LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong xu hướng phát triển thế giới ngày nay, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng phức tạp của chu chuyển hàng hoá quốc tế. Đồng thời với nó là sự vận động của các dòng tiền trong thanh toán. Quá trình thanh toán có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nói riêng và nền kinh tế nói chung. Thanh toán quốc tế diễn ra trên thị trường rộng, phức tạp bởi khoảng cách giữa người mua và người bán, bởi luật lệ của mỗi nước, bởi sự khác biệt trong đồng tiền thanh toán. Phần lớn các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều không thể tự thực hiện thanh toán quốc tế. Nhu cầu thanh toán hộ được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại. Hoạt động thanh toán quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và ngày càng chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của mình. Hiện nay các ngân hàng hiện đại hoạt động đa năng nhằm tăng thu nhập không những từ các nghiệp vụ ngân hàng truyêng thống, mà ngày càng mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng như thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh… Các hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷ trọng. Tuy nhiên các hoạt động ngoại bảng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi một số người cho rằng hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập hấp dẫn nhưng ngân hàng không phải bỏ vốn, càng làm cho họ chủ quan, lơ là, bất chấp những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong các nghiệp vụ ngoại bảng, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ quan trọng, có tốc độ tăng trưởng cao, mang lại khoản thu phí ngày một tăng cho NHTM. Thông qua nghiệp vụ thanh toán quốc tế để chắp nối phát triển các nghiệp vụ khác như tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, mở rộng quan hệ tài khoản, quan hệ ngân hàng địa lý… Là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam về thanh toán quốc tế nhiều năm qua, NH TMCP Ngoại thương Việt Nam (gọi tắt là VCB) luôn cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ thanh toán quốc tế tốt nhất, giúp hoạt động thương mại của doanh nghiệp thông suốt. Với vị thế là lá cờ đầu của Vietcombank, Chi nhánh Sở giao dịch (sau đây gọi tắt là VCB Sở giao dịch) đã cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế ngay từ khi mới thành lập và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, ngày càng đa dạng hóa các dịch vụ, chất lượng dịch vụ, số lượng khách hàng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, so với tốc độ hội nhập chung của toàn ngành, sự phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch còn thiếu sót, điển hình là doanh số giao dịch, số lượng khách hàng chưa tương xứng với nhu cầu thị trường và khả năng, tiềm năng phát triển của Chi nhánh. Bên cạnh đó, Chi nhánh đã phát sinh những lỗi tác nghiệp trong quá trình thực hiện giao dịch. Trong khi việc tìm hiểu nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục lại thực hiện chưa hiệu quả, điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của Chi nhánh và các dịch vụ thanh toán quốc tế rất có thể bị giảm so với các ngân hàng khác. Đây cũng là lý lo chính tôi lựa chọn đề tài Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế. 2. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu: Phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế là gì? Quy trình dịch vụ Thanh toán quốc tế được thực hiện như thế nào? Những tiêu chí nào để đo lường sự phát triển của dịch vụ TTQT ? Mức độ phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch? Những giải pháp nào nhằm phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch ? 3. Mục đích nghiên cứu của Luận văn Thứ nhất, làm rõ các nội dung có liên quan đến các dịch vụ thanh toán quốc tế và phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại. Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch giai đoạn 2014 – 2017. Thứ ba, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển hoạt động dịch vụ Thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch. Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại địa bàn thành phố Hà Nội, cụ thể tại VCB Sở giao dịch, địa chỉ tại số 31, 33 Ngô Quyền, Phường Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thời gian 4 năm, từ 20142017. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1 Nguồn thu thập dữ liệu 5.1.1 Nguồn thu thập dữ liệu thứ cấp Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết nội bộ, báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo kinh doanh của phòng Tổng hợp, phòng GDKH tổ chức – khối thanh toán quốc tế, toàn Chi nhánh, của VCB và ngân hàng khác. Tham khảo từ các tài liệu, tạp chí, bài báo, luận văn khác liên quan tới đề tài. 5.1.2 Nguồn thu thập dữ liệu sơ cấp Để thu thập số liệu, luận văn đã đặt ra các biến, rồi tiến hành lập giả thuyết, xác định biến, chứng minh, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết. Trong luận văn, sử dụng hai loại biến là biến độc lập và biến phụ thuộc. Biến phụ thuộc là phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế. Biến độc lập là ba nhóm yếu tố (yếu tố thuộc về khách hàng, yếu tố thuộc về ngân hàng và yếu tố thuộc về Nhà nước) với 14 chỉ tiêu là biến độc lập được đặt ra để tiến hành phân tích hồi quy. Đối tượng điều tra: Lựa chọn là những cán bộ ngân hàng, khách hàng sử dụng và liên quan đến dịch vụ thanh toán quốc tế tại Chi nhánh. Phiếu điều tra được gửi trực tiếp tới cán bộ ngân hàng, khách hàng (người đại diện của khách hàng giao dịch với ngân hàng như kế toán trưởng, nhân viên kế toán ngân hàng...) dưới sự hỗ trợ của cán bộ quản lý khách hàng hoặc qua hình thức email. 5.2 Phương pháp xử lý số liệu 5.2.1 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp Phương pháp tổng hợp thống kê: Phương pháp này nhằm mục đích tổng hợp tóm tắt dữ liệu sau khi thu thập dữ liệu Phương pháp phân tích: Quan sát, lựa chọn các tiêu chí đánh giá phù hợp, đưa ra các kết luận, quan điểm, nhận định về đối tượng nghiên cứu Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu nội dung liên quan tới quy mô, chất lượng dịch vụ TTQT qua các thời kỳ, với đối tượng khác cùng đơn vị đo, căn cứ trên cơ sở đó nhận định chung về sự phát triển dịch vụ TTQT tại Chi nhánh. 5.2.2 Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp Thứ nhất, sử dụng phương pháp thống kê mô tả Phương pháp này để phân tích dữ liệu sơ cấp gồm tần số, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Thứ hai, sử dụng phương pháp phân tích hồi quy Phân tích tương quan: Một trong những điều kiện phân tích hồi quy là có sự tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Pearson là hệ số kiểm định giả thiết Ho: Hệ số tương quan bằng 0 tức là không có sự tương quan. Nếu Sig. Pearson nhỏ hơn 0,05 thì giả thiết Ho bị bác bỏ, chấp nhận H1 tức là có sự tương quan. Mô hình tuyến tính có dạng: Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + … + βiXi Kết quả chạy mô hình là căn cứ để tác giả đưa ra các nhận định các yếu tố tác động đến dịch vụ TTQT tại VCB Sở giao dịch, yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất,..., từ đó đưa ra các giải pháp, các kiến nghị đối với với các chủ thể liên quan trong việc phát triển dịch TTQT tại VCB Sở giao dịch. 5. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 4 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trang 2Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa đượccông bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụngkết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nộidung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên cáctác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Ngọc
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hồng Yến đã dành rất nhiều thời gian
và tâm huyết để giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, trực tiếp hướng dẫn tôihoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế
Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lời vô cùng biết ơn tới Ban giám hiệu cũngnhư các quý thầy cô Khoa đào tạo sau đại học trường Đại học Kinh tế - Đại họcquốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt khóa học này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp VCB - Chi nhánh
sở giao dịch cũng như các quý khách hàng của VCB - Chi nhánh sở giao dịch đãtạo điều kiện cho tôi hoàn luận văn này
Mặc dù đã có sự nỗ lực, cố gắng hết sức của bản thân nhưng luận văn sẽkhông tránh khỏi những thiếu sót và tác giả rất mong nhận được những ý kiến đónggóp trân thành từ quý thầy cô và các bạn
Trang 6MỤC LỤC
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Diễn giải
1 VCB Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
5 NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
11 WTO Word Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của VCB – Sở giao dịch 70
2 Bảng 3.2 Tình hình huy động vốn của VCB – Sở giao dịch từ năm
5 Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu kinh tế của thành phố Hà Nội qua các năm 85
6 Bảng 3.6 Mạng lưới hoạt động của các NHTM năm 2017 trên địa bàn
14 Bảng 3.14 Số lượng NH đại lý của một số NHTMVN và NHNNg năm
Trang 91 Hình 1.1 Quy trình tiến hành nghiệp vụ chuyển tiền 13
2 Hình 1.2 Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng
3 Hình 1.3 Các cấu phần của môi trường kinh tế, xã hội 46
4 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của VCB - Chi nhánh Sở giao dịch 68
5 Hình 3.2 Số lượng khách hàng sử dụng DVTTQT tại VCB - Chi
10 Hình 3.7 Cơ cấu thu nhập dịch vụ TTQT tại VCB – CN SGD 99
11 Hình 3.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng 101
12 Hình 3.9 Cơ cấu thu nhập từ dịch vụ tại VCB – CN Sở giao dịch 111
Trang 10MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu hướng phát triển thế giới ngày nay, các quan hệ kinh tế quốc tếdiễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng phức tạp của chu chuyểnhàng hoá quốc tế Đồng thời với nó là sự vận động của các dòng tiền trongthanh toán Quá trình thanh toán có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân nói riêng và nền kinh tế nói chung
Thanh toán quốc tế diễn ra trên thị trường rộng, phức tạp bởi khoảng cáchgiữa người mua và người bán, bởi luật lệ của mỗi nước, bởi sự khác biệt trongđồng tiền thanh toán Phần lớn các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều khôngthể tự thực hiện thanh toán quốc tế Nhu cầu thanh toán hộ được thực hiện bởi cácngân hàng thương mại
Hoạt động thanh toán quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗihoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và ngày càng chứng tỏ vị trí
và vai trò quan trọng của mình Hiện nay các ngân hàng hiện đại hoạt động đa năngnhằm tăng thu nhập không những từ các nghiệp vụ ngân hàng truyêng thống,
mà ngày càng mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng như thanh toán quốc tế, kinhdoanh ngoại hối, bảo lãnh… Các hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngânhàng dưới dạng phí ngày một tăng không những về mặt số lượng mà cả tỷtrọng Tuy nhiên các hoạt động ngoại bảng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệtkhi một số người cho rằng hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhập hấp dẫn nhưngngân hàng không phải bỏ vốn, càng làm cho họ chủ quan, lơ là, bất chấp nhữngrủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào
Trong các nghiệp vụ ngoại bảng, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ quan trọng,
có tốc độ tăng trưởng cao, mang lại khoản thu phí ngày một tăng choNHTM Thông qua nghiệp vụ thanh toán quốc tế để chắp nối phát triển các nghiệp
vụ khác như tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, mởrộng quan hệ tài khoản, quan hệ ngân hàng địa lý…
Trang 11Là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam về thanh toán quốc tế nhiều năm qua, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (gọi tắt là VCB) luôn cung cấp cho doanh nghiệpcác dịch vụ thanh toán quốc tế tốt nhất, giúp hoạt động thương mại của doanhnghiệp thông suốt Với vị thế là lá cờ đầu của Vietcombank, Chi nhánh Sở giao dịch(sau đây gọi tắt là VCB Sở giao dịch) đã cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tếngay từ khi mới thành lập và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, ngày càng
đa dạng hóa các dịch vụ, chất lượng dịch vụ, số lượng khách hàng ngày càng giatăng Tuy nhiên, so với tốc độ hội nhập chung của toàn ngành, sự phát triển các dịch
vụ thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch còn thiếu sót, điển hình là doanh sốgiao dịch, số lượng khách hàng chưa tương xứng với nhu cầu thị trường và khảnăng, tiềm năng phát triển của Chi nhánh Bên cạnh đó, Chi nhánh đã phát sinhnhững lỗi tác nghiệp trong quá trình thực hiện giao dịch Trong khi việc tìm hiểunguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục lại thực hiện chưa hiệu quả, điều này sẽlàm giảm khả năng cạnh tranh của Chi nhánh và các dịch vụ thanh toán quốc tế rất
có thể bị giảm so với các ngân hàng khác Đây cũng là lý lo chính tôi lựa chọn đề
tài "Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế.
2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đưa ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế là gì? Quy trình dịch vụ Thanh toánquốc tế được thực hiện như thế nào? Những tiêu chí nào để đo lường sự phát triểncủa dịch vụ TTQT ?
- Mức độ phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế tại VCB Sở giao dịch?
- Những giải pháp nào nhằm phát triển dịch vụ Thanh toán quốc tế tại VCB Sởgiao dịch ?
3. Mục đích nghiên cứu của Luận văn
Thứ nhất, làm rõ các nội dung có liên quan đến các dịch vụ thanh toán quốc tế
và phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các dịch vụ thanh toán quốc
tế tại VCB Sở giao dịch giai đoạn 2014 – 2017
Trang 12Thứ ba, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển các dịch vụ thanhtoán quốc tế tại VCB Sở giao dịch.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển hoạt động dịch vụ Thanh toán quốc tế tạiVCB Sở giao dịch
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại địa bàn thành phố Hà Nội,
cụ thể tại VCB Sở giao dịch, địa chỉ tại số 31, 33 Ngô Quyền, Phường Hàng Bài,Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi thời gian 4 năm, từ 2014-2017
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1Nguồn thu thập dữ liệu
5.1.1 Nguồn thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết nội bộ, báo cáo kết quả hoạtđộng, báo cáo kinh doanh của phòng Tổng hợp, phòng GDKH tổ chức – khối thanhtoán quốc tế, toàn Chi nhánh, của VCB và ngân hàng khác Tham khảo từ các tàiliệu, tạp chí, bài báo, luận văn khác liên quan tới đề tài
5.1.2 Nguồn thu thập dữ liệu sơ cấp
Để thu thập số liệu, luận văn đã đặt ra các biến, rồi tiến hành lập giả thuyết,xác định biến, chứng minh, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết
Trong luận văn, sử dụng hai loại biến là biến độc lập và biến phụ thuộc Biếnphụ thuộc là phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
Biến độc lập là ba nhóm yếu tố (yếu tố thuộc về khách hàng, yếu tố thuộc vềngân hàng và yếu tố thuộc về Nhà nước) với 14 chỉ tiêu là biến độc lập được đặt ra
để tiến hành phân tích hồi quy
Đối tượng điều tra: Lựa chọn là những cán bộ ngân hàng, khách hàng sử dụng
và liên quan đến dịch vụ thanh toán quốc tế tại Chi nhánh
Phiếu điều tra được gửi trực tiếp tới cán bộ ngân hàng, khách hàng (người đạidiện của khách hàng giao dịch với ngân hàng như kế toán trưởng, nhân viên kế toánngân hàng ) dưới sự hỗ trợ của cán bộ quản lý khách hàng hoặc qua hình thức email
Trang 135.2Phương pháp xử lý số liệu
5.2.1 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp
Phương pháp tổng hợp thống kê: Phương pháp này nhằm mục đích tổng hợptóm tắt dữ liệu sau khi thu thập dữ liệu
Phương pháp phân tích: Quan sát, lựa chọn các tiêu chí đánh giá phù hợp, đưa
ra các kết luận, quan điểm, nhận định về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu nội dung liên quan tới quy mô, chấtlượng dịch vụ TTQT qua các thời kỳ, với đối tượng khác cùng đơn vị đo, căn cứtrên cơ sở đó nhận định chung về sự phát triển dịch vụ TTQT tại Chi nhánh
5.2.2 Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp
Thứ nhất, sử dụng phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này để phân tích dữ liệu sơ cấp gồm tần số, giá trị trung bình và độlệch chuẩn
Thứ hai, sử dụng phương pháp phân tích hồi quy
Phân tích tương quan: Một trong những điều kiện phân tích hồi quy là có sựtương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc Pearson là hệ số kiểm định giảthiết Ho: Hệ số tương quan bằng 0 tức là không có sự tương quan Nếu Sig Pearsonnhỏ hơn 0,05 thì giả thiết Ho bị bác bỏ, chấp nhận H1 tức là có sự tương quan
Mô hình tuyến tính có dạng:
Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + … + βiXiKết quả chạy mô hình là căn cứ để tác giả đưa ra các nhận định các yếu tố tácđộng đến dịch vụ TTQT tại VCB Sở giao dịch, yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất, ,
từ đó đưa ra các giải pháp, các kiến nghị đối với với các chủ thể liên quan trong việcphát triển dịch TTQT tại VCB Sở giao dịch
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ thanh toán quốc
tế của Ngân hàng thương mại
Trang 14Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHTMCP
Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch
Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH
VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu dịch vụ thanh toán quôc tế của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Dịch vụ TTQT là một dịch vụ góp phần tạo nên thu nhập lớn cho ngân hàng,nên vấn đề về phát triển dịch vụ TTQT đã được rất nhiều những nhà phân tích quantâm và dành thời gian nghiên cứu
Có rất nhiều những bài nghiên cứu trong nước và trên thế giới phân tích vàchỉ ra mối quan hệ giữa những nhân tố về môi trường kinh doanh,môi trường pháplý… ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ TTQT của các ngân hàng
1.1.1.1 Nghiên cứu chung về dịch vụ TTQT của NHTM
Trong bài nghiên cứu: “Financial Development, International Trade andEconomic Growth in Australia: New Evidence from multivariate frameworkanalysis”của Shahbaz (2012), tác giả đã chỉ ra vai trò của hệ thông tài chính vàthương mại quốc tế đến sự phát triển kinh tế của Australia, chỉ ra mối quan hệ giữaphát triển kinh tế với sự phát triển dịch vụ thương mại quốc tế của các ngân hàngtrong hệ thống tài chính giai đoạn 1990-2010 Tác giả đã tiến hành nghiên cứu hai
mô hình: (i) Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế GDP với sự pháttriển của hệ thống tài chính và hoạt động thương mại quốc tế của Australia; (ii)Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ TTQT của các ngânhàng trong hệ thống tài chính của Australia Kết quả,bài nghiên cứu đã chỉ ra mốiquan hệ mật thiết giữa sự phát triển của hệ thống tài chính, hoạt động thương mạiquốc tế với sự phát triển kinh tế; chỉ ra những nhân tố về môi trường kinh doanh, môitrường pháp lý sẽ tác động trực tiếp đến sự phát triển dịch vụ TTQT của ngân hàng
Bài nghiên cứu: “Hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt độngthanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại” của Nguyễn Văn Tiến(2004) đăngtrong tờ “Tạp chí ngân hàng” đã chỉ ra vai trò ngày càng quan trọng của dịch vụ
Trang 16TTQT đối với việc phát triển kinh doanh của các ngân hàng, đồng thời cũng đề xuấtmột hệ thốngchỉ tiêu để đánh giá tính hiệu quả hoạt động TTQT của NHTM Hệ
thống chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả hoạt động TTQT tác giả đề xuất bao gồm: (i) Chỉ tiêu gián tiếp: Tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ; Tăng
cường và hỗ trợ nghiệp vụ tài trợ thương mại; Tăng cường và hỗ trợ dịch vụ ngânhàng khác như chiêt khấu hối phiếu, TTQT…; Tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ tíndụng, huy động vốn; Tăng cường và củng cố uy tín của ngân hàng trong nước và
quốc tế (ii) Chỉ tiêu trực tiếp: Doanh thu từ hoạt động TTQT; Lợi nhuận từ hoạt
động TTQT; Tỷ số Lợi nhuận/Doanh thu hoạt động TTQT; tỷ số Chi phí/ Doanh thuhoạt động TTQT; Doanh thu hoạt động TTQT/Tổng doanh thu dịch vụ Có thểnói,bài nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống chỉ tiêu cụ thể,chi tiết nhằm đánh giá tínhhiệu quả hoạt động TTQT của NHTM, từ đó giúp các ngân hàng nắm được điểmmạnh,điểm yếu của mình trong công tác phát triển dịch vụ TTQT
1.1.1.2 Nghiên cứu về phát triển dịch vụ TTQT
Trong bài nghiên cứu: “Nâng cao năng lực TTQT của các ngân hàng thươngmại Việt Nam”của Trần Nguyễn Hợp Châu (2011) đăng trong tờ Thời báo kinh tế,
đã chỉ ra thực trạng hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại Việt Nam,chỉ ranhững điểm mạnh,điểm yếu trong hoạt động kinh doanh,những cơ hội và thách thứckhi cạnh tranh với những ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và kinhnghiệm lâu năm trong hoạt động thanh toán quốc tế Bài viết đã chỉ ra những tồn tạitrong hoạt động TTQT của các NHTM Việt Nam như: hệ thống công nghệ thông tincòn yếu kém, tính an toàn và bảo mật không cao; nhân tố con người còn chưa đạtđến trình độ chuẩn quốc tế Bài nghiên cứu sẽ giúp cho nhưng NHTM Việt Namnhin lại chính bản thân mình, để có những giải pháp phát triển dịch vụ TTQT bắtkịp với xu hướng thế giới và cạnh tranh được với những ngân hàng nước ngoài đanghoạt động ngày càng mạnh tại thị trường Việt Nam
Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Tạ Thị Thủy(2013) “ Phát triển dịch vụTTQT tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Vinh” đã tiếnhành phân tích hồi quy những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ TTQT
Trang 17Luận văn chia ra 3 nhân tố với 14 biến quan sát để thực hiện hồ quy Các nhân tốđược tác giả tiến hành phân tích là: Nhóm yếu tố thuộc về khách hàng (Khả năngtiếp cận dịch vụ TTQT, Sự hiểu biết về dịch vụ TTQT); Nhóm yếu tố thuộc về ngânhàng (Năng lực tài chính; Nguồn nhân lực; Chiến lược kinh doanh; Trình độ quảnlý; Uy tín, thương hiệu; Công nghệ; An ninh bảo mật); Nhóm yếu tố thuộc về nhànước (Môi trường pháp lý; Hạ tầng công nghệ thông tin; Sức ép cạnh tranh; Môitrường kinh tế xã hội; Hệ thống thanh toán) Kết quả hồi quy cho thấy yếu tố chiếnlược kinh doanh có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển dịch vụ TTQT tại BIDV –Chi nhánh Vinh, tiếp theo là các yếu tố nguồn nhân lực, trình độ quản lý, năng lựctài chính, an ninh bảo mật, uy tín thương hiệu và cuối cùng là năng lực công nghệ.Kết quả phân tích hồi quy giúp luận án đưa ra những đánh giá và giải pháp nhằmphát triển dịch vụ TTQT tại BIDV – Chi nhánh Vinh.
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết,nghiên cứu,luận văn, luận án viết về hoạt độngTTQT tại các ngân hàng Đa số các nghiên cứu trong nước đều phân tích theo cấu trúc
từ cơ sở lý luận, đến thực trạng và giải pháp, mỗi nghiên cứu có những nhận định vàcách phân tích khác nhau, nhưng hầu hết vẫn đưa ra nhận định chung là:
- Dịch vụ TTQT chịu sự tác động mạnh mẽ từ môi trường kinh doanh và môitrường pháp lý các nước.Kinh tế có phát triển, hoạt động thương mại quốc tế cóphát triển thì dịch vụ TTQT của các ngân hàng mới có cơ hội phát triển
- Dịch vụ TTQT của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình pháttriển do những yếu tố về công nghệ thông tin, yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực
- Dịch vụ TTQT đang ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển và trởthành miếng bánh thị phần để các NHTM trong và ngoài nước cạnh tranh khốc liệt
1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của đề tài
Sau khi xem xét và tham khảo nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước,tác giả nhận định các nghiên cứu đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ở hai bàinghiên cứu: “Financial Development, International Trade and Economic Growth inAustralia: New Evidence from multivariate framework analysis”của Rahman(2010),
và luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Tạ Thị Thủy (2013) “ Phát triển dịch vụ TTQT
Trang 18tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Vinh” đã chỉ ra mốiquan hệ giữa sự phát triển kinh tế trong và ngoài nước với thương mại quốc tế, cụthể là khi nền kinh tế thế giới đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ thì sẽ giúp các hoạtđộng giao thương, buôn bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu diễn ra thường xuyên hơn
và giá trị ngày càng lớn, giúp cho nền kinh tế của các nước phát triển và quay lạithúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới Và do sự gia tăng các hoạtđộng đó, các hoạt động thanh toán quốc tế như mở L/C, chuyển tiền WC, chuyểntiền sang các ngân hàng nước ngoài diễn ra sôi động hơn với giá trị lớn hơn Tuynhiên, nếu nền kinh tế trong khu vực, thế giới có những dấu hiệu tiêu cực do suythoái kinh tế, do chính sách về thuế xuất nhập khẩu, do các vấn đề chính trị khiếnhoạt động giao thương đình trệ sẽ dẫn tới sự sụt giảm, kém hiệu quả của các hoạtđộng thanh toán quốc tế Do đó, hai luận án phân tích ở trên đã cho thấy ảnh hưởngsâu sắc của mối quan hệ kinh tế trong và người nước đến sự phát triển dịch vụTTQT của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân, và từ đóđưa ra một số giải pháp giúp các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác đểduy trì, cải thiện và nâng cao dịch vụ TTQT trong từng thời kỳ, giai đoạn biến độngcủa nền kinh tế như hiện nay
Còn ở bài nghiên cứu về “Hệ thống chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả hoạtđộng thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại” của Nguyễn Văn Tiến (2014)
và “Nâng cao năng lực TTQT của các ngân hàng thương mại Việt Nam”của TrầnNguyễn Hợp Châu (2011) lại chỉ ra những chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả như sốgiao dịch và tổng giá trị thanh toán quốc tế, giá trị thực hiện TTQT năm nay so nămtrước và so với kế hoạch, so với ngân hàng thương mại tương đương, mức độ hàilòng và ưa thích sử dụng dịch vụ TTQT của NHTM, mức độ áp dụng công nghệ vàodịch vụ TTQT, chất lượng đội ngũ nhân viên, mức độ da dạng của sản phẩm TTQT,thời gian và thủ tục thực hiện dịch vụ TTQT,…Từ đó, các bài nghiên cứu đã đưa ragiải pháp để phát triển dịch vụ cũng như nâng cao năng lực TTQT của ngân hàngthương mại, dựa trên cơ sở thế mạnh và tiềm lực của các ngân thương mại, tổ chứctín dụng để nâng cao hiệu quả từng chỉ tiêu, tiêu chí đã đề cập ở trên một cách
Trang 19nhanh nhất Như vậy, mỗi bài luận án và nghiên cứu đã nêu ở trên đều đã chỉ ra cácquan điểm về những nhân tố ảnh hưởng cũng như đánh giá về vấn đề phát triển dịch
vụ TTQT, như hai bài của Raman (2010) và Tạ Thị Thủy (2013) nói về mối quan hệgiữa trong nước với khu vực, châu lục và toàn thế giới về mặt thương mại, còn haibài Nguyễn Văn Tiến (2014) và Trần Nguyễn Hợp Châu (2011) lại chỉ ra những chỉtiêu, tiêu chí nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động dịch vụ TTQT Các công trìnhnghiên cứu này đều nhằm mục đích phân tích, đánh giá từ nhiều khía cạnh, thế giớiquan khác nhau để có cái nhìn tổng quát về dịch vụ TTQT, từ đó tổng hợp các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ này một cách toàn diện nhất có thể trong tìnhhình cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ hiện nay của các ngân hàng, tổ chức tín dụng Mặc dù các nghiên cứu đều chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng và cách thức đolường hiệu quả hoạt động TTQT, chỉ ra tính cạnh tranh ngày càng gay gắt giữanhững NHTM trong việc phát triển dịch vụ TTQT, nhưng những nghiên cứu này chỉmới tập trung đánh giá về nhân tố thị trường, sản phẩm, chính sách pháp luật, địnhchế tài chính từng thời kỳ, mà chưa đi sâu để phân tích, đánh giá và xem xét mốiquan hệ giữa chất lượng dịch vụ TTQT với sự hài lòng của khách hàng – một trongnhững nhân tố then chốt, quyết định tới sự thành công trong mọi loại hình kinhdoanh dịch vụ, nhất là khi có nhiều ngân hàng đồng thời cung cấp dịch vụ này Cóthể dễ dàng nhận thấy rằng, trong thời đại ngày nay, việc sao chép những sản phẩm,dịch vụ giữa các ngân hàng là không khó, nếu như một ngân hàng tung ra một sảnphẩm mới, thì một thời gian ngắn sau, khách hàng sẽ dễ dàng bắt gặp sản phẩmtương tự như vậy tại một ngân hàng khác Vì vậy, lấy được niềm tin và sự hài lòngcủa khách hàng mới chính là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong pháttriển dịch vụ Các ngân hàng thương mại hiện nay đã nhìn nhận được tầm quantrọng của chính sách chăm sóc khách hàng đến sự thành công trong chất lượng dịch
vụ Tuy nhiên vấn đề này,chưa được đề cập đến trong những bài nghiên cứu về pháttriển dịch vụ TTQT của NHTM
Từ khoảng trống nghiên cứu đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài về: “Pháttriển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương
Trang 20Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch” để nghiên cứu Với đề tài này, tác giả sẽ khôngchỉ phân tích thực trạng phát triển dịch vụ TTQT, phân tích định lượng về quy môdịch vụ TTQT tại chi nhánh, mà còn tiến hành phân tích hồi quy nhằm đánh giá sựhài lòng của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ TTQT của chi nhánh, từ đó đưa
ra những giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm phát triển dịch vụ TTQT tại VCB – Chinhánh Sở giao dịch
1.2 Tổng quan về dịch vụ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về Thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
Theo Phan Thị Thu Hà (2015) “TTQT của NHTM là quan hệ thanh toán giữangười chi trả ở nước này với người thụ hưởng ở nước kia thông qua trung gianthanh toán là các Ngân hàng ở các nước phục vụ người chi trả và người thụ hưởng” Đặc điểm của hoạt động TTQT: “TTQT phát sinh trên cơ sở quan hệ kinh tếgiữa người thụ hưởng và người chi trả ở các khoảng cách rất xa nhau, khó có đủthông tin chính xác về nhau; hơn nữa, TTQT ở những nước khác nhau thì các điềukiện về kinh tế, chính trị, phong tục cũng khác nhau Do vậy, TTQT phải thực hiệntheo thông lệ quốc tế về thanh toán và quy định của từng quốc gia trong từng thời
kỳ Phụ thuộc vào mối quan hệ về kinh tế, độ tín nhiệm, loại hàng hóa dịch vụ muabán, quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên mà lựa chọn hình thức thanh toáncho phù hợp” (Phan Thị Thu Hà, 2015)
Một quốc gia khó có thể sản xuất mọi thứ mình cần Điều kiện tự nhiên, địa lý,trình độ phát triển và các yếu tố khác của mỗi nước xác định phạm vi và năng lựcsản xuất của nước đó Điều này nói lên rằng, các quốc gia luôn luôn phụ thuộc lẫnnhau về rất nhiều loại hàng hoá cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng
Một nước sẽ nhập khẩu những hàng hoá có nhu cầu từ những nước chuyên sảnxuất các mặt hàng này với giá rẻ, đồng thời xuất khẩu những hàng hoá của mình có
ưu thế về năng suất lao động cho những nước có nhu cầu, nhằm tận dụng lợi thế sosánh (tuyệt đối và tương đối) trong ngoại thương Sự di chuyển hàng hoá giữa cácnước tạo nên hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia
Trang 21Qua phân tích trên cho thấy, thanh toán quốc tế được bắt nguồn từ hoạt độngngoại thương, và mục đích chính của thanh toán quốc tế là để hỗ trợ và phục vụ chohoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả Vìthanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống ngân hàng nên khi nói đến thanhtoán quốc tế là nói đến hoạt động thanh toán của ngân hàng thương mại và khôngmột ngân hàng thương mại nào lại không muốn phát triển các nghiệp vụ ngân hàngquốc tế trong đó lấy thanh toán quốc tế làm trọng tâm phát triển.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi
về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức,
cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Từ khái niệm trên cho thấy thanh toán quốc tế phục vụ cho hai lĩnh vực hoạtđộng là kinh tế và phi kinh tế, tuy nhiên trong thực tế giữa hai lĩnh vực này thườnggiao thoa với nhau Chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại cácNHTM, người ta thường phân loại hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực
rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương (hay thanh toán mậu dịch) và thanh toánphi ngoại thương (hay thanh toán phi mậu dịch)
Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đếnhàng hoá xuất nhâp khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanhtoán cho các hoạt động không mang tính thương mại Đó là việc chi trả các chi phícủa các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại của các đoàn khách nhànước, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nướcngoài cho cá nhân trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nướcngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước
Thanh toán quốc tế trong ngoại thương là việc thực hiện trên cơ sở hàng hoáxuất nhập khẩu, và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thịtrường quốc tế Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợpđồng ngoại thương
Các điều kiện trong TTQT bao gồm:
Trang 22 Điều kiện về tiền tệ
“Trong TTQT, các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nào đó để làm tiền tệ tínhtoán và hoặc thanh toán trong các hiệp định tiền tệ, hợp đồng và hoặc trong cáccông cụ thanh toán, phương thức thanh toán” (Nguyễn Văn Tiến, 2013)
Điều kiện về thời gian thanh toán
Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) “Điều kiện về thời hạn thanh toán quy định khinào thì người nhập khẩu phải trả tiền cho người xuất khẩu, do đó, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến tốc độ luân chuyển vốn, tới khả năng hạn chế rủi ro về lãi suất, tỷ giá,thanh khoản,… đối với các bên tham gia hợp đồng Nếu lấy thời hạn giao hàng(chuyển giao quyền sở hữu) làm mốc, thì thời hạn thanh toán có thể là: trả tiềntrước, trả tiền ngay, trả tiền sau hoặc kết hợp các cách này”
Điều kiện về phương thức thanh toán
Trong hoạt động ngoại thương, những người thụ hưởng có các khoản phải thu
từ hối phiếu, séc, hóa đơn… không thể tự mình đứng ra thu tiền từ người nướcngoài cho nên họ phải ủy thác cho NHTM thực hiện việc thu tiền, tương tự nhữngngười có nghĩa vụ chuyển trả tiền cho người thụ hưởng ở nước ngoài cũng khôngthể tự mình đứng ra chuyển trả tiền do đó họ phải ủy thác cho NHTM chuyểnvà/hoặc chuyển tiền đến Các NHTM và các bên ủy thác phải thỏa thuận các cách,nội dung và điều kiện để tiến hành thu và chuyển trả tiền, đó gọi là phương thứcTTQT Phương thức thanh toán phổ biến là kèm chứng từ và không kèm chứng từ
1.2.2 Các phương thức thanh toán quốc tế thông dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Phương thức chuyển tiền - Remittance
Theo Nguyễn Thị Thu Thảo (2009) “Thanh toán bằng chuyển tiền là phươngthức thanh toán trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu Ngân hàng phục vụmình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng) ở một địađiểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu”
a) Các bên tham gia thanh toán:
- Người chuyển tiền (Remitter): Là người yêu cầu Ngân hàng thay mình thực
Trang 23Ngân hàng trả tiền (Paying Bank) Ngân hàng chuyểntiền (Remitting Bank)
Người thụ hưởng (Beneficiary) Người chuyển tiền (Remitter)
hiện chuyển tiền ra nước ngoài Họ thường là người mua, người trả nợ, hoặc nhàđầu tư yêu cầu chuyển vốn, kinh phí ra nước ngoài
- Người thụ hưởng (Beneficiary): Là người được nhận số tiền chuyển tớithông qua Ngân hàng, thường là người xuất khẩu, chủ nợ hoặc người tiếp nhận đầu
tư do người chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng chuyển tiền (Remitting Bank): Là Ngân hàng phục vụ ngườichuyển tiền, ở nước yêu cầu người chuyển tiền
- Ngân hàng trả tiền (Paying Bank): Là Ngân hàng trực tiếp trả tiền cho ngườithụ hưởng, thông thường là Ngân hàng đại lý hay chi nhánh của Ngân hàng chuyểntiền ở nước người thụ hưởng.”
b) Sơ đồ quy trình chuyển tiền:
Hình 1.1: Quy trình tiến hành nghiệp vụ chuyển tiền
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Văn Tiến (2016), Giáo trình Thanh toán quốc tế&Tài trợ
ngoại thương, NXB Lao động)
*) “Giải thích tiến trình
1. Người thụ hưởng thực hiện nghĩa vụ của mình với người chuyển tiền Trường hợpchuyển tiền ngoại thương người thụ hưởng (người xuất khẩu) thực hiện việc giaohàng, đồng thời chuyển giao bộ chứng từ như: hóa đơn, vận đơn, bảo hiểm đơn…cho người chuyển tiền (người nhập khẩu)
2. Người chuyển tiền sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng hóa), nếu quyết định trảtiền thì viết lệnh chuyển tiền cùng ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản) gửi ngân hàngphục vụ mình
3. Ngân hàng chuyển tiền sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền, nếu
Trang 24thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng thực hiện trích tài khoản đểchuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho người chuyển tiền.
4. Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng trả tiền để chuyển trả cho người thụhưởng
5. Ngân hàng trả tiền ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng, đồng thời gửi giấybáo có cho người hưởng lợi”
Phương thức chuyển tiền được sử dụng trong hai trường hợp thanh toántrước tiền hàng và thanh toán sau
c) Các hình thức chuyển tiền:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer – M/T): Là hình thức chuyển tiền trong
đó lệnh thanh toán của Ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung mộtbức thư mà Ngân hàng này gửi yêu cầu Ngân hàng thanh toán thực hiện Thưchuyển tiền là chỉ thị của Ngân hàng chuyển tiền đối với Ngân hàng thanh toán yêucầu ngân hàng này chi trả một khoản tiền được ấn định cho người thụ hưởng đượcchỉ định trong thư.”
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer T/T): Là hình thức chuyển tiền,
trong đó lệnh thanh toán của Ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dungmột bức điện mà ngân hàng này gửi cho Ngân hàng thanh toán thông qua truyền tincủa mạng viễn thông như SWIFT (Society for WorlWide Interbank FinancialTelecommunication – Hiệp hội liên lạc viễn thông quốc tế Tài chính Ngân hàng thếgiới) Nội dung chính của chỉ thị chuyển tiền qua điện cũng tương tự như trong thưchuyển tiền Trường hợp cả Ngân hàng chuyển tiền và Ngân hàng thanh toán đều làthành viên của SWIFT, hoặc có trao đổi dữ liệu điện tử với nhau, thì các chỉ thị traođổi chuyển tiền đều được chuẩn hóa và bảo mật hoàn toàn.”
d) Điều kiện NHTM cung cấp dịch vụ chuyển tiền
“Để tiến hành phương thức thanh toán chuyển tiền, người yêu cầu chuyểntiền phải lập giấy ủy nhiệm chuyển tiền – lệnh chuyển tiền gửi Ngân hàng phục vụmình Nội dung chủ yếu của lệnh chuyển tiền bao gồm các yếu tố sau:
- Tên và họ, địa chỉ của người yêu cầu chuyển tiền
Trang 25- Ngân hàng – số hiệu tài khoản trích tiền
- Số tiền yêu cầu chuyển
- Tên và họ, địa chỉ người thụ hưởng
- Ngân hàng – số hiệu tài khoản được nhận tiền thụ hưởng
- Lý do chuyển tiền
- Phí chuyển tiền
Ngoài giấy chuyển tiền có nội dung như trên, người yêu cầu chuyển tiền cònphải xuất trình những văn bản cần thiết có liên quan để làm căn cứ xem xét tínhpháp lý của số tiền cần chuyển ra nước ngoài Ví dụ như: Hợp đồng ngoại thương,giấp phép nhập khẩu, tờ khai hải quan, ”
1.2.2.2 Phương thức tín dụng chứng từ - Letter of Credit (L/C)
Theo Nguyễn Thị Thu Thảo (2009) “Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C”
“L/C được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khiđược thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và khi
đó phương thức thanh toán này đã được thiết lập Tính chất độc lập của thư tín dụngđược thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng với người hưởng lợi L/C (nhà xuấtkhẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán Ngân hàng
mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đãđược mở để trả tiền cho người bán Việc thanh toán của ngân hàng không phụ thuộcvào thực trạng của hàng hóa Nếu thực trạng của hàng hóa không đúng với chứng từthì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau Trong trường hợp người muakhông thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụtrả tiền cho người bán, thực hiện đầy đủ và đúng với các điều khoản đã được quyđịnh trong L/C” (Nguyễn Thị Thu Thảo, 2009)
L/C là văn bản thể hiện loại tín dụng do ngân hàng cung cấp cho người nhậpkhẩu và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với người xuất khẩu
a) Các đặc điểm của thư tín dụng chứng từ:
Trang 26- Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, khôngdựa trên hàng hóa hoặc dịch vụ.
- L/C phải ghi rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ ra như vậy nó sẽđược coi là không hủy ngang,
- Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu:chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâuthuẫn nhau
- Ngân hàng phát hành chỉ có một khoản thời gian hợp lý không quá ngày làm việcsau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác định chứng từ phù hợp haykhông phù hợp, nếu quá thời hạn ngân hàng phát hành không có quyền thông báosai sót
- Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không quy định trongL/C
- Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ phải thông báo bằng phương tiện truyềnthống trước lúc đóng cửa của ngày làm việc thứ 5 (ngày làm việc ngân hàng)
- Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính tả phátsinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin.”
b) Các bên tham gia của phương thức tín dụng chứng từ:
- Người yêu cầu mở L/C (Applicant): là bên mà L/C được phát hành theo yêu cầu của
họ Trong thương mại quốc tế, người yêu cầu thường là người nhập khẩu, yêu cầuNgân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việcNgân hàng phát hành trả tiền cho người thụ hưởng L/C
- Người thụ hưởng/Người hưởng lợi L/C (Beneficiary): là bên được hưởng số tiềnthanh toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C Trong thươngmại quốc tế, người thụ hưởng thường là người xuất khẩu (người bán)
- Ngân hàng phát hành (Issuing bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theođơn của Người yêu cầu, nghĩa là ngân hàng đã cấp tín dụng cho người yêu cầu.Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thỏa thuận và quy định tronghợp đồng Nếu không có sự thỏa thuận trước, người nhập khẩu được phép tự chọn
Trang 27ngân hàng phát hành.
- Ngân hàng thông báo (Advising bank): Là ngân hàng thực hiện thông báo L/C chongười thụ hưởng theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báothường là Ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của Ngân hàng ở nước của ngườixuất khẩu
- Ngân hàng được chỉ định (Nominated bank): Là ngân hàng mà được Ngân hàngphát hành chỉ định thay mặt mình tiếp nhận, kiểm tra và thực hiện việc thanh toánhay chiết khấu bộ chứng từ xuất trình phù hợp Nói cách khác, Ngân hàng được chỉđịnh là Ngân hàng tại đó L/C có giá trị thnah toán hoặc chiết khấu
Hình1.2: Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ
(Nguồn: GS.TS Nguyễn Văn Tiến (2016), Giáo trình Thanh toán quốc tế&Tài trợ
ngoại thương, NXB Lao động)
*) “Giải thích tiến trình
(1) Người nhập khẩu và người xuất khẩu ký kết hợp đồng ngoại thương với điều
Trang 28khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(2) Căn cứ các điều khoản và điều kiện của Hợp đồng ngoại thương, nhà nhậpkhẩu (Người yêu cầu) làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu Ngânhàng phát hành một L/C cho người xuất khẩu (Người thụ hưởng) hưởng
(3) Căn cứ đơn mở L/C, nếu đồng ý, Ngân hàng phát hành lập L/C và thông báoquan Ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu (Ngân hàngthông báo) thông báo L/C cho người hưởng lợi
(4) Khi nhận được L/C, Ngân hàng thông báo thông báo L/C cho Người thụhưởng (Người xuất khẩu)
(5) Người xuất khẩu kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiến hànggiao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đồi, bổ sung cho phù hợp với hợpđồng ngoại thương trước khi tiến hành giao hàng
(6) Sau khi tiến hành giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầucủa L/C và xuất trình cho Ngân hàng phát hành để được thanh toán
(6’) và (6’’) Trong trường hợp L/C có chỉ định Ngân hàng được chỉ định, bộchứng từ được xuất trình qua Ngân hàng được chỉ định để được thanh toán Ngânhàng được chỉ định sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy xuất trình phù hợp thìtiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lạitoàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho người xuất khẩu
(7) Ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy xuất trình phùhợp thì tiến hành thanh toán, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửitrả lại toàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho người xuất khẩu
(8) (7’) và (7’’) Ngân hàng chỉ định xuất trình chứng từ cho Ngân hàng pháthành và đòi hoàn trả
(9) Ngân hàng phát hành đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ chongười nhập khẩu sau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
1.2.2.3 Phương thức nhờ thu
Là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ
Trang 29giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho bên mua sẽ ủy thác cho ngân hàng phục
vụ mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai trò trung gian thu hộ tiền và được hưởng
tỷ lệ phần trăm trên số tiền thu được
Thường được sử dụng phổ biến hơn trong thanh toán, phương thức nhờ thuthường được dung khi: hai bên thực sự tin cậy lẫn nhau, nhà nhập khẩu sẵn sangthanh toán và có khả năng thanh toán, điều kiện kinh tế và chính trị của nước nhậpkhẩu ổn định, và chính phủ nước nhập khẩu không có những biện pháp kiểm soátngoại hối
Sử dụng phương pháp thanh toán nhờ thu kèm chứng từ quyền lợi của tổ chứcxuất khẩu có được đảm bảo hơn, không bị mất hàng nếu bên nhập khẩu không thanhtoán vì vai trò của ngân hàng được nâng cao thêm trách nhiệm
Chỉ thị nhờ thu là văn bản mang tính chất pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa cácbên tham gia nghiệp vụ theo nguyên tắc URC ràng buộc tất cả các bên tham gianghiệp vụ trừ khi có thỏa thuận khác hoặc trái với pháp luật hay các quy định củaquốc gia
Phương pháp này có nhược điểm đối với nhờ thu trơn, rất ít được áp dụngtrong thanh toán tiền hàng vì không đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu vànhập khẩu do việc nhận hàng và thanh toán tách rời nhau Vì vậy chỉ được sử dụngtrong thanh toán phí hoặc nhờ thu Séc giữa các ngân hàng
Phương thức nhờ thu chứng từ thì việc thu tiền của nhà xuất khẩu vẫn chưachắc chắn Tuy còn giữ quyền kiểm soát hàng hóa sau khi giao hàng nhưng nếu nhànhập khẩu khẩu không nhận hàng hoặc không trả tiền
Chi phí nhờ thu trả ngân hàng do bên nào chịu? Nếu thu không được thì bênxuất khẩu phải thanh toán phí cho cả hai ngân hàng Tuy nhiên, tốc độ thanh toánvẫn chậm, rủi ro cho bên xuất khẩu vẫn lớn
Rủi ro tín dụng của người nhập khẩu, rủi ro chính trị ở nước nhập khẩu và rủi
ro hàng hóa có thể bị hải quan giữ Việc trả tiền quá chậm, từ lúc giao hàng đến lúcnhận tiền có thể kéo dài vài tháng đến một năm Người nhập khẩu và rủi ro hànghóa có thể bị hải quan giữ Việc trả tiền quá chậm, từ lúc giao hàng đến lúc nhận
Trang 30tiền có thể kéo dài vài tháng đến một năm Người nhâp khẩu chịu một một rủi rotrong thanh toán nhờ thu chứng từ là hàng được gửi có thể không giống như ghi trênhóa đơn và vận đơn.
1.2.3 Các phương tiện thanh toán quốc tế
1.2.3.1 Hối phiếu
a) Khái niệm:
Theo Phan Thị Thu Hà (2015) “Hối phiếu là giấy tờ có giá do người ký phátlập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi
có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”
b)Các bên tham gia:
- Người ký phát hối phiếu (Drawer) : Chủ nợ người lập và ký phát hối phiếu
- Người bị ký phát(Drawee): Con nợ, người có nghia vụ thanh toán số tiền ghitrên hối phiếu
- Nhười chấp nhận (Acceptor): Người bị ký phát sau khi ký chấp nhận hốiphiếu thì trở thành người chấp nhận.Người chấp nhận có nghĩa vụ thanh toán hốiphiếu khi đến hạn
- Người thụ hưởng (Beneficiary): Người sở hữu hợp pháp hối phiếu, do đó cóquyền được nhận thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu
- Người chuyển nhượng(endorser or assignor): Là người chuyển quyền hưởnglợi hối phiếu cho người khác bằng cách trao tay hay bằng thủ tục ký hậu
- Người bảo lãnh (avaliseur): Là bất cứ người nào ký t6n vào hối hiếu, ngoạitrừ người ký phát và người bị ký phát
c) Chức năng: Hối phiếu có 3 chức năng:
- Hối phiếu là phương tiện thanh toán: Hối phiếu là phương tiện giúp ngườibán đòi tiền người mua và giúp người mua chuyển tiền trả nợ cho người bán
- Hối phiếu là phương tiện đảm bảo: Hối phiếu là một chứng từ có giá; do đó
nó có thể được mua bán,cầm cố, thế chấp vv
- Hối phiếu là một phương tiện cung cấp tín dụng : Vì hối phiếu là một chứng
từ có giá nên nó có thể là công cụhữu hiệu trong việc cung ứng các khoản tín dụng
Trang 31thương mại, tín dụng ngân hàng
d) Các nghiệp vụ liên quan đến việc lưu thông hối phiếu:
- Chấp nhận hối phiếu (Acceptance): là hành vi cam kết trả tiền của người cónghĩa vụ trả tiền khi hối phiếu đến thời hạn thanh toán Hành vi pháp lý này đượcthể hiện bằng chữ và chữ ký cuả ngươì đó ở mặt trước góc trái của hối phiếu, số tiềnchấp nhận, ngày tháng và ký tên.Thông thường hối phiếu phải được xuất trình để kýchấp nhận trước ngày đến hạn thanh toán của hối phiếu.Nếu ngày xúât trình đã đượcthỏa thuận trước thì người ký phát phải xuất trình đúng hạn, nếu không thỏa thuận trướcthì ULB qui định thời hạn xuất trình tối đa là 12 tháng sau ngày ký phát hối phiếu
- Ký hậu hối phiếu (Endorsement): Ký hậu hối phiếu là một thủ tục để chuyểnnhượng hối phiếu từ người hưởng lợi này sang người hưởng lợi khác Người ký hậu chỉcần ký vào mặt sau của hối phiếu và trao hối phiếu cho người được chuyển nhượng
- Ý nghĩa pháp lý của hành vi ký hậu là thừa nhận việc chuyển nhượng quyềnhưởng lợi hối phiếu và xác định trách nhiệm củangười ký hậu hối phiếu đối vớinhững người hưởng lợi sau đó
- Bảo lãnh hối phiếu (Aval): Bảo lãnh hối phiếu là sự cam kết của người thứ 3
về khả năng thanh toán tiền hối phiếu khi đến hạn cho người hưởng lợi
Người bảo lãnh thường là Ngân hàng lớn có uy tín.Người bảo lãnh có thể ký ởmặt trước hay mặt sau của hối phiếu và ghi “Good as aval “ hoặc “ Receipt of Aval”.Kháng nghị về việc không trả tiền hối phiếu (Protest for Non-payment).Trongtrường hợp hối phiếu không được trả tiền, người hưởng lợi hiện hành của hối phiếu
có quyền kháng nghị người trả tiền trước pháp luật
Việc từ chối trả tiền của người trả tiền hối phiếu phải được xác nhận bằng đơnkháng nghị (Protest for Non-payment) lập ra sauhai ngày làm việc, kể từ ngày đếnhạn trả tiền của hối phiếu,trong đó ghi chép nguyên văn tờ hối phiếu cùng với cáckhỏan như chấp nhận ,ký hậu, bảo lãnh (nếu có) và lý do từ chối trảtiền hối phiếu;sau đó gửi các bản sao đến các bên có liên quanđến hối phiếu và gửi cho tòa án đểđược tòa án xem xét, bảo vệ quyền lợi
- Cầm cố và nhờ thu hối phiếu: Người thụ hưởng có quyền cầm cố hối phiếu
Trang 32tại các tổ chức tín dụng để vay vốn.Khi người cầm cố hoàn thành nghĩa vụ được bảođảm bằng cầm cố hối phiếu thì người nhận cầm cố phải hoàn trả hối phiếu chongười cầm cố.Trong trường hợp người cầm cố không thực hiện đầy đủ,đúng hạnnghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố hối phiếu thì người nhận cầm cố trở thànhngười thụ hưởng hối phiếu và được thanh toán theo nghĩa vụ được bảo đảm bằngcầm cố.
- Giải trái (Discharge): Khi hối phiếu được người bị ký phát thanh toán đầy đủ
và đúng hạn, thì các nghĩa vụ liên quan đến hối phiếu sẽ tự động hết hiệu lực, tứcđược giải trái
1.2.3.2 Kỳ phiếu
Khái niệm: Theo Phan Thị Thu Hà (2015), “Kỳ phiếu là một cam kết trả tiền
vô điều kiện do một người phát hành hứa trả một số tiền nhất định cho một ngườikhác, hoặc trả theo lệnh của người này hoặc trả theo người cầm phiếu”
Nhìn chung về quy tắc lưu thông, thì hối phiếu và kỳ phiếu là giống nhau.Ta
có thể coi kỳ phiếu như là một hối phiều được chấp nhận bởi người trả tiền.Các điều
mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu đòi nợ cũng được áp dụng tương tự cho mộthối phiếu nhận nợ
1.2.3.3 Séc (Cheque)
a) Khái niệm: Theo Phan Thị Thu Hà (2015), “Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện
do mọt người (chủ tài khoản), ra lệnh cho ngân hang trích từ tài khoản của mìnhmột số tiền nhất định để trả cho người được chỉ định trên séc, hoặc trả theo lệnh củangười này, hoặc trả cho người cầm séc”
Về hình thức, séc là một văn bản giấy, được chia làm hai phần có dường cắtbằng răng cưa ở giữa đẻ tách rời, gồm:
-Phần cuống séc để người ký phát lưu những điều cần thiết
-Phần tách rời để trao cho người thụ hường
b) Các bên tham gia:
-Người ký phát séc(drawer): là người mua, người nhập khẩu, người nhậncung
ứng dịch vụ… đồng thời là chủ tài khoản ngân hàng, có nghĩa vụ trả tiền bằngcách
Trang 33ký phát séc trả cho người thụ hưởng.
-Người thụ hưởng (Benificiary): là người nhận tiền do người ký phát chỉ
địnhhay thông qua chuyển nhượng, thường là người xuất khẩu, người bán, chủ đầutư,hay người xuất trình séc uỷ quyền cho ngân hàng của mình tiến hành đòi tiền
-Ngân hàng trả tiền ở nước nhập khẩu:có nghĩa vụ kiểm tra tính hợp lệ củaséc
phát hành, điều kiện chuyển ngoại tệ ra nước ngoài (dựa trên hợp đồng, hoáđơn,B/L) và trích 1 khoản tiền từ tài khoản của người ký phát trả cho người thụhưởngthông qua ngân hàng đối tác hay ngân hàng đại lý để chuyển vào tài khoảncủangười thụ hưởng
-Ngân hàng đại lý: thường là ngân hàng bên nước người thụ hưởng, nhân danh
mình với chi phí của người uỷ thác thực hiện hoạt động được uỷ thác
c) Nội dung của tờ séc:
- Số tiền xác định: Số tiền ghi trên séc phải rõ ràng, ghi bằng số và bằngchữ,có ký hiệu tiền tệ Séc được coi là một lệnh trả tiền vô điều kiện một số tiềnnhấtđịnh, nghĩa là những người liên quan khi thực hiện quyền và nghĩa vụ củamìnhkhông được đặt ra bất kỳ điều kiện nào Như khi ngân hàng nhận được séc sẽphảichấp nhận vô điều kiện lệnh này, trả cho người thụ hưởng số tiền ghi trên séctrừtrường hợp tài khoản phát hành séc không còn tiền hoặc tờ séc không đầy đủ tínhchất pháp lý
- Người trả tiền theo lệnh của tờ séc phải là ngân hàng giữ tàikhoản phát hànhséc của khách hàng Nếu chỉ định người trả tiền khác, tờ séc khôngcó giá trị
- Thường tên, địa chỉ của ngân hàng trả tiền được ghi sẵn, cũngchính là nơingười ký phát mở tài khoản Và dựa vào địa chỉ này, người thụ hưởngcó thể tự cầmséc đến để thanh toán hoặc để ngân hàng thu hộ gửi séc Và đây cũnglà cơ sở để xácđịnh tòa án địa phương có quyền xét xử tố tụng khi có tranh chấp
- Séc có thời hạn hiệu lực lưu hành nên đâylà một yếu tố để xác định thời hạnxuất trình và thanh toán của tờ séc cũng như làcăn cứ để giải quyết các tranh chấpnếu có xảy ra giữa các bên liên quan đến séc
- Theo quy định, khi cung ứng séc trắng cho kháchhàng, ngân hàng phải ghi
họ tên, số hiệu tài khoản của chủ tài khoản trên tờ sécnhằm chống lạm dụng khi tờ
Trang 34séc bị thất lạc, trộm cắp cũng như giúp ngân hàng dễdàng tìm ra người ký phát màkhông cần khảo cứu chữ ký Chữ ký phải được thựchiện bằng tay của chính người
ký phát đúng với mẫu chữ ký đã đăng ký tại ngânhàng Nếu là tổ chức thì phải cóchữ ký của người đại diện kèm theo dấu của tổ chức đó
- Theo ULC 1931, một chứng từ nếu thiếu bất kỳ một trong những nội dungtrên đều không được xem là một tờ séc, ngoại trừ những trường hợp: Nếu không ghi
cụ thể, thì địa chỉ ghi bên cạnh tên người ký phát được xem làđịa điểm phát hànhséc Vì nếu có tranh chấp xảy ra khi áp dụng luật pháp người ký phát phải hiểu rõhơn luật của chính nước họ
1.2.3.3 Thẻ thanh toán
Trong thanh toán quốc tế hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã chuyển sang
sử dụng thẻ nhựa So với séc, thẻ nhựa có nhiều ưu điểm hơn nếu xét về phươngdiện rút tiền và thanh toán Tuy nhiên, đối tượng sử dụng thẻ thanh toán quốc tế chủyếu là khách hàng cá nhân
a) Khái niệm: Theo Phan Thị Thu Hà (2015), “Thẻ thanh toán là một phương tiện
thanh toán mà người sở hữu có thể dùng để thanh toán rút tiền tự động thông quamáy POS được lắp đặt ở các điểm chấp nhận thanh toán hay ở các máy rút tiền tựđộng được lắp nơi công cộng”
Hầu hết các loại thẻ quốc tế hiện nay đều bằng nhựa cứng có hình chữ nhậtcứng có hình chữ nhật chung một kích cỡ 96mm x 54mm x 0,76mm
- Mặt trước của thẻ bao gồm:
(1)Các logo của tổ chức phát hành thẻ,tên thẻ: VISA,JCB, DINERS CLUB…
(2)Biểu tượng của thẻ: được ngân hàng thiết kế và in lên bề mặt thẻ nên được coi làyếu tố an ninh
(3)Số thẻ: đây là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ, số được dập nổi trên mặt thẻ,nó sẽđược in lên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng
(4)Ngày hiệu lực của thẻ:là thời hạn mà thẻ được lưu hành
(5)Họ và tên của chủ thẻ: In bằng chữ nổi tên cá nhân nếu chủ thẻ là cá nhân hoặc têncông ty nếu chủ thẻ là công ty
- Mặt sau của thẻ bao gồm:
Trang 35(1)Dải băng từ: lưu trữ thông tin về số thẻ,ngày phát hành thẻ, tên chủ thẻ, tên ngânhàng phát hành, mã số bí mật cá nhân(PIN)
(2)Băng chữ ký:trên băng giấy này là chữ ký của chủ thẻ
(3)Số thẻ: có thể được in lại một lần nữa
- Căn cứ vào tính chất thanh toán, thẻ được chia làm 3 loại:
Thẻ tín dụng (credit card): được sử dụng phổ biến Chủ thẻ được phép sử dụngmột hạn mức tín dụng nhưng phải trả lãi để mua sắm tại những cơ sở kinh doanhchấp nhận loại thẻ này
Thẻ ghi nợ(debit card): là loại thẻ cosquan hệ trực tiếp và gắn liền với tàikhoản tiền gửi.loại thẻ này khi dùng đê mua hàng sẽ được khấu trừ ngay lập tức vàotài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử được đặt tại các cơ sở kinhdoanh Thẻ ghi nợ còn được dùng để rút tiền tại máy rút tiền tự động Thẻ không cóhạn mức tín dụng vì phụ thuộc vào số dư hiện có trên tài khoản của chủ thẻ
Thẻ rút tiền mặt (cash card): được dùng đê rút tiền mặt tại các máy tự độnghoặc ở ngân hàng
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, thẻ được chia làm 2 loại:Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia,dovậy, đồng tiền giao dịch là đồng tiền bản tệ của nước đó
Thẻ quốc tế: là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các ngoại tệmạnh để thanh toán.nó được khách du lịch rất ưa chuộng vì sự an toàn, tiện lợi tuynhiên,do phạm vi sử dụng rộng nên quy trình hoạt động của thẻ này phức tạp hơn
Trang 36Trên thực tế, các ngân hàng thường áp dụng song song cả hai loại thẻ trongnước và quốc tế
1.2.4 Đặc điểm dịch vụ thanh toán quốc tế
- Dịch vụ TTQT có tác động qua lại và quan hệ mật thiết với các hoạt động kinh tếquốc tế Hoạt động kinh tế quốc tế có phát triển thì mới kéo theo sự phát triển củadịch vụ TTQT và ngược lại, dịch vụ TTQT phát triển tạo điều kiện thuận lợi choquá trình trao đổi giao thương quốc tế
- Dịch vụ TTQT mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng ngoài phạm vi quốc gia, do
đó, nó không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia nơi ngân hàng đó đượcthành lập và đặt trụ sở chính mà còn phải tuân thủ theo luật pháp quốc tế, thông lệquốc tế trong kinh doanh nghiệp vụ này
- Các chủ thể tham gia vào dịch vụ TTQT rất đa dạng, bao gồm các khách hàng ởcác quốc gia khác nhau, vì vậy, các ngân hàng phục vụ cũng ở các quốc gia khácnhau Giữa các chủ thể này tiềm ẩn nhiều lợi ích, mâu thuẫn và tập quán khác nhauđòi hỏi được dung hòa và giải quyết
- Do khách hàng của ngân hàng ở các quốc gia khác nhau nên trong dịch vụ TTQT
sẽ sử dụng nhiều loại tiền tệ khác nhau miễn sao các bên chấp nhận, vì vậy, nghiệp
vụ TTQT có quan hệ mật thiết với thị trường ngoại hối và chịu sự tác động mạnh
mẽ của yếu tố tỷ giá, dự trữ ngoại tệ của mỗi quốc gia…
- Ngân hàng cung ứng các dịch vụ TTQT luôn phải đương đầu với rủi ro cao, tiềm
ẩn, phức tạp, khó kiểm soát cả trong và ngoài nước Tuy nhiên, rủi ro luôn tỷ lệthuận với lợi nhuận Thực tế lợi nhuận từ nghiệp vụ TTQT thường rất cao và chiếmmột tỷ lệ không nhỏ trong thu nhập của NHTM
- Xuất phát từ tính rủi ro và lợi nhuận cao của dịch vụ TTQT, nên những NHTMhoạt động trong lĩnh vực này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ, kinhnghiệm, giỏi ngoại ngữ, am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau, nhạy bén với mọi biếnđộng của thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế
- Chủ thể của hoạt động thanh toán quốc tế là những bên có trụ sở đặt tại các quốcgia khác nhau, chịu sự chi phối điều chỉnh của luật pháp ở các quốc gia khác nhau.Luật quốc gia đã trở thành nền tảng pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các pháp nhân
Trang 37tham gia hoạt động thanh toán quốc tế, dù đó là người xuất khẩu - người nhậpkhẩu, Ngân hàng hay khách hàng tham gia hoạt động thanh toán quốc tế.
- Bên cạnh đó, hoạt động thanh toán quốc tế còn chịu sự chi phối, điều chỉnhcủa luật pháp quốc tế, cụ thể hoá tại nhiều văn bản, quy phạm pháp luật quốc tếnhư: Các điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms 2010), Quy tắc thực hànhthốngnhất tín dụng chứng từ (Bản sửa đổi 1993, Phòng Thương mại Quốc tế Paris
– UCP600), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (1995 - URC 522)
- Tiền tệ dùng để thanh toán giữa hai bên là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên
Những đặc điểm cơ bản trên đã tạo nên đặc thù riêng của hoạt động thanh toánquốc tế trong các ngân hàng thương mại
1.2.5 Vai trò của dịch vụ TTQT đối với NHTM
Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh và dịch vụ NH trongnước, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đã mở ra cánh của ngoại thương tạođiều kiện cho nghiệp vụ NH quốc tế ra đời và phát triển, trong đó TTQT ngày càngthể hiện vai trò quan trọng trong bối cảng cạnh tranh quyết liệt giữa các NH Có thểnói, TTQT là một mặt không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh NH, nó bổ sung
và hỗ trợ cho các mặt hoạt động kinh doanh khác của NH, thể hiện trên các mặt:
1.2.5.1 Đối với khách hàng
- Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trìnhthanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, antoàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí
- Dịch vụ TTQT cũng là cầu nối tạo nên mối quan hệ giữa doanh nghiệp và kháchhàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàngtrong trường hợp cần tài trợ, được hỗ trợ về mặt nghiệp vụ thanh toán thông quaviệc tư vấn, hướng dẫn Đồng thời cũng giúp doanh nghiệp hạn chế tối đa rủi ro cóthể xảy ra trong quá trình thực hiện thanh toán với đối tác nước ngoài
- Thông qua nghiệp vụ TTQT giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanhXNK và mở rộng quan hệ giao dịch, tìm kiếm cơ hội làm ăn với các doanh nghiệpcủa các nước trên thế giới
Trang 381.2.5.2 Đối với nền kinh tế
- Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đấtnước Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tíchlũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sức mạnhtrong nước với môi trường kinh tế quốc tế
- TTQT là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân.TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cánhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau TTQT góp phần giải quyết mối quan
hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quátrình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế
- TTQT làm tăng cường các mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, giúp choquá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm bớt chi phí chocác chủ thể tham gia
- TTQT thúc đẩy sự giao lưu, học hỏi, phát triển giữa các NHTM của các nước trênthế giới với nhau Và cũng thông qua đó có sự trao đổi, cho vay ngoại tệ lẫn nhauvới chi phí và giá thấp
- TTQT giúp các nước tập trung quản lý và sử dụng nguồn ngoại tệ một cách hợp lý,tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả cơ chế quản lý ngoại hối của quốc gia, quản lýhiệu quả các hoạt động XNK theo chính sách ngoại thương đã đề ra
1.2.5.3 Đối với bản thân các NHTM
- TTQT là một loại nghiệp vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của ngân hàng Hoạtđộng nghiệp vụ TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của kháchhàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT Trên cơ sở đó giúp ngân hàngtăng doanh thu, nâng cao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho kháchhàng
- Dịch vụ TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụTTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của cácdoanh nghiệp có quan hệ TTQT với các ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹchờ thanh toán
- Dịch vụ TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng Các ngân hàng
Trang 39sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động dịch vụ TTQT được thực hiện nhanhchóng, kịp thời và chính xác, tương thích với hệ thống CNTT các ngân hàng trênthế giới, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng.
- Dịch vụ TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại, quan hệ ngân hàng đại
lý của ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tíncủa mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngânhàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu
về vốn của các NHTM
1.2.6 Vai trò của TTQT đối với nền kinh tế.
Trong xu thế kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá, các quốc gia đang rasức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập, thanh toán quốc tếnổilên như là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với phần kinh tế thế giới bênngoài Thanh toán quốc tế có vai trò to lớn đối với nền kinh tế, cụ thể như sau:
(1) TTQT đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: TTQT là một khâu rất quan trọng trong hoạt
động ngoại thương Thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, các luồng hàng hoá,dịch vụ được dịch chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác và kéo theo nó là sự dichuyển luồng tiền giữa các quốc gia Do đó, hoạt động TTQT có tác dụng bôi trơn
và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thuhút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác
(2) TTQT là điều kiện để thúc đẩy hàng hoá phát triển: Thông qua hoạt động
TTQT, các chủ thể kinh doanh mua bán được các hàng hoá, dịch vụ Điều đó đảmbảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành bình thường, lưu thông hàng hoá dịch
vụ được thông suốt Vì vậy không có hoạt động thanh toán quốc tế phát triển thì sảnxuất và lưu thông hàng hoá không thể phát triển được Hơn nữa, TTQT góp phần
mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức hưởng thụ của cá nhân và doanhnghiệp, thúc dẩy sản xuất và mở rộng phân công lao động xã hội
(3) TTQT có vai trò là cầu nối gắn kết kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thực hiện chính sách kinh tế mở cửa: Cùng với sự phát triển của phân
Trang 40công lao động xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nên mạng lưới thanh toánquốc tế ngày càng được mở rộng, đồng thời, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nướcngày càng tăng Vì vậy có thể nói TTQT đã có từ lâu đời, nó tồn tại như một yếu tốkhách quan và sự phát triển của nó gắn liền với sự phát triển văn minh xã hội loàingười.
(4) TTQT là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước : Hoạt động TTQT đã khai thác triệt để lợi thế so sánh của mỗi quốc
gia, đạt quy mô tối đa cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngànhkinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩycác nhân tố phát triển theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các côngnghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quảcủa nền kinh tế quốc dân
(5) TTQT góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập: Việt Nam đang từng bước
mở cửa và tham gia ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới: từ quan hệsongphương tới quan hệ đa phương và đỉnh cao là gia nhập vào Tổ chức thương mạithế giới (WTO – World Trade Organization) vào cuối năm 2006 Hòa mình vào xuthế hội nhập khu vực và thế giới với chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất cảcác nước” thì hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng trở nên sôi động và có nhữngchuyển biến vô cùng mạnh mẽ, hoạt động ngoại thương luôn được giữ vị trí trungtâm, ưu tiên phát triển hàng đầu nhằm tạo ra những tiền đề vững chắc trong quá trìnhphát triển kinh tế đất nước Với vai trò là khâu kết thúc của một giao dịch mua bánhàng hóa và dịch vụ, TTQT đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy hoạt độngngoại thương phát triển nói riêng và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung
1.2.7 Rủi ro trong dịch vụ thanh toán quốc tế
Rủi ro trong hoạt động TTQT tại NHTM là khả năng xảy ra những biến cốkhông mong đợi trong hoạt động TTQT tại NHTM mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất
về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ rathêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ TTQT nhất định Các loại rủi ro trong hoạt động TTQT chia theo nguyên nhân phát sinh, có thểphân ra thành; Rủi ro thị trường, Rủi ro tín dụng, Rủi ro hoạt động, Rủi ro thanh khoản