Lịch sử vấn đề Đánh giá chung về tác giả, tác phẩm của Ngô Ngọc Bội trước hết phải kể đến một số bài báo, bài nghiên cứu, phê bình của các nhà nghiên cứu trong cuộc hội thảo khoa học: Nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐINH HỒNG VĂN
NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGÔ NGỌC BỘI
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
Thay mặt chuyên ngành – Trưởng khoa
PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG.
Trang 2Nghệ An - 2013
Trang 4sống nông thôn và người nông dân Đề tài nông thôn, nông dân trong văn học Việt Nam, vì vậy, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.
1.2 Ngô Ngọc Bội là một trong số các tác giả có những đóng góp đáng kể cho văn học Việt Nam hiện đại ở đề tài này Hơn 40 năm “thâm canh” trên mảnh đất về nông thôn và nông dân, cho đến nay, Ngô Ngọc Bội
đã có 12 tập truyện ngắn và tiểu thuyết, hơn 70 bài ký viết về đề tài trên Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá một cách thấu đáo những đóng góp cũng như sáng tạo độc đáo của nhà văn này về đề tài nông thôn cho tới nay dường như còn thiếu vắng
1.3 Từ một hiện tượng cụ thể, văn xuôi Ngô Ngọc Bội, chúng ta có thể nhìn rộng ra tiến trình và đổi mới của văn học Việt Nam hiện đại về mảng đề tài trên
Đấy là những lý do giải thích vì sao chúng tôi chọn đề tài Nông dân
và nông thôn trong sáng tác của Ngô Ngọc Bội làm đối tượng nghiên cứu.
2 Lịch sử vấn đề
Đánh giá chung về tác giả, tác phẩm của Ngô Ngọc Bội trước hết phải
kể đến một số bài báo, bài nghiên cứu, phê bình của các nhà nghiên cứu
trong cuộc hội thảo khoa học: Nhà văn Ngô Ngọc Bội và nhà văn Nguyễn
Hữu Nhàn với đề tài "Nông dân - Nông thôn - Nông nghiệp", ngày 28 - 11
- 2009, do Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật Tỉnh Phú Thọ phối hợp tổ chức tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ: Phong Lê, Văn Chinh, Phan Trọng Thưởng, Văn Giá, Nguyễn Anh Đào,
Các bài tham luận đều "có nội dung sâu sắc, hàm lượng cao, mở ra
nhiều vấn đề cho tiến trình văn học hiện đại và đi đến khẳng định những đóng góp to lớn của hai nhà văn Ngô Ngọc Bội và Nguyễn Hữu Nhàn đối với vấn đề nông dân, nông thôn, nông nghiệp".
Theo Phong Lê, văn học Việt Nam đương đại với mảng đề tài nông dân, nông nghiệp nổi lên 10 tác giả, trong đó 5 người đã mất, còn lại 5 thì 2 người đã từ lâu gác bút (Vũ Thị Thường và Nguyễn Thị Ngọc Tú), chỉ có 3
Trang 5nhà văn là Nguyễn Kiên, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Hữu Nhàn, là vẫn còn gắng
gỏi với những đường cày nông sâu trên cánh đồng nông dân, nông nghiệp
Phong Lê xếp nhà văn Ngô Ngọc Bội vào đội ngũ người viết thuộc thế hệ sau 1945 như Nguyễn Văn Bổng (1921-2001), Chu Văn (1922-1994), Nguyễn Địch Dũng (1925-1993), Đào Vũ (1927-2005), Nguyễn Thế Phương (1930-1989), Nguyễn Khải (1930-2008), Vũ Thị Thường (1930), Nguyễn Kiên (1935), Nguyễn Hữu Nhàn (1938), Nguyễn Thị Ngọc Tú (1942), với các tác phẩm xuất hiện chủ yếu từ giữa những năm 50 đến nửa đầu những năm 80 - là lực lượng đối diện với hiện thực này
Nguyễn Anh Đào, trong bài tham luận “Ngô Ngọc Bội - người lấy
nước ao làng làm mực viết”, đã dẫn lời tác giả Ngô Ngọc Bội: "Ao làng rồi
thành ao hợp tác Ao hợp tác rồi thành ao gia đình Ao gia đình rồi lại thành ao làng Lằng nhằng vẫn chỉ là chuyện về cái anh nông dân cả Mà nói về nông dân, thì mình có tới trên hai trăm bài ký, truyện ngắn đã in Thôi thì nông dân làm cải cách, đánh địa chủ, nông dân vào hợp tác rồi ra hợp tác, nông dân đói, nông dân mất ruộng, rồi nông dân cưỡi xe máy, lên nhà tầng, nông dân bỏ làng, làng lên phố, rồi nông dân kêu cứu, nông dân đi kiện trăm thứ nó xoay quanh cái ao làng, viết đến chết cũng không hết chuyện" [42]
Ngô Kim Đỉnh, trong “Phong cách Ngô Ngọc Bội” (Báo Văn nghệ, số
46, 18 - 11 - 2006) đánh giá phần lớn tác phẩm của Ngô Ngọc Bội "đều hướng về số phận người nông dân và đời sống nông thôn, những hoạt động đời sống tình cảm và sản xuất trong nông dân - nông nghiệp Không gian và thời gian nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương của Ngô Ngọc Bội thường cách điệu từ không gian và thời gian đời thật của chính miền quê trung du Phú Thọ Điều ấy nói lên tác giả là nhà văn luôn đau đáu, trăn trở về
sự vận động và phát triển từ chính quê hương máu thịt của mình nói riêng, sau đó là rộng ra cả nước nói chung Nếu đọc các tác phẩm văn chương của Ngô Ngọc Bội, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ nhận được thỏa đáng, bao quát một cách nhìn, một cách đánh giá, một kiến giải chuyển dịch tích cực cho hướng
Trang 6vận động đi lên của làng quê, của địa phương chúng ta qua mỗi chặng đường "Cũng trong bài viết này, Ngô Kim Đỉnh dẫn lời nhà văn Xuân Cang cho rằng: "Ngô Ngọc Bội là một kiểu Võ Huy Tâm trong văn học đề tài nông thôn, không có cách mạng, không có văn học cách mạng thì không khám phá, phát hiện và đào tạo ra anh" [46].
Văn Chinh, trong bài viết “Ngô Ngọc Bội - nhà văn của bộ quần áo mới mặc buổi đêm”, nhận xét: "Nhà văn Ngô Ngọc Bội ở những trang văn mập mẩy của mình, đôi khi thật bay bổng và khi đó, tinh thần lãng mạn của trang văn đến Tự lực văn đoàn cũng phải phát thèm Ấy là khi anh cán bộ phong trào đạp xe từ Hà Nội về vùng ngập lũ thăm nhân tình với bịch bồ kết treo ở ghi đông; anh ta có thể bị nước lũ cuốn trôi, nhưng mái tóc như mây như suối của nàng phải được thơm bồ kết Mà chẳng cứ một mái tóc như mây như suối của nàng, các mái tóc của bạn nàng cũng phải được thơm lây -
sự tinh khôn của anh nông dân đã mách nước rằng, mối tình của anh của ả sẽ
êm thấm hơn nếu anh ta khéo dân vận Vâng, cái giống học trò yêu ai thì chỉ biết có người ấy, chi tiết văn học nông thôn nằm khuất nẻo ở đâu đấy, như cái duyên cô thôn nữ nằm ở chỗ dường như không biết phơi bày Hẳn không
ai có thể quên được chi tiết bà vợ cứ nhất mực không chịu vận bộ quần áo mới ông chồng sắm cho Một đời lam lũ váy đụp áo vá quen rồi, nay tự dưng quần quần áo áo, bà không mặc, vì ngượng Tác giả không cắt nghĩa, không chui vào bụng nhân vật để nói năng, diễn giải gì Nhưng đến đêm ông chồng lần sờ thấy sột soạt, hỏi “mặc rồi à?” Thật là áo gấm đi đêm, nhưng người đàn bà nông dân thì phải thế, ắt thế Chồng chăm chút từ khi chặt tre đan lồng nhốt lợn mang bán, sắm sửa cho mình; miệng vẫn chối đây đẩy không thèm mặc vì ngượng và ngượng thật, nhưng đêm nằm bên chồng thì mặc vào, mặc chứ, để chồng hưởng cái mới mẻ như thanh tân thơm thảo của mình, khốn khổ, cả đời bên vợ váy đụp hôi hám chấy rận rồi còn gì " [34]
Cũng tác giả Văn Chinh đã cho rằng Ngô Ngọc Bội – là “người đắm mình với nông thôn” Tác giả nhận xét: " Có thể nói, chỉ khi về với nông
Trang 7thôn, Ngô Ngọc Bội mới trở nên tự tin, đắm hết mình vào nông thôn - nhiều khi là đắm mình theo nghĩa đen Ông hiểu tường tận từng chân tơ kẽ tóc, hiểu những cái người nông dân không nói ra." và "Ngô Ngọc Bội là một trong những người đầu tiên nêu vấn đề dòng họ, tinh thần bè phái phe giáp
trong nội bộ ở tiểu thuyết Lá non, hình như xuất bản năm 1978, hơn mười năm trước cái Mảnh đất lắm người nhiều ma xuất hiện Tôi không biết vì sao
cuốn tiểu thuyết rất quan trọng này, được phanh phui với giọng của người
trong cuộc, nhiều chỗ khá gay gắt nhưng lại có cái tên hiền lành là Lá non
Còn sự im lặng của giới phê bình và dư luận bạn đọc thì tôi hiểu được; đó là thời kỳ im lặng là vàng" [35] Trong văn Ngô Ngọc Bội không có phong tục, không có những câu nôm na và những nhân vật ngốc nghếch khờ dại như những nhà văn nông nổi tưởng tượng Văn ông chứa đựng những bí mật thăm thẳm của tâm lý nông dân, nó không bao giờ được nói trắng phớ ra, nó
là bộ quần áo mới của người đàn bà nọ
Nguyễn Tham Thiện Kế với bài viết “Người ngồi giữa làng để mục kích sự đời” cho rằng Ngô Ngọc Bội trước sau vẫn là nhà văn của làng quê Dẫn lời Ngô Ngọc Bội, tác giả viết: "Ở nước thì phải ngồi giữa nước, ở làng thì phải ngồi giữa làng thì mới mục kích hết mọi sự đời chứ Mình còn nợ mấy cái tiểu thuyết về nông thôn nữa…" Nguyễn Tham Thiện Kế nhận xét:
"Dẫu cho hơn một lần ông tự nhận mình trăn trở khá gay gắt với những bất cập hàng loạt diễn ra trong chính sách vi mô cũng như vĩ mô của một nhà nước tự phải hoàn thiện trong chiến tranh và bao vây cấm vận Nhưng rà soát lại tất cả những gì trong tác phẩm văn chương ông cho là gay gắt kia, thì cũng không hẳn như vậy Ông hiền lành, dễ thỏa mãn, yêu đất nước hồn nhiên theo cách riêng của mình mà cứ ngỡ nó gai góc hóc hiểm Bền bỉ cả đời mình theo một con đường văn, một kiểu văn, bằng tất cả trí tuệ, tâm hồn, sức lực, ông tự tin và bất chấp mọi sự điều chỉnh hay gia giảm quan niệm sáng tác Thời kỳ đầu ông giải quyết khúc mắc đời sống bằng áp đặt chủ quan bản thân song trùng với toàn thể ý chí cộng đồng Thời kỳ sau ông chỉ
Trang 8đóng vai người kể chuyện, kể những chuyện người ta biết nhưng chưa ai kể hoặc chưa bạo mồm kể, bằng giọng điệu thô thô gai gai, khụng khịnh nhưng hồn hậu như chính con người ông” [57].
Theo nhà thơ Trần Ninh Hồ trong trò chuyện và suy ngẫm với Hồng
Thanh Quang (Bài “Ngay cả khi say vẫn rất lành ” Báo An ninh thế giới
giữa tháng, số 41, Tháng 6 - 2011), Ngô Ngọc Bội là người viết về nông
thôn ghê gớm nhất "Bởi vì Ngô Ngọc Bội anh ấy viết, cái cuộc đời người
nào thì nó ra cái đấy Anh ấy đã viết Ao làng, viết hàng loạt truyện ngắn,
phóng sự Và ta có thể thấy rằng đó đích thực là nhà văn của những nông dân đi đường đất, chứ không phải của những nông dân đi đường nhựa Đọc
Chọi trâu của Ngô Ngọc Bội là thấy ngay cảnh chọi trâu ở trên cánh đồng,
những con trâu, những thằng bé chăn trâu trên cánh đồng, những ông bố đón từng con nghé ra " [79]
Tập truyện ngắn Ẩm ương đi lấy chồng (Nxb Hội Nhà văn năm 2005)
là tập truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Ngô Ngọc Bội có lời giới thiệu: Ẩm
ương đi lấy chồng gồm 21 truyện ngắn, là những “góp nhặt” Ngô Ngọc Bội
từ cuộc đời, những trang văn mang màu sắc hiện thực và thấm đẫm nội dung nhân văn Tác phẩm của ông chủ yếu xoay quanh đề tài lao động sản xuất,
hiện lên trong Ẩm ương đi lấy chồng là những con người hăng say, tâm huyết
với công việc của mình, dù là trên cánh đồng hay bàn giấy Chính điều đó
làm nên sức hấp dẫn của từng tác phẩm và Ẩm ương đi lấy chồng đã ghi dấu
ấn trong lòng độc giả
Phạm Hồng Thinh trong bài “Nông thôn - mảng đề tài lớn của văn học nghệ thuật Việt Nam” đã dẫn lời nhà văn Văn Chinh nói về nhà văn Ngô Ngọc Bội: "Trong các "lão nông văn học” giờ chỉ có Ngô Ngọc Bội còn son sắt với nông thôn Nhà văn hơn 80 tuổi này có niềm tự hào lạ lùng Từ Phú Thọ về Hà Nội nhưng chỉ viết một đề tài tam nông, chỉ in một báo (Văn nghệ) và chỉ đi một xe đạp Sẽ hiểu hơn về sự gắn bó ấy nếu biết một nửa gia đình ông vẫn ở tại quê nhà là xã viên hợp tác” [85]
Trang 9Có thể thấy rằng, mặc dù chưa thực sự được biết đến với tư cách là một cây bút có khả năng mang đến một điều gì đó có tính chất đột phá, một hiện tượng trong văn học Việt Nam đương đại, nhưng sáng tác của Ngô Ngọc Bội, đặc biệt trên đề tài nông thôn và nông dân, cũng đã thu hút được
sự chú ý của không ít người đọc chuyên nghiệp có uy tín Và mặc dù, những nhận xét, đánh giá sáng tác của nhà văn mới chỉ là những hình dung sơ bộ, những nhận xét bước đầu nhưng những ý kiến ấy hoàn toàn có giá trị gợi dẫn cho chúng tôi thực hiện đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Nông thôn và nông dân trong
sáng tác của Ngô Ngọc Bội.
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
3.2.1 Tư liệu khảo sát chính
3.2.1.1 Các tập tiểu thuyết của Ngô Ngọc Bội
Ao làng (1975), Nxb Văn học, Hà Nội.
Lá non (1987), Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Ác mộng (1990), Nxb Lao động, Hà Nội.
Mênh mang cổng trời (1992), Nxb Thanh niên.
Gió đưa cành trúc ( 1994), Nxb Thanh niên.
Tơ vương (2000), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
Đường trường (2001), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
Đường trường khuất khúc (2003), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
3.2.1.2 Các tập truyện ngắn của Ngô Ngọc Bội
Nợ đồi (1954), Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn, Hà Nội.
Chị cả Phây (1963), Nxb Văn học, Hà Nội.
Những mảnh vụn (1996), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Ẩm ương đi lấy chồng (2005), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
Trang 103.2.1.3 Các bài ký của Ngô Ngọc Bội
Mùa ngô ở Nà Sản (1974) Văn nghệ (tháng 9 - 1974).
Mai Châu, Văn nghệ (tháng 2 - 1975).
Đồi vàng, Văn nghệ (số 732 - 1977).
Rừng khép tán, Văn nghệ (số 765 - 1978).
Nỗi riêng khép mở, Văn nghệ (số 924 - 1981).
Nước ngọt hồ Yên Lập, Văn nghệ (số 1032 - 1983).
Tình cát sỏi, Văn nghệ (số 1077 - 1984).
Rừng của biển - Cá của biển, Văn nghệ (số 1133- 1134 - 1985).
Mùa quả cây, Văn nghệ (số 1690 - 1992).
Tôi trở về làm nông dân, Văn nghệ (tháng 5 - 1994).
3.2.2 Ngoài ra tư liệu khảo sát mở rộng
Sáng tác văn xuôi về đề tài nông dân, nông thôn của các nhà văn khác
để so sánh, đối chiếu: Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nam Cao, Ngô Tất
Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Kim Lân, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Hữu Nhàn, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư…
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau
4.1 Phương pháp thống kê - phân loại
4.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu
4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm tìm hiểu:
- Vấn đề nông thôn và nông dân - đối tượng thẩm mĩ của văn học Việt Nam và đóng góp của Ngô Ngọc Bội cho văn học Việt nam ở đề tài này
Trang 11- Những mối quan tâm chủ yếu về vấn đề nông thôn và nông dân trong văn xuôi Ngô Ngọc Bội.
- Nghệ thuật thể hiện vấn đề nông thôn và nông dân trong văn xuôi Ngô Ngọc Bội
6 Cấu trúc của luận văn
Tương ứng với nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu đã đề ra, ngoài Mở
đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai
qua ba chương:
Chương 1 Nông thôn và nông dân - đối tượng thẩm mĩ của văn học
Việt Nam hiện đại
Chương 2 Những mối trăn trở thường trực về nông thôn và nông dân
trong văn xuôi Ngô Ngọc Bội
Chương 3 Những nét nổi bật về nghệ thuật thể hiện vấn đề nông thôn
và nông dân trong văn xuôi Ngô Ngọc Bội
Chương 1 NÔNG THÔN VÀ NÔNG DÂN - ĐỐI TƯỢNG THẨM MĨ CỦA
VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Trang 121.1 Nông thôn và nông dân - nguồn cảm hứng lớn của các nhà văn Việt Nam
Nông thôn là cái nôi văn hoá dân tộc, nơi nuôi dưỡng, giữ gìn tất cả những cái đẹp nhất, hồn cốt nhất của Việt Nam, nông thôn và nông dân luôn
là đề tài quan trọng của văn học hiện đại nước ta
Nông thôn - nông dân là hai khái niệm song hành Nói đến nông thôn
là nghĩ đến “rơm rạ, lúa ngô khoai sắn” Nông thôn là cái nôi chứa đựng và nuôi dưỡng những truyền thống văn hóa dân tộc Cuộc sống thực tế lao động sản xuất nông nghiệp lúa nước lại là cơ sở để hình thành, sản sinh những truyền thống văn hóa lâu đời ấy Sự gắn bó hữu cơ, chặt chẽ có tính chất đồng sinh đồng dưỡng ấy làm nên đặc trưng văn hóa nông thôn, nuôi dưỡng tâm hồn người Việt từ đời này sang đời khác Kho tàng văn học dân gian đã chứng minh điều đó Với những câu ca dao, tục ngữ có vần có điệu, duyên dáng, sinh động, dễ nhớ cha ông ta đã gửi gắm tình cảm gắn bó, hòa mình với thiên nhiên, đồng thời ấp ủ khát vọng chinh phục, cải tạo thiên nhiên, đó
là những cách nghĩ, nếp sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân nông nghiệp Người nông dân ở nông thôn luôn có ý thức về việc đúc rút, gìn giữ, lưu truyền những kinh nghiệm quí báu cho các thế hệ nối tiếp
Văn học dân gian ngay từ đầu cũng đã phản ánh được tiếng nói ngợi
ca cuộc sống nông nghiệp của nhân dân ta, đề tài nông thôn biểu hiện qua cuộc sống lao động của người nông dân đã trở thành đề tài chủ đạo trong văn học dân gian
Trong văn học viết trung đại, đề tài nông thôn tập trung thể hiện cuộc sống thanh nhàn, thú điền viên, ẩn dật nơi thôn quê qua các tác phẩm không chỉ là của những tác giả ẩn cư miền sơn dã, mà ngay cả trong cả các tác phẩm của các bậc vua chúa các bậc đại thần, anh hùng, danh nhân… Nông thôn với vẻ đẹp bình dị, trong lành là nơi kí thác tâm tình, nơi chối bỏ nỗi đời của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, nông thôn thanh bình phong túc, lãng mạn nên thơ trong sáng tác của Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, nông
Trang 13thôn lam lũ rất buồn và rất đời trong thơ Nguyễn Khuyến… Lịch sử văn học Việt Nam hẳn sẽ rất khó quên những câu thơ sau đây:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lí ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền
(Thiên Trường vãn vọng – Trần Nhân Tông)
[84;242]
“Năm nay cày cấy vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa”
[84;360]
Hay cảnh sống thanh bần nơi làng quê :
“Sớm trưa dưa muối cho qua bữa Chợ búa trầu chè chẳng dám mua”
[84;360]
Đến cuối thế kỷ XIX, chỉ khi tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu ra đời, hình ảnh người nông dân mới được xuất hiện trong văn học một cách chân thật nhất, ở sự nghèo đói, anh dũng, ở cả sự hi sinh một cách hồn nhiên có phần cam chịu Lần đầu tiên người nông dân bước vào văn chương với một hình ảnh chân thực, sinh động Nguyễn Đình Chiểu thực sự đã
Trang 14lần đầu tiên khắc họa thành công bức chân dung nghệ thuật về người nông dân nghĩa sỹ đánh Tây.
Trải qua các thời kì lịch sử, nông thôn luôn là môi trường sống bền bỉ của người nông dân Con người Việt Nam đã tạo nên một nền sản xuất nông nghiệp và một truyền thống lịch sử văn hóa riêng Bởi thế, từ văn học dân gian đến văn học trung đại, hiện đại, nông dân - nông nghiệp - nông thôn luôn là một đề tài truyền thống trong văn học Việt Văn học dù viết về chốn đồng quê hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về nông thôn do
sự quy định của yếu tố di truyền về văn hóa Sau khi văn học viết ra đời, vùng quê nông thôn và đời sống nông nghiệp tiểu nông manh mún đã là nguồn đề tài vô tận cho văn học Đề tài nông thôn - nông nghiệp - nông dân
đã trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm và có mặt ở tất cả các thể loại văn học
1.2 Việc thể hiện vấn đề nông thôn và nông dân trong văn học Việt Nam hiện đại
Văn học hiện đại mang một diện mạo khác hẳn - chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch sử Ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, văn học phản ánh sự xâm nhập sâu sắc của chế độ thực dân tới đời sống nông thôn Việt Nam Hai mảng đề tài lớn là chiến tranh và nông thôn được các thế hệ nhà văn hết sức quan tâm Đề tài viết về người nông dân đã thu hút nhiều nhà văn tài năng và
có một lịch sử phát triển với nhiều thành tựu Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 công cuộc đô thị hóa gắn liền với thực dân hóa đã đẩy người nông dân vào thảm cảnh bần cùng hóa, sống cuộc đời làm trâu ngựa Những cây bút xuất sắc của trào lưu hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân đã hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề nhức nhối của nông thôn, đến đời sống tăm tối nghèo khổ của người nông dân Một nông thôn đói nghèo xơ xác, người nông dân bị tha hóa, lưu manh hóa… Từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến 1975, văn học ngoài việc phản ánh sự phong phú, đa dạng của đời sống hiện thực vẫn tiếp tục phản ánh đề tài nông thôn thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kháng
Trang 15chiến chống Mỹ ở miền Nam Sau Đại hội VI của Đảng (1986), hàng loạt tác phẩm viết về đề tài nông thôn ra đời với cái nhìn mới mẻ, dân chủ, khách quan, toàn diện hơn Đặc biệt, trong khoảng mười năm trở lại đây, mảng đề tài nông thôn rất được các nhà văn quan tâm với nhiều vấn đề mang tính thời
sự đặt ra trước tình hình phát triển chung của xã hội trong bối cảnh thời đại mới Trên đại thể, có thể thấy tiến trình vận động của mảng văn xuôi viết về
đề tài nông thôn và nông dân trải qua những chặng lớn đáng chú ý sau đây:
Ở đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh là người đi tiên phong trong việc đổi mới, đưa tiểu thuyết Việt Nam bước vào thời kỳ hiện đại Ông đã ra sức cày xới,
gieo trồng để biến “cánh đồng văn chương chữ quốc ngữ” Nam bộ hãy còn đang “hoang hoá” ấy trở nên xanh tốt, trù phú Có thể nói rằng: đến thời
điểm Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết bằng văn xuôi quốc ngữ, chưa có nhà văn nào quan tâm đến cuộc sống đời thường, để phát hiện ra nhiều vẻ đẹp tính cách ở người nông dân Nam bộ như ông Mặc dù còn hạn chế trong cái nhìn về người nông dân Nam bộ nhưng Hồ Biểu Chánh vẫn thể hiện được sự yêu thương, cảm thông và có phần trân trọng đối với người nông dân Ông
đã viết về họ bằng tất cả tấm lòng của một nhà văn đang có sự xoá dần khoảng cách giữa bậc trí thức cấp cao với quần chúng lao động nghèo khổ Phải chăng, vì thế mà tác phẩm của Hồ Biểu Chánh tạo được tầm đón nhận rộng rãi và có sức sống lâu bền trong lòng công chúng bình dân
Tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn từ 1932 – 1945 chủ yếu có hai khuynh hướng sáng tác là lãng mạn (với các tác phẩm của Tự lực văn đoàn)
và hiện thực (với các sáng tác của của các nhà văn hiện thực phê phán) Các nhà văn Tự lực văn đoàn viết về nông thôn và nông dân tập trung giai đoạn
từ 1936 đến 1939 Những tác phẩm như Tối tăm (Nhất Linh), Gia đình và
Thừa tự (Khái Hưng), Bùn lầy nước đọng và Con đường sáng (Hoàng Đạo)
… trực tiếp miêu tả bức tranh nông thôn trong cảnh “bùn lầy nước đọng”, nông dân thuộc tầng lớp “dưới đáy” xã hội
Trang 16Trong số các nhà văn Tự lực văn đoàn viết về nông thôn, Trần Tiêu là nhà văn tiêu biểu nhất Nằm trong dòng chảy chung nhưng Trần Tiêu đã tạo
cho mình một phong cách riêng khác với những giá trị mới Con trâu là một
trong những tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn và nông dân, với tác phẩm này Trần Tiêu được vinh dự đón nhận danh hiệu là người viết tiểu thuyết
Con trâu đầu tiên của Việt Nam Tác phẩm không chỉ miêu tả phong tục, tập
quán trong đời sống nông thôn, mà còn đi sâu vào những mảnh đời khốn khổ của những người nông dân trong xã hội bị áp bức bóc lột
Tuy nhiên, đỉnh cao của văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn ở giai đoạn này thuộc về các nhà văn hiện thực Các nhà văn như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… đi vào khám phá và thể hiện bức tranh đời sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám một cách chân thực, sinh động mà sâu sắc Những sáng tác của họ thực sự đã góp phần đánh dấu bước phát triển mới về chất đối với đề tài nông thôn Một
số tiểu thuyết (Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Bước
đường cùng của Nguyễn Công Hoan), truyện ngắn (Chí Phèo, Lão Hạc của
Nam Cao) và phóng sự (Tập án cái đình, Việc làng của Ngô Tất Tố, Một
huyện ăn tết của Vũ Trọng Phụng) vừa ra đời được người đọc chú ý, quan
tâm Với cái nhìn xã hội “trên tinh thần giai cấp” (Vũ Trọng Phụng) và khát vọng muốn làm “người thư ký trung thành của thời đại”, các nhà văn hiện thực đã dựng lên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống nông thôn và thân phận người nông dân trước Cách mạng tháng Tám Đó là một nông thôn tối tăm, xơ xác, ngột ngạt và nghèo đói, hủ tục và nhiêu khê, hà khắc với sưu cao thuế nặng, vô lý, bất công, thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn của bọn quan lại thống trị, địa chủ; nông thôn của những cuộc mâu thuẫn, xung đột triền miên, quyết liệt và gây gắt giữa người nông dân lương thiện, chân lấm
tay bùn và bọn địa chủ, quan lại thống trị tham lam, độc ác, xảo trá (Ông
chủ, Bà chủ của Nguyễn Công Hoan); nông thôn của những mánh khóe trong
việc cho vay nặng lãi, cướp đoạt ruộng đất… đẩy người nông dân đến “bước
Trang 17đường cùng” (Nghị Quế trong Tắt đèn, Nghị Lại trong Bước đường cùng, Bá Kiến trong Chí Phèo); nông thôn của nạn cường hào, nạn xôi thịt, nạn dịch tễ
hoành hành, nạn lụt lội đói kém, nạn phu phen tạp dịch, nạn dốt nát tối tăm,
nạn mê tín dị đoan (Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Vỡ đê và
Giông tố của Vũ Trọng Phụng); nông thôn của những người nông dân lương
thiện, hiền lành bị đọa đày, bóc lột, hắt hủi, lăng nhục một cách tàn nhẫn,
đẩy vào tình trạng cùng cực, bần cùng và lưu manh hóa (Chị Dậu trong Tắt
đèn, Chí Phèo trong Chí Phèo, lão Hạc trong Lão Hạc) và nông thôn của
những cuộc vùng lên đấu tranh chống áp bức, bóc lột của tầng lớp nông dân giành lấy quyền sống, quyền làm người và quyền mưu cầu hạnh phúc (Chị
Dậu trong Tắt đèn, anh Pha trong Bước đường cùng, Phú trong Vỡ đê của Vũ
Trọng Phụng)
Đặc biệt, trong sáng tác của mình, Nam Cao đã dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trước 1945 nghèo đói, xơ xác, bần cùng, hết sức thê thảm Người nông dân càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, hắt hủi, bất công, lăng nhục tàn nhẫn; người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa như hiện tượng Chí Phèo Nam Cao đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm và bản chất lương thiện ngay cả khi bị vùi dập, cướp mất cả nhân hình, nhân tính của người nông dân Tác giả kết án đanh thép những thế lực đã tạo cái xã hội tàn bạo trước 1945
Trong giai đoạn từ 1945 đến 1954, do tính chất đặc thù của lịch sử cách mạng nên ranh giới giữa văn học kháng chiến nói chung và tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng quyện chặt vào nhau, không xác định đường biên
rõ ràng Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến Với một đội ngũ sáng tác đông đảo, nhiều cá tính sáng tạo và bút pháp khác nhau nhưng họ cùng chung lý tưởng, cùng đứng vào hàng ngũ của Đảng, cùng hòa nhập với công - nông - binh (lực lượng chủ yếu của cách mạng), vừa cầm bút vừa sẵn sàng đến những vùng mũi nhọn của cuộc sống nhằm phục vụ mục đích
Trang 18kháng chiến kiến quốc Trong không khí khẩn trương của cuộc kháng chiến
và để đáp ứng nhiệm vụ vận động, tuyên truyền cách mạng kịp thời nên tiểu thuyết viết về nông thôn không có được mùa bội thu như truyện ngắn và ký Những năm 1950 trở đi, theo Phong Lê, “nhờ sự chuẩn bị một cách tích cực
và có ý thức những tiền đền về mặt xã hội, tổ chức đội ngũ và lý luận về phương pháp sáng tác…” [4;tr.133], tiểu thuyết nông thôn mới bắt đầu có thành tựu Mùa giặt bội thu thể hiện qua hai cuộc thi Giải thưởng Văn nghệ
(1951 – 1952, 1954 - 1955) Những tác phẩm như Vùng mỏ (Võ Huy Tâm),
Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng)… đã phác họa
được bức chân dung phong phú, chân thực về các cuộc vận động lớn như chiến đấu và sản xuất, tiền tuyến và hậu phương
Tiểu thuyết Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) tái hiện được hình ảnh
người nông dân với tinh thần quyết chiến quyết thắng, ra sức bảo vệ trâu để
ổn định sản xuất phục vụ cho tuyền tuyến Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch
sử tiểu thuyết nông thôn đã xây dựng được hình tượng đám đông quần chúng nhân dân đầy ắp hơi thở của sự sống như đám đông nông dân Quảng Nam ra
sức bảo vệ xóm làng, bảo vệ trâu để sản xuất trong tiểu thuyết Con trâu…
Tiểu thuyết nông thôn ở chặng này có thành tựu nhất định, nhưng vẫn không tránh khỏi hạn chế Khuyết điểm lớn nhất là chưa phản ánh kịp thời
“đời sống và cuộc đấu tranh của nông dân chống lại sự bóc lột và đạp đổ quyền thế của địa chủ…
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, đất nước chia cắt thành hai miền với hai nhiệm vụ cách mạng quan trọng Ngay trong khoảng thời gian mười năm đầu (1955 - 1965), tiểu thuyết nông thôn đã bắt kịp nhịp đi của thời đại, của dân tộc qua việc hướng ngòi bút vào những vấn đề có tính thời sự, một trong những vấn đề đó là cải cách ruộng đất Hàng loạt tác phẩm ra đời như
Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tưởng, 3
tập), Đất chuyển (Nguyễn Khắc Thứ, 2 tập), Những người dân cày (Sao Mai), Xung đột (Nguyễn Khải, tập 1)… Các tác phẩm trên chủ yếu tập trung
Trang 19vạch trần những tội ác của giai cấp địa chủ, ca ngợi sức mạnh quật cường của người nông dân, khẳng định những thành quả đạt được của phong trào cải cách ruộng đất Tuy nhiên, nhìn chung đa số các tác phẩm còn “sa vào cái bệnh sơ lược, rập khuôn, công thức” [65;tr.143] Sau sửa sai, cuối năm
1956 trở đi, đời sống nông thôn và người nông dân cũng có những khởi sắc Văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn đã xông vào phản ánh kịp thời cái
không khí nóng hổi đó (Sắp cưới của Vũ Bão - tiểu thuyết, Những ngày bão
táp của Hữu Mai - truyện ngắn, Bố con ông lão chăn bò trên núi Thắm của
Xuân Thu - truyện ngắn) Từ 1959, phong trào đấu tranh nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa… nên những vấn đề nông thôn trong cải cách ruộng đất
và sửa sai đã “ngừng lại trong lặng lẽ, để chuyển sang chủ đề cải tạo nông thôn theo con đường hợp tác hóa từ thấp lên cao” [67;tr.43-44] Trước hiện thực đầy ắp hơi thở của cuộc sống đó, các nhà văn (nhất là các nhà văn trẻ lúc bấy giờ) lần lượt lên đường về các hợp tác xã nông nghiệp để "ba cùng" với nông dân Chuyến đi thực tế đó đã đem lại một mùa bội thu cho văn xôi
và tiểu thuyết viết về nông thôn Về tiểu thuyết có Cái sân gạch, Vụ lúa
chiêm (Đào Vũ), Xung đột (Nguyễn Khải) Truyện ngắn cũng dồi dào như Đồng tháng năm, Trong làng, Đáy nước, Vụ mùa chưa gặt (Nguyễn Kiên), Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Tầm nhìn xa (Nguyễn Khải), Gánh vác, Hai chị
em (Vũ Thị Thường), Trai làng Quyền (Nguyễn Địch Dũng), Cỏ non (Hồ
Phương) Các tác phẩm đã tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở nông thôn: “Cuộc đấu tranh giữa tập thể và cá thể, giữ tư tưởng tư hữu của những người sản xuất nhỏ và tư tưởng xã hội chủ nghĩa của những người nông dân đi theo đường lối giai cấp công nhân Cuộc đấu tranh giữa ta
và địch, đặc biệt là ở những vùng cao biên giới và vùng Thiên Chúa giáo Cuộc đấu tranh giữa mới và cũ, tiến bộ và lạc hậu, tiên tiến và bảo thủ” [65;tr.204] và ghi lại những hình ảnh về cuộc sống mới và con người mới ở nông thôn, phản ánh những bước đi ban đầu đầy hứa hẹn ở nông thôn miền
Trang 20Bắc xã hội chủ nghĩa Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm (Đào Vũ) được xem là
sự kiện văn học lúc bấy giờ, đưa nhà văn Đào Vũ đến với Giải thưởng Nhà
nước (đợt I) về văn học nghệ thuật Cái sân gạch đã dựng lại không khí nông
thôn miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong những ngày đầu xây dựng hợp tác xã
nông nghiệp… Xung đột của Nguyễn Khải ra đời sau chuyến đi thực tế của
nhà văn về vùng Thiên chúa giáo toàn tòng ở Hải Hậu Nguyễn Khải đã có cái nhìn chân xác về cải cách ruộng đất, lên án những kẻ đội lốt tôn giáo chống phá cách mạng, ngăn cản giáo dân tham gia phong trào hợp tác xã
nông nghiệp đang phát triển rầm rộ ở miền Bắc Tuy nhiên, khi viết Xung
đột (ở giai đoạn 1956-1960) Nguyễn Khải chưa có điều kiện để tìm hiểu
phong trào cải cách ruộng đất đầy đủ, nhất là sự tiếp cận với bà con giáo dân nên cái nhìn, cách đánh giá ít nhiều còn phiến diện, nghiêng về mặt đấu tranh với những kẻ đột lốt tôn giáo chống phá cách mạng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ lan rộng ra toàn quốc (8 - 1964), tất cả mọi tầng lớp (trong đó có nông dân) cùng hành quân ra mặt trận Trong không khí sục sôi đó, tiểu thuyết nông thôn đủ sức để gánh vác được trọng trách của văn học đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Do tác động của hoàn cảnh vừa sản xuất vừa chiến đấu, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn nên tiểu thuyết nông thôn chặng đường 1964 - 1975 ít nhiều mang
âm hưởng sử thi, tràn ngập cảm hứng ngợi ca (cái nhìn sử thi, nhân vật sử thi, không – thời gian sử thi, khoảng cách sử thi) Hàng loạt tác phẩm có
dung lượng đồ sộ đã ra đời như Bão biển và Đất mặn (Chu Văn), Đất làng
và Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Chủ
tịch huyện (Nguyễn Khải), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên), Ao làng (Ngô
Ngọc Bội), Giáp trận (Nguyễn Thế Phương)… Truyện ngắn, truyện vừa cũng khởi sắc như Ánh mắt, Trong gió cát (Bùi Hiển), Quê hương (Vũ Tú Nam), Bông hoa súng, Hai chị em (Vũ Thị Thường)… Nhìn chung, những
tác phẩm trên chủ yếu miêu tả, khắc họa, ngợi ca ý chí chiến đấu chống giặc ngoại xâm của người nông dân Người nông dân cầm súng đi vào kháng
Trang 21chiến một cách tự giác chứ không “tự phát” như giai đoạn trước Những tác phẩm được viết ra từ máu thịt, mang cảm xúc sôi nổi, chân thành nhằm phản ánh sức sống nông thôn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, miêu tả người nông dân hăng hái đi vào sản xuất lớn, sẵn sàng hậu phương vững
chắc cho miền Nam Vỡ bờ (2 tập) của Nguyễn Đình Thi là cuốn tiểu thuyết
tiêu biểu nhất ở chặng này Nhà văn có tham vọng khái quát phạm vi rộng lớn của hiện thực đời sống từ đô thị tới nông thôn nhằm thể hiện quá trình vận động của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc Ông đã miêu tả sự thăng trầm của những số phận đại diện cho nhiều tầng lớp xã hội khác nhau trước biến cố lớn lao của lịch sử Có thể nói Nguyễn Đình Thi vẫn là nhà tiểu thuyết có công lớn đối với đề tài nông thôn và nông dân
Những năm tiền đổi mới (1975 - 1985), tiểu thuyết nông thôn đã âm thầm diễn ra cuộc chuyển mình ở chiều sâu trong đời sống nội tại, với những trăn trở tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở những nhà văn mẫn cảm trước những biến chuyển của thời đại Và họ đã lặng lẽ tự thay máu mình để cuộc
sống hiện thực đa chiều hơn như Chu Văn (Đất mặn), Ma Văn Kháng (Mưa
mùa hạ), Nguyễn Thị Ngọc Tú (Hạt mùa sau), Nguyễn Kiên (Nhìn dưới mặt trời), Đào Vũ (Bí thư cấp huyện), Nguyễn Thế Phương (Ngày trở về),
Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù lao Tràm)… Bên cạnh cảm hứng
ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, cảm hứng đời tư, cảm quan nhận thức lại hiện thực và có sự đánh giá, quan sát người nông dân dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt; là tiếng nói “phản biện”, “lập luận” trong cung cách làm ăn kinh tế (vấn đề tổ chức sản xuất và quản lí xã hội) của những người “đi trước thời đại”, đồng thời chỉ ra sự lỗi thời, lạc hậu của cơ chế bao cấp, những bất cập trong tiêu chí đánh giá người nông dân nặng về ý thức hệ… Những vấn đề nóng bỏng đó được các nhà văn quan tâm một cách rốt ráo, phản ánh cuộc sống mới ở nông thôn đang chuyển mình, đang bung
phá cùng nhịp đập toàn dân tộc Tiểu thuyết Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng)
phản ánh được những khó khăn, gian khổ ở nông thôn trong thời kỳ đầu xây
Trang 22dựng chủ nghĩa xã hội Những vấn đề đặt ra trong tác phẩm cho đến thời điểm này vẫn còn nguyên giá trị, bởi cho đến bây giờ và mai sau, sự phát triển hay suy thoái của nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn được xem là
một vấn đề lớn của quốc gia Tiểu thuyết Cù Lao Tràm (Nguyễn Mạnh
Tuấn) ra đời tạo cơn địa chấn trong giới văn học, giới quản lí và được bạn đọc khen chê một thời sôi nổi Sức hấp dẫn chủ yếu bởi tính thời sự Tác giả dám “đặt ra những kinh nghiệm cá nhân ngang với kinh nghiệm cộng đồng”, dám nói và nói được những vấn đề tiêu cực lớn…
Do độ lùi của thời gian, tính chất giao thời từ văn học cách mạng sang nền văn học thời kì hậu chiến nên tiểu thuyết nông thôn chặng này vẫn chưa làm một cuộc bứt phá toàn diện ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và quy luật vận động Nó vẫn theo “quán tính” cũ, nghiêng về sự kiện, bao quát hiện thực, chưa có dấu hiệu phản sử thi Hình tượng con người bản lĩnh, anh hùng vẫn đọng lại đậm nét Những tìm tòi gian khổ của buổi đầu đã
mở ra cho tiểu thuyết nông thôn những năm tiền đổi mới hướng tiếp cận mới
về hiện thực ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, làm nên bệ phóng tích cực cho việc chuẩn bị sẵn sàng bước vào thời kỳ đổi mới Những gì thực sự đổi mới ở khu vực tiểu thuyết nông thôn phải chờ đến sau Đại hội VI (1986)
Từ Đổi mới đến nay là chặng thứ năm trong hành trình viết về nông thôn và người nông dân Việt Nam, đã dần dần xuất hiện một bức tranh nông thôn mới và khác trước Đó là nông thôn thời hậu chiến; nông thôn trong và sau sự thực thi một mô hình sai lạc về phát triển xã hội; nông thôn trong các quan hệ làng xã, gia tộc, dòng họ; nông thôn với sự bảo lưu hoặc thay đổi các tập quán, phong tục… Cuối cùng, hoặc bao trùm, đó là nông thôn trong guồng chuyển đô thị hóa khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, mở cửa
Và đây mới là chất liệu chính, là miền đất hứa cực kỳ hấp dẫn cho tiểu thuyết, bởi nó như là sự trở lại trên một quy mô và tầm vóc lớn hơn nhiều những thành tựu đã được ghi nhận trong văn học hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa trước và sau 1945
Trang 23Nông thôn trước năm 1986 trong các tác phẩm văn xuôi là một xã hội bình ổn, ít có những xáo trộn, những mâu thuẫn và sự đấu tranh Thực trạng của nông thôn chỉ được phản ánh đúng sự thực vốn có của nó, một cách không che đậy trong văn xuôi sau năm 1986 Viết về đề tài nông thôn và người nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới có khá nhiều tác giả: Nguyễn Khải, Dương Hướng,
Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường (mảng tiểu thuyết), Sơn Nam, Phùng Gia Lộc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư (mảng truyện ngắn)… Nhưng, nổi bật nhất, là bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Minh Châu là nhà văn quân đội Ông viết nhiều về đề tài
chiến tranh và những người lính Nhưng những truyện ngắn hay nhất, nổi
tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu lại là truyện ngắn viết về đề tài nông thôn
và người nông dân Đó là cặp đôi Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát Có thể
nói, những truyện ngắn đó là tất cả những gì tinh hoa nhất trong sự nghiệp viết văn của ông Như lời nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến nhận định:“Truyện này là một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân” [80]
Lê Lựu là nhà văn, nhưng trước hết, ông là một nông dân “thứ thiệt một trăm phần trăm” Nông thôn Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Lê Lựu
đã hiện lên rất sinh động thông qua cái làng Hạ Vị quê ông Thời xa vắng là
một bước đột phá mới trong cách nhìn về người nông dân Việt Nam Tiểu
thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình
chuyển biến trong cách nhìn nhận, đánh giá lại thực tại đó Ở đây không chỉ đơn thuần là một bi kịch tình yêu của anh nông dân Giang Minh Sài nào đó
mà là những vấn đề tâm lý - xã hội chung của thời đại
Nguyễn Khắc Trường thuộc lớp nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng
chiến chống Mỹ Mảnh đất lắm người nhiều ma là tiểu thuyết viết về đề tài
nông thôn đầu tiên của tác giả Nguyễn Khắc Trường miêu tả lề thói và thành kiến hủ lậu vùng Giếng Chùa, đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đã chi
Trang 24phối nếp nghĩ và cách ứng xử của nông dân Đánh giá sự thành công của nhà văn Nguyễn Khắc Trường viết về đề tài nông thôn, nhà thơ Trần Đăng Khoa khẳng định: “Có thể nói tắt từ Nam Cao, qua một chút Kim Lân, đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ thiệt” [80].
Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn lớp đàn em so với Nguyễn Minh Châu,
Lê Lựu, và Nguyễn Khắc Trường Đề tài nông thôn và người nông dân chiếm một tỉ trọng khá lớn trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp không xây dựng nhân vật điển hình, hoàn cảnh điển hình trong truyện ngắn của mình kiểu như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, nhưng những truyện ngắn của ông viết về nông thôn và người nông dân vẫn có điều gì đó gợi cho người đọc cảm nhận về những điều sâu thẳm nhất, nhức nhối, bức bách của xã hội nông thôn; những mảnh đời, những số phận nông dân cay đắng “dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”, cùng với những ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, ấm no…
Cũng phải cần phải nói thêm, cho đến hôm nay có thể nói phấn lớn những tác phẩm văn học thiếu nhi của văn học Việt Nam hiện đại, sống được với thời gian vẫn là những tác phẩm có đề tài nông thôn, hiểu theo nghĩa
rộng, nghĩa bối cảnh của chữ này Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài, Đất
rừng phương nam của Đoàn Giỏi, Dòng sông thơ ấu của Nguyễn Quang
Sáng đều là như thế Dễ hiểu, bằng cách nay hay cách khác, những nhà văn nói trên viết về tuổi thơ của họ, một tuổi thơ gắn với một đất nước, tính thuần nông còn rất cao, gắn với một thời, ra ngõ là gặp… cánh đồng
Có thể nói, đã có một dòng chảy văn học viết về đề tài nông thông trong văn học Việt qua các thế hệ nhà văn Và một lớp tác giả mới đang tiếp tục cày xới về đề tài nông thôn mới đã được khơi nguồn và đang hòa mình vào dòng chảy văn học nghệ thuật nước nhà Song nhiều ý kiến cho rằng, để
có được những tác phẩm xứng tầm so với thực tế diễn ra của công cuộc xây dựng nông thôn mới hôm nay, ngoài tài năng và tâm huyết của đội ngũ sáng
Trang 25tác, rất cần sự đầu tư tương xứng của nhà nước đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật.
1.3 Ngô Ngọc Bội - một nhà văn nhiều tâm huyết với vấn đề nông thôn và nông dân
1.3.1 Ngô Ngọc Bội - con người, cuộc đời và sự nghiệp
Ngô Ngọc Bội sinh ngày 7 tháng 1 năm 1929 tại xã Phú Khê, huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ Một vùng đất sơn thủy hữu tình được mệnh danh là
"khe gấm" nằm bên hữu ngạn dòng sông Thao tươi đẹp Đó là vùng trung du hẻo lánh Nơi có bạt ngàn đồi cọ, nương chè xen với bãi sông, đồng ruộng, xóm làng quần tụ trên những quả đồi, những khu phù sa mầu mỡ Chỉ ba, bốn mươi năm trở về trước, Phú Khê còn bạt ngàn đồi cọ Hình ảnh những cây cọ ngổn ngang, gai góc vươn thẳng lên trời, tạo một nét quê trung du riêng biệt Cùng với hình ảnh cây cọ, con người nơi đây rất thật thà và giàu cảm xúc Tất cả đã đi vào trong từng trang văn của Ngô Ngọc Bội Quê hương Ngô Ngọc Bội nằm xa quốc lộ, xa không khí thị thành Con người quanh năm sống trong luỹ tre xanh, với những tập tục, giỗ tết, cưới xin, đám đình, hội hè…
Nhà văn Ngô Ngọc Bội sinh ra trong một gia đình đông anh em, kinh
tế vào bậc trung lưu Ông có tâm hồn nghệ sỹ bẩm sinh, từ nhỏ đã ham đọc sách, vẽ tranh và say mê đàn, sáo… Cả một cuộc đời làm báo, viết văn, Ngô Ngọc Bội chỉ viết về đề tài nông thôn và bối cảnh cho các tác phẩm đó chính
là mảnh đất quê hương ông Khi ông còn nhỏ, ngoài công việc đồng áng, bố
mẹ ông còn mở một quán khâu vá để có đủ tiền nuôi đàn con ăn học Hàng ngày ông vẫn thấy mẹ thu gom những thẹo vải thừa vào bao tải để bán cho
cô mua vải vụn, lông gà lông vịt, tóc rối hay ngồi khâu những tấm chăn bằng hàng ngàn thẹo vải vụn, nặng tới năm sáu kilôgam Gia đình Ngô Ngọc Bội đến năm 1945 thì bị phá sản, ông phải bỏ dở chương trình tiểu học thời Pháp
về làm nông nghiệp Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc, rồi dân quân du kích liên xã Nỗ Lực Ngoài ra, ông
Trang 26còn có thêm nghề trèo cọ, để cắt những lá cọ đem bán cho người ta lợp mái nhà Có những cây cọ cao đến ba bốn chục mét mà ông cứ trèo thoăn thoắt Hồi đó, ông là cao thủ trèo cọ của cả vùng nên cũng có đồng ra đồng vào để
đỡ đần cuộc sống gia đình Ông cũng tham gia hoạt động cách mạng và được kết nạp vào Đảng từ năm 1948 Đến tuổi lấy vợ Ngô Ngọc Bội được bố mẹ tìm cho một cô gái ưng ý cùng làng Đó là cô Lê Thị Mẫn, con gái đầu của ông Lê Đôn, cách nhà ông chỉ một cái ao rộng Cô Mẫn là người vợ, đồng thời là người đàn bà đẹp trong các tác phẩm của ông Ông bảo, chẳng bao giờ ông quên được hình ảnh cái giường ngủ của vợ chồng ông trong ngày cưới Trên chiếc giường tre được trải một cặp chiếu cói mới Đầu giường là hai chiếc gối và cái chăn được khâu bằng những thẹo vải đủ các màu xanh, nâu, đen, trắng Mỗi thẹo vải chỉ bằng lá lúa, bao diêm, miếng nào to thì bằng bàn tay Năm 1948, Ngô Ngọc Bội thoát ly gia đình đi công tác, từ huyện đội Cẩm Khê, liên khu Việt Bắc, rồi tỉnh Hòa Bình Từ năm 1957 đến
1968, Ngô Ngọc Bội làm cán bộ Ty Văn hóa Phú Thọ, Vĩnh Phú Năm 1968 ông chuyển lên làm biên tập viên Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu năm 1993 Từ khi nghỉ hưu ông chuyển hẳn về sinh sống ở quê
Ngô Ngọc Bội về lại quê hương, sống trong một ngôi nhà bên những tán cây hồng xiêm cổ thụ ngót cả trăm tuổi, toả bóng xum xuê Sau hai chục năm công tác ở tuần báo Văn nghệ, nghỉ hưu ông về sống cuộc đời thanh bạch nơi chôn rau cắt rốn, cùng với người vợ hiền hậu chất phác mà ông lấy
về từ năm 17, 18 tuổi Bà Mẫn là mẫu người đặc trưng của phụ nữ nông thôn Bắc bộ Kể từ ngày về làm dâu họ Ngô, bà lặng lẽ, tảo tần gánh vác gia đình nuôi đàn con khôn lớn Còn ông Bội thì cứ công tác biền biệt cho đến ngày nghỉ hưu Về sống đắm mình với quê hương, Ngô Ngọc Bội lại cho rằng:
“Văn học là đây chứ còn đâu nữa Quê tớ có nhiều chuyện hay lắm, viết cả đời không hết được Chính vì thế mà tớ luôn cảm thấy như người mắc nợ với quê hương, với nông thôn"
Trang 27Có lẽ ai đã từng gặp nhà văn Ngô Ngọc Bội một lần thì chắc hẳn sẽ không bao giờ quên được gương mặt ấy, ánh mắt ấy Nó vừa toát lên nét đôn hậu chất phác nhưng lại vừa hiện rõ vẻ rắn rỏi của một con người phong trần, từng trải… Ông hiền lành, dễ thỏa mãn, yêu đất nước hồn nhiên theo cách riêng của mình mà cứ ngỡ nó gai góc, hóc hiểm Bền bỉ cả đời mình theo một con đường văn, một kiểu văn, bằng tất cả trí tuệ, tâm hồn, sức lực, ông
tự tin và bất chấp mọi sự điều chỉnh hay gia giảm quan niệm sáng tác Ngô Ngọc Bội là con người có ý thức cao về Đảng và vai trò tiên phong của người đảng viên Tôi đã được biết, ông là người ít giao đãi với bạn bè văn chương Đặc biệt với các tên tuổi lớn, những nhân vật quan trọng hoặc những ông nhà văn hay tỏ vẻ khụng khệnh, giả cầy, ông lại càng tránh tiếp xúc Ông bảo mỗi người có một công việc riêng, suy nghĩ riêng, một cách viết riêng, vậy thì cứ làm tròn bổn phận của mình đi Với ông, ông đã chọn cho mình một cách sống, một cách viết mang nhãn mác rất Ngô Ngọc Bội
Tuy từng công tác ở báo Văn nghệ gần ba mươi năm, nhưng về hưu ông vẫn
tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ văn nghệ địa phương, hòa đồng với cuộc sống của bà con Nhà văn tâm sự: "Anh em người ta trọng mình, tôn vinh mình thì mình phải trọng người ta, hòa nhập với người ta chứ Mà đã về làng rồi thì nhà văn với nhà nông có khác gì nhau Tớ vẫn phải dọn ao thả cá, cuốc vườn trồng rau, rồi đi họp xóm, họp thôn, sinh hoạt hội Người cao tuổi, bàn việc làm đường, làm nhà trẻ rồi sinh đẻ kế hoạch, bận bỏ mẹ ra đấy Giờ chỉ không có leo cọ được thôi…" [42]
Trong sự nghiệp văn xuôi Ngô Ngọc Bội, kể từ khi tập truyện ngắn
Chị Cả Phây xuất bản năm 1963, tiếp đến là Đất bỏng, Ao làng, Nợ đồi, Đường chè, Ác mộng, Lá non… đến nay, tổng cộng ông đã cho xuất bản 7
tiểu thuyết, 5 tập truyện ngắn và hàng trăm bài ký… Có lẽ sinh ra trong một gia đình bị phá sản, tiếp đến là chuỗi ngày khổ cực, phải lao động sớm, thấu hiểu cảnh đời người nông dân, dòng máu nông dân trong Ngô Ngọc Bội không ngừng tuôn chảy, kể cả khi ông sống ở thành phố đến mấy chục năm
Trang 28Phải thế chăng mà đời văn Ngô Ngọc Bội chỉ chung thủy mỗi mảng đề tài
nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tập truyện Chị Cả Phây, tiểu thuyết Ao
làng viết về giai cấp nông dân trong phong trào hợp tác hóa ở nông thôn
những năm 60 của thế kỷ trước Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng cũ và chính
sách mới Tác phẩm Lá non lại phản ánh cuộc đấu tranh tìm hướng đi ở nông
thôn khi hình thức tổ chức đã lỗi thời, thể hiện sự bế tắc trong sản xuất, sự phân hóa trong giai cấp nông dân, nhất là xuất hiện bọn cường hào mới ở
nông thôn Các tác phẩm Gió đưa cành trúc, Mênh mang cổng trời gần như
là tổng kết tiến trình vận động của nông thôn trung du, chuyển tiếp đến thời
kỳ khoán hộ, đổi mới Còn riêng tiểu thuyết Ác mộng nói về sự sai lầm, quá
đà trong cải cách ruộng đất, ông là người được chứng kiến, ấp ủ nó từ lâu Vấn đề tác phẩm đề cập không có gì mới, vì những sai lầm này Đảng ta đã công khai thừa nhận ngay sau đó và đã có biện pháp khắc phục Có thể nói các tác phẩm của Ngô Ngọc Bội phản ánh rất sinh động quá trình vận động ở nông thôn, những vấn đề thời sự nóng bỏng đang diễn ra, với cái nhìn phản biện tích cực Nhìn nhận khách quan mà nói, mỗi chủ trương, chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn từ năm 1954 đến những năm tiếp theo, do điều kiện hoàn cảnh bấy giờ, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm lãnh đạo, chưa đủ tầm nhìn để đánh giá đúng thực tiễn, nên đã nóng vội duy ý chí Một chính sách đưa ra, bên cạnh yếu tố tích cực, bao giờ cũng có bất cập, tiêu cực đi liền, có lúc bất cập, tiêu cực lấn át cái tích cực, thế là sai lầm Nhà văn Ngô Ngọc Bội là người rất mẫn cảm trước những chủ trương, chính sách đó Ông vốn am hiểu nông thôn, hiểu từng phong tục tập quán, tâm tư, nguyện vọng của người dân nên đã sớm nhận ra những khiếm khuyết của bước đi chính sách, và ông không ngần ngại đề cập trong tác phẩm một cách sòng phẳng, không né tránh Bản chất những vấn đề đề cập trong tác phẩm của Ngô Ngọc Bội chỉ là phản biện xã hội, nêu cái xấu, cái dở để mà khắc phục chứ không
có ý gì khác Khổ nỗi, khái niệm "phản biện xã hội" này chỉ gần đây mới có, chứ trước đây người ta cho là "nói ngược", là có vấn đề… đã khiến ông
Trang 29không ít lần gặp phiền toái Cũng may là không khí dân chủ, nhìn thẳng vào
sự thật của xã hội ta đã minh chứng cho những suy nghĩ tâm huyết, trăn trở
vì cộng đồng của các nhà văn chân chính, trong đó có nhà văn Ngô Ngọc
Bội Tiểu thuyết Ác mộng của ông từng bị "treo" phát hành, mới đây được
trao giải thưởng Hùng Vương của tỉnh Phú Thọ, một tỉnh đi đầu đổi mới trong khoán quản nông nghiệp ở nước ta Cho đến nay, nhà văn Ngô Ngọc Bội đã xuất bản gần hai mươi đầu sách Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật năm 2012 và nhiều giải thưởng khác
1.3.2 Nông thôn và nông dân - đề tài xuyên suốt trong hành trình văn xuôi Ngô Ngọc Bội
Suy nghĩ về nghề văn Ngô Ngọc Bội cho rằng: "Đã nói đi vào viết văn xuôi, trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay chỉ nên đi một chân, không thể ôm đồm nhiều chức danh được Phải có thời gian (tốt nhất là làm một phóng viên) đi khắp nơi, khắp chốn Khi cuộc sống đã chín thì xoáy sâu vào một vùng, thậm chí là một đề tài Như vậy mới có đủ vốn liếng để viết lâu dài
được." [31] Trong bài viết "Tôi viết tiểu thuyết như thế nào?" (Văn nghệ số
5, 30 - 1 - 2010) Ngô Ngọc Bội có những tâm sự: "Khi đã chiêm nghiệm mình thuộc dạng viết như thế nào, tôi có cả một "sách lược" lâu dài, hoạch định cho cả đời cầm bút của mình Đề tài tôi chọn là đề tài nông dân - nông thôn; thậm chí là nông thôn vùng đồi Tại Sao vậy? Vì tôi sinh ra ở vùng đồi, miền đất của nền văn hóa Hùng Vương Trong đời cầm bút của mình, tôi cũng muốn có chút gì đóng góp cho vùng đất ấy Ý tưởng thứ hai: Đề tài nông thôn, nông dân là đề tài lớn, lâu dài Xã hội Việt Nam là xã hội nông dân, nền văn hóa làng xã khép kín trong lũy tre xanh có từ hàng ngàn năm nay Mọi sự biến động của đất nước dù lớn hay nhỏ đều xáo động tới người nông dân mạnh nhất Thế kỷ 20, người nông dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên bao nhiêu kỳ tích Vậy biết bao nhiêu đề tài viết về nông thôn, nông dân Việt Nam." [31]
Trang 30Trong giới văn chương, ta tạm gọi người viết về đề tài nông thôn cũng nhiều nhưng viết để cho ra hồn cốt của nông thôn Việt Nam thì lại ít Ngô Ngọc Bội đã làm được điều đó Nếu viết về nông thôn mà không thực sự thấm, thực sự yêu, thực sự đau đớn, không thực sự đắm mình trong thế giới nhà quê, thì cho dù tác phẩm của anh dẫu có viết về con trâu, viết về cây lúa, viết về củ khoai củ sắn thì cũng chỉ giống như người mặc com lê, đi giày tây cưỡi xe trên đường làng mà thôi Nhà văn Ngô Ngọc Bội lại như có một bản năng rất lớn, trước tiên đó là bản năng của một ông nông dân, cần mẫn lầm lũi làm việc cộng với bản năng văn chương đã tạo thành một Ngô Ngọc Bội không trộn lẫn vào đâu được Ngô Ngọc Bội như một ông nông dân đi chân đất kéo cày vừa cầm bút viết văn Chính vì vậy mà tác phẩm của ông thấm chất chân quê để đến được cái chân của văn chương Ông viết về đời sống, những vui buồn, đau khổ, hạnh phúc, diễn biến tâm lý của người nông dân như viết về chính con người mình Chỉ có người nông dân mới thực sự hiểu
rõ bản tính của con trâu, nên khi ông viết về cảnh trọi trâu hay tả cảnh con trâu kéo cày thì mới thật sinh động và hấp dẫn Ông miêu tả tâm lý con trâu trong từng hoàn cảnh khác nhau khiến người đọc thấy bỡ ngỡ, lý thú rồi bị hút vào đó Chỉ có một anh trai làng mới có thể miêu tả những cảnh yêu đương của trai gái nông thôn mới chân thực đến thế, nó vừa vụng về, vừa mộc mạc lại vừa có duyên dưới một ngòi bút tinh tế Tác phẩm của Ngô Ngọc Bội bám sát người nông dân theo suốt một chiều dài lịch sử, từ trong những cuộc cách mạng, tham gia giải phóng được giải phóng và xây dựng kinh tế Cuộc sống của người nông dân trong văn Ngô Ngọc Bội vô cùng sống động, có xung đột và hàn gắn, có nước mắt và nụ cười, có cái chung và cái riêng Ông bảo, người cầm bút viết văn có hai dạng Dạng từ tâm huyết viết thành tác phẩm Dạng này viết chậm chạp Nhưng khi đã chạm tới đích thì thành quả thường bền chắc, sâu lắng Dạng thứ hai thường là do bịa tạc hoặc có nơi đặt hàng, chỉ cần nghe báo cáo là có sản phẩm Dạng này thường viết nhanh hết cuốn này đến cuốn khác Nhưng văn chỉ có cốt truyện, sự
Trang 31việc, thiếu tình tiết, thiếu chi tiết sống và nội tâm nhân vật Ông tự nhận mình là người viết thuộc vào dạng thứ nhất, vì vậy mà Ngô Ngọc Bôi đã có
cả một sách lược lâu dài, hoạch định cho cả đời cầm bút của mình Năm
1960, khi truyện ngắn Bộ quần áo mới được giải nhất cuộc thi truyện ngắn
của báo Văn Học thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, ông đã khẳng định cầm bút
và đi vào nghiệp văn chương Năm 1968, ông về công tác tại báo Văn nghệ, đúng là nơi để ông thả sức học tập viết lách Ông tranh thủ bổ sung kiến thức
và tay nghề Ông xông xáo đi viết bút kí, phóng sự cho báo, trên rừng dưới biển, trong Nam ngoài Bắc, nơi nào ông cũng đặt chân đến Đi tới đâu ông ghi chép rất cẩn thận và viết bút kí, phóng sự tới đó Những chuyến đi như thế đã giúp ông mở thêm tầm nhìn
Những năm Ngô Ngọc Bội làm trưởng ban văn xuôi ở báo Văn nghệ,
có thể được xem là một giai đoạn hoàng kim của văn học, đặc biệt là thể loại
văn xuôi Thời kì đó báo Văn nghệ đã tạo ra những cơn “địa chấn” với hàng
loạt truyện ngắn, bút kí phóng sự viết về đề tài nông thôn và nông dân Hồi
đó, nhà văn Nguyên Ngọc là Tổng biên tập báo Văn nghệ, được ví như là tổng công trình sư, còn Ngô Ngọc Bội là kĩ sư thực hiện
Nhà văn Ngô Ngọc Bội có niềm tự hào lạ lùng: Từ Phú Thọ về Hà
Nội nhưng chỉ viết một đề tài (tam nông), chỉ in một báo (Văn nghệ) và chỉ
đi một xe đạp, là cái Diaman mua từ 1960 bằng tiền Giải Nhất báo Văn
nghệ: Bộ quần áo mới Sẽ dễ hiểu hơn về sự gắn bó ấy nếu biết một nửa gia
đình ông, bà vợ tấm mẳn của ông vẫn ở tại quê nhà làm xã viên hợp tác Mọi
lo lắng về việc làm ăn chểnh mảng theo tiếng kẻng, về cái đói và về cái sự tập thể hóa những cánh rừng cọ rồi hoặc để hoang hóa hoặc bóc lột chúng đến xác xơ đều tác động trực tiếp đến gia cảnh ông; có lẽ vì vậy, nó đã để lại trong văn Ngô Ngọc Bội những dấu ấn nhói buốt Thực ra, vấn đề dòng họ
trong Chi bộ đã được ông đặt ra từ trước Đổi mới, trong tiểu thuyết Gió lay chầy chật mười năm mới in nổi Cùng với kịch Đất nghịch của Hồng Phi,
Trang 32thiên ký sự Nỗi riêng khép mở của Ngô Ngọc Bội là tiếng sấm đầu mùa của
những cơn mưa rào Đổi mới
Chương 2
Trang 33NHỮNG MỐI TRĂN TRỞ THƯỜNG TRỰC VỀ NÔNG THÔN
VÀ NÔNG DÂN TRONG VĂN XUÔI NGÔ NGỌC BỘI
2.1 Nông thôn - nông dân trong "cơn địa chấn" cải cách ruộng đất
Cuộc cải cách ruộng đất đã tạo ra những dấu ấn trong lòng những ai quan tâm Nó cũng để lại nhiều cái mất mát đổ vỡ làm đảo lộn các giá trị xã hội Đã có nhiều tác phẩm văn học miêu tả cuộc cải cách ruộng đất từ nhiều góc độ khác nhau
Cải cách ruộng đất chính thức bắt đầu ngày 25-12-1953 và kết thúc ngày 30-7-1956, được chia làm sáu đợt Nhiề̀u ngàn người đã trở thành nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất Có lẽ vì vậy, sau nửa thế kỷ, cải cách ruộng đất vẫn là đề tài cấm kị trong văn học nghệ thuật Việt Nam Khoảng
năm 1957, tiểu thuyết đầu tay Sắp cưới của Vũ Bão đã bị phê phán quyết liệt
vì đụng đến những sai lầm trong cải cách ruộng đất Cho đến những năm 90 trong bối cảnh đổi mới, mới lại có thêm một số tiểu thuyết về đề tài này Đặc
biệt là Ác mộng của Ngô Ngọc Bội và tiểu thuyết Ba người khác của Tô
Hoài, những người từng trực tiếp làm “anh đội cải cách rồi anh đội sửa sai” trong giai đoạn lịch sử ấy
Tiểu thuyết Ba người khác được viết từ góc nhìn của người trong
cuộc Nhà văn Tô Hoài từng là thành viên trong đội cải cách, chứng kiến một
sự kiện lịch sử đảo lộn toàn bộ đời sống nông thôn miền Bắc lúc bấy giờ Tiểu thuyết đã giúp cho bạn đọc có thêm một cái nhìn mới mẻ về sự kiện đó Tác giả đã miêu tả chân thực diễn biến sự kiện có kèm sự lý giải xác đáng để thuyết phục bạn đọc Đội cải cách đã làm các thao tác đổi trắng thay đen rất hoàn hảo, bởi lẽ trong Đội có những kẻ xảo quyệt, ham thành tích và tiếp tay cho họ là một số bần cố nông xấu xa, dốt nát Đội đã làm được những chuyện mà không ai có thể tưởng tượng nổi: tất cả những cán bộ đảng viên cộng sản trung kiên nhất và có thành tích cách mạng cao nhất tại địa phương đều bị quy là “có vấn đề”, “phản động tay sai địa chủ”, “Quốc dân đảng”,
Trang 34“liên quan tổ chức cũ”, “lịch sử không trong sạch”, “lập trường không vững vàng”
Trong số các sáng tác của nhà văn Ngô Ngọc Bội, Ác mộng là cuốn
tiểu thuyết được nhiều người biết đến nhất Đây là cuốn sách viết rất chân thực về đề tài nông thôn trong cơn địa chấn cải cách ruộng đất Cũng như
tiểu thuyết Ba người khác của nhà văn Tô Hoài, Ác mộng là cuốn tiểu thuyết
vừa mang dáng dấp của hồi ký, bởi câu chuyện được kể xoay quanh cuộc đời, số phận của những người thân và của chính nhà văn Ngô Ngọc Bội về công tác cải cách ruộng đất Tác giả trực tiếp tham gia vào đợt năm cải cách ruộng đất và đợt sửa sai Gia đình nhà văn lại vừa là nạn nhân trong đợt cải cách
Câu chuyện cải cách ruộng đất mà nhà văn kể diễn ra ở xã Quảng Hà
"Xã có bảy ngàn dân, hơn một ngàn sáu trăm hộ, mười sáu xóm lớn nhỏ: Xóm Chợ, Thượng, Diếc, Sộp, Thịnh Đa, Đình, Tam Đỉnh, Mã Sơn, Mơ Trong, Mơ ngoài - thường gọi là Đầm Mơ, một xóm công giáo Liên Trì, một nhà thờ họ, một chi khu tề ác, con sông Bùi chảy từ … Một chi bộ đảng có năm đảng viên…" [21;8] Đội cải cách ở xã Quảng Hà gồm có các nhân vật :
Vũ Long là đội trưởng, Ngọc Chẩm… và Bảo, tất cả có đến hai mươi hai
người Trong Ác mộng câu chuyện còn kể về việc cải cách ruộng đất ở chính
quê hương của Bảo Tác giả đã có những sự đan cài kín kẽ giữa các sự việc diễn ra trong những thời gian và không gian khác nhau nhưng vẫn giữ mối liên hệ giữa các nhân vật tạo ra những sự việc, câu chuyện vừa chân thực vừa hấp dẫn, li kì… Sự đan xen giữa câu chuyện về cải cách ruộng đất ở quê hương Bảo mà gia đình Bảo, đặc biệt là gia đình bên vợ phải chịu hậu họa khủng khiếp với câu chuyện cải cách ruộng đất ở xã Quảng Hà, nơi Bảo đã tham gia công tác cải cách ruộng đất đợt năm đã làm cho người đọc hình dung một cách chân thực về số phận những con người từng phải sống trong
một thời kì bão táp kinh hoàng của lịch sử Tiểu thuyết Ác mộng ban đầu nhà
Trang 35văn đặt là Bàng hoàng nhưng khi đưa sang Nhà xuất bản Lao động lại đổi thành Ác mộng.
Trong chương một của cuốn tiểu thuyết nhà văn Ngô Ngọc Bội mở ra bối cảnh của cuộc cải cách ruộng đất Ngô Bảo đã theo đoàn về làm cải cách
ở xã Quảng Hà và anh được phân công phụ trách ở xóm Thượng, anh đã làm quen với Hoàng Quy, một anh thợ cắt tóc nhanh nhẩu và nắm được rõ tình hình của xóm:
" - Xóm có bao nhiêu gia đình ?
- Một trăm ba mươi gia đình, năm trăm bảy mươi mốt khẩu Hai mươi chín mẫu năm sào mười hai thước ruộng…
- Sao anh nắm được kĩ vậy ?
- Làm thuế nông nghiệp mãi em còn lạ gì Anh thấy xóm em có nghèo không ? Cho nên phải sống đủ các nghề Mười chín ngành nghề cả thảy: rèn, mộc, nề, hàng xay, hàng xáo, bắt lươn, bắt ếch, riu tôm, tát vũng, cắt tóc, bán thuốc ê, lang băm, thầy cúng, địa lí, dạy học, tướng số, bói toán, thêu ren, hàn nồi… Chúng em đi kiếm ăn khắp các chợ vùng quê…
- Thế địa chủ mấy ? Phú nông mấy ?
- Địa chủ có nhà bà Nguyễn Thị Đạo là chắc chắn Nhà bà ta có bảy mẫu ruộng, ba dinh cơ… Còn phú nông thì phải xét" [21;14-15] Và Bảo nắm được luôn tình hình của xã: "Cả xã có sáu đảng viên: ông Tịch, ông Bông, ông Ngọc, chị Huệ, anh Thăng, anh Thành Xã này đã có thời có năm mươi tư đảng viên Em cũng là đảng viên cũ đấy chứ ạ… Nay chỉ còn sót lại
có bốn: Tịch, Bông, Ngọc, Huệ… Mỗi người mỗi vẻ giống như Lưu, Quan,
Trương trong Tam quốc Vị Tịch thì ung dung tự tại, người có đức độ cao
sâu, có mưu đồ chiến lược, có sức hấp dẫn cán bộ và quần chúng Còn vị Bông chính là Quan Vân Trường, tiếc là hơi "bạch diện thư sinh" chứ không mặt đỏ râu dài… Còn "Trương Phi" Ngọc thì hét ra lửa Mười chín tuổi đã phụ trách đường giao thông bí mật của huyện từ vùng tự do vào vùng địch Nay phụ trách hàng trăm dân quân du kích, một tiếng hô là mọi người răm
Trang 36rắp" [21;17-18] Họ là những người thuộc tổ chức cũ trong đợt cải cách ruộng đất này.
Ngô Bảo đã tìm được đối tượng nghèo nhất xóm để có thể ở "ba cùng", "thăm nghèo hỏi khổ" và nắm rễ bắt chuỗi Đó là gia đình anh Xuân Ngọ "một gia đình bé bé ngay cạnh gốc bàng, mái rạ mới, vách đất còn ướt, nhỏ xíu, tối om" [21;19] Sau ba ngày thăm nghèo hỏi khổ Bảo đã nắm được
ba rễ: Trịnh Xuân Ngọ, Nguyễn Thị Lúa, Nguyễn Thành Trong đó Nguyễn Thành là đảng viên thuộc tổ chức cũ đang bị đội trưởng Vũ Long và đội phó Nhàu hạch sách và cảnh báo
Viết về cải cách ruộng đất nhà văn Ngô Ngọc Bội đã tập trung đi sâu vào hiện thực đấu tố địa chủ, xóa bỏ thành phần tổ chức cũ và công việc sửa sai của đợt cải cách Những địa chủ đầu tiên của xã Quảng Hà là Tổng Hoàng và Lý Đức "Tổng Hoàng là người có nhiều ruộng nhất xã Quảng Hà,
Lý Đức một lí trưởng tề có nhiều nợ máu Cốt cán ở Đầm Mơ tố cáo: Trong mấy năm Lý Đức làm lí trưởng tề đã báo cáo cho Tây về phục kích tại sông Bùi bắn chết ba cán bộ ta! Tổng Hoàng và Lý Đức đều đã bị bắt tối hôm qua" [21;82] Hai người này được Nguyễn Tuấn, một tay chuyên lập hồ sơ,
bổ sung hợp lí hóa hồ sơ để đưa lên thành "cường hào ác bá", đem ra "tòa án nhân dân đặc biệt" để xử bắn Việc đấu tố địa chủ, cường hào có lẽ độc ác nhất là ép con phải đấu tố cha, vợ phải đấu tố chồng Thục là con gái của Lý Đức, cũng đã bị đội cải cách ép lên chỉ mặt vạch tội cha mình Đó là hành động phá hoại luân thường đạo lí của con người Việt Nam, mà ngay bản thân những anh đội, những rễ, chuỗi… nhiều khi cũng vì trách nhiệm phải làm Khi Ngọc Chuẩn đập bàn quát tháo, bắt ép Thục phải đấu tố cha của mình là
Lý Đức, Ngô Bảo đã cảm thấy "tởm lợm cái việc làm của cô đội phó được mệnh danh là "Tướng phá vây" này Cái con quỷ cái này không biết từ lúc nào đã từ một cô gái nông thôn lành hiền trở thành dã thú Bàn tay nó đã vấy bao nhiêu máu, hung bạo, tàn ác" [21;98]
Trang 37Trong cải cách ruộng đất còn có quy định về số phần trăm địa chủ trên
số hộ của mỗi xã là sáu phần trăm Theo như Vũ Tiềm phụ trách thống kê thì Quảng Hà còn thiếu mười bốn địa chủ nữa và Vũ Long đã dùng quyền lực đội trưởng để ấn định số địa chủ còn thiếu cho mỗi xóm Theo đó xóm Thượng của Ngô Bảo mới có một địa chủ là Nguyễn Thị Đạo, phải nhận thêm hai địa chủ nữa! Việc này Lúa là cốt cán dự họp đã phản đối không nhận Buộc Vũ Long phải lập tức cử Ngọc Chuẩn xuống xóm Thượng để truy quét địa chủ cho đủ chỉ tiêu: ông Lang Khuê và Đồ Cả bị lôi ra truy thành địa chủ "ông Lang Khuê gần hai mẫu ruộng nhưng gia đình lại có tới năm lao động chính… Lão Đồ Cả năm nay đã hơn bảy mươi tuổi Hai cha con ở với nhau trong ngôi nhà cũng rộng rãi nhưng sơ khoáng Cuộc đời của hai cha con sống lang bạt kì hồ, dở lưu manh lừa đảo lại dở có học thức" [21;157] thế mà thành địa chủ
Cảnh tượng đấu tố gia đình ông Lang khuê là địa chủ diễn ra thật đáng thương tâm Bà Huệ, vợ thứ hai của ông Lang khuê được ông chiều chuộng, mua sắm cho đủ thứ, thế mà lúc đấu tố thì: "Vừa nhìn thấy chồng bà Huệ đã hấp tấp chỉ mặt:
- Thằng Lang Khuê! Mày hãm hại cuộc đời tao! Mày bỏ bùa bỏ bả tao! Vợ mày chỉ đẻ được hai mống con, mày dỗ tao về làm lẽ để đẻ con đàn cháu đống Ai ngờ mày đã đang tay cắt thuốc triệt sinh, triệt sản tao Mày biến tao thành con nuôi, thằng ở nhà mày, cả đời tao hầu hạ… " [21;164] Sau khi đấu tố Lang Khuê một cách mĩ mãn, đội tiến hành tịch thu tài sản, cái buồng riêng của khổ chủ là bà Huệ không ai được động đến Nhà văn Ngô Ngọc Bội đã rất đau xót khi miêu tả những giá trị vật chất và tinh thần
bị cuộc cải cách ruộng đất xóa bỏ: những dụng cụ đồ nghề dùng để sao tẩm thuốc của ông Lang Khuê, những tủ thuốc quý, những pho sách y dược, sách văn hóa, văn học đều bị đem đốt phá "Cái tủ của ông Lang Khuê đóng rất cầu kì Mỗi ô kéo lắp một các móc bằng đồng Phía trên móc gắn một cái nhãn cũng bằng đồng, giống như cái bài ngà của quan tri huyện, khắc tên vị
Trang 38thuốc bằng chữ nho: bạch chỉ, phục linh, cam thảo… trên nóc tủ xếp hàng trăm pho sách chữ Nho, chữ Tây và quốc ngữ Người ta vứt bừa bãi ra sân chẳng ai đoái hoài Ngọc Chuẩn ra lệnh thu tất cả về nhà kho, để đến hôm làm lễ đốt văn tự "khai tử chế độ phong kiến bóc lột, xóa nợ cho nông dân" đống lửa sẽ to cao, chứng tỏ tội địa chủ càng nhiều Đó là một thảm họa lớn cho văn hóa dân tộc mà nhà văn đã phải rợn người khi phải trực tiếp chứng kiến những việc làm sai trái mà "lực bất tòng tâm".
Câu chuyện Ác mộng không chỉ nói đến việc đấu tố địa chủ, cường
hào ác bá mà còn hấp dẫn người đọc bởi những chi tiết li kì, kín kẽ, những
sự việc bất ngờ xảy ra giữa đội cải cách với những người thuộc "tổ chức cũ", việc đấu tranh với bọn phản động được xem là địch còn cài lại, còn bố trí sẵn… Ngay từ ngày đầu về xã Quảng Hà, đội cải cách ruộng đất đã truất bỏ quyền hành của tổ chức cũ: Bông, Tịch, Ngọc đều bị gọi lên để bàn giao lại
sổ sách, súng đạn… Đội trưởng Vũ Long tuyên bố:"Hai anh Bông, Tịch yên trí về sinh hoạt với nông dân, lúc nào cần, Đội gọi Từ giờ phút này, các việc thuộc về chính quyền, đoàn thể, chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội… gốc cây, ngọn cỏ đều do Đội phụ trách Các anh thuộc "tổ chức cũ" nay đã hết quyền hạn" [21;10] Và Vũ Long còn nhắc lại lời huấn thị của cấp trên: "Đợt năm cải cách ruộng đất là cuộc tổng tiến công đế quốc, phong kiến ở đồng bằng Nơi ấy địch đã bố trí sẵn trận địa Chi bộ của ta căn bản là của địch, hoặc bị địch lũng đoạn nghiêm trọng… Đây là chiến dịch Điện Biên Phủ" [21;11] Câu chuyện không dừng lại ở đó mà nhà văn Ngô Ngọc Bội còn khai thác sâu hơn hiện thực mâu thuẫn giữa đội cải cách với những người thuộc thành phần tổ chức cũ Ngô Bảo thì ngay từ đầu đã tín nhiệm và chọn Nguyễn Thành là đảng viên, phó chủ tịch ủy ban xã, bộ đội phục viên để làm rễ Việc này đã bị đội trưởng Vũ Long phê phán và cảnh cáo quyết liệt, bắt đưa Nguyễn Thành ra khỏi danh sách rễ Tuy vậy, trong suốt đợt cải cách Ngô Bảo đã ngầm liên lạc với Nguyễn Thành để cứu Tịch, Bông và Ngọc, làm giảm bớt những sai phạm của đợt cải cách
Trang 39Từ khi sự việc ông Hào Chót bị bức tử thì dường như đội cải cách, đứng đầu là Vũ Long đã chính thức tuyên chiến với tổ chức cũ Thực ra tổ chức cũ là một thế lực do chính sách cải cách dựng lên: đội cho bắt trói Tịch, Bông, Ngọc… và Vũ Long xem đó là một chiến công: "Đù mẹ! Đánh địch thì phải có địch mà đánh mới khoái chứ! Tụi bây! Thế là địch đã bắt đầu cục cựa! Mấy hôm nay ta tấn công vào đầu sỏ, tổ chức phản động có nguy cơ đổ
bể Chúng đã bức tử Hào Chót để lấp đầu mối Ngay tối hôm qua ta đã cho bắt ba tên "tổ chức cũ" Bông, Tịch, Ngọc" [21;88]
Những cuộc hỏi cung, những trận đánh đập diễn ra liên tục cho đến ngày Bông trốn thoát khỏi gông cùng ra hoạt động chống phá đội cải cách bằng các hoạt động phá phách, viết khẩu hiệu lên tường… gây cho đội cải cách những khó khăn nhất định trong việc chuyển từ bước hai sang bước ba Cho đến ngày đội cải cách xử bắn Tịch thì bị Bông và những người khác tổ chức đánh tháo Vũ Long bị ốm phải nhập viện, trong lúc đội cải cách ruộng đất xã Quảng Hà tê liệt hoàn toàn thì đột nhiên có đội sửa sai về
Đội sửa sai do bí thư huyện ủy Đoàn Khôi làm trưởng đoàn về đã cởi nút cho màn kịch cải cách ruộng đất ở xã Quảng Hà, nhưng lại mởi ra một màn kịch mới Tác giả là người trong cuộc, cho nên đã thấy rất rõ cảnh hỗn loạn, xô xát khi người dân nghe tin "sửa sai" "Chỉ thị về sửa sai cải cách ruộng đất chưa được công bố chính thức ra ngoài quần chúng, nhưng không khí đã xôn xao bàn tán rồi người ta kêu gào, khóc lóc, chửi rủa Nghe nói nhiều nơi người ta đòi treo cổ cán bộ Đội, đã giết những đứa cốt cán
Ở Quảng Hà cũng thế Ba gia đình ở xóm Đình bị quy là địa chủ vác búa để đập phá kho khiêng bàn tủ, thóc lúa nồi xanh về… Ở Thịnh Đa con cháu Lý Đức lùng sục bắt được Nguyễn Thị Thuận trói vào gốc cau đòi rạch miệng: "Nợ máu phải trả bằng máu!" [21;191] Việc sửa sai do bí thư Đoàn Khôi chỉ đạo đã cơ bản thành công Sau cái chết của Tịch, Đoàn Khôi đã đứng ra tổ chức an táng và đọc điếu văn cho Tịch, người cuối cùng chết vì
Trang 40cải cách ruộng đất ở xã Quảng Hà Đó cũng là lời tổng kết, ai điếu cho những mất mát, sai lầm của cải cách ruộng đất đã gây ra:
"Đám tang Tịch có hàng ngàn người Quảng Hà đưa tiễn Đặng Khôi quyết định chôn anh ở cái huyệt đã đào sẵn ở bên bãi tha ma Thịnh Đa cùng với Lý Đức, Tổng Khoái và Hai Thảo Mọi người vây quanh bốn ngôi mộ Trước khi từ biệt, Đặng Khôi xúc động đứng lên nói với bà con: "…Anh Tịch chết đi để lại cho chúng ta nhiều điều cay đắng Anh nằm cùng với ba người tại đây Cũng chưa biết ai đúng, ai sai Nhưng dù sao đây cũng là người Việt Nam chúng ta Nếu chỉ vì mục đích lấy ruộng đất của người giàu chia cho người nghèo, có lẽ chúng ta không cần thiết phải làm như thế này Một sai lầm quá lớn và kéo dài…" [21;197]
Như vậy, trong tiểu thuyết Ác mộng nhà văn Ngô Ngọc Bội đã nói lên
được những sai lầm của cải cách ruộng đất Trong cơn "địa chấn" này đã giết oan, bắn oan nhiều người, tàn phá nhiều của cải vật chất, làm băng hoại nền đạo đức văn hóa xã hội… Những vấn đề này cũng đã được các tiểu thuyết sau này nói đến Như trong "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường, "Ba người khác" của Tô Hoài…
Ác mộng còn nói lên những nỗi ám ảnh và mất mát mà chính gia đình
Ngô Bảo phải gánh chịu Trong những năm cải cách ruộng đất Ngô Bảo làm cán bộ đội, nhưng gia đình anh cũng bị nỗi oan địa chủ, đặc biệt là gia đình bên vợ, ông Lê Đôn cũng bị quy là địa chủ cường hào Trong cuốn tiểu thuyết này nhà văn đã dành chương 2, chương 3 và phần cuối để nói về những gì xảy ra đối với gia đình ông Lê Đôn trong cải cách ruộng đất Và chính những phần này lại gây ám ảnh lớn trong lòng người đọc Ông Lê Đôn
là trưởng họ Lê ở quê Bảo, là bố vợ của Bảo Gia đình ông Lê Đôn giàu có lâu đời, ông học giỏi Pháp văn, từng dạy học và có nhiều học trò đỗ đạt
"Ông dạy học chừng chục năm, có hàng mấy trăm học sinh Thầy dạy tốt, thái độ khiêm nhường, đức độ cao thượng Ngoài chương trình dạy quốc ngữ, thầy kết hợp cả Tây học, Nho học Thầy đọc nhiều sách báo, khai thác