Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm – so sánh với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”. NỘI DUNG I Khái quát về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm Quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm được quy định tại Điều 249 BLTTHS năm 2003 và Điều 357 BLTTHS năm 2015. Sửa bản án sơ thẩm là việc HĐXX phúc thẩm làm thay đổi nội dung của bản án sơ thẩm trong những trường hợp luật định như định tội danh, quyết định hình phạt, BTTH hoặc các biện pháp tư pháp (nếu có). Khi có căn cứ xác định Toà án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng các quy định của BLHS hoặc BLTTHS, HĐXX phúc thẩm có thể sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho bị cáo
Trang 1MỤC LỤC
BẢNG TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 4
I/ Khái quát về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm.4 II/ Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm theo BLTTHS năm 2003 5
1 Sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo 6
a) Miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo 6
b) Áp dụng điều khoản của BLHS về tội nhẹ hơn 7
c) Giảm hình phạt cho bị cáo 7
d) Sửa việc xử lí vật chứng 7
e) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn 8
f) Giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo 8
g) Giảm mức BTTH 9
2 Sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo 9
a) Tăng hình phạt đối với bị cáo 11
b) Áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn 11
c) Tăng mức BTTH 12
Trang 2III/ Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm theo
BLTTHS năm 2015 12
1 Về căn cứ để Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm 14
2 Về phạm vi XXPT 14
a) Về việc áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tư pháp 14
b) Về việc cho bị cáo hưởng án treo 15
IV/ Kiến nghị hoàn thiện một số điểm hạn chế về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm của BLTTHS 2003 chưa được khắc phục ở BLTTHS 2015 16
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3BẢNG TỪ VIẾT TẮT
TNHS Trách nhiệm hình sự
BTTH Bồi thường thiệt hại
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong chế định về XXPT vụ án hình sự, quyền sửa bản án sơ thẩm là một quyền rất quan trọng của Toà án cấp phúc thẩm Nếu không có quyền này, thì khi các bản án sơ thẩm có sai sót sẽ không được sửa chữa, khắc phục kịp thời Nếu bất
kì sai sót nào của bản án sơ thẩm cũng bị huỷ để xét xử lại hoặc y án để xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì sẽ vừa gây tốn kém thời gian, kinh phí, vừa không kịp thời bảo vệ được quyền con người và tạo niểm tin của nhân dân vào pháp luật Quyền sửa bản án sơ thẩm khắc phục được tất cả những điểm hạn chế đó nên sự nghiên cứu sâu về nội dung này là vô cùng cần thiết Trên cơ sở này, em xin lựa
chọn phân tích đề tài: “Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm – so sánh với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”.
NỘI DUNG I/ Khái quát về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm
Quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm được quy định tại Điều
249 BLTTHS năm 2003 và Điều 357 BLTTHS năm 2015 Sửa bản án sơ thẩm là việc HĐXX phúc thẩm làm thay đổi nội dung của bản án sơ thẩm trong những trường hợp luật định như định tội danh, quyết định hình phạt, BTTH hoặc các biện pháp tư pháp (nếu có)
Khi có căn cứ xác định Toà án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng các quy định của BLHS hoặc BLTTHS, HĐXX phúc thẩm có thể sửa một phần hoặc toàn
bộ bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc bất lợi cho bị cáo Quyền sửa bản án sơ thẩm là quyền quan trọng để Toà án cấp phúc thẩm khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Toà án cấp dưới trực tiếp, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước Quyền này xuất phát từ tính chất
Trang 5của XXPT là xét xử lại vụ án Có thể nói đây là quyền của Toà án cấp phúc thẩm với ý nghĩa đưa ra những phán quyết cuối cùng nhằm giải quyết trọn vẹn về nội dung của một vụ án chứ không chỉ giải quyết gián tiếp qua huỷ án để điều tra lại hoặc xét xử lại Đây cũng là quyền năng tạo nên điểm khác biệt trong thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm mà Hội đồng Giám đốc thẩm và tái thẩm không có
II/ Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm theo BLTTHS năm 2003.
Điều 249 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm như sau:
“ Điều 249 Sửa bán án sơ thẩm
1 Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo;
b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lí vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2 Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt và áp dụng Điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cả cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
3 Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ,
Trang 6Toà án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù
và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.”
1 Sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo.
Việc sửa án theo hướng có lợi cho bị cáo là việc thay đổi nội dung bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ TNHS cho bị cáo so với tình trạng của bị cáo mà bản án
sơ thẩm đã tuyên trước đó Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ của HĐXX phúc thẩm không phụ thuộc vào yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị do đây là quyết định có lợi cho bị cáo Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm vẫn có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
có lợi cho bị cáo dưới các hình thức sau:
a) Miễn TNHS hoặc miễn hình phạt cho bị cáo
Miễn TNHS là việc Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội mà người đó đã phạm Căn cứ
để Toà án cấp phúc thẩm quyết định sửa bản án sơ thẩm theo hướng miễn TNHS là các trường hợp được miễn TNHS quy định trong BLHS tại Điều 19, Điều 25, khoản 2 Điều 69, khoản 3 Điều 80, đoạn 2 khoản 6 Điều 289 và khoản 3 Điều 314
Miễn hình phạt cho bị cáo là không buộc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện Căn cứ pháp lí để Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng miễn hình phạt cho bị cáo là Điều 54 và khoản 3 Điều 514 BLHS
Trang 7b) Áp dụng điều khoản của BLHS về tội nhẹ hơn
Nếu trong quá trình xét xử, xét thấy việc định tội danh và quyết định hình phạt áp dụng nặng hơn so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điều khoản của BLHS về tội nhẹ hơn Việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn có thể là việc HĐXX phúc thẩm tuyên bị cáo một tội danh khác nhẹ hơn so với tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm hoặc chuyển từ khung hình phạt ban đầu sang khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng một tội Tuy nhiên, áp dụng điều khoản của BLHS về tội nhẹ hơn không phải luôn đồng thời với quyết định giảm hình phạt cho bị cáo
c) Giảm hình phạt cho bị cáo
Nếu xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng với bị cáo cao hơn so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, HĐXX phúc thẩm có thể quyết định giảm mức hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung ( hoặc cả hai) hoặc bỏ bớt một trong các hình phạt đã tuyên trong bản án sơ thẩm mà không thay đổi tội danh đối với bị cáo
Khi sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Toà án không giảm hình phạt xuống dưới mức tối thiểu là 3 tháng ( Điều 33 BLHS), cũng không giảm hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt đã được áp dụng với bị cáo ( Điều 47 BLHS)
d) Sửa việc xử lí vật chứng
HĐXX phúc thẩm có thể quyết định xử lí vật chứng nếu như quyết định xử
lí vật chứng của Toà án cấp sơ thẩm không tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người có quyền lợi liên quan đến
vụ án Việc sửa quyết định xử lý vật chứng của HĐXX phúc thẩm theo Điều 249
Trang 8BLTTHS không quy định nếu có kháng cáo hoặc kháng nghị thì mới được sửa Do
đó Toà án cấp phúc thẩm sửa quyết định xử lý vật chứng của Toà án cấp sơ thẩm theo hướng bất lợi hay không bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng không phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, khi xét thấy Toà án cấp sơ thẩm quyết định xử lý vật chứng không đúng thì Viện kiểm sát
có thể kháng nghị và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng
e) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Là việc HĐXX phúc thẩm quyết định chuyển từ loại hình phạt chính mà HĐXX sơ thẩm đã áp dụng với bị cáo sang loại hình phạt khác nhẹ hơn
Riêng đối với hình phạt trục xuất khi được áp dụng làm hình phạt chính là một hình phạt đặc biệt, không thể so sánh mức độ nặng nhẹ của hình phạt này với các loại hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, do tính chất đặc thù của hình phạt trục xuất là chỉ được áp dụng với bị cáo là người nước ngoài trong trường hợp luật định do yêu cầu chính trị, ngoại giao,… với những thủ tục đặc biệt Trong những trường hợp cần thiết, HĐXX phúc thẩm nếu có đủ căn cứ luật định có quyền quyết định áp dụng hình phạt trục xuất đối với bị cáo mà không phụ thuộc vào việc có hay không không có kháng cáo, kháng nghị
f) Giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo
Là quyết định của HĐXX phúc thẩm trong đó vẫn giữ mức hình phạt tù đối với bị cáo như trong bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Những trường hợp Toà án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo nhưng không giữ nguyên mức hình phạt mà có thể tăng hoặc giảm hình phạt tù thì không thuộc trường hợp này
Trang 9g) Giảm mức BTTH
Là việc HĐXX phúc thẩm quyết định thay đổi mức BTTH của bị cáo và những người có liên quan thấp hơn so với bản án sơ thẩm nếu thấy quyết định tại bản án sơ thẩm về phần BTTH cao hơn mức thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra
Toà án chỉ giảm mức BTTH nếu có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu, nhưng không được giảm mức BTTH cho bị cáo nếu người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự
có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên toà có lí do chính đáng ( theo tiểu mục 3.2 Nghị quyết số 05/2005/NQ – HĐTP) Quy định trên xuất phát từ nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, phù hợp với bản chất của quan hệ dân sự là sự bình đẳng và tôn trọng thoả thuận giữa các bên tham gia ( Điều 28 BLTTHS) Việc giảm mức BTTH không phụ thuộc vào việc HĐXX phúc thẩm miễn TNHS, miễn hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, giảm hình phạt hoặc cho bị cáo hưởng án treo
2 Sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo.
Căn cứ khoản 3 Điều 249 BLTTHS, về phần hình sự thì HĐXX phúc thẩm chỉ sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo khi có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của VKS yêu cầu tăng nặng TNHS đối với bị cáo HĐXX không
có quyền sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng khi không có kháng cáo, kháng nghị, điều này đã phần nào thể hiện nguyên tắc: Toà án cấp phúc thẩm không được làm xấu đi tình trạng của người kháng cáo nếu chỉ có kháng cáo của họ
Bản án hoặc quyết định phúc thẩm được coi là không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt tại phiên toà theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP, cụ thể: đối với bị cáo, nếu Toà án cấp phúc thẩm tăng hình phạt; chuyển khung hình phạt nặng hơn; áp dụng điều khoản của BLHS về tội nặng hơn; không
Trang 10cho hưởng án treo; tăng mức BTTH; áp dụng thêm hình phạt bổ sung; áp dụng thêm biện pháp tư pháp so với bản án hoặc quyết định sơ thẩm; đối với các đương
sự, nếu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án hoặc quyết định sơ thẩm theo hướng ngược lại kháng cáo của họ hoặc giảm quyền lợi hoặc tăng nghĩa vụ đối với họ so với bản án hoặc quyết định sơ thẩm
Khi sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo thì không được vượt quá nội dung của kháng cáo, kháng nghị Nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ yêu cầu tăng mức hình phạt thì chỉ được tăng hình phạt trong giới hạn của khung hình phạt toà sơ thẩm đã tuyên; nếu kháng cáo, kháng nghị yêu cầu chuyển khung hình phạt nặng hơn hoặc tội danh nặng hơn thì Toà án cấp tỉnh khi XXPT có thể áp dụng khung hình phạt và tội danh nặng hơn đó để sửa án nếu khung hình phạt hoặc tội danh này thuộc thẩm quyền XXST của Toà án cấp huyện
Nếu quyết định của Toà án cấp phúc thẩm gây bất lợi cho những người vắng mặt tại phiên toà có lí do chính đáng thì phải hoãn phiên toà và ra quyết định sửa
án một phiên toà khác với đầy đủ những người tham gia theo quy định của pháp luật ( Điều 245 BLTTHS 2003) Ngoài ra, theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 3.2
mục 30 phần II Nghị quyết số 05/2005/NQ - HĐTP về trường hợp người bị hại “là người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị hoặc là người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lí do chính đáng thì HĐXX phúc thẩm coi như người bị hại đó đã từ bỏ quyền liên quan đến kháng cáo, kháng nghị”.
Trong trường hợp này cũng như trong trường hợp người có nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị vắng mặt không có lí do chính đáng thì Toà án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung như thông thường
Trang 11a) Tăng hình phạt đối với bị cáo
Là việc HĐXX phúc thẩm quyết định áp dụng một mức hình phạt mới nặng hơn so với mức hình phạt mà HĐXX sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo
HĐXX phúc thẩm chỉ tăng hình phạt đối với bị cáo khi xét thấy quyết định
áp dụng hình phạt đối với bị cáo trong bản án sơ thẩm quá nhẹ, chưa tương xứng với mức độ và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, hoặc khi có kháng nghị của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại hoặc có kháng nghị của VKS với nội dung yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Tăng hình phạt bao gồm: Tăng hình phạt chính và tăng hình phạt bổ sung ( nếu có), chuyển sang loại hình phạt chính khác nặng hơn, áp dụng thêm loại hình phạt
Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt mà không yêu cầu áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với bị cáo thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ có quyền tăng mức hình phạt trong khung hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo mà không có quyền áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn và chuyển sang khung hình phạt khác nặng hơn
b) Áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn.
Là trường hợp Toà án cấp phúc thẩm áp dụng điều khoản của BLHS mà điều khoản đó so với điều khoản mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng là nặng hơn HĐXX phúc thẩm căn cứ vào hồ sơ tài liệu và những chứng cứ thu thập được đã được thẩm tra tại phiên toà thấy rằng những điều khoản mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là quá nhẹ so với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần áp dụng điều khoản khác phù hợp hơn
Nếu VKS kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn đối với bị cáo mà không yêu cầu tăng hình phạt, thì Toà án cấp phúc thẩm vẫn có quyền áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn và tăng nặng hình phạt đối với bị cáo
Trang 12c) Tăng mức BTTH
Việc tăng mức BTTH chỉ được HĐXX phúc thẩm xem xét và quyết định khi
có kháng nghị của VKS, kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ Việc tăng mức BTTH không chỉ áp dụng với bị cáo mà còn có thể là người giám hộ của bị cáo hoặc bị đơn dân sự
Khi tăng mức BTTH, HĐXX phúc thẩm cần căn cứ mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị để đưa ra quyết định
Do có ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng về vật chất của các đối tượng có liên quan nên đây là nguyên tắc mang tình bắt buộc Mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có thể ảnh hưởng tới quyết định định tội danh và hình phạt đối với bị cáo nên quyết định tăng mức BTTH cần được xem xét và có thể được thực hiện song song với các quyết định khác
III/ Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm theo BLTTHS năm 2015.
Điều 357 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm như sau:
“ Điều 357 Sửa bản án sơ thẩm
1 Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;