Đây là một công trình biên soạn khá công phu... Mong muốn của... Nguyễn Công Hoan không phải là người Hà Nội... Hành trình sáng tạo của ông là hành trình tìm kiếm nghê
Trang 2Luận văn này hoàn thiện nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tâm của thầy Bạch Văn Hợp và sự giúp đỡ của các thầy, cô: thầy Trần Hữu Tá, cô Lê Thu Yến, thầy Nguyễn Thành Thi, …
Nhờ sự dạy dỗ tận tình của quý thầy cô khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Nhờ sự giúp đỡ của phòng Sau đại học Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Nhờ sự quan tâm, chia sẻ từ người thân: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất! Trân trọng!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm
2011
Đỗ Thị Hường
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Huy Tưởng đến với nghề văn hơi muộn so với những bạn văn cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng… Đến đầu những năm 40 của thế kỉ XX ông mới thực sự sáng tác
nhưng đã “chiếm vị trí xứng đáng trên văn đàn trước và sau Cách mạng tháng Tám” [34: 11] Sự nghiệp sáng tác của ông bắt đầu từ những đề tài lịch
sử, đề tài Hà Nội với cảm quan lành mạnh, tiến bộ và bao gồm nhiều thể loại tiểu thuyết, kịch nói, kịch bản điện ảnh, truyện phim, truyện thiếu nhi, bút kí, nhật kí… Ông ra đi năm 1960, ở tuổi 48, khi mà khát vọng một đời văn còn dang dở, nhưng ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, được gia đình, bạn hữu lưu giữ cẩn thận, hầu như còn nguyên vẹn Có thể coi đó là một may mắn để chúng ta dựng lên được bức chân dung đầy đủ, hoàn chỉnh về nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Sự cao cả về nhân cách, sự phong phú về đề tài, sự đa dạng về thể loại, sự ổn định về giá trị tư tưởng và nghệ thuật đã vinh dự đưa nhà văn đến với giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996)
Qua những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, người đọc có thể nhận thấy đề tài trong sáng tác của ông khá đa dạng và phong phú: quá khứ và hiện tại, nông thôn và thành thị, chiến trường và hậu phương… Trong những đề tài ấy, Nguyễn Huy Tưởng có sở trường đặc biệt về đề tài Hà Nội Đây là bộ phận sáng tác có giá trị nhất trong văn nghiệp của ông Gần hai mươi năm cầm bút, Nguyễn Huy Tưởng đã viết về Hà Nội hoặc những gì liên quan đến Hà Nội, chiếm tỉ lệ hơn một nửa khối lượng sáng tác của nhà văn Trước cách mạng
ông viết tiểu thuyết: Đêm hội Long Trì, An Tư công chúa; kịch Vũ Như Tô Sau cách mạng ông viết kịch Những người ở lại, truyện phim Lũy hoa, tiểu
Trang 4thuyết Sống mãi với thủ đô; truyện thiếu nhi: An Dương Vương xây thành
Ốc, ể chyỵn uyang Tryng, Ĺ cờ thêy áy chữ vàng; bút kí: Một ngày chủ nhật Chỉ xét riêng những tác phẩm ấy thôi cũng đủ thấy được tâm huyết
nhà văn dành cho Thăng Long – Hà Nội “Nguyễn Huy Tưởng đã thành một nhà văn của Hà Nội Và người Hà Nội nhận Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn của mình” [74: 73]
Thăng Long – Hà Nội, những hình ảnh thoáng qua nhưng thật sâu đậm, đẹp đẽ trong kí ức và hiện tại, trong nguồn cảm hứng bất tận của các văn nghệ sĩ Thủ đô Hà Nội là nơi hội tụ của các văn nhân đến từ mọi miền Tổ quốc khi mà tài năng của họ còn ở thời kì nhen nhúm Cũng chính mảnh đất này là mối sâu duyên nặng nợ nâng đỡ cho những tài năng văn học được nảy nở, tỏa sáng Nguyễn Huy Tưởng gắn bó với quê hương Hà Nội và dành cho miền quê ấy một vị trí đáng kể trong sự nghiệp sáng tác của mình Những sáng tác của ông về Hà Nội thật sinh động: một Hà Nội quằn quại đau thương trong quá khứ, một Hà Nội đổ nát dưới sự tàn phá của bom đạn trong hiện tại Nhưng ngay cả khi ấy, Hà Nội vẫn toát lên vẻ đẹp linh thiêng, cổ kính với những đền miếu, giếng cổ; Hà Nội vẫn sáng lên truyền thống yêu nước kiên cường như những bản anh hùng ca chiến thắng, Hà Nội vẫn ngời sáng vẻ đẹp nhân văn cao cả… Hà Nội là một niềm tự hào, một nguồn cảm hứng đẹp mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam Trong không khí tưng bừng kỉ niệm
1000 năm Thăng Long – Hà Nội, với rất nhiều cột mốc lịch sử, nhiều chiến
thắng oai hùng, người viết nghĩ sẽ là thiếu xót nếu không nhắc đến những An
Tư, Đêm hội Long Trì, Vũ Như Tô, Những người ở lại, Lũy hoa, Sống mãi với thủ đô, Một ngày chủ nhật, An Dương Vương xây thành Ốc, Ĺ cờ thêy áy chữ vàng… của Nguyễn Huy Tưởng Bởi vì “nếu thiếu họ thì bộ mặt
hiện thực về cảnh và người Hà Nội sẽ thiếu đi nhiều lắm” [26: 108]
Trang 5Trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng, nguồn cảm hứng về Hà Nội có nhiều sức hấp dẫn, thú vị Những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng một cách thấu đáo Chính Nguyễn Huy Thắng, con trai của nhà văn cũng đã
tâm sự: “Giáo sư Hà Minh Đức, người đã dày công nghiên cứu cha tôi suốt mấy chục năm qua cho rằng, giờ đây cần phải đặt lại vấn đề nghiên cứu Nguyễn Huy Tưởng với một cách nhìn nhận khác hẳn” [66: 156] Đây là ý
kiến gợi hướng cho người viết chọn đề tài: “Hà Nội – Ngyồn cảm hứng chủ
yếy trong áng t́c của Ngyyễn Hyy Tưởng” xem đây như là một cơ hội,
một việc làm nghiêm túc mang ý nghĩa thiết thực góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu di sản văn chương Nguyễn Huy Tưởng, đặc biệt là giá trị tư tưởng văn nghệ cũng như phong cách của ông Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong nhà trường hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, số lượng các bài viết, các công trình nghiên cứu, tiểu luận, phê bình và giới thiệu về con người và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng không ít Các giáo sư, các nhà nghiên cứu văn chương có uy tín trong nước như: Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phan Trọng Thưởng, Phong Lê, Dương Trung Quốc, Trần Mạnh Tiến, Cao Xuân Thử, Nam Phong, Nguyễn Vinh Phúc, Hà Ân, Đỗ Đức Hiểu, Phạm Xuân Nguyên v.v…, trong đó có cả những người thân ruột thịt, bạn hữu của chính nhà văn đều viết, nghiên cứu về ông và sự nghiệp sáng tác của ông
Năm 2003, công trình Ngyyễn Hyy Tưởng – về t́c gia và t́c phẩm, NXB
Giáo dục do Nguyễn Bích Thu và Tôn Thảo Miên biên soạn, ra đời đã tập hợp, tuyển chọn những bài phê bình, nghiên cứu có chất lượng Đây là một công trình biên soạn khá công phu Ngoài ra, còn có những bài viết nằm rải
Trang 6rác trong các công trình nghiên cứu khác từ những năm 60 đến thời điểm hiện tại mà người viết sưu tầm được Tổng hợp những ý kiến đánh giá đó, người viết xin chọn lọc và phân loại những ý kiến tiêu biểu như sau:
2.1 Những ý kiến đánh giá chung về đề tài Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Là bạn của Nguyễn Huy Tưởng và tâm huyết với đề tài Hà Nội,
Nguyễn Tuân viết trong Lời bạt cho tác phẩm Sống mãi với thủ đô, NXB
Văn học, 1961 chia sẻ thấy nhớ tiếc con người Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng,
ông nhận xét: “Nguyễn Huy Tưởng đã nhiều lần hoài bão về đề tài thủ đô Mang nặng một đề tài và chủ đề mỗi lần có khác đi, Nguyễn Huy Tưởng đã thai nó, sinh hạ nó lên giấy, có lần đẻ non, có lần đủ tháng, lại có lần đẻ rơi, chết rồi mà đứa con tinh thần vẫn lọt lòng và có đứa lại nửa đời nửa đoạn”
[95: 524]
Cùng năm 1961, trong bài viết Ngyyễn Hyy Tưởng và aự làm vịc của
anh, Văn nghệ số 52, Kim Lân viết: “Nguyễn Huy Tưởng biết nhiều về Hà
Nội Hà Nội mới, Hà Nội cũ, Hà Nội kháng chiến và Hà Nội của những năm
xa xưa thời Lê, thời Trịnh… Mỗi lần đi dạo trên các hè phố với anh, tôi thường được nghe anh kể chuyện Hà Nội Đi đến một góc đường nào, phố nào anh cũng có chuyện để nói Tôi có cảm giác như anh gắn bó với thủ đô Hà Nội từng mỗi bước chân Từng mỗi bước chân anh đều biết những dấu tích của cuộc chiến đấu đã qua và dấu tích của những thời xưa cũ Cái đầu ngõ kia đêm đầu nổ súng, có mấy anh tự vệ đã hy sinh Trên tầng gác thứ ba tòa nhà ấy, mẹ con chú Thắng đã tiễn biệt nhau như thế nào Đằng sau dãy nhà cũ kia có ngôi đền gì, thờ ai và tự vệ thành ngày ấy đã dùng ngôi đền ấy làm gì… Tôi không thể sao nhớ được những chuyện anh kể về Hà Nội, chỉ biết rằng anh hiểu biết và gắn bó với Hà Nội vô cùng” [Dẫn theo 9: 189 -
190]
Trang 7Trong chuyên khảo Ngyyễn Hyy Tưởng (1912 - 1960), NXB Văn học
Hà Nội, 1966, Hà Minh Đức và Phan Cự Đệ nhận xét: “Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn quan tâm đặc biệt đến đề tài đó (đề tài Hà Nội – Đỗ Thị Hường) Từ
trong thời kì kháng chiến, trên núi rừng Việt Bắc, khi viết Những người ở lại,
Nguyễn Huy Tưởng đã ấp ủ một niềm ước mơ là có dịp thể hiện sâu sắc về đề tài Hà Nội kháng chiến Từ sau hòa bình lập lại, trở về thủ đô giải phóng, mỗi đường phố, căn nhà lại như nhắc nhủ tác giả, thôi thúc anh suy nghĩ về đề tài đó Nguyễn Huy Tưởng rất yêu quý và gắn bó với Hà Nội Anh biết nhiều về Hà Nội trong quá khứ cũng như trong hiện tại Lòng thiết tha quyến luyến của anh với con người và cảnh vật thủ đô chính là nguồn tiếp sức mạnh mẽ cho tác giả thực hiện mơ ước của mình” [9: 189]
Năm 1979, trong cuốn Nhà văn Vịt Nam hịn đại (1945 -1975), tập
1, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức nhận xét: “Ngòi bút tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng dễ thích hợp với đề tài Hà Nội, một thành phố với truyền thống lịch sử lâu đời và những truyền thuyết phong phú, thành phố phát triển về kinh tế, văn hóa với những phong cảnh đẹp vừa trang nghiêm cổ kính, vừa trữ tình nên thơ Nguyễn Huy Tưởng đã cắm sâu tiểu thuyết trên đề tài Hà Nội thời kì trước và sau cách mạng và chủ yếu ở những năm đầu kháng chiến chống Pháp [13: 586] Hai nhà nghiên cứu rất công bằng khi cho rằng
“những trang viết của anh (Nguyễn Huy Tưởng) về Hà Nội kháng chiến vẫn là những trang viết đẹp, gợi lên bao rung động, kỉ niệm về một thời kì lịch sử lớn lao của dân tộc” [13: 589]
Năm 1984, Nhà xuất bản Văn học cho ra đời Tyỷn tập Ngyyễn Hyy
Tưởng (3 tập) Trong Lời giới thịy (Tập 1) Hà Minh Đức có nhận xét rất
đáng trân trọng: “Trong nỗi vui cũng như cái buồn của cảnh vật, Nguyễn Huy Tưởng gửi gắm cả sự hiểu biết và tấm lòng yêu mến Hà Nội của mình Hà Nội đang đứng trước những chuyển động lớn lao Cái khó của Nguyễn Huy
Trang 8Tưởng là miêu tả cho đúng bản chất người Hà Nội trong cuộc chiến đấu” một sống một còn với kẻ thù xâm lược” [12: 35]
Hoàng Tiến trong bài viết Nguyễn Hyy Tưởng với đề tài Hà Nội (Tạp
chí văn học, số 5 năm 1984) sau khi bao quát những sáng tác của ông, tác giả đã khẳng định: “Nguyễn Huy Tưởng rất say mê với Hà Nội mới, Hà Nội cách mạng, Hà Nội đổi đời” [74: 76]
Năm 1994, dường như Nguyễn Tuân nhận thấy những gì viết về
Nguyễn Huy Tưởng chưa xứng với tầm của anh nên trong Lời bạt Lũy hoa,
NXB Hà Nội, tác giả khẳng định: “Trong số những nhà văn quê hương ta hằng tha thiết với Hà Nội kinh kỳ có lẽ Nguyễn Huy Tưởng là người có một nét sống hao hao cái kiểu anh thanh niên Hà Nội tự vệ thành đeo sao vuông:
“Sống với Hà Nội, chết với Hà Nội Sống làm người Hà Nội, chết rồi cũng làm ma của Hà Nội” [81: 220]
Năm 2001, bài viết Nhà văn Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng, in trong tác
phẩm Ngyyễn Hyy Tưởng – êh́t vọng một đời văn, NXB Văn hóa thông tin
do Phương Ngân tuyển chọn, giới thiệu, Tô Hoài viết: “Trong hai mươi năm cầm bút, Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tác nhiều thể loại văn xuôi, nhiều đề tài khác nhau Nhưng, với anh, đề tài Hà Nội vẫn là tiềm lực sức sống liên tục trong tất cả các giai đoạn, là những tác phẩm chính của Nguyễn Huy Tưởng Ở mỗi trang Nguyễn Huy Tưởng, chúng ta đều có thể gặp được bóng dáng của Cổ Loa, của Thăng Long, của Hà Nội Trong đó, cuộc sống và con người, từ truyền thuyết tới ngày nay, qua mọi giai đoạn lịch sử, nghìn năm trước tới sau này, vẫn là một con người Việt Nam nhẫn nại, kiên cường đương đầu với mọi thử thách, mọi biến thiên và đã đứng vững, chiến thắng Là cây bút sử thi hết sức hùng tráng, Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng bao giờ cũng cực kì hùng vĩ, ngay từ những tác phẩm ban đầu” [65: 70]
Trang 9Trong tác phẩm Về văn học Vịt Nam hịn đại nghĩ tiếp, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội, 2005, Phong Lê có bài viết nhân kỉ niệm 50 năm giải
phóng thủ đô Hà Nội: Hà Nội với, và Hà Nội trong văn học hịn thực trước
1945 Ở bài này, tác giả đã khảo cứu các tác gia tiểu biểu viết về Hà Nội Về
Nguyễn Huy Tưởng, ông có nhận xét như sau: “Nguyễn Huy Tưởng là người thật chăm chỉ dành cho Hà Nội một mối quan tâm bền bỉ và dài lâu trong suốt ngót hai mươi năm đời viết văn của mình …Ở nhà văn có tư cách nhà văn hóa này, Hà Nội được hiện lên trong suốt chiều dày lịch sử, kể từ thời Trần với Hào khí Đông A trong An Tư, qua thời vua Lợn Lê Tương Dực trong Vũ Như Tô, đến thời Lê mạt nơi cung vua phủ chúa trong Đêm hội Long Trì… Đối với Nguyễn Huy Tưởng, cảm hứng lịch sử luôn luôn đậm đà trên mỗi trang viết về Hà Nội quá khứ; và chiều sâu lịch sử luôn luôn là sự cần thiết,
là ưu thế cho ông nhìn về Hà Nội của hiện tại ” [26: 111-112]
Gần đây nhất trong công trình 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nghiên
cứu về Hà Nội tác giả Lưu Vinh Phúc có giới thiệu những người con ưu tú của đất kinh kì Đối với sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Tưởng ông đánh
giá như sau: “Đề tài Thăng Long – Hà Nội là phần thành công nhất trong sự nghiệp văn học của ông (Nguyễn Huy Tưởng – ĐTH) Hơn 2000 trang cho quê hương Rồng bay quả là đáng kính nể Hầu như những thời kì lịch sử đầy kịch tính của Hà Nội đều có mặt trong tác phẩm của ông… Nguyễn Huy Tưởng quả đã muốn khẳng định một điều: Thăng Long – Hà Nội dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng dù ở thời nào cũng cùng một tâm hồn yêu nước, bất khuất, kiên cường và một phong thái hào hoa, thanh lịch” [ 44: 883 –
884]
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng đều thống nhất cho rằng Nguyễn Huy Tưởng quan tâm bền bỉ đến đề tài Hà Nội, Hà Nội mới và cũ, Hà Nội quá khứ và hiện tại bằng
Trang 10tất cả tấm lòng thiết tha, ước mơ, hoài bão, say mê như một điều gì đó thôi thúc tận đáy lòng
2.2 Những ý kiến đ́nh gí về ćc t́c phẩm cụ th̉ của Ngyyễn Hyy Tưởng liên qyan đến đề tài Hà Nội
Trong chuyên khảo Ngyyễn Hyy Tưởng (1912 - 1960), Hà Minh Đức,
Phan Cự Đệ nhận xét một cách khái quát các tác phẩm viết về Hà Nội của
Nguyễn Huy Tưởng như sau: “Thăng Long trong những ngày vang dậy tiếng
hò Sát Thát chống quân Nguyên (An Tư) – Đất Thăng Long dưới những triều
của hôn quân bạo chúa, những tầng đài ngất cao xây trên mồ hôi xương máu của nhân dân, những đêm hoa đăng mà bọn vua quan ra sức chơi bời trác
táng (Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì) Thủ đô Hà Nội hiện nay đã có ngót
một ngàn năm tuổi Qua các triều đại hưng vong, qua các lần giặc giã ngoại xâm, bộ mặt của Hà Nội đã thay đổi rất nhiều, nhưng truyền thống vẻ vang của Hà Nội ngày càng rực rỡ, tỏa sáng đến mai sau Hà Nội đất ngàn năm văn vật, nơi quê hương của những anh hùng thi bá, gắn liền với những sự
nghiệp vinh quang của dân tộc Với Lũy hoa và Sống mãi với thủ đô, Nguyễn
Huy Tưởng đã khôi phục lại được một giai đoạn lịch sử vô cùng anh dũng của nhân dân Hà Nội cũng như của toàn thể dân tộc ta” [9: 190]
Về kịch Những người ở lại, Hà Minh Đức bước đầu có nhận xét, đánh giá: “Những người ở lại đã phản ánh được quá trình chuyển biến của người
trí thức đi theo cách mạng, và rộng ra một phần nào nói lên được cuộc chiến đấu của anh dũng của quân dân thủ đô” [34: 381] Và Hoàng Trung Thông
cho rằng: “Những người ở lại nêu lên tinh thần chiến đấu kiên cường của
người dân Hà Nội với tất cả những tấn bi kịch trong gia đình” [85: 130]
Đánh giá tùy bút Một ngày chủ nhật, tác giả Nguyễn Vinh Phúc viết:
“Trong Một ngày chủ nhật, Nguyễn Huy Tưởng tỏ ra có một năng lực quan
sát và phân tích tinh tế sắc nét Vì tình yêu chân lý (chữ dùng của Nguyễn
Trang 11Huy Tưởng) nên tác giả cho thấy một nội thành Hà Nội bắt đầu “nông thôn hóa”… Giữa thời điểm nhiều người chỉ thích ngợi ca mà Nguyễn Huy Tưởng dám nêu ra mặt trái, mặt tiêu cực như vậy quả là “đừng viết cái gì sai với sự thật của con người, dù là hình thức phục vụ Người là thật, phải thật với người” [34: 324]
Về đề tài Hà Nội trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Huy
Tưởng, Vân Thanh nhận xét “thường đậm màu sắc anh hùng ca Tả nhân vật, ông cũng chú ý khai thác khía cạnh anh hùng” [34: 347]
Nhìn chung, các bài viết, nghiên cứu, phê bình xoay quanh đề tài Hà Nội trong sáng tác Nguyễn Huy Tưởng tập trung khai thác ở một vài khía cạnh khác nhau như: con người và sự nghiệp, nội dung chính của tác phẩm, hình tượng nhân vật, yếu tố đời tư của tác giả… song chưa có cái nhìn bao quát và thấu đáo về cảm hứng Hà Nội của nhà văn Đặc biệt, các nhà nghiên
cứu thường tập trung vào tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô, Lũy hoa mà chưa
đi sâu khai thác cảm hứng về Hà Nội qua những tác phẩm Đêm hội Long Trì,
An Tư, Vũ Như Tô, Những người ở lại, Một ngày chủ nhật và những truyện
viết cho thiếu nhi Do vậy, những giá trị của các tác phẩm kể trên có phần mờ nhạt hơn so với những sáng tác cùng đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng chúng tôi mong muốn có cái nhìn khách quan, khoa học, toàn diện hơn về nguồn cảm hứng Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng Từ đó ghi nhận những đóng góp và khẳng định vị trí của nhà văn viết về Hà Nội trong làng văn học Việt Nam
Xét ở góc độ thực tiễn giảng dạy trong nhà trường phổ thông, người viết nhận thấy bước vào những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng chính là tiếp xúc với những trang sách còn gợi mở nhiều hướng tiếp cận Mong muốn của
Trang 12người viết là đưa ra một hướng tiếp cận mới từ góc nhìn đề tài, cảm hứng về Hà Nội thông qua việc tìm hiểu văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng Từ đó có thể làm tài liệu tham khảo trong việc dạy và học văn ở trường phổ thông
Đối tượng nghiên cứu
Cảm hứng là một vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học Cảm hứng là một trong các yếu tố chính hợp thành tư tưởng tác giả, nội dung tác phẩm Nó xuyên thấm vào toàn bộ cấu trúc tác phẩm trên cả ba cấp độ: kết cấu, hình tượng, ngôn từ Do vậy, xuất phát từ điều kiện thời gian, nguồn tư liệu và khả năng của bản thân trên cơ sở tiếp thu những vấn đề về lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu, người viết sẽ tiến hành khảo sát Hà Nội – Nguồn cảm hứng độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng ở hai vấn đề cơ bản:
a Nhận diện cảm hứng về Hà Nội trong những tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng
b Miêu tả, phân tích những đặc trưng cơ bản, lí giải nguồn gốc cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát những tác phẩm viết về Hà Nội
tiêu biểu nhất được sắp xếp theo trình tự thời gian như sau: Vũ Như Tô (1941), Đêm hội Long Trì (1942), An Tư (1943) Những người ở lại (1948),
Một ngày chủ nhật (1956), Lũy hoa (1960), An Dương Vương xây thành Ốc, Ĺ cờ thêy áy chữ vàng (1960), ể chyỵn uyang Tryng (1960), Sống mãi với thủ đô (1961) Trong quá trình khảo sát những tác phẩm ấy người
viết luận văn có tham khảo và so sánh với những tác phẩm của các nhà văn khác có cùng đề tài
5 Đóng góp của đề tài
Trang 13Đề tài chỉ ra hướng tiếp cận mới đối với các sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng từ việc nghiên cứu những cảm hứng chủ yếu có tính chất hệ thống và khái quát trong các sáng tác của nhà văn về Hà Nội
Mỗi người có thể tiếp cận thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng bằng con đường, cách thức, góc nhìn riêng của mình Mong muốn của đề tài sẽ góp thêm tiếng nói hữu ích trong việc tìm hiểu văn nghiệp của Nguyễn Huy Tưởng, có thể làm tài liệu tham khảo trong việc dạy và học văn ở trường phổ thông
6 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp lịch sử cụ thể: xem xét, đánh giá, nhìn nhận tác phẩm tại thời điểm lịch sử đó Đồng thời chú ý tới sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội, của môi trường đến tư tưởng và con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
7.2 Phương pháp so sánh văn học: so sánh cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác Nguyễn Huy Tưởng với các nhà văn khác, so sánh giữa các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng để thấy được sự phong phú, nét độc đáo của ông khi viết về Hà Nội
7.3 Phương pháp hệ thống: Đặt nhà văn trong dòng văn học viết về Hà Nội để đánh giá, đặt từng tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng trong quá trình sáng tác để thấy sự thống nhất về tư tưởng, sự ổn định về phong cách, sự phong phú về nội dung và hình thức biểu đạt
7.4 Phương pháp phân tích, chứng minh: để tìm hiểu và lí giải tác phẩm đi vào chiều sâu
7.5 Vận dụng lí thuyết thi pháp tác phẩm và thi pháp thể loại: để cảm thụ tác phẩm nhằm khám phá ra mạch cảm hứng của tác giả
7 Cấu trúc luận văn
Trang 14Ngoài phần mở đầu (trang 1), phần kết luận (trang 120) và thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
* Chương 1: Đề tài Hà Nội trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Ở chương này, người viết trình bày những hiểu biết của mình về: Thăng Long – Hà Nội, nguồn cảm hứng bất tận của văn nghệ sĩ Việt Nam Từ đó, người viết tìm hiểu cảm hứng về Hà Nội trên hành trình nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng
* Chương 2: Những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Trên cơ sở trình bày một số khái niệm có liên quan đến đề tài như: khái niệm cảm hứng, cảm hứng chủ đạo (còn gọi là cảm hứng chủ yếu), các dạng cảm hứng, người viết bước đầu tổng hợp khái quát một số cảm hứng chủ yếu và một số đặc điểm cơ bản của cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng gắn với đặc trưng thể loại, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt những tác phẩm; mô tả, phân tích các dạng cảm hứng về Hà Nội bao gồm cảm hứng ngợi ca, cảm hứng phê phán, cảm hứng bi kịch trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và đặt trong mối liên hệ với những tác giả khác cùng viết về đề tài này Từ đó, người viết lí giải cội nguồn cảm hứng về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng
* Chương 3: Nguyễn Huy Tưởng – Bút pháp nồng nhiệt, linh hoạt
Ở chương cuối, người viết bước đầu tìm hiểu bút pháp nồng nhiệt, linh hoạt khi viết về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng ở những khía cạnh: ngôn ngữ nghệ thuật; giọng điệu nghệ thuật và nhịp điệu lời văn
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: ĐỀ TÀI HÀ NỘI TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN HUY TƯỞNG
1.1 Thăng Long – Hà Nội, nguồn cảm hứng bất tận của văn nghệ sĩ Việt Nam
Đã từ lâu, Hà Nội được coi là vùng đất có sức hút mạnh mẽ đối với nhiều người Viết về Hà Nội đã trở thành mối quan tâm, là điểm dừng chân, là bến đậu nghệ thuật không bao giờ vơi cạn trong trái tim người nghệ sĩ Việt Nam Đất Thăng Long trở thành nơi hội tụ của người tài ở khắp mọi miền Nơi đây đã nuôi dưỡng và sản sinh ra nhiều cây bút tài danh có đóng góp lớn cho lịch sử văn học dân tộc Họ đưa đến cho những người yêu Hà Nội một cái nhìn, một cách nghĩ, cách cảm rất chân thực, sinh động về mảnh đất kinh kì nghìn năm văn hiến Vẫn còn đó một Nguyễn Công Hoan phơi bày cả pho hài kịch nhân gian trên đất Hà thành; một Vũ Trọng Phụng phản ánh mặt trái nhầy nhụa, nhếch nhác của Hà Nội với bao khinh ghét và căm phẫn Vẫn còn đó một Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Bằng… lấy cảm hứng về văn hóa ẩm thực của người Hà Nội để viết và suy ngẫm Hay Tô Hoài – một nhà văn cả cuộc đời hành trình tìm kiếm khai thác về phong tục tập quán mỗi vùng miền, nhất là phong tục của Hà Nội… Hơn mười thế kỉ trôi qua, cảm hứng về Hà Nội dạt dào, không bao giờ vơi cạn, không bao giờ tự lặp lại mình trên dòng sông thi văn Việt Nam
Các tác giả thuộc văn học trung đại khi sáng tác thường gắn với chí với đạo Do vậy, sản phẩm sáng tạo của họ bao giờ cũng trang trọng, tuân theo những chuẩn mực, quy tắc nhất định Dòng cảm xúc chung của biết bao vua quan tướng lĩnh khi tìm về đề tài Thăng Long thường gắn liền với tinh thần yêu nước mang đậm bản sắc dân tộc Nếu như Lý Công Uẩn thể hiện ý chí quyết tâm dời đô, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; Lý
Trang 16Thường Kiệt khẳng định chủ quyền lãnh thổ, ca ngợi khí phách hào hùng với những chiến công hiển hách thì Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhân Tông, Cao Bá Quát… đầy ắp niềm kiêu hãnh về núi sông diểm lệ, thiên thời, địa lợi, nhân hòa Ngoài ra, có một số nhà thơ nhà văn đã lấy cảm hứng từ cuộc sống, con người, cảnh vật Thăng Long cho những sáng tác của mình Nguyễn Giản Thanh từng mô tả phủ Phụng Thành bước vào xuân với những con người hồn nhiên, thanh lịch, trai lanh lẹ đá cầu vén áo, gái éo le rủ yếm dôi quần, khách Tràng An cưỡi ngựa
xem hoa… Ngô Thì Sĩ có Tây Hồ phong cảnh phú với nước mênh mang,
sóng dạt dào, sương rơi, trăng gieo, sen tươi, dâu tốt… Lê Hữu Trác ghi chép chân thực những điều tai nghe mắt thấy trong một lần lên kinh đô vào phủ chúa khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán… Bên cạnh đó, chúng ta bắt gặp những hồn thơ da diết hướng về Thăng Long để rồi hoài niệm, nhớ thương, buồn chán, tiếc nuối như Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Du… Cũng có những sáng tác thấm đượm cảm hứng nhân văn cao cả và sâu sắc khi viết về số phận
người Hà Nội, đặc biệt là người phụ nữ kinh thành như Chinh phụ ngâm của
Đặng Trần Côn và bản dịch của Đoàn Thị Điểm chờ chồng trong nỗi truân chuyên; người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều khát khao yêu đương nhưng phải chịu tàn tạ trong sự kiềm tỏa của chế độ cung tần mĩ nữ; Trương Quỳnh Như vì lễ giáo phong kiến ràng buộc mà phải quyên sinh, để lại mối tình oan khuất…
Ở nền văn học cận, hiện đại người ta thấy bắt đầu xuất hiện các khuynh hướng sáng tác và nhiều phong cách cá nhân Rất nhiều cây bút tiêu biểu viết về Hà Nội với cảm hứng lãng mạn và hiện thực, hoặc vừa lãng mạn vừa hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng… Tất cả đều là những cây bút sống và viết ở Hà Nội, khai thác chất liệu chủ yếu trên
Trang 17địa bàn Hà Nội Chính họ và những tác phẩm viết về Hà Nội xuất hiện đã góp phần thúc đẩy và hoàn thiện quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc
Nguyễn Công Hoan không phải là người Hà Nội Thế mà, bức tranh hiện thực ở đô thị ấy đã đi vào trang văn của ông một cách trọn vẹn gồm đủ mọi dạng hỗn tạp, trà trộn, chen lấn, xô bồ… Chúng ta còn nhớ một cuộc hội
ngộ chua chát và trớ trêu trong Ngựa người và người ngựa; một cách “báo
hiếu” độc nhất vô nhị của những đứa con giàu có mà mất hết nhân tình; một sự trừng phạt bất lương, không chút tình thương đồng loại của nhà tư sản… Viết về xã hội thuộc địa ở Hà Nội, Nguyễn Công Hoan đã tập trung ống kính quan sát một cách tổng hợp sự đối lập kịch liệt giữa giàu và nghèo, thiện và ác, tốt và xấu, bi và hài…
Xuất hiện gần như đồng thời với Nguyễn Công Hoan là Vũ Trọng Phụng – người cho ra đời hàng chục phóng sự và tiểu thuyết về Hà Nội như:
Giông tố, Số đỏ, Làm đĩ, Lục xì, Cạm bẫy người… Hơn bất cứ ai, nhà văn
cho chúng ta thấy mặt trái nhầy nhụa và nhếch nhác của Hà Nội với biết bao khinh ghét, căm phẫn Khác với Nguyễn Công Hoan, nhà văn họ Vũ này tập trung ống kính vào những khối ung nhọt của xã hội để tạo ra một chuỗi cười dài, cười ra nước mắt Ở đó, có những bức chân dung đạt đến trình độ điển hình về sự nhố nhăng, kệch cỡm: cụ cố Hồng, bà Phó Đoan, cậu Phước, Typn,
… đặc biệt là Xuân tóc đỏ
Nằm trong trào lưu hiện thực, trên những trang văn của Nam Cao có một Hà Nội lam lũ, bần cùng túng đói ở ngoại ô Đó là ngoại ô Thụy Khuê, nơi có ngôi trường anh giáo Thứ dạy thuê; có ngôi nhà tăm tối của ông Học chuyên làm nghề đậu phụ; có sinh hoạt của thế giới con sen đứa ở nơi máy nước Và còn nhiều người phải ở trọ trong khu Xóm Bài Thơ khác nữa… Cái
ngoại ô Hà Nội trong con mắt nhà văn không lúc nào yên nghỉ, bởi “nỗi khổ cực chưa chịu ngủ Nó nhảy nhót, nó quằn quại, nó rên rỉ, nó nghiến ngấu
Trang 18một lần chót như một con bệnh vật vã chán cho đến lúc không còn hơi sức mới chịu nằm yên mà thiếp đi” [26: 101]
Cùng chung cảm hứng viết về ngoại ô Hà Nội, nhà văn Tô Hoài có cách nhìn rất khác Đó là vùng ngoại ô vương vấn nhiều kỉ niệm tuổi thơ của tác giả; một vùng quê kề với Kẻ Chợ luôn có sự thâm nhập của sự sống thành thị nhưng vẫn còn xa cách và biệt lập với thành thị; một vùng quê còn giữ được các phong tục và nếp sinh hoạt cổ xưa; một vùng quê với sự phôi pha, tàn lụi của những số phận, những kiếp người Trong đó, dấu ấn phong tục ở vùng ven đô Hà Nội vẫn là nét nổi trội trong văn Tô Hoài khiến cho chúng ta luôn cảm thấy hứng thú khi tiếp xúc với các tác phẩm của ông Đó là cảnh làng vào hội xuân, đám cưới và đám ma, một cuộc lên đồng, dăm cuộc tỏ tình của trai gái…
Một số cây bút văn xuôi lấy cảm hứng về cái ăn, miếng ăn, văn hóa ẩm thực của người Hà Nội để viết, tiêu biểu là Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Bằng… Thạch Lam trở thành nhà văn viết về Hà Nội rất
sáng giá khi ông cho ra mắt tác phẩm Hà Nội 36 phố phường Cái đẹp nơi
đây được ẩn giấu và lưu giữ ở những thú vui sinh hoạt và sản phẩm bình thường của Hà Nội Thạch Lam không chỉ liệt kê các hàng quà rong, các loại quà chỉ Hà Nội mới có như bún riêu, bún chả, thang cuốn, nem chua, miến lươn, bún ốc, bún sườn, canh bún, miến sào, giầy giò, bánh đậu, bánh khảo… mà còn là cả một sự cảm thụ tinh tế tất cả hương vị riêng , sức hấp dẫn riêng ở
mỗi loại quà “Ăn quà cũng là một nghệ thuật, ăn đúng cái giờ ấy, và chọn giờ bán ấy, mới là người sành ăn” [Dẫn theo 26: 110] Như vậy, Thạch Lam
đã khám phá vẻ đẹp đời thường của người Hà Nội để thể hiện một tình yêu chín chắn, đầy tin tưởng đối với quê hương nguồn cội Từ đó, chúng ta nhận
ra tấm lòng gắn bó sâu nặng của tác giả với văn hóa, nếp sống ở đất kinh kỳ Bên cạnh đó, Thạch Lam cũng gieo vào lòng người đọc nhiều trăn trở về số
Trang 19phận con người mà Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầy mùa… là những truyện ngắn
tiêu biểu
Cái đẹp trong văn hóa ẩm thực của Hà Nội đã được Nguyễn Tuân tiếp tục khám phá không lẫn với ai được Ông đã để lại nhiều tác phẩm có sức hấp
dẫn người đọc như bút ký: Phở, Cốm, Giò Lụa… Trên mỗi trang viết của
Nguyễn Tuân thấy con người trước miếng ăn chẳng những không hèn, không bị phàm tục hóa mà trở nên sang trọng hơn, có tư cách hơn Bởi vì, người nghệ sĩ tài hoa này không coi miếng ăn như một của ngon mà là một công trình nghệ thuật được tạo ra từ bàn tay người lao động Từ đó, ông tìm hiểu kĩ càng và có những đánh giá thú vị về chén trà buổi sáng, hạt cốm mùa thu, bát phở mùa đông, miếng giò ngày Tết… Điều này thật khác với Nguyên Hồng, cũng hay tả tỉ mỉ những bữa ăn, món ăn nhưng thành công hơn cả vẫn là khi tiếp cận miếng ăn từ khẩu vị người nghèo Nam Cao thì hay triết lí về miếng
ăn đối với người nghèo Vũ Bằng thì tiếp cận từ khẩu vị của những lớp thị dân
Hà Nội (Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội)
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn am hiểu, gắn bó, thiết tha và quyến luyến với Hà Nội vô cùng Hành trình sáng tạo của ông là hành trình tìm kiếm nghệ thuật Ông quan niệm đã là sự thật thì không tầm thường và sự thật đó
phải có sức mạnh “soi sáng cho con người, cho xã hội” [17: 490] Dấu chân
Nguyễn Huy Tưởng đi khắp chốn muôn nơi để tìm kiếm, khai thác về cuộc sống trong quá khứ và hiện tại, ở nông thôn và thành thị, ở chiến trường và hậu phương Đặc biệt, mảnh đất Hà Nội với Nguyễn Huy Tưởng có mối sâu
duyên nặng nợ Do đó, đã hơn một lần Nguyễn Huy Tưởng tâm sự: “phải viết một cái gì đó cho xứng đáng với người Hà Nội mới được” [Báo Văn nghệ
quân đội, 1-10-2009] Nếu như Nam Cao viết về Chí Phèo như để trả ơn dân làng Đại Hoàng thì Nguyễn Huy Tưởng gắn bó máu thịt với lịch sử và con người Hà Nội bằng cả trái tim và thiên chức của một nhà văn
Trang 20Trong thực tế, mỗi nhà văn thường tìm cho mình một vùng đề tài để chuyên canh Cho dù lớn đến đâu ông ta chỉ có thể viết hay về những gì mình
ưa thích nhất Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn của Hà Nội – mảnh đất có chiều dày lịch sử , chiều sâu văn hóa đã trở thành bến đậu nghệ thuật của ông trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp Nguyễn Huy Tưởng đã tự gắn sự nghiệp của mình với đất và người nơi đây, am hiểu sâu sắc về lịch sử, nếp sinh hoạt, vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống văn hóa của Hà Nội Do đó, Nguyễn Huy Tưởng đã lấy bề dày lịch sử Hà Nội làm chất liệu chủ yếu trong sáng tác của mình với cảm quan lành mạnh, tiến bộ Bởi đối với ông, lịch sử không phải là một công cụ để quảng bá chiến tranh, phân biệt chính tà, lịch sử chỉ là sự chuyển biến nhân sinh mà từ đó nhà văn có thể triển khai những băn khoăn sâu sắc về thân phận con người, thân phận nghệ thuật Quả đúng như GS
Phong Lê nhận xét: “Cuộc sống ở đất Kinh kỳ trong cảm nhận của Nguyễn Huy Tưởng không bao giờ là một nhát cắt ngang mà là gồm nhiều đường mạch gắn bó với lịch sử Và lịch sử, trong sự kết nối từ quá khứ đến hiện tại, đó là sự song hành hoặc tương phản giữa một bên là bạo lực của ngoại xâm, của cường quyền, của những rối ren và náo động của xã hội, với một bên là sự mỏng manh, sự bấp bênh của những số phận, những cuộc tình, những đam
mê và khát vọng của con người, trong đó có vị trí trung tâm là người trí thức”
Trang 21Tưởng Bởi vì, ở trái tim và tư tưởng của người nghệ sĩ tài hoa này, Hà Nội
hiện ra với dáng vẻ đặc biệt, khó lẫn
1.2 Cảm hứng về Hà Nội trên hành trình nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng
1.2.1 Sự hình thành khuynh hướng sáng tác nghiêng về cảm hứng Hà Nội
Nguyễn Huy Tưởng đến với đời sống văn học không mấy dễ dàng mà đầy trăn trở Ở ông vừa có cái hào hứng, táo bạo của một chàng trai trẻ, vừa có cái rụt rè kiểu cô gái quê mới ra chốn thị thành Trong những năm đầu chập chững bước vào nghề, ông có quan niệm hết sức nghiêm túc về nghề
văn Với ông, viết văn trước hết là để “bày tò lòng yêu nước”, “ là để phát biểu ý kiến” Trong nhật kí năm 20 tuổi ông viết: “Phàm văn chương mục đích thứ nhất là để dạy dỗ thiếu niên” và “văn chương phải chú trọng về phương diện xã hội”, bởi vì theo ông “Có mục đích thì mới biết chịu khó” Ở một trang nhật kí khác, ông viết: “Ta phải tìm ra một lối anh hùng riêng (…) ấy là cách dùng những cảnh dựng đứng một cách vĩ đại trong trí người ta”
Luôn luôn tâm niệm điều đó nên dường như hầu hết tác phẩm của Nguyễn
Huy Tưởng đều thể hiện phong cách “lối văn anh hùng” không lẫn vào đâu
được Những năm 1940, ông mới thực sự trình làng bộ ba tác phẩm Đêm hội
Long Trì, Vũ Như Tô, An Tư Điều này giúp giấc mơ ngày nào của ông trở
thành hiện thực Ông chính thức bước vào làng văn và góp phần làm nên diện mạo của một nền văn học lúc bấy giờ
Nguyễn Huy Tưởng, dù ở bất cứ sáng tác nào cũng dành sự quan tâm
đặc biệt cho con người, đề cao con người Ông viết “nghề nghiệp cao quý biết bao nhiêu là nghề văn Đưa lại cho đời một bó đuốc, không to thì nhỏ (…) Nghề gì cũng đẹp, miễn đấy là một nghề Nhưng có cái nghề nào thú vị hơn nghề văn, nó lấy nguyên liệu chính là con người, một cái gì đẹp nhất, toàn diện nhất, kì diệu nhất của sự sáng tạo? Đừng viết cái gì sai với sự thực của con người, dù là dưới hình thức phục vụ” [17: 493 - 494] Ở chỗ khác, nhà
Trang 22văn chỉ rõ: “vấn đề chính là vạch những cái xấu, phải thấm nhuần cái chủ nghĩa nhân văn cộng sản Nâng niu, tôn trọng con người” [17: 500] Theo đó,
trong các sáng tác của mình, ông vui với cái vui của con người, buồn cái buồn của con người, biết cảm thương và oán giận… Từ đó, chúng ta mới hiểu rằng
vì sao số phận của quận chúa Quỳnh Hoa (Đêm hội Long Trì), của An Tư công chúa (An Tư), của Vũ Như Tô (Vũ Như Tô)… mới thấm thía dưới
những lớp ngôn từ của ông đến vậy
Qua những dòng tâm sự trong nhật kí, người đọc có cảm giác như ông
“rút ruột mình ra” để chia sẻ về quan niệm văn chương, về những gì ông trải
nghiệm trong những năm tháng sống và viết Ở đó có niềm khắc khoải về một
thứ văn học đích thực theo quan niệm của ông: “Nhà văn phải là một nhà tư tưởng bằng nhân vật, bằng hình ảnh Không phải chỉ là phản ánh, mà còn là tổng kết, là soi sáng Đừng viết cái gì nó không soi sáng cho con người, cho xã hội Cầm lấy cái thìa khóa của nghệ thuật mà mở cửa ra cái mênh mông của cuộc sống (…) đừng thờ ơ với một cuộc sống dù rất nhỏ” [17: 490]
Với quan niệm về văn chương nghệ thuật như vậy, Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu có sự lựa chọn chín chắn con đường mình sẽ đi Lúc bấy giờ, người đọc vốn rất quen với những câu chuyện tình lãng mạn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy… thì ông mạnh dạn hướng ngòi bút của mình về với lịch sử Hà Nội, quê hương ông khi tuổi đời còn rất trẻ Đó quả là sự lựa chọn táo bạo và khắc nghiệt bởi vì viết lịch sử bằng văn chương chẳng dễ chịu chút nào Mỗi nhà văn ai cũng có mảnh đất canh tác cho riêng mình, với Nguyễn Huy Tưởng ông chọn Hà Nội là mảnh đất để vun trồng bề dày lịch sử, cầy xới cuộc đời của mỗi con người qua bao thăng trầm biến đổi trong quá khứ, chăm bón cho hiện tại để tìm đến một tương lai tốt đẹp Con đường văn chương của Nguyễn Huy Tưởng bắt nguồn từ khát vọng đặc biệt là được viết về đề tài Hà Nội Cảm hứng về Hà Nội là sức sống bền bỉ trong những tác
Trang 23phẩm viết trước và sau Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Huy Tưởng Mỗi trang văn của ông đều có bóng dáng của Cổ Loa, của Thăng Long, Hà Nội Dưới ngòi bút của nhà văn, con người Hà Nội thời nào cũng thế, nhẫn nại, kiên cường, dám đương đầu với mọi thử thách và luôn chiến thắng
Con đường văn chương của Nguyễn Huy Tưởng là như thế, bắt nguồn từ khát khao viết những tác phẩm có tầm vóc, hùng tráng, bề thế về Hà Nội Điều đáng chú ý nhất là trong hành trình sáng tạo nghệ thuật gần hai mươi năm (từ năm 1941 cho tới khi mất 1960), ông viết nhiều mảng, nhưng đề tài lớn nhất, tâm huyết và quen thuộc nhất là về Hà Nội Hà Nội chiếm vị trí đặc biệt trong văn nghiệp của ông
1.2.2 Cảm hứng về Hà Nội trong những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng trước Cách mạng tháng 8
Cuốn sách đầu tay của Nguyễn Huy Tưởng nói về vùng đất Thăng Long là cuốn
tiểu thuyết lịch sử Đêm hội Long Trì đăng hàng tuần trên tạp chí Tri tân, Hà Nội, 1942, xuất bản thành sách 1944 Đêm hội Long Trì tái hiện lại một Thăng Long phồn hoa và sa
hoa dưới thời vua Lê chúa Trịnh Qua tác phẩm, hẳn người đọc sẽ không thể quên một Hà Nội cổ xưa với những phố phường tấp nập, với những lễ hội nhộn nhịp và những trò diễn dân gian vừa kì ảo, tài hoa, khéo léo biểu hiện sức sống trường tồn của Hà nội ngàn năm văn hiến Nhưng đằng sau đó lại là bức tranh ăn chơi xa hoa, chướng tai gai mắt của những ông vua bà chúa, những quan tham nhiễu nhương chốn kinh thành Nổi bật là hình tượng ngông nghênh, dâm đãng, tàn bạo, bất chấp kỉ cương luật pháp của Đặng Mậu Lân, em ruột tuyên phi Đặng Thị Huệ, người được chúa Trịnh Sâm rất mực yêu quý Dù tác phẩm này chưa có tiếng vang lớn song cái tên Nguyễn Huy Tưởng cũng đã bắt đầu được giới văn nghệ Hà Nội chú ý
Sau Đêm hội Long Trì là vở kịch Vũ Như Tô, được thai nghén vào
mùa hè 1941, đăng lần đầu tiên trên báo Tri Tân, Hà Nội năm 1943, đến năm
1945 sửa lại hoàn chỉnh, gần như viết lại; công diễn lần đầu tiên năm 1995 (Nhà hát tuổi trẻ) Nếu như trước đây không ít ý kiến băn khoăn về nội dung
tư tưởng của tác phẩm (cho rằng Nguyễn Huy Tưởng không dứt khoát trong
Trang 24việc phê phán Vũ Như Tô), thì bây giờ, ý kiến chung về vở kịch đều thống nhất ở chỗ đánh giá cao tính đa nghĩa, chiều sâu nội dung, sự hoàn chỉnh về
hình thức nghệ thuật của tác phẩm và “thàng công nhất trong sáng tác văn học của anh trước cách mạng tháng Tám” [85, 74] Vũ Như Tô là câu chuyện
kể về một kiến trúc sư của Thăng Long, nhân vật chính của vở kịch, là một nghệ sĩ có chí lớn, tài cao, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài, không màng danh lợi, bị vua Lê Tương Dực (1493-1516) bắt xây Cửu Trùng đài nguy nga tráng lệ, Vũ đã cương quyết chối từ, mặc lời đe dọa kết tội tử hình Song, chính lời khuyên của Đan Thiềm, mội cung nữ bị ruồng bỏ, về sau làm
bạn tri kỉ của Vũ, đã làm Vũ siêu lòng: “Ông có cái tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông… Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả Vua Hồng Thuận rồi lũ cung nữ kia mất đi, nhưng sự nghiệp của ông còn để lại muôn đời Dân ta nghìn thu được hãnh diện…” Thế là Vũ nhận xây Cửu trùng đài cho nhà vua
ở Hồ Tây Đài cao một trăm nóc vờn mây, những cột đá to lớn, những tượng kị mã đang lồng, những hình trạm trổ rồng, phượng uy nghi… Nhà nghệ sĩ
muốn “xây một cái đài vĩ đại, làm vinh dự cho non sông”, làm việc quên ăn,
quên ngủ, ngã từ trên cao xuống thành tàn tật, vẫn không nản lòng thối chí Nhưng nhân dân đói khổ, mất mùa, thợ thuyền oán hận kêu ca, phản đối về việc xây Cửu trùng đài Cuối cùng, binh lính và thợ thuyền, chính những người xây Cửu trùng đài, không chịu được, đã nổi dậy chống đối, phá phách Dưới sự chỉ huy của tên phản động An hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, bọn chúng đã đốt đài và giết chết Vũ Tác phẩm vừa thể hiện mơ ước của nhà kiến trúc kiệt xuất Vũ Như Tô, vừa thể hiện nét tinh hoa của người Kinh kì, Kẻ Chợ, đồng thời cũng là tình cảm yêu quý Hà Nội của nhà văn Theo Nguyễn Đình Thi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có dụng ý nghệ thuật khi xây dựng tác
phẩm: “Tố cáo ách phát xít tàn bạo và có dụng ý thức tỉnh những nghệ sĩ tách
Trang 25rời nghệ thuật với vận mạng của quần chúng lao khổ” (Vĩnh bịt Ngyyễn
Hyy Tưởng – Nguyễn Đình Thi – Văn học số 29-7-1960)
Rồi đến An Tư công chúa, tiểu thuyết lịch sử mô tả giai đoạn kháng
chiến chống quân Nguyên Mông những năm 1284-1285 Khi quân Nguyên chiếm Thăng Long, vua tôi nhà Trần rút vào Thanh Hóa Công chúa An Tư tình nguyện hiến thân cho Thoát Hoan để cứu 10 vạn dân bị giặc chiếm giữ
Do vậy, mối tình thơ mộng giữa công chúa và Chiêu thành vương Trần Thông
lỡ dở Chia tay vị hôn thê, lòng đau như cắt khi tiễn nàng vào trại giặc, Trần Thông vẫn đinh ninh lời hẹn thề sẽ đón nàng về trong ngày Thăng Long sạch bóng quân thù Còn An Tư, dù phải ở trong tay giặc nhưng người con gái ấy vẫn một lòng thủy chung, son sắt, không gì có thể làm hoen ố tấm thân ngọc ngà của nàng Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng, quân đội nhà Trần phản công chiếm lại kinh thành Thăng Long, Trần Thông và Hoài văn hầu Trần Quốc Toản xin đi tiên phong phá thành cứu An Tư công chúa Lúc gần đại thắng thì Chiêu thành vương hi sinh trong vòng tay người yêu, An Tư công chúa lựa chọn cái chết lặng lẽ trong đêm Thăng Long ngập tràn khúc ca khải hoàn để đến với tình yêu của mình
Tóm lại, trước cách mạng, bộ ba tác phẩm nổi tiếng của ông đều lấy cảm hứng về vùng đất kinh kì Thăng Long, Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng đã từng gắn bó chặt chẽ với nơi đây, dành tình yêu tha thiết, sâu lắng pha lẫn niềm tự hào, say mê với cố đô nghìn năm Tình yêu ấy không chỉ đơn thuần là tình yêu của một người con với quê hương, mà hơn thế, bằng cảm hứng ngợi
ca, phê phán, bi kịch, ông đã đưa Thăng Long trở thành đại diện cho cả dân tộc, có hồn cốt, có dáng dấp như một sinh thể biết đau thương, biết lãng mạn, biết căm giận, biết vùng dậy đấu tranh để giành sự sống cho con người
1.2.3 Cảm hứng về Hà Nội trong những sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng sau Cách mạng tháng 8
Trang 26Sau Cách mạng tháng tám, những sáng tác của ông có sự mở rộng hơn về đề tài và hiện thực phản ánh nhưng phần tâm huyết nhất vẫn là sự tiếp nối mạch cảm hứng về lịch sử và con người Hà Nội xưa và nay: Hà Nội mới, Hà Nội cách mạng, Hà Nội đổi đời Kháng chiến ở Việt Bắc, ông viết kịch
Những người ở lại (kịch 3 hồi 5 cảnh, xuất bản 1948) Câu chuyện xoay
quanh tấn kịch gia đình bác sĩ Thành, một nhà phẫu thuật có tiếng tăm trong nước Ông lấy người vợ đầu, được hai đứa con là Sơn và Lan rồi sau đó họ chia tay Sơn theo mẹ vất vả kiếm sống, tham gia cách mạng, trở thành người cán bộ đầy nhiệt huyết Còn Lan sống với cha, là một cô gái có học thức Ông lấy người vợ sau là Ngọc Cẩm, một phụ nữ qúy tộc sống phóng túng, buông thả, từng có lúc chung chạ với Quảng, học trò xuất sắc của bác sĩ Thành và là người yêu của Lan, từng có lúc bỏ nhà cặp kè với tên do thám họ Dương Kháng chiến nổ ra, mọi người vận động bác sĩ ra khỏi thành song do e ngại điều kiện hoạt động chuyên môn thiếu thốn và hơn nữa ông lại không thể xa bà Cẩm nên đã ở lại Nửa tháng sau, cảm phục trước tấm lòng yêu nước của anh em tự vệ, ông lại muốn ra nhưng bà Cẩm lại không chịu nên ông quyết định ở lại Thấm thía nỗi nhục của những người ở lại trong thành ông liên hệ với Sơn để chờ được đưa ra Kết thúc vở kịch, Bà Cẩm quay về do thám theo lệnh tên Phủ Dương nên cả hai đều bị giết chết Lan, Quảng bị bắt, bác sĩ Thành theo Sơn ra… Kịch bản lấy sự việc ra hay ở lại của bác sĩ Thành làm nòng cốt để từ đó triển khai hàng loạt các tình huống tiêu biểu được phân bố đều khắp từ đầu đến kết thúc kịch Khi đứa con tinh thần này vừa ra đời đã nhận được những ý kiến khen ít chê nhiều Điều đó khiến nhà văn xót xa “phủ nhận đứa con tinh thần của mình” Thực ra ý đồ dàn dựng kịch bản được ông
tự nhìn nhận đánh giá như sau: “Tôi phải mượn một tấn kịch gia đình để tả cuộc chiến đấu của thủ đô và vận dụng tất cả những yếu tố của vở kịch vào việc bác sĩ Thành ra ngoài hay ở lại Thành thử việc bác sĩ Thành ra ngoài
Trang 27hay ở lại thực sự không có quan hệ gì đến vận mạng của Trung đoàn thủ đô Bác sĩ Thành không liên quan gì đến cuộc chiến đấu Tấn bi kịch muốn chuyển biến thế nào đi nữa, thì các chiến sĩ Liên khu I vẫn cứ rút ra để làm tròn sứ mạng với kháng chiến Khung cảnh không hợp với đề tài” (Văn nghệ,
số tranh luận 1949) Tuy vậy, chủ đề của vở kịch đã rất rõ ràng: cuộc chiến đấu anh dũng của Trung đoàn thủ đô và tinh thần bất khuất của những nhà trí
thức ở Hà Nội trước kẻ thù Do đó, Những người ở lại vẫn có sức khái quát
chân thực giai đoạn lịch sử trong những năm đầu kháng chiến ở thủ đô
Là nhà văn quan tâm đặc biệt đến đề tài Hà Nội kháng chiến, dẫu có những năm tháng xuống Hải Phòng, lên Việt Bắc, đi kháng chiến, ông trước
sau vẫn khắc khoải về Hà thành Thời gian ở Việt Bắc, khi viết Những người
ở lại, Nguyễn Huy Tưởng “đã ấp ủ niềm mơ ước là có dịp thể hiện sâu sắc về
đề tài Hà Nội kháng chiến” Từ sau hòa bình lập lại, trở về thủ đô đã được
giải phóng, mỗi đường phố căn nhà, con ngõ cứ làm ông trăn trở và thôi thúc ông suy nghĩ về đề tài đó Là người chứng kiến cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân Hà Nội trong 60 ngày đêm cuối năm 1946 đầu năm 1947, ông thấy
cần “phải viết một cái gì đó xứng đáng với những chiến công và sự hi sinh lớn lao của các chiến sĩ Trung đoàn thủ đô và người Hà Nội trong những ngày mùa đông năm ấy” (Báo Văn nghệ quân đội, 01-10-2009) Tiểu thuyết
Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng hoàn thành tập I năm 1958,
được in năm 1961 Đây là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của ông Tác giả dự định viết 2 tập, gồm 47 chương, miêu tả toàn bộ cuộc chiến đấu chống Pháp của quân dân Hà Nội ròng rã suốt trong hai tháng mùa đông năm 1946 Tiếc thay, ông mới chỉ kịp hoàn thành tập I, và cũng chưa kịp sửa chữa theo ý muốn thì ông đã ra đi Tập I gồm 36 chương viết về Hà Nội những ngày chuẩn bị kháng chiến chống Pháp và dừng lại sau hai ngày đầu chiến đấu của Liên khu I Hà Nội (ngày 19 và 20.12.1946) Qua đó, người đọc
Trang 28hiểu rõ hơn về lịch sử và con người của thủ đô So với hai tiểu thuyết trên, tác phẩm này hơn hẳn bởi nó được ấp ủ suốt nửa hành trình sáng tác của nhà văn dưới cái nhìn của cảm hứng ngợi ca là chủ yếu
Tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô đã dựng lên được bầu không khí lịch
sử sôi sục, quyết liệt với nhiều sự kiện đặc sắc, có thực trước và sau khi nổ ra cuộc kháng chiến ở Hà Nội Những chuyến tàu cuối cùng rời Hà Nội chở người đi tản cư, những chiến lũy lần lượt được dựng lên bằng tất cả những gì có thể: đồ đạc, cây cối, xe cộ… của chính người Hà Nội Đường phố xảy ra hàng loạt những cuộc gây hấn ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù như vụ khiêu khích phá hoại nhà Bưu điện Bờ Hồ hay những vụ thảm sát ở ngõ Yên Ninh, Hàng Bún…Khi ấy, Hà Nội âm thầm và kiên cường chuẩn bị chiến đấu
Chính phủ vùng dậy, khẩu hiệu căng khắp các ngả đường: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thanh niên Hà Nội thề sống chết với thủ đô”… Tiếp đến
là các trận chiến đấu sôi nổi, quyết liệt lần lượt nổ ra ở Bắc Bộ phủ, trận tập kích nhà viên tướng Pháp Mooclie… Trên cái nền lịch sử ấy, tác giả đưa ra hơn bốn mươi nhân vật với những cuộc đời, số phận khác nhau bị xô đẩy, dồn đuổi hỗn tạp trong dòng xoáy chiến tranh Trên năm trăm trang sách, phần lớn ông viết về tầng lớp tiểu tư sản hăng hái tham gia cứu nước Đó là Trần Văn, một thầy giáo say mê lịch sử và truyền thống dân tộc, sẵng sàng đi vào cuộc chiến đấu dù có lúc còn ngỡ ngàng, non nớt Đó là Văn Việt, một quần chúng tích cực, có trách nhiệm với công việc được giao, dẫu còn mang nặng thái độ hoài nghi và đầu óc còn chủ quan; là Nhật Tân, người thanh niên dũng cảm, ngang tàng trông có vẻ giống như một thám tử, rất thích đánh Pháp song lại coi chiến tranh như một trò chơi mạo hiểm; là Quốc Vinh, người chiến sĩ đã lăn lộn hoạt động bí mật, là cán bộ cốt cán trong cuộc kháng chiến này, sẵn sàng có mặt trên mọi trận tuyến, đương đầu với mọi khó khăn gian khổ Và còn rất nhiều hình ảnh đẹp đẽ khác nữa như Loan, Oanh, bộ ba Nhân, Dân,
Trang 29Thắng… Sống mãi với thủ đô đã làm xao xuyến biết bao trái tim yêu Hà Nội
thuộc nhiều thế hệ, trong đó có giới văn nghệ sĩ Nhà văn Nguyễn Minh Châu
từng viết: “Tôi đọc Sống mãi với thủ đô đã mấy chục năm nay thế mà vẫn
còn giữ nguyên trong trí nhớ một chiếc lá sấu vàng khô cong như một tấm giát, từ từ và lặng lẽ gieo xuống vạt cỏ ven hồ Gươm trong một buổi chiều
mùa Đông… Hà Nội sắt lại trong một vẻ buồn” (Báo Người Hà Nội, ngày
19-5-1989)
Như đã nói ở trên, Nguyễn Huy Tưởng có dự định viết Sống mãi với
thủ đô gồm hai tập song do những điều kiện khách quan lẫn chủ quan cho
nên, thay vì viết tiếp cuốn hai, ông ngừng lại để viết truyện phim Lũy hoa
(1960), ghi lại cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội trong hai tháng trời từ những ngày cuối cùng trước khi Hà Nội bước vào cuộc chiến đấu đến lúc đoàn quân tạm biệt thủ đô ra đi nhìn Hà Nội đang bốc cháy, thành phố hồng hồng chớp giật, những đám khói như tóc xõa, những cột khói vật vờ như cánh
tay vẫy gọi Nhìn chung, Lũy hoa và Sống mãi với thủ đô cùng chung cốt truyện, chủ đề, đề tài, nhân vật Khi viết Sống mãi với thủ đô còn dang dở, ông vẫn canh cánh bên lòng về Hà Nội kháng chiến Do vậy, có thể coi Lũy
hoa như bản sơ thảo toàn bộ tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô và những ý đồ
để viết Sống mãi với thủ đô đã được nhà văn thể hiện trong Lũy hoa
Tùy bút Một ngày chủ nhật được nhà văn viết vào tháng 11-1956,
trong lúc tư tưởng có nhiều trăn trở Qua tác phẩm này, ông tỏ ra có một năng lực quan sát tinh tế và phân tích sắc sảo khi phản ánh bức tranh Hà Nội sau giải phóng Vì tình yêu chân lí (chữ dùng của Nguyễn Huy Tưởng) nên tác giả
cho ta thấy một Hà Nội bắt đầu bị “nông thôn hóa”, bị xuống cấp bởi sự quê kiểng lồ lộ ra thật đáng sợ Tác giả đòi hỏi “một cái gì gọn gàng, đẹp mắt”,
không chấp nhận một thành phố đơn điệu về màu sắc và thấy khổ tâm về những hành động thô bạo, thiếu văn hóa… Nhà văn trăn trở và khổ tâm như
Trang 30vậy là vì ông vốn trân trọng cái gọi là “ngàn năm văn vật đất Thăng Long”, cái “chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
Cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng còn được thể hiện sâu đậm trong mảng truyện viết cho thiếu nhi Trong một bài viết về
Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Nguyên Cát kể: “Mỗi lần gặp anh (…), anh rất say sưa nói vê chuyện về Hà Nội Anh kể cho tôi nghe những truyện của Hà Nội như đền Ông Hậu (Phúc Hậu), tướng Đá Dãi… Anh rất muốn viết một cuốn sách về Hà Nội cho các em” [34: 368] Và không chỉ viết một cuốn, ông
đã viết: An Dương Vương xây thành Ốc (1957), ể chyỵn uyang Tryng (1960), Ĺ cờ thêy áy chữ vàng (1960) Nhìn chung, các cốt truyện này đơn
giản, phù hợp với tâm lí lứa tuổi thiếu nhi Những truyện viết cho thiếu nhi của ông không chỉ là ca ngợi các vị anh hùng trong lịch sử mà còn luôn thấp
thoáng bóng dáng Loa thành, Thăng Long, Hà Nội An Dương Vương xây
thành Ốc là câu chuyện được xây dựng dựa trên những truyền thuyết xưa ở
đất Cổ Loa Ĺ cờ thêy áy chữ vàng kể lại một phần rất nhỏ về chiến thắng
vĩ đại của quân dân ta chống quân Nguyên dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo Chủ đề tác phẩm xoay quanh nhân vật chính: Hoài
Văn Hầu Trần Quốc Toản ể chyỵn uyang Tryng miêu tả nhà vua trong
những ngày cùng đoàn quân áo vải, ào ào, vượt núi băng đèo ra Bắc diệt Tôn Sĩ Nghị Khi Quang Trung đến kinh thành, Thăng Long đã bốc lửa, ngập
chìm trong chiến tranh “Những đám cháy bốc cao, cháy các lầu son gác tía Cháy các cung điện kín cổng cao tường Cháy các đình chùa, miếu mạo (…) cháy lan ra các nhà dân” [34: 235] Những sáng tác cho thiếu nhi của
Nguyễn Huy Tưởng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc
Như vậy, từ sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng vẫn là cây bút trung thành với lịch sử, hoạt động chủ yếu gắn với sân khấu, điện ảnh và
Trang 31sáng tác văn học cho thiếu nhi Nhưng điều đáng nói là cảm hứng lịch sử của ông gắn bó chặt chẽ với mảnh đất Thăng Long, Hà Nội Hầu hết, thời điểm lịch sử được phản ánh trong các tác phẩm kể trên là các cuộc chiến tranh được ông dùng làm đối tượng miêu tả Chiến tranh là thời điểm biến động, là ngã rẽ của lịch sử, ở đó con người có những va đập, đối mặt giữa sự sống và cái chết, buộc họ phải quyết định lựa chọn hoặc thỏa hiệp, đầu hàng vì bản thân hoặc chiến đấu vì dân tộc Chiến tranh là thước đo phẩm chất của con người, ở đó, con người phải trả giá cho sự lựa chọn của chính mình Vì thế, những biến cố lớn xảy ra ở Hà Nội như một sự thử thách khả năng, bản lĩnh, tấm lòng của một người, của một cộng đồng Ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng khi viết lịch sử, con người Hà Nội mang một phong cách riêng: nhà văn thiên về cảm hứng anh hùng ca, lấy cảm hứng ngợi ca Hà Nội là cái trục chính, xoay quanh là cảm hứng phê phán, cảm hứng bi kịch Nó giống như một cây lớn, ở đó cảm hứng ngợi ca là phần thân, còn cảm hứng phê phán, bi kịch là cành, là lá, là hoa, là ngọn Có lẽ cũng vì tạng người ông điềm đạm, trầm mặc,
ưa những gì thanh lịch, trang trọng, cao cả Đó là biểu hiện của một tâm hồn biết yêu cái tài, quý cái đẹp
Tóm lại, những tác phẩm viết về Hà Nội đều là những sáng tác có giá trị cao trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Tưởng Đúng như nhà văn Tô
Hoài nhận xét: “Vốn là một cây bút sử thi rất thuần thục, hết sức hùng tráng, Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng dựng lên thật hùng vĩ, huy hoàng ngay từ những tác phẩm đầu tiên của anh Sự sáng tạo được bắt nguồn từ thực tế lịch sử và truyền thống của nơi trung tâm nghìn năm của đất nước” (Báo Văn
nghệ quân đội, ngày 01-10-2009) Cảm hứng về Hà Nội là dòng chảy xuyên suốt trong những sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Huy Tưởng như đã giới thiệu khái quát ở trên; trong cả hai thời kì sáng tác trước và sau cách mạng tháng Tám; trong tất cả các thể loại bao gồm tiểu thuyết, kịch, truyện thiếu nhi,
Trang 32truyện phim, tùy bút Và như vậy, con đường nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng đến với đề tài Hà Nội là con đường nghệ thuật nhất quán và liền mạch Ngay từ những ngày đầu cầm bút, cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác Nguyễn Huy Tưởng là tất cả những say mê mãnh liệt, những rung động thiết tha, là khát vọng tự thân, thường trực, thôi thúc ông phản ánh, chiếm lĩnh và lí
giải Do vậy, ông đã “dựng lại được một Hà Nội bao quát trong không gian, chuyển động sâu lắng trong thời gian Những bước đi của thời gian còn để lại dấu vết trên những mái chùa cong phủ bao lần rêu phong mưa nắng, những căn nhà nhấp nhô trên những đường phố hẹp, những hàng cây cổ thụ bốn mùa xanh lá và cả trên những gương nước biếc xanh, phẳng lặng của Hồ Gươm, Hồ Thuyền Quang Bề dầy lịch sử đã tạo nên một truyền thống kiên cường trong đấu tranh và cũng tạo dựng nên một nếp sống văn hóa lâu đời (…) Hà Nội trong cách nhìn ngắm của mỗi người có thể khác nhau, nhưng điều không thể nghĩ khác được rằng đây là một thành phố có tầm cao và chiều sâu của cuộc sống” [34: 80]
Trên đây, NVLV đã khảo sát một vài nét chủ yếu về đề tài Hà Nội trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng: Thăng Long – Hà Nội, nguồn cảm hứng bất tận của văn nghệ sĩ Việt Nam; bước đầu tìm hiểu khuynh hướng sáng tác về Hà Nội trên hành trình nghệ thuật của nhà văn trước và sau cách mạng tháng Tám Chúng tôi sẽ tiến hành nhận diện, miêu tả, phân tích và lí giải những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng qua chương thứ hai của luận văn
Trang 33CHƯƠNG HAI: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ YẾU VỀ HÀ NỘI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
Ở chương này, người viết sẽ trình bày một số hiểu biết về khái niệm cảm hứng và các dạng cảm hứng Từ đó, nhận diện, miêu tả, phân tích, lí giải những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
2.1 Về khái niệm cảm hứng
2.1.1 Khái niệm
Tác phẩm văn học được sản sinh từ cuộc sống dưới lăng kính chủ quan
của nhà văn Người ta thường nói “tác phẩm nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” [46: 6] Văn học, ngoài chức năng phản ánh, tái
hiện cuộc sống muôn màu muôn vẻ thông qua hình tượng nghệ thuật, còn có
thể lí giải hiện thực cuộc sống ấy Belinski khẳng định: “Nghệ thuật không chỉ nhận thức cuộc sống, mà còn là câu hỏi và câu trả lời về cuộc sống”
Người nghệ sĩ không thể lí giải hiện thực cuộc sống bằng những tư duy giáo điều, cứng nhắc mà phải gắn liền với thái độ, tình cảm, quan niệm, tư tưởng
của mình Nói như Lê Ngọc Trà: “tư tưởng của tác phẩm phải biến thành khát vọng, thành cảm hứng”
Vậy cảm hứng là gì?
“Cảm hứng” ở đây thuộc phạm trù lí luận văn học, là một nội dung
tình cảm của tác phẩm, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ (Pathos – một tình cảm sâu sắc, nồng nàn, có người dịch là “cảm hứng chủ đạo” Ở đây chúng tôi gọi tắt là “cảm hứng” theo cách dùng quen thuộc trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam hiện nay) Khái niệm này được đề cập từ lâu trong lí luận văn học nghệ thuật Khái niệm cảm hứng chủ đạo – theo Huỳnh Như Phương – đã
được Hêgel xem là “trung tâm điểm”, là “vương quốc thật sự”, “là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở
Trang 34thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt vào nó Cảm hứng chủ đạo được xem như là sản phẩm của một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” [Dẫn theo 46: 208]
Nhà phê bình Bielinski viết: “Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó” [Dẫn theo 46: 208-209] và “cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say
mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt” [46: 209] Còn tư tưởng phải “tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê” [Dẫn theo 46: 208] Như vậy, Belinski
đã triển khai cụ thể hơn những luận điểm còn khá trừu tượng của Hegel về khái niệm cảm hứng
G.N Pôxpêlôp, nhà nghiên cứu lí luận văn học ở Nga, đã đưa ra những
quan niệm về cảm hứng Theo ông, cảm hứng phải được bắt nguồn từ “tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn”; “cảm hứng là sự lí giải, đánh giá sâu sắc và chân thực – lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy” [47: 141] Pôxpêlôp khẳng định tầm quan trọng của cảm hứng: “Ở những tác phẩm không có chiều sâu của hệ vấn đề, sự lí giải và đánh giá các tính cách sẽ không được nâng lên thành cảm hứng Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm hứng chỉ được tạo nên do ý chí chủ quan của nhà văn và vì vậy cảm hứng sẽ mang tính chất gượng gạo, cố tình” [47: 141] Đến Pôxpêlôp,
ông thực sự quan tâm đến tính chân thực lịch sử của tư tưởng và của tác phẩm văn học Nghĩa là nhà văn phải yêu những cái đáng yêu, ca ngợi những cái đáng ca ngợi, ghét những cái đáng ghét Nếu nhà văn vạch ra, tô đậm hành động chiến đấu dũng cảm của một đội quân xâm lược hay đề cao, ca ngợi vai trò của một giai cấp thống trị đã mục ruỗng và thối nát thì sự tô đậm, ca ngợi
Trang 35ấy không mang tính cảm hứng Có chăng đó chỉ là thứ cảm hứng giả tạo vì nó đánh mất tính chân thực lịch sử Chúng tôi xin chia sẻ với câu nói của Lỗ Tấn
để khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của cảm hứng trong tác phẩm: “làm một người thầy thuốc kê đơn bậy chỉ giết chết có một người, làm một viên võ tướng điều binh khiển tướng bậy chỉ nướng hết có một đạo quân, còn làm một nhà văn viết bậy sẽ gây tác hại đến hai, ba thế hệ” [14: 125]
Từ những quan niệm của càc nhà mĩ học, các nhà nghiên cứu và phê bình văn học ở phương Tây, đến nay khái niệm cảm hứng cũng được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở nước ta tiếp thu, khẳng định Trần Đình Sử đã đưa ra khái niệm cảm hứng tư tưởng và xếp cảm hứng vào một trong ba
“phương diện chủ quan của nội dung tư tưởng tác phẩm” (bao gồm: sự lí giải
chủ đề, cảm hứng tư tưởng, tình điệu thẩm mĩ) [15: 43-57] Huỳnh Như
Phương cho rằng “cảm hứng là tình trạng phấn chấn về tinh thần giúp cho người ta thấy rõ, thấy nhanh nhiều vấn đề theo một hướng tập trung, phát hiện được nhiều điều mới, thực hiện được công việc một cách thích thú và có kết quả cao” [46: 116] Vì thế, cảm hứng là chất men sáng tạo Khác với Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương xem cảm hứng như là một trong “các yếu tố chính hợp thành tư tưởng tác phẩm” (bao gồm đề tài và chủ đề, cảm hứng
chủ đạo, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người) [46: 204-215] Dù vậy, cả hai đều thống nhất ở chỗ coi cảm hứng thuộc về nội dung tư tưởng tác phẩm
Dựa trên những quan niệm về cảm hứng như đã trình bày, người viết hiểu cảm hứng chủ đạo hay cảm hứng chủ yếu có thể gọi tắt là cảm hứng [54: 45] là một trạng thái tình cảm mạnh mẽ, một khát vọng mãnh liệt mang tư tưởng của nhà văn hướng về đối tượng mà họ miêu tả Trạng thái tình cảm đó không phải là một thứ tình cảm khô khan, giả tạo hay giáo điều mà phải là một thứ tình cảm sâu sắc, nồng nàn Cảm hứng chủ đạo là một bộ phận, một
Trang 36trong những thành tố chính thuộc về tư tưởng tác phẩm nên có khi còn được gọi là cảm hứng tư tưởng
Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng từng khai thác nhiều loại đề tài để phù hợp với từng giai đoạn như: lịch sử và hiện tại, nông thôn và thành thị, sản xuất và chiến đấu… Xem xét toàn bộ văn nghiệp của ông, chúng ta có thể hiểu vì sao Nguyễn Huy Tưởng được mệnh danh là “nhà văn của Hà Nội” Bởi lẽ, trong số những đề tài ấy, ông dành sự quan tâm đặc biệt với Hà Nội Cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng là cảm hứng chủ yếu, nổi bật nhất, xuyên suốt từng thể loại, xuyên suốt chặng đường ông đã đi Đó phải là một tình yêu mãnh liệt, thiết tha, sâu sắc, hiểu biết đến tận cùng về cuộc sống và con người Hà Nội; niềm ước mơ, khát vọng, mong mỏi, thôi thúc ông trở về với đề tài Hà Nội; niềm tự hào mãnh liệt về tinh thần chiến đấu kiên cường của người dân Hà Nội; hay nỗi đau xé lòng; sự căm hờn đanh thép… Vì vậy, cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng chi phối trực tiếp đến việc xác định đề tài; xây dựng chủ đề, nội dung tác phẩm, hệ thống nhân vật, kết cấu, sự chọn lọc ngôn ngữ; xác lập góc nhìn của tác giả đối với hiện thực được phản ánh
2.1.2 Các dạng cảm hứng
Thực tế cuộc sống vốn đa dạng Cảm hứng được nảy sinh từ đời sống nên cảm hứng của các tác phẩm văn học cũng đa dạng và có những biến thể khác nhau Hegel là người đầu tiên phân chia cảm hứng ra thành các dạng thức khác nhau ấy Trong đó, cái mà ông quan tâm hơn cả là cảm hứng anh hùng và cảm hứng bi kịch Tiếp theo là Biêlinski và nhiều nhà nghiên cứu sau
này đều cho rằng “cảm hứng chủ đạo có thể biểu hiện bằng những biến thể khác nhau: cảm hứng lãng mạn, cảm hứng anh hùng, cảm hứng bi kịch, cảm hứng châm biếm…” [Dẫn theo 46: 210] Đồng tình với quan điểm đó, Pôxpêlôp đã chia cảm hứng thành các dạng thức: “cảm hứng anh hùng, cảm
Trang 37hứng kịch tính, cảm hứng bi kịch, cảm hứng châm biếm, cảm hứng hài hước, cảm hứng thương cảm, cảm hứng lãng mạn… Tất cả đều được nảy sinh trong ý thức con người – tích cực nhất là trong ý thức những người sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” [47: 144-188]
Thông thường, mỗi một tác phẩm văn học ít khi tồn tại dưới một dạng cảm hứng đơn độc mà là sự đan xen của nhiều dạng cảm hứng Việc xác định ranh giới giữa chúng là vấn đề còn khá mơ hồ, chưa rõ ràng, dứt khoát Chẳng
hạn, trong Bình Ngô đại ćo – “áng thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi, đôi
khi cảm hứng anh hùng ngợi ca và cảm hứng thương cảm đan xen, hòa quyện
với nhau tạo thành một tình cảm chân thành, nồng nhiệt Hay trong Tướng về
hưy của Nguyễn Huy Thiệp, cảm hứng thế sự và cảm hứng châm biếm gắn
liền với nhau tạo lên tiếng vang rõ rệt trong dư luận Đoạn tyỵt của Khái
Hưng có yếu tố bi kịch nhưng chủ yếu được viết với bút pháp lãng mạn Vì vậy, trong sáng tác văn học, cảm hứng được biểu hiện dưới nhiều dạng thức là một điều tất yếu Tuy nhiên, dù tác phẩm có nhiều nguồn cảm hứng đến đâu chăng nữa thì vẫn có một dạng thức giữ vai trò chủ đạo, xoay quanh một trục
tư tưởng trung tâm gọi là cảm hứng chủ đạo của tác phẩm Khi cảm hứng trở thành cảm hứng chủ đạo nó sẽ thấm sâu, chi phối toàn bộ tác phẩm từ phạm
vi đề tài, ý nghĩa chủ đề, xây dựng hình tượng đến phát triển cốt truyện, sự lựa chọn kết cấu, ngôn ngữ, thể loại… sao cho thật hiệu quả Chính cảm hứng
chủ đạo là một phương diện của phong cách nhà văn Chẳng hạn trong Chiến
tranh và hòa bình, tư tưởng chủ đạo là ca ngợi sức mạnh vô địch và chính
nghĩa của nhân dân Nga trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại năm 1812 Cảm hứng ngợi ca trong tác phẩm ấy không chỉ thể hiện qua việc xây dựng tình huống thử thách, hình tượng người anh hùng mà còn trong lời kể, giọng văn…
Trang 38Như vậy, khái niệm cảm hứng và các dạng cảm hứng là một trong những khái niệm trọng tâm và xuyên suốt của lí luận văn học Từ đây, người viết dùng để xem xét, nhận diện những vấn đề thuộc nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật trong các sáng tác viết về Hà Nội của Nguyễn Huy Tưởng Nhìn tổng thể, rất nhiều dạng cảm hứng hiện hữu trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng như: cảm hứng lịch sử, cảm hứng bi kịch, cảm hứng thế sự, cảm hứng hiện thực, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng thương cảm, cảm hứng anh hùng, cảm hứng châm biếm… Tùy theo mục đích, vị trí góc nhìn, người nghiên cứu có thể lựa chọn cho mình hướng đi riêng Xét ở phạm vi đề tài, NVLV nhận thấy cảm hứng về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng cũng có những biến thể: đó là cảm hứng ngợi ca, cảm hứng phê phán, cảm hứng bi kịch… Những nguồn cảm hứng chủ yếu ấy chính là ngọn lửa nung nấu tâm can nhà văn, thôi thúc, dẫn đường để nhà văn sáng tạo nghệ thuật Do vậy, dựa trên cơ sở lí luận chung và gợi ý của người đi trước, người viết bước đầu nhận diện, miêu tả, phân tích, lí giải những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
2.2 Những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
Thăng Long, Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất của dân tộc Việt, là trái tim của cả nước, là mảnh đất thiêng liêng biểu trưng cho sức mạnh, ý chí mọi thời đại Mỗi biến cố lớn lao của dân tộc dù ở thời đại nào đều liên quan đến mảnh đất này Nơi đây đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều nhà văn nổi tiếng sáng tác như: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài… Một nhà văn hiện đại đã dành phần lớn sự nghiệp sáng tác của mình cho đề tài Thăng Long – Hà Nội, đó là Nguyễn Huy Tưởng Nguyễn
Huy Tưởng vốn là “cây bút sử thi hết sức hùng tráng” có tấm lòng gắn bó đối
với lịch sử quê hương, cho nên, trong các sáng tác của nhà văn, Hà Nội trở thành hình tượng nghệ thuật trung tâm với sức sống lâu bền nhất Thăng Long
Trang 39– Hà Nội là nơi xảy ra các biến cố, sự kiện rất đáng kể và hết sức quan trọng,
là nơi đã làm biến đổi cuộc đời của các nhân vật một cách dữ dội, đột ngột, gay gắt và quyết liệt, là nơi đã quy định cho giá trị tài năng và sắc đẹp, là nơi có những cung đình đã khai sinh hoặc khai tử cho vận mệnh một con người, một đời người, một kiếp sống, hoặc sinh mệnh hàng trăm ngàn sinh linh, mấy chục vạn kiếp lính tráng Hiện thực đó đã khơi nguồn cảm hứng sáng tác cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Những cảm hứng chủ yếu về Hà Nội trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng xét về phạm vi đề tài được người viết nhận diện ở
ba phương diện: ngợi ca, phê phán và bi kịch
2.2.1 Ngợi ca
Góc nhìn của Nguyễn Huy Tưởng về Hà Nội trước tiên và chính yếu nhất vẫn là cái nhìn với cảm hứng ngợi ca Cảm hứng ngợi ca được thể hiện trước hết ở lòng nhiệt thành tôn vinh lịch sử dựng nước và giữ nước, tôn vinh những sự kiện tiêu biểu, những cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Hà Nội đánh thắng kẻ thù xâm lược; tôn vinh những con người lịch sử đó là các vị anh hùng đã lưu danh sử sách, những người con ưu tú và những người dân bình thường khác đã có công trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng thủ đô
2.2.1.1 Ca ngợi lịch sử Hà Nội gắn liền với truyền thống yêu nước và ý thức dân tộc mạnh mẽ của quân dân thủ đô
Nguyễn Huy Tưởng đã dành rất nhiều tâm huyết và ý thức cho lịch sử thủ đô Trong nhật kí năm hai mươi tuổi của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã
từng tâm sự: “Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày
ruộng Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được” (Nhật kí 13 - 1 -
1932) Vì ý thức được tinh thần dân tộc mạnh mẽ đó, ông sáng tác những tác
phẩm về thủ đô yêu dấu “không bỏ tinh thần Việt Nam” Trong lịch sử văn
học nước nhà, có không ít nhà văn lấy lịch sử làm chất liệu cho các sáng tác
của mình Tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái là một
Trang 40ví dụ Trong tác phẩm này, lịch sử Việt Nam ở thập niên tám mươi của thế kỉ XVIII, khi Tây Sơn ra Bắc và họ Trịnh mất nghiệp chúa được mô tả một cách
đầy đủ Những người đi sau như Nguyễn Triệu Luật cũng dựa vào Hoàng Lê
Nhất thống chí để xây dựng khá chân thực lịch sử: Bà chúa chè, Loạn kiêy binh, Chúa Trịnh êhải … để từ đó tạo được chỗ đứng trên văn đàn Nhà văn
Lan Khai thiên về lãng mạn hóa lịch sử, đưa những chuyện tình éo le, lâm li
để thỏa chí tưởng tượng trong Ći hột mận, Ai lên phố Ćt… Nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Huệ lại mượn lịch sử làm vỏ bọc để bộc lộ tư tưởng về hiện thực cuộc sống sau chiến tranh… Còn Nguyễn Huy Tưởng, không dùng lịch sử làm cái phông mờ để điểm trang cho những thiên diễm tình lãng mạn mà hướng vào sự thật lịch sử: đó là những sự kiện gắn liền với chiến thắng vinh quang của dân tộc và số phận của nhân dân khi đất nước bị ngoại xâm nội phản Nhà văn vừa trung thành với cốt lõi lịch sử vừa tưởng tượng hư cấu tạo nên nhiều hình tượng nghệ thuật có giá trị, đời thường hóa
một số nhân vật lịch sử để tạo ra những “tác phẩm bề thế, có một dáng dấp ổn định và chững chạc” rất phù hợp với đặc trưng thể loại Trong vô vàn những
sự kiện lịch sử xảy ra ở Hà Nội, Nguyễn Huy Tưởng chỉ chọn một sự kiện, một chi tiết lịch sử tiêu biểu Chi tiết ấy đôi khi đủ sứ mạnh phơi bày tất cả sự
đê hèn, bạc nhược của một lớp người, đôi khi làm biến động, thay đổi số phận của cả một kiếp người, một cuộc đời, bừng sáng lên sức mạnh kiên cường,
quả cảm vô song của người dân đất kinh kì Trong tác phẩm Đêm hội Long
Trì, nhà văn chỉ chọn một chi tiết điển hình đó là sự kiện Trịnh Sâm cho tổ
chức đêm hội trăng rằm ở Hồ Tây làm sườn của tác phẩm Trong tác phẩm An
Tư, tác giả chọn mối tình tan vỡ của công chúa An Tư với Trần Thông làm
cái nền ngợi ca cuộc chiến đấu thần thánh của quân dân nhà Trần chống giặc
Nguyên Ở Vũ Như Tô, nhà văn lấy sự kiện xây đài cửu Trùng ở Thăng Long
thời Lê Tương Dực để dựng lên cốt truyện hoàn chỉnh về bi kịch và số phận