1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong sáng tác của nam cao

106 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng tác giả trong sáng tác của Nam Cao
Tác giả Lưu Thị Dung
Người hướng dẫn TS. Hoàng Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 343,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học hiện thực chặng đờng từ 1930 - 1935 với những sáng tác của Nguyễn Công Hoan Tập truyện Kép T Bền, của Vũ Trọng Phụng Vở kịch Không một tiếng vang, các phóng sự Cạm bẫy ngời, Kỹ n

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Trang 2

Mục Lục

Mở ĐầU ………

1 Lý do chọn đề tài ………

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ………

3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát của đề tài …………

4 Nhiệm vụ nghiên cứu ………

5 Phơng pháp nghiên cứu ………

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn ………

Chơng 1 sáng tác của nam cao và vấn đề hình tợng tác giả trong sáng tác của nhà văn 1.1 Vị trí của Nam Cao trong lịch sử văn học dân tộc………

1.1.1 Nam Cao - đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam hiện đại, giai đoạn 1930 - 1945………

1.1.2 Nam Cao – gơng mặt tiêu biểu của nền văn học Cách mạng trong những năm đầu (1945 -1951)………

1.1.3 Vai trò của văn học trong công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc 1.2 Sáng tác văn học của Nam Cao………

1.2.1 Sáng tác của Nam Cao ở thời kì trớc Cách mạng………

1.2.2 Sáng tác của Nam Cao ở thời kì sau Cách mạng………

1.2.3 Những điểm thống nhất cơ bản trong sáng tác Nam Cao ở hai thời kì 1.3 Vấn đề hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao…………

1.3.1 Khái niệm hình tợng tác giả………

1.3.2 Vấn đề nhận diện hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao

Chơng 2 t tởng, cái nhìn nghệ thuật và sự tự thể hiện của nam cao trong sáng tác 2.1 T tởng nghệ thuật Nam Cao………

2.1.1 Khái niệm t tởng nghệ thuật………

2.1.2 T tởng nghệ thuật Nam Cao………

2.2 Cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao………

2.2.1 Khái niệm chung về cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn nghệ thuật của Nam Cao ………

2.2.2 Cái nhìn về con ngời ………

2.2.3 Cái nhìn về thế giới………

2.3 Sự tự thể hiện của Nam Cao trong sáng tác………

2.3.1 Sự tự thể hiện của nhà văn trong sáng tác………

2.3.2 Chân dung tác giả Nam Cao qua sáng tác của nhà văn………

Trang 3

1

1126666

111

8

8

162125252930323235

111

39394147

475055606061

Trang 4

Chơng 3 giọng điệu và ngôn ngữ tác giả

trong sáng tác của Nam Cao

3.2.1 Ngôn ngữ cũng là một phần biểu hiện của hình tợng tác giả……

3.2.2 Hệ thống vốn từ ngữ và cách khai thác, vận dụng của Nam Cao …

3.2.3 Những đặc điểm ngôn ngữ mang dấu ấn phong cách cá nhân nhà văn

Kết luận…….………

Tài liệu tham khảo…….………

Trang 5

777992929399104106

Trang 6

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nam Cao là một tác gia lớn, có phong cách độc đáo trong văn học Việt Nam Với mời lăm năm cầm bút (1936-1951), Nam Cao đã để lại một sự nghiệp văn chơng tuy không thật đồ sộ (về khối lợng tác phẩm) nhng lại có những giá trị sâu sắc, bền lâu Không ít tác phẩm của ông đạt tầm kiệt tác (tiêu biểu nhất là Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn) có sức sống “vợt lên trên các bờ cõi và giới hạn” về cả

nghĩa đen và nghĩa bóng (đợc dịch ra nhiều thứ tiếng, đợc đông đảo công chúng

độc giả, trong đó có các nhà nghiên cứu phê bình ở nhiều nớc trên thế giới yêu thích, chú ý) Lịch trình tìm hiểu, nghiên cứu về Nam Cao đã khá dày với nhiều…thành tựu quan trọng Tuy nhiên, ở những hiện tợng văn học lớn nh Nam Cao, nhiều điều, dẫu là điều đã đợc biết hay cha biết, vẫn có thể “nói mãi, không cùng”…

1.2 Những năm gần đây, trong giới nghiên cứu xuất hiện câu hỏi: lịch sử văn học là lịch sử tác giả hay lịch sử tác phẩm? Xu hớng đề cao văn bản (tác phẩm), không chú ý đến tác giả cũng đã có Nh… ng thực ra thì, tác phẩm bao giờ cũng là phát ngôn của ai đó, không thể ngẫu nhiên mà có đợc Phải tìm chủ thể sáng tạo ra nó - chủ thể sáng tạo với t cách nh “một phạm trù thi pháp” (M.Bakhtin) Vấn đề hình t… ợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao thực sự có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phơng diện, nhng là vấn đề cha đợc tìm hiểu, nghiên cứu thỏa đáng

1.3 Nam Cao là một tác giả có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, văn học hiện đại cũng nh trong chơng trình ngữ văn thuộc nhiều cấp học hiện nay ở Việt Nam (từ phổ thông đến bậc đại học) Các điển hình nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao (Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở, Lão Hạc, văn sĩ Hộ, giáo Thứ ) đã trở nên…quá gần gủi quen thuộc với mọi ngời dân Việt Nam, khiến mọi ngời yêu mến đến say mê, càng suy ngẫm nhiều về kiếp ngời, về xã hội Để sáng tạo đợc những điển hình nh thế, chắc chắn Nam Cao đã phải từng day dứt, từng thấy nhiều, nghe nhiều, trải nghiệm nhiều Những điều ông viết không chỉ cho hôm qua trong thời…

đại ông mà còn cho cả hôm nay Tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này còn có ý nghĩa

Trang 7

đối với nhu cầu thởng thức văn hóa, văn học, nhu cầu dạy học ngữ văn ở trờng phổ thông…

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Nam Cao trên lịch trình nghiên cứu gần bảy thập kỷ qua

Lịch trình nghiên cứu về Nam Cao đã có gần 7 thập kỷ Trong ngần ấy thời gian, con ngời và tác phẩm Nam Cao đã trở thành đối tợng tìm hiểu của giới lý luận nghiên cứu, phê bình văn học và nhiều thế hệ độc giả ở nửa sau thế kỷ xx,

ông là một trong những nhà văn đợc nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất

Cho đến nay, đã có khoảng 200 công trình lớn, nhỏ viết về ông và tác phẩm của ông Đặc biệt trong thập niên cuối thế kỷ xx có hai cuộc hội thảo lớn kỷ niệm

40 năm ngày mất (1951 - 1991) và 80 năm ngày sinh (1917 - 1997) Nam Cao, cho thấy Nam Cao có vị trí quan trọng đặc biệt, khó có thể thay thế trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Việc nhà nớc phong tặng giải thởng Hồ Chí Minh cho Nam Cao đã là bằng chứng cao nhất cho sự đánh giá và công nhận của bạn đọc đối với nhà văn

Trớc cách mạng tháng Tám 1945, số bài viết về Nam Cao cha nhiều, nhng

có một bài viết có thể nói đã đánh giá khá chuẩn xác về phong cách cũng nh bản lĩnh sáng tác của Nam Cao Đó là bài tựa của Lê Văn Trơng cho tác phẩm Đôi lứa xứng đôi (1941) Lê Văn Trơng nhận xét: “giữa lúc ngời ta đang đắm chìm trong

những truyện tình thơ mộng và hùa nhau “phụng sự” cái thị hiếu tầm thờng của

độc giả, ông Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối riêng, nghĩa là không thèm

đếm xỉa đến cái sở thích của độc giả, ông đã đem đến cho văn chơng một lối văn mới, sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con ngời biết tin ở tài mình, ở thiên chức của minh”, “Nam Cao đã dám bớc vào làng văn với những cạnh sắc riêng của mình” [67, 493] Lê Văn Trơng đã chỉ ra “lối văn mới”, yếu tố tạo nên giọng văn độc đáo trong sáng tác của Nam Cao Lúc bấy giờ, không phải ai cũng

có đợc cái nhìn xác đáng về nhà văn Nam Cao nh Lê Văn Trơng

Từ sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao càng ngày càng gây đợc sự chú ý

đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, phê bình văn học, tiêu biểu là các tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức, Phong

Lê Có nhiều bài viết đã cung cấp đ… ợc những t liệu quý giá về nhà văn Nam Cao

Trang 8

Tuy nhiên, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, ngời ta mới nghiên cứu nhiều

về Nam Cao, và càng tìm kiếm càng phát hiện thêm nhiều tầng vỉa mới từ sáng tác của ông Nhiều cuộc hội thảo khoa học lớn về Nam Cao đợc tổ chức (Hội thảo kỷ niệm 40 năm ngày mất của nhà văn, tổ chức năm 1991; Hội thảo kỷ niệm 80 năm ngày sinh nhà văn, tổ chức 1997) Nhiều công trình “dài hơi” trong nghiên cứu về Nam Cao xuất hiện Có thể kể một số công trình: Nam Cao, văn và đời của Phong

Lê [46], Nghĩ tiếp về Nam Cao do Phong Lê chủ biên, xuất bản 1992) [47], Nam Cao, đời văn và tác phẩm của Hà Minh Đức, 1997) [22], Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung của Phong Lê, 1997, [48], Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao

của Trần Đăng Suyền [72], Nam Cao về tác gia và tác phẩm do Bích Thu tuyển

chọn, giới thiệu những bài nghiên cứu tiêu biểu về Nam Cao từ những năm 40 (thế

kỷ XX) đến 1998) Đây là công trình tập hợp những bài viết tiêu biểu về Nam Cao

từ trớc 1945 cho đến những năm cuối của thế kỷ XX Nhiều vấn đề về con ngời,

sự nghiệp văn học, về t tởng và phong cách, về thi pháp truyện ngắn, thi pháp tiểu thuyết của Nam Cao đợc nghiên cứu công phu

Ngoài ra, còn có nhiều luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ đề cập tới nhiều phơng diện trong sáng tác Nam Cao Sáng tác của Nam Cao còn thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu nớc ngoài nh T.M khitarian, I.Dimônhia, Niculin

Tóm lại, với t cách một tác gia văn học lớn, một phong cách độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại, Nam Cao đã đợc tìm hiểu nghiên cứu trên nhiều ph-

ơng diện nh vấn đề t tởng, cảm hứng sáng tạo, thế giới nhân vật, phong cách nghệ thuật Tuy nhiên không vì thế mà việc nghiên cứu về Nam Cao dừng lại Còn rất nhiều vấn đề về tác giả văn học này cần phải đợc tiếp tục đi sâu tìm hiểu

2.2 Vấn đề hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao

Hơn nửa thế kỷ qua, nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình đã tiếp cận Nam Cao, khám phá sáng tác của nhà văn trên nhiều phơng diện, dới nhiều góc

độ Số lợng sách và bài nghiên cứu về Nam Cao đã lên đến con số trên 200 Vấn

đề hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao nhìn chung vẫn còn là vấn đề mới mẻ, cha có một công trình nghiên cứu nào bàn riêng về vấn đề này Một vài tác giả có nói đến hình tợng tác giả trong sáng tác Nam Cao nhng nhìn chung còn

Trang 9

đại lợc, cha thấy đó là vấn đề nổi bật trong sáng tác của ông Chúng ta có thể kể

sẻ lòng mình đến mọi cuộc đời nghèo khổ” [50, 31]

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết Nhớ Nam Cao và những bài học của

ông (in trong Nam Cao, nhà văn hiện thực xuât sắc, Nxb Văn hoá thông tin, Hà

Nội, 2003) cũng có nhận xét: “Nam Cao là ngời hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh trọng đối với con ngời Ông thờng dễ bất bình trớc tình trạng con ngời bị lăng nhục chỉ vì bị đày đoạ vào cảnh nghèo đói cùng đờng” [50, 91]

Phong Lê trong bài viết Nam Cao nhìn từ cuối thế kỷ– (in trong Nam Cao, nhà văn hiện thực xuât sắc, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2003) cũng đa

ra nhận xét: “tất cả những Thứ, Điền, Hộ, rồi những “gã”, “hắn”, “y” đợc Nam Cao đa vào truyện của mình, nh là tấm gơng chính cuộc đời mình Thế mà rồi, không chỉ một lớp ngời có thể vận vào, mà cho đến cuối thế kỷ, không biết bao tầng lớp, bao thế hệ vẫn thấy bóng dáng mình trên từng trang viết của Nam Cao, trong số phận những anh viết văn, những ông giáo khổ, những cặp vợ chồng nghèo, những bạn láng giềng, cùng những ngời thân kẻ sơ không ngớt vật lộn với cái sự sống mòn và chết mòn muôn thủa trong cảnh sống tinh thần và vật chất của con ngời” [50, 104]

Giọng điệu của Nam Cao cũng là một trong những vấn đề đợc tìm hiểu khá sâu sắc Nam Cao đợc xem là một hiện tợng đa thanh hóa giọng điệu nổi bật của thế kỷ XX Nam Cao không bao giờ có một giọng đơn lẻ, nhà văn luôn biết kết hợp một cách khéo léo các sắc thái giọng điệu với nhau, thể hiện một cái nhìn có chiều sâu, trên mọi góc độ về con ngời, về cuộc đời Theo Nguyễn Đăng Mạnh,

Trang 10

giọng văn Nam Cao là giọng văn “vừa ngậm ngùi buồn tủi, vừa cay đắng chua chát lại pha chút tự trào cời ra nớc mắt”

Nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng có nhận xét: “Nam Cao có biệt t i trà ước những biểu hiện tâm lí mang tính nhân cách, ông diễn tả nó dưới cái vẻ dửng dưng khôi h i m tr o nà à à ước mắt” [50, 128]

Dõi theo lịch sử nghiên cứu Nam Cao, các nh nghiên cứu, phê bình tậpàtrung khám phá v có những phát hiện sâu sắc về tà tởng, về nội dung trong sáng tác Nam Cao Tuy nhiên, những ý kiến đánh giá khái quát n y là ại chưa được chứng minh cụ thể và lí giải một cách cặn kẻ Tiến h nh nghiên cà ứu đề t i, chúngàtôi tiếp nhận kết quả của những người đi trước và xem đó nh những gợi mở, nhận xét, đánh giá đáng tin cậy, để triển khai nghiên cứu hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao.

2.3 Luận văn của chúng tôi l công trình tà ập trung đi sâu tìm hiểu hình tượng tác giả trong sáng tác của Nam Cao với tư cách như một đối tượng chuyên biệt v và ới một cái nhìn hệ thống, to n dià ện

3 Đối tượng nghiên cứu v ph à ạm vi khảo sát của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Như tên đề t i đã xác à định, đối tượng nghiên cứu của luận văn l à Hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao.

3.2 Phạm vi khảo sát: Luận văn chủ yếu khảo sát, tập trung tìm hiểu hình tượng tác giả với tư cách l mà ột phạm trù văn học (tức l phà ạm trù thi pháp) được thể hiện trong sáng tác của Nam Cao

T i lià ệu m luà ận văn dùng l m và ăn bản khảo sát l cuà ốn Tuyển tập Nam Cao (do H Minh à Đức tuyển chọn v già ới thiệu, Nxb Văn học, H nà ội, 2004)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Luận văn trước hết xác lập cơ sở lí luận để tìm hiểu hình tượng tác giả trong sáng tác của Nam Cao

Trang 11

4.2 Khảo sát to n bà ộ sáng tác Nam Cao (đợc tập hợp trong Tuyển tập), xác

định những đặc trưng của hình tượng tác giả thể hiện trên phương diện: tư tưởng, cái nhìn nghệ thuật v sà ự tự thể hiện trong sáng tác của tác giả

4.3 Khảo sát đặc trưng hình tượng tác giả trên các phương diện: hình thức thể hiện, giọng điệu v ngôn ngữ cà ủa tác giả

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề t i n y, chúng tôi sà à ử dụng v phà ối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó các phương pháp chính:

Tác phẩm của Nam Cao không chỉ được nhiều bạn đọc chú ý m còn à được đưa v o chà ương trình các cấp học từ phổ thông đến đại học Kết quả của luận văn

có thể vận dụng l m t i lià à ệu tham khảo giúp cho việc dạy - học tác gia, tác phẩm Nam Cao trong nhà trờng đợc tốt hơn

Chương 3: Giọng điệu v ngôn ngà ữ nghệ thuật của Nam Cao

Cuối cùng l t i lià à ệu tham khảo

Trang 12

Chơng 1 sáng tác của nam cao và vấn đề

hình tợng tác giả trong sáng tác của nhà văn

Trang 13

1.1 Vị trí của Nam Cao trong lịch sử văn học dân tộc

1.1.1 Nam Cao - đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực trong văn

học Việt Nam hiện đại, giai đoạn 1930 - 1945

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 hình thành, vận động và phát triển trong một bối cảnh lịch sử văn hóa xã hội có tính chất đặc thù Những mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội diễn ra gay gắt, quyết liệt; các cao trào

đấu tranh vì dân sinh dân chủ diễn ra thờng xuyên, liên tiếp; những tác động và

ảnh hởng qua lại mạnh mẽ trên các lĩnh vực ý thức hệ t tởng, văn hóa, v.v là những vấn đề nổi cộm ở giai đoạn này Trong đời sống văn học, tình hình cũng sôi

động không kém Nổi bật nhất là sự ra đời và phát triển của nhiều trào lu, khuynh hớng văn học nghệ thuật khác nhau, trong số đó phải kể đến trào lu văn học hiện thực chủ nghĩa

Với chủ trơng tập trung hớng ngòi bút vào mô tả, tái hiện hiện thực xã hội nóng bỏng đơng thời, sự ra đời của trào lu văn học hiện thực chủ nghĩa đã phản

ánh kịp thời những vấn đề gai góc, nóng bỏng của đời sống nhân sinh với một nhãn quan cấp tiến Đánh giá về vai trò và vị thế của trào lu văn học hiện thực chủ nghĩa trong lịch sử văn học dân tộc, giới nghiên cứu thống nhất xem đó là một trào

lu văn học tiến bộ, có vị trí quan trọng và đóng góp to lớn vào quá trình phát triển

và hiện đại hóa văn học Suốt chặng đờng phát triển của dòng văn học, cảm hứng chủ đạo là phê phán xã hội đơng thời và bênh vực ngời dân lao động Ngời dân lao

động lúc bấy giờ bị bóc lột đến tận xơng tủy, bị đẩy vào hoàn cảnh bần cùng hóa

và lu manh hóa Bọn thực dân cáo già nh thống sứ Chatel lại khuyến khích lối sống ăn chơi sa đọa, nhằm mục đích phục vụ chính sách ngu dân và trụy lạc hóa thanh niên Trớc bối cảnh đó, các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,

Vũ Trọng Phụng đều tập trung phê phán, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp…bức bóc lột của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bày nỗi khổ của ngời dân lao

động với một thái độ cảm thông sâu sắc Sáng tác của Nam Cao- ngời ở chặng ờng cuối (1940 - 1945) của văn học hiện thực phê phán vẫn là sự tiếp nối cảm hứng chủ đạo ấy nhng đã có thêm sắc diện mới Nếu nh các nhà văn khác tập trung phản ánh hiện thực thì ở Nam Cao là cảm hứng phân tích, lý giải, khám phá con ngời trớc hiện thực Vai trò của nhà văn đợc thể hiện ở chỗ nào? Theo Nguyễn

Trang 14

đ-Đăng Mạnh, “muốn biết một nhà văn có vai trò nh thế nào trong lịch sử văn học nên, trả lời câu hỏi này: Giả sử không có cây bút ấy, thì bức tranh rộng lớn của văn học phản ánh xã hội, đất nớc và tâm hồn con ngời qua các thời đại, có bị khuyết đi một chỗ nào đáng kể không? Nghĩa là đối với nhiệm vụ của nền văn học dân tộc,

đấy có phải là một cây bút cần thiết không? Câu hỏi đó đặt ra cho Nam Cao quả

có phần nghiệt ngã, bởi vì khi ông ra đời - với t cách là một nhà văn - thì trong xu hớng văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 - 1945, đã có biết bao cây bút nổi danh Viết về ngời nông dân ? Thì đã có chị Dậu của Ngô Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng đấy rồi Viết về ngời trí thức tiểu t sản ? Thì văn học hợp pháp hồi ấy là gì, nếu không phải là văn học của ngời tiểu t sản viết về những “chàng” và “nàng” tiểu t sản? Nam Cao là ngời đến muộn Nhng có lẽ chính vì thế mà ông lại càng có dịp phát huy mạnh mẽ bản sắc độc đáo của mình chăng?” [68, 87]

Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam, một mặt đợc nảy sinh từ hoàn cảnh xã hội văn hóa Việt Nam, một mặt tiếp thu những thành tựu vĩ

đại của trào lu hiện thực chủ nghĩa của văn học thế giới, cảm hứng chủ đạo của nó ngoài tính chất chung cũng có những nét riêng mang đậm bản sắc dân tộc Đợc mệnh danh là trào lu hiện thực phê phán, cảm hứng phê phán xã hội đơng thời là cảm hứng chủ đạo nổi bật nhất, xuyên suốt chặng đờng của chủ nghĩa hiện thực, thấm nhuần trong sáng tác của các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đến Nam Cao

Văn học hiện thực chặng đờng từ 1930 - 1935 với những sáng tác của Nguyễn Công Hoan (Tập truyện Kép T Bền), của Vũ Trọng Phụng (Vở kịch Không một tiếng vang, các phóng sự Cạm bẫy ngời, Kỹ nghệ lấy tây), của Tam

Lang (Tập phóng sự Tôi kéo xe) đã thể hiện tinh thần phê phán tính chất bất…công, vô nhân đạo của xã hội đơng thời, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, thơng xót

đối với những nạn nhân của xã hội đó Bớc sang chặng đờng từ 1936 - 1939, do tình hình xã hội có nhiều thuận lợi cho sự phát triển của văn học hiện thực, các cây bút hiện thực chủ nghĩa nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố…

đã đạt tới độ chín của tài năng, lần lợt cho ra những tác phẩm có giá trị cao: Giông

tố, Số đỏ, Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), một số truyện ngắn và

Trang 15

tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, Lan Khai Phần lớn các tác phẩm đều tập trung phê phán, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức bóc lột, chính sách mị dân bịp bợm, giả dối của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bày những nỗi thống khổ của nhân dân với một thái độ cảm thông sâu sắc Trớc sự phê phán ấy đã hớng ngòi bút của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan vào việc khắc họa những nhân vật điển hình phản diện có ý nghĩa phê phán gay gắt, quyết liệt

Đến chặng thứ ba của chủ nghĩa hiện thực (chặng đờng từ 1940 đến 1945), cảm hứng phê phán vẫn tiếp tục là cảm hứng chủ đạo, có thêm nét đặc sắc mới, thể hiện rõ nhất, nổi bật nhất trong sáng tác của Nam Cao Nếu nh Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố chủ yếu thiên về sự miêu tả, phản ánh xã hội đơng thời thì Nam Cao không chỉ miêu tả mà còn phân tích, lí giải những hiện tợng, những vấn đề của hiện thực đó Ngòi bút của Nam Cao luôn hớng tới việc phân tích xã hội một cách đầy suy ngẫm Cảm hứng phê phán, đến Nam Cao, đã thực sự trở thành cảm hứng phân tích phê phán Nam Cao viết văn bằng sự kết hợp hài hòa giữa một trái tim nóng hổi tình yêu thơng con ngời với một khối óc tỉnh táo và sâu sắc Đối mặt với thực tại, phanh phui, phân tích, mổ xẻ những mặt đen tối của cuộc sống Giọng văn của ông tràn đầy yêu thơng nhng có một cái gì đó chua chát và tàn nhẫn Sống trong một xã hội hỗn loạn tù đọng, mù tối ngời nghệ sĩ chân chính không có quyền quên đi nhiệm vụ của mình Sống trong nỗi đau càng phải mạnh mẽ hơn:

“đứng trong lao khổ, mở hồn ra để đón lấy những vang động của cuộc đời” để từ

đó có thể viết đợc một “tác phẩm thật giá trị, vợt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn”, đó “phải là một tác phẩm chung cho cả loài ngời Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thơng, tình bác ái, sự công bình Nó làm cho ng… ời gần ngời hơn” (Đời thừa) Không chỉ

là mục đích của văn chơng chân chính, mà còn là mục đích xây dựng lòng nhân

đạo trong một xã hội tiến bộ, có nh vậy con ngời mới gần nhau hơn Phải chăng nhà văn muốn khẳng định giá trị của một con ngời thật sự nằm ở tình yêu thơng

đồng loại, nằm ở lẽ sống chân chính Từ những suy ngẫm ấy, Nam Cao sáng tác với một thái độ trân trọng và đề cao con ngời Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông còn là niềm khát khao cháy bỏng con ngời đợc sống nh một con ngời thực thụ, đợc sống lơng thiện và đợc phát triển “tận độ” khả năng chứa đựng trong

Trang 16

mình Từ niềm khát khao mãnh liệt ấy, nhà văn đau đớn khôn nguôi khi phải chứng kiến tình trạng con ngời bị xúc phạm về nhân phẩm, bị hủy hoại về nhân tính, mọi ớc mơ, khát vọng chân chính bị bào mòn; khi con ngời bị đẩy vào tình trạng áo cơm ghì sát đất, sống lay lắt trong sự “chết mòn”, chết ngay khi đang sống Cuộc sống nh vậy có mang đầy đủ của ý nghĩa sống nữa hay không? Hay sống chỉ để tồn tại mà thôi Dù viết về ngời nông dân hay ngời trí thức, điều mà Nam Cao quan tâm là cuộc sống chết mòn, quẩn quanh của họ Từ các tác phẩm nh: Chí Phèo, T cách mõ, Một bữa no, Trẻ con không đợc ăn thịt chó, Lang Rận đến Đời Thừa, Quên điều độ, Cời, Sống mòn, Trăng sáng…, Nam Cao luôn

chú ý đến những số phận phải gánh chịu những bi kịch đau đớn của tâm hồn Họ

có thể là những con ngời bị xúc phạm đến thô bạo về nhân phẩm, t cách, đạo

đức dẫn đến việc hủy hoại nhân tính, biến dạng nhân cách, có lúc cuộc sống, áo…cơm đẩy đến chỗ bất lực, đầu hàng hoàn cảnh, phải biến những ớc mơ của mình thành những giọt nớc mắt đầy sự thơng xót Nam Cao luôn day dứt tr… ớc vấn đề nhân cách con ngời có nguy cơ bị bào mòn, hủy hoại Những khát vọng, mong ớc cống hiến sức lực, tài năng của những ngời trí thức chân chính đã không đợc thỏa mãn, khát vọng đợc quay về cuộc sống lơng thiện nh bao nhiêu con ngời khác mà không đợc đáp ứng Chứng kiến những nỗi đau ấy, Nam Cao tìm cách phân tích, lí giải nguyên do Ông đã chỉ ra kẻ trực tiếp gây nên nỗi khổ của những con ngời nhỏ bé tội nghiệp kia chính là hoàn cảnh, là xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, ở nơi đó con ngời đối với con ngời thật tàn nhẫn Cái xã hội kia đã cớp đi bao

ớc mơ cao đẹp của con ngời, đồng lõa với điều đó còn có sự buông xuôi, bất lực của chính con ngời Sống trong một xã hội nh vậy, Nam Cao không ngần ngại chế giễu thói giả dối, nhỏ nhen, ích kỷ, sự sĩ diện và tâm lí ham muốn phàm tục, tầm thờng của con ngời Nam Cao cũng xót thơng cho những số phận bất hạnh Điều thú vị hơn hết là con ngời trong sáng tác của Nam Cao dù lâm vào bế tắc họ vẫn luôn luôn tìm cách hành động cải tạo, thay đổi hoàn cảnh để cứu vãn lơng tri, nhân phẩm của mình Cách nhìn con ngời nhân đạo tích cực ấy đã quy định cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nam Cao Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này ít gắn với không khí thời sự của đất nớc, những cuộc đấu tranh giai cấp chỉ là số ít, không có cuộc biểu tình, mít tinh Tuy nhiên xét về chủ đề t tởng, chủ nghĩa hiện

Trang 17

thực trong văn học Việt Nam ở chặng đờng 1930 - 1945 lại có những chiều sâu mới Các nhà văn đã đề xuất những t tởng sâu sắc về thân phận con ngời, về tơng lai đất nớc, về vấn đề cải tạo xã hội Họ đã đa vấn đề nhìn nhận con ngời lên một tầm cao mới Nam Cao là nhà văn của một chủ nghĩa hiện thực tâm lí bậc thầy

Ông có khẳ năng xuyên suốt triền miên trong đời sống nội tâm của con ngời để theo dõi và diễn tả những quá trình tâm lí phức tạp nhất Từ đó dẫn đến cách dẫn dắt mạch truyện linh hoạt biến hóa, đảo lộn không gian và thời gian theo dòng tâm

sự và những suy t, dằn vặt mâu thuẫn trong từng nhân vật của mình Sự thông thạo tâm lý nhân vật cũng giúp nhà văn có thể trần thuật theo quan điểm và giọng điệu các nhân vật, tạo nên tính đa thanh, phức điệu của văn Nam Cao Nam Cao còn có

đóng góp to lớn trong sự phát triển ngôn ngữ văn xuôi nớc nhà, với một kho từ vựng phong phú vừa góc cạnh vừa tinh vi và đầy chất sống

Nói đến chủ nghĩa hiện thực, không một nhà nghiên cứu nào không nhắc tới Nam Cao Mặc dầu ông không để lại khối lợng văn chơng đồ sộ nhng chừng ấy tác phẩm cũng đợc mọi ngời nâng niu trân trọng, không phải biểu lộ niềm kính yêu luyến tiếc một nhà văn đã sớm mất đi mà chính là do bản thân tác phẩm của ông

có giá trị hiện thực sắc sảo, t tởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện

độc đáo Nam Cao là nhà văn đợc nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất So với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng ông là cây bút có ý thức sâu sắc nhất về quan điểm nghệ thuật của mình Ông phê phán khá toàn diện và triệt

để tính chất thoát ly, tiêu cực của văn chơng lãng mạn đơng thời, coi đó là thứ

“ánh trăng lừa dối”, yêu cầu nghệ thuật chân chính phải về với đời sống, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói lên đợc nỗi thống khổ của hàng triệu nhân dân lao động lầm than Nam Cao quan niệm, văn học phản ánh hiện thực phải khám phá vào bản chất, vào chiều sâu của nó Ông xuất hiện trên văn đàn khi mà trào lu hiện thực chủ nghĩa đã đạt đợc nhiều thành tựu xuất sắc, Nam Cao đa sáng tác của mình đi theo một hớng mới, ông đã ý thức sâu sắc rằng: “văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi, và sáng tạo những cái gì cha có” (Đời thừa) Nam Cao đã thực sự tìm đợc cho mình một hớng đi

riêng trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực Nếu nh Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố những nhà văn xuất sắc thời kỳ mặt trận dân chủ (1936

Trang 18

- 1939) đều tập trung trực tiếp phản ánh những mâu thuẫn, xung đột xã hội thì sáng tác của Nam Cao - đại biểu u tú nhất của trào lu hiện thực chặng đờng cuối cùng (1940 - 1945) trực tiếp đề cập tới xung đột giai cấp, còn các tác phẩm khác tập trung thể hiện xung đột trong thế giới nội tâm của nhân vật Nhiều tác phẩm của ông đều nói về những “cái hàng ngày” chủ yếu liên quan đến cuộc sống riêng

t của các nhân vật Cha bao giờ cái vặt vãnh hàng ngày lại có một sức mạnh ghê gớm nh trong sáng tác của Nam Cao Trớc Cách mạng tháng Tám, Nam Cao viết các truyện ngắn: Lão Hạc, Chí Phèo, Đời thừa, Trăng sáng hầu hết các truyện…này bàng bạc một màu không khí sầu tủi nh cuộc đời nô lệ tăm tối với các nhân vật cô đơn, lầm lì, ủ rũ, quẩn quanh không lối thoát Thêm vào đó, xã hội đầy những sự bất công, một xã hội bốn bề ngột ngạt tù túng Dựng lên thái độ và những mẫu đời mục nát, rêu mốc ấy, chính Nam Cao đã dựng lên cả một thời đại Sức tố cáo của những câu chuyện nằm ngay trong những sự việc vốn rất thờng tình nhỏ nhặt, song càng nhỏ nhặt thờng tình thì cái ý nghĩa phản kháng của nó lại càng sâu sắc, càng nâng giá trị của một ngòi bút vốn đã sẵn góc cạnh của một nhà văn Điều làm nên sự kì diệu của văn Nam Cao là ở chỗ tuy sống giữa cảnh đời nô

lệ nhục nhã, Nam Cao vẫn giữ đợc ý thức chủ động hoàn cảnh và nhất là bao giờ cũng biểu lộ đợc một tấm lòng gắn bó, yêu thơng trân trọng hết mình đối với những kẻ bị áp bức, bóc lột Qua truyện Trăng sáng, độc giả thấy hình ảnh một

văn sĩ Điền sau một đêm trằn trọc suy nghĩ, sáng dậy bình tĩnh để ngồi viết giữa tiếng con khóc, tiếng gắt gỏng của vợ, tiếng ngời đi đòi nợ giữa hoàn cảnh ấy…

Điền vẫn bình tỉnh viết Ngời đọc lại thêm ngỡng mộ Nam Cao khi thấy rằng dù bị

đày đọa giữa một xã hội kim tiền mục nát trớc kia, nhà văn vẫn giữ vững đợc cái liêm khiết tối thiểu của một lơng tâm nghề nghiệp Nam Cao không những căm giận sự thối tha của xã hội cũ, bất mãn với trật tự phong kiến suy đồi xa mà nhiều lúc còn thù hận cả với những bớc đi trầy trật vấp váp của bản thân mình Con ngời tiểu t sản Nam Cao hôm nào đây còn xót xa trong nớc mắt Từ những chuyện vụn vặt đời thờng, Nam Cao đã thực sự động chạm đến vấn đề có tính nhân bản, đã đặt

ra những vấn đề sâu sắc về cuộc sống, về thân phận của con ngời, vấn đề cải tạo xã hội, về tơng lai của dân tộc và nhân loại Bi kịch đời thờng, của những cái vặt vãnh hàng ngày, qua ngòi bút tài năng của Nam Cao đã trở thành những bi kịch vĩnh

Trang 19

cửu trong cuộc sống đời ngời Văn học chân chính Việt Nam lúc bấy giờ đã non yếu lại phải vợt lên qua bao nhiêu sự khó khăn, phá hoại của chính sách ngu dân

và chế độ kiểm duyệt một cách khắt khe Mặc kệ, những tác phẩm của Nam Cao

cứ nh một luồng ánh sáng xuyên qua tất cả những sự bng bít, chèn ép mà đi sâu vào quần chúng Nghệ thuật vững chãi và sâu sắc của Nam Cao gây thêm lòng tin

ở những khả năng tiềm tàng thật là tơi tốt vào sức phát triển của dòng văn học hiện thực Chật vật, gian khổ và cố gắng không ngừng, ngòi bút Nam Cao đã đem lại một nét mới cho ta thấy đợc những con ngời sống trong xã hội cay nghiệt, hoàn cảnh nh muốn nghiền nát con ngời đi nhng con ngời ấy vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên sống để bộc lộ tính cách, để làm ngời

Miêu tả tâm lý trong chiều sâu sự vận động, phát triển của nhân vật và cảnh ngộ là một yêu cầu quan trọng của chủ nghĩa hiện thực Trong tiểu thuyết Sống mòn Nam Cao viết: “sống tức là cảm giác và t tởng Sống cũng là hành động nữa,

nhng hành động chỉ là phần phụ, có cảm giác, có t tởng mới sinh ra hành động” Một quan niệm về con ngời nh thế đã chi phối thi pháp chủ nghĩa hiện thực tâm lý của Nam Cao Sự chú ý đặc biết tới thế giới bên trong của con ngời đã thờng xuyên chế ớc hứng thú nghệ thuật ngày càng tăng của nhà văn đối với tính chất nhiều dự định của cá tính con ngời, động cơ nội tại của hành vi nhân vật và quan

hệ phức tạp của nó với hiện thực xung quanh ở Nam Cao ta thấy quan trọng nhất chính là nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống, cái chân thật của t tởng, của nội tâm nhân vật Cái quan trọng nhất trong tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con ngời trớc sự kiện, biến cố, tình tiết giữ vai trò “khiêu khích” các nhân vật, để cho nhân vật bộc lộ những nét tâm lí, tính cách của mình Trong Mua nhà, Nam Cao không tập trung miêu tả sự kiện mua đợc cái nhà gỗ rẻ

mà tập trung xoáy sâu vào những suy nghĩ, dằn vặt, những ân hận của nhân vật

ng-ời kể chuyện về tình trạng “hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp Ngng-ời này co thì ngời kia bị hở” [8, 293] ở tác phẩm Đời thừa Nam Cao cũng không hớng ngòi

bút vào việc miêu tả nỗi khổ áo cơm mà tập trung thể hiện phản ánh tâm lý của con ngời trớc gánh nặng cơm áo làm mai một tài năng và xói mòn nhân cách Cho nên, trớc khi bán một con chó Lão Hạc phải trải qua biết bao băn khoăn, dằn vặt, tới khi phải bán nó thì lão vô cùng ân hận, đau đớn đến tột cùng, giống nh một cái

Trang 20

gì thiêng liêng nhất đã rời xa lão, tuổi già mà lão khóc hu hu nh con nít Chí Phèo, con quỷ dữ của làng Vũ Đại, ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, con ngời sống trong tình trạng say cha một lần tỉnh, chửi bới, dọa nạt trong lúc say, nh là một con vật sống trong vô thức, ấy thế mà sau lần gặp Thị Nở ở bờ sông, Chí Phèo cứ “vẩn vơ nghĩ mãi ” Nam Cao chẳng những miêu tả sinh động những chi tiết, những…biểu hiện tâm lí nhỏ nhặt nhất mà còn theo dõi, phân tích quá trình tích tụ của chúng dẫn tới sự nảy sinh những phẩm chất mới trong tâm hồn con ngời

Không chỉ dừng lại ở những khoảng khắc, Nam Cao đã miêu tả thành công những quá trình tâm lí của nhân vật Ông tỏ ra có biệt tài trong khi miêu tả những trạng thái tâm lí phức tạp, những hiện tợng lỡng tính dở say dở tỉnh, mấp mé ranh giới giữa thiện với ác, giữa hiền với dữ, giữa con ngời với con vật một cách rất…

độc đáo, phong phú và đa dạng Nam Cao mong muốn khai thác những vấn đề của cuộc sống không phải ở bề rộng mà là ở bề sâu Việc phân tích tâm lý nhân vật không tách rời việc phân tích cuộc sống xã hội nói chung Thông qua việc miêu tả, phân tích tâm lí để thể hiện những mâu thuẫn, xung đột xã hội, Nam Cao đã mở ra một khuynh hớng phân tích mới cho phơng pháp hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam Một giọng văn Nam Cao vào đầu những năm 40 không lặp lại với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng mà đ… a Nam Cao lên hàng đầu dòng văn học hiện thực Việt Nam ở chặng cuối

1.1.2 Nam Cao - gơng mặt tiêu biểu của nền văn học cách mạng trong

những năm đầu (1945 - 1951)

Nền văn học cách mạng trong những năm đầu đòi hỏi ở nhà văn một sự chuyển biến cách mạng về t tởng, cách sống và quan niệm sáng tác Thời gian đầu của cuộc kháng chiến, văn học cha có nhiều tác phẩm hay tơng xứng với hiện thực cuộc sống Phần lớn các nhà văn có sáng tác từ trớc cách mạng đang “nhận đ-ờng” Hiện thực cuộc sống còn quá mới mẻ với họ Các nhà văn trẻ, kinh nghiệm sống, nghề nghiệp còn hạn chế nên sáng tác còn đơn giản, nặng nề về ghi chép Từ cuối những năm 1948 trở đi mới thực sự là giai đoạn chuyển biến một cách mau

lẹ, trởng thành của văn học về nhiều mặt: ý thức t tởng, ý thức bám sát cuộc sống,

ý thức nghề nghiệp đều đợc nâng cao qua những cuộc trao đổi, thảo luận, hội nghị

và những chuyến đi vào cuộc sống Đi để viết là một nhu cầu, một niềm say mê,

Trang 21

một sự thôi thúc và trở thành thói quen, phong cách sống và nghề nghiệp của văn nghệ sĩ trong những năm kháng chiến Nhiều nhà văn, nhà thơ đã lên đờng nhập ngũ, sống, chiến đấu và viết ở các chiến trờng Trong văn học giai đoạn này, Nam Cao vẫn giữ một vị trí quan trọng, ông đã khẳng định đợc giá trị của nền văn học sau cách mạng Nam Cao càng ý thức, hoàn toàn tự giác hơn khi đặt vấn đề cách nhìn Truyện ngắn Đôi mắt (1948) của ông đợc xem nh tuyên ngôn nghệ thuật của

một lớp nhà văn trong buổi đầu đi theo Cách mạng và kháng chiến là rất xác đáng

Ông trực tiếp đặt vấn đề cái nhìn về nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân trong công cuộc kháng chiến, cái nhìn về hiện thực cách mạng và kháng chiến Nhà văn phải có cách nhìn nh thế nào để thấy đợc bản chất tốt đẹp, bản chất yêu nớc và cách mạng của nhân dân lao động Vấn đề cái nhìn ấy đợc Nam Cao đặt ra đã có

ảnh hởng đến nhiều nhà văn thời bấy giờ Hồ Phơng qua Th nhà đã miêu tả vẻ đẹp

của ngời chiến sĩ Vẻ đẹp của Lợng là vẻ đẹp của chủ nghĩa nhân đạo Chiến sĩ ợng về thăm nhà, biết tin quê hơng bị tàn phá, cha mẹ bị Pháp bắn chết, ngời yêu

L-bị Pháp làm nhục Những đau thơng mất mát quá lớn đối với Lợng, đau thơng ấy không đa Lợng đến tiêu cực mà càng làm lộ rõ bản chất cao thợng của ngời chiến

sĩ Ông Hai, ngời nông dân trong Làng của Kim Lân đã trở thành ngời nông dân

trong kháng chiến Từ nơi tản c ông luôn nghe ngóng tin tức làng quê mình, nghe

đồn “nó” theo giặc thì đau xót, xấu hổ khi biết đích xác “nó” anh dũng chống càn thì phấn khởi tự hào Tình yêu làng gắn với tình yêu nớc Đó là tâm lý mới, tình yêu mới của con ngời kháng chiến Mến yêu chế độ mới, càng căm thù chế độ thực dân phong kiến tàn bạo cũ, một số văn nghệ sĩ đã vẽ lại những cảnh đời cơ cực, đau thơng của nhân dân ta dới chế độ cũ Tác phẩm: Lò lửa và Địa ngục của

Nguyên Hồng là hai bản cáo trạng kết tội chế độ phát xít thực dân Không chỉ dừng lại ở đó, Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tởng, Tô Hiệu của Nguyễn Công Mỹ đã

diễn tả lại quá trình đấu tranh cách mạng của quần chúng Các tác giả đã biểu

d-ơng gd-ơng hi sinh, bất khuất và tinh thần dũng cảm của cán bộ và quần chúng cách mạng

Nam Cao chào đón Cách mạng tháng Tám với tất cả niềm vui sớng hân hoan của ngời cán bộ cách mạng Sau khi tham gia cớp chính quyền ở địa phơng, Nam Cao lên Hà Nội, hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc Là một nhà văn

Trang 22

sớm đợc sự giáo dục trực tiếp của Đảng trong những năm trớc cách mạng nên Nam Cao đã nhạy cảm và chuyển mình rất nhanh theo những bớc đi của cách mạng Nam Cao lại thấm thía tất cả sự tủi nhục của ngời dân mất nớc, đã sống trong những ngày mòn rỉ, tù hãm của cuộc đời quẩn quanh vô vị, từng chứng kiến biết bao đau thơng uất hận của những ngời sống lầm than nên đón nhận con đờng cách mạng theo một hớng riêng đầy trân trọng Nam Cao còn dành một thứ tình thơng đặc biệt đối với những ngời dân lao động Ông nhận thấy, trớc kia, dới chế

độ phong kiến, mâu thuẫn cơ bản của xã hội là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ Bây giờ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, mâu thuẫn ấy vẫn sâu sắc, nhng nổi lên hàng đầu là mâu thuẫn giữa nhân dân, bao gồm mọi tầng lớp yêu nớc với bọn thực dân cớp nớc và bè lũ phong kiến tay sai bán nớc Sự thay đổi mâu thuẫn trong xã hội đa đến việc sắp xếp lại các lực lợng trong xã hội cũng thay đổi theo Vào giai đoạn này xã hội nớc ta phải trải qua một cuộc phân hóa sâu sắc trớc kia cha từng có Đối với quảng đại quần chúng nhân dân, trớc kia dới chế độ phong kiến họ đã từng bị áp bức bóc lột nặng nề, đến lúc này nguy cơ có thêm một tầng lớp áp bức bóc lột mới của bọn thống trị nớc ngoài Trớc tình hình đó Nam Cao đã

đem hết nhiệt tình của mình ra sáng tác theo phơng châm của Đề cơng văn hóa của Đảng Những sáng tác của Nam Cao ở thời kỳ này xoay quanh những đề tài cách mạng Nam Cao viết truyện ngắn, tùy bút, hoặc để tố cáo tội ác của thực dân Pháp dới chế độ cũ hoặc để ca ngợi chế độ mới cách mạng Trong những sáng tác

ngắn gọn ở thời kỳ này, Nam Cao đã dành nhiều trang viết về cuộc kháng chiến chống giặc ở Nam Bộ (Đờng vô Nam, Nỗi truân chuyên của khách má hồng )

Tham gia cuộc kháng chiến trờng kỳ của dân tộc, Nam Cao đã đặt cách mạng lên trên nghệ thuật, sẵn sàng làm ngời tuyên truyền vô danh cho cách mạng: “Anh nắm cổ nghệ thuật của anh, bắt nó phục vụ cho cuộc chiến đấu sống chết của dân tộc” Với ý thức trách nhiệm của một ngời công dân yêu nớc chân chính, Nam Cao cảm thấy “nếu cha cầm súng một phen thì cầm bút cũng vụng về” và nhiều lúc

“muốn vứt cả bút đi để cầm lấy súng” (Đờng vô Nam, 1946)

Cách mạng tháng Tám làm thay đổi cuộc sống của dân tộc, và cả cuộc đời

và con ngời Nam Cao, điều đó đã dẫn đến sự đổi mới rõ rệt trong văn của ông Cùng với phong trào của cả nớc, toàn dân tập trung cho cuộc kháng chiến Tác

Trang 23

phẩm Đờng vô Nam (1946) của Nam Cao đã kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu

của cả dân tộc, toàn dân dồn cả vào một con đờng “ấy là con đờng ra mặt trận, con

đờng cứu nớc”, “ở Hà Nội, ngời ta háo hức đi ra trận ở các tỉnh ngời ta háo hức đi

ra trận ở các làng, ngời ta háo hức đi ra trận Cái thú đi ra trận quyến rũ cả đến các ông già” Với ý thức làm chủ đất nớc, họ biết nâng suy nghĩ hiểu biết và trách nhiệm của mình lên tầm Tổ Quốc Nhân dân tin tởng vào một ngày mai tốt đẹp, nhất định sẽ tới Cùng ở giai đoạn này, năm 1946 Trần Đăng có tác phẩm Một lần tới Thủ Đô cũng đã xây dựng thành công hình ảnh những con ngời ra trận, với tinh

thần yêu nớc sục sôi quyết tâm Trần Đăng miêu tả họ với một tình cảm yêu mến cảm phục: một buổi chiều mùa rét “trời mù tối và xám lạnh” bốn chiến sĩ ở chiến khu về “đi hàng một, lối đi rừng, ngời đi sau dẫm lên chân ngời đi trớc” giữa Thành Phố Hà Nội “đầy ánh sáng và len dạ” Bốn khuôn mặt to và đen xạm “hiền hậu vô cùng nhng yên lặng và thản nhiên vô cùng” trớc cái Thành Phố xa hoa …vứt bỏ cái Hà Nội hoa lệ, hời hợt, kỳ thực Trần Đăng muốn vứt hẳn những nề nếp, những dấu vết của tất cả hai mơi mấy năm của tuổi trẻ cũ, sống nhỏ hẹp giam hãm, tiểu t sản, giữa sách vở, gia đình, nhà trờng, và hè phố của thời nô lệ “kháng chiến ném Trần Đăng về đồng ruộng, lên rừng núi” Thực sự đi vào quần chúng tìm hiểu đời sống và tâm hồn những ngời thợ thuyền, những ngời nông dân, Trần

Đăng đau đớn nhận thấy những khoảng cách giữa anh và ngời mà anh yêu mến

Có thể nói, ở giai đoạn này không những Nam Cao mà còn một số nhà văn nh Trần Đăng, Nguyễn Tuân và một số nhà văn khác cũng đã băn khoăn, day dứt…lựa chọn cho mình một con đờng để đi, họ đã quyết tâm dứt bỏ con ngời cũ trong mình để hòa vào cuộc kháng chiến rộng lớn của toàn dân Nam Cao đã chứng minh cho ta thấy sự đặc biệt ở ông rất đáng quý là nhiệt tình của ngời nghệ sĩ phục

vụ không nề hà trong mọi công việc đợc đoàn thể giao phó, tinh thần sẵn sàng lao vào mọi khó khăn thử thách Nam Cao nhận thấy rõ tất cả những phấn đấu gian khổ để thực hiện nhiệm vụ cao đẹp của một nhà văn chiến sĩ Làm sao để có thể

đứng ở mũi nhọn, ở tuyến đầu của cuộc đấu tranh cho quảng đại quần chúng nhân dân đang tiến hành ý thức giác ngộ dân tộc và đại chúng phải đợc liên kết làm một từ bên trong Về phía ngời nghệ sĩ cũng phải tiến hành một cuộc đấu tranh gian khổ, phức tạp với các t tởng cá nhân chủ nghĩa và các quan điểm nghệ thuật t

Trang 24

sản đã thâm nhập một cách tự giác và không tự giác trong nếp suy nghĩ và cảm xúc Nam Cao là một trong những nhà văn sớm đề cập đến những vấn đề trên và giải quyết với tinh thần nghiêm túc triệt để Qua tác phẩm Nhật ký ở rừng và Đôi mắt, Nam Cao đã dành một phần nội dung sáng tác xoáy sâu vào chủ đề của ngời

nghệ sĩ và sự sáng tạo nghệ thuật Ông hiểu rõ những nguyên nhân tạo nên sự xa cách giữa nhà văn và quần chúng chính là do sự thiếu hiểu biết về cuộc sống của quần chúng và do chủ nghĩa cá nhân ở mỗi ngời viết còn quá nặng nề Nam Cao

đã sớm thức tỉnh và khắc phục đợc điều đó mà không phải nhà văn nào cũng làm

đợc Ông đã hiểu rõ đợc tấm lòng của ngời dân, do đó những sáng tác của ông đã làm cho ngời xích lại gần ngời hơn, cùng đồng lòng để hớng tới nhiệm vụ chiến

đấu của mình một cách đầy tin tởng Nam Cao đã thấm nhuần đợc ý nghĩa cuộc chiến tranh Ông đã đi sâu vào những tâm t nguyện vọng của từng ngời chiến sĩ Những ngời chiến sĩ ấy không phải ai cũng xuất thân từ tầng lớp trí thức, mà điều

đặc biệt ở đây là những ngời chiến sĩ mới vào chiến trờng thật ngô nghê, nhng lòng quyết tâm giết giặc của họ lại sôi sục đầy khí thế Nam Cao nhìn họ với một tấm lòng chan chứa tình thơng Những trang viết của Nam Cao đã đem lại cho văn xuôi những năm đầu kháng chiến nhiều phẩm chất và giá trị mới mẻ Nam Cao xứng đáng là gơng mặt xuất sắc của nền văn học cách mạng mới trong những năm

đầu 1945 - 1951 Và có thể xem sáng tác của ông trong những năm tháng này là những sáng tác đầu tiên trong văn xuôi cách mạng vận dụng khá thành công ph-

ơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, xuất hiện trong thời kỳ này, Nam Cao đã chứng tỏ khả năng dựng lên những nhân vật có bản sắc, phản ánh kịp thời hiện thực cách mạng nóng hổi, cùng những chuyển biến dồn dập của tình hình cách mạng và gây đợc tác dụng góp phần đắc lực vào công việc động viên tinh thần yêu nớc của quảng đại nhân dân Mặt khác điều làm cho chúng ta tự hào là cuộc kháng chiến chống xâm lăng

đã khắc họa vào văn nghệ một sắc thái rõ rệt, đó là tính cách đại chúng và dân tộc, hai yếu tố cần thiết để xây dựng một nền văn nghệ lành mạnh và trờng cửu Những thành tựu mà Nam Cao đã cống hiến cho nền văn học nớc nhà còn đặt ra một bài học có ý nghĩa: đó là những suy nghĩ bổ ích về sự sáng tạo nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống chiến đấu vì lý tởng cao đẹp Những sáng tác có giá trị của Nam Cao…

Trang 25

trong những năm đầu cách mạng và kháng chiến đã trở thành một cái mốc quan trọng cho văn học cách mạng sau này.

1.1.3 Vai trò của Nam Cao trong công cuộc hiện đại hóa văn học dân

tộc

Nam Cao bắt đầu cầm bút từ khoảng 1936, tức là 10 năm sau khi xuất hiện

Tố Tâm, cuốn tiểu thuyết kiểu mới đầu tiên, chừng tám năm sau, xuất hiện văn

đoàn Tự Lực và mùa màng văn học của họ Nhng khi ấy mới chỉ có ngời viết văn trẻ Trần Hữu Tri, để ngời viết ấy trở thành Nam Cao, phải lấy mốc từ năm 1941, ra mắt truyện Chí Phèo Từ đây mà nói, thì đã chừng trên 15 năm sau Tố Tâm, gần

10 năm sau khi xuất hiện mùa tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, khoảng bảy năm sau xuất hiện tập truyện Kép T Bền (1935), sáu năm sau khi xuất hiện Giông Tố, Số

đỏ, Vỡ đê (cùng năm 1936), ba năm sau lúc xuất hiện các tiểu thuyết Tắt đèn và Bớc đờng cùng (cùng năm 1939) Không cần minh chứng dài dòng cũng có thể…nói rằng không thể có đợc nhà văn Nam Cao của các sáng tác từ Chí Phèo (1941)

đến Sống mòn (1944) nếu không có kinh nghiệm của quá trình văn học mà những

tác phẩm nêu trên tạm coi là những mốc đánh dấu Nh chúng ta biết Nam Cao đã

có thể thừa hởng rất nhiều điều từ tất cả những gì mà các tác giả văn xuôi Tự Lực văn đoàn từng tạo ra Chính họ đã hiện thực hóa cái phơng án văn học mà khi đã thành “đại trà” rồi thì trông có vẻ rất đơn giản, rất dễ làm: ấy là mô hình tiểu thuyết Âu Tây để tạo ra những tác phẩm với ngời và cảnh, cốt truyện và nhân vật

xứ mình, kể bằng tiếng nói hàng ngày của ngời nớc mình, và sau đó ghi tất cả bằng chữ quốc ngữ La tinh – thứ văn tự “ngoại nhập” mà đến lúc này đã đợc thừa nhận trong xã hội ngời Việt Mô hình này tạo nên những tác phẩm mà nếu

đem so sánh với các tác phẩm tự sự truyền thống (ví dụ: cổ tích, truyện Nôm, truyện chơng hồi ) thì nó hơi ít chất Việt, tuy không quá xa lạ Chính các tác giả…văn xuôi có xu hớng bình dân trong khi thừa hởng các phát minh giản dị này, đã tiếp tục Việt hóa, dân tộc hóa cái mô hình mà ban đầu phần nhiều mang tính chất ngoại nhập này Họ tiếp tục phát triển thể loại trên một số phơng diện Một là thể nghiệm nó thông qua việc tăng cờng tiếp cận xã hội học, chú trọng xây dựng các bức tranh phong tục, chuyển việc miêu tả từ các giới trung lu sang các giới bình dân và hạ lu, ở thành thị và nông thôn Hai là tăng cờng thể nghiệm mô hình này

Trang 26

về mặt ngôn ngữ, miêu tả lời ăn tiếng nói của các hạng ngời trong xã hội hiện thực chứ không còn giản dị chỉ là dùng cái chuẩn ngôn ngữ văn hóa trung lu trung bình

để phát ngôn thay cho nhiều hạng ngời khác nhau So với tập hợp các nhóm nhà văn thì Nam Cao thuộc trong số các nhà văn bình dân, nhng xét theo cốt cách sáng tác thì ông vừa có chổ gần với các nhà văn nói trên, lại vừa có chổ gần với nhà văn

Tự Lực văn đoàn, nhất là Thạch Lam Không dừng chân tại chổ mà ngợc lại Nam Cao đã phấn đấu hết mình trong công cuộc sáng tác Đồng thời đa tiến trình văn học ngày càng tiến bộ hơn trên con đờng nghệ thuật Nam Cao là ngời tham dự ở chặng cuối trong tiến trình ấy, ông đã thực sự góp phần phát triển và hoàn thiện

nó, góp phần khép lại một giai đoạn quan trọng nhất của nền văn học mới Việt Nam, giai đoạn rất quan trọng của việc xây dựng lại nền văn xuôi tự sự mới trong những điều kiện và tiền đề văn hóa và xã hội mới Đóng góp của Nam Cao vào việc xây dựng nền văn xuôi mới cũng bộc lộ khá rõ ở phơng diện thể tài Truyện ngắn Nam Cao là một thành tựu nổi bật, nhng ngay cả ở thể tài truyện dài, thì với

Sống mòn”, Nam Cao cũng đóng góp một kiểu truyện dài riêng, không theo kiểu

kết cấu truyện dài của hầu hết các tác giả khác, cả Tự Lực văn đoàn lẫn các nhà tả chân Nam Cao viết Truyện ngời hàng xóm, Sống mòn là những tác phẩm rất dài,

trong đó Nam Cao đã lột tả đợc cuộc sống của những con ngời đói khổ một cách chân thực trong xã hội nửa phong kiến ấy Bên cạnh đó Nam Cao còn đóng góp vào việc xây dựng và phát triển văn xuôi mới của Nam Cao bộc lộ đặc biệt rõ trong ngôn ngữ văn xuôi Chúng ta biết, ở hầu hết các tác phẩm, các tác giả Tự Lực văn đoàn thờng không hoặc ít chú ý đến việc miêu tả ngôn ngữ Chỉ có một ngôn ngữ duy nhất - ngôn ngữ tác giả Tác giả nh một chủ thể đa ra một ngôn ngữ chuẩn trong sáng, dùng ngôn ngữ ấy cho mọi loại đối tợng Văn phong trong tác phẩm của họ sạch sẽ, trong sáng, tỏ rõ một ý thức xây dựng chuẩn mực nhng nó cũng dễ thành đơn điệu, một khi nó đã thành phổ biến Rất nhiều các nhà “tả chân” cũng theo cách đó của các tác giả Tự Lực văn đoàn, nếu xét về thành phần ngôn ngữ tác giả Chỗ mới của họ là do xu thế “điều tra xã hội học” đa lại: thành phần ngôn ngữ nhân vật nhất là của các tầng lớp dới đáy, đem lại cho ngôn ngữ tác phẩm những phong vị mới, một chất lợng mới ở Nam Cao thành phần ngôn ngữ nhân vật không có những phơng ngữ hay biệt ngữ thật nỗi bật nếu so với một số

Trang 27

phóng sự của các nhà tả chân khác, nhng nó cũng không bị “thôn tính” bởi ngôn ngữ tác giả nh ở các nhà Tự Lực văn đoàn Mặt khác, do quan tâm truyền đạt những dao động biến thiên của tâm lý, tâm trạng, vì thế Nam Cao tạo nên đợc một ngôn ngữ ít nhiều phức điệu, tổ chức đợc những mạng lới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí của những sự đan xen và hòa lẫn vào nhau của hai ngôn ngữ ấy, Nam Cao là một trong số không nhiều tác giả cùng thời có những tác phẩm mà ngôn ngữ dờng nh không cũ đi so với thời gian, tức là có những tác phẩm đạt đến mức

cổ điển của văn xuôi tiếng Việt Nam Cao đã không chỉ tiếp thu truyền thống ấy một cách thụ động mà trên cơ sở đó đã kế thừa trong sự phát triển và đã nắm bắt, lĩnh hội một cách nhạy cảm những biến đổi và dao động của thời cuộc và con ngời

để lựa chọn một phong cách trong sáng tạo nghệ thuật

Có thể nói, đến những truyện ngắn của Nam Cao thì sự cách tân thể loại mới mang tính chất toàn diện và triệt để, thực sự đa truyện ngắn lên vị trí cao nhất, hoàn tất quá trình hiện đại hóa của thể loại truyện ngắn Ngôn ngữ Nam Cao sống

động, uyển chuyển, tinh tế rất gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân

Đây là một đóng góp lớn của ông đối với sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi nớc

ta Về ngôn ngữ của Nam Cao, theo Nguyễn Đăng Mạnh, sức hấp dẫn của ngôn ngữ Nam Cao là “sức hấp dẫn của một thứ ngôn ngữ phong phú về từ vựng, về cú pháp, về giọng điệu Một thứ ngôn ngữ đi sát với đời sống, biến hóa nh cuộc sống, nhiều khi cứ nh là buông thả theo lối khẩu ngữ dân gian có vẽ dài dòng luộm thuộm, kì thực đã vận dụng tiếng nói của đời sống một cách chủ động với một trình độ nghệ thuật cao” (Tổng tập văn học Việt Nam) Có thể cho đến tận cuối

đời Nam Cao cũng không nghĩ đấy là một cuộc thay đổi lớn lao trong văn hóa, văn học xứ mình Và ngay cái việc bản thân ông có những đóng góp thực sự đáng kể trong công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc, có lẽ ông cũng không ý thức đợc hết Các tác giả xuất hiện sau nh ông thậm chí còn cha đợc d luận đơng thời tập trung chú ý Vậy mà Nam Cao đã khẳng định đợc vị trí của mình trên diễn đàn văn học một cách nhanh chóng và đầy ý nghĩa

1.2 Sáng tác văn học của Nam Cao

1.2.1 Sáng tác của Nam Cao thời kỳ trớc cách mạng

Trang 28

Trớc Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là một nhà văn sáng tác theo khuynh hớng hiện thực Tác phẩm của Nam Cao đợc viết ra đều thông qua quá trình thai nghén đầy xúc cảm, thông qua sự suy nghĩ chín chắn về sự thể nghiệm ý thức chính trị xã hội của nhà văn trong đời sống thực tế Trớc cách mạng, mặc dù điều kiện sáng tác khó khăn, bọn thống trị kiểm duyệt khắt khe, Nam Cao vẫn cố gắng làm sáng tỏ quan điểm sáng tác của mình dới hình thức này hay hình thức khác Nhng ông thờng mang nặng tâm sự u uất, bất đắc chí Đó không chỉ là tâm sự của ngời nghệ sĩ “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà), mà còn là nỗi bi phẫn của ngời trí thức giàu tâm huyết trong cái xã hội bóp nghẹt sự sống con ngời khi đó Song Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà trở nên khinh bạc, trái lại ông có một tấm lòng thật đôn hậu, chan chứa yêu thơng Đặc biệt sự gắn bó ân tình sâu nặng với bà con nông dân nghèo khổ ruột thịt ở quê hơng là nét nổi bật ở Nam Cao Chính tình cảm yêu thơng gắn bó đó là một sức mạnh bên trong của nhà văn, giúp

ông vợt qua những lối sống của thoát ly hởng lạc, tự nguyện tìm đến và trung thành với con đờng nghệ thuật hiện thực “vị nhân sinh” Thời kỳ 1938 - 1940 là thời kỳ Nam Cao còn nặng nề về khuynh hớng lãng mạn, cha có ý thức và phơng châm rõ rệt trong sáng tác Bớc sang thời kỳ 1940 - 1943, thời kỳ Nam Cao chính thức bớc lên văn đàn với t cách là một nhà văn hiện thực, tập truyện Đôi lứa xứng

đôi đánh dấu thành công đầu tiên của Nam Cao trong sáng tác đồng thời cắm một

cái mốc quan trọng của trào lu hiện thực Thời kỳ 1943 - 1945 là thời kỳ Nam Cao bắt đầu sinh hoạt trong tổ văn hóa cứu quốc Sự kiện này có một ý nghĩa quyết

định đối với Nam Cao, xem văn học nghệ thuật là một bộ phận của cuộc cách mạng dân tộc, các nhà văn tiến bộ thấy mình phải có nhiệm vụ chống lại nguy cơ thống trị của văn hóa phát xít, chống lại những t tởng và học thuật của giai cấp t sản phản động, với những khuynh hớng và trờng phái nghệ thuật suy đồi Tác phẩm của Nam Cao là lỡi dao sắc rạch vào cơ thể ung nhọt của xã hội cũ, phơi bày thực trạng xấu xa của một chế độ sắp đến ngày sụp đổ Căm thù chế độ thống trị bao nhiêu, Nam Cao lại càng thông cảm và yêu thơng những nạn nhân của chế độ

đó bấy nhiêu Đó là điểm nổi bật xác định giá trị nhân đạo của những tác phẩm Nam Cao trớc cách mạng tháng Tám Nam Cao đã lột tả đợc những cảnh đời cơ cực, tù túng, bế tắc của nông thôn và thành thị, ông còn vẽ ra khung cảnh xã hội

Trang 29

Việt Nam ở thời kỳ đen tối nhất dới chế độ phát xít Nhật – Pháp Trong đêm tối dày đặc của chế độ cũ ấy, tác phẩm Nam Cao ánh lên những tia sáng của một ngày mới, thể hiện lòng ớc mơ và khát vọng một sự đổi thay đa tới một xã hội đầy tình yêu thơng và hạnh phúc hơn Sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống ngời nông dân ở quê hơng và cuộc sống ngời trí thức tiểu t sản nghèo

ở đề tài ngời nông dân, Nam Cao thờng quan tâm đến những hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu, sự ức hiếp nhiều nhất Họ càng hiền lành nhẫn nhục thì càng bị chà đạp phũ phàng Ông đặc biệt đi sâu vào những trờng hợp con ngời bị lăng nhục một cách độc ác, bất công, mà xét đến cùng chẳng qua chỉ vì họ nghèo

đói khốn khổ Tuy giọng văn lắm khi lạnh lùng nhng kỳ thực, Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống và nhân phẩm những con ngời bất hạnh, bị xã hội đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó trong Chí Phèo, Một bữa no, T cách mõ, Lang rận…

viết về những ngời lu manh hóa nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã nhẫn tâm tàn phá cả thể xác lẫn linh hồn ngời nông dân lao động, đồng thời ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lơng thiện đẹp đẽ của họ Nam Cao thờng chú ý đến những số phận bi thảm Ông không đặt nhân vật của mình trong những quan hệ xã hội rộng lớn, mà chỉ đi vào những vấn đề thuộc quan hệ gia đình nhỏ hẹp diễn ra âm thầm trong những túp lều tăm tối Từ những đơn vị gia đình trong quá trình bần cùng hóa và ly tán ấy, ông phản ánh đợc chế độ thực dân trong những ngày cuối cùng của nó đã bóc lột, vơ vét ngời dân lao động đến cùng kiệt

nh thế nào Những con ngời ấy phải sống một cuộc sống nghèo khổ nhng bù lại họ

có một tâm hồn cao đẹp biết bao Họ sẵn sàng hi sinh bản thân mình để mong ngời thân yêu của mình đợc hạnh phúc trong Lão Hạc, Một đám cới, Dì Hảo Nam…Cao phát hiện và khẳng định đợc bản chất lơng thiện và đẹp đẽ của họ một cách

đầy cảm động

ở đề tài ngời trí thức tiểu t sản, những truyện ngắn nh: Những truyện không

muốn viết, Trăng sáng, Mua nhà, Chuyện tình, Quên điều độ, Cời, Nớc mắt, Đời thừa, Bài học quét nhà và tiểu thuyết Sống mòn (1944) Trong những sáng tác

này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực tình cảnh nghèo khổ, dở sống dở chết của những nhà văn nghèo, những “giáo khổ trờng t”, học sinh thất nghiệp Nhà…

Trang 30

văn đặc biệt đi sâu vào những bi kịch tâm hồn của họ, qua đó đặt ra những vấn đề

có ý nghĩa xã hội to lớn Đó là tấm bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của ngời trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm nhng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống cuộc sống “đời thừa” Những tác phẩm đó đã phê phán sâu sắc xã hội phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con ngời, đồng thời đã thể hiện sự tự đấu tranh bên trong của ngời trí thức tiểu t sản trung thực cố vơn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực

sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con ngời Nếu so sánh những sáng tác viết

về chủ đề nông dân với các tác phẩm viết về chủ đề tiểu t sản thì Nam Cao có nhiều thuận lợi hơn khi sáng tác về chủ đề tiểu t sản Trớc hết, thì cuộc sống tiểu t sản là cuộc sống mà Nam Cao thành thuộc Viết về tiểu t sản chính là viết ngay về bản thân và cuộc sống xung quanh mình, Nam Cao đã có một cái nhìn mạnh dạn, không thỏa hiệp với cuộc sống đơng thời phủ định nếp sống và nếp suy nghĩ quen thuộc của tầng lớp mình Tầm mắt của Nam Cao ít nhiều đã vợt khỏi cái giới hạn của giai cấp Nam Cao đã dám nhìn thẳng vào cuộc sống, hơn nữa, đã dám vạch trần những mâu thuẫn sâu sắc của cuộc sống và phát hiện đợc một phần những nét thuộc về bản chất của xã hội Ông đi vào đời sống nội tâm của con ngời tiểu t sản, Nam Cao đã nhìn thấy những biểu hiện tốt đẹp về đạo đức của tầng lớp tiểu t sản nghèo Ông nêu lên đợc quá trình đấu tranh day dứt giữa cái thiện và cái ác, đấu tranh chống lại sự cám dỗ của vật chất trong con ngời tiểu t sản ở một mức độ cao hơn, Nam Cao đã phản ánh đợc tâm trạng điển hình của tầng lớp tiểu t sản trí thức nghèo đang mạnh dạn chống lại sự han rỉ của tầm hồn, chống lại nếp sống quen thuộc của một cuộc sống sợ thay đổi và hy vọng vơn tới một xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn

Tóm lại những sáng tác của Nam Cao viết về đề tài tiểu t sản và nông dân, trớc mắt ngời đọc hiện lên khung cảnh đen tối nhất của xã hội Việt Nam thời kỳ trớc cách mạng tháng Tám Đời sống của nông dân ở nông thôn cũng nh của các tầng lớp trung gian ở thành thị đều khổ cực về mọi mặt Đằng sau lũy tre xanh, không phải là những mái rạ nên thơ, những cuộc đời êm ả, bình dị mà là những kiếp sống đắng cay, cơ cực đang chết dần, chết mòn, chết một cách thê thảm đau

đớn Trong toàn bộ sáng tác của Nam Cao, dù viết về ngời nông dân hay ngời trí

Trang 31

thức, mỗi trang văn của ông đều tha thiết tình yêu và khẳng định những giá trị tốt

đẹp của con ngời, điều đó cũng xuất phát từ con ngời nhà văn Ông vốn là một

ng-ời rất giàu lòng nhân ái, là nhà văn đầy ân tình với những con ngng-ời nghèo khổ Trái tim nhân hậu của ông không cho phép ông nhìn con ngời một cách phiếm diện, bề ngoài Phải xem xét đằng sau cái biểu hiện dù là khùng điên, lu manh (nh Chí Phèo), dù bề ngoài có vẻ gàn dở, lẩm cẩm (nh Lão Hạc), dù là so đo, tính toán (nh Thứ, San, Oanh ) họ vẫn là con ng… ời và còn có những phẩm chất tốt đẹp, lơng thiện, chân chính mà chỉ con ngời mới có Suy t, dằn vặt, trăn trở về cuộc sống, về kiếp ngời, những trang viết của Nam Cao thờng đạt tới một tầm khái quát nhân sinh to lớn nên đề tài dù hẹp mà t tởng thì rộng lớn, sâu sắc

1.2.2 Sáng tác của Nam Cao thời kỳ sau cách mạng

Nam Cao đón chào cách mạng tháng Tám với tất cả niềm sung sớng hân hoan của ngời cán bộ cách mạng Sau khi tham gia cớp chính quyền ở địa phơng, Nam Cao lên Hà Nội, hoạt động trong hội văn hóa cứu quốc Là một nhà văn sớm

đợc sự giáo dục trực tiếp của Đảng trong những năm trớc cách mạng nên Nam Cao

đã nhạy cảm và chuyển mình rất nhanh theo những bớc đi của cách mạng Nam Cao đã thấm thía tất cả sự tủi nhục của ngời dân mất nớc, đã sống những ngày mòn rỉ, tù hạm của một cuộc đời quẩn quanh vô vị, đã từng chứng kiến biết bao

đau thơng uất hận của những ngời sống lầm than nên đã hân hoan reo vui chào

đón cách mạng Sau cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao lao mình vào mọi công tác cách mạng và kháng chiến Ông tự nguyện làm ngời cán bộ tuyên truyền vô danh của cách mạng và có ý thức tự rèn luyện, cải tạo mình trong thực tế kháng chiến Truyện ngắn Mò săm banh (1946) nói lên một cách đau xót cuộc sống của

con ngời dới chế độ cũ, đồng thời tố cáo tội ác của thực dân pháp làm tê liệt hết mọi khả năng quật khởi của một số ngời trong chế độ thống trị hà khắc ấy Truyện ngắn Đôi mắt (1948) là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến chặng

đầu khi đó Nhìn vào hình ảnh một trí thức cũ đi tản c theo kháng chiến nhng vẫn giữ nguyên lối sống trởng giả, nhởn nhơ và “đôi mắt” khinh bạc tệ hại đối với quần chúng - hình ảnh thật lạc lõng giữa cuộc sống kháng chiến lành mạnh sôi nổi lúc bấy giờ - ngời trí thức đi theo cách mạng càng thêm dứt khoát từ bỏ con ngời

cũ, lối sống cũ và quyết tâm “cách mạng hóa t tởng, quần chúng hóa sinh hoạt”,

Trang 32

trở thành những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa Thiên tùy bút Đờng vô nam là lời

reo vui đầy nhiệt tình trớc nhiệm vụ cách mạng Nhật ký ở rừng (1948) viết trong

thời kỳ nhà văn công tác ở vùng rừng sâu Bắc Cạn và tập ký sự Chuyện biên giới

(1950) viết khi ông đi chiến dịch Cao - Lạng, đều là những sáng tác giá trị của nền văn xuôi mới còn non trẻ bấy giờ Nhà văn hi sinh giữa lúc t tởng và tài năng đang

độ phát triển nhất trong thời đại mới, hứa hẹn những sáng tác có tầm vóc mới Những sáng tác của Nam Cao trong thời kỳ kháng chiến đã phản ánh đợc những nét sinh hoạt của nhân dân trong chiến đấu và sản xuất Và phần nào đã nêu lên đ-

ợc hình ảnh ngời chiến sĩ, ngời dân công ngoài mặt trận Trong các sáng tác sau cách mạng tháng Tám của Nam Cao, con ngời nhà văn thống nhất với con ngời cuộc đời ý thức trách nhiệm đối với ngòi bút của ông ngày càng rõ rệt hơn Nhà văn muốn sáng tác của mình phải ngày càng có ích Bên cạnh đó xây dựng những

điển hình của quần chúng công nông là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của văn học mới Nam Cao đã vẽ lên đợc những nét khá tiêu biểu của quần chúng công nông binh đang hăng hái đóng góp, hi sinh cho kháng chiến

1.2.3 Những điểm thống nhất cơ bản trong sáng tác Nam Cao ở hai thời

kỳ trớc và sau Cách mạng

Từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nớc với biết bao biến động và đổi thay,

từ sự thức tỉnh của ý thức cá nhân đến những khai phá của lớp nhà văn đi trớc, Nam Cao vừa nhạy cảm nắm bắt vừa phát huy cá tính sáng tạo của mình và đã trở thành ngời kết thúc vẻ vang và hoàn thiện công cuộc hiện đại hóa văn học nớc nhà Những tác phẩm Nam Cao sáng tác trong hai thời kỳ đều thấm đậm một tấm lòng nhân đạo sâu sắc Lòng nhân đạo của Nam Cao thể hiện rõ ở sự quan tâm đặc biệt đến số phận ngời nông dân Trớc cách mạng, Nam Cao viết về những ngời nông dân với tấm lòng đầy yêu thơng và trân trọng đối với những nhân vật nh: Thị

Nở một ngời phụ nử vừa xấu lại vừa dở hơi, cả làng Vũ Đại tránh thị nh tránh hủi Nhng sâu thẳm trong tâm hồn ấy luôn khát khao một tình yêu mãnh liệt cũng giống nh bao ngời con gái khác, sau khi gặp Chí Phèo về lòng thị mang đầy tâm trạng: “trăng cha lặn, không chừng trời còn khuya Thị lên giờng định ngủ Nhng thị nhớ lại việc lạ lùng tối qua Thị cời, thị thấy không buồn ngủ, và thị cứ lăn ra lăn vào.” [8,43] Chí Phèo là một ngời bán linh hồn cho quỷ dữ vậy mà Chí cũng

Trang 33

có ớc mơ, khát vọng Lão Hạc dù rất nghèo nhng vẫn dành dụm tiền cho con, lo

đ-ợc tiền ma chay cho mình sau khi chết những chi tiết rất ng… ời ấy chỉ có Nam Cao mới làm đợc Sau cách mạng, Nam Cao vẫn tiếp tục quan tâm tới những số phận

bé nhỏ ấy Đó là những ngời dân lao động đợc thể hiện trong tác phẩm Đôi mắt, Nhật ký ở rừng hiện thực cuộc sống đã đổi thay, ng… ời nông dân không còn bị ràng buộc trong chế độ cũ nữa Chính lúc này đây, Nam Cao đã thấy đợc lòng nhiệt tình đối với cách mạng của họ thật lớn lao Trong đó số phận của ng… ời phụ nữ đợc Nam Cao chú ý hơn cả Trớc Cách mạng Nam Cao đã nói lên đợc những nỗi khổ cực của ngời phụ nữ với một tấm lòng đầy cảm thông, đó là Dì Hảo, Dần,

Từ, Nhu, Sau cách mạng với … Nhật ký ở rừng và trong thiên tùy bút Những bàn tay đẹp ấy, Nam Cao đã viết: “dù sao, cuộc giải phóng dân tộc không thể bỏ qua

một nửa lực lợng nhân dân ở trong những bàn tay đẹp mà những ngời đàn ông ích

kỷ, tởng chỉ có thể dùng để làm bếp và giặt quần áo ở nhà Và cuộc giải phóng phụ nữ phải do chính tay phụ nữ săn sóc lấy Đấu tranh không làm mất vẻ đẹp dịu dàng Đôi mắt nảy lửa phóng vào lũ giặc mọi rợ, dâm cuồng vẫn biết tình tứ với chồng và âu yếm với con ” (… Những bàn tay đẹp) Những ngời phụ nữ ấy dù ở

thời chiến hay thời bình thì họ vẫn sống một cuộc sống đầy nghị lực đối với gia

đình và xã hội Đặc biệt hơn Nam Cao đã tạo đợc một sự thống nhất trong quan

điểm nghệ thuật ở cả hai thời kỳ sáng tác của mình Trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao, ngay từ trớc cách mạng tháng Tám, truyện ngắn Trăng sáng, Đời thừa…, đã cho chúng ta thấy đợc tầm quan trọng của thứ nghệ thuật chân chính:

“nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Trăng sáng); Rồi văn chơng: "không cần đến những ngời thợ khéo tay làm theo

một vài kiểu mẫu đa cho Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những gì cha có " … (Đời thừa)

Sau cách mạng tháng Tám, những văn sĩ trong Đôi mắt, Nhật ký ở rừng … tiếp tục khẳng định vai trò của nghệ thuật: “viết đợc một bài thật ít lời nhng vẫn đầy đủ ý

và đọc lên là đàn bà, trẻ con nghe cũng hiểu, tôi cũng thấy sung sớng nh viết đợc một truyện ngắn chính tôi ng ý ” (… Nhật ký ở rừng) Quan điểm nghệ thuật của

Nam Cao càng đạt tới trình độ tự giác cao hơn, đồng thời đợc phát huy trên lập ờng mới Ông không quan niệm sống, viết chung chung nữa Giờ đây sống và viết

Trang 34

tr-là chiến đấu cho độc lập tự do của tổ quốc, của nhân dân, cũng nh chủ nghĩa nhân

đạo phải mang nội dung cụ thể của chủ nghĩa yêu nớc và lý tởng xã hội chủ nghĩa Nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao luôn vơn lên tầm cao mới có ý nghĩa khái quát cao hơn Họ cũng đã phấn đầu hết mình vì nghệ thuật chân chính gắn liền với cuộc sống con ngời họ

1.3 Vấn đề hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao

1.3.1 Khái niệm hình tợng tác giả

Tác giả cũng nh tác phẩm là những khái niệm cơ bản đợc sử dụng nhiều nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học Theo Bakhtin tác giả là ngời làm

ra tác phẩm, là trung tâm tổ chức nội dung, hình thức, cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm Lý luận văn học hiện đại đã chỉ ra khả năng vô cùng to lớn của quá trình

đồng sáng tạo của độc giả Quá trình tiếp nhận cho phép độc giả có thể mở ra nhiều cách hiểu khác nhau về tác phẩm, vì vậy tác giả nói chung, hình tợng tác giả nói riêng là những vấn đề đang đợc đặt ra nghiên cứu Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “hình tợng tác giả là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã

hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm Cơ sở tâm lí của hình tợng tác giả

là hình tợng cái Tôi trong nhân cách của mỗi ngời thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tợng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng

ra ngời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” [26, 149] Định nghĩa

đã bám sát vấn đề cái Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng nh cái Tôi trong nghệ thuật Trớc hết chúng ta thấy rằng cái Tôi nhân cách góp phần lớn vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giá vai trò của cá nhân trong cuộc sống Cái Tôi do đó

là cấu trúc phần tự giác, tự ý thức của nhân cách, có thể coi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thành những tình cảm xã hội của con ngời và xác định mặt cá tính của nhân cách Cái Tôi với sự tự ý thức về chủ thể, về các vấn đề đời sống cá nhân với t cách là một cá tính là điều không thể thiếu đợc trong tác phẩm Nói cách khác sẽ không có tác phẩm trữ tình nếu thiếu đi sự tự ý thức về chủ thể của cái Tôi cá nhân Từ cái Tôi nhân cách hình thành nên cái Tôi nghệ thuật Nh vây

sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩm chính là hạt nhân của hình tợng tác giả

Trang 35

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cũng thừa nhận sự tồn tại của

khái niệm “hình tợng tác giả” gắn liền với sự phát triển của nhân tố sáng tạo cá nhân, các phơng tiện nội dung của nhân cách tác giả nhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm, xem xét hình tợng tác giả với t cách là chủ thể tổ chức ngôn ngữ, ngời trần thuật hiện diện trong tác phẩm “Để kết nối lời tự sự, lời trần thuật với hình tợng tác giả trong ý thức nghệ thuật phải xác lập đợc t tởng về quyền h cấu nghệ thuật, là cái sẽ đợc hợp thức hóa hình ảnh tác giả”

Cũng từ cách đặt vấn đề nh thế, Lại Nguyên Ân đa ra (nói đúng hơn là tổng hợp vì 150 thuật ngữ văn học là loại sách Từ điển do ông biên soạn) những nhận

định về đặc trng của Hình tợng tác giả qua từng thời kỳ văn học: “giai đoạn đầu của văn học cận đại, hình tợng tác giả phải nhuốm giọng phi cá nhân”, chủ nghĩa lãng mạn giải phóng giọng điệu cá nhân của tiếng nói tác giả, “sau đó, ngôn từ trần thuật của các nhà văn hiện thực lớn thế kỷ XIX đã đa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giới tâm hồn nghệ sĩ, đã đa vào văn học hình tợng tác giả thật sự”

Vinôgrđôp hiểu hình tợng tác giả trong hình tợng chủ thể ngôn từ Song dẫu

có xuất phát từ ngôn từ nghệ thuật ông cũng không thể bỏ qua đợc “chiều sâu thầm kín của tâm hồn nghệ sĩ” Có vẻ nh sự trình bày của ông phần lớn bám vào

“giọng điệu cá nhân”, ngôn từ tác giả còn thiếu rành mạch, khó nắm bắt khái niệm của thuật ngữ Ngời đọc rất khó phân định ra hình tợng tác giả có phải là sự tự ý thức của tác giả thể hiện trong tác phẩm hay tác giả với t cách là ngời tổ chức ngôn

từ nghệ thuật

So với các quan niệm của các tác giả trên, Trần Đình Sử là ngời có đóng góp quan trọng trong việc làm rõ khái niệm hình tợng tác giả một cách rõ nét Theo Trần Đình Sử hình tợng tác giả cũng giống nh hình tợng nhân vật - đều là những sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm văn học, song chúng khác nhau ở nguyên tắc sáng tạo Nếu hình tợng nhân vật đợc sáng tạo theo nguyên tác h cấu,

đợc miêu tả theo những quan niệm nghệ thuật về con ngời và theo tính cách nhân vật, thì hình tợng tác giả đợc biểu hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận

và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới nhân vật Trong giao tiếp ngời ta có nhu cầu tự biểu hiện mình với ngời đối thoại nh là uyên bác, hào phóng, hiếu khách theo…

Trang 36

những yêu cầu tiến bộ của xã hội cũng vậy văn học, các nhà văn thờng tự biểu hiện mình nh ngời phát hiện, ngời khám phá cái mới, ngời có nhãn quan cấp tiến,

có cá tính nghệ sĩ điều đó đã trở thành yêu cầu quy … ớc đối với ngời đọc Léptônxtôi đã từng nói: “Nếu trớc mặt ta là một tác giả mới thì câu hỏi tự nhiên

đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối với ngời đọc Nếu nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý” Từ nguyên tắc sáng tạo đặc trng đã nêu, ta nhận thấy hình tợng tác giả là cái đợc biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W.Goethe nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt” Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, và sự thống nhất của tác phẩm

về mặt phong cách học Nói cách khác, vấn đề hình tợng tác giả gắn bó hữu cơ với cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn Viện sĩ Nga V.Vinôgrađốp trong rất nhiều công trình đã khẳng định hình tợng tác giả còn là cơ sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ Achichêrin cũng cho rằng hình tợng tác giả đợc sáng tạo ra nh hình tợng nhân vật Đây là sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lí của sự kiện mà là chân lí của ý nghĩa, của t duy nh chân lí của thi ca Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định vấn đề hình tợng tác giả không chỉ là sự phản

ánh cái Tôi tác giả vào tác phẩm, thể hiện tơng quan giữa ngời sáng tạo ra văn học

và văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể Sự biểu hiện của hình tợng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang đợc nghiên cứu

Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ở phơng diện ngôn ngữ, có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm từ cách quan sát, cách suy nghĩ, các quan niệm trong lập trờng đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệu ngời trần thuật mà cả trong giọng điệu của nhân vật Có ngời tập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian, thời gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật

và giọng điệu Theo một cách nhìn hợp lý “thì hình tợng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩ t tởng, đạo đức, thẩm mĩ Giọng

Trang 37

điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật; và ở sự miêu tả, sự hình dung của tác giả đối với chính mình” [75, 109]

Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu, có thể thấy hình tợng tác giả là một phạm trù quan trọng của nghiên cứu văn học Nó đợc thể hiện trên ba phơng diện cơ bản: t tởng, cái nhìn, giọng điệu và sự thể hiện của chính nhà văn trong tác phẩm

1.3.2 Vấn đề nhận diện hình tợng tác giả trong sáng tác của Nam Cao

Mỗi khi nói tới tác giả Nam Cao là nói đến sự phong phú và đa dạng của ngòi bút đầy tài năng sáng tạo Với cách viết sắc sảo của một nhà văn có bản lĩnh, Nam Cao đã tự mở cho mình một hớng đi riêng Bên cạnh cái đôn hậu của Nguyên Hồng, cái trào lộng của Nguyễn Công Hoan, cái thâm trầm mà sắc sảo của Ngô Tất Tố, Nam Cao đã góp thêm vào dòng văn học hiện thực phê phán một phong cách mới Truyện ngắn Nam Cao xây dựng trên một nỗi ám ảnh về cái tàn lụi, tan rã Không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình êm ả Tất cả đã đến và đang đến điểm tận cùng của cái chết thể xác và tinh thần Ngay trong hình thức truyện Nam Cao, cũng đọng lại bóng dáng của thời

đại T duy nghệ thuật của Nam Cao đã diễn tả một cách thật chuẩn xác và nhất quán dạng vận động của thời đại ông Nếu nh với Nguyễn Công Hoan, đời là mảnh ghép của những nghịch cảnh, với Thạch Lam, đời là mảnh vải có lỗ thủng, những vết ố nhng vẫn nguyên vẹn, thì với Nam Cao, cuộc đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả tơi - từ cái làng Vũ Đại đến mỗi gia đình mỗi số phận Cái làng xã Việt Nam tù

đọng, trì trệ cũng chia ra năm bề bảy cánh, lu tan bốn phơng: đi tù, đi lính bên Tây, chửa hoang bỏ đi, bị gọt đầu bôi vôi đuổi đi, ra tỉnh đi ở, đi phu Sài Gòn, bỏ lên rừng kiếm sống Tác giả Nam Cao đã đi sâu vào khai thác từng việc nhỏ nhất…của cuộc sống, đối với ông cuộc sống không đơn giản chút nào, Nam Cao lên án phê phán cái xã hội vô nhân đạo đã chà đạp lên con ngời…

Các sáng tác của Nam Cao đều in rõ dấu ấn, hình bóng của nhà văn với một nỗi cảm thơng tha thiết Phần lớn các nhân vật trong sáng tác của Nam Cao, nhất là nhân vật ngời trí thức - nhà văn (Điền trong Trăng sáng, Hộ trong Đời thừa, Thứ trong Sống mòn, Độ trong Đôi mắt, thậm chí là Hoàng trong cùng tác

phẩm này (Đôi mắt) đều là sự hóa thân, hoặc nhập vai của Nam Cao ở những tác

Trang 38

phẩm khác, khó thấy hơn, sự tự thể hiện của tác giả qua chân dung, dáng nét, nhng ngời đọc lại vẫn có thể nhận ra hình tợng tác giả qua cái nhìn, giọng điệu, thái độ miêu tả của tác giả …

Trong Một bữa no bà lão đã phải chết vì no, không phải là Nam Cao chế

nhạo ngời đàn bà tội nghiệp ấy, mà ông đã miêu tả cái rất thật của cuộc sống Một

bà lão đã mấy ngày không có một miếng gì vào bụng cả, bà đói lã cả ngời, đến nhà ở của cháu xin bữa ăn, bà đã ăn quá no mà phải chết, một cái chết đầy nớc mắt

và tình thơng Dù Nam Cao có “tàn nhẫn” đến đâu thì sự bao dung và thấu hiểu kiếp ngời của ngời kể chuyện (hình tợng tác giả) vẫn cứ hiện ra Ông luôn một lòng yêu quý các nhân vật của mình Nam Cao đã lột tả đợc sự nghèo đói của những ngời nông dân tội nghiệp Rất khác với Nam Cao mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thờng là một cảnh tợng, một tình thế mâu thuẩn đầy tính chất hài hớc trong cái “tấn trò đời” nhố nhăng đồi bại ấy Một ông quan to béo oai vệ rất sang trọng nhng ăn tiền một cách mất vệ sinh; một cụ Bá Chánh oai nghiêm…dữ tợn “chúa là ghét thói ăn cắp” nhng lại bày trò ăn cắp một cách đê tiện; một

ông quan khác đã phẫn nộ thẳng tay đánh vợ và dạy vợ bài học “tam tòng tứ đức” vì vợ ông không chịu nghe ông để đi hầu quan trên cho ông chóng thăng chức;…một bà phủ ngủ với trai ngay trong buồng quan phủ bị chồng bắt quả tang nhng chính quan phủ lại bị bà mắng xa xả ; Lý tr… ởng, Trơng tuần đốt đuốc cầm tay th-

ớc đi lùng sục bắt giải những ngời đ… ợc cử đi xem bóng đá mà lẩn trốn nh trốn giặc; ông Tri Châu giết một lúc sáu mạng ngời vô tội lại hi vọng sẽ đợc thăng chức Với những trò bịp bợm ấy Nguyễn Công Hoan nhằm khái quát lên một xã…hội đầy rẫy những trò nhố nhăng nghịch đạo Nam Cao lại nhẹ nhàng đi vào lòng

độc giả với những cái rất đời thờng, cuộc sống của những con ngời trí thức nghèo,

họ đã phải đấu tranh rất nhiều trong cuộc sống, Nam Cao cho ta thấy đợc họ luôn

đau đớn dằn vặt trớc miếng cơm, manh áo Lo đợc một cuộc sống đầy đủ là rất khó khăn đối với Hộ, Điền,Thứ họ đều ôm ấp những giấc mơ đẹp đẽ, những dự…

định lớn lao: họ ao ớc thành nhà văn có tên tuổi, họ khát khao trở thành nhà giáo tận tụy với nghề những mơ … ớc đẹp đẽ đó nếu nh gặp mãnh đất tốt sẽ phát triển

và nâng con ngời cao hơn, vơn tới những điều tốt đẹp Đáng tiếc, và cũng là đáng bất hạnh cho lớp ngời đó, là họ đã đem một trái tim trong sáng và một hoài bão

Trang 39

lớn lao để nhập vào một cuộc đời nhỏ nhen, tù túng - một cuộc đời tầm thờng hóa con ngời và chấp cánh những ớc mơ Nam Cao đã khai thác cuộc sống ấy một cách chân thật Ông luôn xoáy sâu vào đời sống bên trong của các nhân vật Ông tìm ra những chi tiết thiết nghĩ rất nhỏ nhặt nhng nó thật sự rất đỗi lớn lao Phải chăng cái xã hội ấy nó đã bóp nghẹt bao ớc mơ của mỗi con ngời Viết về ngời trí thức tiểu t sản nghèo, Nam Cao đã mạnh dạn phân tích và mổ xẻ tất cả Không né tránh nh Thạch Lam, không cực đoan phiếm diện nh Vũ Trọng Phụng, cũng không thi vị hóa nh Nhất Linh, Khái Hng, ngòi bút của Nam Cao luôn tỉnh táo, đúng mực Ông đã đi đến tận cùng những ngóc nghách trong tâm hồn và suy nghĩ của một lớp ngời, và qua lớp ngời đó thể hiện sự bế tắc, cùng quẩn của một xã hội Dù

ông viết về ngời nông dân hay ngời trí thức tiểu t sản thì ông cũng luôn luôn thấu hiểu hết đợc những nổi lòng sâu kín bên trong của họ

Sau cách mạng tháng Tám con ngời ấy cũng không thay đổi là bao, ông cũng bao dung thấu hiểu cho từng nhân vật của mình Những ngời nông dân ấy lần lợt đi vào kháng chiến, mặc dù đôi khi còn có sự ngờ nghệch ở họ Thay vào đó họ tràn đầy nhiệt huyết với tấm lòng giết giặc Họ hi sinh cho Tổ Quốc, công việc dù khó khăn vất vả tới đâu họ không nề hà mà sẵn sàng xông pha lên phía trớc Họ cũng mong sao có một cuộc sống bình yên hơn và tơi đẹp hơn Đối với những ngời trí thức họ cùng một lòng giết giặc Công việc nghệ thuật của họ lúc này là làm sao cho xứng đáng với thời cuộc, phải chiến đấu mới bảo vệ đợc cái thứ nghệ thuật chân chính của mình sau này Nam Cao cũng có một tấm lòng cảm thơng sâu nặng với những con ngời sống dới đáy của xã hội đã phải gánh chịu không biết bao áp lực nặng nề nh bác T trong Mò sâm banh Trớc hoàn cảnh sống càng đau thơng

bao nhiêu họ càng có một tấm lòng kiên định trớc kẻ thù Nam Cao dù ở giai đoạn trớc cách mạng cũng nh sau cách mạng đều cho ta thấy đợc một con ngời luôn dào dạt tình yêu thơng đối với mỗi ngời Ông viết về ngời nông dân cũng nh ngời trí thức tiểu t sản một cách rất chân thực Ông đi vào những khía cạnh rất đời t mà khái quát lên cả một xã hôi, với một giọng điệu cảm thông trong sự chua xót đắng cay Nhng có lẽ làm cho chúng ta khắc khoải nhất vẫn là ngời thầy giáo trờng t

Họ đã rất cố gắng trong cuộc sống vậy mà có hạnh phúc no đủ đợc đâu? Họ luôn sống trong tâm trạng ngao ngán, tuyệt vọng Đọc tác phẩm của Nam Cao, ta thấy

Trang 40

nhân vật của ông không có mấy những niềm vui Những khuôn mặt nhợt nhạt, gầy

gò vì đói, những nếp nhăn hằn sâu và những đôi mắt mệt mỏi, chán chờng vì lo lắng phải chăng đó cũng chính là tác giả Nam Cao ngoài đời Những trang văn…

ấy đã in đậm sâu trong tâm trí của mỗi con ngời

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn ảnh (1992), “Tsêkhốp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”, Tạp chí Văn học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tsêkhốp và Nam Cao - một sáng tác hiện thực kiểu mới”, Tạp chí" Văn học
Tác giả: Đào Tuấn ảnh
Năm: 1992
2. Lại Nguyên Ân (1992), “Nam Cao và cuộc cách tân văn học đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao và cuộc cách tân văn học đầu thế kỷ XX”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1992
3. Lại Nguyên Ân (1997), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
4. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh C dịch và giới thiệu), Trờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
5. Vũ Bằng (1969), “Nam Cao - nhà văn không biết khóc”, Tạp chí Văn học (Sài Gòn), Số 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao - nhà văn không biết khóc”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1969
6. Lê Huy Bắc (1989), “Giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, Sè 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1989
7. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn, lý luận, tác gia và tác phẩm, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn, lý luận, tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Nam Cao (2004), Tuyển tập Nam Cao (Hà Minh Đức giới thiệu và tuyển chọn), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nam Cao
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004
9. Nguyễn Minh Châu (1987), “Nam Cao”, Báo Văn nghệ, Số 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Cao”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
10. Phạm Tú Châu (1992), “Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”, Tạp chí Văn học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều so sánh giữa Chí Phèo và AQ”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Phạm Tú Châu
Năm: 1992
11. Huệ Chi - Phong Lê (1961), “Con ngời và cuộc sống trong tác phẩm Nam Cao”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con ngời và cuộc sống trong tác phẩm Nam Cao”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Huệ Chi - Phong Lê
Năm: 1961
12. Nguyễn Đình Chú (1990), “ Đôi mắt của Nam Cao”, Tạp chí Văn học, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi mắt" của Nam Cao”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1990
13. Trơng Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học nh quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh quá trình
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
14. Đặng Anh Đào (1991), “Khả năng tái sinh của Chí Phèo”, Báo Văn nghệ, Số 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tái sinh của Chí Phèo”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1991
15. Nguyễn Đức Đàn (1966), “Cách mạng tháng Tám và chặng đờng phát triển mới của Nam Cao”, Tạp chí Văn học, Số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Tám và chặng đờng phát triển mới của Nam Cao”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1966
16. Phan Cự Đệ (1975), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, (2 tập ), Nxb Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1975
17. Phan Cự Đệ - Nguyễn Trác - Hà Văn Đức (1992), Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, (2 tập), Nxb Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ - Nguyễn Trác - Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1992
18. Phan Cự Đệ (1994), Văn học lãng mạn Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
19. Phan Cự Đệ (chủ biên), (2001), Văn học Việt Nam 1900 - 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
20. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w