Trong “Đi tìm thân phận người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo” Trần Thị Kim Dung viết: “Mỗi thân phận nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo là một mảnh ghép của một cuộc đời, là m
Trang 1_
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA VÕ THỊ HẢO
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2_
NGUYỄN THỊ HOÀNG ANH
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG SÁNG TÁC
CỦA VÕ THỊ HẢO
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS PHAN THỊ THU HIIỀN
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 3MỤC LỤC
DẪN LUẬN 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1 NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO VÀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC .12
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Võ Thị Hảo .12
1.1.1 Cuộc đời .12
1.1.2 Sự nghiệp .14
1.2 Phê bình nữ quyền và văn học nữ trong văn học thế giới 16
1.2.1 Phê bình nữ quyền 16
1.2.2 Văn học nữ 18
1.3 Văn học nữ ở Việt Nam .21
1.3.1 Văn học dân gian và văn học trung đại 21
1.3.2 Văn học hiện đại .23
CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT NỮ TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ TÀI VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 27
2.1 Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng lịch sử 29
2.1.1 Đề tài lịch sử 29
2.1.2 Đề tài chiến tranh 34
2.2 Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng thế sự (xã hội) 45 2.2.1 Cảnh nghèo, sự vất vả mưu sinh 45
2.2.2 Nạn bạo hành gia đình 49
2.2.3 Những bất công xã hội 52
2.2.4 Định kiến xã hội 55
Trang 42.3 Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng đời tư (cá nhân) 60
2.3.1 Khát vọng tình yêu và hạnh phúc 60
2.3.2 Tình dục 74
CHƯƠNG 3.NHÂN VẬT NỮ TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 82
3 1 Các phương tiện nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ 82
3.1.1 Ngoại hình 82
3.1.2 Ngôn ngữ .92
3.1.3 Hành động .96
3.1.4 Nội tâm 106
3.2 Nhân vật nữ trong quan hệ với thế giới nhân vật 112
3.2.1 Quan hệ giữa các nhân vật nữ và các nhân vật nam 112
3.2.2 Quan hệ giữa các nhân vật nữ qua các thế hệ 118
3.3 Bút pháp huyền thoại và yếu tố kỳ ảo trong thể hiện nhân vật nữ 122
3.4.Bút pháp biểu tượng, tượng trưng trong thể hiện nhân vật nữ 132
KẾT LUẬN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139
Trang 5DẪN LUẬN
1.Lí do chọn đề tài
1.1.Một nửa thế giới là phụ nữ Từ xưa đến nay, hình ảnh người phụ nữ đi vào trong văn học và trở thành hình tượng đẹp, không thể thiếu trong văn học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Trong kho tàng văn học Việt Nam, các tác phẩm viết về người phụ nữ rất nhiều song hầu hết đều do các nhà văn nam
“Muốn hiểu về một người phụ nữ thì trước hết phải hiểu được tâm hồn họ”
(Agustin) Vì vậy, nghiên cứu nhân vật nữ từ sáng tác nhà văn nữ nhằm đem lại một
góc nhìn toàn diện hơn về người phụ nữ trên các bình diện lịch sử, xã hội và đời tư 1.2 Tinh thần nữ quyền đã in dấu đậm nét trong văn học sau 1986, đặc biệt là trong truyện ngắn, tiểu thuyết Người phụ nữ mang tư tưởng tự do đã trở thành một nguồn cảm hứng xuyên suốt tác phẩm Sự nở rộ về số lượng và chất lượng của văn học nữ trong thời kỳ này từ Lê Minh Khuê, Lý Lan, Trần Thùy Mai, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… đều tập trung xây dựng trong tác phẩm nhân vật nữ là trung tâm Tuy nhiên, công tác nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu về nhân vật nữ từ một nữ nhà văn một cách chuyên sâu và hệ thống
là điều cần thiết
1.3 Trong số các nhà văn nữ đương đại, Võ Thị Hảo hiện lên như một đại diện xuất sắc, giàu cá tính Tác phẩm của chị ngày càng chiếm được nhiều tình cảm của độc giả trong và ngoài nước Tuy thời gian qua, các sáng tác của chị cũng nhận được sự phản ứng nhiều chiều từ giới nghiên cứu và độc giả Có cả sự đồng tình, ủng hộ lẫn sự phản đối Thế nhưng, phải thừa nhận rằng, với các đề tài rất hấp dẫn, nội dung phong phú và tính thời sự rất cao, tạo nên độ “hot” trong các sáng tác của chị Và đặc biệt, đối với những người phụ nữ, chị luôn dành cho họ sự đồng cảm, yêu thương, đau xót sâu sắc nhất, thân phận người phụ nữ trở thành tâm niệm thường xuyên da diết trong những trang viết của chị Võ Thị Hảo đã thực sự mang lại cho nhân vật văn học những kinh nghiệm sống từ những trải nghiệm trong cuộc đời mình Sáng tác của chị đầy ắp những nỗi lo lắng mơ hồ về cuộc đời mênh mang bất tận, vừa như thiên đàng, vừa như địa ngục đối với con người, đặc biệt là đối với
Trang 6người phụ nữ Đặc biệt nữ quyền thể hiện rất rõ trong sáng tác của Võ Thị Hảo ở sự quyết liệt đấu tranh cho tình yêu, sự bình quyền trong tình cảm và khẳng định tiếng nói phái tính mạnh mẽ Dù rằng, khi cầm bút, Võ Thị Hảo không định khoanh vùng cho những sáng tác của mình theo khuynh hướng nữ quyền, mà chị muốn viết cho những con người chịu nhiều thiệt thòi, mất mát, chị muốn cảm thông, đồng cảm với
họ Và, viết cho những ai đang chìm trong đau khổ, những ai đang lạc lối, lầm đường, những ai đang chịu nhiều đau thương là nghĩa vụ của những trang văn của chị, những điều ấy vô hình chung tạo nên khuynh hướng sáng tác nữ quyền ở chị
Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Hình tượng người phụ trong sáng tác của
Võ Thị Hảo, để trước hết có cái nhìn sâu hơn về người phụ nữ trong sáng tác của
chị, sau đó và từ đó đặt vấn đề bước đầu nghiên cứu văn học từ góc nhìn giới tính tiếp cận một hướng nghiên cứu mới Đồng thời chúng tôi cũng thể hiện sự yêu quý, trân trọng và đồng cảm với những tác phẩm của chị khi viết về người phụ nữ
2.1 Đề tài và nhân vật nữ trong tác phẩm của Võ Thị Hảo
Trong bài “Võ Thị Hảo giữa những trang viết, trang đời”, Lương Thị Bích Ngọc
đã nhận xét: “Truyện ngắn của Võ Thị Hảo phản ánh hiện thực một cách nghiệt ngã
nhưng người đọc lại không nhìn thấy sự cay nghiệt của một người viết Lan tỏa trên những trang viết là một tấm lòng nhân ái của một người đàn bà cầm bút hết lòng yêu cuộc sống và con người” [50]
Trang 7Ở bài viết: “Đã đến lúc người đàn bà nổi loạn”, Ngọc Anh nhận xét: “Trong
những truyện ngắn của Võ Thị Hảo, có những người đàn bà khổ vì yêu và khổ vì bị ruồng bỏ” [21]
Trên blog cá nhân, bài viết “Tiểu thuyết và lịch sử”, Lại Nguyên Ân cũng chia
sẻ cảm nhận khi đọc tiểu thuyết Giàn Thiêu: “Gấp sách lại, cảm tưởng chung là
hào hứng Có lẽ ai đọc chăm chú cũng sẽ ít nhiều bị lây cái nhiệt hứng của tác giả khi khơi lại những chuyện những người ở trên đất này cách nay bảy tám trăm năm Nhưng tựu trung các suy nghĩ của tôi do sách Giàn thiêu khơi lên đều xoay quanh các vấn đề như đề tài lịch sử và sáng tác văn học, thể loại tiểu thuyết với việc xử lý chất liệu lịch sử” [42] Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: “Tiểu thuyết Giàn thiêu còn có nhiều mặt khác đáng nói, nhất là xu hướng nữ quyền khá lộ liễu của nó, với mấy nhân vật nữ đặc sắc: Nhuệ Anh, Lê Thị Ðoan, cung nữ Ngạn La Cả ba đều là những nhân vật hư cấu, được cài xen vào một quá khứ lịch sử, được đặt bên cạnh nhiều nhân vật lịch sử” [42]
Lại Nguyên Ân cũng cho rằng không khó để nhận ra rằng tác giả Giàn thiêu đã
đưa vấn đề của thế giới hiện đại vào bối cảnh quá khứ Đây không phải là điểm yếu, ngược lại là điểm mạnh, đem lại sức sống cho ngòi bút nhà tiểu thuyết khi nhúng bút vào “tích xưa chuyện cũ”
Trong “Đi tìm thân phận người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo” Trần Thị
Kim Dung viết: “Mỗi thân phận nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo là một
mảnh ghép của một cuộc đời, là một lát cắt của cuộc sống Tuy không có tính toàn diện, điển hình và biểu trưng, nhưng hầu hết đấy là những mảnh ghép có sự trau chuốt tử tế của người thợ vẽ Và cứ như rằng, sau khi lật từng trang viết của chị, chúng ta như bắt gặp ở đâu đó nơi người này, kẻ khác hay ở chính mình những điều cần biện luận và sám hối!” [30]
Trần Viết Thiện trong “Huyền thoại trong truyện ngắn đương đại Việt Nam”
viết: “Truyện ngắn Võ Thị Hảo là minh chứng cho một điều: huyền thoại là siêu
ngôn ngữ, huyền thoại phát sinh nhiều ý nghĩa cả khi hoàn cảnh nảy sinh ra nó đã trôi qua từ rất lâu” [62]
Trang 8Đoàn Ánh Dương trong “Võ Thị Hảo đặt lại vấn đề nữ quyền trên quan điểm
giới và tính dục” nhận xét: “ Truyện ngắn Võ Thị Hảo là những phát vấn, tự vấn và
cũng là hành trình diễn giải những thụ cảm và thức nhận ấy”.[ 43]
2.2 Thái độ của nhà văn đối với nhân vật nữ
Nguyễn Lương trong bài viết “Gương mặt Võ Thị Hảo” nêu: “Mỏng manh đến
điệu đà, nhạy cảm đến mức khắt khe, đó là cảm giác ban đầu về nữ văn sĩ xứ Nghệ khi mới đọc, mới tiếp xúc với chị Còn ẩn đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và về nhân tình thế thái Đọc truyện của Võ Thị Hảo người ta thường buồn Một nỗi buồn có lẫn ngọt ngào và cay đắng”[26]
Trong bài phỏng vấn “Võ Thị Hảo suốt đời chỉ mơ một giấc”, Nguyễn Hằng
viết: “Chị được xếp vào hàng những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính Những thân
phận đàn bà, những con người nhỏ bé trước bão lũ cuộc đời, những gì rất riêng tư
mà chẳng riêng tư chút nào, là điều mà chị luôn trăn trở trên những trang viết của mình”[25]
Nhà văn Võ Thị Hảo chia sẻ: “Dựng giàn thiêu người trên đảo Âm Hồn, đốt
sách, mổ bụng, moi gan người dưới đoạn đầu đài, hay bất cứ cực hình nào đó cũng không thiêu hủy được sự thật, khát vọng tự do và công lý Mưa xuống, không phải
do những đàn tràng cầu mưa đồ sộ và rỗng tuếch, mà đến, có khi chỉ bởi một người đàn bà biết yêu”[53]
Nhà văn Võ Thị Hảo cho biết: “Rất nhiều thông điệp tôi gửi vào Giàn thiêu,
nhưng một trong những thông điệp quan trọng nhất: Khát vọng tự do và tình yêu
Sự trường tồn, bất tử của sự thật trước bạo lực và cường quyền…những lầm lạc
thật dễ thương và đau đớn của kiếp người Tôi cũng gửi đến qua Giàn thiêu những
người đàn bà đẹp, mong manh giữa cuộc đời mà khuôn khổ tình yêu của họ không khớp với một cái khuôn khổ nào của hiện thực” [44]
Đoàn Ánh Dương trong “Võ Thị Hảo đặt lại vấn đề nữ quyền trên quan điểm
giới và tính dục” viết tiếp về quan điểm của nhà văn Võ Thị Hảo: “Điểm độc đáo
trong quan điểm nữ quyền của Võ Thị Hảo là việc nó không có dấu vết của lý thuyết
Trang 9phương Tây Nó là một nhu cầu tự thân cần được phơi bày Vì thế, màu sắc nữ tính,
nữ quyền của Võ Thị Hảo cũng rất khác lạ so với các nhà văn nữ đương thời, vốn đang làm nên một cao trào của văn học nữ”[43]
Đoàn Cầm Thi trong “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam
đương đại” trên VnExpress chuyên mục giải trí ngày 29/03/2003 viết: “Với truyện
ngắn của Võ Thị Hảo, lần đầu tiên văn học Việt đặt câu hỏi trực tiếp về cuộc sống tâm lý và tình dục của các nữ thanh niên xung phong Trường Sơn trong và sau chiến tranh Đâu là những đòi hỏi nhục dục của họ? Ở họ ham muốn, dồn nén, cuồng loạn được thể hiện như thế nào?” [61]
Trong “Tôi biết mình không được phép quay đầu” Võ Thị Hảo chia sẻ khi viết
về nhân vật Nguyên phi Ỷ Lan và những nhân vật khác trong tiểu thuyết Giàn thiêu: “Tôi bắt đầu đặt tay lên những cuốn chính sử, và tôi nhìn thấy họ Tôi bèn
đuổi theo họ Tôi chồng lên họ một lớp ký ức dã sử - trong mờ như nhìn qua những con sứa Cộng thêm logic đời sống… Thời Lý - Trần có rất nhiều nhân vật có tính cách đa diện, đủ để tạo cảm hứng lớn cho tiểu thuyết”[55]
Trong “Tôi nhẹ dạ nhưng nửa vời”, nhà văn chia sẻ khi các nhân vật nữ chính
của chị bao giờ cũng có số phận bi thương, Võ Thị Hảo cho biết: “Dù có chung một
kết cục thì ở mỗi nhân vật, tôi đều có cách xử lý khác nhau Có người được giải thoát và cứu rỗi ở kiếp sau Những số phận bi quan này nhiều khi do chính những
ám ảnh trong tôi ảnh hưởng đến trang viết”[53]
Về thân phận con người, trong đó có người phụ nữ, thời hậu chiến qua tác phẩm
Võ Thị Hảo, Giang Thanhtrong bài “Thông điệp của rừng cười” nhận xét: “Chiến
tranh đã gây nên cái “kết” buồn cho muôn vàn số phận Từ sự hủy diệt của chiến tranh, có người đã nằm lại nơi rừng thiêng thâm u, có người trở về nhưng thiếu hụt một phần cơ thể, cũng có người bước ra khỏi chiến trường khi tâm hồn đã bị đâm toạc, rách nát Những số phận con người trong thời chiến - thời bình, trong mối quan hệ tình người - tình yêu đều được “Người sót lại của rừng cười” ghi lại rất chân thực, chi tiết, từ đó cất lên những thông điệp về số phận con người trong guồng quay của xã hội”[59]
Trang 102.3 Hình thức nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong tác phẩm Võ Thị Hảo
Trên Vietnamnet.vn, tác giả Lương Thị Bích Ngọc trong bài viết “Võ Thị Hảo giữa những trang viết trang đời” một lần nữa nhận xét: "Đọc truyện chị, thấy cuốn
hút cứ tưởng hình như mình bị mê hoặc bởi lối kể truyện cuốn hút, có duyên và lối văn phong vừa cũ, vừa mới, vừa quen, vừa lạ", "một hiện thực nghiệt ngã được chở
đi trên lối văn phong ảo - thực và câu chữ ngọt ngào, dịu nhẹ" [50]
Giàn thiêu một sự bứt phá đầy ngoạn mục của nhà văn Võ Thị Hảo thực sự thu hút được sự chú ý của độc giả, các nhà phê bình và nghiên cứu Trong “Giàn thiêu -
xứ sở của lối văn chương mê hoặc và huyền bí”, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên
viết: “Văn Võ Thị Hảo không chỉ là những dòng chữ, không chỉ là truyện ngắn hay
tiểu thuyết Văn Võ Thị Hảo có nhiều tầng hình tượng mà mỗi lần tiếp cận, người đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một tầng lớp ngữ nghĩa khác ẩn mình sau những câu chữ Đó là lối văn đã được tác giả thổi linh hồn Linh hồn đó tạo lên những câu văn huyền ảo, mê hoặc thậm chí ma quái” [7]
Trong bài giới thiệu tác phẩm Giàn thiêu, trên báo Người đại biểu Nhân dân số
3 năm 2005: “Giàn thiêu mặc dù hấp dẫn nhưng là cuốn tiểu thuyết không dễ đọc
Cũng như những truyện ngắn của Võ Thị Hảo cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu đang đi
theo con đường riêng của nó, ngấm dần vào trái tim người ta, và những tầng lớp ngữ nghĩa cũng như những tầng lớp nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thường trở
đi trở lại và ám ảnh người đọc” [24]
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Võ Thị Hảo, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Trần Thị Bích Vân, luận văn thạc
sỹ về Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Đại học Thái Nguyên Tác giả
tập trung khai thác hình tượng người phụ nữ trên bình diện là những bi kịch: bi kịch tình yêu, bi kịch là nạn nhân của chiến tranh, bi kịch của cái nghèo, bi kịch của sự tật nguyền Vấn đề đạo đức và vấn đề giới tính của người phụ nữ trong sáng tác của
Võ Thị Hảo cũng được tác giả đề cập đến Tuy nhiên, công trình này được hoàn thành vào năm 2009, thời điểm chưa có thêm những sáng tác mới của Võ Thị Hảo
Trang 11Ngoài ra, còn có nhiều bài viết, khóa luận, luận văn, luận án khác…nghiên cứu
về tác phẩm của Võ Thị Hảo trên nhiều bình diện khác nhau
Hình tượng về người phụ nữ chưa được nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu trên cơ
sở tư liệu, tác phẩm đầy đủ Với sự có mặt của những tác phẩm mới và hướng tiếp
cận riêng của mình, tác giả luận văn hy vọng đề tài Hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo sẽ đem lại cái nhìn mới, thấu đáo hơn về nhân vật
nữ trong các tác phẩm của nữ nhà văn Võ Thị Hảo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các tác phẩm của Võ Thị Hảo rất nhiều gồm cả tiểu thuyết, truyện phim và truyện ngắn Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập trung chủ yếu trên 10 tập truyện ngắn, 1 phóng tác và 2 tiểu thuyết đã in của tác giả:
Biển cứu rỗi - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Hà Nội 1991; Chuông vọng cuối chiều - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Lao động, 1993; Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1995, Ngậm cười - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ nữ, 1998; Nàng tiên xanh xao - tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Kim Đồng, 2000; 101 cái dại của đàn ông - phóng tác, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, 1994; Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2005;Goá phụ đen - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2005; Hồn trinh nữ - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2005; Người sót lại của rừng cười - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2006; Ngồi hong váy ướt -
tập truyện ngắn, Tủ sách thi văn Hồng Lĩnh, xuất bản tại Pháp, 2013; Tiểu thuyết
Giàn thiêu, Nhà xuất bản Phụ nữ 2003; Tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ, Tủ sách Quê
Hương, xuất bản tại Mỹ, 2012
Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng khảo sát thêm một số truyện ngắn của các tác giả nữ có liên quan đến đề tài để có cái nhìn sâu sắc, chân thực hơn về hình tượng người phụ nữ trong văn chương
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 12Hướng tiếp cận thi pháp học: Tác giả luận văn vận dụng hướng tiếp cận thi
pháp học thông qua việc nghiên cứu hình thức nghệ thuật trong quan hệ chặt chẽ với nội dung thể hiện của tác phẩm, làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật, cái nhìn của tác giả về con người, về cuộc đời
Phương pháp so sánh: Tác giả luận văn đã vận dụng phương pháp này để so
sánh dựa trên cơ sở đồng đại và lịch đại một số truyện ngắn viết về người phụ nữ
Từ đó có cái nhìn tổng quát về những nét chung về hình tượng người phụ nữ của các tác giả nữ, đồng thời thấy được nét đặc sắc về hình tượng người phụ nữ trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo
Thao tác khảo sát - thống kê: Chúng tôi chọn thao tác này để khảo sát - thống
kê hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo trên nhiều phương diện: Thể tài, cảm hứng nghệ thuật, mối quan hệ của nhân vật trong hệ thống nhân vật… Qua đó, tìm hiểu thấu đáo hơn các đặc điểm của nhân vật nữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả
Phương pháp hệ thống: Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo được xem xét trong mối tương quan hệ thống về thể tài, cảm hứng nghệ thuật, hệ thống các phương tiện xây dựng nhân vật qua ngoại hình, tâm lý, ngôn ngữ, hành động, quan
hệ nhân vật trong hệ thống nhân vật…Sử dụng phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo được toàn diện hơn
Thao tác phân tích - tổng hợp: Chúng tôi sử dụng thao tác này nhằm nghiên
cứu hình tượng người phụ nữ từ những đặc trưng riêng lẻ của từng nhân vật, nhóm nhân vật đi đến những nét khái quát nhất về nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về hình tượng nhân vật nữ trong sáng tác của nhà văn
Lý thuyết nữ quyền: Chúng tôi vận dụng lý thuyết nữ quyền thông qua việc tìm
hiểu các vấn đề về sự phát triển của văn học nữ trên thế giới và Việt Nam, đồng thời
đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan về giới nữ trên các bình diện: tình yêu, tình dục, định kiến, bạo hành gia đình… trong sáng tác của Võ Thị Hảo nhằm có cái nhìn tổng quát và thấu đáo về người phụ nữ trong sáng tác của nhà văn
Trang 135 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục luận văn gồm ba chương
CHƯƠNG 1 NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO VÀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC
Trong chương này, tác giả luận văn giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Võ Thị Hảo, đồng thời đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn về phê bình nữ quyền và văn học nữ trong văn học thế giới; văn học nữ ở Việt Nam CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT NỮ TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ TÀI VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
Trong chương 2, tác giả tập trung nghiên cứu nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo trên bình diện thể tài và cảm hứng nghệ thuật: Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng lịch sử; Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng thế sự (xã hội); Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng đời tư (cá nhân)
CHƯƠNG 3 NHÂN VẬT NỮ TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO TỪ
PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT
Tác giả luận văn nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ của nhà văn Võ Thị Hảo qua ngoại hình, tâm lý, ngôn ngữ, hành động, mối quan hệ của nhân vật trong hệ thống nhân vật, bút pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật nữ trong sáng tác của nhà văn
Trang 14CHƯƠNG 1 NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO VÀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG VĂN HỌC
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Võ Thị Hảo
Tuổi thơ của chị gắn với những lời ru bằng Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm
… và nhiều khi bằng cả những giọt nước mắt của mẹ Chính những kí ức tuổi thơ
bước đầu đã tạo nên khí phách nhà văn trong chị Chị từng nói: “Từ một đến mười
ba tuổi đó là giai đoạn quan trọng nhất để làm nên một người viết văn Tuổi đó càng trải qua nhiều ấn tượng, nhiều ám ảnh, càng thôi thúc nhu cầu viết ở một người sau này” [31]
Thời thiếu nữ của Võ Thị Hảo do những hạn chế của hoàn cảnh mà gần như chị không được sống trọn vẹn cái thời đẹp nhất ấy Chính vì vậy, chị luôn tìm thấy cái thời đẹp đẽ ấy qua hình ảnh các con của mình là Uyên Ly và Hạnh Ly và đôi khi bản năng trỗi dậy chị muốn tìm về và được sống trong trẻo như thời thanh xuân nhất của đời người
Năm 1973, Võ Thị Hảo ra Hà Nội học Đại học Tổng hợp Văn, chuyên ngành Hán - Nôm (khóa 18) Tốt nghiệp ra trường, chị về làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Trong quãng thời gian làm việc tại đây, chị đã đi rất nhiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi, mà thời đó mọi người trong cơ quan và bạn bè
cứ gọi vui với nhau là Hảo hay được đi “tây” (Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ) Rồi chị lập gia đình với một người học cùng lớp, sau đó anh về công tác ở viện Hán - Nôm Lần lượt hai con ra đời, cuộc sống thời bao cấp đầy khó khăn và cam
go, không quản cực nhọc, nắng mưa, hình ảnh một Võ Thị Hảo mang bụng bầu bảy
Trang 15tháng đạp xe chở giấy cao ngất đầu là điều bình thường với chị trong những năm tháng ấy Cuộc sống với chồng không được suôn sẻ, sau lần ly hôn đầu tiên, chị quyết định hàn gắn vì các con Nhưng khi con chị đủ lớn để hiểu mẹ, chị chọn cách chia tay để giải thoát cho mình và cho người khác
Sau ly hôn, cô đơn và đau khổ là tất nhiên Võ Thị Hảo cũng vậy, nhưng là người mạnh mẽ chị không cho phép mình phí phạm nước mắt, không cho phép nỗi buồn tìm đến khi mình trống vắng Hơn nữa, điều khó khăn lớn nhất mà chị phải đối diện đó chính là vừa làm một người mẹ, vừa làm một người cha cho các con Là người mẹ rất đỗi thương con, chị muốn các con mình được tròn đầy hạnh phúc và làm tất cả những gì cho con là điều chị cố gắng mỗi giây phút Mỗi ngày, vượt hơn hai mươi cây số từ trên quãng đường từ Từ Liêm vào nội thành Hà Nội với công việc vừa là một người quản lý, vừa là biên tập viên lại kiêm luôn chức vụ thủ quỹ và nhân viên văn phòng trong những năm Công ty văn hóa truyền thông Võ Thị mới thành lập, thế nhưng chưa bao giờ ở chị có sự mệt mỏi và than vãn Bận bịu là thế, nhưng hằng đêm, sau khi các con yên giấc là lúc người đàn bà viết văn lại chăm chỉ, cặm cụi bên những sáng tác của mình Những năm sau này (sau 2007), chị quyết định rút khỏi việc kinh doanh, cũng để mình được nghỉ ngơi, được thanh thản hơn
và có nhiều thời gian cho đam mê văn chương hơn
Can đảm, thẳng thắn, chân thành, quyết liệt, sắc sảo đó là những cảm nhận không thể thiếu khi đọc những trang văn của chị Còn ở ngoài đời, chị rất dịu dàng, nhẹ nhàng, nữ tính Chị tâm niệm những gì không thể hoặc chưa nói hết được trong cuộc sống thì văn chương là nơi để chị gửi gắm Còn trong ứng xử đời thường, chị lấy sự ôn hòa làm trọng Không cứ phải quát nạt, đe dọa mới là người có uy Là một phụ nữ năng động và xông pha, trong quá trình tác nghiệp và cuộc sống của mình,
Võ Thị Hảo đã chứng kiến rất nhiều những mảnh đời bất hạnh, những khó khăn trong mưu sinh cũng như những oan ức diễn ra hằng ngày mà dân lành phải gánh chịu Điều đó đọng lại trong chị những ám ảnh khôn nguôi, vận vào chị như là duyên nghiệp thôi thúc chị viết và trở thành đối tượng trong những sáng tác của chị
Trang 161.1.2 Sự nghiệp
Nhà văn Võ Thị Hảo sinh ra và lớn lên tại Nghệ An nhưng lập nghiệp ở Hà Nội Từng làm thơ từ rất sớm nhưng chị không tiếp tục theo đuổi công việc này Năm 1973, chị tốt nghiệp Đại học khoa Hán Nôm trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Ra trường, chị về công tác ở Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Nhưng niềm đam
mê văn chương dường như đã bẩm sinh nơi chị Những năm tháng đất nước còn khó khăn (thập kỷ 80 - 90), việc theo đuổi nghiệp văn chương không đủ để đảm bảo cho cuộc sống vật chất cho một gia đình có hai con Thế nhưng, đó cũng là lúc ngọn lửa văn chương trong chị vẫn âm ỉ cháy Đó chính là thời gian chị viết văn và nổi tiếng
mà không có được sự ủng hộ và đồng thuận của chồng
Thế rồi chị lại bắt đầu với công việc làm báo, song hành với nghiệp văn chương Chị được đi nhiều, biết nhiều và tích lũy được nhiều vốn sống và kỹ năng cho những trang viết của mình song vẫn là thách thức rất lớn bởi cuộc sống phải luôn di chuyển, rày đây, mai đó theo công việc Là một nhà báo giỏi, Võ Thị Hảo từng giữ nhiều trọng trách ở tòa soạn Thế nhưng chị không ổn định công việc tại một tòa soạn nào cả Đang ở ghế Trưởng phòng đại diện báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, chị lại sang làm Trưởng ban thư ký tòa soạn cho báo Gia đình và Xã hội rồi lại trở về báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh nhưng lại kiên quyết ra đi khi tòa soạn có Tổng Biên tập mới Những thay đổi trong công việc và cuộc sống của chị theo cách nhiều người nghĩ là chị “rồ” Thế nhưng, với chị, tất thảy những điều đó
để thỏa mãn khát khao là được sống yên ổn với cuộc sống riêng mình, hít thở bầu không khí trong lành và thanh khiết và không bị vướng vào những hệ lụy của đời sống hiện đại và sự cạnh tranh khốc liệt của con người
Giờ đây, sau khi “rút” khỏi công việc kinh doanh ở công ty Văn hóa Truyền
thông Võ Thị (do chị thành lập) Người đàn bà viết một mình trong căn nhà ngoại ô
lại có nhiều thời gian hơn cho những sáng tác và tiếp tục cống hiến cho đời những trang viết đẹp
Về quan niệm nhân cách, nghĩa vụ của nhà văn và sáng tạo văn chương Võ Thị
Hảo suy nghĩ rất nghiêm túc Theo chị: : “Độc giả chịu đọc cái gì đó vì họ còn hy
Trang 17vọng vào tính chân thực, đi đến nơi, đến chốn vấn đề" [24] Đối tượng trong những
trang viết của chị là nhân tính và sự bất bình trong xã hội Nói về những điều này, bao giờ cũng phải đi cho đến cùng Chị không chắc mình dịu dàng hay dữ dội trong văn chương Nhưng đó là bút pháp để chị thể hiện tư tưởng của mình Chị cho rằng mình không có quyền làm mất thời gian quý báu của độc giả bằng sự dông dài, giả dối, nửa vời
Là người có trách nhiệm với từng trang viết của mình, hướng đến người đọc và tôn trọng người đọc, chị bày tỏ thái độ kiên quyết với những cách viết thị trường,
chạy theo lợi nhuận làm cho chất lượng văn chương ngày càng yếu kém Chị bày tỏ:
“Có những nhà văn chỉ mượn văn chương để xu phụ, cam lòng lừa dối dân lành, xui kẻ khác nhảy vào chỗ chết trong khi mình biết rõ điều đó Viết, biết mình đang lừa dối mà vẫn viết Rao giảng đạo đức trong khi mình đang vô đạo Đó là những điều mà tôi ghét” [1]
Là một người rất yêu nghề, khát khao đem đến cho đời những trang viết đẹp là
điều thường trực trong chị: “Tôi không thần thánh hóa hoạt động viết văn, coi đó là
một nghề giản dị như bao nghề khác mà thôi Nhưng tôi coi văn chương như một thánh đường mà ở đó ta trân trọng sự thiêng liêng trong nỗi đau của sự thật và khát vọng của con người đến mức không thể viết chỉ để thỏa mãn riêng ta và cũng không viết để dối trá … Tôi viết văn như nguyện cầu Một lời cầu nguyện gửi đến mọi người để mong thế giới này tốt đẹp hơn [57]
Trong lĩnh vực văn chương, Võ Thị Hảo xuất hiện chính thức và đều đặn vào
thập niên 90 và gây được sự chú ý của người đọc Với mười tập truyện ngắn, một phóng tác, hai tiểu thuyết đã in và ba kịch bản phim truyện, sáng tác của Võ Thị Hảo đang gây ấn tượng mạnh trên văn đàn:
Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn với tập truyện ngắn Biển cứu rỗi -Nhà xuất bản Hà Nội - 1991
Giải thưởng 5 năm văn học Hà Nội với Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo- Nhà xuất bản Hội nhà văn - 1995
Tiểu thuyết Giàn thiêuđược trao giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2004
Trang 18Các tác phẩm của chị ngày càng chiếm được nhiều tình cảm của độc giả không chỉ trong nước mà cả bạn đọc thế giới và thực sự chinh phục được người đọc bằng
ngòi bút sắc sảo, tinh tế, mạnh mẽ và tài hoa
Có thể thấy rằng cuộc đời của nhà văn Võ Thị từng chịu nhiều thăng trầm trong cuộc sống và trong công việc Đó là những tháng ngày cam go, cơ cực của cuộc sống mưu sinh thời bao cấp; Những thách thức trong công việc của một nữ nhà báo song hành cùng thiên chức làm vợ, làm mẹ; Hôn nhân tan vỡ, thiếu vắng sự sẻ chia
từ người chồng, chị lại phải làm bổn phận của một người mẹ - một người cha cho các con…Tất thảy những điều ấy đều để lại dấu ấn trong những trang viết của chị
1.2.Phê bình nữ quyền và văn học nữ trong văn học thế giới
1.2.1 Phê bình nữ quyền
Nữ quyền là quyền và quyền lợi của phụ nữ được công nhận Các vấn đề
thường liên quan với khái niệm quyền của phụ nữ bao gồm, nhưng không giới hạn:
cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyền được giáo dục và làm việc; được trả lương như nhau; quyền sở hữu tài sản; tham gia vào các hợp đồng hợp pháp, tổ chức các cơ quan công quyền; quyền bầu cử; quyền tự do kết hôn, bình đẳng trong gia đình và
tự do tôn giáo.[67]
Như vậy, phê bình nữ quyền chính là hoạt động của trường phái phê bình văn học phát xuất từ sự phát triểnmạnh mẽ của phong trào chính trị xã hội, nhằm xác
lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho nữ giới
Chủ nghĩa nữ quyền xuất hiện vào thế kỷ 18 do phong trào tự do lớn mạnh, người ta đã đưa ra vấn đề nam nữ bình đẳng Chủ nghĩa nữ quyền ra đời là do sự bất bình đẳng về giới, vì người phụ nữ từ xưa đến nay về chính trị bị đàn áp, về xã hội
bị chèn ép, về kinh tế thì cam chịu nghèo khổ, về văn hóa thì đàn bà con gái ít được
đi học, tư tưởng tình cảm rơi vào trạng thái đè nén, ngay cả trong vấn đề hôn nhân - gia đình phụ nữ cũng không có quyền định đoạt
Trong tiến trình của lịch sử nhân loại, người phụ nữ bị lệ thuộc và chịu thiệt thòi
về nhiều mặt: về địa vị thì thấp kém, về kinh tế lại nghèo nàn, khốn khó, về giáo
Trang 19dục thì ít được học hành, trình độ văn hóa yếu kém…Tất cả những điều đó đã tạo tiền đề cho phong trào nữ quyền bùng phát
Tác giả tiên phong của phong trào đòi nữ quyền là Mary Wollstonecraft, với
công trình Vindication of the Rights of Woman (Xác lập các quyền của phụ nữ)
xuất bản 1792, bà được xem là “tổ mẫu” của chủ nghĩa nữ quyền Bà phản đối thẩm quyền xác lập nữ tính của các tác giả nam Bà coi nhà văn nữ là người có lý trí, đạo đức, nhân hậu, phản đề của thói ủy mị giả tạo
Tác giả thứ hai của phong trào nữ quyền là Virginia Woolf với tác phẩm A room
of one’s own (Một nơi chốn cho riêng mình), xuất bản năm 1929 của được coi như
“sách vỡ lòng ” của phê bình nữ quyền Nhờ Virginia Woolf mà các tác giả nữ ngày nay có những khái niệm gợi mở về ý kiến của đàn bà, và về tinh thần song giới (dung hoà cả hai giới tính)
Tác giả thứ ba là Simone de Beauvoir nỗi tiếng với tác phẩm The second sex (Giới tính hạng hai) xuất bản năm 1949 Bằng luận điểm của mình, bà quả quyết:
Phụ nữ có khả năng lựa chọn như nam giới và vì thế có thể lựa chọn nâng cao vị thế của mình Bà chỉ ra rằng phụ nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình, trước hết bằng cách cho phép người phụ nữ vượt lên bằng những hướng đi tự
do, tự hào về bản thân mình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hành động giống như nam giới Bà để lại cho chủ nghĩa nữ quyền một tự điển phong phú hình tượng
và ý tưởng, đặc biệt là định nghĩa xác quyết “người ta không bẩm sinh là đàn bà,
mà trở thành đàn bà”[13] nhằm cổ xúy sự đấu tranh giành lại những gì đã mất của
nữ giới Bà cũng đặt ra những đòi hỏi đối với xã hội trong mục tiêu hướng tới bình đẳng nam nữ Muốn đạt được điều đó thì các cấu trúc xã hội như luật pháp, giáo dục, phong tục … cần phải được điều chỉnh
Rõ ràng những gì Simone de Beauvoir luận giải thách thức không ít những quan điểm về phụ nữ đã tồn tại từ lâu và không thể phủ nhận rằng những tư tưởng của Beauvoir có đủ sức mạnh khuấy động ý thức vươn lên của người phụ nữ và làm cho những người đàn ông có tư tưởng trọng nam khinh nữ không hài lòng
Trang 20Doris Lessing là tác giả của The Golden Notebook (Cuốn sổ tay vàng) xuất bản
năm 1962 Công trình có thể coi là vĩ đại nhất trong sự nghiệp văn học của bà Tác phẩm được coi như tuyên ngôn của chủ nghĩa nữ quyền mặc dù bản thân tác giả không hề có chủ đích để cuốn sách mang thông điệp chính trị
Mary Eagleton trong quyển Feminist literary theory (Lý thuyết văn học nữ
quyền) (Nhà xuất bản Blackwell, tái bản 1996) khảo sát mối quan hệ giữa phụ nữ và
văn chương, giữa giới tính và thể loại, xác định ý nghĩa văn chương nữ, nhận diện một truyền thống văn chương nữ, đặt vấn đề về có khác biệt trong đọc nữ và viết
nữ
1.2.2 Văn học nữ
Trong lĩnh vực sáng tác, các nữ nhà văn cũng có một sự bứt phá về số lượng và nội dung Các nhà văn viết về người phụ nữ như một cách thể hiện tiếng nói phái tính của mình với cộng đồng Trên thế giới, có rất nhiều nhà văn nữ đã có những sáng tác thành công và nổi tiếng về văn học nữ ở các thể loại văn xuôi và thơ Nhờ các tác phẩm của các nhà văn nữ mà tư tưởng tiến bộ được truyền bá rộng rãi trong giới nữ giúp họ có được quyền bình đẳng trong xã hội
Charlotte Brontë (21/04/1816 - 31/03/1855) là nhà thơ, tiểu thuyết gia người Anh Charlotte Brontë là một phụ nữ có tư tưởng tiến bộ, các tác phẩm của bà đã châm ngòi và mở đường cho phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ trong văn học và xã hội Bà là tác giả của những cuốn tiểu thuyết được xếp vào hàng kinh điển
của văn chương Anh, trong đó có tiểu thuyết Jane Eyre xuất bản vào năm 1847
được viết dưới bút danh Currer Bell
Jane Eyre là câu chuyện về cô gái nghèo, mồ côi tên là Jane Eyre, cô đã trải qua
những năm tháng tuổi thơ thiếu thốn, nghèo đói và bị sự ghẻ lạnh, hành hạ của người lớn Thời thanh xuân, Jane Eyre không có được hạnh phúc trong tình yêu bởi
cô không cho phép mình làm kẻ thứ ba Bằng lòng tự trọng và ý chí kiên cường của người con gái luôn khao khát sống với lý tưởng chân chính, cuối cùng Jane Erye cũng tìm được hạnh phúc của chính mình
Trang 21Với Jane Erye, nhà văn khẳng định về những giá trị đáng quý của người phụ nữ
Sự kiên cường, bất khuất của nhân vật nữ chính trước những nghịch cảnh của cuộc đời là thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến những người phụ nữ nhằm giúp họ
“đứng lên”, “thay đổi” số phận của mình Tác phẩm mang ý nghĩa nữ quyền mạnh
mẽ
Sylvia Plath (27/10/1932 - 11/02/1963) là nhà thơ và tiểu thuyết gia nổi tiếng người Mỹ Bà được biết đến qua các tập thơ “thơ xưng tội” như: The Colossus and Other Poems và Ariel Ngoài các sáng tác thơ, bà còn cho ra đời cuốn tiểu thuyết
duy nhất The Bell Jar (Lọ chuông) và đó cũng là tác phẩm thành công nhất của bà
dưới bút danh Victoria Lucas
The Bell Jar được xem là cuốn “bán tự truyện” của Sylvia Plath Nhân vật chính
trong truyện cũng trải qua những trầm cảm giống hệt những cơn trầm cảm của bà khi đối diện với bi kịch gia đình Tác phẩm kể về nhân vật Synvia phải đối mặt những quy định hà khắc, gia trưởng trong gia đình đã khiến cô rơi vào tuyệt vọng,
cô đơn, buồn chán và luôn muốn tự tử để thoát khỏi xiềng xích ấy Tác phẩm phản ánh đầy đủ quá trình phát triển tự nhận thức của người phụ nữ sống trong xã hội phân biệt đối xử với nữ giới Đồng thời đi đến khẳng định những giá trị của người phụ nữ về sự độc lập, họ có quyền “nỗi loạn” để đấu tranh chống lại những hủ tục của xã hội mà gia đình là một đơn vị điển hình Qua đó, họ bảo vệ mình trước những bạo lực, bất công
Sau khi mất (do tự tử), bà nhận được Giải thưởng Pulitzer, một điều hiếm thấy
vì giải thưởng vốn chỉ trao cho những người còn sống Các tác phẩm của bà có ảnh hưởng lớn tới phong trào đòi quyền bình đẳng cho nữ giới
Tác giả Elfriede Jelinek với tác phẩm “Tình ơi là tình” đạt giải Nobel năm
2004, tác phẩm là một minh chứng cho một văn phong nữ đầy cá tính Trong Tình
ơi là tình, phụ nữ đã phải rắp tâm đi tìm số mệnh cho mình Brigitte và Paula, hai
cô thợ may đang muốn thoát khỏi cái kiếp may nịt vú trong một nhà máy ở miền núi nước Áo Mỗi người một cách, Brigitte thì cho rằng vật chất, tiền bạc sẽ giúp cô đổi đời Paula thì lại nghĩ tình yêu đẹp, đầy mộng tưởng sẽ cứu cánh cuộc sống tẻ
Trang 22nhạt của cô Họ đã tìm đến hai gã đàn ông chẳng đáng mặt, Heinz béo phị đáng ghét
và Eric đần độn thô thiển, rồi một cô thắng lợi mỹ mãn, một cô bất hạnh cay đắng
Và câu chuyện nghịch dị của Jelinek, nơi gói ghém những toan tính, bộ dạng, và cả
số phận của mấy người đàn ông đàn bà đó trong một thứ ngôn ngữ thản nhiên bậc
thầy, đã tàn phá hết những mong đợi mê muội của họ về hạnh phúc Với Tình ơi là tình, Jelinek đã biết cách nói ra, cuộc sống thực ra có thể đơn giản, dị hợm và tức
cười đến nhường nào
Không chỉ ở châu Âu, châu Mỹ văn chương nữ quyền phát triển mà ở châu Á, văn học nữ cũng phát triển rất mạnh mẽ Phong trào văn chương nữ quyền còn bùng phát ở Trung Quốc với cách viết táo bạo của một số cây bút nữ trẻ trong dòng văn học Linglei như Vệ Tuệ, Xuân Thụ, Cửu Đan, Miên Miên…các tác giả với hàng
loạt tác phẩm như: Điên cuồng như Vệ Tuệ, Búp bê Thượng Hải, Qụa đen … Điên cuồng như Vệ Tuệ là một trong những tác phẩm gây ấn tượng mạnh và để lại
nhiều ấn tượng trong lòng người đọc của nhà văn Vệ Tuệ Tác phẩm thể hiện cho lối văn chương trẻ trung của người phụ nữ trong xã hội hiện đại Trung Quốc đó là
họ có quyền chọn lựa những giá trị sống theo cách riêng của mình Họ sống cởi mở
và hăng hái, họ có những khát vọng riêng của mình và không ngần ngại đi tìm những khát vọng đó Tác phẩm gồm sáu chương được xem là “Bản tự bạch chân thành của tuổi trẻ” (Vương Trí Nhàn), các vấn đề tình yêu và tình dục được thể hiện trong tác phẩm Nhưng tình dục được nhấn mạnh hơn thông qua đó thể hiện những khát khao cháy bỏng của người phụ nữ khi yêu Tác phẩm mang tư tưởng mới của giới trẻ Trung Quốc trong việc thể hiện sự tự do và chọn lựa hạnh phúc theo cảm quan cá nhân của mình
Không những thế , phong trào văn học nữ quyền còn phát triển mạnh mẽ ở Hàn Quốc (Oh Jung Hee, Shin Kyung-Sook…), Nhật Bản (Rieko Matsura, Eimi Yamada, Hitomi Kanehara… )…Sự phát triển dồi dào về đội ngũ các nhà văn nữ và
số lượng các tác phẩm đã tạo nên phong trào nữ quyền trong văn chương
Chủ nghĩa nữ quyền thực sự diễn ra mạnh mẽ trong hoạt động văn học Các nhà văn nữ tìm đến con đường văn học không chỉ để bày tỏ những tâm tư tình cảm của
Trang 23mình và mong nhận được sự đồng cảm, mà đối với họ văn học còn là cách để các nhà văn nữ trải lòng mình với thế giới và khẳng định tiếng nói phái tính của mình Văn học nữ quyền được biết đến với nhiều tác giả tiêu biểu trên thế giới, được biểu hiện trên hai phương diện: phê bình văn học nữ quyền và sáng tác văn chương của những nhà văn nữ Văn học nữ quyền gắn với quyền sống cơ bản của người phụ
nữ, gắn với thế giới quan về con người của người phụ nữ, đi sâu vào thế giới phức tạp của người phụ nữ
Chủ nghĩa nữ quyền là một phong trào tiến bộ trên thế giới Người phụ nữ trong lịch sử từ trước đến nay đã phải chịu quá nhiều thiệt thòi, xã hội gắn cho họ những điều thuộc về bản năng, gò ép họ trong khuôn khổ, đã đến lúc người phụ nữ cần được hưởng quyền bình đẳng về giới Bình đẳng ở đây là sự tự do thể hiện bản ngã của mình
Các nhà văn nữ bằng cảm xúc và thiên hướng của mình đã làm phong phú các
đề tài mà trước đây ít được quan tâm như: Tình yêu, hôn nhân, con cái, cảm xúc của người phụ nữ, sinh hoạt của người phụ nữ… những đề tài được cho là vặt vãnh trước đây lại được làm mới và phong phú bởi văn phong của các nhà văn nữ Bên cạnh đó, họ còn đề cập đến những vấn đề “cấm kị” như đề cao tính dục, đề cao thân xác, đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ và đả kích vào thế giới gia trưởng, nam quyền nhằm khẳng định tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ
1.3.Văn học nữ ở Việt Nam
1.3.1 Văn học dân gian và văn học trung đại
Trong văn học dân gian, ca dao chính là tiếng nói tâm hồn, của những khát
khao cháy bỏng của con người Người phụ nữ đi vào ca dao với vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng Thế nhưng ẩn chứa trong cái thế giới ấy, người phụ nữ còn phải gánh chịu biết bao nhiêu sự tủi nhục, cực khổ và cay đắng từ ý thức hệ phong kiến Nho giáo mang lại Người phụ nữ xưa thường bị gạt ra lề xã hội Cuộc sống của họ bị bó hẹp
trong khuôn khổ gia đình của đời sống gia đình: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng
phu, phu tử tòng tử" (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con
trai) Đã thế, họ còn chịu nhiều bất hạnh từ chế độ đa thê với quan niệm: "Tài trai
Trang 24lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng” đã khiến cho cuộc sống của
họ luôn chìm đắm trong buồn tủi và tăm tối Bao nhiêu tâm sự, sầu đau, phiền muộn không thể tỏ bày cùng ai, người phụ nữ gửi trọn vào những câu ca dao:
"Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”
“Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”
“Thân em như miếng cau khô Người thanh chuộng mỏng, người thô tham dày”
Phần lớn phụ nữ Việt Nam thời xưa không được coi trọng, không có được địa vị xứng đáng trong gia đình, xã hội Họ phải gánh chịu nhiều sự áp đặt, bất công từ tư tưởng trọng nam khinh nữ Người phụ nữ rất khó có cơ hội để được phát triển
ngang tầm với sự phát triển của xã hội
Không chỉ trong ca dao, người phụ nữ trong văn học Trung đại cũng không
thoát khỏi được những hà khắc, giáo điều của ý thức hệ phong kiến mang lại Đồng vọng và chia sẻ với người phụ nữ trong xã hội bấy giờ đã có không ít những tác giả
đã đưa vào tác phẩm của mình nhân vật trung tâm là phụ nữ: Thúy Kiều, Đạm Tiên, nàng Cung nữ, nàng Chinh phụ… đồng thời bày tỏ sự khát vọng phá tan xiềng xích quy định của xã hội thời bấy giờ Bà chúa thơ Nôm - Hồ Xuân Hương đã viết:
“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”(Làm lẽ) và cả sự kiêu ngạo, tự trọng về bản
thân, đồng thời bày tỏ khát vọng về giới: “Ví đây đổi phận làm trai được” (Đề đền Sầm Nghi Đống)
Trong giai đoạn này những tác phẩm lên án, bênh vực cho phụ nữ còn có sự góp
mặt của các tác giả nữ: Đoàn Thị Điểm (Truyện kì Tân phả, dịch Nôm Chinh Phụ Ngâm), Công chúa Ngọc Hân (Ai tư vãn)… các nhà văn, nhà thơ đã bày tỏ sự đồng
cảm với người phụ nữ, lên án chế độ nam quyền, lấy phụ nữ làm nhân vật trung tâm cho các tác phẩm, song đây chỉ là những sáng tác số ít, chưa trở thành trào lưu và chưa thực sự đủ mạnh để thực sự ảnh hưởng trong xã hội Điều này cũng là lẻ dĩ nhiên bởi những hạn chế của thời đại
Trang 251.3.2 Văn học hiện đại
Văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX
Người phụ nữ được xây dựng với những tư tưởng mới Qua các tác phẩm, các
nữ nhà văn khẳng định vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội Đó là những người phụ nữ có tư tưởng tiến bộ, khao khát được học hành, được khẳng định tài năng và trí tuệ của mình với cộng đồng đã mang lại một diện mạo mới về hình tượng người phụ nữ trong văn chương Các sáng tác của các nhà văn nữ đáng chú ý
trong thời kỳ là: Đạm Phương nữ sử (Kim Tú Cầu, Hồng phấn tương tri…), Phan Thị Bạch Vân - bút danh là Hoàng Thị Tuyết Hoa (Nữ anh tài, Giám hồ nữ hiệp, Kiếp hoa thảm sử, Lâm Kiều Loan…), Huỳnh Anh Thị (Băng tâm ngọc chất)…
Có thể thấy rằng hình tượng người phụ nữ trong văn học thời kỳ này mang nhiều nét mới, manh nha, cổ xúy cho nữ quyền phát triển Tuy nhiên, đội ngũ các nhà văn, nhà thơ nữ thời kỳ này còn hạn chế nên sự ảnh hưởng chỉ giới hạn trong một nhóm, đội ngũ các tri thức nữ mang tư tưởng tiến bộ
Văn học giai đoạn 1930 - 1945, với sự ảnh hưởng của nền tri thức Tây học
của các nhà văn nữ, hình tượng người phụ nữ trong thời kỳ này được xây dựng với
tư tưởng tiến bộ, tự do Trong tình yêu, họ được quyền chọn lựa hạnh phúc Trong gia đình, họ được khẳng định là “nội tướng” Với xã hội, họ có vị trí, tiếng nói riêng của mình… Các sáng tác nổi bật thời kỳ này là Nguyễn Thị Kiêm với các bài viết
trên Phụ nữ tân văn, Huỳnh Thị Bảo Hòa (Tây phương mỹ nhân, Huyền Trân công chúa…) Giai đoạn này, phong trào nữ quyền trong văn chương có bước phát
triển hơn trước song vẫn chưa ghi được dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn, các sáng tác của nhà văn nam vẫn ở tư thế thống trị
Văn học giai đoạn 1945 - 1975, hòa chung với không khí hào hùng của cuộc
cách mạng dân tộc, hình ảnh người phụ nữ được xây dựng đó là những nữ quân nhân trẻ có lý tưởng cách mạng cao đẹp Họ sống và chiến đấu vì tổ quốc và đồng
bào Đó là Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, Phước trong Hoa rừng của Dương Thị Xuân Quý… Có thể thấy người phụ nữ trong giai
Trang 26đoạn này là con người của cộng đồng, của xã hội gắn với cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, được xây dựng cái nhìn lý tưởng mang cảm hứng sử thi
Sau năm 1975, văn học có sự thay đổi lớn sau cuộc chiến tranh vệ quốc kết
thúc Trong sáng tác, cảm hứng đời tư, cá nhân được chú trọng thay cho cảm hứng lịch sử trước đây Thân phận của con người cá nhân với những đau thương, mất mát, éo le, những cô đơn thầm kín… được đề cao Người phụ nữ trong sáng tác được hiện lên với hình ảnh con người có đời sống riêng tư, những đau khổ, bất hạnh… của họ trong đời sống đều được phản ánh qua văn chương Các tác phẩm
viết về họ trong thời kỳ này: Nguyễn Thị Ngọc Tú (Buổi sáng, Ngõ cây bàng, Câu chuyện dưới tán lá rợp, Hạt mùa sau, Dòng sông ánh sáng ); Ngô Thị Kim Cúc (Vết cháy, Dòng sông buổi chiều, Những người uống trà…)…
Văn học Việt nam những năm gần đây
Đời sống văn học trong những năm gần đây, đặc biệt kể từ sau đại hội VI (1986) trở lại đây với những chính sách và tư tưởng đổi mới trong văn chương đã tạo điều kiện cho các cây bút nữ phát triển Sự dồi dào về số lượng đội ngũ sáng tác nữ và chất lượng của các trang viết nữ đã đem lại một nền văn chương “nữ tính”, đa
thanh, đa sắc mà theo nhận xét của Sương Nguyệt Minh: “Có một thực tế rất sinh
động và không hề chối cãi trong đời sống văn nghệ là: Nếu ở lĩnh vực âm nhạc, sân khấu, điện ảnh…, thành tựu sáng tác của phái đẹp dường như mỏng mảnh, “khiêm tốn”hơn phái mạnh; thì trong sáng tác văn chương, phụ nữ lại ngang ngửa, thậm chí có người nói quá rằng còn hơn cả nam giới”[16]
Trong vòng khoảng hơn 20 năm trở lại đây, nền văn chương nước ta đã cho
thấy sự dồi dào và phong phú với các tác giả nữ tiêu biểu như: Võ Thị Hảo, Y Ban, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu…Mỗi người một cái nhìn, một quan niệm khác nhau về hiện thực nhưng qua những trang viết của họ các vấn đề của người phụ nữ được quan tâm sâu sắc Các nhà văn nữ thường quan tâm nhiều đến nỗi bất hạnh, sự
cô đơn và khát vọng tình yêu hạnh phúc
Về nội dung các tác phẩm thời kỳ này thì tình yêu, hạnh phúc cá nhân là một trong những đề tài mà các nhà văn nữ quan tâm nhiều nhất Đó cũng là mà các nhà
Trang 27văn nữ thể hiện những suy nghĩ, tâm tư tình cảm đồng thời cũng là cách mà họ chia
sẻ với thế giới về khát vọng chân thực và thầm kín nhất của mình Đề tài về tình yêu cũng hết sức đa dạng, các cung bậc cảm xúc trong tình yêu từ hạnh phúc đến khổ đau, từ ngọt ngào đến đắng chát
Khẳng định tiếng nói nữ quyền trong văn chương, các nhà văn nữ đã không ngần ngại có những đột phá mới trong sáng tác của mình đó chính là tạo lập hình ảnh các nhân vật nữ sống hết lòng vì tình yêu Họ kiên quyết bảo vệ tình yêu, hạnh phúc cá nhân và bản lĩnh sẵn sang chấp nhận khổ đau khi tình yêu tan vỡ
Bản lĩnh nữ quyền thể hiện ở người phụ nữ đó là họ sống thật với cảm xúc của mình, bảo vệ chính kiến của mình trong vấn đề tình yêu và hạnh phúc lứa đôi (Y Ban, Trần Thùy Mai, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu…) “Sự đột phá mang tính lịch sử” này có ý nghĩa rất lớn đối với người phụ nữ minh chứng cho sự “trỗi dậy của cái tôi”, của ý thức cá nhân đi đến khẳng định sự bình quyền, khẳng định sự tự quyết của người phụ nữ là điều hiếm thấy trong văn chương giai đoạn trước
Sức mạnh nữ quyền còn thể hiện ở lối hành văn Đó chính là giọng điệu mang phong cách của từng tác giả: Mộc mạc, chân chất như Nguyễn Ngọc Tư , nhẹ nhàng nhưng quyết liệt, sâu cay như Võ Thị Hảo, mạnh mẽ, thẳng thắn và rất đỗi đằm thắm như Nguyễn Thị Thu Huệ Giọng văn đa dạng, cá tính, góc cạnh, đầy sáng tạo thay thế hoàn toàn lối văn ủy mị, dịu dàng trước đây
Yếu tố nữ quyền còn thể hiện trong các đề tài về lịch sử Các nhà văn nữ công nhiên “sáng tạo lại” lịch sử bằng cảm quan cá nhân dưới cái nhìn nữ giới (Võ Thị
Hảo với Dạ tiệc quỷ, Giàn thiêu, Trần Thùy Mai với Thần nữ đi chân không, Biển đời người…)
Các nhà văn nữ còn mạnh dạn khi viết về tình dục, một trong những điều được
xem là “cấm kỵ và nhạy cảm” trong văn chương giai đoạn trước: Y Ban với I am Đàn bà, con rắn và thằng bé…Nguyễn Thị Thu Huệ với Thiếu phụ chưa chồng… , Dạ Ngân với Gia đình bé mọn…
Với họ, tình dục là một phương diện thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã Đây chính là cách mà người phụ nữ khẳng định quyền bình đẳng với nam giới, thể hiện
Trang 28những khát khao thầm kín của nữ giới, đồng thời khẳng định vị trí của người phụ
nữ Họ có quyền lựa chọn, tự do trong tình dục chứ không chỉ phục tùng và lệ thuộc
Tuy quyết liệt, mạnh mẽ nhưng hơi ấm nữ tính trong nhiều trường hợp vẫn được
“giữ lại một cách vô thức” đã tạo nên “nét nữ tính” riêng cho tác phẩm của các nhà văn nữ Có lẽ hơi ấm nữ tính này xuất phát từ trái tim nhân hậu của nữ giới
Trang 29CHƯƠNG 2 NHÂN VẬT NỮ TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ TÀI VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
“Văn học là nhân học” (M Gorki), là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người Con người là đối tượng chủ yếu của văn học
Cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Nhân vật văn học
là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”; “nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà
văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách” [9]; Từ điển thuật
ngữ văn học định nghĩa: “Nhân vật văn học chính là con người cụ thể được miêu tả
trong văn học” [13] Nhân vật là trung tâm của các tác phẩm văn học Thông qua
nhân vật, thế giới quan, nhân sinh quan và tư tưởng nghệ thuật của tác giả được phản ánh Ðối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, những lời bình luận đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Ðọc một tác phẩm, cái đọng lại sâu sắc nhất trong tâm hồn người đọc thường là số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư của những con người được nhà văn thể hiện
Như vậy, nhân vật đóng vai trò là yếu tố hàng đầu của tác phẩm, là phương tiện
để nhà văn truyền tải tư tưởng, thể hiện cá tính sáng tạo của mình Bên cạnh đó, nhân vật cũng là nơi mang dấu ấn đậm nét của hơi thở thời đại thể hiện qua các thể tài và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn
“Thể tài lịch sử (sử thi) tập trung vào sự hình thành dân tộc, các cuộc chiến tranh nhằm khẳng định chủ quyền, danh dự tôn nghiêm dân tộc, bộ tộc - quốc gia những cộng đồng người hình thành trong lịch sử Các xung đột xã hội rộng lớn như các cuộc cách mạng cũng có tính sử thi” [18, tr 104] Các nhân vật, hình tượng
Trang 30trong các tác phẩm mang cảm hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí cũng như phẩm chất chung của cả cộng đồng Số phận cá nhân gắn chặt với số phận cộng đồng
Cảm hứng nghệ thuật chính là nội dung tình cảm chủ đạo của tác phẩm, thể hiện những trạng thái tâm hồn, cảm xúc của tác giả trong tác phẩm.Cảm hứng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung; những nhân vật kết tinh sức mạnh, phẩm chất của cộng đồng,
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), không khí đổi mới - dân chủ tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệ thuật Văn nghệ sĩ được “cởi trói” tự do sáng tác Họ có nhiều trăn trở về trách nhiệm của người cầm bút trong sự nghiệp đổi mới nền văn học nước nhà Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn trong văn học 1945-1975 được thay thế bằng cảm hứng đời tư - thế sự Con người "sử thi” trong văn học trước 1975 được thay thế bằng con người "nếm trải”
Thể tài lịch sử ngày nay thay đổi khuynh hướng tự sự vĩ mô chủ yếu gồm vĩ nhân và quốc gia đại sự bằng tự sự mảnh ghép, gia tộc, cá nhân, … Nhà văn nhìn nhận lịch sử theo quan điểm cá nhân của mình từ đó thổi hồn vào tác phẩm Tư tưởng nghệ thuật của nhà văn được gửi gắm qua việc “sáng tạo lại” sự thật lịch sử
Có thể nói đó là khuynh hướng mới trong sáng tác văn chương về cảm hứng về thể tài lịch sử Sự chuyển hướng từ cảm hứng sử thi dần sang cảm hứng thế sự - đời tư trong các thể tài lịch sử là một tất yếu khi hoàn cảnh lịch sử thay đổi
Thể tài thế sự (xã hội) chủ yếu đề cập đến cuộc sống đời thường, về ứng xử của con người trong cộng đồng Những tác phẩm mang cảm hứng thế sự thường hướng đến các sự kiện khái quát mà con người thường gặp phải trong cuộc sống xã hội Đối tượng nhân vật trong thể tài này là các nhóm nhân vật được phân hóa thành các tầng lớp khác biệt nhau và đối kháng nhau về quyền và lợi ích: Người thống trị - Kẻ
bị trị; Người giàu - Người nghèo…Cảm hứng thế sự là những cảm xúc châm biếm,
Trang 31giễu nhại, lên án, tố cáo…Thể hiện sự trăn trở của nhà văn trước dòng chảy của thời cuộc
Văn học trong thời kỳ đổi mới còn nhìn nhận con người ở góc độ cá nhân một cách thấu đáo Đặc biệt sau 1986, thể tài đời tư đề cập con người ở góc độ cá nhân Các vấn đề về tâm lý, tình cảm, tình dục đều được khai thác và phản ánh rất rõ trong các sáng tác Vấn đề đời tư, bản thể, tự do luyến ái, đời sống tình dục được
đề cao Đề tài, chủ đề không còn bó hẹp, thiên về khai thác các vấn đề liên quan đến những nhiệm vụ chính trị trước mắt mà được mở rộng từ đề tài gia đình, thân phận tình yêu, số phận con người đến chiến tranh cách mạng, sản xuất xây dựng Các nhà văn không né tránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất, phần chìm
của hiện thực cuộc sống Cảm hứng đời tư là những xúc cảm về tình cảm cá nhân
của con người trong tác phẩm chủ yếu như sự chờ đợi, lòng chung thủy, những nỗi thất vọng, vui sướng, buồn đau…các cung bậc tâm lý của con người được thể hiện Trong sáng tác văn chương, cảm hứng nghệ thuật, thể tài và nhân vật không thể tách rời nhau mà có quan hệ mật thiết theo trình tự, bổ sung cho nhau tạo nên tác phẩm nghệ thuật ngôn từ mang phong cách sáng tác của nhà văn Khởi thủy là cảm hứng nghệ thuật tạo đà, thôi thúc nhà văn chọn lựa thể tài để thể hiện thành công ý
đồ nghệ thuật của nhà văn, cuối cùng nhân vật chính là nơi hội tụ và kết tinh giúp nhà văn truyền tải được tư tưởng, tình cảm và nội dung cần thể hiện
2.1 Nhân vật nữ trong các sáng tác với thể tài, cảm hứng lịch sử
2.1.1 Đề tài lịch sử
Đời sống văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung ở nước ta những năm đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự phát triển nở rộ và thăng hoa của đề tài lịch sử Quá trình
ấy có thể “cải biên” diễn ngôn lịch sử thành diễn ngôn nghệ thuật Thậm chí, nhiều
tác phẩm tiêu biểu là Hội thề của Nguyễn Quang Thân, Vàng lửa, Phẩm tiết, Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp, Dạ Tiệc Quỷ, Giàn Thiêu của Võ Thị Hảo… còn công
nhiên sáng tạo hư cấu siêu sử kí, giễu nhại “sự thật lịch sử”, đụng chạm đến “thần tượng” lịch sử Điều này rất khác so với các nhà văn trước đây khi viết về đề tài lịch
sử
Trang 32Giàn Thiêu là câu chuyện giả sử hư cấu dựa vào những sự kiện, những chi tiết
có thực trong giai đoạn 1088 - 1138, dưới hai triều Nhân Tông và Thần Tông nhà
Lý đã được ghi chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư và Thiền uyển tập anh mà
Võ Thị Hảo đã có “chất liệu” để xây dựng nên chân dung những con người vừa thực vừa ảo, vừa thân quen vừa xa lạ với người đọc Viết về đề tài lịch sử không đồng nghĩa với việc Võ Thị Hảo muốn lật lại quá khứ, soi xét lịch sử, mà ngược lại, chị muốn nhìn hiện thực theo cách riêng của mình - thông qua lăng kính hiện thực Cái đích cuối cùng của nhà văn là gửi gắm vào những nhân vật đó một thông điệp nhân sinh, một lời nhắn nhủ với con người trong cuộc sống hiện đại
Nhân vật Ỷ Lan trong Giàn Thiêu đã được nhà văn “xây dựng lại” bằng cảm hứng cá nhân Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà thay chồng (vua Lý Thánh Tông)
nhiếp chính, hết lòng chăm lo cho đời sống nhân dân, nhưng ở lần nhiếp chính thứ hai, sau khi Lý Nhân Tông con trai bà lên ngôi tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi làm Hoàng thái phi, tôn mẹ đích là Thượng Dương hoàng hậu làm Hoàng thái hậu, và để cho Thái hậu Thượng Dương cùng dự việc triều chính có Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc
Sách Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ toàn thư, quyển 3) chép như sau: "Quý
Sửu (1073) Giam Hoàng thái hậu họ Dương, (bởi) Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?" Vua bèn sai đem giam Dương thái hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông (còn) Thái sư Lý Đạo Thành lấy chức Tả gián nghị đại phu ra coi châu Nghệ An”[ 69]
Chính vết nhơ bức tử Dương Thái hậu và 76 cung nữ đã được tác giả Giàn thiêu khai thác triệt để, phá tan tảng băng chìm trong lịch sử về hình ảnh Ỷ Lan Nhà văn
đã dành riêng chương thứ X (Lãnh Cung) để viết về những điều này
Trong lịch sử, bà được coi là một Phật bà Quan âm tái thế, một vị “thánh mẫu” của nhân dân, một phụ nữ quyền lực và tài năng Khi vua Lý Thánh Tông đem quân
đi đánh Chiêm Thành, bà đã giữ quyền chấp chính, hết lòng chăm lo đời sống nhân
Trang 33dân Bà cũng là người mộ đạo, từng cho xây nhiều chùa tháp, góp phần làm cho phật giáo trở nên hưng thịnh ở thời Lý Nguyên phi Ỷ Lan được người đời sùng kính bởi sự đức độ và lòng nhân từ của bà
Trong tác phẩm, Võ Thị Hảo không hề bỏ qua những chi tiết tốt đẹp đó của bà Gián tiếp qua những cuộc luận bàn chính sự giữa bà với thái uý Lý Thường Kiệt và thái sư Lý Đạo Thành, bà luôn tỏ rõ là người thông minh, rất biết trọng người tài Nhưng điều đáng nói ở chỗ là dưới ngòi bút tinh tế, sắc sảo và nhạy cảm, Võ Thị Hảo đã dũng cảm xoáy sâu vào những phần khuất tối nhất, đời thường nhất trong cuộc đời nhân vật này để phê phán Ỷ Lan cũng là một người phụ nữ bình thường như bao người khác: cũng ghen tuông, đố kị, ích kỉ và đầy tham vọng quyền lực
Trong Giàn thiêu, Ỷ Lan hiện lên như một “nữ bạo chúa”: “Ta muốn duy ngã độc
tôn trong thiên hạ” Chính vì tham vọng quyền lực dã tâm này, bà đã buộc con trai
là vua Lý Nhân Tông đưa việc chôn cung nữ khi vua băng hà thành tục lệ của triều
Lý cốt để trừ diệt Dương Thái hậu (vợ cả Lý Thánh Tông, bị bức tử cùng 76 cung nữ) Tội ác này đã ám ảnh bà trong suốt phần đời còn lại Ỷ Lan đã phải cho xây hàng trăm ngôi chùa để tự trấn an Không những thế, nó khiến bà luôn sống trong những giấc mơ, ám ảnh về những oan hồn hiện về tra vấn, đòi mạng, những con chuột khổng lồ cắn xé, tâm thần bất ổn… Qua những điều này, nhà văn muốn gửi gắm đến người đọc Nguyên phi Ỷ Lan hóa ra cũng là con người với tất cả những hệ lụy thường tình và dữ dội
“Lật tẩy” quá khứ, chiêm nghiệm lịch sử bằng cảm quan cá nhân, thông qua hiện thực lịch sử được phản ánh đó là sự phản đối sự tranh giành quyền lực của những kẻ chuyên quyền, đứng đầu thì cái kết cuối cùng là đau thương và chết chóc
Nhân vật Lê Thị Ðoan là một nhân vật “lãng mạn lịch sử” của tác giả Giàn thiêu Võ Thị Hảo đã đặt chuyện Lê Thị Đoan giả trai đi thi này vào thời Lý, cố
nhiên là chuyện hư cấu: Lê Ðoá (Lê Thị Đoan) và Lý Trác đều đỗ, đều được bổ làm quan, nhưng Lý Trác lừa dịp giật yếm áo tố cáo Lê Ðoá là gái giả trai khiến tài nữ
Lê Thị Ðoan bị đày biệt xứ
Trang 34Nhưng không lâu sau, bà lại xuất hiện giữa đám thường dân trong lễ hỏa thiêu các cung nữ theo vua Nhân Tông, lên án việc triều đình đem tục chôn theo của phương Bắc áp dụng vào nước mình khiến hàng trăm phụ nữ đẹp đẽ tài giỏi vô tội
bị chết oan “Bà cắn lưỡi tự vẫn ngay khi ấy, trước mặt vua trẻ và triều thần” [7, tr
52], nhưng những bài văn của bà tố cáo chính sự hủ bại lại được kẻ sĩ trong nước chép thành sách loan truyền, thiên hạ tranh nhau đọc, trong khi cả những hiểu dụ của triều đình lẫn những sách vở của đám văn nhân được triều đình nuôi nấng, viết trên giấy hoa, tung khắp đường ngang ngõ hẻm, dân chúng cũng không thèm đọc, lại còn đặt vè giễu cợt Các quan trong triều đứng đầu là Lý Trác đem cuốn sách mà
họ gọi là “tà thư” ấy cùng linh hồn tác giả của nó ra xử tử, xem “đó là cách duy
nhất để thị uy dẹp loạn” [7, tr 520]; “bài vị của tác giả bị băm vằm, cuốn sách bị thuốn sắt nung đỏ xuyên nát rồi ném vào lửa, bìa sách bị quăng vào vạc dầu; nhưng con trai tác giả trước lúc bị mổ bụng vẫn lên tiếng “cảm ơn” các quan đã làm thủ tục cho sự bất tử của cuốn sách và tên tuổi mẹ mình vì “những cuốn sách bị đốt là những cuốn sách được phong thần” [7, tr 526]; khi tro đốt sách bị đổ xuống sông Cái, có cơ man dân chúng lội xuống sông vục nước uống: đối với họ đó là “uống chữ của bà Ðoan vào trong tim cật… Ðể sông Cái không bao giờ ngừng chảy Ðể chính khí nước Nam này không bao giờ cạn kiệt” [7, tr 527]
Nhân vật Lê Thị Đoan chính là nhân vật mang dụng ý đặc sắc trong sáng tạo của nhà văn Võ Thị Hảo Thông thường khi viết về nhà Nho, các tác giả thường
chọn đó là một nhà Nho là nam giới Tác giả Giàn thiêu cũng chọn một nhà nho
nhưng chẳng những không phải là là một nhà Nho nam, đây là một phụ nữ, một phụ
nữ từng theo Nho học, rồi qua Nho học đã đi tới những suy nghĩ vì dân, dám lên tiếng đòi quyền sống của giới phụ nữ, lên án sự bạo hành đối với phụ nữ
Mượn tích xưa để nói chuyện hôm nay, đề tài “giả sử” được Võ Thị Hảo tiếp tục
khai thác thành công trong tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ, tiểu thuyết viết về giai đoạn tăm
tối của đất nước ta giai đoạn 1953 - 1956 Cuộc cải cách ruộng đất được Đảng và
Nhà nước ta phê duyệt Trong cuộc chiến tranh vệ quốc, hàng ngàn các sỹ phu, bộ đội yêu nước đã lên đường nhập ngũ Nền độc lập giành được nhờ đóng góp không
Trang 35nhỏ của tầng lớp địa chủ, tư sản Cuộc cách mạng ruộng đất với mục đích giành chính quyền về tay công nông, trưng cầu ruộng đất, “đào tận gốc, trốc tận rễ”, phú hào, địa chủ đã tạo nên một bể máu với cảnh nồi da nấu thịt Sự lộng quyền của các bần cố nông đã tước đoạt tài sản và sinh mạng của những người thậm chí là ân nhân của mình lúc đói kém Ông Cử, một địa chủ tri thức, làm nghề dạy học, hiền lành, đức độ Mỗi khi mùa màng thất bác, gia đình ông lại đi phát chẩn để giúp cho dân nghèo Ơn đức ấy được đáp lại sau khi kháng chiến thành công, gia đình ông bị trưng cầu tài sản, bản thân ông bị kết án là thành phần địa chủ, phản quốc và xử tử man rợ Nỗi đau càng được nhân lên gấp bội, khi chính người đày tớ trong nhà ông,
kẻ đáng ra phải chịu ơn ông thì nay lại đấu tố ông gay gắt nhất, đó là ông Dậm Tài sản của ông đã bị ông Dậm chiếm, vợ con của ông cũng bị ông Dậm bức nốt Bà Cử
và cô Phượng bị ông Dậm bức hiếp đến nỗi phải quyên sinh Còn Miên, đứa con gái
do ông Dậm cưỡng bức cô Phượng mà có Cuộc đời Miên cũng tối tăm như chính giai đoạn lịch sử mà cô sinh ra Phải chứng kiến quá nhiều cái xấu, cái ác, từ cách hành xử của cha với mẹ, với anh trai, với người bạn gái cùng thời, và ngay cả trên chuyến tàu vượt biên, Miên buộc phải trở thành quái nhân, cô không thể yêu một ai khác ngoài khát vọng trả thù Trả thù cho mẹ, cho anh, cho bạn, cho chính nghĩa đã
bị vùi dập, cho kiếp người như con ếch cứ bị mắc hoài giữa họng con rắn mà không thể nào thoát ra được
Dạ tiệc quỷ mang nhiều thông điệp về số phận con người trước sự thay đổi của
thời cuộc Những gì mà quá khứ mất mát đã được sửa sai, những vết thương cũng bớt đau dần theo năm tháng Nhưng nó cần phải được nhìn nhận trực diện và thẳng thắn hơn về những mất mát ấy, việc làm đó không phải để bởi móc quá khứ mà là bài học cho hôm nay, nếu với giai cấp thống trị, những người được tập thể đặt niềm tin, đại diện ưu tú cho cộng đồng nếu không công minh, sáng suốt thì hậu quả của
nó là khó lường Từng số phận con người trong tác phẩm là điển hình cho tập thể giai cấp của chính họ Trong đó, bà Cử, Phượng, Miên, Hiền và những người đàn bà
bị hiếp, bị đánh trên con tàu của lịch sử Thiệt hại và đau đớn không chỉ là nỗi đau
Trang 36trực diện của giai cấp địa chủ mà kéo theo rất nhiều thế hệ Đó là ký ức đau buồn của cả dân tộc
Bằng bản lĩnh của người cầm bút, bằng cả sự nhạy cảm của người phụ nữ, khi viết về đề tài lịch sử, nhà văn Võ Thị Hảo đã để lại trên những trang viết của mình những bức tranh siêu thực, trần trụi và đầy ấn tượng Qua đó thể hiện khát vọng người cầm bút là vén bức màn bí mật của lịch sử, đồng thời thể hiện khát vọng của người phụ nữ ở chốn nhân gian
2.1.2 Đề tài chiến tranh
Đề tài sử thi của văn học sau 1975 có sự chuyển mình lớn Thay vì tất cả vì tổ quốc, vì nền độc lập của dân tộc thì đề tài về những con người cá nhân được quan tâm sâu sắc Đề tài về chiến tranh trong sáng tác của Võ Thị Hảo được mô tả từ góc nhìn thế sự, đời tư chứ không phải từ góc nhìn sử thi nhằm thể hiện nỗi trăn trở của nhà văn về những số phận của những người phụ nữ thời hậu chiến trong cuộc sống hiện tại Cũng chính ở đây, cảm hứng thế sự đã gắn liền với một cảm hứng mới: nhìn thẳng vào sự thật, nhận chân lại các giá trị
Viết về chiến tranh không chỉ có những trận đánh, những chiến thắng vẻ vang
mà mặt trái của nó cũng được phơi bày Chiến tranh hiện lên với bộ mặt méo mó của nó là nỗi đau khổ dồn lên con người Tàn tích và nỗi đau để lại sau chiến tranh không chỉ là nỗi đau thể xác mà nỗi đau tinh thần kéo dài, dai dẳng mãi Tất cả những điều đó không chỉ có trong những sáng tác của các nữ nhà văn như: Lê Minh
Khuê với Thị trấn, Mong manh như là tia nắng, Nguyễn Thị Thu Huệ với Người
đi tìm giấc mơ, Y ban với Điều bây giờ mới hiểu Không chỉ có các nhà văn nữ
khai thác đề tài con người cá nhân sau chiến tranh mà ngay cả các nhà văn nam
cũng có các sáng tác về đề tài này như Lê Lựu với Thời xa vắng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, chiến tranh được khai thác nhiều dạng khác nhau Với nhà văn, chiến tranh mang đến sự đau khổ cho mọi kiếp người Đặc biệt đối với người phụ nữ, chiến tranh không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là những vết thương không lành trong thế giới tinh thần của họ còn khủng khiếp hơn Trăn
Trang 37trở về số phận của người phụ nữ trong thế giới hậu chiến, liệu họ có nhập cuộc được với cuộc sống, họ đứng lên ra sao trước những mất mát hay bị rơi vào cảnh bị rẻ rúng của xã hội đã trở thành nỗi ám ảnh trên từng trang viết của nhà văn khi viết về chiến tranh
Quan tâm đến từng con người, từng số phận trong cuộc chiến với Người sót lại của rừng cười là bức tranh thu nhỏ của những méo mó, tàn nghiệt của cuộc chiến
Bên cạnh đó, nhà văn còn đặt ra vấn đề về thân phận con người trở về trong thế giới
hậu chiến “sau chiến tranh, những số phận mất mát đã đứng dậy ra sao … là điều
khiến tôi trăn trở” [4, tr 238]
Chiến tranh cướp đi mạng sống và tuổi xuân của các nữ chiến sĩ:“Bốn cô gái trẻ
măng nhưng mái tóc chỉ còn một dúm xơ xác” [4, tr.87] Ngày mới vào chiến
trường mái tóc Thảo óng mượt, dài chấm gót Các đồng đội cưng Thảo như vàng, nhất quyết rằng không để rừng cướp mất mái tóc của họ Nhưng rừng mạnh hơn Hai tháng sau, bất chấp đủ các loại lá thơm mà đồng đội mang về cho Thảo gội, tóc Thảo chỉ còn lại một túm sợi mỏng mảnh xơ xác
Chiến tranh không chỉ là nỗi đau về thể xác mà ghê gớm hơn nỗi đau về tinh thần đeo đẳng, ám ảnh họ Nỗi cô đơn đặc quánh đang dày vò các nữ chiến sỹ mà khó có ngôn từ nào diễn tả được Chỉ có những ai đã từng đi qua cuộc chiến mới cảm nhận được hết Bản năng của con người bị kiềm nén quá mức đã trở thành ẩn
ức đáng thương: “Cả bốn cô gái đều đem lòng si mê chàng trai ấy, nhưng không
phải cho họ, mà cho Thảo Cái sự si mê hộ người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn mầu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi" [4, tr 88] Mắt họ lại tròn xoe,
ánh lên niềm hạnh phúc mỗi khi nghe Thảo kể về Thành Có lẽ sự khao khát được sống, được yêu, được mãn nguyện với chính tuổi trẻ đang quẫy đạp trong họ Dù đó
là hạnh phúc của người khác nhưng họ cũng cảm thấy hạnh phúc đó là nỗi khát khao cháy bỏng đang vẫy gọi họ, như một liều thuốc tinh thần giúp họ chống lại
được cái khắc nghiệt của chiến tranh đang bào mòn cuộc sống của họ
Trang 38Trong cô đơn sâu thẳm, các thiếu nữ nơi đây phát đi muôn vàn thông điệp của tình yêu nhưng họ không được nhận lại, rồi sinh ra chán nản, yếu mềm, rơi vào cõi
cô đơn tuyệt vọng Đã nhiều lần có các nam chiến sĩ đến lấy quân tư trang rồi đi:
“Họ đến mang theo bao câu nói bông đùa suồng sã, dăm ba cái bấu véo …giăng
vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô gái thấm thía nỗi cô đơn” [4, tr.89] Các nữ chiến sĩ bị dồn
nén quá mức các cảm xúc tự nhiên của bản năng, các sung năng về tình dục tự
nhiên bị kiềm hãm dẫn đến “căn bệnh của chiến tranh”: “Con vượn trắng ấy lại là
một người con gái hoàn toàn trần truồng, tóc xỏa, vẻ mặt bơ phờ và đang ngửa cổ
ra sau cười khanh khách…Trên sàn chòi khấp khểnh, ba cô gái đang vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc và xé quần áo Còn một cô khác trẻ hơn đang chạy tới chạy lui ôm đầu đầy tuyệt vọng [4, tr 90, 91]
Bước ra khỏi chiến tranh, tưởng chừng Thảo sẽ được hạnh phúc trong tình yêu
và niềm vui sướng Tình yêu mà Thảo đã chín năm chờ đợi, cái hạnh phúc ấy như vầng sáng vẫy gọi Thảo từng ngày, cho Thảo thêm sức sống vượt qua những ngày khắc nghiệt và gian truân nhất của chiến tranh Vậy mà giờ đây sao mà nó xa ngái,
cô dường như lạc mất chính mình trong thế giới của ngày bình Thảo không thoát nỗi chính mình, không thoát ra được thế giới của ngày hôm qua Cuộc sống của Thảo co mình trong vỏ ốc, lặng lẽ, trầm tư và luôn ám ảnh với những giấc mơ:
“Trong giấc mơ tuổi thanh xuân, cô chỉ thấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn ngực đã bị đâm nát của chị Thắm, và từ trong đám tóc rối ấy lẩy ra hai giọt nước mắt trong veo và rắn câng như thủy tinh, đập mãi không vỡ Đến đây, cô hét lên và tỉnh dậy, nắm chặt lấy hai thành giường lạnh buốt ” [4, tr.97]
Không còn súng đạn, bom rơi nhưng những ký ức về chiến tranh vẫn đang hiện hữu nơi Thảo, những ký ức ấy không chỉ có trong giấc mơ mà dường như đó là
cuộc sống của Thảo: “Cô thường xo đôi vai gầy, nép mình trong góc giường tầng
để viết nhật ký Trong những cuộc đối thoại, cô thường lơ đễnh… Thảo thở dài, biết rằng mình thật là quỷnh, thật khó nhập cuộc” [4, tr.97]
Trang 39Không chỉ có trong những giấc mơ mà từ hình hài, dáng vóc của cô đều nhuốm
màu của chiến tranh :“Thảo vẫn giữ được những đường nét bẩm sinh Nhưng đôi
mắt cô như mắt của người đang đi trong một giấc mộng dài Làn da xanh tái vì những cơn sốt rừng Khuôn mặt chỉ sinh động lên mỗi khi cô cười, mà những nụ cười thường hiếm hoi” [4, tr 96, 97]
Lặng lẽ rời xa người mình yêu bằng cách làm đau đớn nhất không phải là Thảo không yêu Thành mà vì lòng tự trọng, Thảo không muốn mình được thương hại và trở nên gánh nặng tâm lý đối với Thành Bi kịch của một người phụ nữ đã ra khỏi cuộc chiến nhưng không bao giờ có thể hoà nhập với đời thường Qua những mất mát của cô, người đọc thấm thía nỗi kinh hoàng của chiến tranh Dưới ngòi bút của
Võ Thị Hảo, chiến tranh giết chết những người lính trẻ, nhưng khủng khiếp hơn, nó tàn phá vẻ đẹp của người phụ nữ tượng trưng của nguồn sống và tương lai loài người Tác phẩm của Võ Thị Hảo tràn ngập những cơ thể phụ nữ trần truồng,
thương tật, “chết” trong những tư thế rất khác nhau: “Một lưỡi lê cay cú đã đâm nát
một bên ngực của chị Thắm" [4, tr 95]; “Bộ ngực đã chết vẫn nhô cao khiêu khích trong thân thể cứng đờ Thân hình người con gái lãng đãng như trôi dạt trên nền chiến địa” [8, tr 26]…
Trong thế giới hậu chiến của Võ Thị Hảo, người nữ không có cuộc sống bình thường, trong họ luôn tràn ngập sự dằng xé, mâu thuẫn, nỗi đau và ám ảnh Nhà văn
đã đặt số phận con người vào hoàn cảnh của chiến tranh Lúc này, quyền sống con người đối lập với sức tàn phá ghê gớm của bom đạn, khói lửa Chính chiến tranh phá tan tinh thần của Thảo của bốn cô thanh niên nơi “rừng cười” Người trở về từ chiến tranh cũng không có được hạnh phúc trọn vẹn Trong thời chiến, họ là người biết và dám hy sinh niềm hạnh phúc của mình, tham gia vào cuộc kháng chiến của toàn dân Thời bình, họ đã hy sinh chính tình yêu của mình để người khác được hạnh phúc Những hành động của Thảo chứa đựng nhiều ý nghĩa về lòng nhân ái, đức hy sinh và đó cũng là hành động của hầu hết nữ chiến sĩ bước ra từ chiến tranh
Ở điểm này, Võ Thị Hảo đã gặp gỡ Bảo Ninh trong việc phản ánh thế giới con
người thời hậu chiến Với Nỗi buồn chiến tranh người đọc sẽ được cùng Kiên -
Trang 40trung đội trưởng trung đội trinh sát trải qua những cam go, nhọc nhằn của đời lính Trong số những người còn sống sót sau chiến tranh, Thịnh “con”, Can, Vĩnh, Thịnh
“nhớn”, Cừ, Oanh, Tạo voi… - những đồng đội của anh - đều đã nằm lại nơi chiến trường, Kiên luôn bị chiến tranh ám ảnh Trở về sau cuộc chiến, anh muốn viết một tiểu thuyết về cuộc đời lính của mình, về những ngày tháng mình đã sống, chiến đấu
và trải nghiệm; về những gì đã qua với người chị hàng xóm tên Hạnh, với cô giao liên Hòa… và đặc biệt, sâu đậm nhất và cũng nhức nhối nhất là với cô bạn gái tên Phương Có thể nói trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, người phụ nữ là biểu tượng cho cái Đẹp và Nhân tính Người phụ nữ không chỉ là ánh sáng cứu rỗi cuộc đời con người mà còn là nạn nhân của sự hủy diệt Điều đó được biểu thị tập trung trong hình tượng Phương, người phụ nữ xuyên suốt cuốn tiểu thuyết Đối với Kiên, Phương là người đánh thức tình yêu trong anh thời tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh trong quãng đời chiến trận của anh nhưng đồng thời, Phương cũng là một nạn nhân của chiến tranh, bị làm nhục ngay trong những giờ khắc khởi đầu của cuộc chiến và mối tình của họ mãi mãi là một mối tình đau khổ không thành với những vết thương không thể chữa lành trong cuộc sống thời bình
Mối tình ấy ám ảnh anh suốt mười năm chinh chiến, ngỡ đã không còn gặp lại người yêu dấu, nhưng định mệnh trái ngang, ngày trở về, anh và Phương gặp lại Và lần gặp mặt này mới chính là lần chia xa vĩnh viễn - đúng như dự cảm mà cha anh ngày nào đã báo trước Một ngày, người trong khu phố không còn biết đến sự hiện diện của Kiên và cuộc đời của anh được người ta tìm thấy trong những trang bản thảo nát nhàu từ tay người đàn bà câm trên gác xép
Thảo trong Người sót lại của rừng cười vừa có nét giống Kiên, vừa có nét
giống Phương Thảo và Kiên đều là những người lính bước ra khỏi cuộc chiến Nỗi đau của chiến tranh ám ảnh họ và họ thực sự không nhập cuộc được với cuộc sống thời bình Nhưng hơn thế, Thảo là một người phụ nữ, giống như Phương, Thảo bị chiến tranh tàn phá cả nhan sắc, lẫn tuổi xuân Nhưng hơn thế, trong thời bình, cô tiếp tục hy sinh một lần nữa để người yêu của mình hạnh phúc, tình yêu của Thảo
đã cứu rỗi cuộc sống bởi sự hy sinh cao đẹp của cô Như loài yến huyết ngoài khơi