1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

235 944 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp
Tác giả TS. Hoàng Thị Minh Sơn, Ts. Nguyễn Đức Mai, Th.S. Nguyễn Mai Bộ, TS. Phan Thị Thanh Mai, Th.S. Vũ Gia Lâm, Th.S. Mai Thanh Hiếu, Th.S. Nguyễn Hải Ninh, Th.S Đỗ Thị Phượng, Th.S. Nguyễn Ngọc Khanh
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 235
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

*************

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ THEO TINH THẦN

CẢI CÁCH TƯ PHÁP

MÃ SỐ: LH - 08 - 09/ ĐHL

Chủ nhiệm đề tài: TS Hoàng Thị Minh Sơn

Trường Đại học Luật Hà Nội

Hà Nội, 01/ 2009

DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

Trang 2

1 TS Hoàng Thị Minh Sơn Trường ĐH Luật Hà Nội

Trang 3

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN THỨ HAI: BÁO CÁO TỔNG THUẬT VỀ NỘI

3 Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chuẩn bị xét xử

sơ thẩm và hướng hoàn thiện

87

5 Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình

11 Thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự và một số giải pháp

nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án quân sự

202

Trang 5

PHẦN THỨ NHẤT

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài: Quán triệt Nghị quyết 48 - NQ/TW ngày

02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử”, đồng thời “coi xét xử là hoạt động trong tâm của hoạt động tư pháp”, những quy định về thủ

tục xét xử trong BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện.Theo quy định của BLTTHS hiện hành, quá trình giải quyết vụ án hình sự trảiqua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn xét xử được coi là giaiđoạn có tính quyết định Điều 9 BLTTHS quy định “ Không ai bị coi là có tội

và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật” Ở nước ta, để đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan,luật tố tụng hình sự quy định Toà án thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, cáccấp xét xử hiện nay là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Để thực hiện nguyêntắc hai cấp xét xử, luật TTHS quy định hai thủ tục xét xử là: thủ tục xét xử sơthẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm Thực tiễn xét xử trong một số năm vừa quacho thấy mặc dù số lượng án hình sự hàng năm không giảm nhưng Toà áncác cấp đã thực hiện tương đối tốt các quy định pháp luật TTHS trong xét xửtại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Tuy nhiên, hiệu quả công tác xét xử vẫnchưa thật sự được nâng cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cảicách tư pháp Thực tiễn vẫn xảy ra tình trạng án để quá hạn, án xử sai và cònkhông ít trường hợp xử oan người không phạm tội, gây bất bình trong nhândân, bức xúc trong dư luận, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp, ảnhhưởng tiêu cực đến hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và đấu tranh phòngchống tội phạm

Trang 6

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nói trên, trong đó cónguyên nhân rất quan trọng là những hạn chế, bất cập trong quy định củapháp luật TTHS Trong giai đoạn hiện tại, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanhquá trình cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cảicách tư pháp cũng đang được Đảng và Nhà nước tích cực triển khai, coi đâynhư là khâu đột phá quan trọng, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều này đã thể hiện rõ néttrong các Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là:

“Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan

tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng của chiến lược cải cách tư pháp”;

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng

đến năm 2020 là: “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp…” Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu các quy

định của pháp luật TTHS nói chung và các chế định của BLTTHS nói riêng

về xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, đánh giá thực tiễn xét xử nhằm làm sáng tỏ về

lý luận cũng như thực tiễn, tìm ra những hạn chế vướng mắc trong quy địnhpháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự, từ đó

đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tácxét xử các vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết vàcấp bách

2 Tình hình nghiên cứu: Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi

hành đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về xét xử trong TTHS của cácnhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn Gần đây cũng có một số tác giả nghiêncứu về hoạt động xét xử nhưng ở những góc độ khác nhau, ví dụ: tác giả PhanThị Thanh Mai với luận án Tiến sĩ luật học đề tài "Giám đốc thẩm trong

Trang 7

TTHSViệt Nam" (bảo vệ tháng 5/2007) có đề cập tới việc tổ chức Tòa án đểxét xử sơ thẩm và phúc thẩm có hiệu quả và chất lượng, hạn chế tình trạng viphạm nghiêm trọng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án nhằm hạn chếlượng đơn từ, khiếu nại đề nghị giám đốc thẩm và hạn chế số lượng án bịkháng nghị giám đốc thẩm; Tác giả Vũ Gia Lâm với một số bài viết đăng trêncác tạp chí chuyên ngành như: “Hoàn thiện một số quy định về xét xử sơ thẩmhình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử”(Tạp chí Tòa ánnhân dân số 18/2006); “Hoàn thiện một số quy định về xét xử phúc thẩm hình

sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử” (Tạp chí TAND số23/2006) đều ít nhiều đề cập đến các quy định pháp luật TTHS hiện hành vềthủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, thực trạng áp dụng trong xét xử, nhữngvướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện Ở một số bài viết khác như: "Một sốvấn đề về việc giao bản án của Tòa án cấp sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự",của tác giả Trần Văn Độ đăng trên Tạp chí TAND, số 8 tháng 4/2007, trong đóvới việc xác định rõ đối tượng và hình thức giao bản án, những hạn chế trongquy định của BLTTHS về việc giao bản án, đã làm rõ ý nghĩa pháp lý và ýnghĩa chính trị xã hội của việc giao bản án của Tòa án cấp sơ thẩm dưới góc độbảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử Ngoài ra còn một số tác giả khác như TrầnCông Phàn với bài "Tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS về xét xửphúc thẩm", tác giả Hồ Đức Anh với bài "Hoàn thiện các quy định củaBLTTHS năm 2003 về phạm vi tranh luận và chủ thể tranh luận tại phiên tòa

sơ thẩm"; tác giả Vũ Thành Long với bài "Về thẩm quyền của Tòa án cấp phúcthẩm quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS " đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số

20 tháng 10/2007 (số chuyên đề về hoàn thiện các quy định của BLTTHS theođịnh hướng cải cách tư pháp) và rất nhiều bài viết khác đăng trên các tạp chíchuyên ngành Nhìn chung, nội dung các bài viết này chủ yếu là nghiên cứucác vấn đề có liên quan đến xét xử theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm như

Trang 8

vấn đề hoàn thiện pháp luật về thủ tục xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo hướng

cải cách tư pháp được đề ra trong các nghị quyết của Đảng Tuy nhiên hầu hết

các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách đơnthuần và riêng lẻ các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng phápluật về từng giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm hoặc xét lại bản án, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc, tái thẩm, Ví dụ: nghiêncứu về thẩm quyền xét xử của Toà án, thủ tục xét xử sơ thẩm; thủ tục xét xửphúc thẩm; thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; quyền hạn của Toà án cấp phúcthẩm… mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các chếđịnh về xét xử và các chế định khác có liên quan trong tố tụng hình sự trongmối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau cũng như việc áp dụng các chếđịnh này trong thực tiễn trên tinh thần của chiến lược cải cách tư pháp Vì vậynhóm nghiên cứu cho rằng việc lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật TTHSnhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp” để nghiên cứudưới góc độ một đề tài khoa học cấp trường trong thời điểm hiện nay là rất cấpthiết và vẫn có tính thời sự

3 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương

pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quanđiểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiêncứu đề tài là: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh; phươngpháp tổng kết lịch sử; phương pháp thống kê hình sự v.v…

4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử trong TTHStheo tinh thần cải cách tư pháp, trong đó chủ yếu tập trung vào các giải pháphoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về các chế định xét xử sơ thẩm, xét

xử phúc thẩm các vụ án hình sự

Trang 9

- Nghiên cứu các quy định pháp luật về xét xử sơ thẩm, xét xử phúcthẩm và thực tiễn thi hành các quy định này trong xét xử trong mối quan hệvới các yêu cầu của cải cách tư pháp;

- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về xét xử và thực tiễn ápdụng các quy định này trong hoạt động xét xử tại cấp sơ thẩm và cấp phúcthẩm, xác định nguyên nhân của những hạn chế và vướng mắc khi áp dụngcác quy định pháp luật trong xét xử;

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằmnâng cao hiệu quả công tác xét xử trong tố tụng hình sự theo tinh thần cảicách tư pháp trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài

5 Những đóng góp của đề tài: Nhìn nhận một cách tổng quát trên

phương diện nghiên cứu khoa học, đề tài có những đóng góp cơ bản sau:

- Đề tài đã góp phần đáng kể trong việc phân tích, đối chiếu các chuẩnmực về hoạt động xét xử của hai giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm trongluật TTHS Việt Nam trên các phương diện lập pháp và thi hành pháp luật, cóđối chiếu, so sánh với các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thếgiới có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng xét xử các vụ án hình sự, việc áp dụng phápluật có liên quan đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm… từ đó đưa ra những giảipháp cho từng nhóm vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án hình sựtrong bối cảnh cải cách tư pháp

- Đề tài đã chỉ ra được nhiều bất cập trong quy định của pháp luật TTHS

về thẩm quyền xét xử, giới hạn xét xử, thủ tục tố tụng tại phiên toà sơ thẩm,phúc thẩm, quyền hạn của Toà án phúc thẩm …trên cơ sở đó đề xuất những ýkiến sửa đổi, bổ sung những quy định của BLTTHS hiện hành về các quyđịnh này

Trang 10

Với những kết quả nghiên cứu nói trên, đề tài có thể được sử dụng như

là một tài liệu tham khảo có giá trị cho giảng viên và sinh viên tại các trườngđào tạo pháp luật cũng như các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn

6 Kết cấu của đề tài: Đề tài có các chuyên đề nghiên cứu sau:

1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2 Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm

3 Một số quy định của BLTTHS về chuẩn bị xét xử sơ thẩm và hướnghoàn thiện

4 Đổi mới thủ tục phiên toà sơ thẩm hình sự

5 Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự

6 Một số vấn đề về đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự

7 Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

8 Hoàn thiện quy định pháp luật về thủ tục phiên toà xét xử phúc thẩmhình sự

9 Hoàn thiện pháp luật TTHS về thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm

10 Áp dụng, thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự

11 Thực tiễn xét xử của các Toà án quân sự và một số giải pháp nâng

cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án quân sự.

Trang 11

PHẦN THỨ HAIBÁO CÁO TỔNG THUẬT VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đề tài “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả xét

xử theo tinh thần cải cách tư pháp” được nghiên cứu với các chuyên đề sau:

* Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

* Giới hạn của việc xét xử sơ thẩm

* Một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về chuẩn bị xét xử sơthẩm và hướng hoàn thiện

* Đổi mới thủ tục phiên toà sơ thẩm hình sự

* Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự

* Một số vấn đề về đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 12

quan đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, các tác giả của nhóm nghiên cứu đã thuđược những kết quả sau:

1 Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các tác giả của nhóm

nghiên cứu thống nhất quan điểm là: Nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơthẩm của toà án có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tổ chức hệ thống các

cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết

vụ án khách quan toàn diện và đầy đủ, theo đúng tinh thần của nguyên tắc haicấp xét xử hiện nay Nghiên cứu về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của toà án cáccấp theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam nhóm tác giả rút ra kết luận:

- Luật TTHS Việt Nam dựa vào một số dấu hiệu nhất định của vụ ánhình sự để phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho các cấp Toà án Đó làcác dấu hiệu về tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm (loại tộiphạm), nơi tội phạm được thực hiện và người thực hiện tội phạm, cá biệt như

ở Việt Nam còn căn cứ vào hành vi phạm tội gây thiệt hại cho lĩnh vực quản

lý nhà nước nào để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa TAND vàTAQS trong một số trường hợp nhất định Dựa trên ba tiêu chí đã xác địnhtrên, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành Việt Nam phân định các loại thẩm

quyền xét xử sau: Thẩm quyền xét xử theo sự việc: là loại thẩm quyền được phân định giữa Tòa án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh; thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng: là loại thẩm quyền được phân định giữa Toà án nhân

dân và Toà án quân sự; thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ: là loại thẩm quyền

được phân định cho các Toà án tại các địa bàn quản hạt khác nhau căn cứ vàonơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi kết thúc việc điều tra Việc phân địnhcác loại thẩm quyền xét xử dựa theo các tiêu chí nêu trên là phù hợp với trình

độ tổ chức và chuyên môn của Toà án trong thời điểm BLTTHS được banhành và có hiệu lực

Trang 13

- Thực tiễn xét xử trong những năm gần đây cho thấy, mặc dù số lượng

vụ án phải thụ lý xét xử ở cấp sơ thẩm ngày càng tăng nhưng tốc độ giảiquyết tại cấp xét xử này đã nhanh chóng hơn, lượng án tồn đọng ngày cànghạn chế Đặc biệt, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao so với thờigian trước, số lượng các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,kháng nghị có chiều hướng giảm so với trước đây Nhờ chất lượng xét xử sơthẩm ngày càng đảm bảo nên lượng án bị xét xử phúc thẩm theo hướng khôngchấp nhận kháng cáo, kháng nghị chiếm tỷ lệ cao so với số lượng án bị sửa, bịhủy Lượng án tồn đọng tại TAND cấp huyện và cấp tỉnh hàng năm nhìnchung có xu hướng ngày càng giảm (tính trung bình từ năm 2002 đến năm

2007 lượng án sơ thẩm tồn đọng ở TAND cấp huyện và cấp tỉnh vào khoảngtrên dưới 2% lượng án đã thụ lý) Số lượng án sơ thẩm bị huỷ để điều tra lạihoặc xét xử lại chiếm một tỷ lệ không đáng kể Theo nhóm nghiên cứu thìthẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc của Toà án các cấp hiện nay quy địnhtại Điều 170 BLTTHS, về cơ bản là phù hợp và đã được chứng minh cụ thểqua thực tiễn xét xử trong thời gian qua Tuy nhiên, quá trình áp dụng đã chothấy có một số bất cập:

Thứ nhất: Bộ luật TTHS hạn chế quá nhiều trường hợp vụ án hình sự về

tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêmtrọng mà Toà án cấp huyện không được xét xử tại điểm c khoản 1 Điều 170(21 tội phạm cụ thể) Trước đây năng lực tổ chức và trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện còn nhiềuhạn chế, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động còn thiếu thốn, nên quy địnhnhư vậy là phù hợp Tuy nhiện, hiện nay năng lực thực tế của các cơ quantiến hành tố tụng nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện nóiriêng đã được nâng cao rất nhiều so với thời điểm BLTTHS có hiệu lực thihành Vì vậy, chúng tôi cho rằng đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Trang 14

quy định tại Chương 11 là các tội phạm liên quan đến sự vững mạnh cũngnhư sự tồn vong của Nhà nước của chế độ và việc xử lý các tội phạm này đòihỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơquan hữu quan khác, đồng thời trong một số trường hợp cần đảm bảo bí mậtnhà nước; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiếntranh quy định tại chương 24 BLHS là các tội phạm chưa từng được khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử ở Việt Nam kể từ khi quy định các tội phạm này tạiBLHS năm 1985 nên chưa có sự khảo nghiệm trong thực tế, hơn nữa các tộiphạm này ít nhiều đều có liên quan đến các mối quan hệ và luật pháp quốc tế

vì vậy chúng thuộc phạm vi quốc gia, nên không thể giao cho cấp huyện giảiquyết được Do vậy, quy định các tội phạm này không thuộc thẩm quyền xét

xử của Toà án cấp huyện là hoàn toàn phù hợp Đối với các tội phạm quyđịnh tại điểm c khoản 1 Điều 170 BLTTHS, trong thời điểm hiện tại, các Toà

án cấp huyện đã có khả năng xét xử hầu hết các tội phạm này, vì vậy chỉ nênquy định Toà án cấp huyện không được xét xử một số tội phạm quy định tại 9điều luật sau thay vì 21 Điều như hiện nay: Điều 172 tội vi phạm các quyđịnh về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; Điều 216 tội vi phạm cácquy định về điều khiển tàu bay; Điều 217 tội cản trở giao thông đường không;Điều 218 tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không khôngđảm bảo an toàn; Điều 219 tội điều động hoặc giao cho người không đủ điềukiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không; Điều 221 tội chiểmđoạt tàu bay, tàu thuỷ; Điều 222 tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định

vể hàng không của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 223 tộiđiều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 263 tội cố ý làm lộ bí mật nhànước; tội mua bán, chiếm đoạt hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước

Thứ hai: Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS

Trang 15

cấp Quân khu, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quy định hiện nay củaBLTTHS về việc TAND cấp tỉnh và TAQS Quân khu xét xử những vụ ánkhông thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực.Tuy nhiên, quy định việc TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu có thể lấy

vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp dưới lên để xét xử như hiện nay làchưa hợp lý, vì nếu quy định một cách chung chung như vậy dễ dẫn đến sựtuỳ tiện trong áp dụng và trong thực tế sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ

án do việc khi chuyển vụ án từ cấp dưới lên sẽ phải làm lại cáo trạng truy tố,

do đó hồ sơ vụ án sẽ phải chuyển qua lại nhiều lần giữa Toà án và VKS, mấtnhiều thời gian không cần thiết Mặt khác, do chưa có sự giải thích, hưóngdẫn về vấn đề này nên cũng khiến cho việc nhận thức và áp dụng trong thựctiễn sẽ khó có sự thống nhất Nhóm nghiên cứu cho rằng, nên bỏ quy địnhviệc TAND cấp tỉnh và TAQS cấp Quân khu có thể lấy vụ án thuộc thẩmquyền của Toà án cấp dưới lên để xét xử và bổ sung vào khoản 1 Điều 170BLTTHS (điểm d) một số trường hợp vụ án hình sự mà tội phạm do một sốđối tượng nhất định thực hiện không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấphuyện, để ngay khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đã giao ngay cho cơ quanđiều tra cấp tỉnh điều tra từ đầu để đảm bảo sự thống nhất về thẩm quyền giữacác cơ quan tiến hành tố tụng, tránh trường hợp sau khi truy tố ra Toà án cấphuyện, vụ án mới bị lấy lên Toà án cấp trên xét xử Trước mắt , để đảm bảoviệc giải quyết vụ án được khách quan, với mô hình tổ chức Toà án theonguyên tắc hành chính - lãnh thổ như hiện nay, những vụ án hình sự mà tộiphạm do các đối tượng sau đây thực hiện sẽ không thuộc thẩm quyền xét xửcủa Toà án cấp huyện: Thẩm phán Toà án các cấp, KSV của VKS cáccấp,Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài,người có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín cao trong các dân tộc ít người.Tuy nhiên, nếu sau này chúng ta tổ chức lại hệ thống Toà án theo cấp xét xử

Trang 16

và thẩm quyền xét xử theo yêu cầu cải cách tư pháp vớí mô hình Toà án sơthẩm khu vực không lệ thuộc vào một đơn vị hành chính như hiện nay, thìviệc xét xử các đối tượng nói trên có thể giao cho các Toà án này vẫn đảmbảo việc xét xử khách quan Đến thời điểm đó, có thể bỏ điểm d của Điều 170sửa đổi này Từ những phân tích trên, trong giai đoạn trước mắt nhóm nghiêncứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 170 BLTTHS như sau:

Điều 170 Thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp

1 Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩmnhững vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêmtrọng vàtội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

a Các tội xâm phạm ninh quốc gia;

b Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c Các tội quy định tại các Điều 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223

và 263 của Bộ luật hình sự

d Các tội mà người thực hiện tội phạm là: Thẩm phán, Kiểm sát viên,Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người

có chức sắc cao trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong các dân tộc ít người

2 Toà án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự vềnhững tội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện,Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về nhữngtội phạm không thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự khu vực

Về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, theo quy định tại đoạn 3 Điều 171BLTTHS, trưòng hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài bị đưa về nuớc xét xử,nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự thì do TAQS cấp quân khutrở lên xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS Trung ương Chúng tôi

Trang 17

cho rằng quy định như vậy là chưa chính xác, bởi lẽ hiện nay theo quy địnhcủa BLTTHS, không có một cấp TAQS nào cao hơn TAQS cấp Quân khu cóthẩm quyền xét xử sơ thẩm cả, vì ngay từ năm 2000 chúng ta đã bỏ quy định

về thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm của Toà hình sựTANDTC tối cao và TAQS Trung ương Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bỏ hai

từ “ trở lên” tại đoạn này, và đoạn ba Điều 171 BLTTHS sẽ có nội dung sau:

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân

sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án toà án quân sự Trung ương.

Đối với tội phạm xảy ra trên tàu bay, tài biển, khi tàu bay tàu biển đã rờikhỏi sân bay, bến cảng Việt Nam, BLTTHS hiện hành quy định thuộc thẩmquyền xét xử của Toà án nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển trở vềđầu tiên ở trong nước hoặc Tòa án nơi tàu bay, tàu biển đó đăng ký Quy địnhnhư vậy dễ dẫn đến việc tranh chấp hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các Toà ánnói trên Mặt khác, việc quy định cả Toà án nơi đăng ký tàu bay, tàu biển cóthẩm quyền xét xử chắc chắn sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, thu thậpchứng cứ vì thực tế nếu có tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển mà ngưòiphạm tội bị bắt quả tang hay khẩn cấp thì khi tàu bay, tàu biển trở về sân bay,bến cảng đầu tiên ở trong nước, do không có thẩm quyền điều tra vụ án nênngười chỉ huy tàu bay, tàu biển phải bàn giao ngay người bị bắt cho cơ quanđiều tra có thẩm quyền, chính là cơ quan điều tra sở tại, cho nên thực chấthoạt động điều tra ban đầu như: lập biên bản phạm tội quả tang, biên bảnnhận người bị bắt, nhận bàn giao vật chứng (nếu có) đã được thực hiện ngaykhi cơ quan điều tra nhận người bị bắt Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằngkhông nên quy định cho Toà án nơi tàu bay, tàu biển đăng ký có thẩm quyềnxét xử các tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển khi tàu bay tàu biển đã rờikhỏi sân bay, bến cảng Việt Nam để xác định nhanh chóng thẩm quyền điều

Trang 18

tra đối với các tội phạm này, nhằm giải quyết kịp thời, chính xác vụ án Dovậy, cần sửa đổi điều 172 BLTTHS như sau:

Điều 172 Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu hay tàu

biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoàikhông phận hoặc lãnh hải của Việt Nam

Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải ViệtNam thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bếncảng trở vể đầu tiên ở trong nước

Quy định của BLTTHS về thủ tục rút gọn trong việc điều tra, truy tố, xét

xử sơ thẩm đối với các vụ án có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 Bộluật này là rất cần thiết, vì sẽ giúp cho việc giải quyết nhanh các vụ án đơngiản, chúng cứ rõ ràng, người phạm tội bị bắt quả tang, …Theo nhóm nghiêncứu, với các điều kiện mà BL TTHS quy định cho việc áp dụng thủ tục rútgọn, không cần thiết phải lập HĐXX như trong các vụ án xét xử theo thủ tụcchung như quy định hiện nay để việc xét xử sơ thẩm được nhanh chóng, nên

cơ cấu một Thẩm phán xét xử là phù hợp

Quy định tại Điều 318 và khoản 5 Điều 324 BLTTHS năm 2003 đãkhẳng định thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Tuynhiên, hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng thủ tục rút gọn nên được áp dụng cả

ở giai đoạn xét xử phúc thẩm đối với loại án đã được áp dụng thủ tục rút gọn

ở giai đoạn sơ thẩm Theo chúng tôi, các ý kiến đó có nhiều điểm hợp lý, vì:

Thứ nhất, việc bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

thông thường sẽ không làm cho tính chất của vụ án phức tạp thêm so với thờiđiểm VKS ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, vì chỉ khi vụ án đảm bảocác điều kiện quy định tại Điều 319 BLTTHS, Cơ quan điều tra mới đề nghị

Trang 19

áp dụng thủ tục rút gọn và VKS phải nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ càng trướckhi ra quyết định áp dụng thủ tục này.

Thứ hai, việc xét xử phúc thẩm trong trường hợp này không đòi hỏi

nhiều thời gian như trong các vụ án áp dụng thủ tục tố tụng thông thường ởgiai đoạn sơ thẩm Bởi lẽ, ngoài việc để được áp dụng thủ tục rút gọn các vụ

án thường ít bị can, bị cáo, tình tiết vụ việc rõ ràng, trong quá trình tố tụng ởgiai đoạn sơ thẩm, nếu có những tình tiết diễn biến làm phức tạp thêm tínhchất của vụ án thì các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã có nhữngquyết định cần thiết để không tiếp tục áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ ánnày nữa;

Thứ ba, giả sử có những sai lầm hoặc vi phạm ở cấp sơ thẩm khiến cho

vụ án bị xét xử sai thì việc làm rõ để sửa chữa những sai lầm, vi phạm ấycũng không mất nhiều thời gian so với các trường hợp thông thường, donhững điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án cho phép nhanh chóngxác định các tình tiết thực tế của nó Mặt khác, khi xét xử phúc thẩm, nếu toà

án cấp phúc thẩm xét thấy có sự vi phạm nghiêm trọng các quy định củaBLTTHS về các điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cũng như các quy địnhchung khác, HĐXX có quyền ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm, trả hồ sơ chocấp sơ thẩm điều tra lại để xét xử vụ án theo thủ tục thông thường Nếu sửađổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn cho cả giaiđoạn xét xử phúc thẩm, thì sẽ giúp cho Toà án cấp phúc thẩm (Tòa án cấptỉnh) tiết kiệm được nhiều thời gian hơn để tập trung vào xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình và xét xử phúc thẩm những vụ ánkhác phức tạp, nghiêm trọng, nhờ đó hạn chế tình trạng tồn đọng án tại cấpxét xử này

Từ những lý do đã phân tích ở trên, nhóm nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ

Trang 20

sung Điều 318, Điều 324 BLTTHS theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng thủtục này như sau:

Điều 318 Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn

Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

được áp dụng theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy địnhkhác của Bộ luật này không trái với những quy định của chương này

Chúng tôi cũng đề nghị bỏ quy định ở khoản 5 Điều 324 BLTTHS đoạn

nói về “Việc xét xử phúc thẩm … đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung” và tách khoản này ra thành hai

khoản khác nhau trong một điều luật mới (Điều 324a) với nội dung như sau:

Điều 324a Việc xét xử phúc thẩm và việc giám đốc thẩm, tái thẩm đối

với vụ án được xét xử theo thủ tịc rút gọn

1 Việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành trong thời hạn mười ngày kể từ khi nhận hồ sơ vụ án; phiên toà phúc thẩm được tiến hành theo thủ tục chung.

2 Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.

2 Về giới hạn xét xử của Toà án, Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy

định về giới hạn xét xử như sau: “ Toà án chỉ xét xử những bị cáo và nhữnghành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Toà án đã quyết địnhđưa vụ án ra xét xử

Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát

đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơntội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Trang 21

So sánh với quy định về giới hạn xét xử tại Điều 170 BLTTHS năm

1988, nhóm nghiên cứu cho rằng, quy định tại Điều 196 BLTTHS hiện hành

về giới hạn xét xử của Toà án cụ thể và hợp lý hơn Tuy nhiên, cũng giốngvới quy định tại BLTTHS năm 1988, giới hạn xét xử theo quy định hiện hànhvẫn không cho phép Toà án xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tộidanh mà VKS đã truy tố là chưa thật phù hợp, vì:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992 quy định nhiệm vụ của TAND và

VKSND là thống nhất Tuy nhiên, chức năng của hai cơ quan tiến hành tốtụng này là khác hẳn nhau và độc lập với nhau: VKSND có chức năng thựchành quyền công tố nhà nước và kiểm sát việc tuan theo pháp luật trong hoạtđộng tư pháp; TAND có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hànhchính, lao động, kinh tế theo quy định của pháp luật Do vậy, trong phạm vichức năng của mình, các cơ quan nói trên thực hiện nhiệm vụ của mình mộtcách độc lập

Thứ hai, một nguyên tắc cơ bản của TTHS là: Cơ quan điều tra, VKS,

Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ ánmột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định

bị can, bị cáo có tội hoặc vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệmhình sự của họ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành

tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc có nghĩa vụ chứng minh làmình vô tội Việc xác định bị cáo có phạm tội hay không, phạm tội gì thuộctrách nhiệm của Toà án (HĐXX) tại phiên toà xét xử,theo nguyên tắc Thẩmphán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nếu việc kết tội khôngchính xác, bị cáo có quyền kháng cáo, VKS có quyền kháng nghị để xét xửlại theo thủ tục phúc thẩm

Thứ ba, công cuộc cải cách tư pháp đang tiến hành theo tinh thần các

Trang 22

Nghị quyết số 08-NQ/ TW ngày 02- 01 - 2001 của Bộ Chính trị về một sốnhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49 -NQ/ TW ngày 02- 6 -2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020 Theo đó, cũng , xác định: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hộithẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn

cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ,toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo,nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp

để ra những bản án, quyết định đụng pháp luật, có sức thuyết phục và trongthời hạn do pháp luật quy định”, và “ Phân biệt rõ thẩm quyền quản lý hànhchính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháptheo hướng tăng thẩm quyền và trách nhiệm cho… Thẩm phán để họ chủđộng trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trướcpháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”

Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đề nghị sửa đổi quy định tại Điều

196 BLTTHS như sau: “ Toà án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi màViện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử” Đồng thời, bổsung vào Điều 179 BLTTHS một căn cứ để Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ

sung với nội dung sau: “có căn cứ cho rằng bị can phạm một tội khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố”.

3 Về việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử có ý nghĩa rất quan

trọng đối với việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án Thực tiễn cho thấy,trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã xuất hiện một số vấn đề phức tạp xungquanh các vấn đề như: việc Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ xung, tạm đình chỉ

vụ án cần nghiên cứu làm rõ để có hướng khắc phục

Điều 179 BLTTHS quy định Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho

Trang 23

Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ

án mà không thể bổ sung tại phiên toà được; Việc BLTTHS không quy định

cụ thể thế nào là chứng cứ quan trọng đối với vụ án nên trong thực tế còn cónhững cách hiểu khác nhau và lúng túng trong việc áp dụng trả hồ sơ theo căn

cứ này Thực tế, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung để thu thập chứng cứ quantrọng đối với vụ án thường là các trường hợp cụ thể sau đây: Xác định chứng

cứ buộc tội đối với bị can; chứng cứ để thay đổi tội danh đối với bị can;chứng cứ để thay đổi khung hình phạt đối với bị can; chứng cứ để chứngminh động cơ, mục đích, vị trí, vai trò của bị can trong vụ án; yêu cầu tiếnhành thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định

Thứ hai, khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có

người đồng phạm khác Thế nào là tội phạm khác cũng không được quy định

rõ trong BLTTHS nên hiện nay cũng còn lúng túng trong việc áp dụng Tộiphạm khác là tội phạm mà hành vi phạm tội của bị can đã được VKS truy tốbằng bản cáo trạng có trong hồ sơ vụ án nhưng Tòa án lại cho rằng hành vi

mà bị can bị truy tố không cấu thành tội như VKS đã truy tố Ví dụ, VKS truy

tố bị can về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theoquy định tại Điều 95 BLTTHS nhưng khi nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị xét xửThẩm phán lại cho rằng hành vi của bị can cấu thành tội giết người theo quyđịnh tại Điều 93 BLTTHS hoặc ngược lại Tội khác cũng có thể là tội chưađược VKS truy tố như có căn cứ xác định ngoài hành vi phạm tội đã bị VKStruy tố còn có căn cứ để khẳng định rằng bị can còn có hành vi phạm tội khác

và hành vi này cấu thành một tội khác độc lập với tội đã bị VKS truy tố Tuynhiên, nếu có căn cứ để cho rằng bị can phạm một tội khác thì tùy từngtrường hợp Tòa án vẫn có thể quyết định đưa vụ án ra xét xử Đối với tộiphạm mới phát hiện Tòa án đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố và giải

Trang 24

quyết bằng một vụ án khác Ngoài ra về kỹ thuật lập pháp Điều 179 BLTTHSquy định “…bị cáo phạm một tội khác” là không chính xác Theo quy định tạikhoản 1 Điều 50 BLTTHS thì “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa

ra xét xử” Như vậy, trong trường hợp ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổsung khi chuẩn bị xét xử, thời điểm chưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử,người bị VKS truy tố lúc này chỉ có tư cách là bị can

Thứ ba, khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng BLTTHS

không quy định thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng có thểhiểu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp BLTTHS quy địnhbắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục đó, nhưng cơ quan tiếnhành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâmphạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyênđơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ ánhoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện

Do không nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án nên trong thực tiễn còn có trườnghợp Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng vấn đề cầnđiều tra bổ sung đã được thu thập và có trong hồ sơ vụ án Có trường hợp do

vụ án phải điều tra bổ sung nhiều lần nên trong hồ sơ vụ án có nhiều bản cáotrạng khác nhau nhưng do nghiên cứu hồ sơ không kĩ nên Thẩm phán đãquyết định đưa vụ án ra xét xử theo bản cáo trạng cũ

Theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến năm 2007 trong số các vụ án màTòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung có 63,03% vụ án được trả vì lý do cầnxem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổsung tại phiên tòa được; 13,15% vụ án trả hồ sơ để khởi tố bổ sung; 13,08%

vụ án trả vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và 10,75% số vụ án đượctrả vì lý do khác Như vậy, phần lớn các vụ án Tòa án ra quyết định trả hồ sơ

Trang 25

để điều tra bổ sung là thiếu chứng cứ mà nguyên nhân một phần là doBLTTHS chưa quy định rõ ràng, cụ thể.

Trình tự, thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung đôi khi chưa được thựchiện nghiêm túc về hình thức văn bản Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung vàviệc kết thúc điều tra bổ sung còn thể hiện bằng công văn Sau khi điều tra bổsung còn có trường hợp VKS không ban hành cáo trạng mới cũng ảnh hưởngđến hiệu quả chuẩn bị xét xử của Tòa án; có trường hợp trả hồ sơ để điều tra

bổ sung không rõ căn cứ mà chỉ nói chung là Điều 179 BLTTHS hoặc yêucầu điều tra bổ sung không có tính khả thi dẫn đến việc điều tra bổ sungkhông thực hiện được làm cho việc giải quyết vụ án phải kéo dài không cầnthiết

Về việc tạm đình chỉ vụ án, Điều 180 BLTTHS quy định: Thẩm phán ra

quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 160 BLTTHStrong đó có căn cứ “chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang

ở đâu” Nhóm nghiên cứu cho rằng quy định này không đúng trong giai đoạnxét xử Bởi lẽ, nếu chưa xác định được bị can tức là chưa xác định được ai là

người đã thực hiện hành vi phạm tội và do đó cũng chưa có quyết định khởi

tố bị can thì không thể có kết luận điều tra, đề nghị truy tố bị can.

Sau khi lý do tạm đình chỉ vụ án không còn nữa thì thẩm phán ra quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử mà không có quyết định phục hồi vụ án Khác vớigiai đoạn điều tra, nếu cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vàkhi lý do để huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra thì cơ quan điều tra raquyết định phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 165 BLTTHS BLTTHSkhông quy định phục hồi vụ án trong giai đoạn xét xử khi có lý do để huỷ bỏquyết định tạm đình chỉ vụ án nên trong thực tiễn áp dụng còn bất cập

Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị

Trang 26

hoàn thiện quy định của BLTTHS về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sựnhư sau:

Thứ nhất, để khắc phục tình trạng trả hồ sơ như đã phân tích ở trên, đồng

thời đáp ứng yêu cầu tranh tụng tại phiên toà, BLTTHS không nên quy địnhToà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần như đối với VKS mà chỉ nên quyđịnh Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa được trả hồ sơ để điều tra

bổ sung một lần Sau đó, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vớinhững chứng cứ có trong hồ sơ do VKS chuyển sang cùng những chứng cứ

do người bào chữa cung cấp cho Toà án Tại phiên toà, KSV có trách nhiệmbảo vệ cáo trạng bằng các chứng cứ do VKS và cơ quan điều tra đã thu thậpđược, người bào chữa bảo vệ (gỡ tội) cho bị cáo trên cơ sở những chứng cứ

do mình thu thập hoặc sử dụng những chứng cứ do cơ quan điều tra, VKS thuthập Quy định này nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cơ quan buộc tộiđồng thời đảm bảo cho các bên tranh tụng tại phiên toà thực sự dân chủ,khách quan

Thứ hai, sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTHS theo hướng thay

cụm từ “bị cáo” thành bị can Theo đó Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ choVKS điều tra bổ sung khi có căn cứ cho rằng bị can phạm một tội khác hoặc

có đồng phạm khác

Thứ ba, sửa đổi Điều 180 BLTTHS theo hướng: Nếu bị can trốn thì Tòa

án yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can Nếu đã hết thời hạn chuẩn bị xét

xử mà việc truy nã bị can chưa có kết quả thì Thẩm phán ra quyết định tạmđình chỉ vụ án Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác cóchứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì Thẩm phán có thể ra quyếtđịnh tạm đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hạn chuẩn bị xét xử

Thứ tư, bổ sung điều luật quy định về phục hồi vụ án trong giai đoạn

Trang 27

chuẩn bị xét xử Thực tiễn cho thấy khi bị can trốn Thẩm phán ra quyết địnhtạm đình chỉ vụ án nhưng khi bắt được bị can thì Thẩm phán được phân côngchủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử luôn mà không có quyếtđịnh phục hồi vụ án Như vậy, xét về phương diện pháp lý thì quyết định tạmđình chỉ vụ án vẫn chưa bị hủy bỏ nhưng Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử là không hợp lý

4 Về thủ tục phiên toà sơ thẩm, nghiên cứu vị trí của giai đoạn xét xử

sơ thẩm trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự và tham khảo ý kiến của một

số tác giả, nhóm nghiên cứu thống nhất cho rằng hoạt động xét xử phải đượccoi là hoạt động trung tâm của quá trình tố tụng và phiên toà sơ thẩm phảithực sự được coi là giai đoạn trọng tâm trong quá trình này, vì nó tập trunggiải quyết công khai và dứt điểm tất cả mọi vấn đề của vụ án hình sự

Theo quy định của BLTTHS, phiên toà được tiến hành theo 4 bước với

sự phân định chức năng giữa các chủ thể trong các bước không rõ ràng, thực

tế phiên toà xét xử diễn ra với hoạt động chủ yếu do HĐXX thực hiện Điều

đó dẫn đến cảm nhận chung là tại phiên toà hình sự sơ thẩm, Toà án tiến hànhkhẳng định các chứng cứ buộc tội có sẵn trong hồ sơ vụ án hình sự để ra phánquyết, trong khi hoạt động xét xử có yêu cầu toàn diện hơn rất nhiều, đó làtìm hiểu cân nhắc, đánh giá để đưa ra kết luận đúng đắn, khách quan về vụ ánhình sự Việc xác định sự thật vụ án hình sự có thể được tiến hành bởi nhiềuhoạt động và không phải lúc nào HĐXX cũng trực tiếp tham gia như một chủthể bắt buộc Có hoạt động tố tụng HĐXX chỉ giữ vai trò điều khiển nghe cácbên trình bày, lập luận rồi từ đó cân nhắc để quyết định tính đúng sai trongyêu cầu do các bên đưa ra Xác định đúng đắn vai trò của từng chủ thể để quyđịnh thủ tục hợp lý trong phiên toà sơ thẩm sẽ đảm bảo xác định sự thật vụ ánkhách quan, toàn diện, đầy đủ, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ thể tham gia tố tụng Nghiên cứu các quy định của BLTTHS

Trang 28

hiện hành về thủ tục phiên toà sơ thẩm, nhóm nghiên cứu xác định:

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về thủ tục bắt đầu phiên toà Thủ tục bắt

đầu phiên toà quy định trong BLTTHS gồm các hoạt động công bố quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra căn cước của những người được triệu tập,giải thích quyền và nghĩa vụ, giải quyết yêu cầu của những người tham gia tốtụng… Thủ tục này do Chủ tọa phiên toà tiến hành mà không phải do VKSthực hiện là hoàn toàn phù hợp vì Chủ tọa là thành viên của HĐXX là chủ thểđứng ra để xem xét vụ án hình sự nên họ sẽ là chủ thể thực hiện các thủ tụcban đầu đảm bảo hoạt động xét xử tại Toà án được khách quan và dân chủ.Điều 205 BLTTHS quy định: “Chủ toạ phiên toà phải hỏi KSV vànhững người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làmchứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không.”Qua quy định này có thể thấy pháp luật TTHS bảo đảm sự bình đẳng trướcToà án giữa đại diện VKS và những người tham gia tố tụng trong việc giảiquyết các yêu cầu, trong việc cung cấp nguồn chứng cứ cũng như đưa rachứng cứ trực tiếp Tuy nhiên nghiên cứu quy định về thủ tục tố tụng trongphần xét hỏi, tranh luận tại phiên toà có thể nhận thấy yêu cầu triệu tập thêmngười làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét chỉđược giải quyết trong khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên toà

Điều 191,192 của BLTTHS 2003 quy định Toà án có thể vẫn tiến hànhxét xử vắng mặt người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác,trong khi xét hỏi HĐXX sẽ công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra theoquy định tại Điều 208 Trong trường hợp các chứng cứ được công bố tronglời khai của những người vắng mặt mâu thuẫn với các chứng cứ mà Toà ánthu được trực tiếp tại phiên toà mà việc giải quyết được mâu thuẫn đòi hỏiphải triệu tập thêm người làm chứng, KSV hoặc người tham gia tố tụng có

Trang 29

yêu cầu thì theo quy định của BLTTHS yêu cầu này sẽ không được chấpnhận Căn cứ để HĐXX không chấp nhận yêu cầu này vì việc giải quyết yêucầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu

ra xem xét chỉ tiến hành ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà Nhóm nghiên cứucho rằng việc nâng cao chất lượng tranh tụng là một yêu cầu trong tiến trình cảicách tư pháp, để đảm bảo bản án của Toà án được phán quyết trên cơ sở cácchứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủtoàn diện các chứg cứ, ý kiến của KSV, bị cáo, người bào chữa và nhữngngười tham gia tố tụng khác thì trong trường hợp này yêu cầu triệu tập thêmngười làm chứng… dù ở bất kỳ thời điểm nào tại phiên toà nếu xét thấy cầnthiết đều phải được giải quyết Quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứngphải là quyền không bị hạn chế, quy định này sẽ là bổ sung những yếu tố tranhtụng vào thủ tục tố tụng xét hỏi của TTHS Việt Nam và là những bước đi banđầu tiến tới xây dựng thủ tục phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên toà.

Quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên toà tại BLTTHS 2003 quy định về cơbản không có gì mới so với quy định của BLTTHS 1988 (mặc dù có bổ sungmột số điểm để đảm bảo hoạt động tranh luận tại phiên toà, nâng cao vai tròcủa KSV) Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà vẫn chủ yếu do HĐXX tiếnhành và thể hiện như một nhiệm vụ mang tính chất bắt buộc, cụ thể: “Toà ánphải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ýkiến…” ( Điều 184) ; “HĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sựviệc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý” (Điều 207); “HĐXXphải hỏi riêng từng bị cáo” (Điều 209); “HĐXX phải hỏi riêng từng ngườilàm chứng” (Điều 211) Về hoạt động xét hỏi của KSV quy định tại Điều 207

“Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các Hội thẩm,sau đó đến KSV”; Điều 209 “KSV hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan

Trang 30

đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo”; Điều 211 “KSV, người bào chữa, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự có thể hỏi thêm người làm chứng”

Quy định trong BLTTHS năm 2003 không có những thay đổi lớn về thủtục tố tụng tại phiên toà theo hướng mà nhiều nhà nghiên cứu khoa học,những người áp dụng thực tiễn đề ra theo tinh thần của nghị quyết 08/NQ-TƯtại thời điểm đó là một tất yếu Vì trình độ, năng lực của KSV, vì nhận thứcpháp lý trong xã hội khi nhìn nhận đánh giái trò của luật sư bào chữa, vìchính khả năng của luật sư cùng nhiều yếu tố khác chưa cho phép có nhữngthay đổi căn bản

Tuy nhiên theo đánh giá tại phiên họp thứ 18 của Ban chỉ đạo cải cách tưpháp diễn ra tại Hà Nội ngày 23/09/2008 “công tác cải cách tư pháp hiện nayđang đi chậm hơn so với các lĩnh vực khác vì một trong những nguyên nhân

là đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, trình độ chưa đáp ứng với nhiệmvụ” Như vậy, sau gần 5 năm thực hiện theo quy định của BLTTHS 2003, vớiyêu cầu cụ thể đặt ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TƯ về chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020, trình độ năng lực của cán bộ vẫn đang hạn chế vàchính đó cũng là một trong những nguyên nhân kéo theo sự chậm chễ trongcải cách tư pháp Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu cần phải có nhữngthay đổi căn bản trong BLTTHS để phù hợp với những nội dung trong đề áncải cách tư pháp đưa ra và chỉ có thực sự bắt đầu tham gia tích cực vào hoạtđộng chứng minh tại phiên toà trình độ của KSV mới có thể vượt lên thực sự

so với hiện nay

Với quan điểm chuyển hoạt động chứng minh tại phiên toà cho KSV đểToà án thực hiện việc nhận định, đánh giá từ đó ra kết luận cuối cùng trongbản án, quy định trong BLTTHS 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên toà có thểthay đổi như sau:

Trang 31

Chương XX “Thủ tục xét hỏi tại phiên toà” đổi thành “Thủ tục điều tra, xét hỏi tại phiên toà”.

Điều 184 hiện nay quy định “Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi…” nên có thể hiểu việc xét hỏi do HĐXX thực

hiện là chính vì vậy cần sửa đổi như sau:

Điều 184: “Các chứng cứ của vụ án phải được kiểm tra trực tiếp tại

phiên toà bằng cách hỏi và nghe ý kiến Toà án nghe ý kiến của bị cáo…và

nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi củađương sự Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tạiphiên toà”

Điều 206 hiện nay quy định “Trước khi tiến hành xét hỏi, KSV đọc bảncáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có” sau đó HĐXX tiến hành xéthỏi để xác định các tình tiết của vụ án Quy định này làm cho quá trình xét

xử tại phiên toà giống như việc HĐXX kiểm tra lại các chứng cứ trong cáotrạng do KSV công bố mà chưa biết được ngay bên bị buộc tội có đồng ý haykhông Phiên toà vì vậy sẽ khó đảm bảo bình đẳng giữa các bên Để tăng tínhtranh tụng tại phiên toà, đảm bảo việc xác định chứng cứ khách quan, giúpHĐXX, những người tham gia tố tụng thấy ngay những vẫn đề không thốngnhất giữa các bên, nên quy định sau khi KSV đọc cáo trạng, bên bị buộc tội

có quyền nêu ý kiến của mình về việc có đồng ý hay không với những nộidung cáo trạng đưa ra Quy định tại khoản 2 điều 209 sẽ được chuyển sangđiều 206 và điều này có thể quy định như sau:

Điều 206 Bắt đầu điều tra, xét hỏi tại Toà án

“Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình

bày ý kiến bổ sung, nếu có Chủ toạ phiên toà hỏi bị cáo xem nội dung cáo trạng vừa công bố có giống cáo trạng bị cáo đã được nhận hay không Bị cáo, người bào chữa có đồng ý hay không đồng ý với kết luận nào trong cáo trạng.”

Trang 32

Điều 207 BLTTHS 2003 quy định trình tự xét hỏi đã đặt trách nhiệmchứng minh chủ yếu vào HĐXX, trong khi phải xác định rõ KSV thay VKScông bố cáo trạng phải có trách nhiệm đưa ra chứng cứ và chứng minh tínhđúng đắn của các chứng cứ trước Toà án Người bào chữa, bị cáo nếu khôngđồng ý thì có thể đưa ra các chứng cứ thể hiện sự không đồng tình Vì vậy saukhi các bên có ý kiến là việc đưa ra chứng cứ để chứng minh.

Điều 207 Trình tự xem xét chứng cứ

1 Viện kiểm sát đưa ra chứng cứ trước Người bị hại, nguyên đơn dân

sự và người bảo vệ quyền lợi của họ có thể đưa thêm các chứng khác Sau khi xem xét chứng cứ do Viện kiểm sát và các chủ thể trên đưa ra, Hội đồng xét

xử sẽ xem xét các chứng cứ do bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người bảo vệ quyền lợi của họ đưa ra.

2 Trong trường hợp vụ án có nhiều bị cáo thì trình tự đưa ra chứng cứ của các bị cáo do Chủ toạ phiên toà quyết định.”

Điều 209 khoản 1 quy định về thứ tự xét hỏi bị cáo “HĐXX phải hỏiriêng từng bị cáo”, khoản 2 quy định “KSV hỏi về những tình tiết liên quanđến việc buộc tội…” Quy định như vậy nên chủ yếu việc xét hỏi là doHĐXX tiến hành và nếu những tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ KSVthường không hỏi nữa Vì vậy tại phiên toà HĐXX là chủ thể chính của việcchứng minh Nếu cho rằng Toà án phải là trọng tài đứng giữa bên buộc tội và

gỡ tội nhằm xem xét chứng cứ do các bên đưa ra để giải quyết vụ án, nên sửađổi Điều 209 quy định trách nhiệm hỏi để khẳng định các chứng cứ do cácbên đưa ra đúng hay sai thuộc về KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyềnlợi của đương sự và không quy định hạn chế các chủ thể hỏi về những nộidung gì như quy định hiện nay

Điều 209 Hỏi bị cáo

Trang 33

1 Các bị cáo được hỏi riêng nếu vụ án có nhiều bị cáo Chủ toạ phiên toà có thể cho cách ly các bị cáo nếu lời khai của các bị cáo có ảnh hưởng đến nhau Trong trường hợp này bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội

dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó

2 Kiểm sát viên hỏi bị cáo, sau đó đến người bị hại, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại và các chủ thể thuộc bên buộc tội; sau đó đến lượt người bào chữa và những người tham gia tố tụng thuộc bên bị buộc tội hỏi bị cáo Chủ toạ phiên toà sẽ không chấp nhận các câu hỏi có tính chất gợi ý hoặc không liên quan đến vụ án.

3 Sau khi các bên đã hỏi bị cáo, Hội đồng xét xử hỏi bị cáo

4 Giữ nguyên

Cũng trên cơ sở xác định trách nhiệm xét hỏi như trên, đề xuất sửa đổikhoản 1 và khoản 2 Điều 211 BLTTHS như sau:

Điều 211 Hỏi người làm chứng

1 Người làm chứng được hỏi riêng và không có mặt những người làm chứng chưa được đưa ra xét hỏi.

2 Trước khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ mối quan

hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án

Bên yêu cầu triệu tập người làm chứng đến phiên toà hỏi người làm chứng trước Sau khi các bên hỏi xong, Hội đồng xét xử đưa ra câu hỏi với họ Thứ ba, bổ sung một số quy định vào chương Tranh luận tại phiên toà.

Quy định của BLTTHS năm 2003 trong phần tranh luận tại phiên toà cónhiều thay đổi so với BLTTHS năm 1988 và đảm bảo được quyền bình đẳngtrước Toà án của các bên, hạn chế tình trạng KSV chỉ đọc cáo trạng sau đógiữ nguyên quan điểm như cáo trạng trong phần tranh luận như trước đây.Việc phải tranh luận, phải đối đáp lại với ý kiến do các chủ thể đưa ra trởthành thủ tục bắt buộc, nếu KSV không thực hiện đồng nghĩa với việc không

Trang 34

bảo vệ được quan điểm buộc tội của mình và khi đó Chủ toạ phiên toà cóquyền đề nghị KSV phải đáp lại những ý kiến có liên quan Hoàn thiện quyđịnh của pháp luật nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước Toà án đượctôn trọng và thực hiện trên thực tế, nhóm nghiên cứu đề xuất bổ sung quyđịnh trong phần tranh luận như sau:

Điều 220 Bị cáo nói lời sau cùng

“Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ýnghĩa quan trọng đối với vụ án, thì HĐXX phải quyết định trở lại việc xét hỏi

Sau khi xét hỏi Toà án lại cho tiến hành tranh luận và cho phép bị cáo nói lời sau cùng”

Hiện nay BLTTHS chưa có quy định cụ thể về việc HĐXX công bố thờigian nghị án và tuyên án Mặc dù trên thực tế tại phiên toà bao giờ thủ tục nàycũng được thực hiện Để đảm bảo tính liên tục và công khai của hoạt động xét

xử cần bổ sung thêm quy định này vào BLTTHS

Điều 221a Toà án tiến hành nghị án để ra bản án

Sau khi bị cáo nói lời sau cùng, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án Chủ toạ phiên toà phải thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng tại phiên toà về thời gian tuyên án”

Thứ tư, bổ sung, thay đổi một số quy định trong chương Nghị án và

tuyên án

Điều 223 Trở lại việc xét hỏi và tranh luận

Qua nghị án nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xéthỏi chưa đầy đủ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc xét hỏi và tranh

luận Sau khi xét hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử cho bị cáo nói lời sau cùng.”

Sửa đổi quy định tại điều 227 BLTTHS: Theo quy định HĐXX phảituyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ

Trang 35

không bị tạm giam về một tội khác trong trường hợp “Bị cáo bị xử phạt bằngcác hình phạt không phải là hình phạt tù” (khoản 3 điều 227) Căn cứ vào quyđịnh này có thể hiểu HĐXX phải trả tự do cho bị cáo cả khi bản án tuyên hìnhphạt là tử hình, trục xuất (vì đây không phải là hình phạt tù) Mặc dù thực tế

áp dụng không HĐXX nào trả tự do trong trường hợp nêu trên vì đều hiểuhình phạt không phải là hình phạt tù trong quy định tại điều luật là nói đếnhình phạt ít nghiêm khắc hơn như cảnh cáo, cải tạo không giam giữ…Tuynhiên để đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ trong quy định của pháp luật cầnsửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 227 như sau: “Bị cáo bị xử bằng hình phạt

không phải là hình phạt tù, trừ trường hợp bản án tuyên bị cáo bị phạt tử hình hoặc trục xuất.

5 Vấn đề tranh tụng trong TTHS, hoạt động tranh tụng đóng vai trò

quan trọng, thể hiện sự bình đẳng giữa các bên trong việc đưa ra chứng cứ,yêu cầu tại phiên toà xét xử Thông qua việc xét hỏi và tranh tụng công khaigiữa bên buộc tội và bên bị buộc tội trước toà, sự thật khách quan của vụ án

sẽ được làm sáng tỏ Tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm là quá trìnhthẩm định, đánh giá công khai các chứng cứ, tài liệu của vụ án để khẳng định

độ tin cậy, tính khách quan, toàn diện và đầy đủ của vụ án Tranh tụng đượcthực hiện giữa đại diện VKS, người bào chữa, bị cáo và những người thamgia tố tụng khác tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự nhằm bảo vệ quan điểm,lợi ích của các bên, dưới sự điều khiển, quyết định của HĐXX với vai tròtrọng tài Để nâng cao được hiệu quả tranh tụng thì việc hoàn thiện pháp luậtTTHS nói chung, các qui định liên quan đến tranh tụng tại phiên toà sơ thẩmnói riêng là một việc làm cấp bách hiện nay Tranh tụng là nguyên tắc khôngthể thiếu được trong quá trình xét xử tại phiên toà sơ thẩm hình sự

BLTTHS năm 2003 chưa có một điều luật nào qui định cụ thể thế nào làtranh tụng và nguyên tắc của việc tranh tụng, tuy nhiên yếu tố của tranh tụng

Trang 36

đã ít nhiều được thể hiện trong các nguyên tắc của TTHS như: nguyên tắc tôntrọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4); Bảo đảm quyềnbình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5); Không ai bị coi là cótội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lựcpháp luật (Điều 9); Xác định sự thật của vụ án (Điều 10), Đảm bảo quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)… Tại phiên toà xét xử sơthẩm, việc tranh tụng được thể hiện thông qua qui định về sự bình đẳng giữabên buộc tội và bên gỡ tội trong việc đưa ra những chứng cứ và yêu cầu.HĐXX phải có trách nhiệm tạo điều kiện để các bên thực hiện các quyền vànghĩa vụ tranh tụng Các quy định về thủ tục tại phiên toà xét xử đều toát lêntinh thần của việc tranh tụng kết hợp với thẩm vấn Trước khi bắt đầu việctranh luận, KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ haymột phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về nội dung nhẹ hơn Thôngthường lời luận tội của KSV tại phiên toà bao gồm những vấn đề sau: Phântích và xác định những chứng cứ buộc tội cũng như những chứng cứ gỡ tộiđối với bị cáo, nêu những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho

bị cáo; đề nghị HĐXX áp dụng điều khoản của BLHS; đề nghị mức hình phạtcần được áp dụng đối với bị cáo… Bị cáo, người bào chữa và những ngườitham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về lời luận tội của KSV vàđưa ra những đề nghị của mình; KSV phải đưa ra những lập luận của mình đốivới từng ý kiến Lời luận tội của KSV phải được căn cứ vào những tài liệu,chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, ý kiến của bị cáo, người bào chữa,người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng kháctại phiên toà Sau khi KSV đã trình bày lời luận tội, bị cáo sẽ được trình bàylời bào chữa Trong trường hợp bị cáo có người bào chữa thì người bào chữa

sẽ bào chữa cho bị cáo Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa Người bịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

Trang 37

quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến đểbảo vệ quyền lợi của mình Nếu có người bảo vệ quyền lợi của đương sựtham gia thì họ có quyền trình bày, bổ sung ý kiến để bảo vệ quyền lợi chongười mà mình bảo vệ Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị KSV phải đáp lạinhững ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và của những ngườitham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được KSV tranh luận Quiđịnh này đã thể hiện được tính dân chủ, công khai, đồng thời đáp ứng đượccác yêu cầu về tranh tụng tại phiên toà là đảm bảo việc tôn trọng sự thậtkhách quan, tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo, người bào chữa và nhữngngười tham gia tố tụng khác, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong đối đáp,tranh luận Thực tế cho thấy, các KSV khi được giao nhiệm vụ thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đã có nhiều cố gắng trongviệc thực hiện việc tranh tụng dân chủ với người bào chữa và những ngườitham gia tố tụng khác; đưa ra những lý lẽ có căn cứ và trả lời hết những vấn

đề mà người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác đặt ra tại phiêntoà Về phía người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã đưa ranhiều cơ sở chứng cứ và các căn cứ pháp luật để chứng minh bị cáo khôngphạm tội như VKS đã truy tố hoặc bị cáo phạm tội danh khác có khung hìnhphạt nhẹ hơn, hoặc đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, các đặc điểm về nhân thân

để đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt hoặc đề nghị HĐXX hoãn phiên toà,trả lại hồ sơ cho VKS yêu cầu điều tra bổ sung Về phía HĐXX đã thể hiện sựtôn trọng các bên khi tham gia tranh tụng và chỉ đưa ra ý kiến khi thấy sự đốiđáp không đi vào trọng tâm của vụ án

Nghiên cứu thực tế xét xử và tranh tụng nhóm nghiên cứu xác định vẫncòn một số vướng mắc và tồn tại, cụ thể như sau: Nhiều trường hợp yêu cầucủa người bào chữa, bị cáo đã không được HĐXX xem xét; HĐXX giành ítthời gian cho người bào chữa… KSV không đáp lại ý kiến của người bào

Trang 38

chữa, bị cáo mà chỉ giữ nguyên ý kiến của mình như trong cáo trạng hoặc lờiluận tội do KSV không xác định được rõ những vấn đề nào là trọng tâm cầnphải tranh luận với người bào chữa, những vấn đề nào cần bác bỏ những lậpluận, quan điểm không đúng của người bào chữa Chính vì vậy, nên nhiềuKSV chưa tích cực, chủ động tranh luận với người bào chữa và những ngườitham gia tố tụng khác Mặt khác, vẫn còn tình trạng Thẩm phán và Hội thẩmchưa có nhận thức đúng đắn về trình tự tranh tụng tại phiên toà; coi nhẹquyền bào chữa của bị cáo Một số nguyên nhân khác như: vẫn còn tình trạng

“duyệt án”, “báo cáo án”, “án chỉ đạo”… đã làm cho việc tranh tụng tại phiêntoà xét xử trở nên hình thức Số lượng luật sư tham gia trong các phiên toà xét

xử sơ thẩm hình sự còn quá khiêm tốn Đội ngũ luật sư chưa đáp ứng đượcyêu cầu của công tác tranh tụng Nhiều qui định trong BLTTHS liên quan đếntranh luận còn hạn chế Những người tham gia tố tụng chưa thực sự nhậnthức được vị trí, vai trò quan trọng của việc tranh tụng để bảo vệ quyền và lợiích chính đáng cho mình Thực trạng này đặt ra cho chúng ta thấy cần sửađổi, bổ sung các qui định của BLTTHS hiện hành về tranh tụng

Thứ nhất, BLTTHS năm 2003 cần xây dựng nguyên tắc về tranh tụng và

các qui định khác liên quan đến tranh tụng Nhiều qui định của BLTTHS hiệnhành liên quan đến tranh tụng tại phiên toà còn bất cập, chưa cụ thể, lại chưa

có những hướng dẫn kịp thời của các cơ quan có thẩm quyền nên việc nhậnthức và áp dụng trong thực tiễn còn nhiều điểm không thống nhất Các quiđịnh của BLTTHS cần qui định cụ thể hơn về quyền bình đẳng của các bênkhi tham gia tranh tụng, ví dụ: quyền bình đẳng trong quá trình chứng minhnhư thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, trong việc bày tỏ quan điểm, đưa

ra các yêu cầu và tranh luận trước Toà… Trong nguyên tắc tranh tụng cần xácđịnh rõ các chủ thể có quyền bình đẳng khi tham gia tranh tụng, nhiệm vụ củaHĐXX tại phiên toà, hình thức tranh tụng tại phiên toà…

Trang 39

Thứ hai, BLTTHS hiện hành quy định: “ Khi xét hỏi từng người, chủ toạ

phiên toà hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến KSV, người bào chữa,người bảo vệ quyền lợi của đương sự…” Nhóm nghiên cứu cho rằng nên sửađổi khoản 2 Điều 207 BLTTHS hiện hành theo hướng: “Khi xét hỏi từngngười, KSV hỏi trước rồi đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi củađương sự, sau đó đến chủ toạ phiên toà và các Hội thẩm Những người thamgia phiên toà cũng có quyền đề nghị với chủ toạ phiên toà hỏi thêm về nhữngtình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liênquan đến việc giám định” Việc sửa đổi như vậy sẽ giúp các bên tham giatranh luận chủ động trong việc làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên ngay từ phần xét hỏi Chủ toạphiên toà nên tập trung vào việc nghe các bên hỏi hơn là tập trung vào việcxét hỏi như hiện nay để có cái nhìn khách quan đối với vụ án và đảm bảonguyên tắc tranh tụng

Thứ ba, BLTTHS cần mở rộng thêm các quyền của người bào chữa để

họ có thể thay mặt bị cáo thực hiện việc tranh tụng được thuận lợi hơn nữa.Như chúng ta biết, thông thường chứng cứ được xác lập từ giai đoạn điều tra.Tuy nhiên, nhiều trường hợp chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập là chưađầy đủ và có khi còn thiếu khách quan Do đó, BLTTHS cần mở rộng thêmquyền của người bào chữa, như quyền yêu cầu triệu tập thêm người làmchứng, quyền đưa ra các chứng cứ mới tại phiên toà Bên cạnh đó cũng cần

mở rộng phạm vi các vụ án có sự tham gia bắt buộc của người bào chữa hơnnữa Hiện nay, theo qui định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS, chỉ một số đốitượng bị can, bị cáo bắt buộc phải có người bào chữa tham gia, đó là: Bị can,

bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được qui địnhtại BLHS; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm vềtâm thần hoặc thể chất Chúng tôi cho rằng nên qui định bắt buộc phải có

Trang 40

người bào chữa tham gia trong một số trường hợp khác như bị can, bị cáo làngười già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.Trong thực tế không phải bị cáo nào cũng có khả năng mời người bào chữa,nhất là đối với những bị can, bị cáo là người già yếu, phụ nữ có thai hoặcđang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Việc bắt buộc phải có người bào chữa chocác đối tượng này sẽ giúp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà hơn

nữa Để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà nhóm nghiên cứu đề xuất

một số yêu cầu đối với chủ thể chính tham gia hoạt động tranh tụng vàHĐXX như sau:

Thứ nhất, đối với Kiểm sát viên: KSV là người đóng vị trí quan trọng

trong việc giám sát các hoạt động xét xử, đồng thời là một bên tham gia tranhtụng Để thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, KSV khi được giao nhiệm

vụ cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm chắc diễn biến của vụ án, kiểm tra cẩnthận các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tài liệu khác cần thiết cho việc giảiquyết đúng đắn vụ án KSV cần xây dựng kế hoạch tranh luận tại phiên toà vàchuẩn bị các văn bản pháp luật có liên quan đến vụ án KSV cần chú ý đếnnhững lập luận của mình sao cho sự khẳng định về tội danh đã truy tố là cócăn cứ Bên cạnh đó, KSV cần có phương pháp đối đáp khi tham gia tranhtụng tại phiên toà Khi đối đáp, KSV phải dựa vào các tài liệu, chứng cứ của

vụ án đã được xét hỏi và dựa vào các qui định của pháp luật KSV cần có thái

độ bình tĩnh và phản ứng linh hoạt khi đối đáp với người bào chữa và nhữngngười tham gia tố tụng khác Để có được sự chủ động và tích cực trong hoạtđộng tranh tụng, KSV nên trực tiếp tham gia các công tác khám nghiệm hiệntrường và các hoạt động điều tra khác như lấy lời khai của người làm chứng,người bị hại, hỏi cung bị can, nắm chắc nội dung vụ án Bên cạnh việc nắmvững các kiến thức của pháp luật, các chứng cứ trong vụ án để đưa ra nhữnglập luận sắc bén, KSV còn phải nắm vững các chủ trương, chính sách của

Ngày đăng: 03/04/2013, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2001
2. Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/"2005" của Bộ Chính trị về chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,định hướng đến năm 2020
3. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/"2005 "của Bộ Chính trị về chiến lượccải cách tư pháp đến năm 2020
4. Trần Văn Độ (2001), "Một số vấn đề về hoàn thiện thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp", Tòa án nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoàn thiện thẩm quyền xét xử củaTòa án các cấp
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2001
5. Trần Văn Độ (2004), "Từ nguyên tắc hai cấp xét xử đến việc tổ chức Tòa án các cấp", Nghiên cứu lập pháp, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nguyên tắc hai cấp xét xử đến việc tổ chức Tòaán các cấp
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2004
6. Trần Văn Độ (2007), "Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp", Nhà nước và pháp luật, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyêntắc đó vào việc tổ chức Tòa án các cấp
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2007
7. Trần Văn Độ (2007), "Một số vấn đề về việc giao bản án của Tòa án cấp sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự", Tòa án nhân dân, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về việc giao bản án của Tòa án cấpsơ thẩm theo luật tố tụng hình sự
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2007
8. Nguyễn Duy Lãm (2004), Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thôngdụng
Tác giả: Nguyễn Duy Lãm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
9. Trần Đức Lương (2002), "Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Lương
Năm: 2002
10. Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự ViệtNam
Tác giả: Phan Thị Thanh Mai
Năm: 2007
11. Nhà Pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa Pháp, bản dịch tiếng Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộnghòa Pháp
Tác giả: Nhà Pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
12. Trần Công Phàn (2007), "Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về xét xử phúc thẩm", Tòa án nhân dân, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luậtTố tụng hình sự về xét xử phúc thẩm
Tác giả: Trần Công Phàn
Năm: 2007
13. Ngô Hồng Phúc (2003), "Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự", Tòa án nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tạiphiên tòa hình sự
Tác giả: Ngô Hồng Phúc
Năm: 2003
17. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội 18. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
20. Tòa án nhân dân tối cao (1988), Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 08/12 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 08/12 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1988
21. Tòa án nhân dân tối cao (1989), Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 12/01 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/LN ngày 12/01 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1989
22. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo tổng kết công tác năm 2002 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2003 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2002 vàphương hướng nhiệm vụ công tác năm 2003 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003
23. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2004
24. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Xét xử sơ thẩm" của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét xử sơ thẩm
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2004
25. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Báo cáo tổng kết công tác năm 2004 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2005 của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2004 vàphương hướng nhiệm vụ công tác năm 2005 của ngành Tòa án nhân dân
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tỉ lệ giữ nguyên án sơ thẩm/ số bị cáo đã xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm toàn ngành trong các năm từ năm 2002 - 2007 - HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  XÉT XỬ THEO TINH THẦN  CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Bảng 2.2. Tỉ lệ giữ nguyên án sơ thẩm/ số bị cáo đã xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm toàn ngành trong các năm từ năm 2002 - 2007 (Trang 168)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w