1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện điện biên tỉnh điện biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

128 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường phổ thông cũng như thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

MAI HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

MAI HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thu Hằng

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp

đỡ của quý thầy, cô, bạn bè và gia đình

Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Quản lý Giáo dục Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy cô giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục khoá 12 (2012 - 2014) đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Thu Hằng đã quan tâm và tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tác giả trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên; Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tác giả, động viên và khuyến khích tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo cùng đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Mai Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……….……… i

Danh mục viết tắt………

Mục lục……….………

ii iii Danh mục bảng……… ………… vii

Danh mục biểu đồ, sơ đồ……… ix

MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG… 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Quản lý, các chức năng quản lý……… 8

1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý trường học……… 10

1.2.3 Đạo đức, chức năng của đạo đức……… 12

1.2.4 Giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT 15

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THPT………… 18

1.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức và kế hoạch thực hiện……… 18

1.3.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức……… 19

1.3.3 Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức……… 20

1.3.4 Quản lý việc phối hợp thực hiện của các lực lượng tham gia vào hoạt động giáo dục đạo đức 21

1.3.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức……… 21

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ……… 23

1.4.1 Quan điểm chỉ đạo về giáo dục đạo đức cho HS THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay 23 1.4.2 Một số yêu cầu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học

Trang 6

sinh THPT nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 24 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý

hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT ……… 25

1.5.1 Năng lực của Ban giám hiệu trong việc quản lý hoạt động

GDĐĐ cho HS 25 1.5.2 Đặc điểm của học sinh THPT……… 27 1.5.3 Vai trò của từng lực lượng trong quản lý hoạt động giáo dục đạo

Tiểu kết chương 1 32 Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của huyện Điện

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội……… 33

2.4 Thực trạng công tác QL hoạt động GDĐĐ cho HS của nhà trường 52 2.4.1 Thực trạng quản lý mục tiêu GDĐĐ và kế hoạch thực hiện 52 2.4.2 Thực trạng quản lý nội dung giáo dục đạo đức 54 2.4.3 Thực trạng quản lý phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức… 55 2.4.4 Thực trạng quản lý việc phối hợp của các lực lượng trong công

2.4.5 Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động

Trang 7

GDĐĐ cho HS……… 63

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS ở Trường THPT huyện Điện Biên……… 64

2.5.1 Điểm mạnh 64

2.5.2 Điểm yếu 65

2.5.3 Thuận lợi 66

2.5.4 Thách thức 67

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC…… 70

3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp QL hoạt động GDĐĐ cho HS… 70 3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu……… 70

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống……… 70

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi, hiệu quả 71

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT……… 71

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS ở Trường THPT huyện Điện Biên 72

3.2.1 Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với HS và điều kiện thực tiễn 72

3.2.2 Xây dựng cơ chế tổ chức và điều hành hoạt động giáo dục đạo đức 75

3.2.3 Đổi mới quản lý nội dung và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục 79

3.2.4 Tổ chức, chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, mẫu mực 81

3.2.5 Tăng cường quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 86

Trang 8

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

cho học sinh 89

3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất 90

3.4 1 Mục đích, nội dung, cách thức khảo nghiệm……… 90

3.4.2 Kết quả khảo nghiệm……… 90

Tiểu kết chương 3……… 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

1 Kết luận 94

2 Khuyến nghị 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 97

PHỤ LỤC……… 100

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu HS các trường THPT huyện Điện Biên 35 Bảng 2.2 Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh của 5 trường THPT

Bảng 2.3 Kết quả xếp loại học lực của học sinh của 5 trường THPT

Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GV và cha mẹ HS về tầm quan trọng

của việc GDĐĐ cho học sinh 40 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GV và cha mẹ HS về mức độ cần

thiết của các phẩm chất đạo đức cần giáo dục cho học sinh THPT… 41 Bảng 2.6 Thái độ, hành động của cha mẹ HS đối với việc rèn luyện

Bảng 2.7 Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức mà học

nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh vi phạm nội quy nhà trường 49 Bảng 2.13 Ý kiến của HS về mức độ ảnh hưởng của những nguyên

nhân đến hiện tượng HS vi phạm nội quy nhà trường…… 51 Bảng 2.14 Thực trạng xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch

Trang 10

Bảng 2.15 Thực trạng việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nội dung

Bảng 2.19 Thực trạng cha mẹ HS được phổ biến các chủ trương, nội

quy, quy định GDĐĐ học sinh của NT từ các nguồn…… 60 Bảng 2.20 Sự phối hợp của cha mẹ HS với các lực lượng khi

Bảng 2.21 Đánh giá hiệu quả phối hợp của các lực lượng GDĐĐ HS 62 Bảng 2.22 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức

cho học sinh 63 Bảng 3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp QL hoạt

động GDĐĐ cho HS Trường THPT huyện Điện Biên trong giai đoạn hiện nay 91

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Kết quả xếp loại đạo đức của học sinh 46 Biểu đồ 3.1 Tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 92

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý……… 10

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục đạo đức nhằm phát triển toàn diện con người luôn là mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản của giáo dục Việt Nam Bác Hồ dạy “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng Có tài phải có đức Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước Có đức không có tài

như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai” [28, tr.184] Nghị

quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII đã khẳng định “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, … làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi… là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" [17] Luật Giáo dục năm 2005 cũng xác định “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [33] Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo một lần nữa nhấn mạnh “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện” và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” và cụ thể ở giáo dục phổ thông là “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn…” [18]

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã đem lại nhiều thành tựu kinh

Trang 13

tế, văn hóa, giáo dục cho Việt Nam song cũng tác động theo chiều hướng xấu đến việc hình thành và phát triển nhân cách cũng như giá trị của con người

“Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước” [17]

Nguyên nhân của những “lo ngại” về việc hình thành và phát triển nhân cách cũng như giá trị của con người trên được nhìn nhận ngoài nguyên nhân khách quan là tác động của mặt trái của cơ chế thị trường còn là nguyên nhân chủ quan từ hoạt động quản lý giáo dục Hoạt động quản lý giáo dục trong nhà trường thường tập trung nhiều vào quản lý hoạt động dạy học, chưa quan tâm đúng mức đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng môi trường giáo dục

Ðể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo phải “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” trong đó

“Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân” nhằm “phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [18] Nhiệm vụ này đòi hỏi Ban Giám hiệu các nhà trường phải đổi mới căn bản công tác quản lý, nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường

Học sinh THPT đang trong độ tuổi phát triển, nếu không có định hướng GDĐĐ thì dễ bị tác động bởi của văn hóa phẩm độc hại và những mặt tiêu cực hàng ngày trong cuộc sống, làm ảnh hưởng đến quan điểm sống, lối sống Ở Trường THPT huyện Điện Biên những năm học gần đây, hiện tượng HS có biểu hiện vi phạm về đạo đức, có lối sống không lành mạnh, xúc phạm tới nhân cách nhà giáo đã xảy ra Vì vậy, trong công tác quản lý, Trường THPT huyện Điện Biên cần tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Xuất phát từ

những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động giáo

Trang 14

dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” làm đề tài luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường phổ thông cũng như thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên; đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục đạo

đức học sinh THPT

3.2 Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo

đức cho học sinh của Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3.3 Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học

sinh ở Trường THPT Huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý của Ban giám hiệu Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho HS của nhà trường

5 Câu hỏi nghiên cứu

Biện pháp quản lý nào là cần thiết để nâng cao hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giúp học sinh rèn luyện nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân?

Trang 15

6 Giả thuyết khoa học

Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên sẽ hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu về đổi mới giáo dục hiện nay nếu được quản lý một cách khoa học và phù hợp với điều kiện của địa phương

từ khâu lập kế hoạch, xây dựng cơ chế tổ chức và điều hành hoạt động giáo dục đạo đức đến đổi mới quản lý nội dung và hình thức giáo dục đạo đức, xây dựng môi trường lành mạnh, mẫu mực và quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức

7 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh tại Trường THPT huyện Điện Biên trong khoảng thời gian từ năm học 2011-2012 đến nay trên cả ba khối lớp 10, 11, 12

Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh Trường THPT huyện Điện Biên

8 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở của đề tài

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của đội ngũ quản lý trong nhà trường; hoạt động giáo dục và sự tiến bộ của học sinh về đạo đức để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu

Phương pháp thống kê số liệu, phân tích thực trạng: Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của nhà trường về kết quả giáo dục đạo đức học sinh nhằm đúc rút những kinh nghiệm về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại Trường THPT huyện Điện Biên

Khảo sát thực tế, điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi: Thu thập các số liệu nhằm tìm ra nguyên nhân khách quan của thực trạng hoạt động GDĐĐ cho HS

Trang 16

tại nhà trường trên cơ sở điều tra nhận thức về tầm quan trọng của việc GDĐĐ đối với cán đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh; điều tra thực trạng việc triển khai hoạt động GDĐĐ và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ của nhà trường cho HS tại Trường THPT huyện Điện Biên Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của một số nhà quản lý có kinh nghiệm về lí luận và thực tiễn có liên quan đến việc nghiên cứu của đề tài

8.3 Phương pháp xử lý thông tin

Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý

số liệu thống kê để bổ trợ việc xử lý kết quả

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

9.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS ở Trường THPT huyện Điện Biên Những biện pháp quản lý này có thể ứng dụng trong thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Điện Biên

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

Chương II: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên hiện nay

Chương III: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đạo đức có vai trò quan trọng trong đời sống của con người và trong xã hội Đạo đức hướng con người tới chân, thiện, mỹ, chống lại cái giả dối, cái

ác, cái xấu Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Do vậy, GDĐĐ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm trong mọi thời đại, mọi thể chế chính trị

Ở phương Đông, Khổng Tử (551- 479 TCN) trong các tác phẩm “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” đã rất xem trọng việc giáo dục đạo đức cho con người Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác và các đức tụ ở cả Nhân

Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470 -399 TCN) đã cho rằng đạo đức

và sự hiểu biết quy định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Vì vậy, giáo dục con người chủ yếu

là phải GDĐĐ

Aristoste (384-322 TCN) khẳng định: Phải giáo dục con người về đạo đức để phát triển ý chí, giảng dạy văn hóa để phát triển lý trí, giảng dạy thể dục thể thao để phát triển thể lực; tương ứng ở nhà trường phải thực hiện đức dục, trí dục và thể dục

Học thuyết Mác - Lê nin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc Nhà trường trong mọi chế độ xã hội đều giáo dục đạo đức cho học sinh

I.A.Komenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” để giảng dạy cho thanh thiếu niên Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp nêu gương trong GDĐĐ cho học sinh

Trang 18

Ở Việt Nam, từ xa xưa chữ Đức luôn được coi trọng, tạo nên truyền thống yêu nước, nhân đạo, nhân ái, thủy chung, tương thân tương ái của dân tộc Tiếp thu tinh hoa của cha ông và quan điểm đạo đức Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức Người gọi

đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng Bác khẳng định “đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nước thì sông sẽ cạn”[27, tr 252] Theo Bác “Người có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính… Thiếu một đức thì không thành người””[27,

tr 631] Người cũng lưu ý: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời rơi xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà có, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [29, tr 293] Vì vậy, trong

nhà trường phải dạy cho thanh thiếu niên biết “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào; học tập tốt, lao động tốt; đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; giữ gìn vệ sinh thật tốt; khiêm tốn, thật thà dũng cảm”

Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh, ở nước ta đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức như Đặng Vũ Hoạt, Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo… Các tác phẩm đề cập sâu về các phạm trù đạo đức, các vấn đề giáo dục đạo đức và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông, xây dựng con người mới XHCN; còn quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh được đề cập rất sơ lược, chủ yếu là lồng ghép trong các phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh

Đối với những người làm công tác QLGD, việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phổ thông vẫn luôn đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhất là trong tình hình xã hội hiện nay Đã có nhiều luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh như:

- Luận văn thạc sỹ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT thành phố Thái Bình” của tác giả Phạm Thị Minh Huệ (Năm 2011)

- Luận văn thạc sỹ “"Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học

Trang 19

sinh ở trường trung học phổ thông Tự Lập - Mê Linh - Hà Nội" của tác giả Phạm Văn Đường (Năm 2012)

- Luận văn thạc sỹ “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông dân tộc thiểu số huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang” của tác giả Nguyễn Phú San (Năm 2013)

Các luận văn trên đã chỉ ra thực trạng về đạo đức học sinh, thực trạng GDĐĐ và QL hoạt động này trong các loại hình nhà trường ở nhiều địa phương khác nhau và đã đề ra những biện pháp QL hoạt động GDĐĐ đảm bảo tính khoa học, toàn diện, hiệu quả và khả thi ở các đơn vị, địa phương đó Tuy vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về

QL hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT ở một tỉnh miền núi như Điện Biên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Kế thừa và phát triển các nội dung những tác giả đi trước đã nghiên cứu,

đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở Trường THPT huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” được tổ chức triển khai nghiên cứu với mục đích sẽ góp phần tìm ra các biện pháp quản

lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT thuộc miền núi phù hợp với đối tượng, đúng mục đích, hiệu quả và khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, các chức năng quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu

mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ thì QL xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Khái niệm quản lý có thể hiểu theo nhiều quan niệm và

có nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin đưa ra một số khái niệm tiêu biểu sau:

Theo W Taylor “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người

Trang 20

khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [22, tr 327]

Theo H Fayol: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [11, tr 3-5]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: "Quản lý là

sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" Cũng theo đó, các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: Là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [12, tr 9]

Theo Đặng Quốc Bảo thì Quản lý = Quản + lý, trong đó Quản có nghĩa

là giữ, duy trì ổn định, Lý có nghĩa là chỉnh sửa, sắp xếp để phát triển Quản

lý là quá trình tạo ra/duy trì sự ổn định và phát triển của tổ chức [3, tr 56-57] Các khái niệm quản lý trên tuy được trình bày khác nhau nhưng đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của QL như: QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội, là những tác động có tính hướng đích, có mục tiêu, có các hoạt động tương ứng nhằm thực hiện được mục tiêu của tổ chức

QL tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm chủ thể quản lý, khách thể quản

lý, cơ chế quản lý và mục tiêu chung Từ đó, có thể hiểu QL theo nghĩa chung

nhất như sau: Quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý thông qua việc vận dụng các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá hiệu quả đạt được theo mục tiêu

đã đề ra để đảm bảo cho tổ chức ổn định và phát triển lâu dài

1.2.1.2 Các chức năng quản lý

Theo H.Fayol, quản lý có 5 chức năng đó là: Kế hoạch (Planning); Tổ chức (Organizing); Chỉ huy (Directing); Phối hợp (Co-Ordinating); Kiểm tra

Trang 21

(Controlling) Sau này, chúng được kết hợp thành 4 chức năng cơ bản sau: Kế hoạch hóa; Tổ chức; Lãnh đạo - chỉ đạo; Kiểm tra

Kế hoạch hóa: Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng, quyết định sự thành bại của quản lý Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó [12, tr.12]

Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức [12, tr.13]

Lãnh đạo - chỉ đạo: Là liên kết, tác động đến người khác và tạo động lực, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức [12, tr.13]

Kiểm tra: Là thông qua một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [12, tr.13]

Bốn chức năng quản lý trên luôn tương tác với nhau tạo thành một chu trình quản lý

Sơ đồ 1.1 Các chức năng quản lý 1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý trường học

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

Như bất kỳ một lĩnh vực hoạt động xã hội nào, giáo dục cũng được tổ chức và quản lý với cấp độ khác nhau (nhà nước, nhà trường, lớp học ) nhằm

Chỉ đạo Kiểm tra, đánh giá

Tổ chức Lập kế hoạch

Trang 22

thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục phù hợp với từng giai đoạn phát triển của các thể chế chính trị - xã hội ở từng quốc gia

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là qui trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26, tr.16]

Theo tác giả Bush T thì: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [26, tr.17]

Trong thực tế, QLGD được hiểu là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra Theo góc độ quản lý của cơ quan QLGD các cấp thì: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra [26, tr.15-16]

Như vậy, cũng như QL, khái niệm quản lý giáo dục được diễn đạt bằng những cách khác nhau song đều đề cập tới các yếu tố cơ bản như: Chủ thể QLGD, khách thể QLGD, mục tiêu QLGD, cách thức (phương pháp QLGD)

và công cụ QLGD (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) Từ đây, có thể đưa

ra khái niệm chung nhất của QLGD là: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau thuộc hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng

1.2.2.2 Quản lý trường học

Trang 23

Quản lý trường học là QL một cơ sở giáo dục, ở cấp độ vi mô vừa mang tính đặc thù của QLGD, vừa mang tính xã hội, trực tiếp quản lý đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định [23, tr.61]

Theo Phạm Viết Vượng thì: Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh

và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường… Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục [39, tr 206]

QLGD trong nhà trường về cơ bản là quản lý các thành tố tham gia quá trình GD gồm: Mục tiêu GD; nội dung GD; phương pháp GD; giáo viên; học sinh và điều kiện, phương tiện dạy học Quản lý quá trình này được vận hành đồng bộ trong sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành tố trên

1.2.3 Đạo đức, chức năng của đạo đức

Theo quan điểm của Mác - Lênin: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội

có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội [20]

Trang 24

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [38, tr 385]

Theo tài liệu Giáo dục công dân lớp 10 do Mai Văn Bính chủ biên thì:

“Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội” [5]

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: Đạo đức về bản chất là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và mọi người tự giác thực hiện [39, tr 155]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp, là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống

Theo nghĩa rộng thì khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh đặc trưng nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng; ở hành động góp phần giải quyết hợp lý và hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức

là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại" [24, tr.153]

Điểm mới trong khái niệm đạo đức của Phạm Minh Hạc là không bó hẹp trong quan hệ con người với con người, mà bao gồm cả một hệ thống giá trị chuẩn của chủ thể (con người) thể hiện ở 5 quan hệ: với bản thân, với người khác và các dân tộc khác, với công việc và học tập, với môi trường sống (bao

Trang 25

gồm cả môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội), với lý tưởng của dân tộc, của Đảng [24, tr.18]

Như vậy có thể hiểu đạo đức dưới hai góc độ: Xã hội và cá nhân

Dưới góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với xã hội, giữa con người với nhau và với chính bản thân mình

Dưới góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng

xử của họ trong cuộc sống và hoạt động xã hội

Chuẩn mực đạo đức của một thế hệ phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của thời đại, là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất, giá trị nhất của lịch sử dân tộc tích luỹ được trong quá trình phát triển Đồng thời hệ thống giá trị đạo đức cũng phản ánh quyền lợi của giai cấp cầm quyền, nó có quan hệ mật thiết với chính trị, hệ thống quan điểm, tư tưởng, với pháp luật thể hiện lợi ích của giai cấp thống trị

Hiện nay, nước ta đang trên con đường xây dựng XHCN thì điều cấp bách đặt ra là xây dựng một số chuẩn mực đạo đức mới nhằm phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, loại bỏ một số chuẩn mực đạo đức cũ đã lạc hậu, lỗi thời Các chuẩn mực đạo đức mới được xây dựng trên cơ sở phải kế thừa được các truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với thực tiễn

1.2.3.2 Chức năng của đạo đức

Chức năng định hướng: Hệ thống những chuẩn mực đạo đức hướng con người làm điều thiện, tránh điều ác; chuẩn mực đạo đức là mục tiêu giúp cho hành vi của mọi người tuân theo các quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản, được mọi người chấp nhận và không bị xã hội lên án

Trang 26

Chức năng nhận thức: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nên đạo đức có chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh tồn tại xã hội Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại và hướng nội (tự nhận thức) Các cá nhân nhờ tri thức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội mà tạo thành đạo đức cá nhân Từ đó ở cá nhân hình thành niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức, đạo đức cá nhân và đạo đức

xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo đức, thành văn hóa Chức năng giáo dục của đạo đức là sự giáo dục lẫn nhau trong cộng đồng, giữa cá nhân với cá nhân và với cộng đồng, đồng thời là sự

tự giáo dục ở cấp độ cá nhân lẫn cộng đồng

Chức năng điều chỉnh hành vi: Để đảm bảo cho xã hội ngày càng phát triển tốt đẹp, tất yếu phải có một hệ thống các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực nhằm kết hợp lợi ích của cá nhân với lợi ích xã hội Sự điều chỉnh hành vi đạo đức làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm, thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu là tạo ra dư luận của xã hội, của tập thể và tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân

Như vậy, giá trị đạo đức được hình thành ở mỗi cá nhân phụ thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo dục và tiếp nhận những tư tưởng và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã hội Nhờ đó mà chủ thể đạo đức định hướng, phân biệt được cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác trong thực tiễn cuộc sống thường xuyên biến đổi và đánh giá chính xác, tin tưởng vào hành động chân chính của mình

1.2.4 Giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong giáo dục cần phải đặc biệt chú trọng đến giáo dục đạo đức cho học sinh, vì đạo đức là nền tảng cuộc sống và sự nghiệp của các em sau này, giúp các em trở thành những con người tốt, những công dân tốt, có ích cho bản thân, gia đình và đất nước

Trang 27

“GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [31] GDĐĐ trong nhà trường THPT là quá trình tác động tới học sinh, gia đình và xã hội nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội

Như vậy, GDĐĐ trong nhà trường phổ thông là quá trình hình thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức cho học sinh thông qua những tác động có mục đích được tổ chức một cách có kế hoạch, được chọn lựa về nội dung, phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng giáo dục trong môi trường kinh tế, xã hội nhất định Giáo dục đạo đức trong nhà trường THPT là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác như: Giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp cho học sinh… nhằm giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản như: Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội; giáo dục theo nguyên tắc tập thể; giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học sinh, tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề ra yêu cầu ngày càng cao đối với HS và phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT, đặc điểm hoàn cảnh học sinh Một nguyên tắc quan trọng là trong công tác giáo dục đạo đức, người thầy cần phải có nhân cách mẫu mực và phải đảm bảo sự thống nhất giữa các ảnh hưởng các các lực lượng giáo dục đối với học sinh

Mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường THPT là nhằm trang bị cho học sinh

những tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hoá xã hội, tri thức về cuộc sống, giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội Hình thành ở HS thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người xung quanh Hình thành thói quen tự giác thực hiện những chuẩn mực

Trang 28

đạo đức xã hội, chấp hành quy định của pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Nhiệm vụ của GDĐĐ cho HS là chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho HS, hình thành ở HS thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật

Hiện nay, nội dung GDĐĐ cho HS được xác định tập trung vào 5 nhóm chuẩn mực đạo đức phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết đó là: Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng Tổ quốc XHCN; nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự hoàn thiện của bản thân;nhóm chuẩn mực đạo đức, lối sống thể hiện quan hệ với mọi người; nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc; nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống [15] Trong nhà trường, có nhiều phương pháp GDĐĐ cho HS như: Phương pháp đàm thoại, tranh luận, nêu gương, phương pháp dư luận xã hội, giao công việc, tạo tình huống giáo dục, thúc đẩy, khen thưởng, xử phạt Các phương pháp thường tập trung vào 3 nhóm phương pháp sau: Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí nhằm hình thành ý thức cá nhân cho học sinh; nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và tích luỹ kinh nghiệm ứng xử xã hội; nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của HS

GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT còn phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa GDĐĐ trong nhà trường với GDĐĐ trong gia đình và ngoài xã hội Thông thường, GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT được tiến hành thông qua việc dạy học các bộ môn khoa học cơ bản; qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động đoàn thể và hoạt động xã hội; thông qua con đường

tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi HS và thông qua xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, mẫu mực; thông qua sự gương mẫu của người thầy

Trang 29

Tóm lại, GDĐĐ có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân GDĐĐ cho học sinh là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục trong nhà trường, là nền tảng tạo ra nội lực vững chắc cho các mặt giáo dục khác Do vậy, GDĐĐ trong nhà trường là một quá trình và phải được quản lý một cách khoa học

1.3 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong trường THPT

QL hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản

lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn

QL hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT không thể tách rời các chức năng quản lý của QL, QLGD và QL nhà trường Về bản chất, QL hoạt động GDĐĐ là hoạt động điều hành công tác GDĐĐ để đạo đức vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của nền giáo dục Ở trường phổ thông, đó là quá trình tác động của hiệu trưởng lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình GDĐĐ học sinh Mục đích của quá trình này nhằm hình thành nhân cách cho HS Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh là cách thức, con đường tác động có định hướng của chủ thể quản lý tới các thành tố tham gia vào quá trình GDĐĐ cho học sinh nhằm làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ, tích cực tham gia vào quá trình GDĐĐ để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra

1.3.1 Quản lý mục tiêu giáo dục đạo đức và kế hoạch thực hiện

Quản lý mục tiêu GDĐĐ là làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng bộ, theo đúng hướng để đạt được mục tiêu đã đề ra nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh Muốn vậy, phải làm cho các đối tượng của quá trình GDĐĐ (cả chủ thể và khách thể) nắm vững mục tiêu GDĐĐ của nhà trường,

có thái độ ủng hộ và quyết tâm phấn đấu thực hiện Cụ thể:

- Phổ biến, quán triệt cho các lực lượng tham gia quá trình giáo dục (nhà trường, gia đình và xã hội) về mục tiêu GDĐĐ cũng như quan điểm trong quá trình triển khai thực hiện

Trang 30

- Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ của nhà trường trên cơ sở bám sát các mục tiêu đã nêu

- Kiểm tra giám sát các hoạt động giáo dục hàng ngày để kịp thời điều chỉnh những sai lệch so với mục tiêu đã đề ra

Quản lý mục tiêu GDĐĐ, chủ thể quản lý cần chú ý thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục và phát triển con người toàn diện trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Xây dựng kế hoạch thực hiện là chức năng quản lý quan trọng của Ban Giám hiệu nhà trường nhằm định hướng cho hoạt động GDĐĐ tại NT trong từng thời điểm, giai đoạn Để xây dựng kế hoạch GDĐĐ có tính khả thi, hiệu quả, cần đảm bảo các quy trình xây dựng kế hoạch từ việc dự thảo kế hoạch đến việc thảo luận, thống nhất ban hành Nội dung của kế hoạch GDĐĐ phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Xác định mục tiêu QL hoạt động GDĐĐ theo các hướng dẫn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT

- Xây dựng cụ thể kế hoạch, chương trình hành động trong năm học, học

kỳ và theo chủ đề từng tháng

- Nội dung hoạt động GDĐĐ cần phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm học sinh và điều kiện thực tiễn của địa phương

1.3.2 Quản lý nội dung giáo dục đạo đức

Quản lý nội dung và hình thức tổ chức hoạt động GDĐĐ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho nội dung và hình thức GDĐĐ thực hiện được mục tiêu đề ra

Quản lý nội dung GDĐĐ cho học sinh bao gồm:

- Phổ biến, tuyên truyền các nội dung GDĐĐ cho các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục tạo sự thống nhất về các nội dung giáo dục cả ở trong

và ngoài nhà trường

- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh

Trang 31

- Chỉ đạo đưa nội dung GDĐĐ vào các hoạt động giáo dục, các nội dung GDĐĐ cần được thể hiện trong từng bài giảng của GV bộ môn, qua hoạt động của GV chủ nhiệm, các hoạt động của Đoàn Thanh niên, hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động xã hội và nề nếp sinh hoạt trong gia đình

- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, mẫu mực Cụ thể hóa nội dung GDĐĐ thành các tiêu chí thi đua và gắn nội dung GDĐĐ vào các cuộc vận động và phong trào thi đua do ngành giáo dục và đào tạo phát động

- Thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực hiện quy chế chuyên môn,

nề nếp giảng dạy của GV

Tóm lại, BGH nhà trường cần quản lý chặt chẽ các nội dung GDDĐ để hoạt động GDĐĐ cho HS mang lại hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

1.3.3 Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục đạo đức

Quản lý phương pháp GDĐĐ là cách thức mà chủ thể quản lý tác động vào đối tượng nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đề ra Quản lý tốt các phương pháp GDĐĐ sẽ giúp CBQL nhà trường đạt được mục tiêu giáo dục một cách hiệu quả nhất Để quản lý tốt các phương pháp GDĐĐ cần:

- Tăng cường công tác tuyên truyền vận động để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục

- Sử dụng đồng bộ các phương pháp GDĐĐ cho HS để các phương pháp này hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ

- Quản lý tốt hoạt động dạy - học của GV và HS và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể

- Quản lý tốt các lực lượng giáo dục trên địa bàn, thường xuyên liên hệ với cha mẹ HS để tạo ra sự đồng bộ, nhất quán và phát huy được hiệu quả của các môi trường giáo dục

Thực chất của quản lý hình thức GDĐĐ chính là QL các hoạt động của các lực lượng xã hội, GV và HS trong quá trình GDĐĐ Việc tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể cho mỗi tổ chức, GV trong việc QL các hoạt động

Trang 32

GDĐĐ của HS thông qua các hoạt động giáo dục chính khoá, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động sinh hoạt đoàn thể, các hoạt động xã

XH và giáo dục trong GĐ sẽ giúp cho BGH nhà trường kiểm soát được việc thực hiện chương trình GDĐĐ, kịp thời đưa ra các phương pháp quản lý phù hợp, góp phần làm cho quá trình GDĐĐ của NT đạt được mục tiêu đề ra

1.3.4 Quản lý việc phối hợp thực hiện của các lực lượng tham gia vào hoạt động giáo dục đạo đức

Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ đảng ngành Giáo dục tháng 6-1957, Bác

Hồ căn dặn “ giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [30, tr.591] Đạo đức, lối sống của học sinh được hình thành từ ba môi trường: GĐ, NT và

XH Vì thế, trong quá trình GDĐĐ, phát triển nhân cách toàn diện của HS phải có sự phối hợp giữa giáo dục trong NT với giáo dục GĐ và các lực lượng

XH để thống nhất về nhận thức và hành động, xác định trách nhiệm, nhiệm vụ của các tổ chức, thành viên trong thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, mẫu mực, thân thiện để giúp nhân cách HS phát triển toàn diện, đúng hướng, phù hợp với yêu cầu của xã hội

Quản lý việc phối hợp là hoạt động điều hành sự phối hợp của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch và cam kết nhằm đẩy mạnh công tác GDĐĐ

Có sự đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, lấy ý kiến đánh giá phản hồi từ phía HS, GV, các lực lượng về hiệu quả các hoạt động GDĐĐ đã thực hiện Để phát huy được sức mạnh tổng hợp của NT, GĐ, tổ chức đoàn thể,

XH trong việc GDĐĐ, BGH cần quản lý một cách có hiệu quả việc phối hợp thực hiện của các lực lượng

1.3.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục đạo đức

Kiểm tra, đánh giá là công việc thường xuyên của BGH trong công tác quản lý NT cũng như hoạt động GDĐĐ Kiểm tra để thấy được những ưu

Trang 33

điểm, hạn chế trong hoạt động GDĐĐ, từ đó điều chỉnh kế hoạch, cải tiến thay đổi phương pháp cho phù hợp Để QL việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GDĐĐ đạt hiệu quả, BGH cần thực hiện một số nội dung sau:

- Xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động này

- Xây dựng kế hoạch, tổ chức bố trí, phân công lực lượng kiểm tra Mục đích kiểm tra chủ yếu là tư vấn, rút kinh nghiệm, điều chỉnh nội dung và phương pháp GDĐĐ cho phù hợp

- Thực hiện công tác kiểm tra: Có thể kiểm tra nội dung các hoạt động theo kế hoạch hoặc kiểm tra từng hoạt động cụ thể về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động GDĐĐ trong NT hoặc kiểm tra, đánh giá kết quả xếp loại đạo đức với việc thực hiện nền nếp, tham gia các hoạt động phong trào, thành tích Kiểm tra có thể tiến hành bằng phương pháp trực tiếp (dự một số hoạt động cụ thể, trao đổi với GV, HS) hoặc gián tiếp (qua hồ sơ

sổ sách, báo cáo) Qua kiểm tra, cần có biện pháp xử lý khắc phục, cải thiện các điều kiện để nâng cao chất lượng hoạt động GDĐĐ

Tóm lại, quản lý hoạt động GDĐĐ trong nhà trường THPT thực chất là quản lý về mục tiêu và kế hoạch thực hiện, quản lý nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động GDĐĐ, quản lý việc phối hợp của các lực lượng và quản lý việc kiểm tra đánh giá quá trình GDĐĐ trong nhà trường Để quản lý tốt hoạt động GDĐĐ cho HS đòi hỏi người quản lý không những nắm vững khoa học quản lý mà còn phải có nghệ thuật quản lý

Trong quá trình quản lý hoạt động GDĐĐ, cán bộ QL cũng cần xây dựng và quản lý tốt các điều kiện giáo dục như: Cơ sở vật chất - thiết bị, tài liệu và văn bản về giáo dục đạo đức, đội ngũ cán bộ GV Hơn nữa, quá trình GDĐĐ thống nhất biện biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống nên trong quá trình quản lý cũng cần đặc biệt quan tâm đến các đặc điểm về

tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, các chuẩn mực, giá trị đạo

Trang 34

đức trong xã hội ngày nay để việc đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh phù hợp với đối tượng và mang tính khả thi

1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

1.4.1 Quan điểm chỉ đạo về giáo dục đạo đức cho HS THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế thì vấn đề giáo dục con người, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt là một nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo Luật Giáo dục 2005 nêu rõ: “Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng

và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học” [33, tr.2]

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI đã xác định mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là

“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Từ đó, đưa ra một trong những nhiệm vụ cụ thể của giáo dục phổ thông là “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi

và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ” [18]

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người

Trang 35

Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã xác định “Xây

dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học” và cụ thể là “ Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản: yêu nước,

nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” [19]

Như vậy, GDĐĐ cho HS nói chung và cho HS THPT nói riêng là một mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông nhằm xây dựng con người phát triển toàn diện, có nhân cách, lối sống tốt đẹp với các đặc tính cơ bản của con người mới đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay

Hoạt động GDĐĐ cho HS ở trường THPT không chỉ là một hoạt động giáo dục đơn lẻ mà là cả một quá trình giáo dục với sự tham gia của nhiều lực lượng nhằm giáo dục học sinh lòng yêu nước, lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, sống có lý tưởng, niềm tin, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật

1.4.2 Một số yêu cầu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện…” Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thì QLGD nói chung và QL hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT nói riêng phải đổi mới

Trang 36

Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT là tổng hợp các cách thức tác động của Ban giám hiệu đến các lực lượng giáo dục để đạt được mục tiêu của hoạt động GDĐĐ Vì vậy, quản lý hoạt động GDĐĐ cho

HS trong nhà trường THPT phải toàn diện từ quản lý mục tiêu và kế hoạch thực hiện hoạt động GDĐĐ, quản lý nội dung, phương pháp và hình thức GDĐĐ đến quản lý việc phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội phù hợp với điều kiện ở mỗi địa phương và quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động GDĐĐ để hoạt động GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả

Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT phải quan tâm đến môi trường của hoạt động giáo dục đạo đức Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phải gắn với đặc điểm, tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của địa phương mà tiến hành và phải dựa trên văn hóa tổ chức để thực hiện

Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS là một lĩnh vực QL nhạy cảm, phức tạp đòi hỏi người QL phải có năng lực QL toàn diện, mềm dẻo, linh hoạt trong sử dụng các biện pháp QL đảm bảo sát đối tượng, sát thực tế và bản thân người QL phải là tấm gương sáng về đạo đức cho đồng nghiệp, HS 1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Quá trình hình thành và phát triển nhân cách cá nhân bị chi phối và ảnh hưởng bởi các điều kiện khách quan và các yếu tố chủ quan như bẩm sinh - di truyền, môi trường, giáo dục, tự giáo dục và hoạt động của cá nhân Trong đó, các yếu tố sinh học là tiền đề, môi trường là điều kiện, giáo dục giữ vai trò chủ đạo và hoạt động của các cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự phát triển nhân cách

1.5.1 Năng lực của Ban giám hiệu trong việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh

Điều 16 Luật Giáo dục 2005 xác định rõ “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý điều hành các hoạt động giáo dục” [33] Cụ thể là:

Trang 37

- Người chỉ đường và hoạch định sự phát triển nhà trường: Vạch ra tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và các giá trị nhà trường trong xây dựng chiến lược phát triển nhà trường THPT

- Người đề xướng sự thay đổi: Chỉ ra những lĩnh vực cần thay đổi để phát triển nhà trường theo đường lối chính sách phát triển GD&ĐT của Đảng

và Nhà nước theo xu thế phát triển giáo dục của thời đại

- Người thu hút, dẫn dắt các nguồn nhân lực: Tập hợp, thu hút, huy động

và phát triển các nguồn lực (nhân lực, tài lực và vật lực) thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường, phát triển đội ngũ, nhằm giáo dục HS phát triển toàn diện

- Người thúc đẩy phát triển: Đánh giá, uốn nắn, khuyến khích, phát huy thành tích, tạo các giá trị mới cho nhà trường

- Người đại diện cho chính quyền về mặt thực thi pháp luật chính sách, điều lệ, quy chế giáo dục và thực hiện các quy định về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, đánh giá chất lượng GD

- Hạt nhân thiết lập bộ máy tổ chức, phát triển, điều hành đội ngũ nhân lực, hỗ trợ sư phạm và hỗ trợ quản lý cho đội ngũ GV để mọi hoạt động của

NT thực hiện đúng tính chất, nguyên lý, mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục

- Tác nhân xây dựng mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của nhà trường THPT trong một môi trường lành mạnh

- Nhân tố tổ chức và vận hành hệ thống thông tin giáo dục Hệ thống

thông tin quản lý giáo dục nói chung và hệ thống thông tin quản lý nhà trường

THPT nói riêng để ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt giáo dục HS

Từ các nhận định trên, cho thấy CBQL trong trường THPT, ngoài vai trò

là một nhà giáo, còn có vai trò kép là nhà lãnh đạo và nhà quản lý Lãnh đạo

để nhà trường luôn có sự thay đổi và phát triển bền vững, quản lý để các hoạt động nhà trường luôn ổn định nhằm đạt tới mục tiêu

Trang 38

CBQL trong nhà trường bao gồm HT và các Phó Hiệu trưởng (gọi chung

là Ban giám hiệu) BGH trường THPT có vai trò quan trọng trong hoạt động GDĐĐ của học sinh, là người trực tiếp quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDĐĐ cho học sinh từ khâu lập kế hoạch,

tổ chức, chỉ đạo thực hiện đến khâu kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động GDĐĐ học sinh BGH chủ động tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để GDĐĐ cho HS Do vậy, năng lực của các thành viên trong BGH là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả quá trình quản lý hoạt động GDĐĐ trong NT Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng phải là người có phẩm chất đạo đức, có uy tín, có chuyên môn vững vàng, năng động, sáng tạo trong giao tiếp và công tác quản lý Họ cần xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quyết đoán trong đó Hiệu trưởng phải là linh hồn, là trung tâm của sự đoàn kết nhất trí của tập thể sư phạm, thu hút và phát huy tài năng, trí tuệ của cán bộ giáo viên tham gia vào hoạt động

Đối với các trường THPT ở miền núi, vùng dân tộc, trong quá trình QL hoạt động GDĐĐ cho HS, BGH nhà trường cần mềm dẻo, linh hoạt khi tổ chức hoạt động GDĐĐ sao cho hoạt động đó vừa mang các đặc điểm chung vừa mang đặc trưng vùng miền và đặc điểm mang tính đặc thù của từng dân tộc cụ thể

1.5.2 Đặc điểm của học sinh THPT

1.5.2.1 Đặc điểm chung của HS THPT

HS THPT (thường có độ tuổi từ 15 đến 18) ở giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, đến tuổi 18 các em bắt đầu thực hiện quyền công dân theo quy định của pháp luật Đây là thời kỳ phát triển mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý,

là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn Các em chú ý đến hình dáng

bên ngoài của mình, tự nhận thức về cái Tôi của mình và vị trí của mình trong

xã hội Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, điểm mạnh, yếu của những người sống cùng với mình và chính mình Đồng thời các em cũng có khuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân Song

Trang 39

việc đánh giá bản thân chưa thực sự khách quan có thể sai lầm, cần sự giúp đỡ khéo léo của người lớn để các em hình thành một biểu tượng khách quan về bản thân và nhân cách của chính mình

Ở tuổi HS THPT, quan hệ bạn bè chiếm vị trí quan trọng, do lòng khao khát có vị trí bình đẳng trong cuộc sống, các em sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, cảm thấy mình cần có nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm Các em thích giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi, cùng lớp, cùng trường hoặc ngoài trường Nhu cầu tình yêu cũng đã xuất hiện, tình yêu học sinh THPT thường là trong trắng, tươi sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Vì thế, trong công tác QL GDĐĐ cho HS THPT, cần quan tâm QL nội dung giáo dục về tình bạn, tình yêu chân chính dựa trên cơ sở thông cảm, hiểu biết, tôn trọng HS Cũng cần chú ý tới ảnh hưởng của nhóm trong NT, ngoài

XH và có thể tránh hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ chức các hoạt động tập thể, đoàn thể để phát huy được tính tích cực của thanh niên

HS THPT rất hiếu động, ham hiểu biết, thích tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Do mới bước vào ngưỡng cửa của người lớn nên các

em rất muốn thể hiện vai trò của người lớn, muốn hoạt động và thể hiện trách nhiệm của mình, mong muốn được khẳng định mình Tuy nhiên, các em chưa hẳn được coi là người lớn, còn bị người lớn chi phối các hoạt động chính, chưa được hoạt động độc lập theo ý của mình Ở giai đoạn này, việc để cho các em tự do phát triển không có sự định hướng, kèm cặp của người lớn thường dẫn đến những nhận thức lệch lạc về lời nói, việc làm, những hành vi

vi phạm các chuẩn mực đạo đức Ngược lại, sự chỉ bảo, kiểm tra giám sát chặt chẽ của người lớn luôn làm các em tỏ ra khó chịu, có hành động phản kháng, thậm chí là “nổi loạn” muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc

Ở nhà trường THPT, việc học tập đòi hỏi mức độ độc lập, tự giác, trình

độ tư duy lý luận phát triển cao Ở tuổi THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một gia tăng Từ đó hoạt động tư duy của HS có sự

Trang 40

thay đổi quan trọng về chất, tư duy của các em có tính độc lập hơn Một số

em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách sáng tạo về các đối tượng đã được học, chưa được học ở trường Hứng thú học tập của các

em cũng có sự thay đổi rõ rệt, có tính bền vững và gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Động cơ học tập của các em cũng trở nên thực tế do các

em phải xác định lựa chọn ngành nghề sau này

1.5.2.2 Đặc điểm riêng của HS THPT miền núi và HS dân tộc thiểu số

Ngoài những đặc điểm chung của HS THPT thì HS THPT ở khu vực miền núi và đặc biệt là HS dân tộc thiểu số có những đặc điểm riêng về tâm

lý và nhận thức như:

Do điều kiện kinh tế gia đình của các em đa phần là khó khăn, ở độ tuổi này, các em trở thành lao động chính trong gia đình, cùng bố mẹ làm ruộng, làm nương rẫy nên các em có sự trội hơn về thể lực, sức khoẻ, trưởng thành hơn về tâm sinh lý; các em thích lao động chân tay nhưng lại thiếu động cơ học tập dẫn đến lơ là việc học, đi học không chuyên cần Mặt khác, nhu cầu thêm người làm việc trong gia đình và tục tảo hôn đã dẫn tới việc nhiều em

bỏ học, xây dựng gia đình

Do cuộc sống gắn bó với thiên nhiên núi rừng nên hình thành cho các

em tính cách phóng khoáng, tự nhiên, không thích gò bó nhưng cũng dẫn tới nhiều thói quen không tốt như: Thiếu ngăn nắp, không có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, làm việc tuỳ hứng Nhiều khi, sự quá hồn nhiên của các em dẫn đến hành vi cảm tính, thiếu cân nhắc, vi phạm nội quy nhà trường

Các em sống trong cộng đồng làng, bản nên rất coi trọng tình nghĩa, có tinh thần dân tộc, có lòng tự trọng cao Điều này tạo nên những nét đẹp đạo đức như: Tình yêu quê hương, gắn bó với bản làng, quê hương, quý trọng bạn bè, người thân, trung thực, dũng cảm Mặt khác, những điều này cũng dễ tới tính cục bộ địa phương, bảo thủ, cực đoan, lòng tự tôn, tự ái cao dẫn tới hành vi quá khích của các em: đánh nhau, vô lễ với các thầy cô giáo

Ngày đăng: 04/12/2020, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w