1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của nam cao

125 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của nam cao
Tác giả Trần Thị Thu Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Phan Ngọc Thu
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn từ phương diện đề tài và nhân vật hầu hết các công trình đều cho rằng, sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm đã tập trung vào hai mảng chủ yếu: Viết về cuộc sống cùng c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Thu Nguyệt

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục của luận văn 6

Chương 1: CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 7

1.1 Vài nét về cuộc đời và con người 7

1.1.1 Bi kịch “vỡ mộng” 7

1.1.2 “Cái mặt không chơi được” 9

1.2 Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 11

1.2.1 Hành trình sáng tác 11

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật 16

1.2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 17

1.2.2.2 Quan niệm về tác phẩm văn chương 21

1.2.2.3 Quan niệm về vai trò, trách nhiệm của nhà văn 24

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 29

2.1 Khái niệm cô đơn và con người cô đơn 29

2.1.1 Khái niệm cô đơn 29

2.1.2 Khái niệm con người cô đơn 30

2.2 Những kiểu con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao 32

2.2.1 Kiểu con người cô đơn vì bị cô lập trong đời sống cộng đồng 32

2.2.2 Kiểu con người cô đơn vì những bi kịch tinh thần 49

Trang 4

2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng hình tượng con người cô đơn trong sáng

tác Nam Cao 65

2.3.1.Đối với văn nghiệp của Nam Cao 65

2.3.2 Đối với nền văn học hiện đại nước nhà 69

Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG SÁNG TÁC NAM CAO 77

3.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 77

3.1.1 Miêu tả ngoại hình 77

3.1.2 Miêu tả tâm lí 81

3.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 86

3.2.1 Tạo tình huống 86

3.2.2 Đan xen yếu tố ngoài cốt truyện 88

3.3 Không gian - Thời gian nghệ thuật 93

3.3.1 Không gian nghệ thuật 93

3.3.2 Thời gian nghệ thuật 99

3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 102

3.4.1 Ngôn ngữ 102

3.4.2 Giọng điệu 108

KẾT LUẬN 111 THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI CỦA ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

- Nam Cao (1917 - 1951) là nhà văn xuất hiện vào thời kì cuối (1940

- 1945) của trào lưu văn học hiện thực nước ta giai đoạn 1930 - 1945 Đời sống và đời viết của ông tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại một sự nghiệp giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, vẫn có sức lôi cuốn giới nghiên cứu và nhiều thế hệ bạn đọc Ồng xứng đáng là một trong những nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Bởi vậy, cho dù đã có nhiều đề tài luận văn, luận

án nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

- Thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao có rất nhiều bình diện cần được tiếp cận và tìm hiểu Nhìn từ phương diện đề tài và nhân vật hầu hết các công trình đều cho rằng, sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm đã tập trung vào hai mảng chủ yếu: Viết về cuộc sống cùng cực của những người cố nông nghèo khổ, lấy chất liệu ngay từ làng quê ông

và những người trí thức nghèo phải sống trong bi kịch “đời thừa”, “mòn ra”,

“rỉ lên”, “mốc đi” từ bản thân cuộc đời chính ông và bạn bè cùng cảnh ngộ Tuy nhiên, nếu nhìn một cách khái quát hơn, nhưng cũng đi sâu hơn vào bản chất của hình tượng nghệ thuật trong mối liên hệ với quan niệm của

một nhà văn luôn luôn khát vọng “vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn” để làm nên những tác phẩm “chung cho cả loài người” Từ góc nhìn

ấy, qua những tác phẩm kiệt xuất của Nam Cao, người đọc có thể thấy thêm một hình tượng nổi bật rất giàu ý nghĩa nhân văn: Hình tượng nhân vật con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao

- Mặt khác, Nam Cao đã từ lâu là một tác giả được đưa vào chương trình dạy và học môn Ngữ Văn ở trường phổ thông (“Lão Hạc” ở Trung học

Cơ sở; “Chí Phèo”, “Đời thừa” ở Trung học Phổ thông) Vì vậy, tìm hiểu đề

Trang 6

tài này, chúng tôi có dịp được phát hiện thêm những nét độc đáo về giá trị

tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm Nam Cao, qua đó có thêm những kiến thức bổ ích cho việc giảng dạy tác gia Nam Cao trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Nam Cao là đại biểu xuất sắc của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuộc hội thảo, nhiều luận văn, luận án nhận xét đánh giá, tìm tòi phát hiện những giá trị văn chương trong sáng tác của ông

Hầu hết bài viết về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao đều tập trung ở những công trình lớn:

- Bài giới thiệu dài gần 50 trang của GS Hà Minh Đức trong Nam Cao - Tác phẩm, tập I, tập II, Nxb Văn học, 1976

- Viện Văn học với công trình tập hợp của nhiều tác giả: Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội Nhà văn, 1992

- GS Phong Lê với công trình Nam Cao - Phác thảo sự nghiệp và chân dung, Nxb Khoa học Xã hội, 1997

- GS Hà Minh Đức với công trình Nam Cao - Đời văn và tác phẩm,

Nxb Văn học, 1998

- GS Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã có những bài viết sâu sắc về Nam

Cao trong Nhà văn Việt Nam hiện đại - Chân dung và phong cách, Nxb Trẻ,

2000

- Nhiều tác giả, Nam Cao - Con người và tác phẩm, Nxb Hội Nhà

văn, 2000

- Bích Thu đã tập hợp và tuyển chọn các bài viết về Nam Cao trong

Nam Cao - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, tái bản, 2007

Nhìn chung các bài viết trong các công trình kể trên có thể chia làm hai loại:

Trang 7

Loại nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về sự nghiệp và giá trị tư tưởng, nghệ thuật của sáng tác Nam Cao

Loại đi sâu tiếp cận phân tích thế giới nhân vật trong sáng tác của Nam Cao

Tiếp thu và kế thừa ý kiến của người đi trước, dưới đây chúng tôi chỉ lược lại một số bài viết có liên quan đến đề tài

- GS Phong Lê trong bài “Sự sống và sức sống trong văn Nam Cao”

mở đầu cho công trình “Nghĩ tiếp về Nam Cao” nhận xét: “Toàn bộ thế giới

truyện của Nam Cao là một nỗi đau lớn vì những nỗi khổ - hiện ra trong rất nhiều dạng của con người; cũng đồng thời là một niềm khắc khoải lớn, vì nhu cầu phát triển của con người [54, tr 20]

- GS Nguyễn Văn Hạnh, “Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng” lại viết: “Nam Cao trân trọng mọi biểu hiện của sự

sống, trăn trở, đau buồn, nhưng không bao giờ mất hi vọng Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn” [54, tr 23]

- Vũ Dương Quỹ trong “Những nhân vật, những cuộc đời và nẻo đường đi tìm nhân cách” in chung trong cuốn Nam Cao về tác gia và tác phẩm nhận định trong sáng tác của Nam Cao, các kiểu nhân vật có ba con

đường đi tìm nhân cách Trong đó kiểu nhân vật thứ nhất như Chí Phèo đi

tìm nhân cách là “tìm lại cuộc đời”, lầm lũi trong nỗi đau của kiếp người để

“cố thắp sáng mình lên nhằm tìm lại tất cả, trong đó cái quan trọng nhất là

bản tính người hiền lành, lương thiện” [42, tr 186] Kiểu nhân vật thứ hai

như Lão Hạc, Hộ thì đi tìm “con đường của tình thương và danh dự” [42, tr 187] Và cuối cùng kết lại rằng: “Trong cuộc sống, dù ở đâu, xã hội nào, giai cấp nào, lứa tuổi nào, con người cũng biết tự xấu hổ, tự phê phán, sám hối…”; “Con đường thứ ba đi tìm nhân cách là cách nhìn đời, nhìn người, cảm thông và những công việc cụ thể” [42, tr 189] Và “Nhân vật của Nam

Trang 8

Cao có số phận khác nhau, có con đường đi tìm nhân cách cũng khác nhau,

vì họ bị những quan hệ xã hội, những hoàn cảnh sống va đập chi phối Song

họ đều giống nhau ở chỗ bản tính làm người, cái khát vọng được gần người hơn” [42, tr 191]

- Cũng trong cuốn Nam Cao về tác gia và tác phẩm, Quế Hương khai thác ở góc độ “Vẻ đẹp con người”: “Soi vào bức tranh đời hôi hổi niềm đau, tạp lẫn xấu - đẹp vẫn thấy mình, thấy người trong đó Lẽ sống cũng từ những cái không nguyên vẹn, tròn trịa, yên lành ấy đi ra…” [42, tr 333]

- Nguyễn Văn Trung với“Con người bị từ chối quyền làm người trong truyện Chí Phèo của Nam Cao”, in trong “Nam Cao về tác gia và tác phẩm”, cũng đề cập đến yếu tố con người: “Con người sinh ra là để làm

người, nghĩa là để được sống, bằng những dự định, ước muốn, tình cảm,

xác định bản chất của người khác với con vật Nhưng đôi khi nó bị từ chối cái quyền sống chính đáng đó Nó là người nhưng không được làm

- Phạm Xuân Nguyên trong “Nam Cao và sự lựa chọn một chủ nghĩa hiện thực mới” in chung trong cuốn “Nghĩ tiếp về Nam Cao” lại có những

nhận xét rất chí lí: “Nhân vật (trong tác phẩm Nam Cao) luôn đứng giữa giáp ranh giữa thiện - ác, hiền - dữ; luôn luôn ở thế giằng co, chống chọi giữa cái bên trong và nghịch cảnh bên ngoài; luôn luôn ở trạng thái hối hận, tiếc nuối và cô đơn”…[54, tr 73]

Trang 9

- Hà Minh Đức và “Nam Cao và đôi nét sáng tạo nghệ thuật tâm lí”,

Tạp chí văn học, số 6 năm 1982 viết rằng: “Nhân vật của Nam cao hay ân hận Họ không rơi vào những lỗi lầm lớn mà chỉ rơi vào những khuyết điểm đáng trách, đáng thương”…[42, tr 480]

Nhìn chung, các bài viết trên đều có đề cập đến phương diện con người và nhân cách con người trong sáng tác của Nam Cao nhưng về vấn đề con người cô đơn thì hầu như chưa ai đề cập, nghiên cứu một cách hệ thống

và tỉ mỉ Chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp một tiếng nói nhỏ của mình về phương diện con người trong sáng tác của Nam Cao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Hình tượng nhân vật con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao

từ quan niệm nghệ thuật, ý nghĩa tư tưởng đến phương thức nghệ thuật thể hiện

nghĩa nhân văn và phong cách nghệ thuật độc đáo của Nam Cao

- Qua việc nghiên cứu này, chúng tôi muốn góp thêm tài liệu tham khảo dạy học văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình Đại học, Trung học Phổ thông và Trung học cơ sở

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu văn học để giải quyết yêu cầu của luận văn đề ra Tuy nhiên, các phương pháp chủ yếu sau được sử dụng nhiều nhất trong quá trình thực hiện:

5.1 Phương pháp tiếp cận - hệ thống

Ở phương pháp này, chúng tôi xem xét, tiếp cận những tác phẩm của Nam Cao và hệ thống lại, lựa chon những tác phẩm thể hiện những hình tượng nhân vật con người cô đơn để tìm hiểu những đặc trưng về cách thức biểu hiện, về các kiểu con người cô đơn cũng như phương thức nghệ thuật biểu hiện hình tượng nhân vật trong tác phẩm

5.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Kết hợp với phương pháp hệ thống để đưa ra những dữ kiện nhằm thấy rõ được giá trị của hình tượng nghệ thuật về con người cô đơn trong tác phẩm, từ đó đưa ra những đánh giá về tài năng của Nam Cao

5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Nhằm làm rõ, so sánh những nét độc đáo, mới lạ trong phong cách cũng như trong quan niệm về văn chương, về con người trong các tác phẩm khác nhau của Nam Cao, giữa tác phẩm của Nam Cao với các nhà văn khác

Từ đó thấy được sự ổn định, bền vững và sự phát triển phong cách nghệ thuật nhà văn theo hướng vừa thống nhất, vừa đa dạng

5.4 Phương pháp giải mã từ góc độ thi pháp học

Phương pháp này chúng tôi sẽ giải mã những nét kĩ thuật, thao tác trong cách xây dựng hình tượng nhân vật với những hình thức nghệ thuật đa

dạng, phong phú, độc đáo trong những tác phẩm của Nam Cao

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Trang 11

- Chương 1: Về cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao

- Chương 2: Các dạng thức hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao

- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao

Chương 1:

CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

CỦA NAM CAO 1.1 Vài nét về cuộc đời và con người

1.1.1 Bi kịch “vỡ mộng”

Xuất thân trong một gia đình trung nông, Nam Cao là người có điều kiện học hết bậc thành chung Thời đại mà Nam Cao sống tuy đất nước còn nằm trong vòng nô lệ nhưng với vốn học vấn Tây học, ý thức về cá nhân cá thể đã được thức tỉnh, một lớp người cùng thế hệ đã xuất hiện và khẳng định mình, Nam Cao đã từng mơ ước, khát vọng đi xa để làm nên nghiệp lớn, nhưng do nhiều hoàn cảnh, ước vọng không thành, lại trở về quê với bi kịch “vỡ mộng” - bi kịch của một người “khát bay mà không có chân trời” Dạy học tư, làm văn, làm báo để kiếm sống trong nỗi đau tự thấy “đời thừa”

- là cuộc đời của Nam Cao và cũng là một mảng thế giới nhân vật giàu chất

tự thuật trong sáng tác của nhà văn

Trong các sáng tác về đề tài người trí thức như “Giăng sáng”, “Đời thừa”, “Sống mòn”, “Đôi mắt”… Người đọc sẽ thấy được hình tượng tác giả hóa thân vào từng nhân vật của mình Chính là Điền trong “Giăng sáng”, Hộ trong “Đời thừa”, Thứ trong “Sống mòn”… ôm những ước mơ cháy bỏng về nghề văn, về mộng viễn du, về tư cách đạo đức làm người… Nhưng cuối cùng họ không thực hiện được, thậm chí những bước đi trong cuộc đời hoàn toàn tỉ lệ nghịch với mơ ước và hoài bão của họ Đó chính là

Trang 12

nguyên nhân làm nên bi kịch “vỡ mộng” Bi kịch đó cũng chính là bi kịch của chính cuộc đời nhà văn

Nguyên nhân làm nên bi kịch “vỡ mộng” của nhà văn không chỉ do hoàn cảnh gia đình, bản thân nhà văn mà còn bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội Nam Cao sống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt, những năm

1930 - 1940 là thời kì đen tối nhất của xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp Làng Đại Hoàng, quê hương của nhà văn cũng như bao làng quê khác bị bóc lột thậm tệ, bị bọn cường hào ác bá hoành hành, đục khoét, nhân dân bị đẩy vào tình trạng bần cùng hóa, phá sản không lối thoát Nhiều người phải

bỏ quê hương đi tha phương cầu thực, có người tìm đến cái chết… Tâm trạng bất an của mỗi con người có lẽ càng được tô đậm hơn với những thất bại của các cuộc nổi dậy để chống lại sự áp bức của ngoại bang, và kéo theo nỗi thất bại ấy, hiển nhiên là những vết thương, những cái chết đau đớn Những phong trào yêu nước mở ra đều bị thực dân Pháp khủng bố và bắt

bớ, những người yêu nước đều bị đưa ra đoạn đầu đài, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ với hàng triệu người chết… Bản thân nhà văn có nhiều ước

mơ hoài bão lúc bấy giờ cũng chịu hậu quả của nó bởi trường tư mà ông đang dạy phải đóng cửa Như vậy, trong “hành trang vốn liếng có được”

về nghiệp sáng tác của Nam Cao, không chỉ có vấn đề cái nghèo đói, sự áp bức về mặt vật chất, thể chất mà rõ ràng có sự khủng hoảng đến tận cùng trong đời sống tinh thần con người với một không khí tối tăm, u ám, ngột ngạt Và chúng tôi tin rằng, trước tình thế bi đát của lịch sử, trước thảm trạng thân phận con người, Nam Cao hẳn đã cảm nhận một cách sâu sắc sự bấp bênh của mỗi kiếp người, và đó là những nhận thức mang ý nghĩa triết học, không hề cảm tính Ông cũng sẽ thấy sự bất an, sự thất vọng, tâm trạng chán nản… không còn là tâm trạng của riêng ông mà là một thứ trạng thái tinh thần của cả cộng đồng Tất cả những điều đó in đậm dấu ấn hình tượng

Trang 13

tác giả trong đề tài người trí thức Đó là những cơn đói vật vã, sự sự tha hóa đến tột độ của con người, ở trong đó cũng thấy những văn sĩ, những nhà giáo câm lặng trong sự thui chột của tài năng và khát vọng, những con người sống phấp phỏng bất an trong nỗi cô đơn và kiếp lưu đày Nam Cao

đã cảm thấy được những thân phận đời thừa, thân phận nhỏ bé, những bi kịch cô đơn của con người “vỡ mộng” trong một xã hội đầy những trầm luân, biến loạn lúc bấy giờ

1.1.2 “Cái mặt không chơi được”

Trong nhiều truyện ngắn của mình, không ít lần Nam Cao đã đưa ra những lời tự bạch: “Chẳng may trời phú cho mình cái mặt không chơi được

ấy thì mình phải chịu”; Trong “Những chuyện không muốn viết”, Nam Cao

có tự họa mình một lần nữa:

Tôi sẽ chẳng bao giờ đã động đến tôi - cái tôi đáng ghét… cái tôi rất xoàng Bởi tôi rất xoàng Trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói Như thế còn nghĩ đến cái to tát làm sao được? Nguyện vọng của tôi? Ấy là làm sao cho vợ có tiền đong gạo, mua nước mắm và mua ba xu thuốc chốc đầu của bà lang lùn về cho con Không có mộng Nói như vậy sợ hơi quá quắt Thực

ra tôi cũng có chút mộng văn chương, nhưng cái mộng văn chương ấy cũng hơi…khi khỉ Tôi cũng muốn vừa có sự phụng

sự nghệ thuật lại vừa có thể kiếm tiền nuôi cả nhà Nghĩa là tôi ham viết lắm Nhưng giá thử viết mà không được một đồng xu nhỏ thì tôi cũng ham vừa vừa thôi Cái tôi của tôi sự thật thì nó

bỉ ổi như thế đấy thôi còn nói đến tôi làm gì? [8, tr 102-103]

Đó chính là cái mặt không chơi được, là cái tôi đáng ghét của một

con người có bề ngoài lạnh lùng, ít nói - một đặc điểm nổi bật của con người Nam Cao Qua câu chuyện mà ông viết về cái tôi của mình, rõ ràng

Trang 14

bên cạnh ý thức “tự giới thiệu bản thân”, ông còn tự châm biếm mình một cách tế nhị, và cũng nêu được hoàn cảnh bản thân sống giữa cuộc đời: Nhà văn phải đối mặt với điều kiện cho sự sống lúc bấy giờ luôn thiếu thốn, người cầm bút như ông cứ đau đáu một điều làm sao cho đủ miếng cơm ăn thì sống vì nghệ thuật sao cho cam lòng? Vậy mà khi tiếp xúc với tâm hồn tác giả qua những sáng tác, người đọc lại thấy hiện lên đó không phải là một tâm hồn lạnh lùng vô cảm, một tâm hồn… “không chơi được” mà ngược lại, là một con người luôn nhạy cảm, một trái tim nồng hậu chan chứa yêu thương, nhất là đối với người nông dân nghèo và những thân phận nhỏ bé trong xã hội cũ Qua rất nhiều câu chuyện về những điều nhỏ bé, thầm kín, riêng tư trong sáng tác của mình, Nam Cao đã tự biểu hiện là một con người - nhà văn có nội cảm sâu sắc, luôn soi xét và lục vấn lương tâm, luôn tự thấy mình “có lỗi” để cố gắng hoàn thiện bản thân mình Câu chuyện “Mua nhà” mà tác giả kể lại là một minh chứng tiêu biểu Sau khi

bỏ nhiều công sức ra làm ăn lương thiện, kiếm được một số tiền, mua được căn nhà gỗ mà chủ nhân xấu số của nó là một kẻ cờ bạc phải bán đi để gán

nợ Thế là nơi đây, để một gia đình ấm cúng thì một gia đình khác lại không

có chốn nương thân Tấm lòng của nhân vật “tôi” trong tác phẩm (cũng chính là hình ảnh tác giả) đã quặn đau, ray rứt và cứ tự xỉ vả mình mãi, dù

đã tìm được lí do để tự động viên mình: “Nếu mình không mua thì người

khác cũng mua” nhưng khi nghe một tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ “Mẹ

ơi!” thì “tim tôi động một cái như bước hụt Rồi nó đập loạng choạng Tôi hơi lão đảo” và cái tôi đó tự nói với mình: “Tôi ác quá!, Tôi ác quá! Tôi đã

tự thú với tôi rất nhiều rồi” [8, tr178] Điều ao ước mà nhân vật “tôi” nói thay tác giả cuối câu chuyện là “Giá người ta vẫn có thể nghĩ đến mình mà chẳng thiệt đến ai” [8, tr 179] Viết như vậy không có nghĩa đây đơn thuần chỉ là việc “bán nhà” hay “mua nhà” mà nó còn có tính chất triết lí sâu xa

Trang 15

hơn để thấy được nội tâm của tâm hồn một nhà văn Nam Cao dịu dàng và phong phú: trong truyện là tiếng nói thể hiện sự ước mong cho con người được sống hạnh phúc, được yên bình, đồng thời con người nhà văn luôn thể hiện sự suy ngẫm về vấn đề hạnh phúc giữa cá nhân và xã hội Nam Cao đau đớn vì nhận ra giữa một chế độ người bóc lột người, hạnh phúc của người này được bù vào chính do sự mất mát, tổn thương của kẻ khác Nói như tác giả “ở cảnh như chúng ta bây giờ, hạnh phúc chỉ là chiếc chăn quá hẹp mà người này co thì người kia bị hở” Cái đáng quý của tâm hồn một nhà văn như Nam Cao là biết đau xót trước nỗi đau người khác, nhìn con người với tấm lòng đôn hậu chan chứa yêu thương Từ những câu chuyện vụn vặt hàng ngày mà tác giả ghi lại để thấy rằng Nam Cao là người có trái tim nhân hậu nóng hổi được giấu trong một khuôn mặt “khó ưa, lạnh lùng, không chơi được” Độc giả cũng nhận ra một điều sau những câu chuyện

mà tác giả gửi gắm, thì ra muốn nhìn nhận một con người không phải chỉ nhìn nhận vẻ bề ngoài của họ bởi đôi khi con người nhìn bề ngoài đơn giản, không có gì đặc biệt nhưng bên trong lại là một tiểu vũ trụ thăm thẳm và bao la

Qua những lời tự thuật mà nhà văn mượn lời nhân vật trong tác phẩm

để phát biểu, để nói thay mình, người đọc phần nào hiểu được con người Nam Cao Bề ngoài khó gần, “không chơi được” nhưng trong ông lại là con người chan chứa niềm tin yêu đối với cuộc sống, một trái tim nặng nợ với đời, với quê hương và những người nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong

Trang 16

thai nghén đầy xúc cảm, qua sự suy nghĩ chín chắn về sự thể nghiệm ý thức chính trị xã hội của nhà văn trong đời sống thực tế Trước Cách mạng, mặc

dù điều kiện sáng tác khó khăn nhưng ông vẫn cố gắng thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình dưới nhiều hình thức Văn của ông thường thể hiện hình ảnh con người mang nặng tâm sự u uất, bất đắc chí Đó không phải là tâm sự của một người “Tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà), mà còn là nỗi bi phẫn của một người giàu tâm huyết trong cái xã hội bóp nghẹt sự sống của con người khi đó Song ở Nam Cao không phải vì bất mãn mà có cái nhìn khinh bạc, trái lại, ông có cái nhìn đôn hậu, chan chứa yêu thương đối với con người Chính tình cảm đó là một sức mạnh bên trong giúp nhà văn vượt qua những lối sống thoát li hưởng lạc, tự nguyện tìm đến và trung thành với con đường “nghệ thuật vị nhân sinh” Thời kì 1938 - 1940 là thời

kì Nam Cao còn nặng về khuynh hướng lãng mạn, chưa có ý thức và phương châm rõ rệt trong sáng tác Bước sang thời kì 1940 - 1943, thời kì

mà nhà văn chính thức bước lên văn đàn với tư cách là một nhà văn hiện thực, Tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” đánh dấu thành công đầu tiên của Nam Cao trong sáng tác đồng thời cắm cái mốc quan trọng của trào lưu hiện thực Thời kì 1943 - 1945 là thời kì Nam Cao bắt đầu sinh hoạt trong tổ văn hóa cứu quốc Sự kiện này có ý nghĩa quyết định đối với Nam Cao, xem văn học nghệ thuật là một bộ phận của Cách mạng dân tộc, các nhà văn tiến

bộ thấy mình phải có nhiệm vụ chống lại nguy cơ thống trị của văn hóa phát xít, chống lại những tư tưởng và học thuật của giai cấp tư sản phản động, với những trường phái nghệ thuật suy đồi Tác phẩm của Nam Cao thời kì này là lưỡi dao sắc nhọn rạch vào cơ thể ung nhọt của xã hội cũ, phơi bày thực trạng xấu xa của một chế độ sắp đến ngày sụp đổ Căm thù chế độ thống trị bao nhiêu, Nam Cao lại càng cảm thông và yêu thương những nạn nhân của chế độ đó bấy nhiêu Đó là điểm nổi bật xác định những giá trị của

Trang 17

tác phẩm Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám Nam Cao đã lột tả được những mảnh đời cơ cực, tù túng, bế tắc của nông thôn và thành thị, ông còn

vẽ ra khung cảnh xã hội Việt Nam ở thời kì đen tối nhất dưới chế độ phát xít Nhật Pháp Trong đêm tối dày đặc của chế độ cũ ấy, một số tác phẩm của Nam Cao vẫn ánh lên những tia sáng của một niềm hi vọng vào ngày mới, thể hiện ước mơ và khát vọng một sự thay đổi đưa tới một xã hội ấm

áp, có tình yêu thương và hạnh phúc hơn Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống người nông dân nghèo

và cuộc sống của người trí thức nghèo

Ở đề tài người nông dân, Nam Cao thường quan tâm đến hạng cố cùng, những số phận hẩm hiu, bị ức hiếp nhiều nhất Họ càng hiền lành nhẫn nhục thì càng bị chà đạp đến phũ phàng Ông đặc biệt đi sâu vào những trường hợp con người bị lăng nhục một cách độc ác, bất công mà xét đến cùng chẳng qua chỉ vì họ nghèo đói khốn khổ Tuy giọng văn lắm khi lạnh lạnh lùng nhưng kì thực, Nam Cao đã dứt khoát bênh vực quyền sống

và nhân phẩm của con người bất hạnh, bị đẩy vào tình cảnh nhục nhã đó trong “Chí Phèo”, “Một bữa no”, “Trẻ con không được ăn thịt chó”, “Tư cách mõ”, “Lang Rận”…

Viết về những người nông dân bị lưu manh hóa, nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã nhẫn tâm tàn phá cả thể xác lẫn linh hồn người dân lao động, đồng thời ông vẫn phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện đẹp đẽ ở họ Nam Cao thường chú ý đến những số phận bi thảm Ông không đặt nhân vật của mình trong mối quan hệ xã hội rộng lớn mà chỉ đi vào những vấn đề thuộc quan hệ gia đình nhỏ hẹp diễn ra âm thầm từ những túp lều tăm tối Từ những đơn vị gia đình trong quá trình bần cùng hóa và li tán ấy, ông đã phản ánh được chế độ thực dân trong những ngày cuối cùng

đã bóc lột, vơ vét người lao động để đẩy những người nông dân đi vào vực

Trang 18

thẳm như thế nào, tình trạng người nông dân đơn độc chống chọi với cái đói, với sự khắc nghiệt của xã hội mà tình trạng người bóc lột người diễn ra trước mắt, và khó khăn hơn nữa là chống lại sự tha hóa của chính bản thân mình ra sao? Đó chính là hình tượng con người cô đơn trong mảng đề tài về người nông dân

Ở đề tài về người trí thức tiểu tư sản, những truyện ngắn như “Những truyện không muốn viết”, “Giăng sáng”, “Mua nhà”, “Chuyện tình”, “Quên điều độ”, “Cười”, “Nước mắt”, “Đời thừa” và đặc biệt là tiểu thuyết “Sống mòn”, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thành cảnh nghèo khổ, dở sống dở chết của những nhà văn nghèo, những giáo khổ trường tư… Nhà văn đặc biệt đi sâu vào bi kịch tâm hồn họ, qua đó đặt vấn đề về ý nghĩa xã hội to lớn Đó là những tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của những người có ý thức sâu sắc về giá trị sống và nhân phẩm nhưng lại bị gánh nặng cơm áo và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm cho “chết mòn”, phải sống cuộc sống “đời thừa” Những tác phẩm đó đã phê phán xã hội bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời thể hiện sự tự đấu tranh bên trong của người trí thức tiểu tư sản cố vươn tới một cuộc sống đẹp đẽ, thực

sự có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con người Nếu so sánh chủ đề viết

về nông dân nghèo với chủ đề về người trí thức nghèo thì đề tài về người trí thức có phần thuận lợi hơn với Nam Cao bởi trước hết cuộc sống tiểu tư sản

là cuộc sống của chính tác giả, ngay bản thân tác giả Nam Cao đã có một cái nhìn mạnh dạn, không thỏa hiệp với cuộc sống đương thời, phủ định nếp sống và nếp nghĩ quen thuộc của tầng lớp mình Tầm mắt của Nam Cao ít nhiều đã vượt ra khỏi giới hạn giai cấp, dám nhìn thẳng vào cuộc sống và đi vào nội tâm người tri thức tiểu tư sản để thấy những biểu hiện tốt đẹp về đạo đức của họ Ông nêu lên quá trình đấu tranh day dứt giữa cái thiện và cái ác, đấu tranh chống lại những cám dỗ vật chất trong con người tiểu tư

Trang 19

sản Ở một mức độ cao hơn, Nam Cao đã thấy được tâm trạng điển hình của tầng lớp tiểu tư sản nghèo đang mạnh dạn chống lại sự hoen gỉ của tâm hồn, chống lại nếp sống quen thuộc của một cuộc sống sợ thay đổi và hi vọng vươn tới một xã hội ấm áp hơn, công bằng hơn Và có lẽ trong tất cả các cuộc chiến, theo chúng tôi, cuộc chiến chống lại chính bản thân mình - đấu tranh với chính bản thân mình là cuộc chiến thầm lặng nhưng lại cam go, dai dẳng và đau đớn nhất mà những người trí thức phải trải qua Nỗi cô đơn cũng bắt nguồn chính từ trong những cuộc đấu tranh ấy

Tóm lại, những sáng tác của Nam Cao ở cả hai mảng đề tài trước Cách mạng đưa đến cho người đọc thấy được khung cảnh đen tối nhất của

xã hội Việt Nam thời bấy giờ Đời sống của nông dân ở nông thôn cũng như các tầng lớp trí thức nghèo ở thành thị đều khổ cực về mọi mặt Sau lũy tre làng không phải là những mái rạ nên thơ, những cuộc đời êm ả, bình dị mà

là những kiếp sống đắng cay, cơ cực đang chết dần, chết mòn, chết một cách thê thảm đau đớn Trong những sáng tác của Nam Cao, dù viết về người nông dân hay trí thức, mỗi trang văn của ông đều chan chứa tình yêu thương đối với con người, điều đó cũng xuất phát từ trái tim nhân hậu của một nghệ sỹ đích thực, không cho phép nhìn con người bề ngoài phiến diện

mà phải xem xét đằng sau những biểu hiện tưởng như là khùng điên, lưu manh (như Chí Phèo), có vẻ gàn dở, lẩm cẩm (như Lão Hạc), dù là so đo, tính toán (như Thứ, San, Oanh…) nhưng họ vẫn là người có những phẩm chất tốt đẹp, lương thiện, chân chính mà chỉ con người mới có Chỉ trong nỗi cô đơn họ mới là mình thật sự, mới nhìn thấy được mình đẹp hơn, sống cho phãi nhẽ hơn Suy tư, dằn vặt, trăn trở về cuộc sống, về kiếp người, những trang viết của Nam Cao thường đạt tới một tầm khái quát nhân sinh sâu sắc nên đề tài dù hẹp mà tư tưởng thì lại rộng lớn và thiết thực đối với cuộc sống hôm nay

Trang 20

Sau Cách mạng tháng Tám, ông đón chào sự kiện lớn của lịch sử với tất cả niềm hân hoan của người trí thức đã giác ngộ con đường đi của cách mạng dân tộc Là một nhà văn sớm được sự dẫn đường trực tiếp của Đảng trong những năm trước Cách mạng nên ông đã nhạy cảm và chuyển mình rất nhanh theo những bước đi của thời đại mới Trước đó, chính ông đã thấm thía sự tủi nhục của người dân mất nước, đã sống một cuộc đời “mốc lên, rỉ đi, mục ra” của lối sống quẩn quanh vô vị, đã từng chứng kiến biết bao đau thương uất hận trong cuộc sống nên khi Cách mạng tràn về, Nam Cao không ngần ngại lao mình vào cuộc đấu tranh của quần chúng nhân danachoongs lại kẻ thù xâm lược Ông tự nguyện làm người cán bộ tuyền tryền vô danh của Cách mạng và có ý thức rèn luyện, cải tạo mình trong thực tế kháng chiến “Đôi mắt” (1948) là tác phẩm thành công được xem là

“mốc nhận đường” của chính tác giả và cũng là tác phẩm xuất sắc của văn nghệ kháng chiến chặng đầu khi đó Nhìn vào hình ảnh một tri thức cũ đi tản cư theo kháng chiến nhưng vẫn giữ nguyên lối sống trưởng giả, nhởn nhơ với đôi mắt khinh bạc tệ hại với quần chúng, hình ảnh thật lạc lõng lúc bấy giờ, người trí thức đi theo Cách mạng càng thêm dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sống cũ và quyết tâm “cách mạng hóa quần chúng, tư tưởng hóa sinh hoạt”, trở thành chiến sỹ trên mặt trận văn hóa Thiên tùy bút

“Đường vô nam” là lời reo vui đầy nhiệt tình trước nhiệm vụ cách mạng;

“Nhật kí ở rừng” (1948) viết trong thời kì nhà văn công tác ở vùng rừng sâu Bắc Cạn và tập kí sự “Chuyện biên giới” (1950) viết khi ông đi chiến dịch Cao - Lạng, đều là những giá trị của nền văn xuôi cách mạng còn non trẻ lúc bấy giờ đồng thời đó cũng là một trong những viên gạch đầu tiên góp phần xây dựng nền văn học mới Nhà văn hi sinh giữa lúc tư tưởng và tài năng đang độ phát triển chín muồi nhất, hứa hẹn những sáng tác có tầm vóc mới

Trang 21

Những sáng tác của Nam Cao trong thời kì kháng chiến đã phản ánh được những nét sinh hoạt của nhân dân trong chiến đấu và sản xuất phần nào đã nêu lên được hình ảnh người chiến sỹ, người công dân ngoài mặt trận Trong các sáng tác sau Cách mạng của Nam Cao, con người nhà văn thống nhất với con người cuộc đời Ý thức trách nhiệm đối với ngòi bút của ông ngày càng rõ rệt hơn Ông đã vẽ lên được những nét khá tiêu biểu của quần chúng công nông binh đang hăng hái đóng góp, hi sinh cho kháng chiến

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật

Trước Nam Cao, các nhà văn cũng đã thể hiện quan điểm nghệ thuật của mình nhưng còn riêng lẻ, chưa thành một hệ thống Chỉ đến Nam Cao thì ý thức nghệ thuật của ông mới trở thành một hệ thống quan niệm hoàn chỉnh Từ quan niệm về văn học đến quan niệm về đánh giá tác phẩm, quan niệm về nghề nghiệp của nhà văn Đồng thời ông đã thể hiện hệ thống quan niệm ấy bằng một thế giới nghệ thuật hết sức sinh động, độc đáo qua những nhân vật - hình tượng điển hình

1.2.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

Con người là đối tượng hàng đầu của văn chương, là trung tâm chú ý của nhà văn Điều này đã thành nguyên lí có tính phổ quát, không cần phải bàn cãi Khác biệt chăng là ở cách hiểu, cách vận dụng nguyên lí, nhận thức khác nhau sẽ đưa tới cách giải quyết vấn đề khác nhau Và nếu ai nhận thức sâu sắc hơn sẽ đưa đến những trang văn toàn bích hơn bởi suy cho cùng văn học dù viết về cái gì, có ý nghĩa như thế nào cũng đều hướng đến con người Như vậy, ai có quan niệm sâu sắc hơn ắt sẽ được chú ý nhiều hơn và

sẽ thành công hơn trong nghiệp viết văn

Quan niệm nghệ thuật về con người hướng người ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, biểu hiện trong cấu trúc

Trang 22

của tác phẩm văn học Nó là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả con người trong văn học Nó cũng là sản phẩm của văn hóa tư tưởng, và là sự

khám phá về con người mang dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ

Trong các sáng tác của mình, Nam Cao luôn chú ý đến những số phận phải gánh chịu những bi kịch đau đớn của tâm hồn, họ có thể là những con người bị xúc phạm đến thô bạo về nhân phẩm, về tư cách đạo đức… dẫn đến việc hủy hoại nhân tính, biến dạng nhân cách, có lúc cuộc sống áo cơm đẩy đến chỗ bất lực, đầu hàng hoàn cảnh, phải biến ước mơ của mình thành những giọt nước mắt đầy sự thương xót… Nam Cao luôn đau đáu một vấn đề về nhân cách con người trước nguy cơ bị hủy hoại Những khát vọng, mong ước cống hiến sức lực, tài năng của những người trí thức chân chính đã không được thỏa mãn, khát vọng được quay về cuộc sống lương thiện như bao nhiêu người khác mà không được đáp ứng Chứng kiến những nỗi đau ấy, Nam Cao tìm cách lí giải và phân tích nguyên do… Điều thú vị hơn hết là con người trong sáng tác Nam Cao dù vẫn lâm vào bế tắc

họ vẫn luôn tìm cách hành động cải tạo, thay đổi hoàn cảnh để cứu vãn lương tri, nhân phẩm của mình Cách nhìn con người nhân đạo tích cực ấy

đã quy định cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông Nam Cao cũng là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lí bậc thầy và luôn hứng thú khám phá

“con người trong con người” Đối với ông, từ những trang sách đi ra là những con người phức tạp đa chiều, không có con người hoàn toàn thánh thiện, cũng không có con người hoàn toàn xấu xa, con người trong quan niệm của Nam Cao là con người hiện diện với tất cả các mặt đối lập: Vừa đẹp đẽ vừa xấu xa, vừa cao thượng vừa tầm thường nhỏ nhen, vừa nhân đạo vừa độc ác, vừa đáng khinh vừa đáng trọng Đó là những tâm hồn không đoán định trước những bước đi, diễn biến của hành động để thể hiện nhân cách: Một Chí Phèo là quỷ dữ bất cần đời nhưng cũng là một Chí Phèo

Trang 23

“hiền như đất” và khát khao lương thiện, thậm chí chọn cái chết để được lương thiện; Một anh giáo Thứ có tâm hồn thanh cao nhưng cũng có lúc lại

là một người nhỏ nhen ích kỉ và hành động rất lỗ mãng; Một nhà văn Hộ có những suy nghĩ và hành động rất cao cả nhưng cũng có lúc cũng rất tàn nhẫn và tầm thường…

Thường trực trong sáng tác của Nam Cao, người đọc luôn bắt gặp những con người với những khắc khoải khôn nguôi về ngày mai, cho dù ở mảng sáng tác nào Nếu là người nông dân như Chí Phèo, Lão Hạc thì nỗi khắc khoải ấy có thể nói là bình dị những cũng hết sức lớn lao: Làm sao để sống mà vẫn giữ vẹn nguyên được chất người cao cả? Họ đã chọn cái chết

để giữ gìn phẩm hạnh (lão Hạc), hay đã mất phẩm hạnh rồi nhưng vẫn chọn cái chết để giữ gìn khát khao được phẩm hạnh trở lại (Chí Phèo); Còn những người trí thức như Hộ, Thứ, Điền… thì lại băn khoăn được làm gì đó lớn hơn thế, không chỉ cho bản thân mình mà cho cả toàn nhân loại (Hộ thì khao khát sẽ sáng tác được những tác phẩm thật giá trị để “ca ngợi tình thương, lòng bác ái và sự công bình, sẽ làm cho người gần người hơn”, còn Thứ thì lại khao khát “mỗi một con người khi mất đi là phải để lại chút gì cho nhân loại”…)

Nhưng cuối cùng, nhân vật của Nam Cao hầu như đều có một điểm chung: Họ đều rơi vào vực thẳm của sự bất lực, họ đau đớn khắc khoải khôn nguôi khi cố vẫy vùng để thoát khỏi vũng lầy đen tối của xã hội Điều đáng quý là tất cả những nhân vật của Nam Cao đều biết vượt qua những ranh giới của sự tha hóa, hay đứng trong tha hóa mà vẫn luôn hướng về những cái cao cả thuộc phạm trù con người, tiếp tục chống chọi với cơn bão cuộc đời để giữ gìn chất người mà tạo hóa đã ưu ái hay nói đúng hơn là giao phó cho họ Dưới ngòi bút của ông, những con người hiện lên thật chân thực với những hoàn cảnh thử thách chất người khốc liệt nhưng cuối cùng

Trang 24

chất người vẫn chiến thắng hết thảy để nhân vật trong sáng tác Nam Cao lấp lánh một vẻ đẹp đáng trân trọng nhất, đó là vẻ đẹp mang ý nghĩa nhân văn Quả đúng như Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh từng nhận xét: “Trong tác phẩm Nam Cao, con người sống trong một xã hội thật dữ dằn, cay nghiệt, hoàn cảnh như muốn nghiền nát con người đi, nhưng con người vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống, để bộc lộ tính cách, để làm người Cuộc đấu tranh khi quyết liệt, khi âm thầm của con người với hoàn cảnh và với chính bản thân mình để tìm lối ra, để vươn tới ánh sáng, giữ gìn các giá trị nhân bản ngay trong những hoàn cảnh sống tưởng như không thể nào chịu đựng nỗi…” [54, tr 28] Trang sách của Nam Cao có chiều sâu nhân bản, có sức hút lâu bền đối với người đọc chính nhờ kim chỉ nam trong sáng tác là quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh (nghệ thuật phải viết về con người

và hướng đến những điều tốt đẹp của con người) Hướng đến những điều tốt đẹp đó, chắc hẳn yếu tố đầu tiên là khát vọng, suy tư ở họ, là những khoảnh khắc rất riêng tư, những khao khát rất thầm kín khó có thể tỏ bày Hơn ai hết, nhà văn sẽ cảm thông, sẽ thấu hiểu họ Và có lẽ điều cần cảm thông nhất, cần thấu hiểu nhất là cảm giác cô đơn, khi người ta thấy lạc lõng và chơi vơi nhất… Đó là dấu ấn của hình tượng con người cô đơn

Khi xây dựng hình tượng nhân vật con người cô đơn trong sáng tác của mình, tác giả đã vận dụng lối tả chân trong văn học Đó không phải chỉ chân thực khi phản ánh xã hội mà còn là chân thực khi khám phá thế giới nội tâm nhân vật Bởi vậy, dù ông xuất hiện sau các nhà văn đã nổi tiếng khác và hầu như các đề tài đã được các nhà văn khác đề cập Ví như ở mảng thành thị đã có cây bút xuất sắc Vũ Trọng Phụng; Chốn quan trường đã có Nguyễn Công Hoan; Về người nông dân đã có Ngô Tất Tố với hình tượng Chị Dậu sừng sững; về người trí thức đã có Tản Đà, Thạch Lam… Nhưng Nam Cao vẫn chọn cho mình một lối đi rất sáng tạo mà trước đó chưa có:

Trang 25

Trong mảng sáng tác về người nông dân, ông vẫn tập trung những vấn đề bức xúc nhất như cái đói, miếng ăn, sự áp bức bóc lột tàn tệ của giai cấp thống trị… Thế nhưng, ngòi bút Nam Cao đã xoáy sâu vào vấn đề nhân phẩm - nhân cách, cảnh báo nguy cơ con người bị tha hóa Và tha hóa ở đây không chỉ do hoàn cảnh xã hội gây nên nữa mà còn do người ta tự làm mình tha hóa, từ yếu tố tha hóa đó để tạo nên sự khác biệt, dựng lên hàng rào ngăn cách giữa nhân vật với cộng đồng và vì thế mà nhân vật trong văn học của Nam Cao mang nặng cảm giác cô đơn

Trong đề tài về người trí thức, vẫn miêu tả chân thực cái đói, hoàn cảnh khắc nghiệt của xã hội bóp nghẹt những mơ ước và làm thui chột đi những tài năng của người trí thức… Nhưng cao hơn cả điều ấy, Nam Cao lại đi vào khám phá miêu tả nỗi khổ hơn hết thảy những vấn đề mà con người phải khổ: Đó là sự giằng xé nội tâm ở những người trí thức nghèo, tạo nên kiểu con người cô đơn trong trào lưu văn học hiện thực phê phán lúc bấy giờ

Hai kiểu nhân vật với hai mảng đề tài nổi bật của Nam Cao có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tao nên tính trí tuệ và trữ tình, chiến đấu và nhân văn trong sáng tác của Nam Cao Những điều đó là minh chứng để nói rằng chỉ đến Nam Cao, chủ nghĩa hiện thực nước ta mới đi đến giai đoạn tự giác, chỉ đến Nam Cao thì vấn đề con người trong trào lưu văn học hiện thực mới được bóc tách để thấy được vượt qua những vấn đề cần thiết nhất trong cuộc sống như cái ăn cái mặc để tồn tại, ngòi bút Nam Cao hướng đến một chiều sâu nhân bản hơn đó là nhân cách, là tâm hồn, là khát vọng, những rung động, những trạng thái tâm lí rất con người

Từ việc xây dựng, khắc họa và diễn biến cuộc đời nhân vật để kết luận rằng, trong quan niệm nghệ thuật về con người, Nam Cao đã sâu sắc và

có cái nhìn tiến bộ hơn các nhà văn khác cùng thời như Ngô Tất Tố,

Trang 26

Nguyễn Công Hoan, tức là không nhìn con người theo quan niệm truyền thống một chiều (hoặc là hoàn toàn tốt đẹp, hoặc là hoàn toàn xấu xa) mà Nam Cao còn có cái nhìn đa chiều, phức tạp hơn để mở đường cho các nhà văn sau này bước tiếp: không có con người hoàn toàn xấu xa, cũng không

có con người hoàn toàn đẹp không tì vết Đã là con người thật sự thì phải có những yếu tố trên đan xen lẫn nhau và điều quan trọng là các nhân vật của Nam Cao đều biết vượt lên chính mình để đến với phần tốt đẹp nhất thuộc

về Con Người Vì vậy, trong sự nhìn nhận - đánh giá về con người, Nam Cao là một nhà văn không quá kì vọng nhưng cũng không mất hẳn niềm tin vào con người

1.2.2.2 Quan niệm về tác phẩm văn chương

Nam Cao bước vào làng văn từ năm 1936, lúc ông mới 19 tuổi Lận đận trong cuộc đời và văn chương, với những truyện ngắn đầu tay nhuốm màu sắc lãng mạn, nhiều lúc Nam Cao nghi ngờ khả năng của chính mình bởi những sáng tác đầu tay đã diễn tả những thứ tình cảm “rất nhẹ và rất nông” của một giọng văn “quá ư là bằng phẳng và dễ dãi”, người ta đọc để rồi “quên ngay sau lúc đọc” (Đời thừa) Nhưng không dừng lại lâu ở đó, ông đã quay về với hiện thực đầy bụi bặm chông gai, hiện thực của những người lao khổ, hiện thực của “những kiếp lầm than” để “mở hồn ra đón lấy những vang động của đời” (Giăng sáng) Khi nghiên cứu về những chặng đường phát triển, về chủ nghĩa hiện thực trong văn Nam Cao, chúng tôi thấy được sự chuyển biến trong ngòi bút của ông từ xu hướng nghệ thuật lãng mạn đến hiện thực là cả một quá trình phấn đấu gian khổ nhưng dứt khoát

để xác định cho mình một quan điểm sống và viết đúng đắn Để có những chuyển biến như thế, ngòi bút Nam Cao đã trải qua không ít những lần trở

dạ đầy băn khoăn và dằn vặt Chỉ đến khi “Chí Phèo” và tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” ra đời năm 1941, Nam Cao dường như mới bắt mạch được cái

Trang 27

"tạng" của riêng mình Theo mạch đó, ông liên tục cho ra mắt một loạt truyện ngắn và cả tiểu thuyết đặc sắc trong vòng ba năm, từ 1942 đến 1945 Như vậy là, phải mất gần năm năm Nam Cao mới “cập bến” chủ nghĩa hiện thực So với các nhà văn hiện thực tiền bối xuất sắc như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố thì quá trình “tìm đường” và “nhận đường” ở Nam Cao diễn ra liên tục và vất vả hơn nhiều Tuy nhiên, nhờ thế

mà giai đoạn sáng tác sung mãn nhất của đời văn Nam Cao luôn có sự đồng hành của hệ thống các quan điểm nghệ thuật hiện thực, không ở bên ngoài hay phía trước để “dẫn đường” mà hóa thân trong chính những hình tượng nhân vật sống động của từng tác phẩm Truyện ngắn “Giăng sáng” đã thể hiện sinh động tâm trạng đấu tranh day dứt của một nhà văn giữa hai con đường: mơ mộng và thực tế, lãng mạn và hiện thực, để khẳng định sức mạnh của văn học nghệ thuật chính là bắt nguồn từ đời sống và phục vụ đời sống Giá trị đích thực của một tác phẩm văn chương theo Nam Cao không phải là những cái mơ mộng hão huyền như ánh trăng xanh lừa dối che lấp đi

“bao số phận quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình” mà nghệ thuật đích thực cũng có thể chỉ là “tiếng đau khổ kia thoát

ra từ những kiếp lầm than” “Giăng sáng” có giá trị như là một bản tuyên ngôn nghệ thuật đánh dấu bước chuyển biến trong nhận thức tư tưởng cũng

như quan điểm về giá trị của một tác phẩm nghệ thuật ở Nam Cao

Khi đã định hình được con đường đi của nghệ thuật là sự gai góc của chủ nghĩa hiện thực, Nam Cao lại trăn trở băn khoăn về giá trị đích thực của một tác phẩm văn chương Phải viết làm sao, viết như thế nào, viết về điều

gì để được một tác phẩm có giá trị? Có lẽ đối với mỗi người cầm bút, đây là vấn đề băn khoăn nhất, là vấn đề sống còn cho mỗi tác phẩm Cùng thời, Thạch Lam cũng có nhiều băn khoăn về giá trị của tác phẩm văn chương nhưng cuối cùng cũng chỉ ra được: “Đối với tôi văn chương không phải là

Trang 28

một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” Nam Cao cũng vậy, nhân vật chính trong “Đời thừa” là văn sĩ Hộ trả lời cho đọc giả theo tinh thần chính của nhà văn: đã là một tác phẩm văn chương có giá trị thật sự khi và chỉ khi tác phẩm đó “vượt lên bên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… nó làm cho người gần người hơn” [18, tr 148 - 149]

Tóm lại, khi bày tỏ quan điểm về giá trị của một tác phẩm văn học, Nam Cao đã bày tỏ được khát khao thể hiện được tài năng và sự thành tâm trong nghiệp cầm bút Đó là mơ ước viết được một tác phẩm để “Người gần người hơn” Đó cũng chính là khát khao muôn đời của một nghệ sỹ có trái tim nhân hậu nồng nàn suy tư về những số kiếp con người như Nam Cao Theo ông, giá trị của một con người thật sự nằm ở tình yêu thương đồng loại Mà đã là một tác phẩm văn chương thì phải chuyển tải được vấn đề này Trong toàn bộ văn phẩm của Nam Cao, người ta cũng thấy được một cảm hứng chủ đạo nhất quán đó là niềm khát khao cháy bỏng cho con người được sống như một con người thực thụ, sống chan hòa và được phát triển đến tận độ khả năng tiềm ẩn trong mình Đó chính là thiên chức, là giá trị thật sự của tác phẩm văn chương mà Nam Cao luôn khát vọng đạt đến trong cuộc đời cầm bút

1.2.2.3 Quan niệm về vai trò, trách nhiệm của nhà văn

Là một nhà văn đầy trách nhiệm đối với cuộc sống nên Nam Cao luôn trăn trở về vai trò, trách nhiệm của người cầm bút Điều này đã trở thành những vấn đề day dứt trên mỗi trang viết của ông Thực ra, khi bàn về

Trang 29

văn chương nghệ thuật, Nam Cao không nói, không lí luận suông mà bằng những chất liệu sáng tác từ chính bản thân mình, các nhân vật của ông lên tiếng nói, bàn luận tranh cãi và tự bộc lộ ý kiến cá nhân về vai trò của chủ thể sáng tạo, đối tượng phản ánh của người nghệ sĩ… cho đến nay, nó vẫn

mãi còn nguyên giá trị và được cập nhật

Theo tác giả, một nhà văn chân chính trước tiên phải là một con người “sống đẹp”, tức là không chỉ sống ích kỉ cho bản thân mình mà phải nghĩ tới người khác, sống cho người khác Có như vậy họ mới có những lí tưởng đúng đắn để thể hiện sứ mệnh của mình trên mỗi trang viết Điền trong tác phẩm “Giăng sáng” là một minh chứng tiêu biểu Anh ta nhà văn tương đối mơ mộng: Thích ngắm một vầng trăng đẹp, mơ tưởng “một mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt” Vì vậy, nhiều lúc Điền định bỏ vợ con để đi tìm một nơi yên tĩnh mà viết: “Điền phải đi Đi

để giữ cho lòng mình tươi lâu Điền sẽ làm bất cứ cái gì đó để có ăn Rồi Điền bình tĩnh viết Có như vậy Điền mới ra hồn được Lời phải đẹp, ý phải thanh cao Ngọn bút của Điền mới khơi nguồn cho những tình cảm đầy thơ mộng Nghệ thuật chính là ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp đến cả cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa” [8, tr 132 - 133] Vậy mà khi nghe tiếng vợ gắt gỏng, tiếng con gái khóc vì không có tiền mua thuốc thì “Vụt cái, Điền không thể nào đi được, Điền không thể sung sướng được khi vợ con Điền khổ, Điền không thể đi tìm hạnh phúc ích kỉ cho bản thân mình” Thế là Điền cứ mở hồn ra đón lấy những vang động của đời, cứ ngồi viết giữa tiếng vợ gắt, tiếng con khóc, tiếng người ta léo xéo đòi nợ ngoài cổng Chính nhờ trách nhiệm làm người này mà văn chương của Điền mới “gần được người hơn” Tức là nó không thoát li mà hoàn toàn bám víu lấy cuộc đời, vào hiện thực cuộc sống Hộ trong Đời thừa cũng như Điền, đôi lúc cũng muốn vứt bỏ tất cả để ôm mộng văn chương, muốn “dẫm lên vai

Trang 30

người khác”, muốn “sống ác để mạnh mẽ hơn”, nhưng cuối cùng Hộ cũng không thể nào thực hiện được vì anh nhận ra rằng “kẻ mạnh không phải là

kẻ dẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ, kẻ mạnh là kẻ biết nâng

đỡ người khác trên đôi vai của mình” Cho nên, qua những nhân vật như Điền, như Hộ… Nam Cao khẳng định rằng, muốn là nhà văn có lương tâm trách nhiệm thì trước tiên anh phải là một con người có lương tâm trách nhiệm với con người, với cuộc sống và những gì đang diễn ra xung quanh mình

Thứ hai, trách nhiệm của một người cầm bút là phải nghiêm khắc với chính bản thân mình, với ngòi bút của mình Đã là nhà văn, anh không thể xuề xòa, cẩu thả mà phải là người luôn đổi mới, luôn tìm tòi và không ngừng sáng tạo, không được dẫm lên những lối mòn cho sẵn mà anh phải là người biết “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Với Nam Cao, nghề văn cần nhất là tiềm năng sáng tạo Nhà văn chân chính nhất thiết không phải là một “người thợ”, dù có là người thợ khéo tay đi chăng nữa Do đó, đi theo lối mòn, rập khuôn, xơ cứng, theo Nam Cao, là điều tối kị đối với người nghệ sĩ Cạn nguồn sáng tạo, văn chương chỉ còn

là thứ sản phẩm “rất nhẹ”, “rất nông”, “vô vị”, “nhạt phèo” - như suy nghĩ của nhân vật nhà văn Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa” Hộ cho rằng: “Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” Do vậy, để

có thể “đem một chút mới lạ gì đến văn chương” thì không thể thỏa hiệp được “thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi” Phải sáng tạo cái mới, và đạt tới mức sâu sắc Song cái mới tuyệt nhiên không phải là cái lạ lẫm, cái lập

dị, tồn tại thuần túy tự thân mà phải vì con người, vì sự thật, vì thiên chức cao quý của nghệ thuật

Trang 31

Trong “Những truyện không muốn viết”, nhân vật của Nam Cao kể rằng, mình đã bị bạn thân trách là “đổ đốn”, “dơ dáng” vì “đem chuyện hắn

ra mà viết”, song Nam Cao là người trong cuộc nên thấm thía những chuyện không muốn viết ấy “bao giờ nghe cũng buồn” Vì sao? Nhân vật Điền trong “Giăng sáng” phát biểu: “Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta”, và để giảm đi sự héo tàn tính người trong con người bớt đi giữa cuộc đời thì “nghệ thuật không cần phải là áng trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối”, Nam Cao không đối lập mình với văn chương lãng mạn đang nở rộ lúc bấy giờ, song nếu lãng mạn và kiểu cách tới mức gieo vào đầu người ta “đầm đìa thuốc phiện” giữa lúc cuộc sống của những số phận “thấp cổ bé miệng” chứa chất bao điều khốn khổ, thì ông nhất quyết không đồng tình Nam Cao cho rằng người cầm bút là phải trung thực, có trung thực thì mới cho ra đời được sản phẩm văn chương “thoát thai từ những kiếp lầm than” Nếu nhà văn chối bỏ điều này,

tự dối mình dối người, thoát li cuộc sống thực tại thì với ông, đó chỉ là thứ văn chương nhạt nhẽo, vô duyên, của một kẻ dối trá, lừa mị Trong tác

phẩm “Giăng sáng”, Nam Cao đối sánh biểu tượng lãng mạn của ánh trăng

với thực tế khách quan của nhân sinh để khẳng định chân lý, lý tưởng của cái đẹp nằm ngay ở chính sự thật cuộc đời mà nhà văn chân chính phải biết đón nhận: “Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng, trong trẻo và bình tĩnh Nhưng trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình!” Đó là sự đối sánh cái bên ngoài và cái bên trong, cái hiện tượng và cái bản chất, cái nội dung và cái hình thức Nhân vật Hộ trong

“Đời thừa” đã từng dỏng dạc tuyên bố: “Sự cẩu thả trong nghề gì cũng là bất lương rồi, nhưng cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện”… Nhưng

vì hoàn cảnh, Hộ đã vi phạm nguyên tắc trong sáng tác của mình cho nên

Trang 32

anh đã có những phút nhìn lại mình đầy đau đớn, ê chề: Hộ đã đỏ mặt, vò nát sách và tự mắng mình là kẻ khốn nạn, là kẻ đã hỏng hóc về tâm hồn và đáng vứt đi, không thể là một nhà văn chân chính được

Thứ ba, đã là một nhà văn thì người đó phải không ngừng nỗ lực, không ngừng khao khát viết những tác phẩm để thay mọi người nói lên tiếng nói chung, để tác phẩm của mình bay cao, bay xa mang tầm vóc nhân loại Thiên chức của nhà văn, theo ông là phải nói cho được, cho rõ sự thật đang tàn phá nhân thể, nhân tính con người, nhà văn là người phải đóng vai trò tiên phong, là chiếc cầu kết nối con người với con người, phải làm cho

“người gần người hơn” Nhờ quan niệm về vai trò, trách nhệm của một nhà văn nên thế giới nghệ thuật trong sáng tác Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám luôn đứng vững trên mảnh đất điển hình hóa, coi trọng độ trung thực, chính xác của những chi tiết cụ thể, mang sắc thái cá tính độc đáo trong mô

tả con người và cuộc sống vốn là những nguyên tắc mỹ học bao trùm của chủ nghĩa hiện thực

Cuối cùng, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Nam Cao lên Việt Bắc, tự chiêm nghiệm và trải nghiệm “đôi mắt nghệ thuật” của mình

từ khói lửa của cuộc chiến tranh, lòng không nguôi nghĩ suy về tư cách

“con dân nước Việt”, về trách nhiệm của nhà văn và văn chương trước vận mệnh của dân tộc Tự nhìn nhận cho đúng về mình cũng là để nhìn người cho chân thực, tự soi mình và để tiếp cận cuộc sống, sự thật Trong “Nhật

ký ở rừng”, Nam Cao chân thành tâm sự: “Nhiều khi phải biết quên mình

đi Quên cái tên tuổi của mình, nếu muốn thành người có ích Có cần gì phải cầy cục ghi tên mình lại cho lịch sử? Tạo ra lịch sử là một việc làm lớn lao hơn Nhưng tạo ra lịch sử lại là sự nghiệp của số đông Ta nên nghĩ đến cái số đông nhiều hơn ta” Trước gian khổ và hy sinh lớn lao của cuộc chiến tranh vệ quốc, mỗi người cần “biết hy sinh, biết chiến đấu, chiến đấu

Trang 33

lặng lẽ, chiến đấu không nghĩ gì đến tên mình, không nghĩ đến cả thân mình nữa” Cho nên, Nam Cao luôn đặt công việc làm văn của mình bên cạnh công việc của những người đi kháng chiến nhằm tìm ra cái ý vị văn chương mà cuộc sống đang cần Ông không giấu giếm sự thật là trong ông tồn tại cả hai ý nghĩ về công việc làm văn Một mặt, “vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ cũ trong người tôi vùng dậy”, mặt khác, ông tự chất vấn mình: “Sao tôi lại không thể dằn cái ý muốn kiêu căng của tôi xuống, để góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn”, tức là tham gia vào công tác tuyên truyền, động viên toàn dân kháng chiến cứu nước Ý thức ấy được Nam Cao nâng lên thành quan điểm lý luận có tính chất định hướng hoạt động sáng tạo của mình

Những ý tưởng, quan điểm của Nam Cao về nghề văn và lao động sáng tạo nghệ thuật, trước cũng như sau Cách mạng tháng Tám đều cho thấy ông luôn “nhập cuộc” văn chương bằng một cái tâm trong sáng, trung thực, đầy nhiệt huyết Khởi nguồn từ cội rễ nhân văn ấy, tác phẩm của Nam Cao luôn cắm rễ sâu xa, gắn bó thắm thiết với mảnh đất hiện thực, luôn sáng lên những suy tưởng lớn bởi sự khám phá chiều sâu số phận con người và cuộc đời ngay trong những cái hàng ngày ấm nồng hơi thở sự sống Cội rễ ấy đã nuôi dưỡng và phát lộ tài năng văn chương xuất chúng của ông, đưa ông trở thành một nhà nhân đạo lớn, một nhà văn hiện thực bậc thầy

Chương 2

CÁC DẠNG THỨC HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI CÔ ĐƠN

Trang 34

TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO 2.1 Khái niệm cô đơn và con người cô đơn

2.1.1 Khái niệm cô đơn

Theo Từ điển Tiếng Việt: “cô đơn” được hiểu là “chỉ có một mình,

không biết nương tựa vào đâu” [Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng, 1997,

tr 196]

Theo Henri Benac trong Dẫn giải ý tưởng văn chương: “Thuật ngữ

cô đơn chỉ: Hoặc một nơi hiu quạnh; Hoặc những tác động của nơi ấy, nghĩa là trạng thái của người sống một mình hay người cảm thấy duy chỉ có một mình với chính mình trong một khung cảnh nào đó (khung cảnh thiên nhiên, căn buồng, thành phố, xã hội của những con người)… Với những đặc trưng: Cô đơn thể xác và cô đơn về tinh thần”… [Nxb Giáo dục, tr 797 - 798]

Theo từ điển triết học, cô đơn thuộc về vô thức, tức cô đơn tồn tại như bản năng con người, “tập trung những ý, hướng, những động cơ, những ham muốn vĩnh viễn và bất biến mà ý nghĩa của chúng được quyết định bởi bản năng, còn ý thức của chúng thì không thể biết được”; Các Mác nói rằng

“bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, khi tổng hòa đó bị phá vỡ, mối quan hệ nào đó bị đứt gãy, là có thể xuất hiện trạng thái cô đơn Như vậy có thể hiểu cô đơn là trạng thái tâm lí của con người Con người cô đơn vì cảm thấy lẻ loi, đơn độc khi rơi vào hoàn cảnh bị cắt đứt sợi dây liên

hệ với cộng đồng

Khi nói về vấn đề cô đơn, người ta thường đánh giá ở nhiều cấp độ khác nhau Ở góc độ cô đơn bản thể, mỗi con người là một cái tôi cá nhân riêng tư, cho nên người ta thấy tự cô đơn, sinh ra là thấy cô đơn mà không biết vì sao Con người như một bản thể duy nhất, “một tiểu vũ trụ riêng tư không lặp lại bao giờ” (Eptusenko), cái cô đơn gắn liền với con người như

Trang 35

một định mệnh Nhưng có một nghịch lí là xưa nay, càng trốn chạy cô đơn, con người lại càng phải đối mặt với nó một cách dai dẳng Cô đơn không phải đến từ áp lực của xã hội bên ngoài mà còn về ý thức cá tính của mỗi

người Nghĩa là có hai dạng thức phổ biến của sự cô đơn: Tự cô đơn và bị

cô đơn, tự cô đơn là một lựa chọn bản lĩnh và quyết liệt, còn bị cô đơn lại là

một hình phạt Cả hai đều nhuốm sắc thái bi kịch

2.1.2 Khái niệm con người cô đơn

Nhìn từ góc độ triết học, cô đơn thuộc về vô thức, nó tồn tại như một bản năng của con người nhưng lại có liên quan sâu xa đến quá trình nhận thức Khi nhận thức được cuộc sống là hữu hạn, vũ trụ là mênh mông - vô thường mà bản chất của con người là sự vận động, không ngừng vượt lên trên giới hạn của chính nó Bị đóng khung trong những giới hạn, con người luôn khao khát vượt qua để có khả năng tự ý thức, tự chiêm nghiệm cuộc đời, khao khát được vượt qua giới hạn để làm chủ và cải tạo thế giới Nhưng con người là một thực thể phức tạp, đầy bí ẩn Mỗi người lại ở trong những giới hạn khác nhau, nên khao khát của họ rất khác nhau và đôi khi họ cũng không thể hiểu hết chính mình Nói như thi sĩ Xuân Diệu: “Linh hồn

ta còn u uẩn hơn đêm/ Ta chưa thấu nữa là ai thấu rõ” (Xa cách) Con đường đi tìm nhân cách để vươn tới sự hoàn hảo của mỗi người cũng không giống nhau, những bất ngờ sóng gió cuộc đời đôi khi sẽ làm cho ý chí - khát vọng sáng tạo của họ trở nên vô nghĩa, những thất bại trong đường đời của họ không phải bao giờ cũng được sẻ chia Vì thế mà con người cô đơn

Trong đời sống cộng đồng, con người có cảm giác bị cô đơn nhất chính là khi không ai thấu hiểu và chia sẻ được với nhau Khi con người không thuộc về một nơi chốn hay một người nào cả Khi bị cô đơn, con người thường lao vào đám đông để thấy mình không lẻ, thường cười nói

Trang 36

đến tận cùng vẻ hân hoan để thấy mình không bị bỏ quên Nhưng nhiều khi, ngay giữa đám đông và tiếng cười ấy người ta mới thấm sự cô đơn dâng đến tột cùng Con người ai cũng vậy, họ rất sợ cảm giác bị bỏ rơi, lạc lõng giữa cộng đồng, thậm chí ở giữa đám đông vẫn thấy mình lẻ loi Như vậy, đâu chỉ khi một mình mới thấy mình đơn độc Đơn độc nhất là khi thấy tâm hồn mình chẳng neo, chẳng thuộc về đâu, về ai trong thế giới bao la này Đó là

cô đơn mang tính xã hội học

Cách diễn đạt “Xã hội học của sự cô đơn” mang tính mâu thuẫn logic, bởi vì ở đâu có cộng đồng, không thể nói đến cô đơn, và nơi có sự cô đơn, không thể nói về cộng đồng Nhưng trong thực tế, con người phải trải qua trạng thái mâu thuẫn này Xã hội ngày càng hiện đại thì con người ngày càng cô đơn bởi vì dưới bề mặt của một khu vực phồn thịnh kinh tế, xã hội không còn là một kết hợp của các đơn vị gia đình, họ hàng, bạn bè nữa mà

là một tập hợp lỏng lẻo của những cá nhân luôn tìm cách xô đẩy những cá nhân khác ra xa để dành chỗ đứng cho chính mình Đến thời điểm mà mỗi con người chỉ còn biết nghĩ đến mình thì lúc ấy, con người sẽ là những sinh vật cô đơn nhất trên hành tinh Cô đơn không phải là cách biệt bên ngoài, nhưng là cách biệt trong chính lòng người Càng gần nhau mà vẫn cách biệt thì nỗi cô đơn càng cay nghiệt Đã cay nghiệt mà phải gần nhau thì lại càng

cô đơn hơn nữa Người ta có thể cô đơn vì không đến được với người khác,

và vì người khác không muốn đến với mình Cô đơn nào thì cũng là một hải đảo Nhưng nỗi cô đơn bị người khác bỏ rơi, hờ hững thì vô cùng cay đắng

Cô đơn là một trạng thái bi kịch, là nỗi đau tinh thần lớn nhất của con người Khi con người bị cô đơn tức là tình trạng nó được xem xét trong mối liên hệ với hoàn cảnh, cộng đồng Nó không cùng pha với tiêu chí của đám đông, nếu con người tự ý thức cao, tự tách mình khỏi đám đông để bảo toàn

ý niệm riêng Như vậy, nó lựa chọn cô đơn để được là mình Ngược lại, nếu

Trang 37

một ai đó thiếu bản lĩnh, luôn muốn là mình nhưng không đủ tự tin tách mình ra khỏi đám đông không để bảo toàn ý niệm thì họ sẽ bị ngăn cách bởi cộng đồng, bị cộng đồng cô lập Lúc đó họ sẽ khao khát được là mình nhưng đồng thời cũng muốn mình được mọi người chấp nhận Như vậy, họ

sẽ rơi vào những trạng thái bế tắc không lối thoát Vậy là họ cô đơn Với những ý nghĩa trên, cô đơn là khái niệm để chỉ một trạng thái sống, một tâm trạng gắn với tâm trạng con người, vừa mang ý nghĩa triết học, vừa mang ý nghĩa nhân bản

Ý nghĩa triết học là ở chỗ: mỗi con người là một thực thể tự nhiên, một tiểu vũ trụ riêng tư không lặp lại, đồng thời cũng là một thực thể của xã hội, của cộng đồng

Còn ý nghĩa nhân bản là ở chỗ: cô đơn không chỉ là nỗi buồn mà có khi còn là vẻ đẹp buồn, để con người trở về với chính mình, tự hiểu mình hơn, và cũng thấy rõ sự cần thiết phải hòa mình vào cộng đồng

2.2 Những kiểu con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao

2.2.1 Kiểu con người cô đơn vì bị cô lập trong đời sống cộng đồng

Đến với hình tượng nhân vật thể hiện con người trong các sáng tác của Nam Cao, ta bắt gặp ở đó vô vàn những cuộc đời, những số phận khác nhau nhưng chung quy lại họ vẫn có điểm chung đó là phải đối mặt với một cuộc sống khắc nghiệt Họ chỉ có một sự lựa chọn: Sống về mặt thể xác

hoặc sống về mặt tâm hồn, họ không thể nào được sống cho ra sống với hai

chữ “Con Người” đúng nghĩa Để tồn tại về thể xác hoặc để tâm hồn và nhân cách mình tồn tại trên cõi đời này, họ phải đánh đổi một thứ gì quý giá nhất thuộc về mình: Bà lão trong “Một bữa no” phải đánh đổi cả nhân cách và lòng tự trọng của một con người để có lấy một bữa no nhưng cuối cùng vẫn không thể tồn tại; Hộ để sống đúng theo “chủ nghĩa tình thương”

mà anh đã chọn thì phải hi sinh hoài bão lớn lao và mơ ước cháy bỏng trong

Trang 38

sự nghiệp viết văn của mình (Đời thừa); Chí Phèo muốn có cái ăn, muốn có một “tấc đất cắm dùi” phải bán cả linh hồn mình cho quỷ dữ

Đến với quan niệm về con người trong sáng tác Nam Cao, có nhiều người vẫn cho rằng đó là kiểu con người bi kịch, con người của sự tự ý thức, con người tha hóa Tất cả đều đúng Nhưng theo chúng tôi, khi đặt bút viết lên những tác phẩm của mình, Nam Cao còn nhìn thấu được những cái đích đi đến cuối cùng của cuộc sống: làm thế nào để sống tốt, sống yên bình và hạnh phúc ngoài những thứ thiết yếu như cơm ăn áo mặc? Làm thế nào để sống vừa là để tồn tại nhưng sống cũng là để suy tư? Với các tác phẩm mang đậm triết lí về con người và cuộc sống, ông đã chứng tỏ được rằng ở thời buổi lúc bấy giờ, cái ăn là nhu cầu đầu tiên, nhu cầu sống còn của con người, nhưng không chỉ có vậy, nhu cầu của con người còn cao hơn thế: đó là sống một cuộc sống có suy tư, có mơ ước, có buồn vui Đó chính

là sống về mặt tinh thần, sống không chỉ là để tồn tại theo nghĩa vật chất mà sống còn là để chiêm nghiệm và suy tư Chính vì thế mới có kiểu nhân vật con người cô đơn

Ở kiểu con người cô đơn vì bị cô lập trong đời sống cộng đồng, chúng tôi xét thấy rằng đó là kiểu cô đơn của những nhân vật trong mảng sáng tác về đề tài người nông dân

Trong đề tài về người nông dân, có lẽ “Chí Phèo” là tác phẩm thành công hơn tất thảy trên mọi phương diện, trong đó có hình tượng nhân vật bất hủ là Chí Phèo Đọc “Chí Phèo” và đếm từng bước đi, quan sát từng hành động, lắng nghe từng tiếng nói bên trong tâm hồn của nhân vật chính này, chúng tôi mới nhận thấy rằng Chí Phèo là nhân vật đau khổ nhất của sự đau khổ, bế tắc nhất của sự bế tắc, và có lẽ không có nỗi đau nào đau khổ

hơn nỗi đau của một con người cô đơn trước đồng loại

Trang 39

Như đã nói ở trên, đây là hình phạt, là bi kịch đau đớn nhất của con người Đọc tác phẩm “Chí Phèo”, người đọc nhận thấy rằng cứ mỗi lần Chí khao khát cố gắng thoát ra để nắm lấy bàn tay cuộc đời, khao khát vòng tay đồng loại là một lần nữa anh ta bị đẩy ra xa, bị nhấn sâu vào bốn bức tường

vây bủa của sự cô đơn mà đồng loại ngăn rõ

Từ khi sinh ra, Chí Phèo đã khổ trăm bề: Bị bỏ rơi, khi lớn lên Chí bị người ta ức hiếp, bị bắt bỏ tù, sau nữa bị xã hội cự tuyệt Trong những cái khổ như cái đói cái rét, cái nhục nhã, còn có thể chịu được Còn nỗi cô đơn? Từ đầu đến cuối tác phẩm chí Phèo, Nam Cao tập trung khai thác sâu nhất về ý niệm con người cô đơn

Trong phần đầu tác phẩm, không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao cứ lặp đi lặp lại chữ “một” trong tác phẩm, “một” tức là một mình, là lẻ loi, là

cô đơn: “Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và đem cho một người đàn bà góa mù, người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con và khi bác phó cối này

chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ…[14, tr 14] Chí Phèo cô đơn bởi hắn bị chối bỏ từ khi mới lọt lòng, tuổi thơ bị đánh mất bởi Chí chỉ là một đứa con không được thừa nhận, không cha không mẹ, không người thân thích, không bạn không bè… Đó là vết thương mà có lẽ lúc này Chí Phèo chưa đau lắm bởi hắn còn trẻ, chưa nhận thức được một cách sâu sắc về sự thiệt thòi này, cho nên hắn ít khổ hơn Khi đã trưởng thành, hắn

khao khát về một sự sum vầy trong “một gia đình nho nhỏ” để có người

hôm sớm sẻ chia, vậy mà cũng không được Người ta bắt hắn đi ở tù, đây là biểu hiện đầu tiên của sự cô lập trong đời sống cộng đồng Người ta tách biệt Chí khỏi đời sống xã hội Thân cô, thế cô, không biết nương tựa vào ai, không có ai thấu hiểu cho những nỗi niềm oan ức mà Chí phải trải qua, Chí

Trang 40

đành phải cúi đầu khuất phục trước sức mạnh của sự gian manh và lọc lõi của cụ tiên chỉ trong làng giết người không cần dao kéo Không hiểu nhà tù thực dân lúc bấy giờ cảm hóa con người như thế nào, chỉ biết rằng khi ra tù, Chí Phèo không còn một chút gì là Chí Phèo của một thời hai mươi tuổi nữa Với hình dáng khác người, với hành động và ngôn ngữ khác người, anh ta hoàn toàn bị cô lập, lạc lõng trước xã hội bởi không ai coi Chí là người Người ta tránh hắn như tránh một con vật lạ Thật sự giờ đây Chí đã

ý thức đầy đủ thế nào là sự cô đơn, hiểu thế nào là nỗi đau của sự cô độc Hắn tìm cách giao tiếp với xã hội loài người, tiếng chửi của Chí là một nỗ lực dù rất khác người nhưng là một nỗ lực lớn lao và đặc biệt nhất Đôi khi người đọc cứ nghĩ rằng tại sao cuộc đời lại có nỗi cô đơn để cho Chí khổ? Thà Chí cứ sống một cuộc sống của loài thú, u mê trong lốt một con thú dữ

như vậy, Chí sẽ đỡ vật vã hơn Đằng này hắn vẫn còn có chất người, vẫn có

bản năng được làm người! Hắn vẫn là một cá thể trong xã hội Hắn chửi đời, chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi đứa nào không chửi nhau với hắn

và cuối cùng hắn chửi luôn cả “cái đứa chết mẹ nào đã đẻ ra hắn”… Nếu ai cạn nghĩ thì sẽ cho rằng đây là thằng điên, thằng say nhưng sâu sắc hơn một chút, sẽ thấy được ý nghĩa của tiếng chửi Chửi như vậy là hắn đang mong lắm một tiếng đáp lời, dù chỉ là một tiếng “chửi lại” thôi, bởi đó là

kênh giao tiếp đặc biệt giữa hắn với con người, với cộng đồng Hắn mong

lắm một tiếng chửi lại bởi còn chửi lại tức người ta vẫn đang còn giao tiếp với hắn (dù rất đặc biệt nhưng vẫn là tiếng của đồng loại, của cộng đồng)! Nhưng tuyệt nhiên hắn không nghe một tiếng gì, không ai đáp lời hắn Hắn đau đớn nhận ra hắn khổ thật, ai làm hắn khổ, ai sinh ra để cho hắn khổ, hắn cũng chẳng biết! bởi chỉ có hắn cô độc một mình trên cõi đời bao la Hắn không biết nói cùng ai, không có ai để hờn giận - trách móc - yêu thương Vậy là hắn tự đày đọa bản thân mình: rạch mặt ăn vạ, chấp nhận làm những

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w