Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ em những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỌI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN NGỌC THẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI ĐỘNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỌI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN NGỌC THẢO
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI ĐỘNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Võ Kỳ Anh
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Lời cảm ơn
Qua hai năm học tập, rèn luyện và nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội tôi đã nhận được sự tận tình tâm huyết giảng dạy, sự quản lý, hướng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của các thầy cô, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để phục vụ cho công tác của mình Với tất cả tình cảm của mình tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu trường Đại học Giáo dục cùng toàn thể quý thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp học lời cảm ơn chân thành nhất
Đặc biệt xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS Nguyễn Võ Kỳ Anh, người đã trực tiếp giúp đỡ , tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, các bạn bè đồng nghiệp thuộc trường TH Mai Động, Quận Hoàng Mai, các cơ quan tổ chức đơn vị , phụ huynh học sinh trên địa bàn Quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội, gia đình, bạn bè đã nhiệt tình cộng tác, động viên , tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện được luận văn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình hoàn thiện luận văn tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phan Ngọc Thảo
Trang 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu , các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ vii
MỞ ĐẦU ii
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Mục đích nghiên cứu Error! Bookmark not defined 5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5.1.Đối tượng nghiên cứu 3
5.2 Khách thể nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
1 h hư ng há nghiên cứu u n 4
2 h hư ng há nghiên cứu th c ti n 4
3 Phư ng há thống kê toán học: 5
9.Những đóng góp của đề tài 5
9.1 Ý nghĩa u n: 5
9.2 Ý nghĩa th c ti n: 5
10 Cấu trúc 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 6
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1.Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 10
1.2.1 Quản 10
1.2.2 Quản giáo dục 12
1.2.3 Quản nhà trường 14
1.2.4 Đạo đức 16
1.2.5 Giáo dục đạo đức 18
1.2.6 Quản hoạt động giáo dục đạo đức 23
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 25
Trang 61.3.1 Mục tiêu Giáo dục đạo đức 25
1.3.2 Chức năng Giáo dục đạo đức 26
1.3.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 26
1.4 Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 27
1.4.1 ội dung quản í hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học 27 1.4.2 Vai trò của Hiệu trường trong quản giáo dục đạo đức cho học sinh 31
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến Giáo dục đạo đức và Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học 32
1.5.1 Đặc điể tâ í học sinh Tiểu học 32
1.5.2 Gia đình 34
1.5.3 hà trường 34
1.5.4 Xã hội 34
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI ĐỘNG QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 37
2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội và giáo dục của quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 37
2.1.1 Đặc điể , tình hình kinh tế- xã hội của qu n Hoàng Mai 37
2.1.2.Tình hình giáo dục của qu n Hoàng Mai 38
2.1.3 Đặc điể của trường TH Mai Động, qu n Hoàng Mai, thành hố Hà ội 39
2.2 Thực trạng GDĐĐ cho học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai 41
2.2.1 Về tình hình vi hạ đạo đức 41
2.2.2 Th c trạng giáo dục đạo đức cho học sinh 43
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 47
2.3.1 Xây d ng kế hoạch giáo dục đạo đức 47
2.3.2 Việc triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức 49
2.3.3 Tổ chức, chỉ đạo th c hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 53
2.3.4 Kiể tra, đánh giá giáo dục đạo đức 60
2.4 Đánh giá chung về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 63
2.4.1 Ưu điể 63
2.4.2 Hạn chế 64
Trang 72.4.3 guyên nhân của những hạn chế 65
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TH MAI ĐỘNG QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 69
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 69
3.1.1 guyên tắc đả bảo tính đồng bộ của HĐGDĐĐ 69
3.1.2 guyên tắc đả bảo tính th c ti n của HĐGDĐĐ 69
3.1.3 guyên tắc đả bảo tính khả thi của HĐGDĐĐ 69
3.1.4 guyên tắc đả bảo tính hiệu quả của HĐGDĐĐ 69
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội 70
3.2.1 âng cao nh n thức, tinh thần trách nhiệ của các thành viên, tổ chức trong nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 70
3.2.2 Phối hợ các c ượng trong tổ chức, chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 72
3.2.3 Xây d ng ôi trường sư hạ ẫu c trong nhà trường 78
3.2.4 Đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.82 3.2.5 Phối hợ hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và các c ượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường 84
3.2.6 Đổi ới công tác kiể tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức học sinh 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 89
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ý thức thực hiện nội quy nhà trường của học sinh 42Bảng 2.2: Vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức 44Bảng 2.3: Nhân thức của học sinh về các phảm chất đạo đức 46Bảng 2.4: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh của
trường TH Mai Động 47Bảng 2.5 Đánh giá chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh của trường TH Mai Động 48Bảng 2.6: Nhận xét của GV về triển khai các hình thức giáo dục đạo đức của nhà
trường 49Bảng 2.7:Thái độ của học sinh đối với các hình thức GDĐĐ ngoài giờ lên lớp 51Bảng 2.8 Đánh giá của học sinh về mức độ thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức ở trường TH Mai Động 54Bảng 2.9 Đánh giá của giáo viên về hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh ở trường TH Mai Động 55Bảng 2.10: Lực lượng tham gia giáo dục đạo đức 57Bảng 2.11: Phối hợp của phụ huynh với các lực lượng khi giáo dục đạo đức cho học sinh 58Bảng 2.12: Thực trạng triển khai các biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh của hiệu trưởng trường TH Mai Động 59Bảng 2.13 Nhận xét của cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 61Bảng 2.15 Nhận xét của giáo viên về mức độ tiến hành sơ kết, tổng kết, công tác giáo dục đạo đức học sinh của lãnh đạo các nhà trường 62Bảng 2.16 Nhận xét của cán bộ quản lý về mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh 66Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý GDĐĐ học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 90Bảng 3.2: Kết quả kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường TH Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 92
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả chung về tính cần thiết của các biện pháp 91Biểu đồ 3.2: Kết quả chung về tính khả thi của các biện pháp 91Biểu đồ 3.3: Mối tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Xã hội càng phát triển con người càng phải hoàn thiện, một con người hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải có cả đức Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần bắt đầu ngay từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trên ghế nhà trường Có thể nói, việc hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức, tri thức cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ của nhà trường nói riêng, của ngành giáo dục nói chung cần phải thực hiện Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ em những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho các em những quy tắc hành vi thể hiện trong thái độ với bạn bè, gia đình, người khác và đối với Nhà nước, Tổ quốc Đạo đức của con người mới xã hội chủ nghĩa không chỉ là thành phần quan trọng về cơ bản của giáo dục mà là mục đích của toàn bộ công tác giáo dục thế hệ trẻ Trong giáo dục không những có kiến thức mà phải có đạo đức Vì vậy công tác giáo dục trước tiên phải đặt chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho học sinh, coi đó là cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách Khi nói đến nhân cách của việc học trong
chế độ mới chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Bây giờ hải học; học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu ao động, yêu khoa học, yêu đạo đức”
Học để có đạo đức, để hành động có đạo đức, để yêu đạo đức Đó là một tư tưởng lớn của thời đại, một định hướng đúng đắn và quan trọng của nền giáo dục hiện đại Ngày nay, với những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học
và kỹ thuật, con người nắm trong tay những tư tưởng và khoa học hết sức hùng hậu, có giá trị và sức sáng tạo cực kỳ lớn lao đồng thời cũng có sức tàn phá và hủy diệt thật kinh khủng Bước tiến phi thường đó của xã hội loài người đòi hỏi mỗi con người, mỗi dân tộc nhất thiết phải có tâm hồn và đạo đức trong sáng của lòng nhân ái
Trang 11Công cuộc đổi mới xã hội hiện nay ở nước ta cũng nhằm tiếp tục nhân đạo hóa các quan hệ giữa người và người, giữa người và môi trường sống, làm cho những nguyên tắc của nền đạo đức mới được khẳng định trong các chính sách và chủ trương, trong các hoạt động và quan hệ xã hội Đồng thời chính sự nghiệp đổi mới cũng đòi hỏi xuất hiện những con người có phẩm chất đạo đức đầy đủ
để đưa sự nghiệp đó tiến lên đúng hướng và thu được nhiều kết quả Thái độ đặc
biệt coi trọng nhân cách đã được Hồ Chủ Tịch dạy: “C tài à không c đức à người vô dụng, c đức à không c tài à việc gì cũng kh ” Đức là nền tảng
tạo đà cho tài phát triển, tài làm cho đức phát triển toàn diện vững chắc làm gia tăng các giá trị xã hội cho mỗi người
Người Việt Nam từ xưa đã có biết bao truyền thống tốt đẹp Truyền thống tôn sư trọng đạo được người Việt Nam tôn vinh, người thầy được kính trọng
và đề cao Song, do sự du nhập của nhiều nguồn văn hóa không lành mạnh và
do cơ chế thị trường kinh tế chạy theo lợi nhuận thì việc giáo dục đạo đức có
ít nhiều ảnh hưởng Trước đây trong các trường học, hiện tượng vô lễ với giáo viên, nói tục chửi bậy là rất hiếm, ý thức kỷ luật của học sinh rất tốt, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái là rất cao Song cũng thật đáng buồn là hiện nay chất lượng đạo đức đang bị suy giảm xuống trông thấy, trong các nhà trường hiện tượng vô lễ, nói tục chửi bậy tăng lên, phong trào học tập đi xuống, hiện tượng lười học, chán học tăng vọt, truyền thống tôn sư trọng đạo bị chà đạp Ngoài xã hội xuất hiện nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội đáng lo ngại Có một số gia đình cha mẹ mải chạy theo cơn lốc xoáy của kinh tế thị trường, bị cuốn theo tiền tài danh vọng mà quên đi trách nhiệm giáo dục con cái và chính sự thiếu quan tâm giáo dục của gia đình làm cho chúng trở thành những đứa con bất hiếu,đạo đức bị giảm sút Trước thực trạng đó giáo dục đạo đức càng trở nên cần thiết và quan trọng Thế hệ trẻ hôm nay là tương lai của đất nước
ngày mai, nếu chỉ chú trọng vào “trí dục” mà xem nhẹ “đức dục” thì xã hội
sẽ ra sao? Chính vì vậy, mọi nhà trường tiến bộ, nhân đạo, dân chủ, hướng về tương lai nhất thiết phải coi trọng và ngày càng làm tốt hơn việc bồi dưỡng
Trang 12đạo đức cho thế hệ trẻ đang lớn lên và phải tiến hành ngay từ bậc Tiểu học
Từ những lý do trên và với tư cách là một giáo viên tâm huyết với nghề, tác
giả đã trăn trở và quyết định chọn đề tài nghiên cứu:” Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai- Thành phố Hà Nội”, với hy vọng kế thừa các nghiên cứu đi trước và
cùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học trường tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai, cũng như cho học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn quận Hoàng Mai
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học Mai Động Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội,đề xuất một
số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện cho học sinh của nhà trường
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận trong giáo dục đạo đức học sinh?
- Vai trò của công tác quản lý các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội?
- Những biện pháp quản lý giáo dục đạo đức để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trường Tiểu học Mai Động Quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội?
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học
4.2 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học
5 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học
Mai Động quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội còn có những hạn chế (về nội dung th c hiện, hư ng há , s hối hợ đồng bộ của các bộ h n iên
Trang 13quan ) Nếu nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo
dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh của nhà trường
6 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở trường Tiểu học Mai Động quận
Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội
- Người được nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên
bộ môn, phụ huynh và học sinh trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai –
Thành phố Hà Nội
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học
7.2 Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Mai Động quận
Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội
7.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 h hư ng há nghiên cứu u n
- Nghiên cứu các tài liệu, sách báo, giáo trình, văn bản liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về GD&ĐT
8.2 h hư ng há nghiên cứu th c ti n
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức của nhà trường
- Phương pháp phỏng vấn
- Trao đổi, tọa đàm
Trang 148.3 Phư ng há thống kê toán học:
- Sử dụng công thức toán học để thống kê
- Xử lý số liệu đã thu thập được từ các phương pháp khác
9.Những đóng góp của đề tài
9.1 Ý nghĩa u n:
Tổng kết lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức hiện nay ở trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp quản lý hiệu qủa cho hoạt động này
9.2 Ý nghĩa th c ti n:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường Tiểu học trong quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội
10 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, phần nội dung của giải pháp gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Chương 2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai –
Thành phố Hà Nội
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
trường Tiểu học Mai Động quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Các nghiên cứu nước ngoài
Giáo dục đạo đức là vấn đề đã xuất hiện từ rất lâu ở cả phương Đông lẫn
phương Tây Ở phương Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) trong
các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” đã rất xem trọng việc GDĐĐ Ông quan niệm GDĐĐ có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý giáo dục Theo Khổng Tử, sự hiểu biết không phải là sinh
ra đã có sẵn mà phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện khá công phu Ông chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số một Khổng Tử đặt lên hàng đầu nhân cách và đạo đức của người dạy Trong học thuyết: “Nhân-
Trí-Dũng” do mình xây dựng, ông lấy “nhân” ( òng thư ng người) làm yếu tố hạt nhân, là đặc điểm cơ bản nhất của con người “Lễ trị” ( ấy “ ” để ứng xử
ở đời) là một trong những chủ trương nổi tiếng của Khổng Tử về GDĐĐ vẫn
còn truyền lại đến ngày nay
Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và
sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Đồng thời, ông cũng quan niệm, cái gốc của đạo đức là tính thiện Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học
Aristoste (384-322 TCN) cho rằng không phải hi vọng vào thượng đế áp
đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên Trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức Ông xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội
Thế kỷ XVII, Jan Amos Komensky (1592-1670) – nhà giáo dục vĩ đại của
Tiệp khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm: “Khoa sư
Trang 16phạm vĩ đại” Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ
sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ sự tôn trọng trẻ em, Ông nêu nguyên lý: “ Nhà trường không chỉ dạy kiến thức mà còn rèn đức hạnh” Những trẻ em ý thức kém về học tập và hạnh kiểm giống như những trái chín muộn Chính vì vậy nhà giáo phải có thái độ trân trọng, kiên nhẫn thì mới có thể xoá bỏ những thói xấu ở học sinh, và khơi dậy tiềm năng của các em
Theo quan niệm của học thuyết Mác- LêNin: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội,
nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Việt Nam là đất nước có truyền thống dân tộc với nhiều giá trị tốt đẹp Từ
xa xưa cha ông ta đã có câu: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Lá lành đùm lá rách”, “Tiên học lễ, hậu học văn” đều là những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Đến trước Cách mạng tháng 8/1945, ở nước ta có nhiều sách dạy về luân
lý, dạy làm người như: “Phong hoá điều hành”, “Huấn nữ ca”(dịch), “Gia huấn ca” (dịch) của Trương Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu Trong đó, đặc biệt phải kể đến cuốn: “Đạo đức và luân lý”(Bài n i chuyện sau in thành sách nă 1927) của Phan Châu Trinh đã đề cao sức mạnh đạo
đức, nhân cách, bản lĩnh con người Theo ông, đạo đức là cái gốc của mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
Như vậy, dù là quan điểm tiếp cận khác nhau song các học giả, các nhà nghiên cứu đã đều rất coi trọng việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biết
là thế hệ mầm non, tương lai của đất nước
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đề cập đến vấn đề đạo đức Theo Bác: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
Trang 17sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Con người phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, và “có tài mà không có đức là người vô dụng” Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như “đoàn kết tốt”, “Kỉ luật tốt”,
“Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” Bác quan niệm: “con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này như các công trình nghiên cứu của GS-TS Nguyễn Ngọc Long, PGS-TS Vũ
Trọng Dung, tác phẩm “Giáo dục đạo đức trong nhà trường” (Hà Thế gữ, Đặng Vũ Hoạt, 19 ); “”Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên” (Phạ Minh Hạc, 1997)
Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực – tâm lực – thể lực của mỗi con người, trong đó coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con người, đồng thời tác giả đã viết cuốn sách: “Rèn luyện kĩ năng sư phạm” nhằm cung cấp những kỹ năng sư phạm cần thiết cho sinh viên sư phạm và đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường Các tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc – TS Đinh Thị Kim Thoa – TS Bùi Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống cho học sinh Tiểu học, đồng thời các tác giả đã viết cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học” [31, tr 92] , đây là tài liệu bổ ích cho đội ngũ giáo viên Tiểu học trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh hiện nay
và đã được rất nhiều trường Tiểu học sử dụng
Một số luận văn thạc sĩ ngành quản lý giáo dục của trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã chọn vấn đề đạo đức để nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Thị Phi Nga đề cập đến một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống – kĩ năng sống cho học sinh các trường Tiểu học ở thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
Trang 18Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh lại đề cập đến quản lý công tác giáo dục
kỹ năng sống thông qua Hoạt động Đội thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh ở trường Tiểu học Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Thu Lan thì đề cập đến các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học tại thành phố Bắc Ninh và đề xuất 6 giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đưa ra những vấn đề lý luận, hướng nghiên cứu và những định hướng rất cơ bản, quan trọng cho công tác giáo dục đạo đức cho HS Các công trình này tuy tiếp cận vấn đề GDĐĐ ở những góc độ khác nhau, song nó đã góp phần xây dựng lý luận về GDĐĐ
Rõ ràng, việc hình thành và phát triển nhân cách đạo đức tốt đẹp cho con người trong xã hội đã được các nhà khoa học xác định là một vấn đề mang tính toàn cầu của thời đại, đồng thời là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự sống còn và phát triển của nhân loại Trong công cuộc đổi mới xã hội hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu của nhân loại, khi yếu tố con người được đặc biệt coi trọng thì tiềm năng trí tuệ cùng với sức mạnh tinh thần, đạo đức của con người ngày càng được đề cao Vì vậy, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh nói riêng cần phải được coi trọng đặc biệt Lý luận
và thực tiễn đã chứng minh rằng: Việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
là hết sức cần thiết và phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục,
có hệ thống Việc giáo dục đạo đức càng đặc biệt quan trọng đối với học sinh tiểu học- lứa tuổi đang có sự tiếp nhận những giá trị xã hội đầu tiên để chuyển hóa thành kinh nghiệm của mình Do vậy, các em dễ hấp thu những cái mới, cái tiến bộ, luôn bắt chước theo mọi người về kiến thức, về lối sống, về phong cách đạo đức Nổi bật trong đó là thái độ của các em về các phẩm chất cơ bản như tính trung thực, tính hồn nhiên với mọi người trong học tập, trong cuộc sống luôn biểu lộ thông qua các hành vi, các quan hệ hàng ngày giữa các em
Trang 19với gia đình, nhà trường và mọi người xung quanh Nhưng đồng thời lứa tuổi này cũng dễ có nhận thức lệch lạc, nếu không có sự định hướng giáo dục đúng đắn của nhà trường, gia đình và xã hội Thực tiễn việc chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường còn có nhiều hạn chế, vẫn còn nhiều học mơ hồ về truyền thống dân tộc, chưa tự hào về đất nước và con người Việt Nam Chưa tích cực trong học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành con ngoan trò giỏi, số lượng học sinh chưa ngoan vẫn không giảm sau mỗi năm học ở các bậc học nói chung và bậc học tiểu học nói riêng Những bất cập trong công tác chỉ đạo còn nhiều hạn chế cần phải được quan tâm đầu tư trí tuệ để nâng cao sự hiểu biết về các giá trị đạo đức nhằm định hướng cho học sinh có những hành vi, thái độ, kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi và các chuẩn mực đạo đức của dân tộc
Trong khi đó, đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường Tiểu học Mai Động – quận Hoàng Mai, thành phố
Hà Nội Vì vậy, khi lựa chọn đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ bé nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh Tiểu học
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quản
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả bản chất của hoạt động
này trong thực tiễn Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau Quá trình
“Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy tri ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào thế “phát triển”
Quản lý là một thuộc tính của xã hội ở mọi giai đoạn lịch sử Đây là một hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt những mục đích nhất định
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của
chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản ) bằng cách vạch ra mục tiêu cho
bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định
Trang 20Theo quan niệm hiện nay, quản lý là những hoạt động nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu
Theo Từ điển Việt Nam thông dụng (NXB GD, 1998) Quản lý là “tổ chức
điều khiển hoạt động của một cơ quan, đơn vị”
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là nhằm phù hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [18, tr 20]
Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”[29, tr 32]
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý C.Mác đã khẳng định “tất
cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều nó cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm từ mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [14,tr.87]
Các đặc trưng của quản lý:
- Quản lý là hoạt động có mục đích, có định hướng và có kế hoạch
- Quản lý là sự lựa chọn khả năng tối ưu Ở đâu không cần sự lựa chọn thì ở đó không cần quản lý
- Quản lý là sự sắp xếp và thể hiện hợp lý các tác động có lựa chọn
- Quản lý làm giảm tính bất định và tăng tính ổn định của hệ thống
Những khái niệm về quản lý trên có thể khác nhau về cách diễn đạt nhưng
từ những cơ sở lí luận trên ta có thể đi đến định nghĩa như sau về quản lý:
“Quản lý là tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá
Trang 21nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: “Kế hoạch hóa –
Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra” [14,tr.6-8]
Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu Thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ thống toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực làm giảm hiệu quả quản lý Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra Chức năng chỉ đạo xét đến cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy nhân tố con người trong quá trình quản lý nhằm mục đích để
họ tự nguyện, nhiệt tình thực hiện nhiệm vụ được giao
Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình quản lý đồng thời coi là
“vũ khí” của người quản lý Không có kiểm tra đánh giá thì không có hoạt động quản lý
Thông tin được coi là sợi dây, là huyết mạch liên kết cả 4 chức năng của quản lý Dựa vào thông tin mà 4 chức năng của quản lý gắn kết chặt chẽ, tạo nên chất lượng của toàn bộ hoạt động quản lý
1.2.2 Quản giáo dục
Hoạt động giáo dục ra đời tất yếu kéo theo sự kiện của quản lý giáo dục Nếu giáo dục là một hiện tượng xã hội thì quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội đặc thù Quản lý giáo dục là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, là một bộ phận trong
Trang 22quản lý XHCN Việt Nam Vì vậy, quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song cũng chịu sự chi phối bởi mục tiêu quản lý XHCN.Quản
lý giáo dục rất được mọi người quan tâm
Theo M.I.Konzacov - nhà nghiên cứu giáo dục học đã định nghĩa như sau: quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên
cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em[24,tr.43]
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý Giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi… của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh"[12, tr.98]
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục cho thế hệ trẻ Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
Thảo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH” [14, tr.4]
Theo Phạm Khắc Chương: “QLGD theo nghĩa rộng nhất là quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị,
xã hội khác nhau mà trách nhiệm là của nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ trung ương cho đến địa phương là Bộ giáo dục, Sở giáo
Trang 23dục, Phòng giáo dục, ở các quận, huyện và các đơn vị cơ sở là nhà trường”
[4, tr.79]
Từ những khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Quản
lý Giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục
Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế -
xã hội Vì vậy, quản lý giáo dục cũng phải luôn được đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội
Quản lý giáo dục cũng có 4 chức năng: Lập kế hoạch – Tổ chức – chỉ đạo điều hành – Kiểm tra đánh giá
Quản lý giáo dục không chỉ đòi hỏi tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật bởi đặc trưng cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý con người Sản phẩm đầu ra của quá trình quản lý giáo dục chính là nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục
1.2.3 Quản nhà trường
Quản lý nhà trường cũng chính là quản lý giáo dục nhưng trong một đơn vị giáo dục cơ sở, đó là nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý nhà trường là quản lý hệ thống
xã hội chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường đề đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học giáo dục thế hệ đang lớn lên"[24, tr 29]
Trang 24Quản lý nhà trường là quản lý toàn diện mọi hoạt động, mọi nguồn lực của nhà trường, trong đó quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là hoạt động
cơ bản Do vậy, tác giả Konzacov định nghĩa: "Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học; tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác đề dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục"[4, tr 46]
Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: "Quản lý nhà trường, quản lý Giáo dục là tổ chức hoạt động dạy và học…có tổ chức dưới hoạt động dạy học, thực hiện có tính chất của nhà trường tiểu học Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đổi đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước"[13, tr 32]
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý
đối với các nguồn lực trong và ngoài nhà trường (nhân c, v t c, tài c)
nhằm thúc đẩy tất cả các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục, tiến tới đạt mục tiêu trọng tâm là đưa hoạt động dạy và học tiến tới một trạng
thái mới về chất
Ở Việt Nam hiện nay quản lý trường học là thực hiện đường lỗi giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
Công tác quản lý trường học bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường Quản lý quá trình GD-ĐT trong nhà trường được coi như một hệ thống, bao gồm các thành tố:
- Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, biện pháp giáo dục
- Thành tố con người: CB, GV, NV, HS
- Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học
Trang 251.2.4 Đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học, giá trị học… mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống rất phong phú và sâu sắc
Dưới góc độ Triết học: "Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn
cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mọi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ và danh dự"[20, tr 28]
Dưới góc độ Đạo đức học: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội"[20, tr 30]
Dưới góc độ Giáo dục học: "'đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người"[12, tr 18]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì đạo đức: "là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội"[9, tr 19]
Theo quan điểm Mác- Lê Nin thì đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống cộng đồng xã hội Đạo đức phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Mỗi phương thức sản xuất lại làm nảy sinh một dạng đạo đức tương ứng và do vậy đạo đức có tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc
Tác giả Trần Hậu Kiêm: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi
Trang 26ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội"[20, tr 28]
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương:”Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [9, tr.51]
Về bản chất đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện Đạo đức chính là văn hóa trong cuộc sống, là biểu hiện của trình độ nhận thức của cá nhân và trình độ dân trí xã hội
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc
tế cao cả
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng lại có hai quan điểm lớn về đạo đức:
Quan điể đạo đức truyền thống: Đạo đứclà hệ thống những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con nười tự giacs điều chỉnh hành vi của mình trong mối liên hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng người, giữa con người với xã hội
Quan điể hiện đại: Đây là quan điểm các nhà nghiên cứu chương trình
khoa học công nghệ cấp nhà nước do GS.TS Phạm Minh Hạc đứng đầu Theo các tác giả thì đạo đức phải thể hiện ở 5 mối quan hệ:
Trang 27- Con người với chính bản thân
- Con người với con người
- Con người với công việc (học tập, lao động )
- Con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
- Con người với lý tưởng của dân tộc
Tóm lại, về bản chất, đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội được hình thành và phát triển trong cuộc sống Những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức đó được mọi người, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện
1.2.5 Giáo dục đạo đức
“Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ
thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (học sinh) để bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất đạo đức (chuẩn c, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu của xã hội”[17, tr 98]
Theo giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt “Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”[16, tr.24]
Giáo dục đạo đức là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp nhận tích cực của người được giáo dục, đó là sự chuyển hoá những nhu cầu của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân Giáo dục đạo đức được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng
Bản chất giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và yếu tố tự giáo dục của học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt
Trang 28động, thông qua giao lưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển
Ngày nay, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
Ý nghĩa của giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân mà còn có ý nghĩa to lớn đối với gia đình và xã hội
Với ba lực lượng giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hội tác động vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người Giáo dục gia đình được tiến hành sớm nhất, ngay từ khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời tạo nên những phẩm chất nhân cách đầu tiên rất quan trọng làm cơ sở, nền tảng cho giáo dục nhà trường Giáo dục xã hội thông qua các tổ chức đoàn thể, các tổ chức nhà nước với thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, đạo đức góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người Song giáo dục nhà trường có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ Nhà trường với mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục và nhất là có đội ngũ các nhà sư phạm chuyên nghiệp sẽ tổ chức, điều khiển, giáo dục học sinh theo một chương trình nhất định đáp ứng với yêu cầu về đạo đức, về nhân cách mà xã hội yêu cầu
Mục tiêu của giáo dục đạo đức
Mục đích quan trọng nhất của giáo dục đạo đức là tạo lập được những thói quen về hành vi đạo đức đúng đắn Mục tiêu giáo dục đạo đức học sinh ở trường Tiểu học là:
- Trang bị cho học sinh tiểu học những hiểu biết nhất định về đạo đức của
xã hội đối với cá nhân, các yêu cầu biểu thị dưới dạng các chuẩn mực đạo đức,
Trang 29các quy tắc đạo đức, các khái niệm đạo đức, các nguyên tắc đạo đức, các lý tưởng đạo đức,… để giúp cho học sinh ý thức được ý nghĩa, tính đúng đắn, giá trị của các hành vi đạo đức phù hợp với các yêu cầu để ứng xử đúng đắn trong các tình huống đạo đức.
- Hình thành cho học sinh kinh nghiệm đạo đức, thói quen đạo đức thông qua việc tổ chức cho các em tập dượt trong các hoạt động (học tập, lao động, công tác xã hội, sinh hoạt tập thể,…) Thói quen hành vi đạo đức chỉ được hình thành
và trở nên bền vững thông qua hoạt động, mối quan hệ đa dạng với những người khác, trẻ em tự khẳng định, tự tin đó là điều quan trọng trong việc ứng xử đạo đức
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức, thái độ, hành vi đối với phẩm giá của con người trong quan hệ đối với người khác
Nhiệ vụ của giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức trong nhà trường có các nhiệm vụ cơ bản:
- Giáo dục ý thức đạo đức: Là cung cấp cho học sinh những kiến thức và tri thức cơ bản về các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó hình thành niềm tin đạo đức
- Giáo dục tình cảm đạo đức: là khơi dậy cho học sinh những rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung quanh; biết yêu, ghét rõ ràng và có thái
độ đúng đắn với các hành vi của mọi người
- Giáo dục thói quen đạo đức: là tổ chức, rèn luyện học sinh những thói quen về hành vi đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội
ội dung giáo dục đạo đức trước hết phải phù hợp với yêu cầu của công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước, phù hợp với mục tiêu giáo dục Vì vậy, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay
bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
- Giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức
- Giáo dục pháp luật
Trang 30- Giáo dục đạo đức trong các mối quan hệ xã hội
- Giáo dục đạo đức gia đình
- Giáo dục tình bạn
- Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
Con đường giáo dục đạo đức:
Có nhiều con đường giáo dục đạo đức:
Thứ nhất: Giáo dục trong nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình
thành nhân cách Giáo dục đạo đức trong nhà trường được thực hiện theo hai con đường cơ bản:
Thông qua hoạt động dạy học, dạy chữ để dạy người Thông qua các môn học giúp giáo dục các giá trị, chuẩn mực đạo đức và cách ứng xử, hành
vi đạo đức trong xã hội Không những thế, qua các môn học còn giúp người học phát triển những cảm xúc tâm hôn, năng lực thẩm mĩ, rèn luyện sức khỏe
và ý chí…
Thông qua chương trình ngoài giờ lên lớp như: ngoại khóa, hoạt động tập thể, hoạt động từ thiện nhân đạo… giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống, pháp luật… cho học sinh
Thứ hai: Giáo dục gia đình có vai trò nền móng cho giáo dục đạo đức
Có thể nói: Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ, ông bà cha mẹ là những người thầy đầu tiên đối với mỗi con người Tính cách, phẩm chất, thói quen hành vi đạo đức của trẻ bắt đầu từ chiếc nôi đầu tiên là gia đình Vì vậy, giáo dục gia đình là rất quan trọng
Thứ ba: Giáo dục xã hội gồm các lực lượng nơi cư trú, chính quyền, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, các cơ quan ban ngành đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công an…) đều có vai trò trong việc giáo dục đạo đức học sinh
Thứ tư: Con đường giáo dục thông qua việc tự học, tự rèn mà hình thành
những phẩm chất và thói quen hành vi đạo đức của học sinh Tự giáo dục sẽ giúp cho học sinh nhanh chóng hoàn thiện nhân cách bản thân Tác giả Phạm
Trang 31Minh Hạc đã chỉ rõ: “… Học sinh từ chỗ là đối tượng của giáo dục dần dần trở thành đối tượng giáo dục, vừa là chủ thể của giáo dục” [19, tr.18]
Phư ng há giáo dục đạo đức
Phương pháp giáo dục đạo đức là cách thức tác động của các nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết
Về cơ bản, phương pháp giáo dục được chia thành 3 nhóm chính:
- h hư ng há thuyết hục: Thuyết phục là nhóm các phương
pháp tác động đến nhận thức, tình cảm của con người để hình thành cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm phương pháp này gồm:
Phương pháp khuyên giải: Khuyên giải là phương pháp gặp gỡ, trò chuyện, tâm tình riêng của nhà giáo dục với đối tượng cần giáo dục để khuyên răn, giải thích những điều hay lẽ phải, làm rõ những khái niệm đạo đức, những nội dung, quy tắc, chuẩn mực xã hội mà mỗi người cần phải tuân theo Phương pháp trao đổi, đối thoại: Là phương pháp tác động của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục bằng tổ chức đối thoại, trao đổi Đối thoai, trao đổi là phương pháp cởi mở, các bên nêu ra quan điểm, những vướng mắc để cùng nhau phân tích, tìm cách giải đáp, cùng đi đến lẽ phải
Phương pháp nêu gương – làm gương: Là phương pháp dung những tấm gương cụ thể người tốt, việc tốt, những lý tưởng cao đẹp… tác động vào đời sống tình cảm, ý thức của học sinh
- h hư ng há tổ chức hoạt động: Là quá trình tổ chức đưa học sinh vào hoạt động để rèn luyện đạo đức tạo nên thói quen hành vi
- h hư ng há kích thích hành vi đạo đức: Đây là nhóm phương
pháp tác động vào mặt tình cảm của đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động đồng thời giúp người có khuyết điểm
nhận ra và khắc phục sai lầm đã mắc Nhóm phương pháp này gồm:
Phương pháp khen thưởng: Khen thưởng là biểu thị sự hài lòng, công nhận của tập thể, của cấp trên với những tập thể và các nhân hoàn thành tốt một nhiệm vụ nào đó
Trang 32Phương pháp trách phạt: Trách phạt là biểu thị sự không đồng tình, sự lên án của nhà giáo dục với những hành vi sai lầm của học sinh
Phương pháp thi đua: là phương pháp khích lệ tập thể, các nhân hocjsinh
cố gắng giành thắng lợi trong hoạt động nào đó Qua phong trào thi đua, sẽ kích thích học sinh học tập và rèn luyện để tự khẳng định bản thân
Hồ Chủ Tịch từng căn dặn: “Ở mỗi con người đều có cái thiện và cái ác
ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt ở mỗi con người này nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu dần dần mất đi” [33, tr.25]- đó cũng chính là phương châm giáo dục đạo đức của chúng ta ngày nay
1.2.6 Quản hoạt động giáo dục đạo đức
Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức là quá trình tác động có định hướng của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
đã đề ra Giáo dục đạo đức là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể của nhà trường Như vậy, quản lí hoạt động giáo dục đạo đức là một quá trình chủ đạo, điều hành hoạt động giáo dục đạo đức của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành những phẩm chất đạo đức của học sinh, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức đúng hướng, phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc đạo đức được xã hội thừa nhận
Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh còn là một quá trình huy động các lực lượng giáo dục, các điều kiện phương tiện giáo dục, phù hợp các môi trường giáo dục, giúp học sinh có được tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội
Tóm lại, quản lí hoạt động giáo dục đạo đức là quản lí mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục đạo đức, đảm bảo quá trình giáo dục đạo đức được tiến hành một cách khoa học, đồng bộ, phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh
Mục tiêu quản lý giáo dục đạo đức trong trường Tiểu học
Trang 33Quản lý giáo dục đạo đức trong nhà trường Tiểu học hướng đến một múc đích chung là phát triển toàn diện nhân cách học sinh Thông qua các hoạt động giáo dục, bằng các hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoài giờ lên lớp làm cho quá trình giáo dục đạo đức tiến hành có hiệu quả hơn Mục tiêu của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức bao gồm:
- Về nhận thức: Giúp cho mọi người, mọi ngành, mọi tổ chức xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức, nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển toàn diện con người
- Về thái độ tình cảm: Giúp mọi người có hiểu biết và ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh với những việc làm sai trái, có thái độ đúng đắn với hành
vi của bản thân trong công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh
- Về hành vi: Tích cực tham gia quản lý và tổ chức việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức cho học sinh theo chuẩn mực chung của xã hội
Chức năng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh:
Để thực hiện công tác quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh, người hiệu trưởng nhà trường phải thực hiện các chức năng quản lý:
- Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức: Khi xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức, người hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở:
+ Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học, qua đó thấy được những ưu điểm và hạn chế của công tác giáo dục đạo đức học sinh Trên cơ sở
đó để xây dựng biện pháp khắc phục
+ Phân tích kế hoạch giáo dục của ngành, địa phương, của trường để là cơ
sở xây dựng kế hoạch Cần thống nhất giữa giáo dục đạo đức với các mặt giáo dục khác trong nhà trường để xây dựng mục tiêu giáo dục đạo đức
+ Tìm hiểu đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa – giáo dục của địa phương bởi vì giáo dục đạo đức luôn thống nhất với quá trình phát triển xã hội và môi trường sống của học sinh
Trang 34+ Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội chúng ta hiện nay
và các giá trị đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
+ Xác định điều kiện cho công tác giáo dục đạo đức học sinh như: cơ sở vật chất, tài chính, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường
- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức: Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là quá trình thực hiện phân công lao động, điều phối các nguồn lực một cách thích hợp để đạt được mục tiêu đề ra
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức: Chỉ đạo là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong quá trình quản lý Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức để đảm bảo cho việc giáo dục đạo đức diễn ra trong trật tự, kỷ cương, đúng hướng và đúng kế hoạch
Việc chỉ đạo sẽ đạt hiệu quả cao nếu Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, giữa pháp lý – đạo lý – công lý, động viên khích lệ để pháp huy tiềm năng của bộ máy thực hiện
- Kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức: Kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức có ý nghĩa không những đối với người quản lý mà còn có ý nghĩa với chính học sinh Thông qua kết quả kiểm tra đánh giá của các thầy cô giáo mà học sinh hiểu biết rõ hơn về quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của bản thân, đồng thời các em sẽ tự điều chỉnh các hành vi đạo đức của bản thân phù hợp với chuẩn mực đạo đức Qua kiểm tra đánh giá, người quản lý sẽ xác định được mức độ đạt mục tiêu đề ra và khẳng định được chất lượng sản phẩm mà mình giáo dục
1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.3.1 Mục tiêu Giáo dục đạo đức
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là chuyển hoá những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực
Trang 35hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp
luật
- Về nh n thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm
chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời
kỳ mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức
- Về thái độ tình cả : Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các qui phạm
đạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh vì độc lập tự do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc với hiện thực xung quanh Để các em có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội và có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân
- Về hành vi: Có các hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Có quan
hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực
1.3.2 Chức năng Giáo dục đạo đức
Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lê-nin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng, sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương, nền nếp, có văn hoá trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau
1.3.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học là hình thành cho các em lòng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam; Yêu quê hương đất nước hòa bình, công bằng bác ái, kính trên nhường dưới, đoàn kết với mọi người, … Có
ý thức về bổn phận của mình đối với người thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống Tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, các quy định của nhà trường, khu dân cư, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực Biết cách tự phục vụ, biết cách học tập, vận dụng làm được một số việc trong gia đình
Trang 36Trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh, chúng ta phải hình thành cho các em những thói quen chuẩn mực đạo đức cụ thể là: Lòng kính yêu ông
bà, cha mẹ, kính trọng thầy giáo, cô giáo, quý mến bạn bè, giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn; thật thà dũng cảm trong học tập, lao động; lòng biết ơn những người có công với đất nước… Những thói quen này, những đức tính này thực hiện theo các chuẩn mực đạo đức nhân đạo của loài người là các yếu tố tạo thành nền tảng để hình thành và phát triển nhân cách đạo đức mới Những thói quen hành vi đạo đức này không đơn thuần là những hành động ứng xử
có được do lặp lại bằng luyện tập trong nhiều tình huống quen thuộc Đó phải
là những hành động ứng xử chịu sự kích thích của những động cơ đạo đức đúng đắn
1.4 Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
1.4.1 ội dung quản í hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục
và đào tạo Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập của trò diễn ra trong quá trình dạy học, giáo dục
Trường Tiểu học là cơ quan giáo dục nhà nước Hiệu trưởng quản lý nhà trường, quản lý giáo dục theo chế độ thủ trưởng Hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý toàn diện hoạt động giáo dục của nhà trường, trong đó có giáo dục đạo đức
Nội dung quản lí giáo dục đạo đức được xây dựng trên 4 chức năng của Quản lí nói chung là: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức
Xây d ng kế hoạch quản lí hoạt động giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế hoạch Kế hoạch hóa là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản
lý Khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh, người Hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở sau:
Trang 37- Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động giáo dục đạo đức Có 3 nội dung chủ yếu của việc xây dựng kế hoạch quản lí giáo dục đạo đức là:
- Xác định hoàn thành mục tiêu, phương hướng đối với nhà trường về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
- Xác định và đảm bảo (c tính chắc chắn, ca kết) về các nguồn lực của
nhà trường để đạt được những mục tiêu đề ra về công tác Giáo dục đạo đức cho học sinh
- Quyết định những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức:
+ Kế hoạch phải được thể hiện tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kì
+ Kế hoạch thể hiện được phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể
+ Kế hoạch phản ánh được mỗi quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá
Tổ chức th c hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh sau khi đã lập xong kế hoạch, đó là lúc cần phải chuyển hoá những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Vì vậy các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch giáo dục đạo đức; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự,
Trang 38phân công trách nhiệm quản lí, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch bao gồm:
- Giải thích mục tiêu, yêu cầu kế hoạch giáo dục đạo đức
- Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch
- Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế
- Định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc
Chỉ đạo th c hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ đề ra để đảm bảo cho việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp với các lực lượng giáo dục đạo đức sao cho có hiệu quả
Trong quá trình chỉ đạo, Hiệu trưởng cần kiểm tra giám sát việc thực hiện
kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết định điều chỉnh, sửa sai để hoạt động giáo dục diễn ra theo đúng kế hoạch Việc chỉ đạo giáo dục đạo đức sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo hiệu trưởng biết kết hợp sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên khuyến khích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền phát huy năng lực và sáng tạo của họ
Kiể tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Kiểm tra là công việc rất cần thiết trong quản lý Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức đề cập đến phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu giáo dục đạo đức đã xây dựng Kiểm tra giúp chúng ta có thông tin phản hồi, xác định được những lệch lạc nếu có để tiến hành những hành động điều chỉnh cần thiết
Trang 39Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kì, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra, đánh giá mới khách quan công bằng, rõ ràng và chính xác
Trang 401.4.2 Vai trò của Hiệu trường trong quản giáo dục đạo đức cho học sinh
Trong nhà trường, Hiệu trưởng là người do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhân dân và cấp trên trực tiếp về mọi hoạt động giáo dục của nhà trường, là người thay mặt nhà nước điều hành toàn bộ bộ máy và thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung định hướng phát triển GD – DDT trong sự vận hành chung của hệ thống giáo dục quốc dân Năng lực (cả phẩm chất ĐĐ và năng lực quản lý) của người hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu qủa quá trình quản lý, với sự phát triển của nhà trường
Hiệu trưởng là người có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, có chuyên môn vẵng vàng, năng động, sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt trong giao tiếp và công tác quản lý Người hiệu trưởng phải tự xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quyết đoán có hiệu quả Người hiệu trưởng phải là linh hồn, là trung tâm của sự đoàn kết nhất trí của tập thể sư phạm và biết phát huy tài năng, trí tuệ, sức lực vủa cán bộ, giáo viên vào sự nghiệp giáo dục của nhà trường U-sinx-
ki từng nói: “Hiệu trưởng là nhà giáo dục chủ chốt trong nhà trường, giáo dục học sinh thông qua các giáo viên, làm thầy các giáo viên, dạy cho họ khoa học
và nghệ thuật giáo dục”
Người hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong hoạt động GDĐĐ HS Tiểu học, là người trực tiếp lập kế hoạch quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động GDĐĐ Hiệu trưởng chủ động tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường để GDĐĐ cho HS Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra đánh giá quá trình GDĐĐ cho HS và trực tiếp giáo dục HS, đặc biệt giáo dục HS cá biệt U-sinx-ki đã viết trong cuốn “Trái tim tôi hiến dâng cho trẻ”:
“Nếu hiệu trưởng chỉ dạy cách giáo dục mà không trực tiếp tiếp xúc với học sinh thì ông ta không còn là nhà giáo dục nữa Thiếu sự tác động trực tiếp với học sinh, Hiệu trưởng sẽ mất đi cái phẩm chất quan trọng nhất của nhà sư phạm và năng lực tiếp xúc với thế giới tâm hồn trẻ”