậu thư cho quan trấn thủ thành Đà Nẵng là Trần Hoàng hạn trong hai giờđồng hồ phải trả lời Chưa hết hai giờ hẹn, quân Pháp đã nổ súng dữ dội bắnphá các mục tiêu trên bờ, đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc xâm lượcchính thức nước ta Tiếng súng xâm lăng của quân Pháp đã thổi bùng ngọnlửa yêu nước trong nhân dân Các lực lượng dân binh cùng nhân dân địaphương ra sức đào hào, đắp lũy phối hợp với quân của triều đình chặn đánh
Trang 20tàu địch Quan quân triều đình cùng với đội dân binh chỉ được trang bị bằngnhững thứ khí giới lạc hậu thời trung cổ đã khiến kẻ thù phải trả giá đắt Trênthực tế, người Pháp đã thất bại tại trận đọ sức đầu tiên ở mặt trận Sơn Trà, kếhoạch đánh nhanh thắng nhanh của chúng bước đầu bị phá sản Thành ra, saunăm tháng hành binh xâm lược và bị sa lầy ở đây, thực dân Pháp thay đổi kếhoạch, chúng chuyển hướng tấn công vào phía Nam, nơi mà theo tính toáncủa chúng, do xa xôi, cách trở với triều đình, lại ở chỗ đất rộng người thưa, cóthể dễ dàng chiếm giữ.
Những toan tính xảo quyệt của thực dân Pháp xem ra không phải không
có căn cứ, khác với tình hình chiến sự tại mặt trận miền Trung, ở Nam Kỳ,quân Pháp không quá khó khăn trong việc phá vỡ thế trận phòng thủ củatriều đình Sau tám ngày chúng pháo kích các công sự bảo vệ con đườngthủy vào Gia Định, chúng đã chiếm được thành Gia Định Tuy nhiên, có mộtđiều chúng không ngờ tới là là sự phản kháng quyết liệt của người dân địaphương Trong khi các đồn lũy của triều đình nhanh chóng bị tan vỡ trướcsức tấn công của đội quân xâm lược thì nhân dân lục tỉnh, dưới sự chỉ huycủa những thủ lĩnh danh tiếng như Trương Định, Võ Duy Dương, PhanTrung, Nguyễn Trung Trực… vẫn kiên cường tiếp tục cuộc kháng chiến Cóthể nói, từ giữa thế kỷ XIX, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Nam
đã đi đầu trong toàn quốc, khí thế chiến đấu đã gây nên bao nỗi kinh hoàngcho đội quân viễn chinh
Phải trải qua khoảng thời gian gần bốn mươi năm, thực dân Pháp mới đặtđược ách thống trị trên đất nước ta Trong thời gian ấy, chúng đã lần lượtchiếm ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Năm 1873, khi đãchiếm cứ được các vùng đất phương Nam, Pháp bắt đầu đánh rộng ra miềnBắc, rồi đánh Trung Kỳ Thắng lợi của thực dân Pháp được đánh dấu bằngcác hiệp ước và hàng ước (vào các năm 1862, 1864, 1867) mà triều Nguyễn
Trang 21liên tiếp ký kết với chúng, thừa nhận quyền cai trị của chúng tại Nam Kỳ Đặcbiệt, hai hiệp ước năm 1883 (hiệp ước Hác- măng) và 1884 (hiệp ước Pa-tơ-nốt) đã công nhận nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam
Trước sự xâm lăng của thực dân Pháp, nhân dân ta đã tiến hành một cuộcđấu tranh chống kẻ thù hết sức quyết liệt Giai cấp phong kiến lúc đầu cònchống đối phần nào, nhưng về sau cứ trượt dần mãi trên con đường thỏa hiệp,đầu hàng và thất bại chủ nghĩa Trong triều đình hình thành nhiều phái, cóphái chủ hòa (như Trần Đình Túc, Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Hữu Độ, PhanThanh Giản, Nguyễn Trọng Hợp…), có phái chủ chiến (như Nguyễn TriPhương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết…), có phái chờ cơ hội, đợi thời, tự an
ủi mình bằng triết lý tùy thời, tự dối lừa mình bằng cái nghĩa quân thần lạclõng… Có thể nói, giai cấp phong kiến lãnh đạo mà đứng đầu là triều đìnhnhà Nguyễn ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX đã không làm trọn sứmệnh lịch sử, hèn nhát, bạc nhược trước vai trò dân tộc, vị trí dân tộc củamình Sau năm 1862 khi triều đình nhà Nguyễn đã ký bản hiệp ước nhượngđất đầu tiên (hiệp ước Nhâm Tuất 5/6/1862), nhường cho Pháp ba tỉnh miềnĐông Nam Kỳ, đồng thời vội vàng thực hiện theo các điều khoản, yêu cầunghĩa quân các nơi hạ vũ khí, buộc nhân dân ngừng kháng chiến, tăng cườngbóc lột nhân dân để bồi thường chiến phí… thì triều đình đã đánh mất vai tròcủa mình trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, bước đầu đã đầu hàng thựcdân Pháp
Trong khi giai cấp phong kiến thống trị đi vào con đường thỏa hiệp, đầuhàng thì vai trò của nhân dân lại sáng ngời trên vũ đài lịch sử Nhân dân ViệtNam vốn có truyền thống yêu nước, truyền thống ấy đã được hun đúc, tôiluyện qua nhiều cuộc chiến đấu chống ngoại xâm suốt hàng ngàn năm lịch sửnên rất nhạy bén về cảm quan yêu nước, sẵn sàng xông trận khi có giặc,không sợ hy sinh, không tiếc máu xương Trong cuộc kháng chiến chống
Trang 22Pháp giai đoạn này, nhân dân tuy chưa phải là người nắm quyền lãnh đạo tất
cả các cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng họ tiêu biểu cho tinh thần đấutranh bền bỉ, gan dạ, tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh của dân tộc
Ngay từ những ngày đầu xâm lược, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng
cự quyết liệt của nhân dân ta Khi thực dân Pháp đánh vào mặt trận Đà Nẵng,trong khi triều đình còn đang lúng túng thì nhân dân ta đã tỏ rõ quyết tâm, ýchí chống giặc Ở địa phương, Phạm Gia Vĩnh đã lãnh đạo nghĩa binh sátcánh với quân đội triều đình chống lại sự tấn công của giặc từ bán đảo Sơn
Trà Những đội dân quân bao gồm “tất cả những người không đau yếu và tàn
tật” được thành lập, họ hưởng ứng kế hoạch của Nguyễn Tri Phương “triệt để phòng ngự, ra sức đào hào đắp lũy cản giặc, không cho giặc đánh lan ra” và
đã chiến đấu vô cùng dũng cảm Phối hợp với mặt trận Đà Nẵng, nhân dânNam Bộ đã tự đắp thêm thành lũy để củng cố hệ thống phòng thủ, nhiều nơi
tự đốt nhà cửa, di dời đi nơi khác, thể hiện thái độ bất hợp tác với giặc Độinghĩa binh của Trương Định được tập hợp, ra sức tập luyện, chuẩn bị đánhPháp Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị tập hợp 300 người - vốn là nhữnghọc trò của mình, khăn gói lên đường Nam tiến, xin Vua cho ra chiến trườnggiết giặc Nhờ sự ủng hộ tích cực của nhân dân, Nguyễn Tri Phương đã tạmthời đẩy lui quân địch ở Đà Nẵng, gây cho chúng những tổn thất không nhỏ,dồn chúng về phía biển
Phong trào kháng Pháp nổ ra khắp nơi khi Pháp chiếm Gia Định và đánhrộng ra các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Kỳ Ở Gò Công, Tân An cóTrương Định; Đồng Tháp Mười có Thiên Hộ Dương; Bến Tre, Vĩnh Long cóPhan Tam, Phan Ngũ; Rạch Giá có Nguyễn Trung Trực, Đỗ Thừa Long, ĐỗThừa Tự, Mỹ Tho có Nguyễn Hữu Huân,… Vụ đốt cháy chiến hạm Et-phê-răng (Hy vọng) của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông đã khích lệ mạnh mẽ tinhthần cứu nước của nhân dân Lục tỉnh, khiến thực dân Pháp phải thú nhận:
Trang 23“Đây là một trận đau đớn làm cho tinh thần người Việt phấn khởi và gây cảmxúc sâu sắc trong một số người Pháp” Nghĩa quân còn giết tên quan ba Bácbêgần Trường Thi, giết tên tỉnh trưởng Vĩnh Long Xalisétti ở Vũng Liêm, đánhtàu Primôghê trên sông Đồng Nai… Câu nói đầy cảm khái Nguyễn TrungTrực trước lúc bị giặc Pháp hành hình: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nướcNam mới hết người Nam đánh Tây” càng thôi thúc phong trào kháng chiếnvừa chống Pháp, vừa chống phong kiến đầu hàng “dập dìu trống đánh cờxiêu, phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”
Thực dân Pháp đánh ra miền Bắc và miền Trung thì phong trào chốnggiặc ở những nơi này cũng không khác gì Nam Bộ Thực dân Pháp đánh HàNội, nhân dân Hà Nội chủ động đứng lên kháng chiến với tinh thần cươngquyết, dũng cảm Trong hàng ngũ trí thức cũng đã có nhiều tấm gương chiếnđấu và hy sinh anh dũng với tinh thần: “Thà chết không chịu mất nước, thàchết không làm nô lệ” Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng ở bụngnhịn ăn mà chết, tổng đốc Hoàng Diệu tự thân dẫn tướng sỹ xông lên thànhcản giặc, khi thành vỡ đã thắt cổ tự tử, không để rơi vào tay kẻ thù…
Mặc dù nhân dân ta anh dũng kháng chiến “nào sợ thằng Tây bắn đạnnhỏ, đạn to” song còn tự phát Triều đình bảo thủ, nhu nhược, ảo tưởng trướcthực dân Pháp, đường lối kháng chiến nặng về phòng thủ, nghị hòa, bỏ rơikhông đoàn kết với nhân dân, cuối cùng khi thực dân Pháp tấn công Thuận
An, triều Nguyễn buộc phải kí văn kiện đầu hàng Thực dân Pháp hoàn thànhquá trình xâm lược Việt Nam và bắt đầu thiết lập chế độ bảo hộ ở Bắc Kỳ vàTrung Kỳ Mặc dù Pháp đã khuất phục được triều đình Huế (bộ phận chủ hòa)song chúng không thể khuất phục được nhân dân ta và một bộ phận chủ chiếntrong triều đình, phong trào đấu tranh chống Pháp từ Bắc tới Nam vẫn tiếp tụcphát triển Thái độ kiên quyết của nhân dân cả nước đã cổ vũ phe chủ chiếntrong triều đình, dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân, phe chủ chiến
Trang 24mạnh tay hành động, chuẩn bị cho cuộc phản công chống Pháp giành lại chủquyền Nhưng những cố gắng của phe chủ chiến do Tôn Thất thuyết cầm đầu
đã không thu được kết quả Triều đình phân rã hoàn toàn Vua Hàm Nghicùng các văn thân, sĩ phu nhiệt huyết đã nhóm lên phong trào Cần Vương sôiđộng, kéo dài từ Bình Ðịnh, Quảng Bình ra đến Hưng Yên, Thái Bình, TâyBắc, lấy núi rừng Hà Tĩnh làm kinh đô kháng chiến và anh dũng cầm cự ngótchục năm trời Có nhiều cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩacủa Phan Ðình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ ở Nghệ
An, Nguyễn Quang Bích ở vùng Tây Bắc…
Những ngày tàn của phong trào Cần Vương với sự tan rã của nghĩa quânMạc Đĩnh Phúc, Vương Quốc Chính ở miền Bắc; Võ Trứ ở miền Trung, nhất
là cuộc đình chiến lần thứ hai của nghĩa quân Đề Thám đã đánh dấu sự thấtbại của phong trào đấu tranh chống Pháp cuối thế kỷ XIX Năm 1897, sau khikết thúc giai đoạn dùng vũ lực để chiếm đoạt, thực dân Pháp bắt đầu thiết lập
bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa một cách quy mô Nền kinh tếthuộc địa đẻ ra một phương thức sản xuất mới có khuynh hướng tư bản chủnghĩa, song song với nó là những biện pháp chính trị, chính sách văn hóa nôdịch mới được thực dân đẩy mạnh nhằm mục đích củng cố nền thống trị củachúng Xã hội Việt Nam trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến Bắt đầuxuất hiện trong các công sở và tư sở của bọn chủ mới những thông ngôn, kýlục, thầu khoán, bồi bếp… Ở thành thị bắt đầu xuất hiện các tầng lớp tư sản,tiểu tư sản, vô sản với quyền lợi đối lập nhau Chế độ xã hội ấy càng ngàycàng đầy rẫy những xấu xa, đồi bại, lai căng, phản dân tộc Đạo đức Khổng,Mạnh có gốc rễ lâu đời bị tấn công và dần dần đổ vỡ, “phá sản” Quang cảnh
xã hội trở nên đảo điên, đầy lố lăng, bỉ ổi khi những tên bồi bếp đắc lực đượcPháp cất nhắc lên chức tổng đốc, những gái đĩ me tây được phong hàm quantỉnh, những tên đao phủ đầm đìa máu nhân dân trở thành cột trụ triều đình,
Trang 25còn những người yêu nước thương nòi thì bị chém giết, tù đày, phải trốn tránhlẩn lút…
Văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX khác nhiều với các giai đoạn trướcbởi nó hình thành và phát triển trong một bối cảnh mới với nhiều sự kiện đặcbiệt như thế chi phối Mục tiêu đấu tranh của văn học, cường độ của tínhchiến đấu, sự phân hóa các lực lượng sáng tác văn học rõ ràng chịu sự chiphối của tình hình chính trị lúc bấy giờ Đặc biệt, cuộc đấu tranh sôi nổi, liêntục của quảng đại quần chúng nhân dân đã chi phối sâu sắc đến sự phát triểncủa lực lượng sáng tác, đến nội dung, khuynh hướng văn học giai đoạn này.Dường như lịch sử phát triển văn học nước ta trước kia chưa bao giờ có mộtgiai đoạn nào mà lực lượng tham gia sáng tác lại đông đúc, sôi nổi, bao gồmnhiều tầng lớp, nhiều thành phần như giai đoạn này Được kích thích bởi nhiệttình yêu nước, nhà văn cũng là chiến sỹ, ngòi bút được dùng như súng đạn đểgiết quân thù Đề tài kháng chiến chống thực dân Pháp, ý thức dân tộc chính
là ngọn nguồn cho sự thống nhất từ Nam chí Bắc, cũng là ngọn nguồn cho sựphong phú của văn học giai đoạn này Đặc điểm nổi bật trong sự phát triểncủa văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX chính là tính chất thời sự của nó,
là sự theo sát tình hình đấu tranh chính trị và phục vụ cuộc đấu tranh chính trị,văn học thực sự là vũ khí đấu tranh xã hội
Tóm lại, ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đấu tranh chống xâm lược, vănhọc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đã cố gắng thực hiện sứ mệnh của mìnhtrong cuộc đấu tranh chung của dân tộc Nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạnlịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc, nhiều mất mát, hi sinh nhưngrất đỗi tự hào, giai đoạn “khổ nhục nhưng vĩ đại” Văn học đã có mặt kịpthời trên trận tuyến cứu nước từ những ngày đầu và đã góp sức vào cuộc đấutranh vì độc lập dân tộc một cách triệt để Phần lớn các tác giả văn học lànhững người trong cuộc, hoặc có chứng kiến, nếm trải bi kịch của dân tộc,
Trang 26của thời đại, họ đã khai thác và phát huy sức mạnh của văn chương một cáchhữu hiệu nhất.
1.1.3 Văn học phân hóa thành nhiều khuynh hướng, nhiều tư trào khác nhau
Có thể nói rằng, lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX là lịch sử củaphong trào đấu tranh chống xâm lược, đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc - mộtcuộc kháng chiến lâu dài và khốc liệt Chính điều này đã ảnh hưởng lớn đếntiến trình vận động cũng như đặc điểm, tính chất của văn học nước nhà Vănhọc là một sản phẩm tinh thần của xã hội, phản ánh cuộc đấu tranh giai cấptrong xã hội, mang đậm dấu ấn thời cuộc Văn học giai đoạn này phát triểntrong sự gắn bó chặt chẽ với các diễn biến của lịch sử, chịu sự chi phối sâusắc của đời sống chính trị, xã hội Quá trình vận động đã tạo ra nhiều khuynhhướng, nhiều dòng mạch văn chương rất khác nhau, đem đến sự sinh động, đadạng và phong phú cho lịch sử văn học giai đoạn này
Khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp được kể đến trước tiên bởi
đây là khuynh hướng có tính chất chủ đạo, phát triển một cách liên tục vàphong phú ngay từ đầu Yêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc.Trải qua hàng chục thế kỷ chống ngoại xâm, từ buổi đầu dựng nước cho đếnkhi có văn học thành văn, nhân dân ta luôn thể hiện lòng yêu nước mãnh liệtcủa mình Ðến nửa cuối thế kỷ XIX, khi Pháp sang xâm lược, truyền thốngyêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc lại có dịp bùng lên một cáchmạnh mẽ Văn học chống Pháp ra đời đã kế thừa một cách tốt đẹp truyềnthống yêu nước đó và có những bước phát triển phù hợp với hoàn cảnh mớicủa lịch sử Văn thơ yêu nước đã vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổicủa triều đình, bọn vua quan vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước thànhnhững bản án đanh thép hoặc những trang châm biếm sắc sảo Văn thơ còn làlời kêu gọi nhân dân đoàn kết chiến đấu và là lời ca ngợi cuộc chiến đấu của
Trang 27nhân dân, ca ngợi những tấm gương yêu nước Có thể nói, văn chương lúcnày đã trở thành một phương tiện hữu hiệu để kích động sĩ dân, khơi gợi lòng
tự trọng giống nòi, nuôi dưỡng nghĩa khí của mọi người dân nước Việt Mộtloạt các văn phẩm nổi tiếng được lan truyền nhanh chóng, rộng khắp như:
Hịch đánh Tây của Lãnh Cồ, Biểu trần tình của Hoàng Diệu, Phú kể tội Pháp đánh Bắc kỳ lần I của Phạm Văn Nghị, Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây của Nguyễn Ðình Chiểu, Hà thành thất thủ ca, Hà thành chính khí ca,
Vè thất thủ kinh đô… Ngoài ra, văn chương còn phản ánh tâm lý đau xót của
nhân dân trước cảnh nước mất, nhà tan, cũng là tâm tình của những người
tham gia chiến đấu chống Pháp (bài Cảm tác của Phan Văn Trị, Vè thất thủ
kinh đô của nhân dân Huế, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Ðình
Chiểu…) Các tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng văn học này là NguyễnĐình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, NguyễnQuang Bích, Phan Đình Phùng,… họ đều coi sáng tác cũng là hành độnggiết giặc, cầm bút cũng là cầm gươm, cầm súng chiến đấu Khuynh hướngvăn học yêu nước chống Pháp thực sự đã đem đến cho văn học một luồngsinh khí mới, một sức sống mới
Sau khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp là khuynh hướng văn
học hiện thực - trào phúng Khuynh hướng này có quan hệ chặt chẽ với
khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp Các nhà văn thuộc khuynhhướng này ban đầu sáng tác thơ văn yêu nước nhưng về sau, khi phong tràokháng Pháp thất bại, Pháp chiếm toàn bộ đất nước ta, xã hội bộc lộ nhữngchướng tai gai mắt nên các nhà văn này đã dùng ngòi bút của mình để phơibày những mặt trái của xã hội bằng khiếu hài hước nhạy bén của mình Họ đãlấy việc tố cáo hiện thực làm phương tiện để gây căm thù nhằm mục đích kêugọi chiến đấu Khuynh hướng này phát triển thành một khuynh hướng độclập, tuy không đông đúc như khuynh hướng yêu nước chống Pháp nhưng
Trang 28cũng khá đa dạng, phát triển khắp trong Nam ngoài Bắc Các tác giả tiêu biểucủa khuynh hướng này là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Học Lạc, NguyễnThiện Kế, Tú Quỳ, Kép Trà, Trần Tích Phiên…, mỗi người một giọng, mộtlối trào phúng riêng nhưng đều tập trung vào chỗ đánh địch, chống đầu hàng.Bên cạnh thơ văn trào phúng của các nhà nho danh tiếng đó còn có một mảngsáng tác rất quan trọng khác cũng với nội dung như vậy nhưng lại không lưutên tác giả Đó là sáng tác của những tác giả dân gian, của loại truyện Ba Giai
Tú Xuất mang chất tố cáo hết sức quyết liệt, mạnh bạo, dứt khoát Khuynhhướng này sáng tác hầu hết bằng tiếng Việt, có nhiều đóng góp quan trọngcho sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc
Bên cạnh các khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp, văn học hiệnthực trào phúng còn có nhiều khuynh hướng, nhiều mạch cảm hứng khác rấtđáng lưu ý Chẳng hạn, khuynh hướng văn học trữ tình - lãng mạn, khuynhhướng văn học “nô dịch”,…
Khuynh hướng văn học trữ tình - lãng mạn ra đời và phát triển song song
với khuynh hướng hiện thực trào phúng Ða số các nhà thơ thuộc khuynhhướng này đều xuất thân từ tầng lớp quan lại phong kiến suy tàn, mang tâm lýhưởng lạc, cá nhân, tùy thời Trong bối cảnh chung là sự thất bại của phongtrào chống Pháp và việc đặt ách thống trị của Pháp lên đất nước ta, một sốngười ra làm quan cho thực dân Pháp, mục đích để hưởng lạc cá nhân chứkhông đàn áp phong trào kháng chiến, một số khác thoát ly vào thơ, rượu, vàomộng, vào tình yêu… Khuynh hướng này thường viết về thiên nhiên, thời thế,tâm trạng, thỉnh thoảng có bày tỏ nỗi lòng yêu nước thầm kín nhưng chủ yếu
nói về cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc của họ, tìm ý thơ theo “nhịp phách trống
chầu” (nghệ thuật ca trù) Các tác giả tiêu biểu của khuynh hướng này như
Dương Lâm, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh… Sáng tác của họ thường bằngchữ Nôm nên đã có những đóng góp nhất định trong việc trau dồi ngôn ngữ
Trang 29dân tộc Thỉnh thoảng họ cũng có một số bài thơ viết bằng thể thơ lục bát củadân tộc, không đắm chìm trong hưởng lạc mà ghi lại những giây phút rungđộng, trong sáng của tâm hồn.
Khuynh hướng văn học “nô dịch” là khuynh hướng thân Pháp, gắn bóvới thực dân Pháp, tiêu biểu như Trương Vĩnh Ký, Tôn Thọ Tường, HoàngCao Khải, Mặt tiêu cực của khuynh hướng này là ca ngợi người Pháp, bênhvực biện hộ cho chủ nghĩa thực dân Pháp; mặt tích cực đáng nói là ý thức cầutiến, muốn cải cách văn hóa văn học dân tộc theo hướng đi về hiện đại, gắnvới mô hình của phương Tây Khuynh hướng văn học “nô dịch” trước đây bịlên án, phê phán nặng nề Nay cần phải đánh giá, xem xét lại một cách kháchquan, công bằng hơn Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của,… có những sángtác, những công trình khảo cứu, biên soạn bằng chữ Quốc ngữ công phu, cógiá trị, chuẩn bị cho nền văn học Quốc ngữ giai đoạn sau
Hướng nhân bản truyền thống hay hướng cải cách, đổi mới không
“nhóm” các hiện tượng thành những khuynh hướng văn học nhưng có sự đanxen, xuyên thấm vào các hướng cảm hứng khác Có những tác giả có sáng tácmang đầy ý nghĩa nhân bản như thơ văn của Tùng Thiện Vương Miên Thẩmnhưng khó có thể xếp vào một khuynh hướng văn học nào Có những bảnđiều trần, những tập luận văn, những tác phẩm có giá trị mang tư tưởng canhtân tự cường đất nước của một số trí thức đương thời có nhãn quan thấu suốt,suy nghĩ sâu xa vượt trước thời đại trên nhiều phương diện, tiêu biểu nhưNguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… nhưng cũng chưa cótính thống nhất để hình thành một khuynh hướng văn học
Nhìn một cách tổng quát, sự phát triển của văn học Việt Nam giai đoạnnày rất phức tạp, các biến cố lịch sử đã cuốn theo, chi phối sâu sắc sự vậnđộng của văn học Rất khó để có thể phân biệt, xếp loại rành mạch cácphong trào, các dòng, các khuynh hướng văn học Trong một khuynh hướng
Trang 30văn học cũng bao gồm trong đó nhiều chi lưu, nhiều nhánh khác nhau Tuynhiên, phải thừa nhận rằng, đây là giai đoạn nở rộ của thơ văn yêu nước.Khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp vẫn tỏ ra vượt trội, trở thànhdòng chủ lưu của văn học dân tộc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Khuynhhướng này được truyền tụng rộng rãi và thu hút sự quan tâm của đông đảoquần chúng cũng như sĩ phu cả nước Sở dĩ như vậy vì văn thơ đã trở thànhmột bộ phận thiết yếu của đời sống, liên quan đến số phận của mọi thànhviên trong xã hội Đây không còn là chuyện của một ai, của riêng nhà nào,
mà là chuyện của cả dân tộc, liên quan đến toàn thể cộng đồng Sức ảnhhưởng của khuynh hướng văn học yêu nước chống Pháp đã được khẳng địnhbằng sự xuất hiện của tư trào văn học Cần Vương - một hiện tượng lớn trongvăn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX
1.2 Tư trào Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX
1.2.1 Phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX và vấn đề trung quân
-ái quốc, “vì vua” - “vì nước” đặt ra cho nhà nho
Phong trào Cần vương ("giúp vua", “hết lòng vì vua khi gặp nguy biến”)
nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhândanh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi (một ông vua yêu nước, chống Pháp) đềxướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp Phong trào Cần vương thườngđược hiểu là phong trào chống Pháp xâm lược Phong trào thu hút được một
số các quan lại trong triều đình và văn thân Ngoài ra, phong trào còn thu hútđông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ Phong trào Cần vươngthực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cảnước, hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 chođến 1896
Trong triều đình một nước theo chế độ quân chủ phong kiến thì từ hàngthân vương, hoàng tử, công chúa đến các quan lại đại thần trung ương cho chí
Trang 31địa phương, tất cả hợp lại thành một tập thể quần thần trực tiếp giúp vua, bảo
vệ giang sơn tổ quốc bằng khả năng và trách nhiệm được nhà vua tin cậy giao
phó Người dân trong một nước quân chủ phong kiến cũng có nhiệm vụ Cần
vương theo tư cách công dân của mình Nói chung, “Cần vương” là bổn phận
của toàn dân đối với vị hoàng đế mà họ phải tôn kính, tuân phục và bảo vệ Một biến cố chính trị quan trọng đã xảy ra vào đêm mồng 4, rạng sángngày mồng 5 tháng 7 năm 1885 tại kinh thành Huế, vị phụ chính đại thần làTôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn đã huy động quân sĩ mở cuộc tấn côngđồng loạt đánh vào sào huyệt giặc ở đồn Mang Cá và khu tòa khâm sứ Pháptại Huế, nhằm thanh toán viên Toàn quyền DeCourcy và đồng bọn Bị đánhbất ngờ, lúc đầu quân địch hoảng loạn, nhưng sau đó chúng đã chấn chỉnh lựclượng, đến gần sáng mở phản công chiếm nốt kinh thành Huế Kinh đô Huếthất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn Binh bộ Thượng thư kiêm phụ chínhđại thần Tôn Thất Thuyết đã đã đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng rờikinh đô Huế chạy ra sơn phòng Tân Sở ở Quảng Trị Tại đây, ngày 13 tháng 7năm 1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi đã hạ chiếu Cầnvương lần thứ nhất Ở Quảng Trị một thời gian, để tránh sự truy lùng gắt gaocủa quân Pháp, Tôn Thất Thuyết lại đưa Hàm Nghi đến sơn phòng Ấu Sơn(Hương Khê, Hà Tĩnh) Tại đây, Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần vương lầnhai vào ngày 20 tháng 9 năm 1885 Cả hai tờ chiếu đều tập trung tố cáo âmmưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, đồng thời kêu gọi sĩ phu, vănthân và nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến giúp vua, bảo vệ quê hươngđất nước Hưởng ứng chiếu Cần vương, nhân dân ta ở khắp nơi, dưới sự lãnhđạo của các sĩ phu văn thân yêu nước đã sôi nổi đứng lên chống Pháp
Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởinghĩa vũ trang trên khắp cả nước, sôi động nhất là các tỉnh Trung Kì và Bắc
Kì với các cuộc khởi nghĩa lớn như Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Hưng
Trang 32Hóa Mặc dù diễn ra dưới danh nghĩa Cần vương - giúp vua, song thực tếphong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX là một phong trào đấu tranh yêu nướcchống Pháp xâm lược của nhân dân ta Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa Cầnvương không phải là các võ quan triều Nguyễn như trong thời kỳ đầu chốngPháp, mà là các sĩ phu văn thân yêu nước có chung nỗi đau mất nước vớiquần chúng lao động, nhận thức rõ về âm mưu thâm độc của thực dân nên đã
tự nguyện đứng về phía nhân dân chống Pháp xâm lược, quyết liệt hành động
và sẵn sàng xả thân vì nước
Phong trào Cần vương bùng nổ và phát triển qua hai giai đoạn, giaiđoạn đầu “Cần vương” có vua - vua Hàm Nghi là linh hồn của phong tràoCần vương lúc ấy; giai đoạn sau, “Cần vương” mà không có vua, bởi ngày 2tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, bị đày sang Angiêri, sốngchết không rõ Sự kiện này gây tâm lí hoang mang trong hàng ngũ các sĩ phuvăn thân yêu nước, hai chữ “Cần vương” lúc này đã mất hết ý nghĩa chínhthống nhưng phong trào không vì thế mà tan rã Phong trào đấu tranh vũtrang chống thực dân Pháp xâm lược đến lúc này dù không còn sự chỉ đạocủa triều đình kháng chiến nhưng vẫn tiếp tục phát triển quyết liệt, quy tụdần vào một số trung tâm kháng chiến lớn như Hương Sơn - Hương Khê ở
Hà Tĩnh, Ba Đình - Hùng Lĩnh ở Thanh Hóa, Bãi Sậy - Hai Sông (HảiDương - Hưng Yên)
Tuy nhiên, từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt, phong trào Cầnvương suy yếu dần Từ cuối năm 1895 đầu 1896, khi tiếng súng cuộc khởinghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại, phong trào Cần vương coinhư chấm dứt Phong trào này tuy thất bại nhưng đã tô thắm thêm truyềnthống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam Đồng thời, nó cũng đã cổ
vũ, khích lệ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta ở nhữnggiai đoạn tiếp theo
Trang 33Như vậy, phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX trong tư tưởng, quanniệm của các bậc văn thân, sĩ phu thời ấy không đơn thuần là vấn đề vì Vua
mà còn là vấn đề vì Nước Thủ lĩnh của các cuộc khởi nghĩa trong phong tràoCần vương như Phan Đình Phùng, Trương Định, Nguyễn Xuân Ôn, NguyễnQuang Bích… là lớp nho sĩ tiến bộ, là người trí thức phong kiến, họ yêunước, quyết tâm cứu nước thoát khỏi khổ nạn nhưng họ vẫn đang phải loayhoay tìm kiếm nhiều giải pháp để thực hiện lí tưởng của mình Và khi ChiếuCần vương được ban bố thì họ đã tìm ra con đường để đi - con đường xướngnghĩa Cần vương Cần vương với họ bây giờ là giúp vua chống giặc, cứunước, nhưng phải là ông vua dám đánh giặc, một ông vua không sợ hi sinh,gian khổ Thậm chí khi không có vua nữa (khi vua Hàm Nghi bị bắt) thì họvẫn kiên trì con đường đã chọn ấy bởi họ vẫn còn có đất nước và nhân dân
“Cần vương là sự lựa chọn thỏa đáng nhất để họ thực hiện lí tưởng cứu nước trong khuôn khổ, phép tắc của nhà Nho” [46; 252] Rõ ràng, với phong trào
Cần vương, tư tưởng trung quân - vì Vua đã nhường phần lớn cho tư tưởng vìnước, vì dân mà chiến đấu
1.2.2 Tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và quan niệm trung nghĩa của nhà nho
Phong trào yêu nước trên lập trường phong kiến dưới danh nghĩa Cầnvương cuối thế kỷ XIX đã tập hợp được đông đảo tầng lớp văn thân sĩ phutham gia Nhiều trí thức khoa bảng hăng hái tham gia chiến đấu, số đông làthủ lĩnh của phong trào Cần vương kháng Pháp, họ đều có văn tập, thi tập đểlại, có thể gọi họ là lớp nhà văn Cần vương Các sáng tác của họ được ra đời
từ trên mũi nhọn kháng chiến, ở nơi đầu ngọn sóng gió, ở nơi lửa đấu tranhnóng nhất Nó là tiếng nói chân thành, là tâm tư của những nhà nho nặng lòng
vì vua, vì nước, là nhiệt huyết của lớp người “lên ngựa cầm thương, xuống
ngựa cầm bút” [15; 6] Nó mang nhịp đập của những trái tim tràn đầy máu
Trang 34nóng, hướng về một lý tưởng sống, một thái độ sống cao đẹp: dám chết chođại nghĩa cứu nước, cứu dân Sáng tác của các nhà nho hành nghĩa ấy tập hợp
lại, khơi sâu, mở rộng dòng ý thức - mạch thơ vì nghĩa trong sáng tạo văn
học Các nhà văn Cần vương vừa là người phất cao cờ nghĩa trong cuộc đời(xướng nghĩa Cần vương chống Pháp) vừa khơi nguồn cho một tư trào vănhọc đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX: tư trào văn học Cần vương
Tư trào văn học Cần vương nằm trong dòng mạch chung của khuynhhướng văn học yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Tuynhiên, đây là một tư trào văn học xuất hiện vào giai đoạn sau của cuộc khángchiến, là sự tiếp nối của cao trào văn học yêu nước Nam Bộ - cao trào xuấthiện ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến đấu chống xâm lược Khácvới cao trào văn học yêu nước Nam Bộ, tư trào văn học Cần vương (chủ yếu
ở miền Trung và miền Bắc) được sáng tác trong điều kiện triều đình nhàNguyễn đã công khai đầu hàng giặc, còn vua Hàm Nghi lại chống giặc và làngọn cờ tập hợp phong trào chiến đấu chống Pháp trong cả nước Lực lượngsáng tác của tư trào văn học Cần vương có tính quần chúng rộng rãi, đồngthời lại bao hàm được nhiều người con ưu tú, những con người đứng ở hàngđầu cuộc chiến đấu của dân tộc Sáng tác của họ không giống nhau Có ngườihàng trăm bài, có người một vài bài Có người sáng tác bằng chữ Nôm, cóngười sáng tác bằng chữ Hán, có người dùng cả chữ Nôm lẫn chữ Hán.Nhưng một điểm chung nổi bật ở họ là tấm lòng yêu nước sắt son, chungthủy, là cuộc đời quên mình cho nghĩa lớn của nhân dân, của dân tộc Nhữnglãnh tụ xuất sắc của phong trào Cần vương như Phan Đình Phùng, NguyễnXuân Ôn, Nguyễn Quang Bích… là những người đã từng làm quan, về sau bỏquan, bỏ cuộc sống yên ấm ở gia đình để lên rừng núi lăn lộn với nghĩa quân,xây dựng căn cứ địa tổ chức chống giặc Công việc chủ yếu của họ là đánhgiặc cứu nước và sáng tác cũng là để góp phần đánh giặc cứu nước
Trang 35Yêu nước với các nhà văn Cần vương không chỉ là vấn đề trong tư tưởngchính trị hay đạo đức thuần túy mà còn là vấn đề nóng hổi của tư tưởng thẩm
mỹ, tư tưởng nghệ thuật Yêu nước được thể hiện ngay ở lí tưởng hành đạocủa người anh hùng thời loạn; ở ý thức tìm về dân tộc, tìm nguồn sinh lực từtruyền thống, cố gắng giữ gìn những giá trị vốn đã là nền tảng tư tưởng củathời đại; ở sự bộc bạch những niềm ngưỡng vọng, thành kính, ngợi ca, có khi
là những ai oán, bi phẫn… của chính người cầm bút Nó là trung tâm của mọinỗi niềm Tâm - Chí - Đạo trong sáng tác nhà nho Nó khiến cho văn chươnggiai đoạn này hướng cả về những nội dung liên quan đến lợi ích và sự tồnvong của dân tộc, cộng đồng Nó làm nên những giọng thơ hào sảng, bi trángđậm chất sử thi Nó có mặt trong đủ thể loại: chiếu, biểu, thư, hịch, câu đối,văn tế… và nhiều nhất là thơ cảm hoài
Các nhà nho “nghệ sĩ - chiến sĩ” trong tư trào văn học Cần vương đã gópphần lớn làm nên điều có ý nghĩa nhất cho văn học yêu nước giai đoạn này,
đó là xây dựng thành công hình tượng nhân vật lí tưởng của thời đại: hìnhtượng con người trung nghĩa xả thân vì vua, vì nước, vì độc lập của dân tộc.Chính hiện thực cuộc sống chiến đấu của dân tộc đã khơi gợi cảm hứng đểcác nhà nho nghệ sĩ có thể khái quát nên hình tượng nhân vật lí tưởng này.Người anh hùng cứu nước - nhân vật lí tưởng của văn học lúc này là sự phốikết phẩm chất tốt đẹp của mọi lớp người, từ trí thức phong kiến, bậc sĩ phulẫn người nông phu, những kẻ vô danh trong xã hội Tất cả đều dấn bước trêncon đường tranh đấu với tinh thần “xả sinh thủ nghĩa” (quên thân vì đạinghĩa) Thực ra, chẳng phải đến lúc này trong văn học Việt Nam mới xuấthiện con người trượng nghĩa, vì nước quên thân, trái lại nó đã có từ rất lâu Từhàng mấy trăm năm về trước, chúng ta đã có thể tìm thấy bóng dáng củanhững mẫu hình này trong những áng văn chương yêu nước Tuy nhiên, chưa
Trang 36bao giờ nó được khắc họa một cách rõ nét, mang dấu ấn thời đại sâu sắc nhưbây giờ.
Trong đội ngũ những bậc nghĩa sĩ này, các nhà văn Cần vương đã hướngngòi bút của mình nhiều hơn đến hình ảnh người lãnh tụ nghĩa quân, ca ngợi
họ ở cả hai phương diện: bản chất anh hùng và đạo đức nhà nho Họ chủ yếu
là những nhà nho, cũng giống như người nông dân, nhà nho không quen vớisúng gươm và trận mạc Nhưng đất nước lâm nguy, nhận được chiếu dụ Cầnvương họ quẳng bút lông, tình nguyện cầm giáo sắt xông trận giết giặc Mặc
dù phần lớn xuất thân từ một giai cấp suy tàn, các lãnh tụ nghĩa quân khônggiống với những người cùng giai cấp, họ tiếp thu được truyền thống yêu nướccủa dân tộc, không chùn bước trước gian khổ, không tính toán trước hy sinh.Giống như những người nông dân, họ luôn giữ vững tinh thần kiên cường gắn
với lời thề giết giặc: “Y quan sĩ tận nhẫn kim cách Soa lạp nhân giai thỉ
trạch bào” (“Phường sĩ phu áo mũ đều ăn nằm trong chốn áo giáp và gươm
giáo Người nông dân tơi nón cũng thề chung áo giết giặc”) [34; 177]
Giương cao ngọn cờ Cần vương, những lãnh tụ nghĩa quân đã chiến đấu
và ngã xuống dưới ngọn cờ đó Giải nguyên Nguyễn Hữu Huân, Giải nguyên
Lê Trung Đình, Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu khảng khái nhận cái chết Tiến sĩNguyễn Xuân Ôn không chịu lạy Khâm sứ để được ra tù Thủ khoa Nguyễn
Cao tự rạch bụng “tỏ lòng trung” cho quân bán nước xem Họ đã để lại
những bài thơ tuyệt mệnh nói lên lời cuối cùng của một ý chí không gì khuấtphục được, của một tấm lòng yêu nước trong sáng như pha lê Đọc lại bài thơtuyệt mệnh mà Lê Trung Đình ứng khẩu trên đường ra pháp trường, về sau
người đời gọi đó là bài “Lâm hình thời tác” (Cảm tác lúc bị hành hình) chúng
ta có thể thấy rõ vẻ đẹp của những tấm gương tiết liệt ấy:
Kim nhật lung trung điểu Minh triều trở thượng ngư
Trang 37tư thế tấn công mà còn đẹp đẽ trong tư thế chiến đấu, hi sinh dũng cảm Họ làhình ảnh tượng trưng cho ý chí một dân tộc quyết chiến đấu đến cùng Họ còntiêu biểu cho vẻ đẹp về tinh thần trách nhiệm, về khí phách cao cả của ngườitrung nghĩa: nhận mệnh vua thì sẵn sàng quên mình, lấy cái chết để đền ơnvua, nợ nước Đó là thái độ vì đời, dũng cảm vì nghĩa của nhà nho hành đạo.
Chữ “trung”, chữ “nghĩa” vốn đã gắn liền với lí tưởng của các bậc đạo
Nho Trong quan niệm Nho gia, một nhà nho biết xả thân thủ nghĩa là đáng cangợi, và con người biết nghĩa vua tôi, biết đạo cương thường mới là nhà nhochân chính Tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng tôn quân vốn là nền tảng đạo đứccủa Nho giáo, nó đã trở nên sâu rễ, bề gốc trong ý thức hệ phong kiến, trởthành chỗ dựa tinh thần cho các nhà nho và cơ sở tồn tại của văn học nhà nho
Bởi vậy, văn học nhà nho nói nhiều đến “trung, hiếu, tiết, nghĩa” và coi đó là
phẩm chất cần có của người quân tử Với nhà nho, tư tưởng trung quân baogiờ cũng gắn với ái quốc (trung quân - ái quốc), bởi dưới chế độ phong kiến,vua với nước thường dính liền nhau, có vua riêng mới thành nước tự chủ.Huống chi, các vua sáng lập sự nghiệp ở nước ta phần lớn là anh hùng diệtngoại xâm dành độc lập, vua và nước gắn bó là điều tất yếu Trung với vua
Trang 38cũng có nghĩa là trung với nước, là yêu nước Nhưng ở cái đất nước mà lịch
sử dân tộc là một chuỗi dài những cuộc xâm lăng, là sự hưng thịnh rồi suy
vong của các triều đại, là nhiều lần đất nước chia năm xẻ bảy thì chữ “trung”
cũng chịu chung số phận nổi chìm trong quan niệm nhà nho
Đứng trước biến động của lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX,
tư tưởng phương Tây tràn vào làm lay động những tư tưởng cũ tới tận gốc rễ.Thêm vào đó, triều đình nhiễu nhương, vua quan đầu hàng thực dân, thậm chíbuộc các sĩ phu chống Pháp phải hạ vũ khí hòa với giặc Nho giáo không còngiữ địa vị quan trọng như trước nữa Ý thức hệ của Nho giáo cũng rơi vào cơn
khủng hoảng trầm trọng, chữ “trung” dường như đã mất hết ý nghĩa của nó, thậm chí, chữ “trung quân” mâu thuẫn sâu sắc với chữ “ái quốc” Trong tầng lớp nho sỹ, không ít kẻ vẫn khư khư giữ cái tôn chỉ “không nỡ bỏ vua” dẫu
vua thế nào Song cũng có không ít người thấy được rằng khi có mâu thuẫngiữa trung vua với yêu nước thì bề tôi không bắt buộc phải tận trung với vua.Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng yêu nước truyền thống và tư tưởng trung quânNho giáo diễn ra ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX tỏ ra rất quyết liệt Ngày càng
có nhiều nhà nho nghiêng về tư tưởng yêu nước nhưng thực ra họ cũng chưathể vứt bỏ chữ trung quân, vấn đề là phải tìm được sự thống nhất có thể cóđược giữa trung quân và ái quốc
Các nhà nho Cần vương đến với sự nghiệp chống giặc theo những conđường riêng, những hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên lại rất giống nhau về quátrình chuyển hóa về tư tưởng Trong tâm hồn của lớp nho sỹ tiến bộ này đãdiễn ra những tình cảm rất phức tạp Là người trí thức yêu nước, họ quyết dấnthân mưu sự phục quốc nhằm cứu nước nhà thoát họa xâm lăng; khi thựchành việc nghĩa, họ thấy cần phải bứt phá ra ngoài vòng cương tỏa của nhữngkhuôn phép đã trở nên cứng nhắc, lỗi thời Nhưng trong tư cách nhà nho, họvẫn cố làm sao cho hành động của mình nằm trong giới hạn cương thường,
Trang 39dựa vào cương thường mà chống ngoại xâm:“Kẻ sĩ phu lấy cương thường
làm trọng” [33; 169] Có thể nhận thấy ở họ sự pha trộn rất lí thú giữa những
gì thuộc ý thức truyền thống bền chặt của dân tộc với triết lí tư tưởng Nho gia
mà họ đã tu dưỡng, đào luyện suốt đời Để rồi khi vua Hàm Nghi bỏ kinhthành ra Sơn Phòng đánh quân Pháp xâm lược, ban chiếu Cần vương thì cácbậc chân nho này sẵn sàng xướng nghĩa Họ dựa trên nền tảng tư tưởng truyềnthống của cha ông, của dân tộc để thực hiện lí tưởng cứu nước
Các nhà nho Cần vương đã thể hiện một quan niệm về chữ “trung” hết
sức mới mẻ, họ đề cao tư tưởng trung quân nhưng trung ở đây là trung vớivua Hàm Nghi, một ông vua thủ lĩnh của cuộc kháng chiến, thực chất cũng làtrung với cuộc kháng chiến Đối với thứ vua theo giặc như Đồng Khánh thì họhoặc là bỏ qua không thèm nói đến, hoặc có nói đến thì thái độ cũng là phê
phán, đả kích gay gắt: Hàm Nghi mới thực vua trung/ Còn như Đồng Khánh
là ông vua xằng [15; 579] Đồng thời với quan niệm đó, họ đã tìm ra được sự
thống nhất giữa tư tưởng trung quân và ái quốc Theo vua hay chống vua bâygiờ thực chất là vì nghĩa lớn đối với nước Tư tưởng trung nghĩa mà văn học
giai đoạn này hướng đến thực ra cũng là để làm tròn một chữ “nghĩa” đáng trọng: “Trước làm nghĩa, sau cũng làm nghĩa, trước sau cho trọn nghĩa vua
tôi [15; 426] “Cần vương” là thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đứng
ra giúp vua chống giặc, cứu nước Chính tình cảm dân quốc sâu nặng đã giúp
họ vượt qua được ranh giới của những định kiến cố hữu Điều này lí giải cho
việc những người vốn coi chữ “trung” Nho giáo là tín điều thiêng liêng nhất
trên đời lại chấp nhận hành động phế bỏ vua (các vị vua không đáp ứng yêucầu thời cuộc), tìm lập bằng được minh quân để ban bố chiếu Cần vương Và
ngay cả việc lạ lùng hơn là “Cần vương” mà không có vua (khi vua Hàm
Nghi đã bị giặc bắt, bị đày ra nước ngoài), thậm chí, phong trào Cần vươnglúc đó lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Trang 40Hướng vào nghĩa, nhấn mạnh nghĩa trong sự gắn liền với trung, các nhànho Cần vương đã nhằm đúng vấn đề cốt tử nhất của yêu cầu lịch sử giai đoạnnày Sức hấp dẫn nhất của hình tượng trong tư trào văn học Cần vương chính
là cái đẹp đáng trọng của tinh thần tự nhiệm lịch sử - hiện thân sinh động nhấtcủa lí tưởng thẩm mỹ vì nghĩa Đấy là cái nghĩa cứu nước, cứu dân, cái nghĩa
đáng làm Với người nghĩa dân thì vì mến nghĩa làm quân chiêu mộ Với người nghĩa tướng thì vì nghĩa mà đền nợ núi sông một lòng chịu chết Vì
nghĩa mà gần kề cái chết, người anh hùng vẫn không một lời oán thán, lo sợ,
mà chỉ băn khoăn, day dứt bởi đã không hoàn thành trách nhiệm với nước,
với vua Một Phan Đình Phùng tự hổ thẹn với chính bản thân mình “Tướng
môn riêng thẹn với anh hùng”, một Nguyễn Quang Bích mang nỗi buồn, nỗi
bi phẫn, ưu tư vì ba chữ “nợ quân thân” thật khiến người đời xúc động
Như vậy, quan niệm về trung nghĩa của các nhà nho Cần vương khôngđơn thuần là đề cao đạo lý cương thường trong mối quan hệ quân - thần nữa.Trung nghĩa ở đây đồng nghĩa với yêu nước thương dân, với hy sinh, anhhùng; đồng nghĩa với lẽ sống đẹp, đáng tự hào Quan niệm này có sức mạnhhiệu triệu, cố kết và khích lệ những hành động vì chính nghĩa, làm nên nhữngáng văn chương làm xúc động lòng người Hình tượng con người trung nghĩa
- con người hành đạo theo lý tưởng của các nhà nho trong văn học Cần vương
sẽ là một mẫu hình đẹp, đáng được trân trọng và ngưỡng mộ
1.2.3 Các tác gia tiêu biểu của tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và sự gặp nhau trong tư tưởng “Cần vương” - “hộ quốc”
Trong dòng văn học yêu nước kháng Pháp giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX,nhắc đến lớp nhà văn tiêu biểu cho loại hình nhà nho hành đạo, chúng takhông thể không nhắc đến Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan ĐìnhPhùng Họnhững tác gia tiêu biểu của tư trào văn học Cần vương Họ đã cùng
gặp nhau trong tư tưởng “Cần vương” - “hộ quốc” và để lại những giá trị
tinh thần bất tử