1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông bất bạt huyện ba vì thành phố hà nội

124 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

-

TRỊNH THỊ THU HIỀN

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT

HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ THU HIỀN

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT, HUYỆN BA VÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phó Đức Hòa

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường THPT Bất Bạt đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá học Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ động viên tác giả hoàn thành khoá học và luận văn này

Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của Thầy Cô và đồng nghiệp

Trân trọng biết ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Trịnh Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn…… ……… ………i

Danh mục chữ viết tắt… ……… …….……….ii

Mục lục… ……….…… iii

Danh mục bảng ……….………….vi

Danh mục biểu đồ, sơ đồ… ……… ……… viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT 6

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động GDĐĐ 10

1.2.1 Quản lý 10

1.2.2 Giáo dục đạo đức 12

1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức 14

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 15

1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 15

1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 15

1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường THPT 16

1.3.3 Nội dung của hoạt động giáo dục đạo đức: 16

1.3.4 Các con đường của hoạt động GDĐĐ…… ……… 17

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 19

1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 19

1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 21

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT 23

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 23

1.5.2 Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục tập quán của địa phương25 1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức 27

1.5.4 Trình độ, năng lực quản lý của CBQL và giáo viên các trường THPT .29

Kết luận chương 1 31

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT HUYỆN

BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục huyện BaVì……… ……….32

2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 32

2.1.2 Khái quát tình hình GD&ĐT của huyện Ba Vì 33

2.1.3 Quá trình phát triển của trường THPT Bất Bạt 33

2.2 Thực trạng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện Ba vì, thành phố Hà Nội 35

2.2.1 Nhận thức tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho học sinh 35

2.2.2 Nội dung GDĐĐ cho học sinh 37

2.2.3 Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh 39

2.2.4 Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh trường THPT Bất Bạt 42

2.2.5 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến GDĐĐ cho học sinh 44

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt 46

2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức 46

2.3.2 Việc triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức 47

2.3.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 49

2.3.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức 52

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt 56

2.4.1 Ưu điểm 56

2.4.2 Hạn chế 57

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 57

Kết luận chương 2 60

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT BẤT BẠT HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI……… …….61

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 61

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng yêu cầu theo chủ trương, chính sách, mục tiêu của Đảng và Nhà nước 61

Trang 7

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 61

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 62

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 62

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 63

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về GDĐĐ cho học sinh 63

3.2.2 Biện pháp 2: Kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh 67

3.2.3 Biện pháp 3: Thành lập Ban chỉ đạo quản lý cáchoạt động GDĐĐ phù hợp với đối tượng giáo dục và các lực lượng tham gia giáo dục 68

3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức HS … 76

3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cộng đồng, địa phương cho học sinh 81

3.2.6 Biện pháp 6: Nâng cao chất lượng quản lý văn hóa nhà trường 83

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88

3.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 91

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 91

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 91

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 91

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 Kết luận……… ……….…….96

2 Khuyến nghị……… ……….97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 102

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Qui mô phát triển học sinh trong giai đoạn 2011 – 2014 34 Bảng 2.2 Tình hình cán bộ, giáo viên trường THPT Bất Bạt 35 Bảng 2.3 Vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức 36 Bảng 2.4 Đánh giá các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trường

THPT Bất Bạt 38 Bảng 2.5 Nhận xét của GV về triển khai các hình thức giáo dục đạo đức

của trường THPT Bất Bạt 39 Bảng 2.6 Thái độ của học sinh đối với các hình thức GDĐĐ ngoài giờ lên

lớp 41 Bảng 2.7 Xếp loại hạnh kiểm học sinh THPT Bất Bạt từ năm học 2011

đến 2014 43 Bảng 2.8 Xếp loại học lực học sinh THPT Bất Bạt từ năm học 2011 đến

2014 43 Bảng 2.9 Đánh giá kế hoạch hóa quản lý GDĐĐ 46 Bảng 2.10 Đánh giá mức độ triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức cho học

sinh của trường THPT Bất Bạt 48 Bảng 2.11 Thực trạng việc triển khai hoạt động giáo dục đạo đức của Tổ

chuyên môn, GVCN, ĐTN trong nhà trường 49 Bảng 2.12 Thực trạng công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung GDĐĐ

ở trường THPT Bất Bạt 50 Bảng 2.13 Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra công tác

giáo dục đạo đức cho học sinh 52 Bảng 2.14 Thực trạng công tác đánh giá trong quản lý GDĐĐ cho học

sinh trường THPT Bất Bạt 53 Bảng 2.15 Thực trạng công tác xử lí trong quản lý GDĐĐ cho học sinh

trường THPT Bất Bạt 54 Bảng 2.16 Nhận xét của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các

nguyên nhân đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh 58

Trang 9

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 6 biện pháp đề xuất 92 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 6 biện pháp đề xuất 93 Bảng 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp 94

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý .11

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp 90

Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất .92

Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất .93

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ xa xưa ông cha ta đã đúc kết kinh nghiệm cho giáo dục thế hệ sau một cách sâu sắc: “Tiên học lễ, hậu học văn” Lễ ở đây chính là nền tảng đạo đức của con người, là sự lĩnh hội và phát triển các tri thức, kĩ năng Chính vì vậy, trong

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây dựng những con người Việt Nam thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị độc lập dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm về phát triển con người Việt Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của nhân loại, cũng đang còn không ít những vấn đề thuộc về lĩnh vực đạo đức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm Đó là vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ của nước nhà có được lối sống lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình người sâu sắc; loại bỏ lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền bất chính, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác Đứng trước những biểu hiện suy thoái đạo đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách của một bộ phận người trong xã hội, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”, lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một trong các nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện nay

Trang 12

1.2 Trong những năm gần đây, đạo đức của học sinh thành phố Hà Nội nói chung đã có tiến bộ, tuy nhiên những biểu hiện đạo đức của học sinh trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thành phố có sự sa sút Có nhiều nguyên nhân dẫn đến

sự sa sút đó nhưng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này phải chăng là do sự quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố còn nhiều hạn chế, chưa thực sự được coi trọng đúng mức? Trách nhiệm đầu tiên phải thuộc về những người làm công tác giáo dục Điều đó đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức; tìm ra biện pháp tháo gỡ, khắc phục để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT Nói cách khác, việc tìm ra được biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay là vấn đề thời sự và cấp thiết Đó là việc đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng vấn đề, phát hiện được trở ngại, các vướng mắc để tìm ra các nguyên nhân của hoạt động giáo dục đạo đức (GDĐĐ) và quản lý hoạt động GDĐĐ, đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội Nếu các vấn đề đó được nghiên cứu và giải quyết thấu đáo, sẽ tạo nên những chuyển biến tích cực về lối sống và đạo đức của học sinh, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho cộng đồng, địa phương và cho đất nước

Là một người làm trong ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố, tác giả cảm nhận sâu sắc và hết sức băn khoăn trước những thực tế này Giáo dục đạo đức đối với học sinh, đặc biệt là học sinh THPT là vấn đề cần thiết, cấp bách và có tác dụng lâu dài, ảnh hưởng rất lớn đến các thế hệ tương lai của đất nước Chúng ta phải thấm nhuần quan điểm của Hồ Chủ tịch về giáo dục đạo đức: "Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả Tài lẫn Đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng"

1.3 Hiện nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh; tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể về thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung và cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng thì đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào cụ thể Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài:

Trang 13

“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện

Ba Vì, thành phố Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho

học sinh ở trường THPT Bất Bạt, thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý

hoạt động GDĐĐ cho học sinh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Bất Bạt thuộc địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay đã có đổi mới và thu lại một số kết quả đáng khích lệ;

tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp quản

lý hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với thực trạng hiện nay của nhà trường sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường THPT

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng GDĐĐ cho học sinh và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tại trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh cho BGH trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Giới hạn về đề tài nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông của trường THPT

Trang 14

6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Trường THPT Bất Bạt, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

6.3 Giới hạn khách thể khảo sát

Học sinh của Trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội gồm 3 khối 10, 11,12 Trong đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh có độ tuổi phổ thông (giai đoạn tuổi từ 16 đến 18 tuổi)

Trong điều tra thu thập số liệu, tác giả tập trung vào những kết quả giáo dục của Trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì , thành phố Hà Nội các năm học 2010 -

2011 đến 2012 - 2013; 2013 – 2014 đồng thời chọn các khách thể khác nhau để điều tra thực trạng GDĐĐ và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDĐĐ, các nhóm khách thể cụ thể là:

Ban Giám Hiệu, Ban chấp hành Công đoàn và Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của Trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố

Hà Nội

Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh của trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục nói chung và phát triển GDTHPT nói riêng trong giai đoạn hiện nay; các công trình khoa học về giáo dục, GDĐĐ cho học sinh, các công trình khoa học

về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh; phương pháp này được sử dụng với mục đích xác định cơ sở lý luận về hoạt động quản lý GDĐĐ cho học sinh của các trường THPT

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

*Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: bằng phương pháp xin ý kiến chuyên

gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tại trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội; đồng thời xem

xét mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tôi sẽ đề xuất trong luận văn

*Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát: là một phương pháp rất hiệu

Trang 15

quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về công tác giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức của cán bộ, giáo viên và học sinh trong nhà trường, đề từ đó có những điều

chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn

*Phương pháp phỏng vấn: phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm

thông tin về thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của Hiệu trưởng

*Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm trong giáo dục: Tổng kết lại các nghiên

cứu, điều tra khảo sát, số liệu thống kê về quản lý hoạt động GDĐĐ tại các trường

THPT huyện Ba Vì

7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học

Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trong luận văn

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục., luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

THPT

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

tại trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của

trường THPT Bất Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người Nó là một hình thái ý thức xã hội Nó được phát triển song hành cùng với xã hội đồng thời nó giúp

xã hội loài người tiến cao hơn Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Ở phương Đông thời cổ đại, Khổng tử (551- 479 TCN) nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục nổi tiếng của Trung Quốc, đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho con người Tư tưởng về đạo đức, giáo dục đạo đức của ông thể hiện rõ trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” Ông xây dựng học thuyết “Nhân- Lễ- Chính danh”, trong đó, “Nhân”- Lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, Ông có câu nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học

Trong xã hội cận đại, J.A Comenxki (1592-1670) nhà sư phạm lỗi lạc, nhà giáo dục nổi tiếng phương Tây thế kỷ XVII ông đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm: “Khoa sư phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ sự tôn trọng trẻ em Những trẻ em ý thức kém về học tập và hạnh kiểm giống như những trái chín muộn Chính vì vậy, nhà giáo phải có thái độ trân trọng, kiên nhẫn thì mới có thể xoá bỏ những thói xấu ở học sinh và khơi dậy tiềm năng của các em

Trang 17

Theo quan niệm của học thuyết Mác - Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức

xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc [8, tr.56]

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý GDĐĐ cho học sinh, sinh viên

ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu, chúng

ta cũng biết rằng đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách Vì vậy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của các cấp chính quyền, các nhà giáo dục và của toàn xã hội Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ của nhiều tác giả trong nước từ nhiều góc độ khác nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và GDĐĐ

cho cán bộ, HS Khi còn sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà

không có đức thì là người vô dụng” Từ quan điểm đó Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”,

“Khiêm tốn, thật thà dũng cảm” Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, HS thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng’’ vừa “chuyên” [23]

Kế thừa tư tưởng của Người, viện khoa học giáo dục Việt Nam, Trường Đại

học Sư phạm Hà Nội đã có nhiều đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này, với các tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia…và nhiều tác giả khác Để tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả Hà Thế Ngữ [33] đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh

Nhà Tâm lý học Phạm Minh Hạc [20] đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách Công trình nghiên cứu của ông và các cộng sự về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong

Trang 18

thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đã dành một chương cho vấn đề đạo đức, GDĐĐ, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay nhằm tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu giáo dục đạo đức trong các công trình nghiên cứu của mình

Tác giả Hà Nhật Thăng [39] đã đề cập đến những vấn đề chung như phương pháp luận của GDĐĐ, xây dựng các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH, các giải pháp nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống hiện đại Đặc biệt những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã hết sức nhức nhối trước những hiện tượng suy thoái đạo đức của một số thanh niên đã có những bài viết đáng quan tâm

Một số tác giả khác đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và các thành quả nghiên cứu được thể hiện tại các sách, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ Cụ thể:

Tác giả Phan Huy Lê đã nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội và một

số nước; thực trạng phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước [31]

Để nâng cao chất lượng đạo đức trong thời kỳ đổi mới đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác GDĐĐ Tuy còn ít ỏi nhưng có thể kể đến:

Tác giả Trần Đăng Sinh quan tâm đến mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, giữa giáo dục pháp luật với GDĐĐ, mục tiêu giáo dục, điều kiện thuận lợi khó khăn, yêu cầu xã hội đối với GDĐĐ, ý nghĩa của việc kết hợp GDĐĐ và giáo dục pháp luật cho sinh viên trong việc làm tăng hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức đạo đức và ý thức pháp luật.[37]

Tác giả Lê Văn Hồng trên cơ sở tiếp cận việc GDĐĐ cho học sinh THPT,

Trang 19

từ góc độ nhà quản lý đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Tuy nhiên tác giả chưa nêu được điểm nhấn, điểm thúc đẩy quá trình quản lý GDĐĐ cho học sinh.[24]

Tác giả Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức đã quan tâm đến thực trạng đạo đức học sinh THPT Từ đó tác giả đưa ra 10 kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh đồng thời đưa ra những yêu cầu của các nhà quản lý GD phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tổ chức đa dạng hoạt động thu hút học sinh vào việc rèn luyện đạo đức [22]

Tác giả Phan Huy Lê lại đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Từ đó đưa ra 6 giải pháp phối hợp các lực lượng xã hội nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT [32]

Trong công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của nước nhà, do nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người, cho nên đã có nhiều nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ cho học sinh phổ thông thể hiện tại những luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức, quản lý vấn đề giáo dục đạo đức ở tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của một số tác giả như:

Lê Ngọc Tiến với đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở

trường THPT Tây Hồ, thành phố Hà Nội”

Trần Thị Thu Huyền với đề tài: “Quản lý giáo dục đạo đức ở trường THPT

Tô Hiệu thành phố Hưng Yên hiện nay”

Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khác đi sâu và nghiên cứu GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở các trường Trung học phổ thông, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Nhưng đề tài nghiên cứu về vấn đề này tại trường THPT Bất Bạt chưa có Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Trung học phổ thông vẫn còn bỏ ngỏ Vì vậy nghiên cứu cơ sở lý luận về GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trong các trường trung học phổ thông; Tìm hiểu thực trạng quản lý GDĐĐ cho học sinh tại các trường THPT Bất Bạt trên địa bàn huyện

Ba Vì, thành phố Hà Nội từ đó tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh các trường THPT Bất Bạt là rất cần thiết

Trang 20

1.2 Một số vấn đề cơ bản về quản lý và quản lý hoạt động GDĐĐ

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Thuật ngữ “quản lí” (Tiếng Việt gốc Hán) bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định” Quá trình “lí” bao gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát triển”

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Quản lí là tổ chức, điều khiển hoạt động của

một đơn vi, một tổ chức”[ 41 - tr.1363]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt

hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [ 32]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho

mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” ” [ 29]

Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động,

nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định “tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9]

Khái niệm quản lý phản ánh một dạng lao động trí tuệ của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những người khác để thực hiện thành công công việc nhất định Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức Quan niệm hiện đại về quản lý thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những người khác để đạt được những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng

Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm:

Trang 21

Quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản

lý lên khách thể và các đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

1.2.1.2 Bản chất quản lý

Bản chất quản lý đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã xác định

1.2.1.3 Chức năng quản lý

Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện

kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và quy định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó

Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tác động với nhau một cách hợp lý

Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra

Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra: trạng thái của hệ thống; kết quả thực hiện kế hoạch; phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa

TT (thông tin) được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết với cả 4 chức năng

Trang 22

1.2.2 Giáo dục đạo đức

1.2.2.1 Đạo đức

Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất phong phú và sâu sắc

Bàn về đạo đức đã có nhiều định nghĩa từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên chúng ta có ba cách hiểu đạo đức như sau:

Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý

thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [2]

Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao

gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [13]

Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt

bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [26]

Như trên đã trình bày, có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức Tuy nhiên

ta có thể hiểu khái niệm này dưới hai góc độ:

Một là góc độ xã hội: ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh

dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự mhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân mình

Hai là góc độ cá nhân: ĐĐ chính là những phẩm chất, nhân cách của con

người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình

Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận

Trang 23

thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả

Như vậy, từ các quan niệm trên ta có thể hiểu: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [30]

1.2.2.2 Giáo dục đạo đức

“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ

thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với

yêu cầu của xã hội” [26]

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [22]

Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của

xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một

vị trí đặc biệt quan trọng

Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm

Trang 24

và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển

Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh

có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật

1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức

Hoạt động giáo dục đạo đức là hình thành cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Nhờ đó, con người

có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế, công tác giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành phát triển nhân các phù hợp với từng giai đoạn phát triển

“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là lập được những thói quen hành vi đạo đức”

Quá trình giáo dục đạo đức là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục

Quá trình giáo dục đạo đức giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là hình thành được những thói quen hành vi đạo đức Theo tác giả thì có thể hiểu hoạt động GDĐĐ một cách cụ thể như Đặng Vũ

Hoạt thì hoạt động GDĐĐ cho học sinh “là hoạt động thực tiễn của học sinh cả về

khoa học – kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí v…v để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường )”[21]

Trang 25

1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Từ khái niệm quản lý và khái niệm GDĐĐ đã nêu trên đây, quản lý hoạt động GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt tới mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất

Về bản chất, quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào các quá trình GDĐĐ nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện

kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung GDĐĐ theo các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đặt ra với thế hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân trở thành hiện thực

Như vậy, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là hoạt động điều hành việc giáo dục đạo đức để đạo đức vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục

1.3 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức Mục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật

- Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kỳ mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức

- Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các quy phạm đạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh vì độc lập tự

do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thực xung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân

- Về hành vi: Có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Có quan

hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực

Trang 26

1.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDĐĐ cho học sinh trong các trường THPT

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 35, năm 1992)

nêu rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng

cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện [35]; điều này cũng thấy vai trò và vị trí

của giáo dục đạo đức trong giáo dục

GDĐĐ trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ cơ bản sau:

- Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức

Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái

độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội

- Giáo dục hành vi thói quen đạo đức

Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Nội dung GDĐĐ là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung GDĐĐ bao gồm những vấn đề sau:

Giáo dục ý thức chính trị: là ý thức về quyền lợi giai cấp, sự tồn vong và

giàu mạnh của đất nước về vai trò của đất nước trong quan hệ với các quốc gia trên thế giới Nó bao hàm ý thức về chủ quyền dân tốc, về tồn tại và toàn vẹn lãnh thổ,

về sự giàu mạnh của đất nước, về đường lối lãnh đạo và chiến lược phát triển đất nước của Đảng và Chính phủ, sự tuân thủ chính sách đối nội và đối ngoại của quốc

Trang 27

gia, về thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trong cuộc sống, học tập, lao động, nghĩa vụ quân sự,

Giáo dục ý thức pháp luật: thể hiện ở việc tham gia xây dựng các bộ luật,

thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp, đấu tranh để pháp luật được thực hiện công minh, quyền được bảo hộ của luật pháp

Giáo dục ý thức đạo đức: thể hiện ở sự nhận thức và thực hiện các quy tắc,

chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận về thiện, ác, lẽ phải, công bằng, văn minh, lương tâm, trách nhiệm, mục đích cuộc sống, nếp sống, lối sống, trong gia đình, trong tập thể, trong cộng đồng và xã hội,

Phát triển ý thức đạo đức: trang bị cho học sinh những hiểu biết, niềm tin về

các chuẩn mực, các quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức sống; giáo dục lối sống cá nhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội; giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo; giáo dục về nghĩa vụ lao động

và bảo vệ tổ quốc

Bồi dưỡng tình cảm đạo đức: hình thành và phát triển những xúc cảm, tình

cảm đạo đức trong sáng; xây dựng niềm tin đạo đức dựa trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa nhận thức và tình cảm đạo đức đã đạt được Từ đó hình thành nhu cầu, động

cơ, tình cảm phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Giáo dục hành vi đạo đức: trang bị cho học sinh những nhu cầu nhận thức

đạo đức và văn hoá đạo đức để họ có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực của xã hội

Trong nhà trường THPT Việt Nam hiện nay: Nội dung GDĐĐ trên còn được

cụ thể hóa, đó là giáo dục học sinh thấm nhuần thế giới quan Mác- Lênin, tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, tình yêu quê hương đất nước, con người, lòng nhân ái, tình yêu lao động…

1.3.4 Con đường của hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

Giáo dục đạo đức là con đường để hình thành nhân cách thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

1.3.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức thông qua các môn học

Nội dung giáo dục đạo đức thông qua môn Giáo dục công dân và được tích hợp

từ các môn học trong chương trình học của học sinh đảm bảo các nội dung:

Trang 28

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với xã hội như: Giáo dục lòng yêu hương đất nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ

Tổ quốc; Giáo dục niềm tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc; Giáo dục lòng tôn trọng, giữ gìn các di sản văn hóa của dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống và tinh thần quốc tế vô sản; Biết ơn các vị tiền liệt có công dựng nước và giữ nước, giáo dục lòng tin yêu Đảng Cộng Sản Việt Nam và kính yêu Bác Hồ

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với lao động: Giáo dục học sinh có thái độ đúng đắn đối với lao động, biết yêu thích lao động, chăm chỉ học tập, say mê khoa học, biết quý trọng người lao động dù lao động chân tay hay lao động trí óc

- Giáo dục quan hệ cá nhân học sinh đối với tài sản xã hội, di sản văn hóa và thiên nhiên: Giáo dục yêu cầu bản thân các em phải có ý thức giữ gìn, tiết kiệm, bảo

vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác Biết bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập và nơi công cộng

- Giáo dục quan hệ cá nhân của học sinh đối với mọi người xung quanh: Giáo dục các em biết kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những người lớn tuổi; Biết kính trọng, lễ phép, lòng biết ơn đối với thầy cô giáo; Đối với em nhỏ phải có

sự cảm thông, nhường nhịn, giúp đỡ, vị tha; Giáo dục tình bạn chân thành, tình yêu chân chính, dựa trên sự cảm thông, hết sức tôn trọng và có cùng mục đích lý tưởng chung Có tinh thần khiêm tốn, luôn lắng nghe và biết học hỏi Giáo dục tính thông cảm, đoàn kết tương trợ, tôn trọng lợi ích và ý chí tập thể

- Giáo dục quan hệ cá nhân đối với bản thân: Phải luôn tự nghiêm khắc đối với bản thân mình khi có sự sai phạm; bản thân có đức tính khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có ý chí, có nghị lực, có tinh thần dũng cảm, lạc quan yêu đời…

- Giáo dục cho học sinh có tính nhân văn, biết cảm thụ với cái đẹp, biết bảo vệ hòa bình, sống thân thiện với môi trường,…

1.3.3.2 Nội dung GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên và các hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, góp phần chống các tệ nạn xã hội, các chủ đề uống

Trang 29

nước nhớ nguồn, tìm hiểu truyền thống dân tộc

Giáo dục đạo đức thông qua các giờ lao động công ích và vệ sinh trường lớp,

vệ sinh các công trình công cộng Thông qua con đường này, giáo dục cho học sinh có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các thành quả lao động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội

Qua lao động, các em sẽ thu được những kinh nghiệm, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau Thói quen phục tùng những lợi ích của tập thể Đặc biệt lao động gắn liền với học tập là một trong những nguyên lý giáo dục của chúng ta hiện nay

1.3.3.3 Giáo dục đạo đức bằng hình thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện hoàn thiện mình

Đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến trình độ đạo đức của mỗi học sinh

Sự phát triển đạo đức đòi hỏi có sự tác động bên ngoài và những động lực bên trong Đó chính là giáo dục và tự giáo dục Tự giáo dục cũng mang yếu tố quyết định đến việc rèn luyện đạo đức

1.3.3.4 GDĐĐ thông qua sự gương mẫu của người thầy

Lứa tuổi này, các em đã biết nhìn nhận, đánh giá người thầy với thái độ

“Trọng thầy vì đạo đức của thầy Phục thầy vì kiến thức của thầy Quý mến thầy vì

lòng độ lượng của thầy” Các em hiểu được mặt yếu, mặt mạnh của giáo viên, biết nhận xét đánh giá từng thầy cô và có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, có phẩm chất cao quý, luôn tự hào về các giáo viên đó Các em sẵn sàng làm theo sự hướng dẫn của họ và họ - những người thầy giáo cao quý đó thực sự là tấm gương cho học sinh học tập và làm theo

Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo Nhân cách của người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT

1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Nội dung quản lý giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng của Quản lý nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức

1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức

Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa

Trang 30

phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu

và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Như vậy khi lập kế hoạch người quản lý cần phải chú ý:

- Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDĐĐ với mục tiêu giáo dục Cần phối hợp chặt chẽ, hữu cơ với kế hoạch dạy học trên lớp

- Lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả giáo dục cao

- Thành lập được ban chỉ đạo cụ thể, để theo dõi, kiểm tra, giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch

Căn cứ vào những chú ý vừa nêu trên người lãnh đạo cần phải xây dựng được kế hoạch quản lý trong quá trình GDĐĐ nó bao gồm các loại kế hoạch sau:

- Kế hoạch hoạt động theo chủ điểm

- Kế hoạch hoạt động theo chương trình

- Kế hoạch hoạt động theo các mặt hoạt động xã hội

Nói tóm lại, các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát tính cụ thể và tính khả thi

1.4.1.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong

kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường

để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy, các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc

1.4.1.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức

Trên cơ sở văn bản kế hoạch và công tác tổ chức đã có, thực hiện việc hướng dẫn công việc, theo dõi, giám sát, động viên và uốn nắn kịp thời các hoạt động của

từng cá nhân và mỗi bộ phận thực hiện kế hoạch GDĐĐ đã có Cụ thể, cần chỉ đạo:

Trang 31

Hoạt động GDĐĐ thông qua các môn học trong nhà trường giúp cho học sinh hiểu biết về các khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nắm được các mức hành vi trong ứng xử, trong các quan hệ, từ đó có hành động đúng

Hoạt động GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đó là các hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động xã hội - chính trị, hoạt động thể dục thể thao nhằm giáo dục cho học sinh những tri thức khoa học thực tế, những chuẩn mực đạo đức, kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh

1.4.1.4 Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức

Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được

sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dựng Kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm giúp ta thấy được những gì còn tồn tại, những cái mới trong cái quen thuộc, những vấn đề mà thực tế đặt ra cần được giải quyết Việc kiểm tra giúp người quản lý nắm vững tình hình, kịp thời uốn nắn những sai sót; khen thưởng và kỷ luật một cách khách quan; thu thập những thông tin để điều chỉnh những tác động quản lý, kiểm nghiệm các quyết định Để kiểm tra đánh giá một cách khách quan, chính xác cần phải

có chuẩn Vì vậy cần coi trọng việc xây dựng các chuẩn để kiểm tra đánh giá Từ đó xây dựng các công cụ đánh giá phù hợp, các thủ tục quy trình đánh giá hợp lý hiệu quả

1.4.2 Phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác …) để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Chỉ thông qua và bằng phương pháp quản lý mà các mục tiêu, chức năng nhiệm vụ, quản lý mới đi vào cuộc sống, biến thành thực tiễn phong phú, sinh động, phục vụ lợi ích con người Người ta thường sử dụng một số phương pháp quản lý dưới đây:

Trang 32

chất bắt buộc yêu cầu các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh THPT: cán bộ quản lý sở GD&ĐG, Đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội, nhà trường, gia đình, CBGV và HS phải thực hiện

Phương pháp tổ chức hành chính là tối cần thiết trong công tác quản lý, nó được xem như những biện pháp quản lý cơ bản nhất để xây dựng nề nếp, duy trì kỷ luật trong ngành giáo dục, nhà trường, buộc các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức và học sinh phải làm tốt nhiệm vụ của mình

1.4.2.2 Các phương pháp tâm lý - xã hội

Là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý, nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác bên trong, thành nhu cầu của người bị quản lý Phương pháp này thể hiện tính nhân văn trong hoạt động quản lý Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực,

tự giác của mọi người, đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giúp

đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ Các phương pháp tâm lý - xã hội bao gồm các phương pháp: Giáo dục, Thuyết phục, Động viên, Tạo dư luận xã hội, Giao công việc yêu cầu cao …

Nhóm phương pháp này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Ưu điểm của phương pháp này là phát huy quyền làm chủ tập thể

và mọi tiềm năng của mỗi thành viên trong tổ chức, nói chung là phát huy được nội lực của cá nhân và tập thể Vận dụng thành công phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong hoạt động của tổ chức và hoạt động GDĐĐ cho học sinh Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc lớn vào nghệ thuật của người quản lý

1.4.2.3 Các phương pháp kinh tế

Là sự tác động một cách gián tiếp của người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của các lực lượng thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh THPT với những kích thích có tính đòn bẩy Kích thích việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tính tích cực của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Tạo động cơ mạnh cho hoạt động, mang lại lợi ích thiết thực và phát huy tính sáng tạo, nâng cao tính tự giác độc lập của mỗi tập thể, cá nhân trong công việc Bản thân việc kích thích vật chất cũng

Trang 33

đã chứa đựng sự cổ vũ về tinh thần Đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất, năng lực của mỗi người Bằng nguồn kinh phí của nhà trường xây dựng cơ chế thưởng phạt trong quản lý nói chung và quản lý hoạt động GDĐĐ nói riêng, khen thưởng xứng đáng cho những tập thể, cán bộ giáo viên có thành tích trong hoạt động GDĐĐ cho HS, đồng thời khiển trách phê bình, cắt thi đua đối với tập thể, những cán bộ giáo viên thiếu trách nhiệm trong GDĐĐ học sinh (nhất là GVCN)

Phương pháp kinh tế thường được kết hợp với phương pháp hành chính – tổ chức Hai phương pháp này luôn bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau Ngày nay, trong bối cảnh cơ chế thị trường, việc vận dụng phương pháp kinh tế phải thận trọng để một mặt khuyến khích tính tích cực lao động của cán bộ giáo viên, mặt khác vẫn đảm bảo uy tín

sư phạm của giáo viên và tập thể nhà trường

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại bậc THPT

1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT

Học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành, thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể, trí lực và tình cảm Đây cũng là thời kì các em tự xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống động, học tập để chuẩn bị cho tương lai của mình Nói một cách khác đây là thời kì nhân cách của các em đang phát triển hướng tới ổn định

Trước hết về mặt thể chất, sinh lí: Có thể nói đây là giai đoạn mà các em Học sinh THPT phát triển khá nhanh về thể chất trong cuộc đời của mỗi con người

Do điều kiện đời sống ngày càng được nâng cao nên học sinh THPT hiện nay phát triển nhanh các tố chất thể lực như cân nặng, chiều cao, cơ bắp, sức bền, sự dẻo dai hơn so với thế hệ trước cùng tuổi Mặt khác ở thời kì này hệ thần kinh trong bản thân mỗi con người các em có thay đổi quan trọng (như não có cấu trúc phức tạp hơn cùng với sự phát triển các chức năng của não) Điều này tạo tiền đề cho sự phức tạp hóa phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập và hoạt động Vì thế lứa tuổi này là giai đoạn con người có những điều kiện tâm lí, thể chất thuận lợi cho các hoạt động học tập, văn nghệ, thể thao

Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lí của các em, đó là có sự phát triển tự ý

Trang 34

thức Biểu hiện đặc trưng là nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội, trong cộng đồng Ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá bản thân theo những chuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lí, đạo đức Nhìn chung, học sinh có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình dựa trên mục đích cuộc sống và ước mơ của bản thân Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân Sự tự ý thức của học sinh THPT xuất phát từ yêu cầu cuộc sống và hoạt động, từ vị trí mới mẻ trong tập thể, từ những mối quan hệ mới với thế giới xung quanh Tất cả những điều đó làm các em ý thức được những đặc điểm nhân cách của bản thân mình học sinh THPT không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội trong tương lai Các em đã

có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết đánh giá nhân cách bản thân trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, những mặt mạnh, mặt yếu của những người cùng chung sống, cùng hoạt động và của chính bản thân Tuy nhiên sự đánh giá của học sinh ở lứa tuổi này chưa thật phù hợp Các em thường có xu hướng cường điệu khi tự cao (đánh giá bản thân cao hơn so với thực tế) Vì vậy trong nhà trường, các thầy cô giáo cần giúp đỡ các em trong quá trình đánh giá Bên cạnh đó việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức, phát triển những năng lực trí tuệ là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường THPT Ngoài những đặc điểm về nhận thức đã nêu, lứa tuổi học sinh THPT còn có khả năng hiểu biết sâu rộng Nhất là trong giai đoạn hiện nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật, nhờ xu thế hội nhập của đất nước, nhờ các phương tiện thông tin đại chúng phong phú và sự phát triển tốt về thể chất mà học sinh có điều kiện hiểu sâu, rộng các vấn đề tự nhiên, xã hội và có khả năng tư duy hơn thế hệ trước Các em thích khám phá thế giới xung quanh và học được nhiều điều ngoài tri thức nhà trường cung cấp

Xuất phát từ vị thế của người học sinh trong nhà trường, xuất phát từ vị thế nhất định trong gia đình, trong xã hội ngày càng được tăng cường mà tính tích cực xã hội của các em có những sắc thái mới so với lứa tuổi trước đó Tính tích cực này được thể hiện ở các góc độ khác nhau: Các em quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế chính trị xã hội trong nước và quốc tế Giữa các em thường có sự trao đổi với nhau,

Trang 35

có sự đánh giá nhận định và tỏ thái độ của bản thân mình trước các vấn đề đó Các

em còn sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với hứng thú, sở trường của bản thân (như hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, từ thiện, phòng chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS ) Phần đông các em thích tham gia vào những công việc lớn lao, muốn thử sức ở những công việc có nhiều khó khăn Điều này liên quan đến khả năng tự đánh giá của các em Nhà trường, gia đình nên quan tâm nhiều đến vấn đề này để giúp các em lựa chọn những công việc phù hợp với bản thân, vượt qua những khó khăn để đạt được những mục tiêu mà các em đặt ra Học sinh THPT năng động, sáng tạo, dễ thích ứng và có nhu cầu tự khẳng định mình Tính năng động, sáng tạo của các em được thể hiện trong suy nghĩ, qua hành động, đòi hỏi sự tôn trọng nhân cách và tạo điều kiện cho các em được tự khẳng định mình Chính vì thế các thầy cô giáo trong nhà trường cần biết khuyến khích những việc làm đúng, kích thích tính năng động, sáng tạo ở các em, tránh lí thuyết suông, áp đặt, giám sát quá chặt, phải tế nhị, khéo léo giúp các em định hướng đúng hành động của mình

Để công tác GDĐĐ tại các trường THPT đạt được hiệu quả cao, các nhà quản lý giáo dục cần nắm được đặc điểm tâm lý lứa tuổi trên, phân tích được nguyên nhân và tìm ra các giải pháp phù hợp

1.5.2 Bối cảnh xã hội và phong tục tập quán địa phương

Thế giới hiện đại với những thành tựu to lớn của nền văn minh tin học đã và đang đứng trước những cơ hội phát triển chưa từng có, đồng thời cũng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn mang tính toàn cầu với các nguy cơ chiến tranh, khủng bố, bạo lực, phân hóa giầu nghèo Giáo dục(GD) với chức năng xã hội

to lớn của mình đã đưa đến cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ ở tất cả các quốc gia, các dân tộc những giá trị chung của nhân loại: hòa bình, hợp tác, bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau GDĐĐ góp phần thức tỉnh những bản chất tốt đẹp của con người, đẩy lùi sự đố kị, thúc đẩy sự hướng thiện và hòa đồng, tinh thần hợp tác, khoan dung, thân thiện, nhân ái Trong xã hội hiện tại cũng như trong tương lai, con người cần có khả năng sống với nhau, học với nhau, làm việc với nhau và sử dụng những nguồn lực môi trường một cách khôn ngoan

Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn

Trang 36

được đặt vài hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực Nếu không được GDĐĐ, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ

bị phát triển lệch lạc về nhân cách Các hiện tượng tiêu cực của một bộ phận học sinh phổ thông trong thời gian qua, như : bạo lực học đường, đua xe máy, nghiện hút, một phần là do các em thiếu ý thức đạo đức Nếu tổ chức quản lí GDĐĐ một cách khoa học, hợp lí chính là giúp các em có hành trang tự khẳng định, vững vàng

tự tin trước sự lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, giữa cái nên cần làm và cái cần tránh; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hòa lành mạnh

Kinh tế địa phương trong đó có gia đình học sinh đã góp phần xây dựng cảnh quan sư phạm, tạo một lực lượng giáo dục hùng hậu quyết định một phần không nhỏ vào công tác giáo dục GDĐĐ cho học sinh Nói tổng quát hơn, nếu quan hệ sản xuất lành mạnh, lực lượng sản xuất giàu tiềm năng, các nghề phát triển tạo môi trường định hướng nghề nghiệp tốt, giúp học sinh tránh xa được các tệ nạn xã hội Mặt khác, sự tăng trưởng kinh tế quyết định mức sống, thu nhập của mỗi gia đình Mức sống nâng cao, các gia đình mới có điều kiện nuôi con em ăn học, dành nhiều thời gian, nhiều điều kiện chăm lo tới việc học tập, tu dưỡng đạo đức của con em mình

Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, xu thế hội nhập đã đem lại sự phát triển nhanh về mọi mặt song mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ cho việc GDĐĐ đến học sinh

Các phong trào văn hoá xã hội ở địa phương sẽ lôi cuốn gia đình, nhà trường

và đặc biệt là các em tham gia các phong trào xây dựng “Gia đình văn hoá” “Giữ gìn trật tự trị an” “Bảo vệ môi trường” “Phòng chống tệ nạn”, kỷ niệm các ngày lễ lớn là điều kiện để GDĐĐ cho học sinh tốt nhất Ngoài ra các truyền thống văn hoá địa phương là một môi trường để các em được giáo dục về “cội nguồn”, lòng tự hào dân tộc, về tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn bản sắc dân tộc Nếp sống văn minh, các phong tục dòng họ, lễ hội, các phong trào đền ơn đáp nghĩa được địa phương tổ chức tốt sẽ là một điều kiện để các em tham gia rèn luyện Qua đó tính nhân văn sẽ ngấm vào bản chất đạo đức của các em Tổ chức tốt phong trào văn hoá

Trang 37

tinh thần như thư viện, các loại hình câu lạc bộ, phong trào thể dục thể thao Đó chính là môi trường để các em trưởng thành về nhân cách

Tóm lại, một xã hội có văn hoá là một xã hội mà con người ta luôn sống vì

cái đẹp, cái thiện thắng cái ác Mọi hoạt động của văn hoá kể trên sẽ giáo dục nhận thức để hình thành ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành và phát triển những xúc cảm, tình cảm đạo đức trong sáng, cao quý thuộc về nhân tính của con người; từ đó có giáo dục được niềm tin đạo đức, tập luyện hành vi đạo đức, trau dồi thói quen trong ứng xử của học sinh

1.5.3 Sự phối hợp các hoạt động giáo dục đạo đức

1.5.3.1 Hoạt động học tập

Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng vào tuổi thiếu niên, việc học tập của các em có những thay đổi cơ bản Việc học tập mang ý nghĩa trực tiếp học sinh đã hiểu được rằng điều kiện cần thiết để tạo nên cuộc sống tương lai là vốn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, là kỹ năng độc lập trau dồi những vốn hiểu biết, kỹ năng

tự học mà các em thu được trong quá trình học tập

Việc học tập ở trường trung học phổ thông là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ Ở trường trung học phổ thông, việc học tập của các em phức tạp hơn một cách đáng kể Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ

sở của các khoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao

Ở đa số thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập” đã được mở rộng; ở nhiều

em đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối với môn học, say mê học tập Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của thiếu niên bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống

1.5.3.2 Hoạt động lao động của học sinh

Hoạt động lao động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh Đến tuổi này, các em đã có những vai trò nhất định, được gia đình thừa nhận như là một thành viên tích cực của gia đình, được cha mẹ, anh chị giao cho những trọng trách khá nặng nề như: chăm sóc các em nhỏ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa, chăn nuôi gia súc,… Thậm chí khá nhiều em trở thành lao động chính,

Trang 38

góp phần tăng thu nhập của gia đình, các em đã ý thức được các nhiệm vụ đó và thực hiện tích cực

Như vậy, hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở nhà trường, lao động sản xuất, giúp đỡ gia đình Lao động của các em không những chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn góp phần hình thành những phẩm chất như: tinh thần tập thể, lòng yêu lao động, óc sáng tạo, tính mục đích, tính kỷ luật, tính kiên trì Khi tham gia lao động sẽ bồi dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nở những tình cảm mới: niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làm được, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì; tình nguyện lao động giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn Qua các hoạt động

đó các em sẽ thu được những kinh nghiệm đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau

1.5.3.3 Hoạt động chính trị - xã hội của học sinh

Đây là một loại hoạt động vô cùng quan trọng vì nó giúp các em nắm bắt được những kỹ năng hoạt động xã hội Từ đó, các em nâng cao nhận thức của mình, trách nhiệm của mình đối với xã hội Nó sẽ là hành trang để các em chuẩn bị bước vào cuộc sống

Ở lứa tuổi này, các em đã có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn làm được những công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người lớn Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa lớn lao Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn và muốn được thừa nhận mình là người lớn

Hoạt động chính trị xã hội học sinh được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng

và phong phú từ các phong trào thi đua của lớp, của Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên cũng như các tổ chức chính trị xã hội Từ đó, học sinh hiểu sâu thêm vốn tri thức lý luận đã được tiếp thu đem kiểm nghiệm vào thực tiễn Đây là một sản phẩm biểu hiện

sự trưởng thành về mặt xã hội của các em và cũng là động cơ để các em tự khẳng định

và hoàn thiện nhân cách; đồng thời giúp các em có trách nhiệm đối với các nhiệm vụ

xã hội giao cho, có trách nhiệm với tập thể và có nhu cầu thường xuyên được tiếp xúc với các công việc tập thể Mặt khác, các hoạt động xã hội đó chính là các hoạt động tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, các vấn đề mà toàn xã hội cần quan tâm như tuyên truyền cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, phòng chống các tệ nạn xã hội, về phát triển dân số, về bảo vệ môi

Trang 39

trường,

1.5.3.4 Các hoạt động tập thể khác

Đó là các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, từ thiện, phong trào mang tính hoạt động xã hội ở địa phương nhằm nâng cao tính tập thể, tinh thần trách nhiệm tạo nên nếp sống vui tươi đoàn kết thân ái Đồng thời uốn nắn các lệch lạc của mỗi cá nhân giúp mọi người hiểu và chấp hành đúng nghĩa vụ bản thân Các hoạt động ngoài giờ lên lớp là nhu cầu không thể thiếu là phương thức giáo dục đạo đức tốt nhất cho học sinh, đưa các em vào hoạt động thực tiễn để tập dượt rèn luyện hành vi thói quen giúp các em hình thành nhân cách

Như vậy, việc tổ chức để phối hợp các hoạt động giáo dục cho các em là một

yếu tố vô cùng quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách Đó chính là một nhân tố ảnh hưởng tới việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1.5.4.Trình độ, năng lực quản lý của CBQL và của giáo viên bậc THPT

Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ GV giảng dạy ở các trường THPT đều có trình độ tốt nghiệp đại học Một số GV trong các trường THPT có trình độ thạc sĩ Phần lớn GV tốt nghiệp ở các trường đại học sư phạm Trong quá trình học tập ở trường sư phạm, tất cả các GV đều được học kiến thức tâm lí, nghiệp vụ sư phạm, được thực tập sư phạm, được tiếp xúc làm quen với các hoạt động giáo dục ở các nhà trường THPT Thời kì khó khăn nhất (khó khăn về kinh tế là chủ yếu) của GV

đã qua đi Cùng với sự phát triển của đất nước, được Đảng và nhà nước quan tâm, ngày nay đội ngũ GV trong các nhà trường phổ thông, nhất là bậc THPT đã có điều kiện được phát huy năng lực của mình trong giảng dạy và GD thế hệ trẻ Tuyệt đại đội ngũ GV phổ thông THPT đều yêu nghề, yên tâm với công việc, gắn bó với nhà trường Tuy nhiên trong đội ngũ các nhà giáo vẫn còn không ít các thầy cô mới chỉ chú ý “ dạy chữ “ mà chưa thực sự chú ý “dạy người” Điều này được thể hiện trong cách giao tiếp, trong việc tham gia các hoạt động chung của nhà trường, nhất là hoạt động GD đạo đức nếp sống cho HS, còn luộm thuộm, làm cho xong việc Cá biệt,

do cá tính hoặc trong hoàn cảnh nào đó có GV đã có lời nói hoặc hành vi phản cảm không có ý nghĩa GD Cũng chính vì thế mà trong các nhà trường phổ thông hiện nay đã xảy ra các hiện tượng học trò vô lễ với thầy cô, thậm chí còn đánh trả thù thầy cô giáo Điều này đã làm cho các nhà quản lí GD, nhất là những thầy cô tâm

Trang 40

huyết không khỏi trăn trở day dứt Vì thế các nhà quản lí GD nói chung, ban giám hiệu các nhà trường phổ thông nói riêng cần phải có kế hoạch chương trình yêu cầu trong công tác GD tư tưởng, trình độ nhận thức của GV về nghề nghiệp, nhất là GD rèn luyện các KNS của HS Dạy chữ, dạy người là hai yêu cầu phải song song trong

tư tưởng GD của mỗi người thầy Chỉ khi nào trình độ nhận thức của đội ngũ thầy

cô giáo trong nhà trường khá đồng đều, thấy được vai trò trách nhiệm cũng như lương tâm của mình trước học sinh, trước yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì khi

đó công tác giáo dục đạo đức mới đạt được hiệu quả mong muốn

Ngày đăng: 04/12/2020, 10:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w