1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ QUẢN lý HOẠT ĐỘNG GIÁO dục kỷ LUẬT CHO học VIÊN TRƯỜNG TRUNG cấp CẢNH sát vũ TRANG

100 424 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 798,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỷ luật là một yếu tố hết sức quan trọng tạo thành sức mạnh của một tổ chức. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, nhà tư tưởng lỗi lạc, người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, luôn chăm lo xây dựng, giáo dục và rèn luyện CAND trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt.Tư tưởng, tình cảm của Người đã trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND,

Trang 1

1.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học

viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang 181.3 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật

cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang 23

luật cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang 31

Chương

3.

YÊU CẦU, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỶ LUẬT CHO HỌC VIÊN Ở

3.1 Những yêu cầu quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho

học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang 48 3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên

ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang hiện nay 50 3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

Trang 2

người thầy kính yêu của Đảng và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lựclượng vũ trang nhân dân Việt Nam, luôn chăm lo xây dựng, giáo dục và rènluyện CAND trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt.Tư tưởng, tình cảm củaNgười đã trở thành di sản tinh thần thiêng liêng, là nền tảng lý luận, kim chỉnam cho mọi hoạt động của lực lượng CAND, góp phần quan trọng làm nênnhững chiến công to lớn, thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninhquốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Trong quá trình xây dựng lực lượngCAND cách mạng Người đã rất coi trọng việc giáo dục kỷ luật, trong bài nóichuyện tại lớp nghiên cứu khóa I và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trungương, ngày 25-12-1958, Người nhấn mạnh: “Công an đánh địch bên ngoài đãkhó, đánh địch bên trong người còn khó khăn hơn Vì vậy, phải nâng cao kỷluật, tính tổ chức, chống ba phải, nể nang Công tác phải đi sâu và thiết thực.Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, không được tự kiêu, tự đại Phải toàntâm, toàn ý phục vụ nhân dân thì khuyết điểm mới có thể khắc phục được và ưuđiểm mới có thể phát huy được” [28, tr.280].

Người đã dạy và chỉ rõ những phẩm chất đạo đức và tư cách người công

an cách mạng phải có, đó là: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính; Đốivới đồng sự, phải thân ái giúp đỡ; Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành;Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép; Đối với công việc, phải tận tụy; Đốivới địch, phải cương quyết, khôn khéo… Những lời chỉ dạy của Người đã được

cụ thể hóa trong 5 lời thề, 10 Điều kỷ luật trở thành hành động, việc làm hàngngày với mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND như: CAND phải tuyệt đối trung thành với

Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nhà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam, suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, vì an ninh Tổ quốc; Nghiêm chỉnh chấphành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghịquyết, chỉ thị và Điều lệnh CAND; sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi

Tổ quốc, Đảng và nhân dân cần đến…Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng

Trang 3

thành của Lực lượng CAND đã chứng minh tầm quan trọng đặc biệt của kỷ luật.

Vì vậy, giáo dục, quản lý kỷ luật cán bộ chiến sĩ CAND, trong đó có lực lượng

HV đang được đào tạo ở các học viện, nhà trường trong lực lượng CAND là mộtnhiệm vụ, nội dung trong quá trình GD&ĐT

Trong quá trình tiến hành hoạt động giáo dục cho học viên trong nhàtrường, trong đó nhà trường luôn coi trọng quản lý các nhiệm vụ, nội dungGDKL cho học viên là một trong những nhiệm vụ, nội dung quản lý trọng yếuđối với một nhà trường Công an vốn có kỷ luật nghiêm

Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang là trung tâm đào tạo Cảnh sát đặcnhiệm, cảnh sát cơ động, bảo vệ, huấn luyện quân sự, võ thuật… trình độtrung cấp cho lực lượng CAND Trong quá trình đào tạo ở Nhà trường cùngvới việc trang bị kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng thực hành nghềnghiệp, trong đó có nhiệm vụ giáo dục, xây dựng nếp sống chính quy,GDKL cho học viên - nhân tố cơ bản, quan trọng trong phẩm chất nhân cách

và năng lực của người cán bộ, chiến sĩ CAND Trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ giáo dục đào tạo, Nhà trường, các cấp lãnh đạo, chỉ huy và các cơquan chức năng luôn quan tâm việc quản lý giáo dục xây dựng nếp sốngchính quy cho HV và được chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ Do đó, chấtlượng, hiệu quả xây dựng nếp sống chính quy, GDKL được nâng lên, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đạt được, quá trình QLGD, GDKL cho học viên cũngcòn những hạn chế như: Nhận thức về GDKL của học viên vẫn còn có mặtchưa toàn diện thiếu vững chắc; một bộ phận học viên còn nhận thức chưađúng, chưa đầy đủ về pháp luật, kỷ luật, chế độ nền nếp qui định trong họctập, sinh hoạt, công tác; còn có các trường hợp học viên vi phạm điều lệnhCAND, chế độ quy định của Ngành và của Trường; vi phạm kỷ luật thôngthường vẫn còn khá phổ biến cần sớm được khắc phục Những vi phạm đóảnh hưởng rất lớn đến kết quả thực hiện nhiệm vụ và uy tín của Nhà trường

Trang 4

Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do công tác giáo dục và quản

lý hoạt động GDKL cho HV còn có những mặt hạn chế

Trong thời gian qua, đã có một số nhà khoa học, nhà quản lý nghiên cứu

về vấn đề kỷ luật cho học viên với các góc độ tiếp cận, ở các chuyên ngànhkhác nhau; song, chưa có một tác giả, công trình nào đi sâu nghiên cứu vềquản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trangvới cách tiếp cận của khoa học QLGD Vì những lý do đó, học viên chọn vấn

đề: “Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp thạc sĩ QLGD.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề kỷ luật, GDKL và quản lý GDKL đã có những công trìnhnghiên cứu của các tác giả trong và ngoài ngành dưới các góc độ khác nhau

- Các nghiên cứu vấn đề kỷ luật dưới góc độ Triết học và Tâm lý học: tác giả Nguyễn Thanh Long “Phân tích mâu thuẫn trong quá trình củng cố và tăng cường kỷ luật của lực lượng CAND nhân dân Việt Nam hiện nay” (1991)

và tác giả Nguyễn Văn Thanh “Mối quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật trong lực lượng CAND nhân dân Việt Nam hiện nay”

(2004) Các tác giả của hai công trình này đã đi từ bản chất chính trị - xã hộicủa kỷ luật; mối quan hệ biện chứng giữa dân chủ và kỷ luật trong lực lượng vũtrang để chỉ ra những vấn đề có tính quy luật của quá trình phát huy dân chủXHCN và tăng cường kỷ luật trong lực lượng vũ trang hiện nay Tuy khôngtrực tiếp bàn về các hoạt động quản lý kỷ luật, nhưng những luận giải của cáccông trình này về mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, giữa dân chủ và tậptrung, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật có giá trị phương

pháp luận trong quản lý hoạt động GDKL cho học viên Cảnh sát hiện nay.

Các nghiên cứu vấn đề kỷ luật dưới góc độ của Tâm lý học: Công trìnhkhoa học tiêu biểu của tập thể tác giả Khoa Tâm lý học quân sự - Học viện

Chính trị nghiên cứu về “Cơ sở tâm lý của củng cố kỷ luật quân sự” (1998) và

“Cơ sở tâm lý của củng cố và nâng cao kỷ luật quân sự ở phân đội” (2005) bàn

Trang 5

về tầm quan trọng của kỷ luật quân sự trong việc xây dựng, phát triển và hoànthiện các phẩm chất nhân cách cho quân nhân, nâng cao chất lượng hoạt độngquân sự của tập thể quân nhân và góp phần trực tiếp vào xây dựng lực lượngQuân đội Nhân dân Bên cạnh đó còn có các công trình khoa học nghiên cứuxoay quanh vấn đề thực hiện dân chủ và kỷ luật; giáo dục pháp luật, kỷ luật choquân nhân đã được nghiệm thu và công bố như tác giả Nguyễn Ngọc Phú với

công trình “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kỷ luật quân sự”; tác giả Đinh Hùng Tuấn về: “Cơ sở tâm lý học của củng cố và nâng cao tính kỷ luật của các tập thể quân sự” các công trình này đã xác định các biện pháp xã hội - tâm lý

nhằm nâng cao tính kỷ luật của quân nhân Đó là giáo dục tư tưởng, chính trị,đạo đức, xây dựng động cơ GDKL cho các quân nhân; tổ chức tốt mọi hoạt độngquân sự trong đơn vị; thực hành kỷ luật nghiêm, xây dựng thói quen hành vi kỷluật vững chắc; phát huy vai trò của người chỉ huy và tập thể cơ sở quân nhântrong xây dựng các nền nếp kỷ luật của đơn vị, quản lý kỷ luật tốt nhằm pháttriển tính kỷ luật của quân nhân; tích cực hoá tự giáo dục kỷ luật của mỗi quânnhân Các tác giả cũng đề cập đến vấn đề quản lý và coi đó là một trongnhững biện pháp nhằm nâng cao tính kỷ luật của quân nhân

- Các nghiên cứu vấn đề kỷ luật dưới góc độ của Khoa học giáo dục, tác giả Phạm Minh Thụ nghiên cứu sâu về “Sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên sĩ quan ở các trường đại học quân sự” (2004) Trong đó, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên

cứu, đưa ra ba nhóm phương pháp giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho họcviên (gồm xây dựng ý thức kỷ luật; hoạt động GDKL; kích thích và điềuchỉnh nhận thức, thái độ hành vi), đồng thời phân tích thực trạng và đề xuấtcác biện pháp sử dụng tổng hợp các phương pháp giáo dục nhằm nâng caochất lượng GDKL cho học viên, đáng chú ý như: kết hợp các phương phápgiáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên thông qua quá trình tổ chứcthực hiện các chế độ quy định ở Nhà trường đại học quân sự; thông qua tổchức thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và thông qua việc xây dựng môitrường giáo dục lành mạnh, chính quy mẫu mực ở Nhà trường đại học quân

sự Đặc biệt, tác giả đã đưa ra Quy trình sử dụng tổng hợp các phương pháp

Trang 6

giáo dục thói quen hành vi kỷ luật cho học viên theo từng năm học cụ thể gồm

3 khâu: nâng cao nhận thức; xây dựng thái độ niềm tin; hình thành thói quenhành vi kỷ luật; trong mỗi khâu gồm có các bước, các tác động giáo dục cụthể

Tác giả Vũ Quang Hải với đề tài về “Nghiên cứu quy trình tổ chức GDKL cho học viên trong Nhà trường Quân đội” (2009), trên cơ sở nghiên

cứu lý luận và thực tiễn tổ chức GDKL cho học viên các Nhà trường Quân

đội, đã đề xuất quy trình tổ chức GDKL cho học viên trong Nhà trường Quân đội gồm 5 bước, đó là: phân tích tình hình, xác định mục tiêu GDKL; thiết kế

nội dung, lựa chọn phương pháp, hình thức GDKL; bồi dưỡng kiến thức vềtrình tự công việc tổ chức GDKL và tạo sự đồng thuận cho các lực lượng giáodục; thực hành GDKL cho học viên và tập thể học viên; kiểm tra đánh giá,tổng kết phản hồi kết quả GDKL Cũng nghiên cứu về GDKL, nhưng đi sâu

và gắn với một đối tượng đặc thù cụ thể, tác giả Phạm Đình Hoè đã nghiên

cứu “Hệ thống biện pháp giáo dục kỷ luật cho học viên văn hoá nghệ thuật trong Quân đội” (2008) Từ phân tích các đặc điểm riêng biệt của đối tượng

nghiên cứu, khái quát các nhân tố tác động, thực trạng và kinh nghiệm GDKLcho đội ngũ này, tác giả đã đưa ra định hướng và đề xuất hệ thống biện pháp

về GDKL cho học viên văn hoá nghệ thuật trong Quân đội - nhóm đối tượngđặc thù trong hệ thống các Nhà trường Quân đội

- Dưới góc độ khoa học QLGD đã có một số đề tài, công trình nghiên

cứu về quản lý, GDKL cho các đối tượng khác nhau như: Tác giả Phạm Đình

Dũng nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động GDKL cho học viên Trường sĩ quan Tăng - Thiết giáp” Luận văn thạc sĩ QLGD (2008); tác giả Phùng Đức Hùng đi sâu vào “Quản lý hoạt động GDKL cho học viên Trường quân sự Quân khu 2” Luận văn thạc sĩ QLGD (2011), tác giả Phạm Đình Luyện “Quản

lý hoạt động GDKL cho học viên Trường Sĩ quan Không quân” (2014)

Các đề tài này đã tập trung đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễnquản lý hoạt động GDKL cho học viên các Nhà trường, nội dung quản lýhoạt động GDKL, những yếu tố tác động đến quá trình quản lý và đề xuất

Trang 7

biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDKL đối với họcviên, góp phần đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo của các Nhà trường đó.Ngoài ra, còn nhiều bài báo khoa học viết về tầm quan trọng của kỷ luật,giáo dục, rèn luyện, quản lý kỷ luật cũng như vai trò của cán bộ lãnh đạo, chỉhuy, các tổ chức ở đơn vị trong việc giáo dục, GDKL cho quân nhân và tậpthể quân nhân

Từ sự phân tích những luận cứ khoa học của vấn đề nghiên cứu, các tácgiả đã đề xuất nhiều kiến nghị và biện pháp nhằm củng cố KLQĐ, tăng cườnghiệu quả công tác giáo dục, quản lý giáo dục, GDKLcũng như phát huy vai tròcủa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức ở đơn vị cơ sở trong việc giáodục, GDKLcho quân nhân và tập thể quân nhân trong quân đội

Tóm lại, từ sự khái quát và luận giải những công trình khoa học liên

quan đến vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy:

Kỷ luật, GDKL, quản lý GDKL là những vấn đề được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đề tài khoa học cấpNhà nước, cấp Bộ đến các luận án, luận văn và các bài báo khoa học, nhưngchủ yếu của các tác giả trong quân đội Các công trình nghiên cứu tuy khácnhau về đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, song các tác giả đã tậptrung phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, bản chất của kỷ luật và quản lý GDKLcho quân nhân, đánh giá thực trạng giáo dục và chấp hành kỷ luật; đề xuấtcác biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, quản lý kỷ luật và hìnhthành thói quen hành vi chấp hành kỷ luật; trong đó quản lý hoạt độngGDKL được đề cập đến như là một biện pháp trực tiếp nhằm nâng cao chấtlượng GDKLcho học viên

Kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình trên đã đáp ứng một phần thựctiễn xây dựng lực lượng vũ trang trước mắt cũng như lâu dài; đồng thời là cơ sởtrực tiếp để tác giả kế thừa và phát triển vấn đề nghiên cứu dưới góc độ của khoahọc QLGD Mặt khác, hiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về

Quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang, do đó tác giả lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu.

Trang 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Từ sự luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, đềxuất các biện pháp quản lý hoạt động GDKLcho học viên Trường Trung cấpCảnh sát vũ trang hiện nay, nhằm góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng,GDKLnói riêng, quá trình GD&ĐT nói chung của Nhà trường

*Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ cơ bản là:

- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục GDKLvà quản lý hoạt động GDKLcho học viên

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDKL cho học viên ởTrường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở TrườngTrung cấp Cảnh sát vũ trang hiện nay và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khảthi của các biện pháp được đề xuất

4 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

*Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

*Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát

vũ trang

*Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài, tập trung đềxuất các biện pháp quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trungcấp Cảnh sát vũ trang hiện nay

Các số liệu điều tra, khảo sát giới hạn từ năm 2010 đến nay

5 Giả thuyết khoa học

Kết quả GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang chịu

sự tác động của nhiều yếu tố Trong công tác quản lý nếu giáo dục nâng cao nhận

Trang 9

thức, trách nhiệm của chủ thể và đối tượng quản lý; xây dựng và thực hiện tốtquy trình quản lý; đồng thời, phối hợp chặt chẽ các chủ thể trong quá trình quản

lý và phát huy tự quản lý, chấp hành kỷ luật của học viên… thì hoạt động GDKLcho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang sẽ đi vào nền nếp, có chấtlượng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ của và xây dựng Nhàtrường chính quy, tiên tiến, mẫu mực

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng Quán triệt và cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về giáo dục, QLGD, của Bộ Công an; Đảng uỷ Công an Trung ương về giáodục, rèn luyện phẩm chất nhân cách người cán bộ, chiến sĩ CAND Quá trìnhnghiên cứu, đề tài sử dụng các quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quan điểmlôgíc - lịch sử và quan điểm thực tiễn để luận giải các nhiệm vụ của đề tài

* Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học, các văn kiện,nghị quyết, văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, của lực lượng CANDliên quan đến GDKL và quản lý GDKL, đặc biệt là Điều lệnh CAND, Quytắc ứng xử của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức CAND;các tạp chí, thông tin, sách báo, công trình khoa học về tình hình giáo dục,quản lý hoạt động GDKL và chấp hành kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ trong lựclượng CAND Từ đó xác định cơ sở lý luận quản lý hoạt động GDKL chohọc viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trao đổi, tọa đàm với CBQL các cấp (phòng, khoa, tổ), đặc biệt là các cơquan chức năng (Phòng Quản lý học viên, Phòng Đào tạo, CBQL học viên) vàđơn vị học viên

Tiến hành điều tra bằng mẫu phiếu câu hỏi in sẵn với học viên, CBQLcác cấp Nội dung về tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động GDKL cho họcviên Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang hiện nay

Trang 10

Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý hoạt động GDKL của học viên

ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang thông qua các báo cáo của các cơquan, đơn vị và của Trường hàng năm để góp phần làm rõ thực trạng, tìm ranguyên nhân hạn chế, bất cập trong quản lý hoạt động GDKLcho học viên ởTrường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Xin ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ QLGD về nội dungnghiên cứu

- Phương pháp hỗ trợ

Sử dụng toán thống kê để tổng hợp, tính toán các số liệu điều tra và khảonghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất…

7 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về quản lý hoạtđộng GDKLcho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang, cụ thể:

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận, cung cấp tình hình thực tế vềGDKL của học viên để Ban Giám hiệu, các cơ quan của Nhà trường nghiêncứu có thể áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động GDKL cho học viên ởTrường Trung cấp Cảnh sát vũ trang hiện nay, góp phần làm chuyển biến tìnhhình GDKL và quản lý hoạt động này của Nhà trường

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho các học viện, nhà trường trong toàn lực lượng CAND trong côngtác quản lý học viên nói chung và quản lý hoạt động GDKL cho học viênnói riêng

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (8 tiết), kết luận và kiến nghị,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỶ LUẬT

CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT

Trang 11

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Kỷ luật trật tự nhất định trong hành vi của con người theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng Kỷ luật là phương tiện

để thống nhất hành động trong cộng đồng” [44, tr.112] Trong bất cứ tổ

chức nào, để duy trì mọi hoạt động có nền nếp, tạo sự thống nhất đều cầnphải có những quy định riêng dựa trên những quy tắc, điều lệ chung và nộidung của luật pháp

Quan niệm về kỷ luật có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, đượcdiễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau, song đều bao hàm nội dung cơ bản đó

là những quy tắc, chuẩn mực được xây dựng trên cơ sở nhận thức thống nhất vàphản ánh lợi ích của xã hội, cộng đồng hay một tổ chức nhất định, trở thành cơ

sở pháp lý bắt buộc mọi người trong xã hội, cộng đồng, tổ chức đó phải tuântheo Kỷ luật được tồn tại dưới dạng thành văn và không thành văn

Nội dung của kỷ luật mang tính chính trị - xã hội, phản ánh và cụ thểhoá Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; điều lệnh, chế độ, qui chế, quy tắc,qui định của Ngành; mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên

Kỷ luật có tính tự giác nghiêm minh; được xây dựng và duy trì trên cơ sởgiác ngộ về lý tưởng và mục tiêu chiến đấu, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sựnghiệp cách mạng; bản lĩnh và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ,chiến sĩ công an, cùng với sự giáo dục, tổ chức quản lý chặt chẽ của tổ chức

Tuỳ theo mục đích, cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể hiểu kỷ luậtvới các phương diện khác nhau Các tác giả trong quân đội định nghĩa “Kỷ luậtquân sự bao gồm cả một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật và đạo đức mà mọiquân nhân phải tuân theo trong quá trình công tác hàng ngày và trong tìnhhuống chiến đấu” [45, tr.18] Còn nếu nhấn mạnh phương thức, cơ chế chấp

Trang 12

hành và quản lý kỷ luật thì: “Kỷ luật quân sự là hình thức để thực hiện mối

quan hệ giữa các thành viên trong quân đội, bảo đảm cho quân đội giữ đúngbản chất giai cấp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ” [45, tr.19]…

Tiếp cận kỷ luật là hiện tượng xã hội, quy định của tổ chức xã hội thì kỷluậtlà những những điều luật, quy định rất chặt chẽ, nghiêm minh, đòi hỏi mọicán bộ, chiến sĩ công an phải có sự tập trung cao về trí lực và thể lực để hiểubiết, tôn trọng lẫn nhau, thực hiện tốt nhất mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên

Kỷ luật của mỗi học viên được người chỉ huy duy trì một cách chặt chẽ,nghiêm minh và mỗi học viên tự giác chấp hành Đó chính là sự tuân thủnghiêm ngặt và chính xác mọi quy định của pháp luật Nhà nước, điều lệnh,chế độ, qui chế quy định của Ngành, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, nhằmđảm bảo cho mọi hoạt động trên mọi lĩnh vực đều được chỉ huy, quản lý thốngnhất, có hiệu quả, phát huy được sức mạnh của tổ chức

Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếpcận kỷ luật với tính chất là yếu tố chủ quan của chủ thể (cá nhân mỗi người)trong việc chấp hành nghiêm túc và chính xác theo sự quản lý chặt chẽ của

tổ chức, của người chỉ huy và kỷ luật ấy mang ý nghĩa chính trị xã hội do cánhân thực hiện trên cơ sở ý thức được những yêu cầu khách quan của xã hội,

tổ chức CAND (thể hiện ở trình độ nhận thức, thái độ và thói quen hành vi

kỷ luật) Bàn tới kỷ luật nhất thiết phải đề cập tới các nội dung: hệ thốngchuẩn mực hành động; sự tự giác, nghiêm minh trong chấp hành các yêu cầu

kỷ luật; sự chặt chẽ trong quản lý kỷ luật

Theo đó, Kỷ luật của học viên là quá trình chấp hành nghiêm túc, chính xác các điều luật, quy định, mệnh lệnh của của Ngành, Nhà trường và của cấp trên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, nhằm tạo nên

sự thống nhất cao, hướng vào hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, góp phần xây dựng Nhà trường chính quy, vững mạnh toàn diện.

Trang 13

Đối với lực lượng Công an, với hoạt động mang tính chất đặc thù, đòihỏi cán bộ, chiến sĩ công an phải phục tùng nghiêm ngặt pháp luật Nhà nước,điều lệnh, quy định của Ngành, để góp phần trực tiếp đến việc hoàn thànhnhiệm vụ của từng người và cả tập thể Vì vậy kỷ luật là sự chấp hànhnghiêm chỉnh và chính xác của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND đối với các trật

tự, quy tắc được quy định bởi pháp luật Nhà nước, điều lệnh, quy định củaNgành, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy và cấp trên

Nội dung kỷ luật của học viên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh, phảnánh rõ tính toàn diện, đầy đủ, chặt chẽ Do đó, trong quá trình công tác đòi hỏihọc viên phải chấp hành một cách tự giác, nghiêm minh điều lệnh, điều lệNgành, quy chế GD&ĐT, quy định của Trường, bảo đảm hoàn thành tốt mọinhiệm vụ được giao

Giáo dục kỷ luật cho học viên ở nhà trường: Là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, với những hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục thích hợp được tiến hành có mục đích,

có tổ chức nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thái độ, thói quen hành vi

kỷ luật đúng đắn cho học viên theo mục tiêu giáo dục đã xác định

Mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của GDKL cho học viên là quá trình làm cho

họ có hiểu biết, nâng cao ý thức kỷ luật, có hành vi kỷ luật đúng đắn theomục tiêu, yêu cầu giáo dục của Nhà trường GDKL là quá trình tác động cómục đích của lãnh đạo, chỉ huy Nhà trường, của cơ quan chức năng, của độingũ CBQL và đội ngũ giáo viên đối với học viên, bằng kế hoạch, hệ thốngchương trình và nội dung Việc tổ chức giáo dục, GDKL cho học viên sẽ gópphần hình thành những phẩm chất kỷ luật, bản lĩnh chính trị, năng lực nghiệp

vụ CAND Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về kỷ luật để hình

thành động cơ và hành vi kỷ luật đúng đắn; làm chuyển hóa nhận thức về kỷ

luật thành ý thức, thái độ tự giác, để hình thành kỹ năng, thói quen hành vi

kỷ luật của học viên

Chủ thể GDKL: Chủ thể lãnh đạo chỉ đạo là Ban giám hiệu Nhà trường;

chủ thể tham gia và chủ thể trực tiếp giáo dục là các cơ quan Phòng Quản lý

Trang 14

học viên; Phòng Xây dựng lực lượng, Phòng Hành chính Tổng hợp; giáoviên; CBQL học viên.

Nội dung GDKL: Giáo dục cho học viên những kiến thức, hiểu biết đầy đủ

về những yêu cầu, ý nghĩa của kỷ luật, nội dung cụ thể của kỷ luật; xây dựngniềm tin, ý chí quyết tâm rèn luyện đúng đắn; và hệ thống thói quen hành vi chấphành kỷ luật tự giác, nghiêm túc

Phương thức GDKL: Được tổ chức hình thức giáo dục riêng và lồng ghép

với các hình thức dạy học, giáo dục, trong các nội dung sinh hoạt của các tổchức chính trị, chính quyền việc duy trì các chế độ trật tự hàng ngày theo quyđịnh của điều lệnh CAND và của Nhà trường

Kết quả GDKL cho học viên được phản ánh thông qua tình hình chấp

hành kỷ luật của học viên, ý thức và hành vi của họ trong thực hiện nhiệm vụchức trách và các nhiệm vụ khác được giao

Như vậy, hoạt động GDKL cho học viên là tổng thể các hành động có

mục đích, có hệ thống, liên tục của học viên trong chấp hành các quy địnhcủa Ngành và Nhà trường, xây dựng thái độ, tình cảm, ý chí, niềm tin vàphát triển thói quen, hành vi kỷ luật theo yêu cầu của xã hội và Ngành nhằmtạo nên sự thống nhất cao, hướng vào việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụcủa từng học viên Hoạt động GDKL cho học viên là sự chấp hành và thực hiện

có chủ đích, có hệ thống và tự giác, nghiêm minh đối với pháp luật Nhà nước, kỷluật của Ngành, quy chế GD&ĐT, các quy định của Nhà trường, nhằm tạo sựthống nhất cao, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ người học viên, góp phần xâydựng Nhà trường chính quy

1.1.2 Khái niệm Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp cảnh sát vũ trang

Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêucầu nhất định” [45, tr.772]

Quản lý là một loại hình hoạt động đặc biệt, một quá trình tác độngqua lại giữa người và người Quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ

Trang 15

thuật huy động và sử dụng các nguồn lực Quản lý nhằm tập hợp mọi người,mọi cấp tạo ra sự hợp tác giữa cá nhân và toàn xã hội trong việc tổ chức thựchiện kế hoạch và mục tiêu đề ra.

Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra Như vậy, quản lý là một quá trình tác động của chủ thể

quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơhội của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

Trường học với tư cách là một tổ chức cơ sở giáo dục Trường học vừa

là thành tố khách thể cơ bản của tất cả cấp QLGD vừa là hệ thống độc lập tựquản của xã hội Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lýnhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của người dạy, người học và các lựclượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục đểnâng cao GD&ĐT trong nhà trường

Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáodục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng đốitượng đào tạo Ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang cùng với việc thựchiện hoạt động dạy học, Nhà trường còn tiến hành hoạt động giáo dục nhằmphát triển toàn diện nhân cách học viên theo mục tiêu giáo dục toàn diện vàyêu cầu xây dựng người cán bộ CAND; trong giáo dục nói chung của Nhàtrường có GDKL cho học viên vừa là một nhiệm vụ, nội dung vừa là một

hoạt động quan trọng, thường xuyên của Nhà trường

Từ những phân tích trên, trong phạm vi tiếp cận quản lý nhà trường có thể

hiểu: Quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ

trang là sự tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hoạt động

GDKL cho học viên, nhằm đảm bảo cho hoạt động này diễn ra theo đúng kế hoạch và đạt được hiệu quả, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giáo dục của Nhà trường

Trang 16

Quản lý GDKL là hoạt động với những tác động có tính hướng đích,

có mục tiêu xác định, có đối tượng hoạt động là sự GDKL cho học viên; cóchương trình, nội dung gắn với hoạt động giáo dục của các CBQL và đốitượng giáo dục là học viên, được tiến hành trong một tập thể nhất định Quản

lý hoạt động GDKL là những tác động phối hợp nỗ lực của chủ thể với cácđối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

Mục đích quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấpCảnh sát vũ trang là sự định hướng, chỉ dẫn hành động cho các nhà QLGD, giúp

họ ra các quyết định quản lý chính xác, lựa chọn nội dung, phương pháp, hìnhthức, phương tiện để thực hiện việc quản lý hoạt động GDKL có hiệu quả vữngchắc

Chủ thể quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp

Cảnh sát vũ trang, gồm: Ban Giám hiệu Nhà trường; lãnh đạo, chỉ huy các

đơn vị quản lý học viên, các cơ quan chức năng và đội ngũ giáo viên Nhàtrường Các chủ thể này có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng luôn cómối quan hệ phối hợp chặt chẽ với nhau cùng hướng tới mục tiêu chungtrong quản lý hoạt động GDKL cho học viên

Đối tượng quản lý hoạt động GDKL cho học viên trường Trung cấpCảnh sát vũ trang là học viên đang học tập, rèn luyện tại Nhà trường họcviên là đối tượng quản lý và là chủ thể tự quản lý, tự giáo dục GDKL

Phương thức quản lý hoạt động GDKL cho học viên trường Trung cấp

Cảnh sát vũ trang được thực hiện thông qua việc ban hành các quy chế,quy định, chỉ thị, mệnh lệnh … trong GDKL; việc phối hợp và phát huy vaitrò các tổ chức, các lực lượng trong GDKL; bằng việc kiểm tra, đánh giá kếtquả hoạt động GDKL và kiểm tra, đánh giá chất lượng GDKL Các phươngpháp, hình thức quản lý hoạt động GDKL rất đa dạng, phong phú như lên lớp

về kỷ luật như khuyên răn, nhắc nhở, xử phạt Việc sử dụng phương pháp,hình thức quản lý hoạt động GDKL phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với từngnội dung, từng chủ thể, từng đối tượng quản lý và để hướng tới thực hiện có

Trang 17

hiệu quả các mục tiêu GDKL đã xác định.

1.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên ở

Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Mỗi đối tượng quản lý đều có những nội dung nhất định Đối với quản

lý hoạt động GDKL của học viên gồm các nội dung cơ bản sau:

1.2.1 Quản lý mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên

Để GD&ĐT đội ngũ cán bộ CAND tương lai có chất lượng và hiệuquả cao, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN trong tình hình mới, Nhà trường cần phải xác định mụctiêu GD&ĐT phù hợp với yêu cầu mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực của lựclượng CAND Trong đó, phải xác định đúng mục tiêu GDKL cho học viên,đảm bảo cho học viên có đầy đủ phẩm chất nhân cách và năng lực cần thiếttrước khi tốt nghiệp ra trường về đơn vị công tác Mục tiêu GDKL cho họcviên chỉ là một bộ phận của mục tiêu QLGD nhà trường, nó cũng là trạngthái tương lai hay là kết quả cuối cùng mà tổ chức và các lực lượng GDKLtrong Nhà trường mong muốn đạt tới

Trong quản lý hoạt động GDKL cho học viên, việc xây dựng mụctiêu ngay từ đầu quá trình quản lý là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyếtđịnh đến tính khả thi của kế hoạch quản lý GDKL; nó định hướng cho hành độngcủa các nhà QLGD, dễ hành động tự phát trước sự biến đổi của các nhân tố trongquá trình GDKL Có mục tiêu sẽ giúp cho các nhà QLGD, cũng như lực lượnggiáo dục của Nhà trường hành động đúng phương hướng, khắc phục những khókhăn nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Mặt khác, mục tiêu còn chỉ dẫn các nhà QLGDtrong Nhà trường ra các quyết định quản lý chính xác, đạt hiệu quả cao

Đối với Nhà trường việc xác định đúng mục tiêu quản lý, cũng như mụctiêu rèn luyện kỷ luật cho học viên đến đích của hoạt động quản lý, giúp cho việcquản lý hoạt động GDKL cho học viên diễn ra theo dự kiến Để quản lý tốt mụctiêu GDKL cho học viên, các chủ thể quản lý phải dựa trên cơ sở pháp lý quyđịnh trong Luật Giáo dục, Hệ thống văn bản pháp quy về công tác quản lý, giáo

Trang 18

dục học viên của Bộ Công an, quy chế quản lý và điều hành quá trình đào tạo củaNhà trường và các văn bản pháp quy khác; phải quản lý tốt từ khâu thiết kế mụctiêu cho đến quá trình tổ chức thực hiện mục tiêu, trong quá trình tổ chức thựchiện phải làm tốt việc quán triệt mục tiêu GDKL thông qua đó nâng cao nhậnthức và hành động chấp hành kỷ luật cho học viên; phải phát huy tốt vai trò của

hệ thống QLGD Nhà trường trong tổ chức và kiểm tra đánh giá việc thực hiệnmục tiêu GDKL cho học viên

1.2.2 Quản lý hoạt động của chủ thể và đối tượng giáo dục kỷ luật cho học viên

Chủ thể quản lý hoạt động GDKL cho học viên: Là Đảng uỷ, Ban Giám

hiệu Nhà trường; Cấp uỷ chi bộ, chỉ huy các đơn vị Trong đó cấp ủy chi bộ, chỉ huy

Tổ, Lớp là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt độngGDKL cho học viên

Chủ thể hướng dẫn, chỉ đạo quản lý hoạt động GDKL cho học viên gồm

các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên; đặc biệt là Phòng Quản lý học viên,Phòng Xây dựng lực lượng, Phòng Đào tạo… đây là những cơ quan tham mưucho Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Nhà trường và trực tiếp chỉ đạo hoạt động quản lýhoạt động GDKL cho học viên

Chủ thể trực tiếp quản lý hoạt động GDKL cho học viên là CBQL học

viên ở các Tổ, Lớp, Trung đội Đội ngũ cán bộ đó là “người thầy thứ hai” trựctiếp tổ chức GDKL, quản lý, rèn luyện học viên về mọi mặt Do đó đội ngũCBQL học viên có vai trò rất lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhâncách học viên Học viên quán triệt và thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo tiếpnhận sự giáo dục, quản lý kỷ luật thông qua hoạt động của đội ngũ CBQL.Không chỉ có đội ngũ CBQL trực tiếp tham gia vào quản lý hoạt động GDKLcho học viên mà còn có đội ngũ giáo viên cũng có nhiệm vụ tham gia giáo dụchọc viên; các tổ chức trong đơn vị như chi bộ, tổ đảng, tổ chức đoàn, hội…Trong suốt quá trình quản lý, giáo dục GDKL đội ngũ CBQL phải phối hợp chặtchẽ với các bộ phận, các lực lượng khác trong Nhà trường để quản lý, GDKL

Trang 19

cho học viên Mặt khác, học viên vừa là chủ thể của quá trình quản lý, vừa làđối tượng quản lý; cho nên, chỉ có thể nâng cao chất lượng giáo dục, quản lýGDKL khi học viên ý thức đầy đủ về vai trò của tự quản lý, quản lý GDKL

Đối tượng quản lý: Đối tượng hướng tới của các hoạt động quản lý hoạt

động GDKL là đội ngũ học viên đào tạo để trở thành cán bộ cảnh sát Chonên, mọi học viên phải chịu sự quản lý, rèn luyện của các cấp uỷ, lãnh đạo, chỉhuy, đội ngũ giáo viên và CBQL; song trong quá trình tự GDKL của học viênlại là chủ thể của quá trình đó Là đối tượng quản lý, học viên phải GDKL, tựgiác chấp hành nghiêm mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, điều lệnh, điều lệ,chế độ quy định của lực lượng CAND và Nhà trường, không ngừng phấn đấuvươn lên tự hoàn thiện mình Nội dung quản lý đối tượng hoạt động GDKLphải toàn diện, toàn bộ các hoạt động của học viên trong quá trình GD&ĐT,gồm: Hoạt động học tập; nghiên cứu khoa học; hoạt động giáo dục, tự giáodục, hoạt động rèn luyện, tự rèn luyện, rèn luyện nhân cách; hoạt động xãhội… Để quản lý tốt đối tượng hoạt động GDKL, đòi hỏi các nhà QLGD phảinắm chắc số lượng, chất lượng học viên, đặc điểm tâm lý để phân loại, bố trí

cơ cấu tổ chức và ra các quyết định quản lý phù hợp; hướng dẫn học viên lập

kế hoạch GDKL; tổ chức chỉ đạo học viên thực hiện kế hoạch; tiến hành có nềnếp các hoạt động hành chính; tổ chức tốt các hoạt động tự quản lý của họcviên và phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong tổ chức quản lý họcviên, tạo điều kiện cho học viên phát triển, hoàn thiện nhân cách

1.2.3 Quản lý nội dung, phương pháp hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên

Nội dung quản lý GDKL cho học viên: Là quản lý toàn bộ hệ thống

các kiến thức, các giá trị chuẩn mực, các kỹ xảo, kỹ năng, nghiệp vụ, kỹthuật cần trang bị cho học viên nhằm hình thành và phát triển ở học viênnhững tri thức về pháp luật, điều lệnh của lực lượng CAND và quy định củaNhà trường, để từ đó nó trở thành nhu cầu, thói quen thực hiện trong đờisống cá nhân của học viên Thực chất quản lý nội dung hoạt động GDKL là

Trang 20

quán triệt mục tiêu, yêu cầu GDKL của Nhà trường vào nội dung, đảm bảocho nội dung đó luôn nhất quán với mục tiêu, yêu cầu đào tạo nói chung, nộidung GDKL của học viên nói riêng luôn mang tính khoa học và có xu hướngchính trị tư tưởng rõ ràng Nội dung quản lý là khâu thiết kế xây dựngchương trình, nội dung và quá trình thực hiện chương trình, nội dung GDKLcho học viên từ việc triển khai kế hoạch, cho đến phân công, phân cấp tổchức thực hiện nội dung GDKL…Để thực hiện tốt vấn đề này, yêu cầu độingũ CBQL phải quán triệt sâu sắc kế hoạch hoạt động GDKL, nắm chắc mụctiêu, yêu cầu nội dung hoạt động GDKL; khi thiết kế chương trình, nội dungGDKL cho học viên phải theo đúng lôgíc của quá trình dạy học và giáo dục;nội dung GDKL phải gắn với đặc điểm và hoạt động của cán bộ Cảnh sát vũtrang; nắm chắc chương trình GDKL và quy định về khối lượng kiến thức nộidung GDKL cần trang bị cho học viên theo từng năm học và từng giai đoạn Ví

dụ như: Đối với học viên năm thứ nhất, nội dung GDKL thường tập trung: Vềmặt nâng cao nhận thức gồm Hiến pháp, Điều lệnh CAND, Điều lệ, quy chế,quy định của lực lượng CAND và Nhà trường … các nội dung về pháp luậtNhà nước, kỷ luật của lực lượng CAND mới sửa đổi, bổ sung ban hành…

Phương pháp, hình thức, phương tiện quản lý GDKL cho học viên: Đây là

hệ thống các con đường, cách thức thao tác, cách thức tổ chức, sắp xếp phương tiện

kỹ thuật, cơ sở vật chất, biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến khách thể, đốitượng bị quản lý nhằm đạt đến mục tiêu quản lý GDKL mà Nhà trường đã đặt ra

Đó là phương thức tác động của chủ thể quản lý tới nhận thức, tình cảm và thóiquen hành vi kỷ luật của học viên và tập thể học viên nhằm thực hiện mục tiêu quản

lý GDKL đã dự kiến của Nhà trường Sự tác động này có thể theo hai phương thức

cơ bản bắt buộc và động viên khuyến khích

Do vậy, các chủ thể quản lý trong Nhà trường phải nắm vững hệ thốngcác nguyên tắc, công cụ quản lý đó là những phương tiện, những giải phápcủa chủ thể quản lý nhằm định hướng, khích lệ, dẫn dắt đối tượng quản lýthực hiện đạt mục tiêu đề ra; căn cứ vào nội dung quản lý, trong quản lý hoạt

Trang 21

động GDKL cho học viên các chủ thể quản lý Nhà trường cần vận dụng và

sử dụng linh hoạt các phương pháp quản lý như: Phương pháp hành chính;phương pháp giáo dục - tâm lý; phương pháp kích thích bằng vật chất, tinhthần, phương pháp kiểm tra, đánh giá và các phương pháp cụ thể khác…

Mỗi phương pháp quản lý đều có những ưu, nhược điểm riêng, không cóphương pháp quản lý nào là vạn năng và chiếm vị trí độc tôn Vì vậy, trong quản

lý hoạt động GDKL cho học viên, việc lựa chọn đúng đắn và kết hợp các phươngpháp quản lý phù hợp với nguyên tắc quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, tìnhhuống quản lý để đạt kết quả cao đó chính là tài năng, nghệ thuật quản lý của cácchủ thể quản lý trong Nhà trường

1.2.4 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên

Xây dựng môi trường GDKL cho học viên, môi trường là tiền đề

quan trọng giúp cho các hoạt động giáo dục GDKL cho học viên đạt kếtquả tốt Môi trường GDKL cho học viên Trường Trung cấp Cảnh sát vũtrang bao gồm tất cả các loại môi trường như: Môi trường văn hóa, môitrường tự nhiên, môi trường sống, học tập, công tác… trong đó môi trườngvăn hóa có vị trí vai trò quan trọng trong GDKL cho học viên Các cấpquản lý cần xây dựng tốt môi trường văn hóa, duy trì các thiết chế văn hóagiúp cho việc GDKL cho học viên được thực hiện tích cực, tự giác

Quản lý tốt các mối quan hệ trong GDKL cho học viên, các mối quan hệtrong cuộc sống học tập, rèn luyện của học viên Cảnh sát khá đa dạng; có mốiquan hệ do thiết chế tổ chức, nhiệm vụ mang lại, có mối quan hệ được hình thànhtrong đời sống hoạt động của học viên; có mối quan hệ được hình thành trongquá trình giao lưu… trong các mối quan hệ đa tầng đó nhà quản lý, các cấp quản

lý cần phân loại, định hướng giúp học viên nhận thức đầy đủ các mối quan hệ đó,cũng thông qua đó nhà quản lý phải nắm chắc các mối quan hệ để tổ chức cáchoạt động giáo dục thúc đẩy quá trình GDKL cho học viên có chất lượng tốt

1.2.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên

Trang 22

Đánh giá chính xác kết quả GDKL cho học viên không chỉ có ý nghĩa quantrọng đối với quá trình học tập rèn luyện của học viên mà còn giúp Nhà trường rútkinh nghiệm về công tác đào tạo của mình, đồng thời cũng giúp cho các đơn vị tiếpnhận học viên có cái nhìn chính xác về phẩm chất cán bộ Chính vì vậy việc đánhgiá kết quả giáo dục phải được tiến hành một cách nghiêm túc, đảm bảo nguyên tắc:bảo đảm tính khách quan công bằng; bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng điểm;bảo đảm nguyên tắc phát triển; bảo đảm nguyên tắc phản ánh đúng thực chất.

Muốn quản lý tốt việc đánh giá kết quả GDKL cho học viên thì phải đảmbảo các điều kiện sau: Công tác đánh giá kết quả phải theo đúng thủ tục, quytrình phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Nhà trường Việc đánh giá kết quảgiáo dục phải trung thực, khách quan, phản ánh đúng chất lượng giáo dục.Thường xuyên rút kinh nghiệm về công tác kiểm tra đánh giá kết quả GDKL chohọc viên

Nội dung quản lý kết quả hoạt động GDKL thường tập trung ở việc

kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDKL theo chương trình, nội dung GDKL

đã xây dựng và phê duyệt; nắm kết quả GDKL cho học viên qua từng giaiđoạn, năm học; so sánh đối chiếu với mục tiêu đã xác định trước đó; rút ranhững bài học kinh nghiệm để hoàn thiện các nhân tố của quá trình hoạt độngGDKL cho giai đoạn, hoạt động thực tiễn tiếp theo Vấn đề này được thể hiện ởviệc quản lý kết quả về mặt nhận thức, kết quả xây dựng thái độ niềm tin và kếtquả xây dựng thói quen hành vi có kỷ luật của học viên

1.3 Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên Cảnh sát vũ trang

1.3.1 Tác động của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước

Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghệp hóa, hiện đại hóa,giao lưu, hội nhập quốc tế; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướngXHCN Quá trình này đã và đang tạo nên những biến đổi to lớn trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Công cuộc đổi

Trang 23

mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, kinh tế phát triển tăngtrưởng khá, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao, tình hìnhchính trị - xã hội cơ bản ổn định, lòng tin của nhân dân với Đảng, chế độXHCN được củng cố vững chắc, ý thức trách nhiệm của công dân trong xâydựng và bảo vệ Tổ quốc được nâng cao; khơi dậy được tính năng động, sángtạo và tạo điều kiện cho con người bộc lộ phát huy hết tài năng của mìnhphục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội, đồng thời cũng đòi hỏi cao ở conngười tính ý thức tôn trọng pháp luật, kỷ luật Tuy nhiên, thực tế những nămqua, một số vấn đề xã hội bức xúc gay gắt chậm được giải quyết; công tácphòng chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra; “tình trạngthiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổbiến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên’’[12, tr.175].

Những tác động tích cực của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội đấtnước tạo điều kiện thuận lợi cho GD&ĐT nói chung, GDKL và quản lý hoạtđộng GDKL cho học viên nói riêng; những mặt tích cực trong đời sốngchính trị, kinh tế, xã hội chính là thực tế sinh động, làm tăng sức thuyết phục,giáo dục, xây dựng niềm tin đối với học viên; chủ thể giáo dục có điều kiệntốt để dẫn chứng nêu gương, kết hợp với việc quán triệt, hướng dẫn, tổ chứchọc viên rèn luyện theo những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật Nhà nước.Đồng thời, những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ cho phépứng dụng nhiều trang thiết bị kỹ thuật hiện đại vào quản lý hoạt động GDKLcho học viên; việc quản lý tình hình mọi mặt của học viên ngày càng chặtchẽ hơn; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện chính xác, khách quanhơn; công tác lưu trữ, truy xuất kết quả huấn luyện nhanh chóng; thông tinhuấn luyện kịp thời, chính xác

Song, bên cạnh mặt tích cực, những vấn đề tiêu cực của đời sống xãhội cũng tác động, ảnh hưởng nhất định đến GDKL và quản lý hoạt độngGDKL cho học viên Những hiện tượng tùy tiện, chấp hành kỷ luật kỷ cươngkhông nghiêm, vi phạm pháp luật, qui định, suy thoái, tham nhũng gây cản

Trang 24

trở công tác GDKL, làm giảm hiệu lực của thuyết phục nêu gương đối vớinhân dân Đồng thời, hàng ngày hàng giờ tác động đến tư tưởng, tình cảm,ảnh hưởng đến ý thức tổ chức kỷ luật, phong cách, tác phong, lối sống vàviệc rèn luyện thói quen hành vi chấp hành pháp luật, kỷ luật của mỗi họcviên Cảnh sát vũ trang

1.3.2 Tác động từ yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý Nhà nước và xã hội

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sảnViệt Nam nêu rõ "tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Nâng cao năng lực quản lý và điều hành củaNhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật,

kỷ cương" [12, tr.246] Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN chính làxây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, đặt dưới sựlãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, kể cả tổchức Đảng đều phải hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật, chịu tráchnhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình Mọi công dân đều phải

có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp, pháp luật, phải sống và làm việc theopháp luật Để xây dựng một nhà nước như trên, là trách nhiệm của Đảng,Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân, trong đólực lượng Công an là lực lượng đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng vàbảo vệ Nhà nước pháp quyền XHCN

CAND là một bộ phận quan trọng, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng,Nhà nước Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đểcông an thực hiện tốt vai trò của mình cần phải xây dựng công an cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; các tổ chức, đơn vị và mọicán bộ, chiến sỹ CAND phải luôn tự giác, thực hiện nghiêm pháp luật củaNhà nước, kỷ luật của ngành Yêu cầu trên chi phối trực tiếp đến quản lýhoạt động GDKL, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDKL,

Trang 25

làm chuyển biến mạnh mẽ chất lượng GDKL, kỷ luật cho cán bộ, chiến sỹtrong toàn lực lượng và học viên trong các Nhà trường CAND để đáp ứngyêu cầu thực tiễn đặt ra

1.3.3 Tác động của mặt trái kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch

Hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiếp tục hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển kinh tế thị trường địnhhướng XHCN đã tạo nên những biến đổi to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đờisống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Tuy nhiên, quá trình nàycũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực như: Tăng sự phân hóa giàu nghèo trong

xã hội, tạo điều kiện cho lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, tự do buôngthả, cá nhân chủ nghĩa, lừa đảo, hối lộ, tham nhũng; coi thường pháp luật vànhững giá trị truyền thống làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống của dântộc, gây dư luận không tốt trong tập thể, đơn vị; làm ảnh hưởng không nhỏ đếnđời sống tinh thần, nhận thức, niềm tin, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trongngành Công an

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động

“diễn biến hòa bình”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng, làmsuy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, như (đòi xóa bỏĐiều 4 trong Hiến pháp); “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang, trong đó cóCAND làm cho cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, tha hoá vềđạo đức, lối sống, mơ hồ mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lýtưởng, vi phạm kỷ luật CAND Vì vậy, đặt ra cho chủ thể quản lý phải có kếhoạch giáo dục, tuyên truyền, đấu tranh; luôn đổi mới nội dung, hình thức GDKLcho mọi cán bộ, chiến sỹ; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước thách thứccủa mặt trái cơ chế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch

1.3.4 Tác động từ yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an nhân dân, xây dựng Nhà trường trong tình hình mới

Trang 26

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốcgia trong tình hình mới đã đặt ra cho công an phải được xây dựng theohướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lựclượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại Để đạt được yêu cầu trên, phảithực hiện đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp nhằm nâng cao bản lĩnh chínhtrị, tinh thần chiến đấu, văn hóa pháp luật và nếp sống chính quy của toànlực lượng; trong đó, thực hiện tốt GDKL, quản lý tốt hoạt động GDKL làmột trong những biện pháp quan trọng cần được phát huy hơn nữa Bởi vậy,các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục quán triệt, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai tròcủa GDKL, quản lý tốt hoạt động GDKL, nâng cao ý thức, điều chỉnh hành vichấp hành pháp luật, xây dựng môi trường làm việc chính quy, khoa học, kỷcương, kỷ luật và lễ tiết, tác phong cán bộ, chiến sĩ công an mẫu mực Việc làmnày phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, với những nội dung, biện pháp

cụ thể, phù hợp với từng đối tượng và đúng yêu cầu để mang lại hiệu quả thiếtthực của GDKL

Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng lực lượng công an, xây dựng Nhàtrường trong tình hình mới đã có những thuận lợi cho hoạt động GDKL và quản

lý hoạt động GDKL Ý thức pháp luật, kỷ luật của mọi quân nhân nói chung vàhầu hết học viên các Nhà trường công an nói riêng đã được nâng lên đáng kể;

cơ sở vật chất, nguồn kinh phí dành cho GDKL cũng như chế độ đãi ngộ đốivới các lực lượng tham gia GDKL và quản lý GDKL đã được quan tâm hơn,tạo ra động lực thúc đẩy các chủ thể cũng như các đối tượng trong hoạt độngGDKL cho học viên

1.3.5 Tác động từ mục tiêu đào tạo, yêu cầu nhiệm vụ giáo dục kỷ luật của Ngành Công an cho học viên hiện nay

Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang xác định mục tiêu đào tạo: Đào tạonhững thanh niên, cán bộ, chiến sĩ Công an có đủ tiêu chuẩn theo quy địnhtuyển sinh của Bộ Công an để trở thành cán bộ, sĩ quan theo các yêu cầu nhiệm

vụ của lực lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tuyệtđối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, gắn bó với

Trang 27

sự nghiệp xây dựng lực lượng Công an và bảo vệ Tổ quốc; có ý thức tổ chức kỷluật, trách nhiệm cao trong công tác Hiện nay trước yêu cầu xây dựng lực lượngCAND trong tình hình mới, xây dựng Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang sớmtrở thành Trường Cao Đẳng Cảnh sát vũ trang trong thời gian tới; theo đó, mụctiêu, yêu cầu, quy mô, loại hình đào tạo của Nhà trường hiện nay cũng có sự vậnđộng, phát triển mới; hoạt động quản lý hoạt động GD&ĐT nói chung cũng nhưquản lý hoạt động GDKL nói riêng cho học viên càng trở lên quan trọng hơn baogiờ hết; ý nghĩa quan trọng đó không chỉ ở chỗ trước mắt là nâng cao chất lượngđào tạo nói chung và xây dựng Nhà trường theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,

mà còn về lâu dài đó là lực lượng có ý nghĩa quyết định đến quản lý hoạt độngGDKL, kỷ luật ở các đơn vị trong toàn lực lượng CAND

Người cán bộ Cảnh sát vũ trang là những người trực tiếp thực thinhiệm vụ, bảo đảm cho mọi hoạt động của con người, của xã hội theo đúngpháp luật của Nhà nước, do vậy họ phải có kiến thức về pháp luật, điều lệnhcông an nhân dân; quản lý, chỉ huy giáo dục đơn vị chấp hành nghiêm phápluật, kỷ luật và làm công tác dân vận trên các địa bàn; bởi vậy, vấn đề đặt ratrong quá trình đào tạo, Nhà trường cần phải bám sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo,tăng cường quản lý nâng cao hiệu quả GDKL, quản lý kỷ luật của học viên;thường xuyên đưa học viên tham gia các hoạt động thực tiễn; thực hành, thực tập

ở cương vị, chức trách sau này mà họ sẽ đảm nhiệm để rèn luyện thói quen hành

vi, thói quen chấp hành pháp luật, kỷ luật

Học viên ở Nhà trường gồm nhiều đối tượng khác nhau, có sự chênhlệch về tuổi đời, tuổi quân; trình độ nhậnthức Vì thế, việc quản lý hoạt độngGDKL cho học viên là rất khó khăn, không chỉ quản lý việc chấp hành kỷ luật

mà còn phải quản lý các quy định, nguyên tắc trong rèn luyện hành vi Điều đóđòi hỏi phải có sự phối hợp quản lý chặt chẽ của các lực lượng, sự nhiệt tình,trách nhiệm của đội ngũ CBQL các cấp Mặt khác, là một đơn vị đứng chântrên địa bàn thị trấn Xuân Mai, bên cạnh những thuận lợi đáng kể của mộttrung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Hà Tây trước kia vàThành phố Hà Nội hiện nay, Nhà trường cũng phải đối mặt với nhiều tác động

Trang 28

tiêu cực của tình hình kinh tế xã hội, tác phong sinh hoạt và những tệ nạn xãhội hàng ngày, hàng giờ ảnh hưởng đến mọi đối tượng sinh sống trên địa bàn,trong đó có học viên Trong khi do đặc thù công việc của một Nhà trường,quản lý nhiều đối tượng khác nhau Do vậy việc quản lý cần phát huy cao độtính tự giác, tự rèn, tự giáo dục của học viên nếu không có bản lĩnh vữngvàng, có sự “đề kháng” tốt với các thói hư tật xấu và các tệ nạn ngoài xã hộithì trong quá trình hoạt động và giao lưu cuộc sống, học viên rất rễ bị tácđộng, bị lôi kéo vào các hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật Nhà nước Điềunày đặt ra đòi hỏi rất cao đối với hoạt động tự quản lý kỷ luật của học viêncũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình và địa phương nơi họcviên sinh sống.

*

Quản lý GDKL cho học viên là một nhiệm vụ, nội dung quan trọng trongquản lý học viên, có tác động rất lớn đến việc rèn luyện, phát triển và hoànthiện phẩm chất nhân cách của học viên, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả thực hiện nhiệm vụ của Nhà trường Do vậy hoạt động đó cần đượccác chủ thể quản lý coi trọng đúng mức, quán triệt và tiến hành thường xuyên,thành nền nếp và tăng cường quản lý có hiệu quả hoạt động này

Nội dung quản lý GDKL cho học viên gồm nhiều khía cạnh, từ việcquản lý mục tiêu, đối tượng và các điều kiện đảm bảo cho hoạt độngGDKL; việc duy trì các nền nếp cũng như quản lý kết quả GDKL cho họcviên Các nội dung này vừa phản ánh tính đa dạng, vừa phản ánh tínhphức tạp trong hoạt động quản lý; do đó cần được tiến hành theo một quytrình khoa học và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng đến các cơ quanchức năng và CBQL các đơn vị trong Nhà trường và tính đến sự tác độngcủa các yếu tố khách quan và chủ quan

Chương 2

Trang 29

CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỶ LUẬT CHO HỌC VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT VŨ TRANG 2.1 Khái quát chung về Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang được thành lập ngày01/06/2006 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an Trường có nhiệm

vụ đào tạo cán bộ, chiến sĩ đặc nhiệm, giáo viên quân sự, võ thuật, cảnhsát bảo vệ, cảnh sát cơ động cho lực lượng CAND và huấn luyện chiến sĩnghĩa vụ hàng năm cho công an các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra

Tổ chức biên chế của Nhà trường gồm: 16 phòng, Khoa chuyênngành, Bộ môn, Trung tâm, với hơn 500 cán bộ, giáo viên, công nhân viên.Trong đó có 80% cán bộ, giáo viên có trình độ đại học và sau đại học (39đồng chí thạc sĩ, 9 đồng chí đang nghiên cứu sinh), 3 nhà giáo ưu tú Lưulượng đào tạo bình quân 3000 học viên/năm

Trường đang tổ chức đào tạo 5 chuyên ngành: Cảnh sát đặc nhiệm,Cảnh sát cơ động, Cảnh sát bảo vệ cho các lực lượng cảnh sát nhân dân trong

cả nước, huấn luyện quân sự và huấn luyện võ thuật CAND, Cánh sát phảnứng nhanh 113 và các nhiệm vụ khác được giao Nhà trường đã tổ chức biênsoạn hàng chục chương trình, tài liệu dạy học Hàng năm học viên ra trường

có 60% học viên đạt loại học tập rèn luyện khá, giỏi Công tác giáo dục, rènluyện học viên và quản lý học viên luôn được coi trọng

Từ khi thành lập đến nay, nhà trường đã tổ chức đào tạo được 10 khóahọc viên trung cấp với hàng ngàn học viên Trong những năm qua, nhàtrường đã làm tốt công tác tổ chức quản lý dạy học từ việc quản lý mục tiêu,chương trình đào tạo; quản lý việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học;xây dựng đội ngũ giáo viên giảng dạy, CBQL; đảm bảo cơ sở vật chất, hệthống giáo trình, tài liệu dạy học và làm tốt công tác quản lý người học,trong đó đã tổ chức đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, xây dựng mới

05 chương trình đào tạo, 62 chương trình học phần Trên cơ sở chương trìnhhọc phần, nhà trường đã tổ chức biên soạn, nghiệm thu và ban hành đưa vào

Trang 30

sử dụng 49 giáo trình, 10 tài liệu dạy học và 02 sáng kiến cải tiến Đảng ủy,Ban Giám hiệu nhà trường đã chú trọng xây dựng và nâng cao chất lượngđội ngũ giáo viên giảng dạy các học phần pháp luật, chú trọng tuyển chọnnhững giáo viên có trình độ chuyên sâu pháp luật, những giáo viên có nhiềukinh nghiệm giảng dạy và kinh nghiệm thực tiễn công tác Trường thườngxuyên chủ động mở các lớp bồi dưỡng về sư phạm nâng cao, bồi dưỡngnghiệp vụ công an, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ giáo viêngiảng dạy pháp luật và cử CBQL đi học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lýgiảng dạy do Bộ Công an và Tổng Cục III tổ chức Trong quá trình đào tạobên cạnh việc tổ chức hoạt động dạy học, Nhà trường rất coi trọng công tácgiáo dục, rèn luyện học viên và cũng đã tiến hành nhiều nội dung, hình thức,biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện nhân cách học viêntheo mục tiêu yêu cầu đào tạo cảnh sát vũ trang

2.2 Thực trạng giáo dục kỷ luật và quản lý giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp cảnh sát vũ trang

2.2.1 Khái quát chung về khảo sát thực trạng

* Mục tiêu khảo sát

Nhằm đánh giá khách quan, chính xác về thực trạng hoạt động GDKL

và thực trạng quản lý hoạt động GDKL cho học viên Trường Trung cấpCảnh sát vũ trang

* Nội dung, đối tượng, phương pháp khảo sát

- Nội dung khảo sát: Thực trạng hoạt động GDKL và thực trạng quản lý

hoạt động GDKL cho học viên Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

- Đối tượng khảo sát: CBQL học viên, giáo viên trực tiếp giảng dạy;cán bộ các cơ quan Nhà trường, CBQL học viên

- Phương pháp khảo sát: Chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng

cầu ý kiến, kết hợp trao đổi trực tiếp với học viên, với các giáo viên ở khoachuyên ngành, cán bộ ở phòng, ban có liên quan, CBQL ở đơn vị quản lý họcviên Đối với mẫu phiếu dành cho học viên, tiến hành khảo sát các khóa đào

tạo học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang ở năm thứ nhất và năm

Trang 31

thứ hai, tổng số học viên được khảo sát 210 đồng chí Đối với mẫu phiếu dànhcho CBQL, giáo viên, chúng tôi tiến hành khảo sát với tổng số 60 CBQL, giáoviên (CBQL 20 đồng chí; giáo viên 40 đồng chí).

Đồng thời trực tiếp quan sát hoạt động quản lý ở đơn vị cơ sở để thu thậpnhững bằng chứng, số liệu cần thiết về hoạt động GDKL và quản lý hoạt độngGDKL cho học viên Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang Ngoài ra chúng tôicòn nghiên cứu nghị quyết Đảng ủy Nhà trường, các chỉ thị, quy chế về công tácquản lý hoạt động GDKL, báo cáo tổng kết năm học

* Địa bàn, thời gian khảo sát

- Địa bàn khảo sát: Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

- Thời gian khảo sát: Các số liệu sử dụng phục vụ nghiên cứu luận văn

được khảo sát, điều tra, tổng hợp giới hạn từ năm 2010 đến năm 2015; thờigian điều tra từ tháng 3 đến tháng tư năm 2016

2.2.2 Thực trạng giáo dục kỷ luật cho học viên ở Trường Trung cấp cảnh sát vũ trang

- Thực trạng nhận thức về kỷ luật và GDKL cho học viên (60 CBQL, GV)

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát việc nhận thức về kỷ luật, GDKL và quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Học viên có thói quen chấp hành

nghiêm kỷ luật CAND và pháp luật

của Nhà nước.

Học viên hoàn thành tốt mọi nhiệm

Học viên có thói quen giao tiếp, ứng

xử đúng quy định của Điều lệnh và

pháp luật Nhà nước.

Trang 32

Qua điều tra bằng phiếu, toạ đàm trao đổi với CBQL cơ quan, đơn vị; độingũ giáo viên và học viên ở Nhà trường Xử lý kết quả của 60 phiếu giáo viên

và CBQL; toạ đàm trao đổi với 35 học viên năm thứ nhất và năm thứ hai: hầuhết mọi người đều khẳng định kỷ luật có vai trò hết sức quan trọng là sức mạnhcủa lực lượng công an và của Nhà trường; sức mạnh đó được thể hiện ở sự bìnhđẳng với nhau về chính trị, được tham gia đóng góp ý kiến vào đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào nhiệm vụ chính trị của lựclượng công an và vào chương trình, kế hoạch, nội dung, biện pháp bảo đảm chohuấn luyện, giáo dục của Nhà trường đạt kết quả

Đối với CBQL học viên: Là lực lượng cơ bản có vai trò quan trọng trong

việc quản lý hoạt động GDKL, duy trì học viên thực hiện nhiệm vụ học tập,rèn luyện các chế độ theo quy định của Nhà trường Khi trả lời về tầm quantrọng của kỷ luật và GDKL cho học viên, tỷ lệ “tốt” rất cao đối với các câu hỏiđặt ra trong phiếu điều tra Có trên 85,02% các ý kiến trả lời là “tốt” Từ những

ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL học viên cho thấy nhận thức của đội ngũCBQL về kỷ luật và hoạt động GDKL đối với học viên trong quá trình học tập,rèn luyện tại trường là rất cần thiết và quan trọng, nó giúp học viên sau khi tốtnghiệp sẽ góp phần giáo dục, huấn luyện chiến sĩ công an ở đơn vị cơ sở hoànthành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên, một số CBQL nói chung, CBQL học viên nói riêng nhậnthức về kỷ luật và GDKL còn hạn chế, coi nhẹ công tác GDKL hoặc duy trìkhông nghiêm các chế độ quy định; khả năng thu thập, xử lý thông tin và raquyết định quản lý còn mang tính chủ quan Cán bộ lớp, đại đội mặc dù lànhững người quản lý trực tiếp cùng ăn, cùng ở, cùng hoạt động với học viênnhưng thiếu sâu sát, cho nên có tình trạng không kịp thời phát hiện những viphạm kỷ luật của học viên, chỉ đến khi những vụ vi phạm kỷ luật xảy ra mớiphát hiện được, làm cho công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bị động, lúngtúng trong giải quyết vụ việc

Trang 33

Nhận định của một số cấp uỷ trong Nhà trường chỉ rõ: Nhận thức ởmột bộ phận cán bộ còn giản đơn và chưa thật đầy đủ, chưa theo kịp yêu cầu,đòi hỏi của nhiệm vụ GD&ĐT, xây dựng Nhà trường chính quy Điều đó,càng khẳng định trình độ nhận thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý kỷ luật chohọc viên của một số CBQL học viên, nhất là đội ngũ cán bộ lớp, đại đội chưađồng đều Qua toạ đàm, trao đổi một số CBQL học viên cho rằng, học viên

đã nắm vững các quy định của điều lệnh CAND, có kiến thức cơ bản về cuộcsống học viên, nên khi về trường đào tạo chỉ tập trung vào thực hiện mụctiêu đào tạo theo các mục tiêu chuyên môn, không cần phải quản lý, GDKLcho học viên Bên cạnh đó, đội ngũ CBQL này trình độ kiến thức và nănglực tác phong công tác còn hạn chế, thể hiện: khi giao tiếp, đối thoại với họcviên gặp những vấn đề khúc mắc, mâu thuẫn nảy sinh thường lúng túng, khảnăng thuyết phục không cao, chưa kết hợp nói và làm, chưa chuẩn mực về lễtiết tác phong làm hạn chế đến quá trình GDKL cho học viên Qua quan sát,tìm hiểu, trao đổi với học viên thì có 49,68% ý kiến đánh giá: Lời nói và việclàm của CBQL chưa thực sự thống nhất và có tới 48,54% ý kiến đánh giá:CBQL chưa thật sự là tấm gương về chấp hành kỷ luật để học viên noi theo

Đối với đội ngũ giáo viên: Là lực lượng sư phạm chủ đạo tiến hành

công tác huấn luyện, giáo dục của Nhà trường Khi nghiên cứu tìm hiểu nhậnthức về kỷ luật và hoạt động quản lý GDKL cho học viên, tuyệt đại đa sốgiáo viên đều có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt độngGDKL cho học viên Trả lời câu hỏi “GDKL giúp học viên rèn luyện thóiquen chấp hành nghiêm kỷ luật của CAND và pháp luật của Nhà nước”, có83,0% cho là “tốt”; khi được hỏi “GDKL giúp học viên hoàn thành tốt mọinhiệm vụ được giao”, có 96,28 cho là “tốt” Phần lớn các câu hỏi xoay quanhvấn đề này được đội ngũ giáo viên cho là “tốt” chiếm trên 78,25% Bên cạnh đó

số giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của kỷ luật và hoạt động GDKLcho học viên, tuy nhiên vẫn còn một số ít giáo viên nhận thức chưa thật đầy đủtầm quan trọng của kỷ luật, như khi trả lời “GDKL giúp học viên rèn luyện

Trang 34

hình thành thói quen giao tiếp, ứng xử đúng quy định của điều lệnh quản lý vàpháp luật của Nhà nước”, chỉ có 80,68% cho là “tốt”, 15,50% cho là “khá” và3,82% là “yếu”.

Đối với học viên: Là đối tượng tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý

GDKL để hình thành phẩm chất nhân cách của người cán bộ Cảnh sát tương lainên hầu hết học viên đều nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong họctập, rèn luyện theo mục tiêu GD&ĐT đã đề ra Khi được hỏi và trả lời các câu hỏiliên quan đến nhận thức về kỷ luật và hoạt động GDKL phần lớn các ý kiến củahọc viên đều chọn phương án “tốt” Trả lời câu hỏỉ “GDKL giúp học viên hìnhthành thói quen chấp hành nghiêm kỷ luật công an và pháp luật của Nhà nước”, có87,75% cho là “tốt”, 4,55% cho là “yếu” Còn các câu hỏi khác giao động từ76,83% đến 81,35% cho là “tốt” và từ 0,97% đến 10,10% cho là “yếu” Từ kết quảtrả lời các câu hỏi trên, có thể đánh giá thực trạng nhận thức của một bộ phận họcviên về kỷ luật và hoạt động GDKL còn chưa thật đầy đủ Thậm chí một số họcviên nhận thức còn giản đơn dẫn đến việc chấp hành và thực hiện các chế độ nềnnếp quy định của Bộ công an, Nhà trường chưa nghiêm; cụ thể có tới 10,10% cho

là “yếu” khi “GDKL giúp học viên có khả năng tự đánh giá về bản thân”

Từ thực trạng nhận thức về vị trí, vai trò của kỷ luật và hoạt động GDKLcho học viên của các lực lượng trong Nhà trường được phản ánh qua số liệutrong phiếu điều tra, kết hợp với trực tiếp trao đổi, toạ đàm, chúng tôi nhậnthấy: Hầu hết các lực lượng trong Nhà trường đều có sự đồng thuận cao trongnhận thức về sự cần thiết phải rèn kỷ luật; duy trì và thực hiện nghiêm các chế độquy định, để hình thành cho học viên thói quen hành động có kỷ luật Có đượckết quả trên là do đội ngũ giáo viên, CBQL đã nhận thức, quán triệt sâu sắc mụctiêu yêu cầu đào tạo của Nhà trường, cũng như quán triệt đầy đủ nhiệm vụ xâydựng công an và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; hiểu sâu sắc tính tất yếukhách quan của kỷ luật đối với hoạt động của người cán bộ, chiến sĩ công an.Đồng thời đội ngũ CBQL học viên, những người trực tiếp hàng ngày, hàng giờlàm nhiệm vụ quản lý, lãnh đạo, chỉ huy và giáo dục học viên đã nhận thức sâu

Trang 35

sắc tầm quan trọng của hành động có kỷ luật cũng như sự cần thiết phải GDKLcho học viên trong quá trình đào tạo tại Nhà trường.

Tuy nhiên, một số CBQL học viên, giáo viên trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ GD&ĐT, cũng như trong quá trình giáo dục cho học viên nhậnthức về kỷ luật và hoạt động GDKL chưa thật đầy đủ và nhất quán; thậm chí

có cán bộ nhận thức chưa đúng, cho nên có quan niệm cho rằng học viên đãtrải qua thời gian thử thách, rèn luyện ở cơ sở

Đối với học viên, một bộ phận nhận thức chưa được đầy đủ về kỷ luật

và GDKL; điều này được thể hiện nhận thức của học viên đối với pháp luậtNhà nước, điều lệnh CAND chế độ quy định Nhà trường còn hạn chế Số íthọc viên vẫn còn thói quen tự do tuỳ tiện, ngại rèn luyện, thiếu tự giác trongchấp hành các quy định của điều lệnh công an, quy chế của Nhà trường Vấn

đề này, được phản ánh qua ý kiến trả lời của học viên, như khi được hỏi vềnhững nội dung kỷ luật chỉ có 87,75% ý kiến cho rằng đã hiểu sâu sắc kỷluật công an, pháp luật Nhà nước

2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên Trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang

Qua nghiên cứu, điều tra, toạ đàm và trao đổi chúng tôi nhận thấy thực trạngquản lý hoạt động GDKL cho học viên Trường Trung cấp Cảnh sát có thểkhái quát ở một số điểm sau:

Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả những yêu cầu, nội dung quản lý hoạt động GDKL cho học viên

Nội dung

Kết quả (%)

Rất tốt Tốt Không tốt

Từng học viên xây dựng kế hoạch phấn đấu rèn

luyện cho riêng mình (hàng năm). 185 86,95 17 7,99 8 5,06

Kế hoạch hoạt động GDKL của học viên phải

phù hợp với mục tiêu giáo dục đào tạo của Nhà

trường.

Tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã đề ra 187 87,89 17 7,99 6 4,12

Tổ chức học tập điển hình, tiên tiến trong quản

lý hoạt động GDKL cho học viên. 178 83,66 23 10,81 9 5,53

Trang 36

Thường xuyên đổi mới các biện pháp quản

lý hoạt động GDKL cho học viên. 185 86,95 18 8,46 7 4,59Phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng

trong và ngoài nhà trường để quản lý hoạt

động GDKL cho học viên.

Quản lý hoạt động GDKL cho học viên ở

mọi lúc mọi nơi, trong mọi hoạt động của

học viên.

Thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá, sơ,

tổng kết, rút kinh nghiệm GDKL 193 90,71 13 6,11 4 3,18

- Thực trạng quản lý mục tiêu, kế hoạch GDKL cho học viên

Qua nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết về công tácGD&ĐT của Nhà trường, đặc biệt là các tài liệu về giáo dục GDKL, các kếhoạch quản lý hoạt động GDKL cho học viên cũng như qua trao đổi trực tiếpvới đội ngũ cán bộ, giáo viên và học viên trong Nhà trường cho thấy trongnhững năm qua Đảng uỷ, Ban giám hiệu Nhà trường cũng như các cơ quanchức năng đã quan tâm việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động GDKLcho học viên Với câu hỏi thăm dò đánh giá việc xây dựng kế hoạch quản lýhoạt động GDKL cho Nhà trường có 89,37 cán bộ, giáo viên cho là rất tốt.Đánh giá về yêu cầu đạt được của việc xây dựng kế hoạch quản lý hoạt độngGDKL cho học viên với các tiêu chí “kế hoạch quản lý GDKL cho học viênphải cụ thể, tỷ mỷ phù hợp với mục tiêu giáo dục cũng như điều kiện thực tiễncủa Nhà trường” có 68,0% cán bộ, giáo viên và 79,5% học viên cho là tốt Quakhảo sát cũng cho thấy các cấp quản lý trong trường đã thường xuyên quan tâmlàm tốt công tác kế hoạch hoá hoạt động GDKL cho học viên Các kế hoạchđược xây dựng một cách có hệ thống từ kế hoạch môn học, nội dung học, bàihọc, tiết học, kế hoạch cấp Nhà trường, tiểu đoàn đến kế hoạch tự giáo dục, tựrèn luyện của học viên đều được xây dựng đúng quy trình giúp cho quá trìnhquản lý GDKL cho học viên diễn ra thuận lợi

Nhưng bên cạnh đó công tác kế hoạch hóa quản lý hoạt động GDKLcho học viên vẫn còn hạn chế: Nhà trường chưa xây dựng được kế hoạch tổng

Trang 37

thể (mang tính chiến lược, lâu dài) về quản lý hoạt động GDKL cho học viên Có

cơ quan, đơn vị chưa thật sự chú trọng trong xây dựng kế hoạch quản lý hoạtđộng GDKL cho học viên Việc xây dựng kế hoạch quản lý ở một số đơn vị cónhững thời điểm còn mang tính đối phó, sao chép nên khi thực hiện không cótính khả thi hoặc tính khả thi không cao khi nhiệm vụ giáo dục, GDKL cũng nhưđiều kiện thực tiễn đã có sự thay đổi Khi xây dựng kế hoạch quản lý các chủ thểquản lý chưa nghiên cứu kỹ điều kiện thực tiễn cũng như đặc điểm đối tượng họcviên vì vậy việc xác định các nguồn lực cho thực hiện nhiệm vụ chưa phù hợp,dẫn đến không thể thực hiện kế hoạch hoặc thực hiện mang tính đối phó, khôngđạt được mục tiêu đề ra Thực tế cho thấy việc lập kế hoạch không chính xác,không dự kiến trước được giáo viên, giảng đường trong quá trình huấn luyện dẫnđến phải thay đổi kế hoạch hoặc huỷ bỏ kế hoạch, ảnh hưởng rất lớn đến quátrình học tập, GDKL cho học viên Một trong những yếu kém của hoạt động kếhoạch hóa GDKL cho học viên đó là thiếu tính thống nhất Kế hoạch tổng thể khixây dựng không nghiên cứu kỹ tình hình của đơn vị dẫn đến sự mâu thuẫn,chồng chéo, ảnh hưởng tới quá trình thực hiện Cùng với đó là kế hoạch tự giáodục của học viên chưa được quan tâm đúng mức Có học viên chưa xây dựngđược kế hoạch học tập của bản thân và có những CBQL học viên thiếu sâu sáttrong việc hướng dẫn học viên xây dựng cũng như thực hiện kế hoạch

- Thực trạng việc quản lý nội dung, phương pháp, hình thức GDKL cho học viên

Qua xử lý số liệu khảo sát cho thấy có tới 78,2% tổng số cán bộ,giáo viên được hỏi cho rằng nội dung giáo dục ở Nhà trường là tốt Thực

tế cho thấy trong những năm qua nội dung GDKL cho học viên được Nhàtrường tiến hành khá đầy đủ, đúng với quy chế GD&ĐT Nội dung giáodục thường xuyên được cập nhật, đổi mới, đáp ứng ngày càng cao nhiệm

vụ giáo dục GDKL cho học viên Trong quá trình GDKL, Nhà trường tậptrung giáo dục cho học viên hệ thống kiến thức, giá trị, chuẩn mực, kỹ năngcần giáo dục cho học viên và các con đường thực hiện giáo dục; nhằm hình

Trang 38

thành cho họ phẩm chất kỷ luật, đó chính là pháp luật Nhà nước, điều lệnh,điều lệ của ngành công an, các chế độ quy định của đơn vị.

Song việc quản lý chương trình, nội dung GDKL vẫn còn nhữnghạn chế nhất định đó là: nội dung giáo dục còn dàn trải, nhiều nội dung

đã lạc hậu nhưng vẫn được đưa vào giảng dạy, có những nội dung mớicòn chậm được cập nhật Đánh giá về mức độ quản lý nội dung GDKLcho học viên Nhà trường có tới 16,0% cán bộ, giáo viên cho là bìnhthường và 8,0% cho là chưa tốt

Các thiết chế giáo dục, nói chung, GDKL trong Nhà trường chưa đượcxây dựng và tổ chức quán triệt, triển khai quyết liệt tới mọi cán bộ, học viên,các lực lượng quản lý Các phương pháp, hình thức GDKL cho học viên:Chủ thể quản lý các cấp chưa cụ thể hóa các kế hoạch, sử dụng các phươngpháp, hình thức GDKL chưa khoa học, thiếu cụ thể, thiếu linh hoạt và chưakiên quyết trong duy trì việc chấp hành kỷ luật của học viên, nhất là trongchấp hành các qui định, qui chế thi kiểm tra, trong tụ học tập; chưa thườngxuyên cập nhật những nội dung, văn bản pháp quy mới vào trong quá trìnhGDKL nhằm nâng cao nhận thức toàn diện cho học viên Tính thuyết phục,nêu gương trong GDKL của một số cán bộ quản lý chưa cao

Khi được hỏi về các hình thức rèn luyện kỷ luật, nhất là quản lýviệc chấp hành chế độ quy định trong học tập, rèn luyện của học viên(nhất là giờ tự học) thì 42,64% ý kiến cán bộ khẳng định quản lý chưa tốtvẫn để xảy ra hiện tượng học viên vi phạm giờ giấc học tập, nhất là giờ tựhọc Học viên tự đánh giá hoạt động GDKL, khi được hỏi có 48,70% trảlời trong quá trình GDKL còn hạ thấp mục tiêu; nội dung và hình thứcgiáo dục còn chưa tốt, chưa linh hoạt; 44,30% ý kiến học viên khẳng địnhcòn vi phạm thời gian trong giờ tự học, tự nghiên cứu, ngày nghỉ thiếuCBQL Vấn đề này đặt ra cho các cơ quan chức năng, đội ngũ CBQL họcviên của Nhà trường cần phải quan tâm hơn nữa đối với hoạt động GDKLcho học viên từ xây dựng kế hoạch, đến việc xác định mục tiêu, nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, quản lý nhằm giúp học viên có ý

Trang 39

thức tự giác trong học tập, rèn luyện để ngày càng hoàn thiện nhân cách cán

bộ Cảnh sát trong tương lai, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị Nhàtrường đã đề ra

- Thực trạng bảo đảm các điều kiện GDKL cho học viên

Qua tiến hành trao đổi với một số cán bộ chỉ huy lãng đạo Nhà trường

và cán bộ quản lý học viên cho biết: Việc xây dựng môi trường thuận lợi choGDKL cho học viên như xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể hòa thuận,

sự dân chủ, lành mạnh; yêu cầu cao; xây dựng các mối quan hệ trong tập thể;các chế độ qui định, các điều kiện bảo đảm về ăn ở, học tập, rèn luyện …cho học viên còn những bấp cập, thiếu thốn nhất định đã tạo cớ khách quan

để cho học viên không chấp hành nghiêm kỷ luật, qui định, qui chế

Việc xử lý những vi phạm và kỷ luật đối với một số trường hợp họcviên vi phạm kỷ luật chưa thật nghiêm vì nhiều lý do khác nhau đã dẫn tới tưtưởng hoài nghi, so bì, thậm chí diễn ra những vi phạm tương tự Các vănbản pháp qui về kỷ luật chưa được cụ thể hóa dẫn tới khi có trường hợp viphạm khó qui trách nhiệm và căn cứ xác đáng để xử lý vi phạm phù hợp

Việc xây dựng các văn bản, qui định về kỷ luật của Nhà trường là mộtđiều kiện quan trọng, là cơ sở pháp lý cho GDKL và quản lý GDKL cho họcviên có hiệu lực, hiệu quả Điều này phù hợp với kết quả điều tra về Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý hoạt động GDKL cho học viên, có91,3% ý kiến cho rằng rất cần thiết, 5,38% cho là cần thiết, chỉ có 3,32% ýkiến cho là không cầm thiết

- Thực trạng đánh giá kết quả GDKL cho học viên

Công tác đánh giá kết quả GDKL có ý nghĩa rất quan trọng trong quản

lý hoạt động GDKL cho học viên Trong những năm qua Nhà trường rất chútrọng đến việc đánh giá kết quả GDKL cho học viên Việc đánh giá kết quả

đã được tiến hành thường xuyên, liên tục, đúng quy trình, đảm bảo tínhkhách quan Kết quả đánh giá được đối chiếu với mục tiêu từ đó điều chỉnhquá trình giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục rèn luyện đề ra

Trang 40

Ngoài ra, Nhà trường cũng thường xuyên kiểm tra, đánh giá, sơ tổngkết rút kinh nghiệm hoạt động GDKL cho học viên Khi được hỏi về hoạtđộng quản lý GDKL ở Nhà trường có 70% cán bộ, giáo viên trả lời tốt.Nhưng bên cạnh những ưu điểm đã nêu thì công tác quản lý kết quả GDKLcủa học viên vẫn còn những hạn chế như: Nhà trường chưa xây dựng đượcmột hệ thống các tiêu chí đánh giá phù hợp Việc đánh giá kết quả GDKLcho học viên có lúc chưa thường xuyên hoặc còn dàn trải, thiếu trọng tâm,trọng điểm Chưa có nhiều hình thức, biện pháp đánh giá kết quả GDKL chohọc viên Đánh giá còn mang tính chủ quan, thiếu chính xác Qua khảo sátcho thấy có tới 15,0% cán bộ, giáo viên cho rằng công tác quản lý kết quảGDKL cho học viên ở mức bình thường và 17,0% cho rằng chưa tốt Việcđánh giá không chính xác kết quả GDKL cho học viên là một hạn chế củacông tác quản lý Điều này không những làm giảm chất lượng hoạt độngGDKL cho học viên mà còn làm giảm uy tín của Nhà trường và gây khókhăn cho các đơn vị sử dụng “sản phẩm” đào tạo của Nhà trường.

Từ những thực trạng trên dẫn đến tình trạng học viên vi phạm kỷ luật

và trở thành vấn đề nổi cộm, mặc dù học viên được sống và hoạt động trongmôi trường văn hóa mẫu mực Vi phạm kỷ luật của học viên được biểu hiện

ở một số trường hợp sau:

+ Học viên vi phạm kỷ luật trong nhiệm vụ học tập, rèn luyện

Khi toạ đàm, trao đổi trực tiếp với một số học viên, chúng tôi nhậnthấy tính tự giác học tập của học viên còn chưa cao, phản ánh ở thái độtrung bình chủ nghĩa trong học tập, rèn luyện phẩm chất nhân cách Một

số học viên cho rằng chỉ cần học tập đạt kết quả trung bình khá, rèn luyện

ở mức độ trung bình họ cũng tốt nghiệp ra trường và được phân công,công tác theo đúng chuyên môn được đào tạo ở một đơn vị nhất định.Đánh giá về tinh thần trách nhiệm trong học tập, GDKL cho học viên thì

có tới 43,27% giáo viên cho rằng học viên hiểu biết về pháp luật Nhànước, điều lệnh CAND còn hạn chế; 45,36% khẳng định học viên chưa cóthói quen rèn luyện kỷ luật và có tới 42,64% cho rằng ý thức tự giác trong

Ngày đăng: 11/06/2017, 09:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh (2011), Quản lí Nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí Nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh
Nhà XB: NxbGiáo dục Việt Nam
Năm: 2011
2. Bộ Công an (2004), Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Công an về chấn chỉnh nền nếp kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác quản lý, giáo dục học viên trong các trường CAND, số 14/CT- BCA, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Công an về chấn chỉnh nềnnếp kỷ luật, kỷ cương, tăng cường công tác quản lý, giáo dục học viêntrong các trường CAND, số 14/CT- BCA
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2004
3. Bộ Công an (2010), Thông tư quy định xử lý vi phạm Điều lệnh CAND, số 10/2010/TT- BCA (X11), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định xử lý vi phạm Điều lệnh CAND, số10/2010/TT- BCA (X11)
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2010
4. Bộ Công an (2009), Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Thông tư số 50/2009/TT- BCA, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên cáchọc viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Thông tư số50/2009/TT- BCA
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2009
5. Bộ Công an (2009), Hướng dẫn thực hiện Thông tư số 50/2009/TT-BCA, Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Số 7752/X11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện Thông tư số 50/2009/TT-BCA,Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên các học viện, trườngđại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Số 7752/X11
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2009
6. Bộ Công an (2014), Quyết định, Ban hành Quy định xử lý kỷ luật học viên vi phạm các quy chế, quy định về học tập, rèn luyện trong các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Số 13075/QĐ- X11-X14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định, Ban hành Quy định xử lý kỷ luật học viênvi phạm các quy chế, quy định về học tập, rèn luyện trong các họcviện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2014
7. Bộ Công an (2009), Thông tư số 52/2009/TT-BCA, Quy định về đánh giá kết quả rèn luyện và phân loại tập thể, cá nhân học viên các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 52/2009/TT-BCA, Quy định về đánh giákết quả rèn luyện và phân loại tập thể, cá nhân học viên các học viện,trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2009
8. Bộ Công an (2011), Hướng dẫn một số điểm trong Thông tư số 50/2009/TT-BCA, Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên và Thông tư số 52 về đánh giá kết quả rèn luyện học viên các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn một số điểm trong Thông tư số50/2009/TT-BCA, Quy định về công tác quản lý, giáo dục học viên vàThông tư số 52 về đánh giá kết quả rèn luyện học viên các học viện,trường đại học, cao đẳng và trung cấp CAND
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
9. V. Đ. Culacôp (1970), Giáo dục kỷ luật cho các chiến sỹ Xô Viết, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỷ luật cho các chiến sỹ Xô Viết
Tác giả: V. Đ. Culacôp
Nhà XB: NxbQĐND
Năm: 1970
10. Phạm Đình Dũng (2008), Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viên Trường Sĩ quan Tăng, thiết giáp, Luận văn Thạc sĩ QLGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động giáo dục kỷ luật cho học viênTrường Sĩ quan Tăng, thiết giáp
Tác giả: Phạm Đình Dũng
Năm: 2008
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Phòng Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănkiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn Phòng Trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2016
13. A.I. Evememcô (1981), Hãy trở thành người chiến sỹ có kỷ luật, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy trở thành người chiến sỹ có kỷ luật
Tác giả: A.I. Evememcô
Nhà XB: NxbQĐND
Năm: 1981
14. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáodục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
15. Vũ Quang Hải (2009), Nghiên cứu qui trình tổ chức giáo dục kỷ luật cho học viên trong Nhà trường lực lượng CAND, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu qui trình tổ chức giáo dục kỷ luật chohọc viên trong Nhà trường lực lượng CAND
Tác giả: Vũ Quang Hải
Năm: 2009
16. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2012), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2012
17. Phạm Đình Hòe (2008), Hệ thống biện pháp giáo dục kỷ luật cho học viên văn hóa nghệ thuật trong lực lượng CAND, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, HVCT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống biện pháp giáo dục kỷ luật cho họcviên văn hóa nghệ thuật trong lực lượng CAND
Tác giả: Phạm Đình Hòe
Năm: 2008
18. Học viện Chính trị (2003), Bàn về mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật
Tác giả: Học viện Chính trị
Năm: 2003
19. Học viện Chính trị (2007), Xây dựng môi trường giáo dục ở Học viên Chính trị quân sự hiện nay, Đề tài cấp học viện, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường giáo dục ở Học viênChính trị quân sự hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị
Năm: 2007
20. Học viện Chính trị (2008), Giáo trình Quản lý giáo dục đại học quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục đại học quân sự
Tác giả: Học viện Chính trị
Năm: 2008
21. Học viện Chính trị (2012), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Học viện Chính trị
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w