Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: Phân tích, xem xét sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Như Ngọc, là tác giả của luận văn thạc sỹ có tựa đề
“Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam”
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu, dựa trên kiến thức được học, sưu tầm và tổng hợp từ các nguồn tài liệu tham khảo cùng với những tìm tòi và sáng tạo nghiêm túc của bản thân
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về pháp luật đối với luận văn của mình
TP.HCM, ngày 22 tháng 11 n ăm
2012
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - 3
1.1 Một số vấn đề chung về hoạt động thanh toán quốc tế trong các ngân hàng thương mại - 3
1.1.1 Khái niệm hoạt động thanh toán quốc tế - 3
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thanh toán quốc tế - 3
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - 5
1.1.3.1 Đối với các ngân hàng thương mại - 5
1.1.3.2 Đối với nền kinh tế - 7
1.1.4 Rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại 8 1.1.4.1 Rủi ro tín dụng - 8
1.1.4.2 Rủi ro đạo đức - 9
1.1.4.3 Rủi ro quốc gia - 10
1.1.4.4 Rủi ro pháp lý - 10
1.1.4.5 Rủi ro hối đoái - 10
1.1.4 6 Rủi ro tác nghiệp - 11
1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - 11
1.2.1 Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế tai ngân hàng thương mại Việt Nam - 11
1.2.2 Khái niệm về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam - 12
Trang 5thương mại Việt Nam - 12
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - 13
1.4.1 Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ Việt Nam - 13
1.4 2 Các yếu tố từ các ngân hàng đại lý - 15
1.4.3 Các yếu tố từ phía khách hàng của ngân hàng thương mại - 16
1.4 4 Nhóm các nhân tố từ chính ngân hàng thương mại - 17
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam - 18
1.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại theo chiều rộng - 18
1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại theo chiều sâu - 18
1.6 Bài học kinh nghiệm cho phát triển hoạt động TTQT - 18
Kết luận chương 1 - 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - 22
2.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống Vietcombank - 22
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Vietcombank - 22
2.1.2 Những kết quả đạt được của Vietcombank - 24
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Vietcombank đến năm 2011 - 25
2.1.4 Mô hìn h tổ chức thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế trong hệ thống Vietcombank - 27
2.2 Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Vietcombank - 29
2.2.1 Về doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank - 29
2.2.2 Về thị phần thanh toán quốc tế của Vietcombank so với cả nước - 32 2.2.3 Về số lượng khách hàng doanh nghiệp thực hiện thanh toán quốc tế tại
Trang 6lòng của khách hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế tại hệ thống
Vietcombank - 34
2.3 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Vietcombank - 37
2.3.1 Rủi ro trong hoạt động thanh toán nhập khẩu - 37
2.3.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán xuất khẩu - 40
2.4 Những tồn tại - 41
2.4.1 Chính sách khách hàng chưa toàn diện và chưa đi vào chiều sâu - 42
2.4.2 Sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ - 42
2.4.3 Công tác quảng bá, tiếp thị chưa thực sự được xem trọng - 43
2.4.4 Công nghệ ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu công tác - 43
2.4.5 Thủ tục nghiệp vụ còn nhiều bất cập - 44
2.4.6 Công tác hỗ trợ chưa đáp ứng được yêu cầu - 44
2.4.7 Đặc thù của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - 45
2.4.8 Những khó khăn mà hệ thống Vietcombank gặp phải từ môi trường kinh tế vĩ mô - 45
2.4.9 Hệ thống văn bản pháp lý cho thanh toán xuất nhập khẩu - 46
2.5 Những nguyên nhân của tồn tại - 48
2.5.1 Vấn đề con người - 48
2.5.2 Giá cả dịch vụ cụ thể là các khoản phí dịch vụ chưa hợp lý - 49
2.5.3 Chưa đầu tư và có chiến lược quảng bá tiếp thị sản phẩm, phát triển thương hiệu Vietcombank thích đáng - 50
Kết luận chương 2 - 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - 52
3.1 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của Vietcombank 52
3.1.1 Chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh của Vietcombank đến 2015
- 52
Trang 73.1.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của Vietcombank 53
3.2 G iải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Vietcombank - 55
3.2.1 Đẩy nhanh tiến độ nâng cấp công nghệ ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động thanh toán quốc tế - 55
3.2.2 Chú trọng chính sách tiếp thị, đa dạng hóa sản phẩm và chính sách chăm sóc khách hàng - 56
3.2.2.1 Chính sách t iếp thị và đa dạng hóa sản phẩm - 56
3.2.2.2 Chính sách chăm sóc khách hàng - 60
3.2.3 Tăng cường công tác phòng chống rủi ro thanh toán quốc tế - 62
3.2.4 Tăng cường công tác tuyển dụng, đào tạo nguồn nhân lực - 63
3.3 Các giải pháp hỗ trợ - 66
3.3.1 Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - 66
3.3.1.1 Đẩy mạnh công tác tiếp thị, công nghệ ngân hàng, phát triển thương hiệu Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - 66
3.3.1.2 Nâng cao vai trò của các chi nhánh và văn phòng đại diện của Ngân hàng th ương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam ở nước ngoài - 67
3.3.1.3 Hoàn thiện bộ máy tổ chức và mạng lưới thanh toán quốc tế - 67
3.3.1.4 Tăng cường công tác phòng chống rủi ro trong hoạt động Thanh toán XNK của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - 68
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu - 69
3.3.3 Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước - 70
Kết luận chương 3 - 73
Kết luận - 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng 2.1 So sánh tình hình tài chính 2010 – 2012
Bảng 2.2 Doanh số thanh toán XNK của Vietcombank qua các năm
Bảng 2.3 Giá trị, thị phần thanh toán XNK, xuất khẩu, nhập khẩu riêng lẻ của Vietcombank
Bảng 2.4 Thị phần thanh toán XNK của Vietcombank qua các năm
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Việt Nam
Trang 10
LỜI MỞ ĐẦU
Thanh toán quốc tế là một trong những lĩnh vực hoạt động kinh doanh của NHTM TTQT ra đời và phát triển không ngừng như là một yếu tố khách quan Tuy nhiên, trong hoạt động TTQT luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt trong môi trường hội nhập sâu rộng và cạnh tranh gay gắt như hiện nay giữa các hệ thống NHTM trong nước và với các NHTM 100% vốn nước ngoài, các NHTM nói chung, hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng cần phải có những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong TTQT Do đó, tác giả quyết định lựa chọn
đề tài: “Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam”
Hệ thống hoá các lý luận liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM Tìm hiểu, phân tích và luận giải các yêu cầu cần thiết phải thực hiện để phát triển các dịch vụ TTQT trong các NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ thanh toán quốc tế của Vietcombank thông qua các số liệu thống kê, những tồn tại và nguyên nhân
Hoạch định chiến lược phát triển cho hoạt động TTQT tại Vietcombank
Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm tiếp tục phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế tại Vietcombank hướng tới hoạt động bán kèm, bán chéo các sản phẩm, tài trợ xuất nhập khẩu để gia tăng doanh thu, lợi nhuận hoạt động và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động TTQT tại Vietcombank
Phạm vi nghiên cứu: NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: Lấy số liệu tại NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2012
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: Phân tích, xem xét sự phát triển
của hoạt động thanh toán quốc tế trong mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài (yếu
tố kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia và quốc tế), các yếu tố bên trong (các yếu
tố nội tại của ngân hàng thương mại), và mối quan hệ trong sự phát triển cùng với các hoạt động ngân hàng khác
Phương pháp lịch sử: Xem xét hoạt động thanh toán quốc tế trong quá khứ, hiện
tại để rút ra các mặt được và chưa được trong phát triển hoạt động thanh toán quốc
tế Từ đó, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lập biểu câu hỏi và xử lý toán học các kết
quả thu được từ ý kiến chuyên gia về phát triển dịch vụ TTQT để đưa ra định hướng quản lý phù hợp
Các phương pháp khác:
Đề tài cũng sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, mô tả, tổng hợp, tư duy logic, phân tích hệ thống … để luận giải các vấn đề liên quan của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số vấn đề chung về hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm hoạt động thanh toán quốc tế
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nước này đối với tổ chức hay cá nhân nước khác, hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua mạng lưới ngân hàng trên toàn cầu
1.1.2 Đặc điểm hoạt động thanh toán quốc tế
Thanh toán liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán
Hoạt động TTQT liên quan mật thiết đến 5 yếu tố đó là đồng tiền, phương tiện, phương thức, địa điểm và thời gian thanh toán
Đồng tiền Trong giao dịch TTQT, các bên tham gia thông thường ở các quốc gia khác nhau Vì vậy, hoạt động TTQT liên quan đến ngoại tệ hay hai loại đồng tiền khác nhau Các bên tham gia TTQT phải thống nhất lựa chọn một đồng tiền đảm bảo giá trị các giao dịch ngoại thương Thông thường đồng tiền nói chung trong TTQT được phân biệt thành hai loại đồng tiền là đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán Đồng tiền được lựa chọn làm đồng tiền tính toán thường là đồng tiền ổn định hay còn gọi là đồng tiền mạnh Và đồng tiền thanh toán là đồng tiền mà hai bên sử dụng để chi trả cho nhau Đồng tiền thanh toán trước tiên phải là đồng tiền tự do chuyển đổi và sau đó phổ biến với tập quán thanh toán quốc tế Đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán được lựa chọn cùng một loại ngoại tệ hoặc hai loại ngoại tệ khác nhau
Phương tiện Các phương tiện được sử dụng trong TTQT là hối phiếu (Draft/ Bill
of Exchange), séc, tiền mặt Nhưng phổ biến nhất vẫn là hối phiếu được xem là mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người (gọi là người ký phát) đòi tiền người khác (gọi là người bị ký phát) yêu cầu người này trả ngay hoặc đến một ngày cụ thể hoặc đến một ngày có thể xác định được trong tương lai trả một số tiền nhất định
Trang 13cho người có tên trên tờ hối phiếu hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm hối phiếu
Phương thức Trong hoạt động thương mại quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến việc nhận trả tiền hàng giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu, đó là hoạt động TTQT, người ta có thể thực hiện hoạt động này bằng nhiều cách thức, được gọi là phương thức TTQT Hiện nay trên thế giới có nhiều phương thức thanh toán như: Phương thức chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ, … Mỗi phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Do vậy, việc lựa chọn phương thức thanh toán nào là tùy thuộc vào quan hệ của họ và phải được ghi rõ vào hợp đồng mua bán ngoại thương
Địa điểm thanh toán Các bên tham gia giao dịch ngoại thương có thể chọn một địa điểm bất kỳ làm nơi nhận thanh toán Việc chọn lựa này tùy thuộc vào yêu cầu công việc và mối quan hệ giữa các bên Thông thường địa điểm nhận thanh toán là nước xuất khẩu vì như thế dễ dàng tạo thuận lợi cho bên xuất khẩu thu hồi vốn và trang trải các chi phí xuất khẩu… Tuy nhiên cũng có trường hợp việc thanh toán diễn ra ở nơi được chỉ định không phải là nước xuất khẩu có thể để chuyển vốn từ hoạt động xuất khẩu đến đầu tư tại đó hoặc nơi đó chính là nguồn cung ứng hàng hóa chính cho hoạt động xuất khẩu…
Thời gian thanh toán Trả trước, trả ngay, trả sau hoặc hỗn hợp Đối với điều kiện này thường phải kèm theo một mốc thời gian mà hai bên thống nhất lấy đó làm cơ
sở tính thời gian Những mốc thời gian thường được chọn là ngày ký hậu vận đơn cho lô hàng đã xuất khẩu, ngày ký phát hối phiếu, ngày chấp chận hối phiếu hoặc một mốc thời gian bất kỳ mà hai bên thống nhất chọn làm cơ sở
Thanh toán quốc tế phục vụ cho hoạt động kinh tế đối ngoại, phi mậu dịch, đầu tư, tài chính
Thanh toán là khâu quan trọng trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, đặc biệt là đối với hoạt động XNK TTQT được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hóa trao đổi và dịch vụ thực hiện giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau mới được
Trang 14TTQT đã trở thành một nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia trong bối cảnh quan hệ quốc tế được mở rộng như ngày nay Ngoài ra, TTQT còn phục vụ cho các hoạt động phi mậu dịch không mang tính thương mại như thanh toán các khoản chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, các chi phí về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức, cá nhân,… Hoặc các khoản thanh toán chuyển tiền của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam hay ngược lại các khoản đầu
tư của nhà đầu tư Việt Nam ra thị trường tài chính thế giới
T hanh toán quốc tế gặp nhiều rủi ro hơn so với thanh toán trong nước
Khác với thanh toán trong nước, TTQT thường gặp nhiều rủi ro do sự biến động của tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do sự khác biệt về luật pháp, cơ chế chính sách, do vị trí địa lý của các bên tham gia cách nhau làm hạn chế việc tìm hiểu, giám sát khả năng thanh toán cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của con nợ… Các chủ thể tham gia trong các phương thức TTQT ở nhiều quốc gia khác nhau và tham gia vào nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau do đó chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của môi trường chính trị, xã hội của các quốc gia như: bạo động, chiến tranh, đình công, thiên tại, dịch bệnh, làm cho các điều kiện trên thị trường tài chính cũng bị thay đổi đột ngột Do vậy, các bên tham gia xuất nhập khẩu và ngân hàng bị động trong việc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết gây thiệt hại cho các bên tham gia
1.1.3 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thanh toán quốc tế góp phần tạo ra thu nhập cho các ngân hàng thương mại
Hoạt động TTQT đã trực tiếp tạo ra lợi cho NHTM thông qua các khoản phí dịch
vụ TTQT Nguồn thu phí dịch vụ TTQT là một trong những nguồn thu chủ yếu trong tổng thu phí dịch vụ ngân hàng So với thanh toán trong nước tỷ lệ phần trăm
để tính phí cũng như mức tối đa tối thiểu của các loại phí liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế cao hơn rất nhiều
Trang 15Ngoài ra TTQT không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần túy mà còn đóng vai trò trung tâm không thể thiếu trong dây truyền hoạt động kinh doanh, bổ sung
và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khách của ngân hàng và gián tiếp ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động khác như hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các dịch vụ tài
trợ thương mại, bao thanh toán, bảo lãnh,…
Tăng nguồn vốn huy động và phân tán rủi ro trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng nguồn vốn huy động, làm tăng số dư tiền gửi trong quá trình thực hiện các phương thức TTQT cho khách hàng chẳng hạn như việc ký quỹ mở L/C của doanh nghiệp nhập khẩu, quản
lý tài khoản tiền gởi thanh toán bằng ngoại tệ và Việt nam đồng của các doanh nghiệp xuất khẩu, quản lý các tài khoản chuyên dùng góp vốn đầu tư vào Việt Nam hoặc đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, quản lý các tài khoản Nostro, Vostro của các định chế tài chính trung gian,…Đây là những nguồn huy động giá trị lớn và thường ổn định trong một khoản thời gian nhất định do vậy góp phần làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng
Phát triển hoạt động TTQT giúp NHTM mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế đồng thời đẩy mạnh quy mô cũng như hiệu quả của các mảng hoạt động khác của NHTM như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại,…Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái, môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, kinh doanh đa năng luôn là một phương sách hữu ích để duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả cao và phân tán rủi ro cho các NHTM Đặc biệt đối với các khách hàng có quan hệ tín dụng hoặc sử dụng các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu từ các NHTM thì việc sản phẩm dịch vụ TTQT của chính ngân hàng đó
đủ hấp dẫn để doanh nghiệp lựa chọn sử dụng là điều kiện thuận lợi và là một kênh hiệu quả để ngân hàng có thể quản lý việc sử dụng vốn vay, giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo điều kiện quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư và kiểm soát rủi ro
Trang 16 Tăng cường quan hệ với mạng lưới ngân hàng đại lý
Phát triển hoạt động TTQT tạo điều kiện cho các NHTM Việt Nam mở rộng quy
mô hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thiết lập mối quan hệ đại lý với các
NH nước ngoài Nâng cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế Trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ trên thị trường tài chính quốc tế, từ các NH nước ngoài, thu hút thêm khách hàng
Ngoài ra, hoạt động TTQT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay Đó là, hoạt động TTQT tạo môi trường cho các NHTM ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong hoạt động ngân hàng thông qua việc tham gia nối mạng thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý thông tin giúp cho các NHTM Việt Nam có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không bị lạc hậu và thua kém các NH nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam góp phần thực hiện mục tiêu phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại
Thu hút nguồn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế là rất lớn Bằng chứng là chúng ta đang thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế hướng về xuất khẩu, tăng cường các biện pháp thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, vay nợ nước ngoài,… Tất cả các hoạt động này đã làm phát sinh các nghĩa vụ tiền tệ giữa chủ thể ở Việt Nam với chủ thể ở nước có quan hệ hợp tác Với vai trò trung gian thanh toán, TTQT là hoạt động trực tiếp để luân chuyển dòng vốn chảy từ nước ngoài vào Việt Nam, chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đẩy mạnh phát triển kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế
Thanh toán quá trình phát triển giúp quá trình lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa người mua và người bán ở những quốc gia khác nhau diễn ra trôi chảy và hiệu quả hơn Luồng vốn được quay vòng nhanh hơn, được sử dụng hiệu quả hơn và giảm rủi ro cho các doanh nghiệp tham gia vào quá trình thanh toán Mỗi doanh nghiệp là một chủ thể của nền kinh tế, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần
Trang 17vào sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Ngoài ra, lợi nhuận của của các NHTM thu được từ hoạt động TTQT cũng đóng góp vào tổng thu nhập của nền kinh tế quốc dân
Tăng cường quan hệ đối ngoại với các cá nhân, pháp nhân và chính phủ các quốc gia trên thế giới
Hoạt động kinh tế đối ngoại trở nên vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay Quá trình mua bán, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các nhân thuộc các quốc gia khác nhau trở nên thường xuyên hơn và hoạt động TTQT có vai trò quan trọng thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại của các chủ thể kinh tế
Rủi ro được hiểu là những việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, đem lại những hậu quả không thể dự đoán trước được Hoạt động TTQT liên quan đến các giao dịch thương mại quốc tế, khoảng cách địa lý xa cùng với sự khác biệt
về văn hóa kinh doanh, luật pháp,… giữa các bên đối tác tham gia vào quá trình thanh toán đã làm tăng tính rủi ro trong quá trình thanh toán
Rủi ro ngân hàng phát hành xảy ra khi ngân hàng phát hành bị vỡ nợ, mất khả năng thanh toán dẫn đến rủi ro cho ngân hàng chiết khấu và người xuất khẩu
Trang 181.1.4 2 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình gây thiệt hại tới quyền lợi của người khác
Rủi ro đạo đức từ phía nhà nhập khẩu: Trong quan hệ ngoại thương sự tin tưởng
và thiện chí giữa người mua và người bán được xem là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự an toàn của TTQT Khi người nhập khẩu không thiện chí cố ý không muốn thực hiện hợp đồng thì họ có thể dựa vào sai sót cho dù là rất nhỏ của BCT để đòi giảm giá, kéo dài thời gian để chiếm dụng vốn của người bán, thậm chí từ chối thanh toán đẩy ngân hàng vào tình thế khó khăn
Rủi ro đạo đức từ nhà xuất khẩu: Nhà xuất khẩu cố ý giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng hoặc không giao hàng nhưng vẫn xuất bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với các điều kiện, điều khoản L/C, hợp đồng đã ký kết Ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người bán hàng theo hồ sơ chứng từ hợp lệ Vì việc thanh toán của
NH cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào BCT xuất trình mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa Nhà nhập khẩu mất tiền hàng, phải trả thêm khoản phí NH cho các phát sinh như bảo lãnh nhận hàng trong trường hợp lô hàng đến trước BCT trong đó có vận đơn là chứng từ sở hữu hàng hóa, chưa có vận đơn thì hàng hóa không được giải tỏa, nếu không nhận hàng theo quy định thì nhà nhập khẩu có thể phải bồi thường khoản tiền giữ tàu quá hạn,…
Rủi ro đạo đức từ phía người chuyên chở: Xảy ra trong trường hợp người bán hàng giao hàng cho người chuyên chở nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng lấy tiền rồi biến mất hoặc bán mất hàng Hàng hóa không đến tay người mua mặc dù người bán
đã thanh toán đầy đủ chi phí vận chuyển Hoặc người chuyên chở tinh vi rút ruột, tráo đổi hàng hóa mà người bán giao cho người mua trong quá trình vận chuyển để trục lợi, làm tổn hại sự tin tưởng giữa người mua và người bán, tổn hại uy tín của người bán và gây thiệt hại cho người mua
Rủi ro đạo đức từ phía ngân hàng: Trong trường hợp ngân hàng phát hành trì hoãn hoặc từ chối thanh toán BCT cho nhà xuất khẩu Hoặc đối với sự thiếu trung thực của NH chiết khấu, NH phát hành tin tưởng thanh toán sẽ gặp rủi ro Trong trường hợp NH là người gánh chịu rủi ro đạo đức, NH phát hành phải thực hiện
Trang 19thanh toán cho người hưởng lợi theo quy định của L/C ngay cả khi nhà nhập khẩu chủ tâm không hoàn trả Hoặc trong trường hợp NH là người gây ra rủi ro đạo đức,
NH mở L/C có thể vi phạm cam kết của mình như từ chối thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán hoặc đứng về phía khách hàng gây khó khăn trong quá trình thanh toán Nguyên nhân gây ra rủi ro đạo đức là do thông tin không đầy đủ, không cân xứng
Sự tách biệt giữa thanh toán theo hồ sơ và hàng hóa trên thực tế
Đó là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, chính sách kinh tế, quản lý ngoại hối của một quốc gia khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền, nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa
Các nguyên nhân gây ra các biến cố chính trị, kinh tế xã hội: mâu thuẫn sắc tộc, tôn trọng, các cuộc xung đột thông qua đình công, biểu tình, chiến tranh bạo động, Hoặc cán cân thanh toán của một nước bị thâm hụt nặng nề buộc chính phủ của nước đó phải thay đổi chính sách quản lý ngoại hối và chính sách ngoại thương,…
Hoạt động TTQT chủ yếu dựa vào các thông lệ và tập quán quốc tế Song ngoài các thông lệ quốc tế còn có pháp luật của mỗi quốc gia để tạo nên một hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động thanh toán quốc tế ở nước đó Pháp luật ở các quốc gia thông thường là tôn trọng các thông lệ quốc tế và ít mâu thuẫn nhưng trên thực
tế rất khó để luật pháp không có sự mâu thuẫn hoặc chồng chéo hoàn toàn chỉ là cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất có thể Vì vậy, vấn đề am hiểu pháp luật của quốc gia đối tác là rất cần thiết nhưng không hề dễ dàng và rủi ro pháp lý là khó tránh khỏi
Tiền tệ để thanh toán trong hoạt động TTQT thông thường được thỏa thuận bằng các đồng ngoại tệ mạnh, ổn định Tuy nhiên tỷ giá hối đoái luôn biến động theo cung cầu của thị trường và tổn thất bởi sự biến động tỷ giá là khó tránh khỏi đối với các chủ thể trong quá trình thanh toán Đồng tiền thanh toán có thể bị mất giá trị
Trang 20có thể được lợi hoặc chịu thiệt hại Vì thế, mỗi khách hàng đều mong muốn ngân hàng của mình có biện pháp phòng tránh rủi ro hối đoái khi họ nhận được một khoản thu nhập hay phải thanh toán một khoản ngoại tệ nào đó Tuy nhiên, không phải chỉ có khách hàng mới đối mặt với rủi ro về hối đoái mà chính những NHTM cũng phải đối mặt với loại rủi ro này khi cung cấp dịch vụ TTQT cho khách hàng Rủi ro hối đoái thường xuất hiện trong lĩnh vực hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM khi các NH: Cho khách hàng vay bằng ngoại tệ; Phát hành giấy tờ giấy nợ bằng ngoại tệ để huy động thêm vốn (phát hành chứng chỉ tiền gửi); Mua chứng khoán có mệnh giá bằng ngoại tệ; Thực hiện các giao dịch về ngoại tệ cũng như đáp ứng các nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng
Rủi ro phát sinh do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quá trình thanh toán như có sự khác biệt trong BCT thanh toán với nội dung của L/C
Rủi ro do không tuân thủ các quy định của thông lệ quốc tế
Rủi ro khi không tuân thủ chế độ bảo mật trong quản lý, sử dụng thiết bị và mật
mã dùng trong TTQT
1.2 Phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam 1.2.1 Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Dịch vụ TTQT là các dịch vụ liên quan đến nhận, gửi, thông báo, kiểm tra, xử lý BCT XNK , chuyển trả tiền, thu hộ tiền, bảo lãnh trả tiền, nhận hàng,… phục vụ các khách hàng công ty, doanh nghiệp có hoạt động XNK theo các phương thức TTQT khác nhau và tài trợ vốn cho doanh nghiệp XNK
Một số dịch vụ TTQT phổ biến tại các NHTM hiện nay Đối với nhập khẩu cung cấp các dịch vụ như: thư tín dụng nhập khẩu, nhờ thu nhập khẩu, chuyển tiền Đối với xuất khẩu: thư tín dụng xuất khẩu, nhờ thu xuất khẩu, chuyển tiền đến Các dịch
vụ TTQT khác như: chuyển vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, chuyển vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam; chuyển vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; chuyển tiền trả nợ vay, lãi vay nước ngoài; chuyển tiền cho vay, thu hồi
nợ nước ngoài
Trang 21Ngoài ra, các NHTM còn cung cấp các sản phẩm tài trợ thương mại trước giao hàng như tài trợ hàng lưu kho, thư tín dụng điều khoản đỏ; Tài trợ sau giao hàng như chiết khấu BCT theo L/C, ứng trước BCT nhờ thu, bao thanh toán Và các sản phẩm tài trợ chuyên biệt khác tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, chu trình kinh doanh và đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp
1.2.2 Khái niệm về phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Phát triển là khuynh hướng vận động theo chiều hướng tiến lên từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn và cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa hoàn thiện cái cũ hoặc thay thế cho cái cũ Như vậy, phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế được định nghĩa theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng
Phát triển dịch vụ TTQT định nghĩa theo nghĩa hẹp là phát triển sản phẩm dịch
vụ TTQT, mạng lưới giao dịch của NHTM nhằm mục đích thu hút thêm khách hàng, tăng doanh số TTQT và mở rộng quy mô hoạt động tăng lợi nhuận cho NHTM
Tuy nhiên, phát triển dịch vụ TTQT theo nghĩa hẹp hàm chứa nhiều rủi ro do nhiều nguyên nhân khách quan từ thị trường, luật pháp quốc tế, khách hàng,… và nguyên nhân chủ quan từ phía năng lực nội tại của chính các NHTM,… Do vậy
Phát triển dịch vụ TTQT định nghĩa theo nghĩa rộng là thực hiện tuần tự nhiều giải pháp để phát triển sản phẩm dịch vụ, mạng lưới giao dịch của NHTM, mạng lưới NHĐL ở nước ngoài, nguồn nhân lực, công nghệ,… nhằm thu hút thêm khách hàng, nâng cao doanh số, mở rộng thị phần TTQT của NHTM nhưng đồng thời phải đảm bảo hoạt động TTQT an toàn, hội nhập và tối thiểu hóa những rủi ro đặc
t rưng của hoạt động TTQT
thương mại Việt Nam
Phát triển dịch vụ TTQT là hết sức cần thiết và có tính thực tiễn cao đối với các NHTM Việt Nam hiện nay, bởi vì:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại các NHTM Việt Nam nhiều cơ hội để phát triển
Trang 22trong mọi lĩnh vực hoạt động tạo điều kiện cho các hoạt động giao dịch qua các ngân hàng ngày càng nhiều hơn Điều này tạo điều kiện phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung đặc biệt là dịch vụ TTQT tại các NHTM Việt Nam
Thứ hai, giúp tăng thu phí dịch vụ của các ngân hàng thương mại
Xu thế ở các ngân hàng thương mại tại các nước phát triển trên thế giới hướng tới tăng tỉ trọng thu nhập từ dịch vụ cao hơn từ hoạt động tín dụng Phát triển dịch
vụ thanh toán nói chung và dịch vụ TTQT nói riêng là một trong những phương cách nâng cao tỷ trọng thu phí dịch vụ nhanh chóng và hiệu quả của các NHTM hiện nay bởi vì nhu cầu giao thương mua bán hàng hóa, dịch vụ xuyên quốc gia ngày càng đa dạng làm phát sinh nhu cầu sử dụng dịch vụ TTQT của các khách hàng ngày càng tăng
Thứ ba, nâng cao uy tín và thương hiệu của các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước
Khi các NHTM càng chú trọng đến phát triển dịch vụ nói chung và đặc biệt là dịch vụ TTQT thì các NHTM càng nổ lực đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp thị quảng bá sản phẩm, mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng trên thế giới cũng như tăng cường công tác quản lý Nhờ vậy nên chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt hơn thu hút số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ TTQT tại các NHTM ngày càng nhiều và chính vì thế mà uy tín và thương hiệu của các NHTM được nâng cao Đồng thời uy tín và thương hiệu tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM phát triển dịch vụ TTQT an toàn, bền vững, hạn chế rủi ro do lựa chọn được các đối tác uy tín, năng lực cao, có chính sách giá phí ưu đãi, thời gian giao dịch nhanh chóng hổ trợ ngược lại cho việc phát triển dịch vụ TTQT nhờ thu hút ngày càng nhiều khách hàng giao dịch
ngân hàng thương mại Việt Nam
Các chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi nước được đưa ra nhằm mục đích điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế của nước đó Trong các chính sách này, có một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương và ảnh hưởng gián tiếp
Trang 23đến hoạt động TTQT như: Chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách quản lý ngoại hối, chính sách thuế, chính sách quản lý hàng hóa XNK,…
Chính sách kinh tế đối ngoại
Chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách ngoại thương nói riêng có
ý nghĩa vô cùng to lớn đối với hoạt động TTQT, là cơ sở nền tảng và có tác động trực tiếp đến hoạt động TTQT Việc đưa ra các định hướng mang tính chiến lược là bảo hộ mậu dịch hay tự do hóa mậu dịch của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến sự sôi động hay trầm lắng của hoạt động TTQT
Một sự lựa chọn chính sách đối ngoại thiên về xu hướng bảo hộ mậu dịch nội địa
sẽ gây khó khăn cản trở hoạt động ngoại thương, ngược lại xu hướng tự do hóa mậu dịch sẽ tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển Sự phát triển của hoạt động ngoại thương là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động TTQT của ngân hàng Hoạt động ngoại thương làm phát sinh nhiều hơn nhu cầu thực hiện nghĩa vụ tiền tệ của quốc gia này đối với quốc gia khác và đó chính là điều kiện để NHTM mở rộng và phát triển nghiệp vụ TTQT
Chính sách quản lý ngoại hối
Trong hoạt động TTQT, thông thường sử dụng các ngoại tệ mạnh tự do chuyển đổi Để xác định giá trị quy đổi của đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác cần đến khái niệm “tỷ giá hối đoái” Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất nhạy cảm, được xác định bởi mối quan hệ cung và cầu thị trường ngoại hối đồng thời chịu sự quản
lý và điều tiết của Nhà nước Nhà nước thực hiện quản lý ngoại hối thông qua việc
đề ra các chính sách nhằm kiểm soát luồng vận động của ngoại hối vào ra và các quy định về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng Căn cứ vào tình hình cụ thể
và những biến động trên thị trường mà Nhà nước áp dụng các chính sách quản lý ngoại hối tự do hay thắt chặt nhằm hướng sự vận động của hoạt động ngoại hối đi vào ổn định theo chủ trương của Nhà nước Hoạt động TTQT liên quan đến sự vận động luồng tiền tệ ra vào quốc gia, do đó tất yếu chịu sự quản lý ngoại hối của Chính phủ
Trang 24Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của của NHTM có quan hệ chặt chẽ với hoạt động TTQT cũng chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của các chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ Chính phủ thực hiện điều tiết đồng thời hoạt động kinh doanh ngoại tệ và hoạt động TTQT của các NHTM Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước thực hiện hạn chế hoặc mở rộng hoạt động TTQT thông qua siết chặt hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM Vì doanh nghiệp nhập khẩu sẽ gặp khó khăn trong TTQT nếu NHTM không đáp ứng được nguồn ngoại tệ cần thiết và NHTM cũng không được phép bán ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu nếu chưa đảm bảo được trạng thái ngoại tệ mà Ngân hàng Nhà Nước quy định
Chính sách thuế
Các chính sách thuế của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Đặc biệt là hoạt động XNK Thông qua việc áp dụng mức thuế XNK cao hay thấp để hạn chế hay khuyến khích sản xuất hay nhập khẩu đối với một mặt hàng nào đó Chẳng hạn như một sự cắt giảm thuế nhập khẩu trong chính sách thuế sẽ giúp gia tăng kim ngạch thương mại Các mặt hàng nhập khẩu được giảm thuế sẽ có số lượng nhập khẩu gia tăng, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ đẩy mạnh nhập khẩu các mặt hàng đó và góp phần thúc đẩy hoạt động TTQT của NHTM phát triển mạnh
Đây là nhân tố mà các NHTM cũng như khách hàng bắt buộc phải quan tâm nhưng lại không có khả năng để kiểm soát và dự đoán trước tình huống Mỗi quốc gia có một nền kinh tế chính trị xã hội với những đặc trưng riêng, trong đó liên quan đến hoạt động TTQT như tập quán kinh doanh, văn hóa mua bán hàng hóa,… Những sự thay đổi chế độ kinh tế, chính trị của nước bạn hàng sẽ ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các cam kết đã thỏa thuận giữa các bên Chẳng hạn sự suy thoái kinh tế, biến động chính trị sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tự do hóa thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến quá trình thanh toán
Trang 25Những thay đổi về môi trường pháp lý như: cơ chế, chính sách của một quốc gia như thay đổi những quy định về dự trữ ngoại hối, quy định về thuế, phí XNK,… Nền kinh tế của một quốc gia chưa ổn định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên đối tác không dự đoán trước được tình hình làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, có thể gây thiệt hại cho các bên tham gia, trong đó có NHTM
Ngân hàng đại lý ở nước ngoài của các NHTM đóng vai trò đặc biệt quan trọng NHĐL ở nước ngoài của các NHTM Việt Nam sẽ là kênh thông tin cần thiết thông báo nhanh tình hình kinh tế chính trị xã hội ở nước sở tại và tình hình hoạt động, khả năng tài chính của nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu nước ngoài đang có quan
hệ
Ngân hàng đại lý của một NHTM còn có chức năng giải quyết công việc ngay tại nước ngoài, địa phương khi mà các NHTM chưa có chi nhánh tại nước đó, địa phương đó Mạng lưới NHĐL rộng khắp trên thế giới giúp cho việc giao dịch và thanh toán ra nước ngoài được thực hiện nhanh chóng, đúng địa chỉ, giảm bớt chi phí và giảm thiểu rủi ro Ngược lại thông qua NHĐL, NHTM lại có điều kiện thực hiện các dịch vụ ủy thác của NHĐL để mở rộng hoạt động TTQT
Một NHTM có mạng lưới NHĐL ở nhiều nước trên thế giới, đồng thời duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các NHĐL ở nước ngoài sẽ rất thuận tiện trong việc liên lạc, tra soát các giao dịch thanh toán XNK Các khách hàng có hoạt động thanh toán XNK ngày càng có xu hướng mở rộng đối tác làm ăn ngoài các thị trường truyền thống vì vậy sẽ có nhiều thương vụ với các đối tác mới ở các nước trên thế giới Việc xúc tiến thiết lập thêm các NHĐL trên thế giới giúp NHTM đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng Nhờ việc thiết lập các quan hệ mới, các giao dịch thanh toán sẽ về thẳng NHTM mà không phải qua trung gian giúp khách hàng được thanh toán ngay, tiết giảm chi phí không bị lỡ những thương vụ làm ăn quan trọng, nhờ đó đảm bảo hiệu quả kinh doanh của khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là yếu tố quyết định sự sống còn của ngân hàng nói chung và hoạt động TTQT nói riêng Nếu NH có thể thu hút một
Trang 26lượng lớn khách hàng thường xuyên có hoạt động kinh doanh XNK thì sẽ tạo điều kiện rất tốt để hoạt động TTQT phát triển
Trong mô hình hoạt động TTQT của NHTM khách hàng đóng vai trò trung tâm
và là thành phần khởi đầu cho quy trình TTQT Do vậy, khách hàng có ảnh hưởng quyết định đối với hoạt động TTQT đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô, phạm vi hoạt động, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính, trình độ nghiệp vụ ngoại thương, hành vi đạo đức của khách hàng,…
Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động TTQT, quyết định chất lượng dịch vụ TTQT mà các NHTM có thể kể đến các yếu tố như sau:
Mô hình tổ chức quản lý điều hành hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Một hệ thống quản lý điều hành thống nhất từ trung ương đến chi nhánh theo một quy định cụ thể, gọn nhẹ, giao quyền chủ động cho chi nhánh sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian thanh toán nhanh chóng và an toàn là tác nhân thu hút khách hàng đến với ngân hàng nhiều hơn vì quyền lợi của họ được đảm bảo
Trình độ, kinh nghiệm nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng
Luật pháp mỗi nước khác nhau nên trong thương mại đã có những quy định thống nhất, những thông lệ quốc tế mà các bên tham gia kể cả ngân hàng đều phải tuân thủ Cán bộ làm công tác TTQT tại các NHTM phải nắm rõ các phương tiện và phương thức TTQT, bởi vì các phương tiện và phương thức này quy định rất chặt chẽ nội dung từng câu chữ, chi li và có hiệu lực quốc tế Muốn thực hiện được công việc trôi chảy tránh hiểu lầm và gây thiệt hại đáng tiếc cho ngân hàng, đòi hỏi cán
bộ TTQT phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm tác nghiệp thực tế tích lũy được Hơn nữa, chứng từ trong giao dịch TTQT đều dùng ngoại ngữ nên đòi hỏi cán bộ nghiệp vụ một trình độ ngoại ngữ nhất định
Trang 27hiện tốt hơn tiêu chí trên Ngân hàng ở các nước đều có mức đầu tư đáng kể vào công nghệ thông tin, viễn thông và xử lý dữ liệu
Uy tín của NHTM
Một ngân hàng có uy tín lớn là ngân hàng có các hoạt động đa dạng và phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, điều này sẽ thu hút một số lượng lớn khách hàng đến với ngân hàng Không những thế, một ngân hàng có uy tín sẽ dễ dàng mở rộng được thị trường trong nước và quốc tế Đặt biệt khi ngân hàng có uy tín sẽ rất thuận lợi khi thực hiện các nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán cho khách hàng trong nước và nghiệp vụ TTQT, đồng thời các NH và đối tác nước ngoài sẽ tin tưởng lựa chọn NH mình để giao dịch, hoặc làm các khâu trung gian trong quá trình thanh toán
hàng thương mại Việt Nam
hàng thương mại theo chiều rộng
Doanh số thanh toán quốc tế
Thị phần thanh toán quốc tế
Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế
hàng thương mại theo chiều sâu
Công tác tổ chức thực hiện, mức độ giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế
Chi phí thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế
Sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ thanh toán quốc tế
hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
Từ những kinh nghiệm phát triển dịch vụ ngân hàng nói chung của Trung Quốc
và tổng hợp kinh nghiệm của các nước ASEAN (trình bày trong phần Phụ lục 1), là các quốc gia có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam, các NHTM Việt Nam
Trang 28nói chung Vietcombank nói riêng cũng rút ra những bài học kinh nghiệm cho phát triển dịch vụ ngân hàng đặc biệt là dịch vụ TTQT
Về công nghệ ngân hàng
Vietcombank cần đầu tư hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để bắt kịp với công nghệ hiện đại của các nước trong khu vực và trên thế giới Việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng làm tiết giảm được thời gian, lao động, phục vụ quản trị điều hành, tác nghiệp cũng như phục vụ khách hàng được nhanh chóng thuận tiện hơn Từ đó tiết kiệm được các chi phí liên lạc như điện thoại, fax, phí bưu điên,… và góp phần vào việc hạn chế một số rủi ro tác nghiệp trong hoạt động TTQT
Về sản phẩm, dịch vụ TTQT
Về giá cả sản phẩm, dịch vụ TTQT, Vietcombank cần có phương pháp định giá phí dịch vụ hợp lý và xem xét thay đổi giá cả phí dịch vụ TTQT hiện tại Hiện nay phần lớn các NHTM định giá phí dịch vụ dựa trên đối thủ cạnh tranh, theo quy định của nhà nước,…mà chưa dựa trên giá trị thực tế của sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, theo mức độ rủi ro, theo địa điểm,… Vietcombank cần ứng dụng phương pháp thích hợp của kế toán quản trị để tính giá thành sản phẩm Mặc dù việc tính giá thành sản phẩm trong ngân hàng là không đơn giản, không thể tính được chi tiết cho từng đơn vị sản phẩm như doanh nghiệp, song vẫn có các yếu tố
để dựa vào đó lượng định nó một cách tương đối Việc tính toán được giá thành sẽ giúp các ngân hàng ấn định giá bán hợp lý hơn, quản lý chi phí tốt hơn
Cụ thể, với thương hiệu mạnh, doanh số lớn về TTQT và mạng lưới NHĐL rộng khắp thế giới, Vietcombank có lợi thế trong việc đàm phán với các NHĐL thỏa thuận các khoản phí ưu đãi cho khách hàng của Vietcombank Chẳng hạn, thay vì tính mức phí Min/ Max trên một lần chuyển tiền mà không phân biệt số tiền bằng các mức phí linh hoạt cho các mức tiền chuyển xác định sẽ hợp lý và khách hàng hài lòng hơn thu hút được nhiều khách hàng hơn, nhờ đó doanh số cũng cao hơn Hoặc chào bán mức phí cạnh tranh hơn cho các sản phẩm TTQT thông dụng đồng thời chào bán các sản phẩm dịch vụ trọn gói giá cao hơn có thể khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn ở sản phẩm này nhưng lại được hưởng giá thấp hơn ở sản phẩm khác, trong khi ngân hàng có điều kiện thu hút khách hàng mà thu nhập lại không
Trang 29giảm, thậm chí có thể tăng do khách hàng muốn nhận được sản phẩm có tính tiện ích cao, nên sẵn sàng trả phí cao
Về tổ chức thực hiện và nhân sự quản lý, điều hành hoạt động thanh toán quốc tế
Vietcombank cần có phương pháp để kiểm soát chặt chẽ chi phí hoạt động để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh như phương pháp tổ chức ghi nhận số liệu chi phí phát sinh hợp lý Chi phí quản lý chung cần được tập hợp và có phương án phân bổ thích hợp; Phân tích đánh giá các chi phí, bao gồm cả chi phí vật chất và chi phí thời gian tác nghiệp nhằm tìm kiếm nguyên nhân làm tăng chi phí quản lý,
từ đó có biện pháp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu hoặc loại bỏ chi phí không mang lại giá trị gia tăng cho ngân hàng như chi phí liên quan đến công đoạn xử lý nội bộ,…
Về nhân sự quản lý điều hành hoạt động của Vietcombank và hoạt động TTQT nói riêng, có thể học tập kinh nghiệm của Trung Quốc để nâng cao hiệu quả quản trị bằng nhiều biện pháp khác nhau như tinh giảm bộ máy nhân sự quản lý, mời chuyên gia nước ngoài tham gia quản trị điều hành Hiện tại, một số chi nhánh của Vietcombank có những phòng ban có một trưởng phòng, ba hoặc bốn phó phòng chuyên trách gây sự chia rẽ trong quản lý công việc cũng như nhân sự Đồng thời, thực hiện tinh giảm biên chế đối với cán bộ trình độ thấp Việc tinh giảm cán bộ giúp tiết giảm chi phí tiền công, tiền lương Việc có sự tham gia quản lý điều hành của đội ngũ chuyên gia nước ngoài có thể giúp nâng cao chất lượng quản lý điều hành đồng thời tạo môi trường cho cán bộ có năng lực cơ hội học tập, tiếp cận và thích nghi với phong cách, tác phong làm việc của sếp người nước ngoài và nâng cao hiệu suất công việc
Trang 30K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
TTQT ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và tác động rất tích cực đến sự phát triển của của các NHTM Nghiên cứu, học tập nhằm giữ vững được vai trò đầu tàu trong TTQT là vấn đề sống còn của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, thương hiệu được biết đến như là một ngân hàng chuyên doanh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế
Trong chương 1, luận văn đi vào nghiên cứu các lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế, vai trò của hoạt động TTQT đối với NHTM cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động TTQT Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu sâu vào
những rủi ro tiềm ẩn trong TTQT, những bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực TTQT
nhằm giữ vững và gia tăng được hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Vietcombank
Ngày 30/10/1962, Ngân hàng Ngoại Thương (Vietcombank) được thành lập theo Quyết định số 115/CP của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Trung ương (nay là Ngân hàng Nhà Nước)
Ngày 1/4/1963, Vietcombank chính thức khai trương và đi vào hoạt động như một
NH đối ngoại độc quyền, đóng vai trò là NH chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm,…), TTQT, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài, làm đại lý cho
Chính Phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước xã hội chủ nghĩa (cũ)… Ngoài ra, Vietcombank còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với NHTW các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Chính từ vị thế đặc biệt kể trên, Vietcombank đã sớm trở thành NHTM duy nhất tại Việt Nam sánh vai với các ngân hàng quốc tế trong khu vực
Ngày 14/11/1990, Vietcombank chính thức chuyển từ một ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang một NHTM nhà nước hoạt động đa năng theo Quyết định số 403-CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng Vietcombank bắt đầu hoạt động theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng, TTQT và dịch vụ ngân hàng với các thành phần kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Ngày 21/9/1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã
ký quyết định số 286/QĐ- NH5 về việc thành lập lại Vietcombank theo mô hình Tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ- TTg ngày 7/3/1994 của Thủ
Trang 32Năm 1997, Vietcombank đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thẻ quốc tế VISA và MASTER CARD Tính đến thời điểm hiện nay, Vietcombank là ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng và mạng lưới cơ sở chấp nhận thẻ lớn nhất tại Việt Nam Năm 1998, Vietcombank thành lập Công ty cho thuê tài chính Vietcombank – VCB Leasing
Năm 2002, Vietcombank thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Vietcombank – VCBS
Năm 2007, Vietcombank là NHTM nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chính thức hoạt động với tư cách là một Ngân hàng TMCP vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM
Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu Vietcombank hiện có trên 12.508 cán bộ nhân viên, với gần 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, hơn 400 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc; 5 công ty con tại Việt Nam là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê Tài chính Vietcombank (VCB Leasing), Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Vietcombank (VCBS), Công ty TNHH Vietcombank Tower 198, Công ty trách nhiệm hữu hạn Tài chính Việt Nam và Công ty Chuyển tiền Vietcombank; 2 công ty con tại nước ngoài; 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 5 công ty liên doanh, liên kết
Nguồn: Báo cáo tài chính quý 2-2012 riêng lẻ đã kiểm toán [2]
Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng 1.700 ATM và 22.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100
Trang 33quốc gia và vùng lãnh thổ Vietcombank thu hút được 6 triệu khách hàng cá nhân
và là sự lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn
Vietcombank còn tích cực tham gia các hiệp hội ngành nghề như hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Asean Pacific Banker’s Club và là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội Ngân Hàng Việt Nam Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank đã, đang và sẽ luôn nỗ lực để xây dựng Vietcombank xứng đáng với vị thế
là “Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng”
Nguồn: http://www.vietcombank.com.vn/About/Milestones.aspx
Trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, Vietcombank đã nhận được rất nhiều danh hiệu cao quý Có thể kể ra một số thành tựu đã được ghi nhận của Vietcombank trong 3 năm gần đây
Năm 2009, Vietcombank tiếp tục đạt các giải thưởng do tạp chí Asiamoney, Trade Finance Magazine bình chọn như: Nhà cung cấp dịch vụ ngoại hối nội địa tốt nhất Việt Nam, Ngân hàng tốt nhất cho các sáng kiến về các sản phẩm ngoại hối và tài trợ cấu trúc, Nhà môi giới chính tốt nhất trong dịch vụ ngoại hối, Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thương mại nội địa tốt nhất,… Và Vietcombank cũng đạt được những giải thưởng như: Top 10- thương hiệu kinh tế đối ngoại uy tín, Top 20 doanh nghiệp niêm yết hàng đầu Việt Nam, Thương hiệu chứng khoán uy tín, Thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ tiêu biểu,…
Năm 2010, Vietcombank vẫn là ứng cử viên nhận được các bình chọn của Tạp chí Asiamoney như: Ngân hàng tốt nhất Việt Nam trong 5 năm liền 2006-2010, Ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thương mại tốt nhất Việt Nam 3 năm liên tiếp 2008-2010, Ngân hàng nội địa kinh doanh ngoại hối tốt nhất,… Trong năm 2010, Vietcombank cũng đạt được các giải thưởng như: Thương hiệu quốc gia 2010, Thương hiệu bền vững toàn quốc, Thương hiệu chứng khoán uy tín, Thương hiệu mạnh Việt Nam 2010
Năm 2011, Vietcombank tiếp tục đạt những danh hiệu do Trade Finance, Tạp chí The Banker bình chọn Vietcombank xếp hạng trong 1.000 ngân hàng hàng đầu thế giới Các giải thưởng như: Thương hiệu mạnh Việt Nam 2011 (9 năm liên tiếp 2003-2011),
Trang 34thương hiệu toàn quốc Đặc biệt năm 2011, Vietcombank hoàn thành xuất sắt mục tiêu kinh doanh năm với các vị trí
- Số 1 về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu; hoạt động kinh doanh thẻ
- Số 2 về lợi nhuận; quy mô vốn chủ sở hữu
- Số 3 về doanh số kiều hối
- Số 4 về dư nợ tín dụng; huy động vốn
Nguồn: Website www.vcb.com.vn- 10 sự kiện tiêu biểu của Vietcombank năm 2011
Sau 50 năm hoạt động, Vietcombank đã trở thành một NHTM hiện đại, hoạt động đa năng, đa lĩnh vực, có nền tảng công nghệ tiên tiến, hệ thống mạng lưới phủ rộng trên toàn quốc Vietcombank vươn lên trở thành NHTM Nhà nước có quy mô đứng thứ 2 về vốn chủ sở hữu Đến năm 2012, tổng tài sản đạt 440.006 tỷ đồng tăng 19.98% so với năm 2011, huy động vốn cuối kỳ đạt 294.874 tỷ đồng, tăng 22% so với đầu năm Dư nợ tín dụng tính đến 31/12/2012 đạt 257.584 tỷ quy đồng, tăng
Bảng 2.1 So sánh tình hình tài chính 2010 – 2012
Đơn vị: tỷ VNĐ
Tỷ lệ tăng trưởng 2011/2010
2012
Tỷ lệ tăng trưởng 2012/2011
Trang 35Dư nợ
trung dài hạn
10.20%
89.80%
Tín dụng doanh nghiệp Tín dụng thể nhân
Về hoạt động tín dụng, tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống tính đến 31/12/2012 đạt 257.584 tỷ quy đồng Cơ cấu tín dụng được cải thiện theo chiều hướng tích cực, tổng dư nợ trên tổng tài sản đạt 58,54% Dư nợ ngắn hạn là 151.665 tỷ quy đồng,
dư nợ trung dài hạn là 106.919 tỷ quy đồng, dư nợ VNĐ là 137.963 tỷ quy đồng, dư
nợ ngoại tệ là 3.567,6 triệu quy USD Tính theo loại tiền dư nợ ngoại tệ tăng 7,4%,
dư nợ VND tăng 18,7% Tính theo kỳ hạn dư nợ ngắn hạn có sự tăng trưởng mạnh
mẽ tăng 29,93% so với cuối năm 2011 trong khi dư nợ trung dài hạn chỉ tăng 24,17% Dư nợ cho vay xuất khẩu đạt hơn 22.000 tỷ đồng, tăng 64%, chiếm tỷ trọng 10,7% so với mức 7,7% cuối năm 2010
Nguồn: Báo cáo thường niên Vietcombank 2011 [22,23], Phòng kế toán tổng hợp Vietcombank HO
Hoạt động huy động vốn Mặc dù trong năm 2012, công tác huy động vốn đặc biệt khó khăn do tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách kiểm soát thị trường ngoại hối nghiêm ngặt Bên cạnh đó, hoạt động huy động vốn còn phải đối mặt với nhiều thách thức hơn do sự cạnh tranh không lành mạnh của các tổ chức tín dụng khác Trước diễn biến phức tạp của thị trường, Vietcombank một mặt tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước mặt khác đã linh hoạt đưa các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn từ nền kinh tế đạt 294.874 tỷ quy đồng, tăng cao hơn
so với mức tăng trưởng trung bình của toàn ngành Đặc biệt huy động vốn từ dân cư đạt 148.616 tỷ đồng, tăng 22,23%, chiếm tỷ trọng 50,4% huy động vốn từ nền kinh
tế Điều này thể hiện sự nhìn nhận của xã hội đối với uy tín và thương hiệu Vietcombank Huy động vốn từ tổ chức kinh tế đạt 123.573 tỷ đồng tăng 2,88% Huy động từ thị trường liên ngân hàng đạt 22.685 tỷ đồng
Trang 36Hoạt động kinh doanh thẻ đạt và vượt 1,5 lần so với chỉ tiêu kế hoạch, Vietcombank đã phát hành được hơn 1,3 triệu thẻ các loại Doanh số sử dụng và
thanh toán thẻ đều tăng trưởng rất mạnh Doanh số sử dụng thẻ tín dụng quốc tế đạt 6.612 tỷ đồng, tăng 43%, đặc biệt doanh số thanh toán thẻ quốc tế của Vietcombank đạt 1 tỷ USD, tăng 30,4% so với năm 2011 và chiếm áp đảo trên 50% thị phần trong
hệ thống ngân hàng Vietcombank cũng là ngân hàng có mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ lớn nhất nước với số máy đạt gần 22.000 máy, chiếm thị phần hơn 28%, là trong số những ngân hàng có mạng lưới ATM lớn nhất cả nước với tổng số máy đạt 1.700 máy
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Vietcombank vẫn duy trì phát triển mạnh với số
lượng khách hàng cá nhân khoảng 6,8 triệu tính đến thời điểm cuối năm 2012, mỗi năm cơ sở khách hàng của Vietcombank đều tăng thêm được hơn 800.000 khách hàng do tăng các chủ thẻ Connect 24
Hoạt động đầu tư của Vietcombank cũng có cơ cấu đa dạng Lĩnh vực tài chính ngân hàng và dịch vụ hỗ trợ chiếm tỷ trọng 67,5%, bảo hiểm 12,88%, cho thuê văn phòng bất động sản 12,11%, đầu tư khác 7,51% Tính đến 31/12/2011, tổng vốn đầu
tư hợp nhất của Vietcombank (chưa trừ dự phòng) là 2.826 tỷ đồng, chiếm 13,9% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Tổng thu nhập từ hoạt động đầu tư năm 2011 đạt 1.003 tỷ đồng, tăng 104% so với năm 2010, vượt 144% kế hoạch
Nguồn: Báo cáo thường niên Vietcombank 2011 [25-27], Phòng kế toán tổng hợp Vietcombank HO
Mô hình tổ chức thực hiện dịch vụ TTQT trong hệ thống Vietcombank thống nhất từ hội sở chính đến các chi nhánh và các điểm giao dịch trực thuộc Sau 50 năm hình thành và phát triển, Vietcombank cũng đã ban hành các quy trình chuẩn trong toàn hệ thống ứng với từng phương thức TTQT cụ thể như: Quy trình chuyển tiền bằng điện trong hệ thống Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Quy trình thanh toán xuất nhập khẩu theo hình thức tín dụng chứng từ và nhờ thu chứng từ trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam làm cơ sở cho các cán bộ tác nghiệp
Trang 37Hình 2.2 Mô hình tổ chức thực hiện dịch vụ TTQT tại Vietcombank
(1), (2), (3), (4): Khách hàng cung cấp các chứng từ TTQT tại các PGD, Chi nhánh hoặc Chi nhánh đầu mối của Vietcombank
Nếu khách hàng giao dịch tại các PGD trực thuộc chi nhánh thì các PGD sẽ kiểm tra sơ bộ hồ sơ và khả năng thanh toán của khách hàng sau đó chuyển hồ sơ về chi nhánh thực hiện tác nghiệp xử lý yêu cầu của khách hàng theo quy định của Vietcombank ứng với từng phương thức và giao dịch cụ thể phát sinh trong trường
(3)
CÁC KHÁCH HÀNG CÓ NHU CẦU TTQT TẠI VCB
CHI NHÁNH
CHI NHÁNH ĐẦU MỐI
TRUNG TÂM THANH TOÁN
CÁC NGÂN HÀNG ĐẠI LÝ CỦA VCB Ở
Trang 38Nếu khách hàng giao dịch tại các PGD trực thuộc chi nhánh không được phép tác nghiệp độc lập hoặc chi nhánh đầu mối thì các PGD và chi nhánh tương tự cũng sẽ kiểm tra sơ bộ hồ sơ và khả năng thanh toán của khách hàng và chuyển toàn bộ chứng từ về chi nhánh đầu mối xử lý nghiệp vụ theo quy trình tác nghiệp của từng phương thức thanh toán cụ thể của Vietcombank
(5): Chi nhánh hoặc chi nhánh đầu mối khởi tạo các loại điện như phát hành, thanh toán, thông báo, tra soát,… ứng với từng phương thức thanh toán và từng giao dịch cụ thể trên hệ thống cơ sở dữ liệu của Vietcombank Người có thẩm quyền tại bộ phận nghiệp vụ ở chi nhánh hoặc chi nhánh đầu mối duyệt điện để chuyển điện đến TTTT
(6): Tại TTTT trực thuộc hội sở chính, các loại điện đã được khởi tạo sẽ được truyền qua cổng STP xử lý giao dịch tự động của bộ phận tin học và được sử lý tự động trên máy tính Nếu điện đã tạo đáp ứng được điều kiện và hạn mức STP sẽ được hạch toán và chuyển điện đi nước ngoài đến NH đại lý ở một quốc gia thích hợp hoặc ở quốc gia của người thụ hưởng
(7): Ngân hàng đại lý của Vietcombank tại nước người thụ hưởng sẽ chuyển trả tiền (bao gồm chuyển điện, thanh toán bù trừ, hoặc chuyển vốn) đến ngân hàng của đơn vị hưởng
(8): Ngân hàng thụ hưởng ghi có tài khoản người thụ hưởng đối với điện thanh toán và thông báo đến người thụ hưởng đối với các điện khác
Sự phát triển của ngành ngoại thương đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hoạt động TTQT của ngành ngân hàng Không nằm ngoài xu thế phát triển chung
đó, hoạt động TTQT của Vietcombank trong những năm qua cũng có sự tăng trưởng vượt bậc
Doanh số thanh toán XNK của Vietcombank từ năm 2009 đến 2012 nhìn chung
có sự tăng trưởng khá đều đặn về mặt tỷ lệ cũng như giá trị Tuy nhiên, doanh số thanh toán XNK của Vietcombank cũng chịu sự ảnh hưởng chung của nền kinh tế trong nước và thế giới mỗi năm
Trang 39Bảng 2.2 Doanh số thanh toán XNK của Vietcombank qua các năm
đã cải tiến quy trình xử lý nghiệp vụ tài trợ thương mại theo hướng: tập trung xử lý giao dịch tài trợ thương mại cho một số chi nhánh nhỏ và vừa tại Hội sở chính thay
vì xử lý phân tán như trước đây, vì vậy hiệu quả hoạt động tài trợ thương mại được nâng lên, góp phần làm tăng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu qua Vietcombank Tổng doanh số thanh toán XNK của Vietcombank trong năm 2010 đạt 31 tỷ USD, tăng gần 21% so với năm 2009, vượt 12% kế hoạch đề ra Doanh số thanh toán xuất khẩu năm 2010 qua Vietcombank đạt 16,5 tỷ USD, tăng 31,6% so với năm 2009 Doanh số thanh toán nhập khẩu năm 2010 qua Vietcombank đạt 14,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009
Năm Chỉ tiêu
Giá trị
Giá trị
Tỷ lệ % tăng/giảm
Giá trị
Tỷ lệ % tăng/giảm
Giá trị
Tỷ lệ % tăng/giảm
Thanh toán XNK 25,62 31,00 + 21,00 38,80 + 25,50 47,34 +22,00 Thanh toán Xuất khẩu 12,46 16,50 + 31,60 21,83 + 32,30 28,16 +29,00 Thanh toán Nhập khẩu 13,15 14,50 + 10,00 16,97 + 17,00 19,18 +21,00
12.46 13.15
16.6 14.5
21.38
16.97
28.16 19.18
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
2009 2010 2011 2012 Thanh toán Xuất khẩu Thanh toán Nhập khẩu
Trang 40Sang năm 2011, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều bất ổn, việc quy định hạn chế đối với các đối tượng cho vay nhập khẩu của Nhà nước đã gây không ít khó khăn cho hoạt động thanh toán XNK nói chung Tuy nhiên, với những lợi thế về thương hiệu, sản phẩm và nguồn nhân lực có chất lượng cao, hoạt động thanh toán XNK của Vietcombank vẫn duy trì được đà tăng trưởng đáng khích
lệ và giữ vị trí đứng đầu Trong năm 2011, Vietcombank cũng triển khai các chương trình tín dụng tập trung cho xuất khẩu và tăng cường giới thiệu các sản phẩm dịch vụ thanh toán tới khách hàng thông việc tiếp xúc với các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu chủ lực, quảng bá dịch vụ tài trợ thương mại Kết quả là, năm 2011 doanh số thanh toán XNK qua Vietcombank đạt 38,8 tỷ USD, tăng 25,5 % so với năm trước, chiếm thị phần 19,2% trong tổng kim ngạch XNK cả nước
Năm 2012, tình hình kinh tế thế giới càng chuyển biến phức tạp hơn Tuy nhiên
so với năm 2011, Vietcombank vẫn duy trì được đà tăng trưởng trong doanh số TTQT mặc dù tỷ lệ tăng trưởng có giảm Giá trị thanh toán XNK của Vietcombank năm 2012 đạt 47,34 tỷ USD, tỷ lệ tăng trưởng 22% (giảm nhẹ so với năm 2011 3,5%) Trong đó giá trị thanh toán xuất khẩu đạt 28,16 tỷ USD, giá trị thanh toán nhập khẩu đạt 19,18 tỷ USD Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank trải rộng trên khắp các thị trường Mỹ, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Châu Âu …
Nhằm phát huy tốt vai trò đầu mối thanh toán XNK, năm 2012 mặc dù gặp nhiều khó khăn Vietcombank vẫn duy trì được doanh số mua bán ngoại tệ ở mức xấp xỉ
35,5 tỷ USD Vietcombank cũng đã đa dạng hóa nhiều sản phẩm và triển khai nhiều giải pháp để khai thác các nguồn ngoại tệ nhằm thực hiện đúng các cam kết thanh toán, đảm bảo ngoại tệ cho các khách hàng nhập khẩu đủ xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu cho nền kinh tế
Nguồn: Báo cáo thường niên của Vietcombank năm 2011 [25], Phòng Tổng hợp thanh toán Vietcombank HO
Qua số liệu đã trình bày có thể thấy mức độ tăng doanh số TTQT của Vietcombank về mặt giá trị tuyệt đối cũng như tỷ lệ tăng trưởng có thể thấy mức tăng trưởng này tương xứng với nội lực của Vietcombank về tổng tài sản, vốn chủ