LUẬN văn THẠC sỹ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ THANH TOÁN QUỐC tế tại NHTM cổ PHẦN sài gòn. LÝ THUYẾT VỀ LUẬN văn THẠC sỹ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ THANH TOÁN QUỐC tế tại NHTM cổ PHẦN sài gòn . THỰC TRẠNG VỀ LUẬN văn THẠC sỹ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ THANH TOÁN QUỐC tế tại NHTM cổ PHẦN sài gòn . GIẢI PHÁP VỀ LUẬN văn THẠC sỹ PHÁT TRIỂN DỊCH vụ THANH TOÁN QUỐC tế tại NHTM cổ PHẦN sài gòn
Trang 1
Thương mại quốc tế là một xu thế tất yếu đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới để phát triển nền kinh tế đất nước Hoạt động mua bán giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ ngày càng trở nên sôi động và thật sự mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn cho các bên tham gia Các dịch vụ NHTM hiện đại theo đó cũng được mở rộng và phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế, trong đó có dịch vụ thanh toán quốc tế
Là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi hoạt động kinh doanh của NHTM, dịch vụ TTQT ngày càng chứng tỏ vị trí và vai trò quan trọng của mình Đây không chỉ đơn giản là lựa chọn một phương thức thanh toán phù hợp hay sử dụng một phương tiện thanh toán thông dụng nào đó Yêu cầu đặt
ra là dịch vụ TTQT phải được thực hiện nhanh chóng, an toàn, chính xác và đạt hiệu quả đối với cả KH và NHTM, hay chính là chất lượng TTQT Chất lượng dịch vụ TTQT trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển vốn, giảm thiểu rủi ro liên quan, tới khả năng thanh toán của KH, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt động ngoại thương của mỗi nước
Dịch vụ TTQT ngày nay đã trở thành một nghiệp vụ phổ biến tại nhiều NHTM, mang lại nguồn thu dịch vụ lớn, nâng cao vị thế của các NH trong quan hệ kinh tế quốc tế Tuy nhiên Ngân Hàng TMCP Sài Gòn (SCB) mới chỉ chính thức được NHNN cấp phép triển khai dịch vụ TTQT trực tiếp từ năm
2006 Chính sự sinh sau đẻ muộn này khiến NH gặp không ít khó khăn Qua một thời gian làm việc tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn, tôi nhận thấy quy mô
và thị phần dịch vụ TTQT tại SCB còn nhỏ, KH sử dụng dịch vụ còn ít, chưa thường xuyên Việc nghiên cứu thực trạng hiện tại, tìm ra những giải pháp
Trang 2nhằm phát triển dịch vụ TTQT cho SCB là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình phát triển của SCB nói chung và của dịch vụ TTQT nói
riêng Từ nhận thức đó tôi chọn đề tài “Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn” làm đề tài nghiên cứu cho luận
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn trong giai đoạn 2009 – 2013
4 P ươ á u
Luận văn sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý thông tin số liệu theo chỉ tiêu: phương pháp so sánh, tổng hợp, trên cơ sở các số liệu thống kê của Ngân hàng TMCP Sài Gòn và một số NHTM khác
Dựa trên nền tảng lý luận, thực tiễn của những đề tài nghiên cứu trước
đó có liên quan, luận văn đã kế thừa, phân tích và đánh giá thực trạng từ đó đưa ra giải pháp phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình
* Ý ĩ k o ọc và thực tiễn c tài
Đề tài đã tổng hợp được các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Trang 3Dựa trên cơ sở lý luận, và thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc
tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn để phân tích và đánh giá tiến trình phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
Đề xuất một số giải pháp để phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
5 K t c u c a luậ ă
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại
CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
CHƯƠNG 3: Các giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
6 Tổng quan tài liệu nghiên c u
Dịch vụ thanh toán quốc tế hiện đang có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng với nhau, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khối ngân hàng ngoại đang phát triển rất mạnh hoạt động này Đối với một ngân hàng bán lẻ, dịch
vụ thanh toán quốc tế trở thành chiến lược lâu dài và là mục tiêu kinh doanh Hoạt động này đã được nhiều tác giả nghiên cứu và xuất bản nhiều giáo trình mang tính chất cơ sở lý luận
Đề tài dịch vụ thanh toán quốc tế đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó định hướng về mặt giải pháp và phát triển, mở rộng được nhiều tác giả lựa chọn và đề cập đến ở một số các nghiên cứu trước đây như:
Luận văn “ Phát triển doanh số và thị phần thanh toán quốc tế của ngân hàng TMCP Á Châu” của tác giả Trương Thị Quỳnh Hân, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
Trang 4Luận văn “Mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Khánh Hòa” của tác giả Phạm Thị Ngọc Loan, trường Đại học Đà Nẵng, năm 2012
Luận văn “Chiến lược marketing cho dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng Sacombank” của tác giả Trương Minh Trung, trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009
Luận văn “ Phát triển doanh số và thị phần thanh toán quốc tế của ngân hàng TMCP Á Châu” của tác giả Trương Thị Quỳnh Hân đã đưa ra những lý luận cơ bản về dịch vụ thanh toán quốc tế và phát triển thị phần thanh toán quốc tế, đồng thời đúc kết những kinh nghiệm của một số ngân hàng lớn trên thế giới trong việc phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế; ngoài ra luận văn đã xác định các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả hoạt động thông qua đó phân tích chi tiết tình hình hoạt động, doanh số và thị phần thanh toán quốc tế; tác giả cũng đã nêu ra được những cơ hội, thách thức, điểm yếu và điểm mạnh của ACB, cho thấy khả năng cạnh tranh trong hoạt động thanh toán quốc tế của ACB so với các ngân hàng khác; từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần tăng trưởng nhanh doanh số, mở rộng được thị phần thanh toán quốc tế của ACB
Với đề tài “Mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Khánh Hòa” tác giả Phạm Thị Ngọc Loan đã tổng hợp một cách có hệ thống các vấn
đề liên quan đến thanh toán quốc tế cũng như phương thức tín dụng chứng
từ Luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại một chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô trung bình Tác giả Phạm Thị Ngọc Loan cũng đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP
Trang 5An Bình – CN Khánh Hòa
Luận văn “Chiến lược marketing cho dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng Sacombank” của tác giả Trương Minh Trung đã khái quát những lý luận cơ bản về dịch vụ và marketing dịch vụ, cũng như đúc kết những kinh nghiệm của một số ngân hàng lớn trên thế giới trong việc phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế Tác giả phân tích thực trạng hoạt động dịch vụ thanh toán quốc tế của Sacombank , đồng thời phân tích những nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thanh toán quốc tế của Sacombank, rồi từ đó xây dựng được chiến lược Marketing cụ thể để phát triển, mở rộng thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại Sacombank
Ở những luận văn này, các tác giả đã tổng hợp được những lý luận cơ bản về dịch vụ thanh toán quốc tế, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp dựa trên những hạn chế tồn tại trong thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế Nhưng những luận văn này vẫn chưa đưa ra được cái nhìn tổng quan và chỉ ra một tiến trình để phát triển nó dưới góc độ của một nhà quản trị Ngoài ra, các đề tài này chưa nêu bật được nội dung về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế, các chỉ tiêu đánh giá chưa cụ thể và phần phân tích thực trạng chưa đầy đủ, bám sát với nội dung phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế, nên các giải pháp đưa ra còn mang tính chung chung
Bên cạnh đó những khó khăn khi gia nhập thị trường muộn trong môi trường cạnh tranh gay gắt như trường hợp của Ngân Hàng TMCP Sài Gòn cũng chưa được nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể
Dựa trên cơ sở nền tảng của những nghiên cứu trước đó, luận văn “ Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn” đã kế thừa và đánh giá hoạt động này dựa trên góc độ của nhà quản trị về tiến trình phát triển
Trang 6cầu nối trung gian giữa các bên
Như vậy, Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan
Từ khái niệm trên cho thấy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động
là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục
vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực là: Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch)
và Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch)
Thanh toán ngoại thương (mậu dịch) là quan hệ thanh toán phát sinh
Trang 7trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế Thông thường, trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa kèm theo Các bên mua – bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc bằng một hình thức cam kết khác Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại phát sinh
Thanh toán phi ngoại thương (phi mậu dịch) là quan hệ thanh toán phát
sinh không liên quan đến hàng hóa, không mang tính thương mại Đó là những chi phí của cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí
về vận chuyển và đi lại của cá tổ chức, cá nhân, chi phí học tập, chữa bệnh ở nước ngoài…
a Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (Người chuyển tiền) yêu cầu NH phục vụ mình, chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (Người thụ hưởng) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời
Trang 8Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T): là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện
trong nội dung một bức điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng điện tín TELEX
hay mạng SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication)
Về quy trình nghiệp vụ chuyển tiền
Các bên tham gia gồm có:
Người chuyển tiền: là người ra lệnh cho NH chuyển tiền ra nước ngoài Người thụ hưởng: là người được trả tiền, nhận tiền từ người chuyển Ngân hàng chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền
Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng
Trang 9(3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định, nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, NH thực hiện trích tài khoản
để chuyển tiền và gửi báo nợ cho người chuyển tiền
(4) Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng M/T hoặc T/T) gửi đến ngân hàng đại lý của mình để ghi có cho ngân hàng trả tiền
(5) Ngân hàng trả tiền tiếp tục thực hiện ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng đồng thời gửi báo có cho người thụ hưởng
Ưu điểm của phương thức chuyển tiền đối với khách hàng là thủ tục chuyển tiền đơn giản, thuận lợi, chi phí thấp, thời gian chuyển tiền ngắn nên
người thụ hưởng có thể nhanh chóng nhận được tiền Ở phương thức này, NH
chỉ tham gia với vai trò là trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng phí dịch vụ, không bị ràng buộc bởi bất kỳ trách nhiệm gì đối với người chuyển tiền và người thụ hưởng
Bên cạnh đó, phương thức chuyển tiền cũng có nhược điểm, gây rủi ro đối với các bên tham gia Trường hợp chuyển tiền trước khi giao hàng, nhà
NK có thể chịu rủi ro nếu nhà XK không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo cam kết trong hợp đồng ngoại thương, làm ảnh hưởng kế hoạch sản xuất kinh doanh Và trong trường hợp trả tiền sau, việc nhận được tiền thanh toán của nhà XK hoàn toàn bị lệ thuộc vào thiện chí và uy tín thanh toán của nhà NK
b Phương thức nhờ thu (Collection)
Nhờ thu là một phương thức thanh toán theo đó, người bán (nhà XK) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình BCT thông qua ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà NK) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các
điều kiện và điều khoản khác
Trong phương thức này, NH ở cả hai bên nước nhà NK và nhà XK chỉ
Trang 10tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ, NH không cam kết hay bảo lãnh thanh toán đối với người bán và người mua
Về quy trình nghiệp vụ nhờ thu
Các bên tham gia trong phương thức nhờ thu gồm có:
Người ủy thác (principal): là người yêu cầu NH phục vụ mình thu hộ
tiền
Ngân hàng nhờ thu (Remitting Bank): là NH chuyển Nhờ thu theo yêu cầu của Người ủy thác đến Ngân hàng đại lý hay Ngân hàng thu hộ để thu tiền
Ngân hàng thu hộ (Collecting Bank): là NH thực hiện thu tiền từ Người trả tiền khi nhận được chỉ thị Nhờ thu từ Ngân hàng nhờ thu
Ngân hàng xuất trình (Presenting Bank): là NH trao chứng từ cho Người trả tiền để thu tiền
Người trả tiền (Drawee): là người mà Nhờ thu được xuất trình đến yêu cầu thanh toán hay chấp nhận thanh toán
Căn cứ vào nội dung chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà người ta chia phương thức thanh toán này ra thành các loại: nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu chứng từ, cụ thể như sau:
Nhờ thu phiếu trơn (Clean collections): Là phương thức thanh toán
trong đó, chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hoá đơn, bảo hiểm…) được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu, không thông qua ngân hàng
Trang 11Quy trình nhờ thu phiếu trơn:
(5) Ngân hàng thu hộ thông báo tiếp tới nhà NK
(6) Nhà NK lập lệnh thanh toán hoặc hối phiếu chấp nhận thanh toán (7) Ngân hàng thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận cho ngân hàng nhờ thu
(8) Ngân hàng nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, cho nhà XK
Nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức thanh toán trong đó người bán
uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở BCT BCT nhờ
(4)
Trang 12thu bao gồm yêu cầu đòi tiền (hối phiếu) và chứng từ thương mại Có 2 dạng
cơ bản:
Nhờ thu kèm chứng từ dạng D/A (Document Collection D/A): Điều kiện
để người mua được nhận BCT thương mại đi nhận hàng là phải ký chấp nhận thanh toán hối phiếu tại một thời điểm nhất định trong tương lai với chỉ thị rằng “Document against Acceptance – D/A” Trong phương thức này rủi ro thanh toán vẫn thuộc về người bán vì nhà NK nhận hàng chỉ với lời hứa sẽ
thanh toán trong tương lai, còn việc thanh toán hay không thì chưa chắc chắn
Nhờ thu kèm chứng từ dạng D/P (Document Collections D/P): Điều kiện
để người mua nhận BCT thương mại là thanh toán chứng từ “Document against Payment – D/P” Do BCT chỉ trao cho nhà NK khi NH nhận được thanh toán nên rủi ro đối với nhà XK có giảm so với phương thức D/A vì nếu nhà NK không thanh toán thì nhà XK vẫn còn nguyên quyền định đoạt hàng hoá
(1) Hai bên ký kết hợp đồng mua bán, trong đó quy định điều khoản
thanh toán sử dụng phương thức Nhờ thu kèm chứng từ
(2) Nhà XK giao hàng cho nhà NK theo quy định của hợp đồng
Trang 13(3) Nhà XK gửi đơn yêu cầu nhờ thu cùng BCT tới ngân hàng nhờ thu (4) Ngân hàng nhờ thu gửi Chỉ thị nhờ thu cùng BCT đến ngân hàng thu hộ
(5) Ngân hàng thu hộ thông báo Nhờ thu cho nhà NK và yêu cầu thanh toán hoặc chấp nhận hối phiếu để đổi lấy chứng từ nhận hàng
(6) Nhà NK gửi lệnh thanh toán hoặc hối phiếu chấp nhận thanh toán đến ngân hàng thu hộ
(7) Ngân hàng thu hộ trao BCT hàng hoá để nhà NK đi nhận hàng (8) Ngân hàng thu hộ chuyển giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận cho ngân hàng nhờ thu
(9) Ngân hàng nhờ thu chuyển trả giá trị nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, cho nhà XK
Ưu điểm của phương thức nhờ thu là Nhà NK có thể kiểm tra BCT tại
NH xuất trình trước khi thanh toán hay chấp nhận thanh toán Đối với nhờ thu theo điều kiện D/A, nhà NK được sử dụng hay bán hàng hoá mà chưa phải thanh toán cho đến khi hối phiếu đến hạn Ngoài ra, sử dụng phương thức nhờ
thu chi phí thấp hơn so với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Bên cạnh đó, phương thức này cũng có những nhược điểm, đó là đối
với phương thức nhờ thu phiếu trơn, quyền lợi của bên bán không đảm bảo vì việc nhận hàng và việc thanh toán tách biệt nhau, phụ thuộc vào thiện chí của nhà NK Còn đối với nhờ thu kèm chứng từ, nhà XK tuy vẫn giữ quyền sở hữu hàng hóa cho đến khi nhà NK thanh toán hay chấp nhận thanh toán để lấy chứng từ đi nhận hàng, nhưng nhà XK có thể gặp rủi ro nếu người mua không muốn nhận hàng (do biến động thị trường, tình hình tài chính …) trong khi hàng hóa đã được gửi đến quốc gia của nhà NK Nhà NK có thể gặp rủi ro về tính xác thực của BCT nhờ thu Ngoài ra, người mua có thể phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền trong khi hàng hóa không được gửi đi hoặc giao hàng
Trang 14không đúng số lượng, chất lượng trong hợp đồng, hoặc thậm chí không được nhận hàng do BCT bị làm giả Trong phương thức này chưa sử dụng hết chức năng của NH và NH chỉ đơn thuần làm trung gian thanh toán và thu phí, không có nghĩa vụ kiểm tra nội dung chứng từ, không chịu trách nhiệm về việc thanh toán của người mua
c Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit – L/C)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó theo yêu cầu của KH (người yêu cầu mở thư tín dụng), một NH (NH phát hành thư tín dụng) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of credit), theo đó NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba (người thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho NHPH một bộ chứng từ thanh toán
phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong L/C
Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ
Các bên tham gia gồm có:
Người yêu cầu mở L/C (Applicant): nhà NK hàng hoá
Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): nhà XK hay người khác được chỉ định hưởng lợi
Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): NH thực hiện phát hành L/C theo đơn của nhà NK
Ngân hàng thông báo (Advising Bank): NH nhận L/C và thực hiện thông báo L/C cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành
Ngân hàng thương lượng (Negotiating Bank): NH thực hiện thương lượng BCT và gửi đến ngân hàng phát hành để đòi tiền
Ngoài ra, tùy trường hợp có thể có sự tham gia của ngân hàng xác nhận, ngân hàng chỉ định, ngân hàng hoàn trả…
Trang 15(4) NHTB thực hiện thông báo L/C bằng văn bản cho nhà XK
(5) Căn cứ vào nội dung của các điều khoản L/C, nhà XK tiến hành giao hàng
(6) Sau khi giao hàng, nhà XK lập BCT thương mại và tài chính gửi tới NHTL (NH phục vụ mình) để gửi đi yêu cầu thanh toán
(7) NHTL xác nhận kiểm tra kỹ BCT phù hợp theo đúng các điều khoản trong L/C, tiến hành lập Thư đòi tiền gửi cùng BCT đến NHPH để yêu cầu thanh toán
(8) (10)
(11)
(3)
(2)
Trang 16(8) NHPH kiểm tra kỹ các chứng từ nhận được, nếu thấy phù hợp với các điều kiện và điều khoản ghi trong L/C thì tiến hành thanh toán cho nhà
XK thông qua NH phục vụ nhà XK
(9) NHTL sau khi nhận tiền thanh toán từ NHPH, tiến hành báo có cho người thụ hưởng
(10) Nhà NK trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán lên hối phiếu
(11) NHPH giao BCT cho nhà NK sau khi được nhận được thanh toán hoặc hối phiếu chấp nhận thanh toán
Phương thức tín dụng chứng từ có những ưu điểm đối với các bên tham
gia như sau: Đối với người mua, phương thức L/C giúp người mua có thể tiết
kiệm thời gian, công sức trong việc tìm kiếm đối tác uy tín và tin cậy để mở rộng nguồn cung cấp hàng hoá Quyền lợi của người mua được đảm bảo, chỉ khi người bán thực sự giao hàng đúng theo hợp đồng đã ký kết thì mới phải thanh toán tiền Đối với người bán thì người bán được NHPH đảm bảo thanh toán nếu BCT hoàn toàn phù hợp với L/C, kể cả trong trường hợp người mua không có khả năng thanh toán Do vậy, nhà XK được thu hồi vốn nhanh
chóng Còn đối với ngân hàng, ngoài các khoản phí dịch vụ liên quan đến
L/C, NH còn thực hiện được một số nghiệp vụ khác như cho vay XNK, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ Thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò
của NH trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng
Về nhược điểm của phương thức này, quy trình nghiệp vụ L/C tương đối phức tạp, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán Đối với NHPH, sai sót
trong việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất lớn Hơn nữa, chi phí
dịch vụ mà cả nhà XK và nhà NK phải trả rất cao gồm: phí phát hành L/C, tu chỉnh L/C, phí thông báo LC, phí thanh toán, phí bất hợp lệ, phí xác nhận, phí
Trang 17bồi hoàn (nếu có), phí chấp nhận thanh toán …
d Phương thức trả tiền lấy chứng từ (Cash Against Document)
Giao chứng từ nhận tiền (Cash against documents – CAD) là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu dựa trên cơ sở hợp đồng ngọai thương sẽ yêu cầu ngân hàng bên nhà xuất khẩu mở một tài khoản tín thác (Trust account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu khi xuất trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận
Quy trình nghiệp vụ CAD
(1) Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu
(4) (7) (2) (3) (5) (6)
(3) Ngân hàng thông báo về việc nhà nhập khẩu đã ký quỹ cho nhà xuất khẩu
(4) Nhà xuất khẩu giao hàng cho nhà nhập khẩu theo thỏa thuận trong hợp đồng
(5) Nhà xuất khẩu lập chứng từ xuất trình cho ngân hàng
Trang 18(6) Ngân hàng kiểm tra chứng từ, nếu phù hợp thì thanh toán cho nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu, quyết toán tài khoản tín thác Trên cương vị là nhà nhập khẩu thì phương thức này không có lợi vì ứ đọng vốn tại ngân hàng, nhưng đó là một phương thức ít rủi ro cho nhà xuất khẩu
Trên cương vị là nhà nhập khẩu thì phương thức này không có lợi vì ứ đọng vốn tại ngân hàng, nhưng đó là một phương thức ít rủi ro cho nhà xuất
khẩu
Trên đây là các phương thức TTQT cơ bản mà hiện tại các NHTM đang áp dụng Mỗi phương thức thanh toán đều có những ưu và nhược điểm riêng đối với các bên tham gia Tùy vào đặc thù của từng quan hệ ngoại thương mà các bên tham gia thỏa thuận lựa chọn phương thức thanh toán nào phù hợp để giao dịch
1.1.3 Vai trò của thanh toán quốc tế
a Đối với hoạt động của Ngân hàng thương mại
TTQT là hoạt động trực tiếp tạo ra một khoản lợi nhuận không nhỏ đóng góp vào lợi nhuận chung của NH Thông qua việc cung cấp dịch vụ TTQT cho KH, các NH thu được phí dịch vụ chuyển tiền đi và đến, các phí liên quan đến tín dụng chứng từ và nhờ thu như phí thông báo, phát hành, thanh toán Thực tế cho thấy, đối với các NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ có xu hướng ngày một tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng thu nhập hoạt động của NH Hoạt động TTQT giúp NH đáp ứng tốt hơn nhu cầu
đa dạng của KH về các dịch vụ tài chính có liên quan tới TTQT, tăng doanh thu cho NH, nâng cao uy tín và tạo dựng niềm tin nơi KH Điều đó không chỉ giúp NH mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của NH trong cơ chế thị trường
Trang 19TTQT không chỉ là một nghiệp vụ NH thuần tuý mà còn đóng vai trò là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khác của NHTM nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động này Nhờ đẩy mạnh hoạt động TTQT, các NHTM có thể tăng cường khả năng thu hút vốn ngoại tệ từ việc thực hiện thanh toán thu tiền về cho KH đến việc quản lý nguồn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi trên tài khoản tiền gửi của KH có quan hệ TTQT với NH hoặc dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán, làm tăng tính thanh khoản cho NH, đáp ứng được nhu cầu vay và thanh toán bằng ngoại tệ của KH Với vai trò là trung gian thanh toán, TTQT góp phần phát triển và đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tài trợ XNK, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh NH và các dịch vụ khác, từ
đó tăng quy mô hoạt động và mở rộng thị phần của NHTM
TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong hoạt động NH Thông qua việc tham gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý giao dịch TTQT nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới NHTM, giúp cho NH có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không bị lạc hậu và thua kém các NH nước ngoài
Phát triển TTQT tạo điều kiện cho các NH mở rộng quan hệ với các
NH nước ngoài, nâng cao uy tín và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế cũng như uy tín đối với KH trong và ngoài nước, từ đó khai thác được các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế cũng như các NH nước ngoài, đáp ứng nhu cầu về vốn trong kinh doanh TTQT phát triển góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của NHTM trong cơ chế thị trường, đồng thời giúp cho hoạt động NH vượt ra khỏi phạm vi quốc gia
b Đối với khách hàng
Trang 20Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của KH được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu KH không có đủ khả năng tài chính cần đến sự hỗ trợ vốn thì NH có thể chiết khấu BCT Qua việc thực hiện thanh toán, NH còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn giúp KH điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp
c Đối với nền kinh tế
Để góp phần đẩy nhanh quá trình hợp tác quốc tế của quốc gia, TTQT trở thành cầu nối giữa các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác; thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế; thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế; làm tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, đồng thời thu hút một lượng ngoại tệ đáng kể vào Việt Nam Hoạt động TTQT ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung
TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân giữa các quốc gia khác nhau Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toán, chính xác sẽ giải quyết được mối quan hê lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa người mua và người bán một cách trôi chảy và hiệu quả Về giác độ kinh doanh, người mua thanh toán, người bán giao hàng thể hiện chất lượng của một chu kỳ kinh doanh, phản ánh hiệu quả kinh tế và tài chính trong hoạt động của các doanh nghiệp
1.1.4 Rủi ro trong thanh toán quốc tế
Trang 21Trong dịch vụ thanh toán quốc tế thường gặp các rủi ro bao gồm: rủi ro thương mại, rủi ro đạo đức, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý, rủi ro ngoại hối, rủi
Rủi ro đạo đức là rủi ro xảy ra khi một bên cố tình không thực hiện
nghĩa vụ của mình gây thiệt hại đến quyền lợi của người khác
Rủi ro quốc gia là rủi ro liên quan đến những thay đổi về chính trị, kinh
tế, chính sách quản lý ngoại hối, ngoại thương của một quốc gia dẫn đến nhà
XK không nhận được tiền hàng còn nhà NK không nhận được hàng hóa hay gây tổn thất tài chính cho ngân hàng tham gia
Rủi ro pháp lý là rủi ro gây thiệt hại đối với một hoặc nhiều bên trong
trường hợp xảy ra tranh chấp, khiếu kiện của hoạt động TTQT do môi trường pháp lý, luật pháp của các nước khác nhau hay luật quốc gia có những vấn đề mâu thuẫn với thông lệ quốc tế
Rủi ro ngoại hối là rủi ro khi việc thanh toán được ấn định bằng ngoại
tệ nào đó, khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong các bên tham gia
Rủi ro tác nghiệp là rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia
gây nên, đặc biệt xảy ra nhiều trong phương thức L/C xuất phát từ trình độ ngoại thương và TTQT còn yếu, trình độ nghiệp vụ và ý thức thực hiện nghiệp vụ của các bên tham gia
Trang 22Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi khách hàng không có khả năng
thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã được ngân hàng bảo lãnh, hoặc không thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi các khoản tiền đã vay, đã chiết khấu,
đã tài trợ,… tại ngân hàng
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG HƯƠNG ẠI
1.2.1 Quan điểm và nội dung phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
NHTM, nhằm mục đích để phát triển quy mô, phát triển thu nhập và mở rộng
thị phần nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro và bảo đảm chất lượng dịch vụ TTQT
b Nội dung phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Một là gia tăng quy mô dịch vụ TTQT, gia tăng quy mô nhằm gia tăng
khách hàng biết đến và sử dụng dịch vụ TTQT, song song với việc duy trì KH truyền thống , NH cần thu hút thêm nhiều KH mới đến giao dịch với mình Sự gia tăng về quy mô dịch vụ TTQT không chỉ đơn thuần là việc gia tăng mạng lưới chi nhánh mà còn là sự gia tăng doanh số trong từng phương thức TTQT của NH, từ đó phát triển dịch vụ TTQT của NH
Hai là gia tăng thị phần dịch vụ TTQT, thị phần dịch vụ TTQT của một
NH cho biết được NH đó hiện đang chiếm lĩnh bao nhiêu phần trăm thị phần
Trang 23dịch vụ TTQT trong tổng thị phần dịch vụ TTQT của các NH trên một khu vực địa lý (tỉnh, thành phố, cả nước ) Do đó, việc gia tăng thị phần dịch vụ TTQT sẽ giúp gia tăng tính cạnh tranh và vị thế dịch vụ TTQT của ngân hàng,
từ đó phát triển dịch vụ TTQT Bên cạnh đó, các NH cũng chú trọng đến việc
mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với hệ thống NHĐL góp phần thực hiện tốt các chiến lược kinh doanh đối ngoại, tăng cường hội nhập khu vực và thế giới, từ đó nâng cao vị thế của NHTM trên thị trường quốc tế
Ba là hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm dịch vụ TTQT, cùng với sự phát triển
của nền kinh tế và hoạt động XNK, nhu cầu sử dụng dịch vụ TTQT của KH ngày càng đa dạng hơn Để đáp ứng tốt nhu cầu của KH, bắt kịp xu hướng phát triển chung của thế giới, các NH rất cần phải nâng cao mức độ đa dạng đồng thời hợp lý hóa cơ cấu của sản phẩm dịch vụ TTQT Cơ cấu sản phẩm dịch vụ TTQT thể hiện qua chủng loại các sản phẩm dịch vụ TTQT, bao gồm dịch vụ truyền thống và dịch vụ hiện đại KH thường có xu hướng lựa chọn một NH có thể cung cấp các dịch vụ đầy đủ và đáp ứng phù hợp với nhu cầu của mình, một khi NH phải thông báo từ chối khách hàng vì mình không có sản phẩm dịch vụ mà KH cần thì sự tin chọn của KH đối với NH đó sẽ giảm sút Mặt khác, để phát triển dịch vụ TTQT được hiệu quả thì NH cần cung ứng các loại sản phẩm TTQT phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của từng thị trường, từng nhóm khách hàng cụ thể Do đó, các NH cần chú trọng phát triển
hệ thống sản phẩm dịch vụ TTQT của mình sao cho hợp lý
Bốn là nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT, mức độ hài lòng của KH
càng cao chứng tỏ chất lượng dịch vụ TTQT càng tốt và ngược lại Khi KH hài lòng về dịch vụ của NH thì họ sẽ tiếp tục đến thực hiện giao dịch, không những thế họ sẽ giới thiệu thêm bạn bè, người thân cùng đến giao dịch, và ngược lại KH sẽ ít đến giao dịch hoặc chấm dứt giao dịch với NH mà họ thấy không hài lòng Vì vậy, việc không ngừng nâng cao chất lượng các loại dịch
Trang 24vụ TTQT hiện là nội dung không thể thiếu để phát triển dịch vụ TTQT Nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT của NH là việc thực hiện nhanh chóng, chính xác,
an toàn và hiệu quả tất cả các giao dịch thanh toán quốc tế tại NH
Bên cạnh đó, kiểm soát rủi ro trong dịch vụ thanh toán quốc tế là nội
dung không thể thiếu trong việc phát triển dịch vụ TTQT Bất kỳ một hoạt động dịch vụ NH nào cũng chứa đựng những rủi ro nhất định Việc phát triển dịch vụ TTQT phải đi đôi với giảm thiểu và ngăn ngừa rủi ro có thể xãy ra ảnh hưởng đến mục tiêu an toàn và hiệu quả kinh doanh Do đó các NH cần tập trung xây dựng các biện pháp phòng ngừa nhằm kiểm soát rủi ro trong dịch vụ TTQT
Cuối cùng là gia tăng thu nhập dịch vụ TTQT, thu nhập từ dịch vụ TTQT
càng nhiều thì chứng tỏ dịch vụ TTQT càng phát triển
1.2.2 Các cách th c phát triển dịch v thanh toán quốc t
a Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
Chiến lược phát triển dịch vụ TTQT của NH là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc đạt được những mục tiêu cụ thể bao gồm các bước: phân tích thị trường, thì phần TTQT; xác định vị thế của ngân hàng và đánh giá đối thủ cạnh tranh; xác định nhu cầu của khách hàng; và xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ TTQT
Trước tiên NH cần phân tích thị trường, thị phần TTQT nhằm nắm bắt
được tập quán, thái độ và nhất là động cơ của khách hàng khi lựa chọn ngân
hàng Tiếp theo, NH cần xác định vị thế của ngân hàng và đánh giá đối thủ
cạnh tranh Phân tích vị thế, khả năng cạnh tranh của NH hiện tại và trong
tương lai cũng như đánh giá các đối thủ cạnh tranh để thấy được điểm mạnh
cần phát huy và những thiếu sót cần khắc phục của NH Xác định nhu cầu của
khách hàng cũng là một bước rất quan trọng khi xây dựng chiến lược phát
triển dịch vụ TTQT Bởi lẽ, có nắm bắt được nhu cầu khách hàng thì NH mới
Trang 25đáp ứng tốt và phù hợp với nhu cầu của KH Cuối cùng NH xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ TTQT, trong đó hoạt động marketing trong phát triển dịch vụ TTQT phải được chú trọng và các nghiệp vụ hỗ trợ dịch vụ TTQT cần được tăng cường phát triển
b Ứng dụng marketing Mix
Markting Mix là công cụ tiếp thị quan trọng NH sử dụng nhằm để phát triển dịch vụ TTQT bao gồm các chính sách sau:
Trước tiên là chính sách sản phẩm (Products), để phát triển dịch vụ
TTQT, ngân hàng cần hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ TTQT hiện có, đồng thời không ngừng nghiên cứu, triển khai áp dụng các sản phẩm, dịch vụ mới mang tính đặc trưng, riêng biệt của ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nhiều đối tượng khách hàng TTQT
Tiếp theo là chính sách giá (Price), giá cả giữ vị trí rất quan trọng
trong việc quyết định sử dụng dịch vụ; do đó để có thể phát triển được dịch vụ TTQT, ngân hàng cần thực thi chính sách phí dịch vụ TTQT mềm dẻo, linh hoạt bám sát theo thực tế nhu cầu và biến động của thị trường trong từng giai đoạn cụ thể
Ba là chính sách phân phối (Place), mạng lưới đóng vai trò quan
trọng trong chiến lược phát triển chung của ngân hàng cũng như trong chiến lược phát triển dịch vụ TTQT Qua đó thương hiệu của ngân hàng cũng được biết đến nhiều hơn và vị thế của ngân hàng sẽ ngày một vững chắc hơn Do đó ngân hàng cần có chính sách phân phối hiệu quả, ưu tiên tập trung phát triển dịch vụ TTQT tại các địa bàn có tiềm năng phát triển hoạt động XNK, thông qua 2 kênh phân phối chủ yếu: kênh phân phối có sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng gồm các chi nhánh và phòng giao dịch, kênh phân phối điện tử
Bốn là chính sách xúc tiến (Promotion), các công cụ chủ yếu được sử
dụng là PR, quảng cáo và khuyến mại Để mọi người biết đến sản phẩm dịch
Trang 26vụ TTQT của mình, ngân hàng cần đẩy mạnh công tác quảng cáo, tiếp thị; và công tác quảng bá này cần được thực hiện phù hợp theo từng gia đoạn nhằm tăng hiệu quả tiếp thị, không đầu tư dàn trải gây lãng phí Mỗi thời kỳ sẽ hướng tới một nhóm khách hàng phù hợp, đồng thời lựa chọn cách thức quảng cáo phù hợp: sử dụng tờ rơi, pano hay phương tiện truyền thông báo, tivi, website…
Năm là chính sách con người ( People), trình độ chuyên môn, thái độ
phục vụ của nhân viên đóng vai trò không nhỏ đến hoạt động phát triển dịch
vụ TTQT; bởi lẽ đây chính là những người cung cấp trực tiếp sản phẩm dịch
vụ đến khách hàng Vì vậy để phát triển được dịch vụ TTQT của mình, ngân hàng cần chú trọng công tác tuyển dụng vào đào tạo nhân viên TTQT chuyên nghiệp, am hiểu chuyên môn và nghiệp vụ
Sáu là quy trình ( Process), quy trình nghiệp vụ là cơ sở pháp lý quy
định thủ tục hồ sơ cần thiết, trình tự thực hiện giao dịch, phân định trách nhiệm và nghĩa vụ của từng người, từng bộ phận có liên quan Phạm vi điều chỉnh, sự rõ ràng, cụ thể và khoa học của các quy trình liên quan đến dịch vụ TTQT đảm bảo việc thực hiện giao dịch nhanh chóng, chính xác, an toàn, hiệu quả đồng thời tuân thủ được các quy định của NHNN về quản lý ngoại hối, pháp luật Việt Nam, thông lệ, tập quán quốc tế và nhất là kiểm soát được rủi ro Do đó, ngân hàng cần xây dựng quy trình TTQT thống nhất để nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT, tăng tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của KH
Cuối cùng là cơ sở vật chất (Physical Evidence), yếu tố này cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến sự hài lòng của khách hàng Cơ sở vật chất như trụ sở, văn phòng giao dịch, cách thức trang trí đẹp mắt, ấn tượng sẽ đem lại cho khách hàng phong cách phục vụ chuyên nghiệp.Quy chế hoạt động, quy trình nghiệp vụ được áp dụng theo tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng cũng
Trang 27như việc trang bị máy móc công nghệ hiện đại tiện lợi cho quá trình giao dịch của khách hàng sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng nói chung và khách hàng TTQT nói riêng
c Kiểm soát rủi ro dịch vụ TTQT
Xây dựng các biện pháp phòng ngừa rủi ro đồng thời xây dựng một hệ thống chi tiết các dấu hiệu rủi ro tác nghiệp, định kỳ liệt kê các dấu hiệu rủi ro
và đưa ra các biện pháp khắc phục
Tăng cường hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm sớm phát hiện những sai sót mà NH đã mắc phải, từ đó sớm có biện pháp khắc phục kịp thời Công tác kiểm tra cần tiến hành định kỳ, đảm bảo nghiêm túc, hoạt động độc lập Việc kiểm tra, kiểm soát các giao dịch phải đảm bảo khách quan, trung thực
3 Cá á á k t quả phát triển c a dịch v thanh toán quốc t
a Về gia tăng quy mô dịch vụ TTQT
Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán quốc tế là tiêu chí đầu tiên
đánh giá về gia tăng quy mô dịch vụ TTQT Doanh số TTQT chính là trị giá của các giao dịch TTQT mà NH xử lý Tỷ lệ tăng trưởng doanh số dương thể hiện sự phát triển về quy mô dịch vụ TTQT của NH, mức độ phát triển đến đâu thể hiện qua tỷ lệ tăng trưởng nhiều hay ít Tỷ lệ tăng trưởng doanh số âm thể hiện sự suy giảm trong quy mô dịch vụ TTQT Chỉ tiêu này phản ánh về quy mô của hoạt động TTQT, nó đưa ra sự so sánh tương đối về doanh số TTQT của NH qua các năm, từ đó có thể đưa ra những đánh giá tổng quát về sự tăng (giảm) của quy mô dịch vụ TTQT của NH
Tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng giao dịch TTQT là tiêu chí thứ
hai đánh giá sự gia tăng quy mô dịch vụ TTQT.Khi đánh giá sự tăng trưởng
về số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT tại NH qua các năm sẽ cho
Trang 28biết được uy tín của NH trong lĩnh vực TTQT, hiệu quả hoạt động và cơ sở gia tăng quy mô dịch vụ TTQT
c Hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm dịch vụ TTQT
Để đánh giá việc hợp lý hóa cơ cấu sản phẩm dịch vụ TTQT ta căn cứ vào 2 tiêu chí:
Một là tỷ trọng của từng phương thức thanh toán quốc tế Chỉ tiêu này
giúp cho NH nhận định đúng hơn về nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ TTQT Trên cơ sở đó NH đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu của KH,
từ đó có hướng phát triển sản phẩm, dịch vụ TTQT phù hợp
Hai là mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế Mức
độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ TTQT thể hiện qua số lượng và chủng loại các sản phẩm dịch vụ TTQT, bao gồm cả dịch vụ truyền thống và dịch vụ mới Sản phẩm dịch vụ TTQT của NH có đa dạng thì mới có thể hợp lý hóa
cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu đa dạng của KH
d Về nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT
Sự hài lòng của khách hàng, thời gian xử lý giao dịch và mức độ sai sót trong tác nghiệp là các tiêu chí đánh giá về nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT
Sự hài lòng của khách hàng cho ta biết chất lượng dịch vụ TTQT của
NH đến đâu ứng với mức độ thỏa mãn của KH khi sử dụng dịch vụ TTQT
Trang 29Mức độ hài lòng của KH phụ thuộc vào sự khác biệt giữa những gì họ nhận
và những gì họ kỳ vọng Đối với dịch vụ TTQT của ngân hàng, ngoài yếu tố giá cả thì các yếu tố như : nhân viên có niềm nở, tận tình với KH, có trang phục gọn gàng, tươm tất; thái độ và nội dung tư vấn của nhân viên đáp ứng yêu cầu KH, các tài liệu TTQT (biểu mẫu, tờ rơi ) rõ ràng, dễ hiểu và những tiện ích đi kèm là những yếu tố đóng vai trò quan trọng tạo nên sự thỏa mãn khách hàng Mức độ hài lòng của KH càng cao chứng tỏ chất lượng dịch vụ thanh toán càng tốt và ngược lại Khi khách hàng hài lòng về dịch vụ của NH thì họ sẽ tiếp tục đến thực hiện giao dịch, không những thế họ sẽ giới thiệu thêm bạn bè, người thân cùng đến giao dịch, và ngược lại khách hàng sẽ ít đến giao dịch hoặc chấm dứt giao dịch với NH mà họ thấy không hài lòng Chỉ tiêu này thường được các NHTM tiến hành định kỳ, từ đó đánh giá được chất lượng TTQT của mình ở mức nào để có những giải pháp cần thiết cải
thiện, nâng cao
Thời gian xử lý giao dịch cho ta thấy mức độ nhanh chóng khi thực
hiện thành công một giao dịch TTQT theo yêu cầu của KH Thời gian xử lý giao dịch được xây dựng dựa trên những chuẩn mực, thông lệ quốc tế về thời gian xử lý tối đa đối với từng phương thức TTQT Thời gian thực hiện giao dịch tuân thủ đúng quy định thì góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ TTQT Thời gian xử lý giao dịch càng nhanh chóng thì càng thể hiện tính chuyên
nghiệp của NH, qua đó phản ánh chất lượng dịch vụ TTQT của NH
Cuối cùng là mức độ sai sót trong quá trình tác nghiệp Một NH có
mức độ sai sót trong quá trình tác nghiệp lớn thì không thể nào có chất lượng dịch vụ TTQT tốt được Mức độ sai sót càng thấp cho ta thấy chất lượng dịch
vụ TTQT càng tốt
e Kiểm soát rủi ro dịch vụ TTQT
Trong hoạt động dịch vụ TTQT, rủi ro xãy ra khi quyền lợi của một
Trang 30hoặc các bên tham gia bị vi phạm Các rủi ro có thể phát sinh từ bất cứ giai đoạn nào trong quy trình thực hiện giao dịch TTQT, từ khi bắt đầu thực hiện giao dịch cho đến khi kết thúc giao dịch Rủi ro trong dịch vụ TTQT
có thể xãy ra với tất cả các bên: người bán, người mua và ngân hàng Các tiêu chí đánh giá việc kiểm soát rủi ro trong dịch vụ TTQT tại NH bao gồm: rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro tác nghiệp, rủi ro tín dụng và rủi ro ngân hàng đại lý
f Về gia tăng thu nhập dịch vụ TTQT
Tốc độ tăng trưởng doanh thu từ dịch vụ TTQT và tốc độ tăng trưởng thu nhập từ dịch vụ TTQT là 2 tiêu chí đánh giá sự gia tăng thu nhập dịch vụ TTQT
Khi thực hiện dịch vụ TTQT, NH sẽ thu được một khoản phí nhất định theo biểu phí dịch vụ của mình, doanh thu TTQT của NH là tổng các khoản
phí thu được trong hoạt động dịch vụ TTQT Tốc độ tăng trưởng doanh thu từ
dịch vụ TTQT là chỉ tiêu phản ánh nguồn thu từ dịch vụ TTQT, trên cơ sở đó
ta xác định thu nhập từ dịch vụ TTQT của NH Nếu doanh thu từ hoạt động TTQT càng nhiều và tốc độ tăng trưởng doanh thu TTQT năm sau cao hơn năm trước thì dịch vụ TTQT càng phát triển
Thu nhập TTQT bằng hiệu số giữa doanh thu TTQT và chi phí TTQT
Tốc độ tăng trưởng thu nhập từ dịch vụ TTQT tăng cao thể hiện thu nhập từ
dịch vụ TTQT có sự gia tăng, ngược lại nó chỉ ra NH cần có những giải pháp thúc đẩy tăng doanh thu TTQT và giảm chi phí TTQT để tăng thu nhập dịch
Trang 31của một chu trình hoạt động kinh tế đối ngoại, mà chủ yếu là chi trả các nghĩa
vụ và yêu cầu tiền tệ phát sinh từ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Do đó, nhân tố cơ bản quyết định việc phát triển dịch vụ TTQT của NHTM chính là chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Chính sách kinh tế vĩ mô tùy vào mục tiêu của từng thời kỳ mà có thể thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia, cụ thể như sau:
Về chính sách thuế, thông qua các công cụ thuế suất XNK, hạn ngạch
XNK đối với hàng hóa, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động XNK những hàng hóa này Hoạt động XNK phát triển sẽ thúc đầy hoạt động TTQT phát triển và ngược lại
Về chính sách kinh tế đối ngoại, sự lựa chọn chính sách đối ngoại của quốc gia nếu thiên về xu hướng bảo hộ mậu dịch sẽ gây khó khăn cản trở hoạt động ngoại thương, ngược lại nếu thiên về xu hướng tự do hoá mậu dịch sẽ tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển, qua đó thúc đẩy hoạt động TTQT phát triển
Đối với chính sách quản lý ngoại hối, sự thay đổi của tỷ giá và lãi
suất trên thị trường ngoại hối đều tác động đến TTQT Những biến động của tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến doanh số, giá cả và lợi nhuận của nhà XK cũng như nhà NK và ảnh hưởng đến hoạt động TTQT Ngoài ra, thông qua chính sách quản lý ngoại hối, NHNN có thể kiểm soát, hạn chế lượng ngoại
tệ chuyển ra nước ngoài, điều này làm giảm khả năng thanh toán hàng nhập qua NH Thị trường ngoại hối ổn định sẽ tạo điều kiện tốt cho phát triển hoạt động TTQT
Hai là chính sách kinh tế, chế độ chính trị của các quốc gia trên thế giới, TTQT là hoạt động thanh toán giữa các tổ chức hoặc cá nhân ở các quốc
gia khác nhau thông qua hệ thống NH Tuy nhiên, để thực hiện được việc thanh toán thì các quốc gia cần đảm bảo được phép tham gia hoạt động
Trang 32TTQT Hoạt động TTQT không thể diễn ra hoặc sẽ gặp nhiều rủi ro khi các quốc gia liên quan nằm trong danh sách bị cấm vận kinh tế, có những bất ổn
về chính trị: chiến tranh, bạo động, khủng bố… ngược lại, các quốc gia có nền kinh tế phát triển, có mối quan hệ tốt trên thị trường quốc tế sẽ thúc đẩy hoạt động TTQT của các NH tại quốc gia đó
Ba là hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế, hoạt
động TTQT chịu sự chi phối, điều chỉnh của: công ước quốc tế, hiệp đinh song phương – đa phương, luật pháp quốc gia, sau đó là hệ thống các quy tắc – thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thương Hệ thống pháp lý này thường rất phức tạp và thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thương mại quốc tế Các NHTM nếu không nắm chắc luật lệ và điều ước quốc
tế sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro trong quá trình thanh toán
Bốn là sự phát triển của các phương tiện thanh toán quốc tế, trong hoạt
động TTQT, tiền mặt được sử dụng rất hạn chế, mà chủ yếu sử dụng các phương tiện thanh toán khác như: Hối phiếu, Kỳ phiếu, Séc, Thẻ NH, trong
đó Hối phiếu và Séc được sử dụng phổ biến nhất Nếu các phương tiện TTQT không phát triển sẽ gây khó khăn cho quá trình thanh toán và mở rộng tín dụng thương mại, kìm hãm sự phát triển của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Sự phát triển của các công cụ thanh toán này sẽ tạo điều kiện cho hoạt động TTQT phát triển
Năm là sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại khác, đặc thù của
hoạt động kinh doanh NH là các sản phẩm dịch vụ khá tương đồng, do đó sự cạnh tranh diễn ra giữa các NH đang ngày càng khốc liệt Sự cạnh tranh giữa các NHTM cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển hoạt động TTQT của mỗi
NH, đồng thời cũng là động lực để giúp các NH luôn sáng tạo tìm ra hướng đi tốt nhất cho hoạt động TTQT của mình Sức sạnh tranh trong lĩnh vực TTQT của
NH thể hiện qua: mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ, mức phí, thời gian xử
Trang 33lý giao dịch, khả năng tư vấn của TTV, độ chính xác của các giao dịch thực hiện… khách hàng luôn biết cách so sánh để lựa chọn ra NH nào cung cấp dịch
vụ TTQT tốt nhất và tin cậy nhất để giao dịch Hoạt động TTQT của NH chỉ phát triển khi thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch
Cuối cùng là sự phát triển của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khi
hoạt động XNK của các doanh nghiệp ngày càng được mở rộng cả về mặt hàng kinh doanh, đối tác và bạn hàng thì doanh số kinh doanh XNK của doanh nghiệp sẽ ngày một tăng dẫn đến kim ngạch XNK của một quốc gia tăng làm tiền đề để các NHTM mở rộng hoạt động thanh toán XNK của mình
Như vậy, có thể nói sự phát triển hoạt động XNK của các doanh nghiệp
sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ TTQT
b Các nhân tố chủ quan
Trước tiên là khả năng tài chính của ngân hàng, có thể nói đây là yếu
tố quyết định tới khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực TTQT của một NH Hoạt động thương mại quốc tế thường diễn ra giữa hai hay nhiều đối tác có quốc tịch khác nhau, sử dụng những đồng tiền khác nhau, do đó, khi thực hiện nghĩa vụ chi trả, thường xuất hiện ít nhất là hai đồng tiền với khối lượng giao dịch lớn Nếu NH không đủ năng lực tài chính thì khó có thể thực hiện thông suốt các giao dịch thanh toán Đối với các giao dịch thanh toán hàng hóa nhập khẩu, nếu NH không có đủ nguồn tiền để thanh toán thì giao dịch của khách hàng sẽ bị chậm trễ, dễ phát sinh rủi ro tỷ giá và nhà nhập khẩu có nguy cơ bị phạt do thanh toán trễ, gây khó khăn cho cả NH và khách hàng Mặt khác, một NH với năng lực tài chính yếu kém thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hay nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, không trang bị được các phần mềm quản lý dữ liệu, thiết bị, chương trình hiện đại, tiên tiến tương thích với hệ thống công nghệ thông tin mà thế giới đang
sử dụng trong TTQT
Trang 34Tiếp theo là chiến lược kinh doanh và cơ chế điều hành hoạt động
thanh toán quốc tế Chiến lược kinh doanh của NHTM mang tính quyết định
đối với các sản phẩm dịch vụ mà NH cung cấp Một NH tập trung phát triển nhiều mảng hoạt động nhưng không chú trọng đến mảng dịch vụ TTQT thì mức độ đầu tư về công nghệ, nhân lực chỉ ở mức nhất định, quy mô và chất lượng dịch vụ cung cấp đến KH có thể không thể bằng NH khác có chiến lược tập trung đẩy mạnh các dịch vụ NH hiện đại
Bên cạnh chiến lược kinh doanh phù hợp, các NHTM cần phải tổ chức
hệ thống quản lý điều hành hoạt động TTQT thống nhất từ trên xuống theo một quy trình chặt chẽ, hợp lý để hạn chế được rủi ro, rút ngắn thời gian giao dịch, phục vụ tốt hơn cho khách hàng và nâng cao uy tín trên thị trường quốc
tế Khi các phòng ban, bộ phận nghiệp vụ được phân định công việc khoa học, thống nhất, quy củ, cán bộ nhân viên tại các bộ phận đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ, các quy trình đối với từng nghiệp vụ cụ thể được xây dựng, ban hành phù hợp với thực tế và nền tảng công nghệ thông tin, phân công, phân nhiệm rõ ràng, sẽ hạn chế các rủi ro, rút ngắn thời gian giao dịch, tạo được uy tín đối với khách hàng trong nước và quốc tế
Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm thanh toán quốc tế cũng
là một nhân tố.Trong bất kỳ một hoạt động nào, bao giờ con người cũng
chiếm vị trí trung tâm Cùng với yếu tố công nghệ và khả năng tài chính, con người là một trong những yếu tố mang tính quyết định tới sự phát triển của hệ thống thanh toán qua NH nói chung và TTQT nói riêng Trình độ của cán bộ công nhân viên NH được nâng cao sẽ làm cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, đơn giản và an toàn Ngược lại, ngay cả khi với công nghệ NH vào loại hiện đại bậc nhất nhưng cán bộ NH không có hoặc không đủ trình độ thực hiện các thao tác trong thanh toán cũng sẽ làm cho hoạt động NH bị chậm chạp và thiếu chính xác Hơn nữa, TTQT là một hoạt động phức tạp,
Trang 35luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, yêu cầu độ chính xác và tỉ mỉ cao, do đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ NH phải là những người chuyên nghiệp, lành nghề, hiểu rõ quy trình nghiệp vụ thanh toán, hiểu rõ các thông lệ quốc tế để có thể tránh được
rủi ro, sai sót không đáng có trong quá trình thanh toán
Công nghệ thông tin ngân hàng là một trong những nhân tố quan trọng
mà NH cần phải tính đến khi muốn phát triển dịch vụ TTQT Công nghệ NH
ở đây là sự phát triển của hệ thông thanh toán, thể hiện qua hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, phần mềm thanh toán, hệ thống thanh toán điện tử Yếu tố này cũng vô cùng quan trọng vì TTQT phải tính đến khoảng cách về không gian
và thời gian Công nghệ NH hiện đại là điều kiện để NH nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa các loại hình hoạt động cũng như hòa nhập vào mạng lưới NH quốc tế Công nghệ NH hiện đại sẽ giúp NH tiết kiệm được thời gian, chi phí, nâng cao hiệu quả và tăng mức độ an toàn vốn Vì vậy, mở rộng hoạt động TTQT trong khi công nghệ thông tin chưa phát triển, mức độ tự động chưa cao thì việc truyền nhận tin sẽ chậm chạp, không những không đạt
được mục tiêu đề ra mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của NH
Tiếp theo là chính sách khách hàng hướng tới dịch vụ thanh toán quốc
tế Trong nền kinh tế thị trường, KH là yếu tố quyết định đến sự sống còn của
NHTM nói chung và dịch vụ TTQT nói riêng Số lượng và chất lượng khách hàng là một điều kiện quan trọng, quyết định sự phát triển của dịch vụ TTQT trong NH Nếu NH có thể thu hút một lượng lớn KH thường xuyên có hoạt động kinh doanh XNK thì sẽ tạo điều kiện rất tốt để phát triển dịch vụ TTQT
Để thực hiện được điều này, NH cần có chính sách khách hàng phù hợp cho mảng dịch vụ TTQT
Chính sách khách hàng thể hiện chiến lược kinh doanh và phân khúc thị trường mà NH hướng tới Trong mỗi giai đoạn, các NHTM đều có chính sách phù hợp để thu hút khách hàng tùy vào tình hình hoạt động kinh doanh và nền
Trang 36kinh tế Việc đưa ra chính sách khách hàng đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả hoạt động TTQT cho các NHTM, như trong giai đoạn thắt chặt tín dụng, các NHTM không thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, thì sẽ chuyển hướng sang phát triển mảng khách hàng cá nhân, mang lại nguồn thu phí dịch
vụ đáng kể cho NH, còn trong giai đoạn tín dụng được mở rộng, thì các NHTM có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, bên cạnh đó vẫn duy trì chính sách khách hàng cá nhân cho phù hợp
Bên cạnh đó, mạng lưới chi nhánh và ngân hàng đại lý cũng là một yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ TTQT của NH Các NH lớn thường có mạng lưới chi nhánh ở khắp mọi nơi trên thế giới Khi NH khai trương một chi nhánh của mình thì đó là sự khẳng định NH đó chính thức phục vụ một thị trường mới Số lượng các chi nhánh trong nước và đặc biệt là ngoài nước càng nhiều thì hoạt động TTQT của NH càng thuận lợi Quy mô này cũng phần nào khẳng định vị thế của NH đó trên thị trường quốc tế, từ đó thu hút khách hàng thực hiện thanh toán qua NH của mình
Cùng với mạng lưới chi nhánh, hệ thống các NHĐL cũng phản ánh quy
mô hoạt động TTQT của một NH Trong hoạt động TTQT, NHĐL sẽ đóng vai trò NH thông báo, NH xác nhận Hệ thống NHĐL là cơ sở để hoạt động TTQT diễn ra thông suốt và trôi chảy Một NH có hệ thống NHĐL mở rộng
sẽ giảm được tối đa các khâu trung gian, do đó tiết kiệm được phí dịch vụ và thời gian cho khách hàng Chính vì vậy, muốn mở rộng hoạt động TTQT thì phải chú trọng đến việc mở rộng mạng lưới chi nhánh cũng như thiết lập quan
hệ đại lý với nhiều NH lớn trên thế giới, qua đó có thể chiếm lĩnh được các thị trường mục tiêu
Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của các nghiệp vụ liên quan đến dịch TTQT
Các nghiệp vụ hỗ trợ như mua bán ngoại tệ, bảo lãnh NH, tín dụng tài trợ XNK… là các hoạt động có tác dụng bổ trợ, thúc đẩy cho hoạt động TTQT
Trang 37của NHTM Phát triển nghiệp vụ này là tiền đề, là nền tảng hỗ trợ cho sự phát triển nghiệp vụ kia và ngược lại Đồng thời các hoạt động này cũng là yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng, tạo nên sức cạnh tranh của NH KH sẽ cảm thấy thuận tiện và hiệu quả khi nhu cầu mua, bán ngoại tệ phục vụ cho việc XNK hàng hóa được đáp ứng nhanh chóng thủ tục nhanh gọn và tỷ giá chấp nhận được Hoặc khi KH đã ký được hợp đồng với đối tác nước ngoài nhưng chưa có đủ tiền thanh toán, thiếu vốn để sản xuất hàng, đối tác yêu cầu bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng mà nhận được sự hỗ trợ từ phía
NH thông qua các nghiệp vụ bảo lãnh, tài trợ XNK sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho KH thực hiện giao dịch, tiết kiệm thời gian và chi phí
Và cuối cùng là uy tín của ngân hàng trên thị trường trong nước và
quốc tế Trong hoạt động NH nói chung và hoạt động TTQT nói riêng, uy tín
của một NH đóng vai trò vô cùng quan trọng Một NH khi đánh mất uy tín của mình thì không thể tồn tại được trên thương trường, đối với hoạt động TTQT thì uy tín của NH càng quan trọng hơn, bởi TTQT có độ rủi ro cao do
sự xa cách về địa lý cũng như sự hạn chế về thông tin, do đó, các NH cần phải thận trọng hơn trong giao dịch Một NH có uy tín lớn là NH mà ở đó các hoạt động đa dạng và phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này
sẽ thu hút một số lượng lớn KH đến giao dịch Không những thế, một NH có
uy tín sẽ dễ dàng mở rộng được thị trường trong nước và quốc tế NH có uy tín trên trường quốc tế, sẽ rất thuận lợi khi thực hiện các nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán cho KH trong nước, đồng thời các NH và đối tác nước ngoài sẽ tin tưởng lựa chọn NH để giao dịch Đặc biệt trong hoạt động thanh toán XNK, nếu NHTM có uy tín sẽ được các NHTM khác chọn làm NHĐL, giúp NHTM không chỉ thu thêm được các khoản phí mà còn có thể thu hút thêm được KH và tạo mối quan hệ lâu dài với các khách hàng XK
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG
Chương 1 của luận văn đã tập trung tìm hiểu và làm rõ thêm cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu với những vấn đề như sau: Trình vày những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ TTQT qua khái niệm, các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM hiện nay cũng như các rủi ro trong hoạt động TTQT; nghiên cứu nội dung phát triển dịch vụ TTQT qua các tiêu chí đánh giá kết quả phát triển dịch vụ TTQT đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ TTQT tại NHTM Đây là cơ sở lý luận để định hướng cho quá trình thực hiện mục tiêu của đề tài nghiên cứu và phân tích đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ TTQT tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn trong Chương 2
Trang 39CHƯƠNG
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG HƯƠNG ẠI CỔ PH N SÀI GÒN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG HƯƠNG ẠI CỔ PH N SÀI GÒN 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
NH TMCP Sài Gòn (trước Hợp nhất), tiền thân là NH TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấy phép hoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc NH Nhà Nước Việt Nam và giấy phép thành lập
số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND TP.HCM cấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành NH TMCP Sài gòn (gọi tắt là SCB) SCB là một trong những NH TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thống tài chính Việt nam Cụ thể, từ 27/12/2010: Vốn điều lệ đạt 4.185 tỷ đồng; đến 30/09/2011 tổng tài sản của SCB đạt 77.985 tỷ đồng, tăng gần 30% so với đầu năm Mạng lưới hoạt động gồm 132 điểm giao dịch trải suốt từ Nam ra Bắc
Ngày 26/12/2011, Thống đốc NHNN chính thức cấp Giấy phép số 238/GP-NHNN về việc thành lập và hoạt động Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) trên cơ sở hợp nhất tự nguyện 3 ngân hàng: Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (Ficombank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) Ngân hàng TMCP Sài Gòn (Ngân hàng hợp nhất) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2012 Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của cả ba NH, đánh dấu sự thay đổi về quy mô tổng tài sản lớn hơn, phát triển vượt bậc về công nghệ, mạng lưới chi nhánh phát triển rộng khắp cả nước và trình độ chuyên môn vượt bậc của tập thể Cán bộ - Nhân viên
Trên cơ sở kế thừa những thế mạnh vốn có của 3 NH, NH hợp nhất đã
có ngay lợi thế mạnh trong lĩnh vực NH và nằm trong nhóm 5 NH cổ phần
Trang 40lớn nhất tại Việt Nam Cụ thể: Vốn điều lệ đạt 10.584 tỷ đồng, Tổng tài sản
NH đã đạt khoảng 154.000 tỷ đồng, Nguồn vốn huy động từ tổ chức tín dụng, kinh tế và dân cư của NH đạt hơn 110.000 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế lũy
kế đạt trên 1.300 tỷ đồng Tuy nhiên, SCB hợp nhất đang trong quá trình củng
cố và hoàn thiện bộ máy hoạt động, cũng như giải quyết những khó khăn mà
3 NH riêng lẻ đã gặp phải, nên thách thức đặt ra cho SCB hợp nhất là rất lớn
Lĩ ự oạ ộ , sả ẩ dị y do SCB
- Huy động vốn: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển, vay vốn các tổ chức tín dụng khác
- Tín dụng: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá, tài trợ xuất nhập khẩu
- Đầu tư: góp vốn vào các doanh nghiệp, dự án và đầu tư kinh doanh chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu)
- Quan hệ đại lý, dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối
- Dịch vụ thẻ SCB – Ebanking: dịch vụ thẻ, dịch vụ Pos, dịch vụ Ebaking
- Dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ bao thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác được NHNN cho phép
2.1.3 K t quả hoạ ộng kinh doanh c a Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Những năm gần đây nền kinh tế có nhiều biến động với những khó khăn, thách thức từ môi trường bên trong và bên ngoài đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của NH Trước tình hình đó, SCB vẫn đảm bảo hoạt động ổn định và đã đạt được những thành quả nhất định trong quản trị điều hành cũng như kết quả kinh doanh