Tuy nhiên mảng TTLS của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống, mặc dù tính tới thời điểm hiện tại, ông là nhà văn có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn nhất trong các nhà văn hi
Trang 1ĐỖ THỊ NHÀN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - Năm 2020
Trang 2ĐỖ THỊ NHÀN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 9.22.01.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN MẠNH TIẾN
Hà Nội - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 09 năm 2020
Tác giả luận án
Đỗ Thị Nhàn
Trang 4Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giảng viên của Tổ Bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ Văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Hội đồng giáo dục trường THPT Chuyên Trần Phú, Hải Phòng đã tạo điều kiện tốt để tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người đã động viên tôi trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận án
Hà Nội, tháng 09 năm 2020
Tác giả luận án
Đỗ Thị Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cơ sở lý thuyết 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới của luận án 5
6 Cấu trúc luận án 5
Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử 6
1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử 6
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới 8
1.1.3 Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam 14
1.2 Sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại 26
1.3 Tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông 28
1.3.1 Về nhà văn Lan Khai 28
1.3.2 Về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 32
1.4 Những vấn đề cấp thiết đặt ra trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 35
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 : TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT ĐẾN QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 38
2.1 Về quan niệm của Lan Khai 38
2.1.1 Quan niệm về nhà văn 38
2.1.2 Quan niệm về văn học 41
Trang 62.1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết lịch sử của Lan
Khai 46
2.2 Quá trình sáng tác của Lan Khai 49
2.2.1 Sở trường sáng tác và thể tài tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 49
2.2.2 Hoàn cảnh sáng tác tiểu thuyết lịch sử 50
2.2.3 Diễn trình sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 53
2.2.4 Tiểu thuyết lịch sử trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai và trong sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 56
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 : TỪ HIỆN THỰC LỊCH SỬ ĐẾN BỨC TRANH NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 64
3.1 Cảm hứng sáng tác trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 64
3.1.1 Ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc 65
3.1.2 Ca ngợi cái đẹp, cái thiện 66
3.1.3 Phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa 68
3.2 Sự kiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 71
3.2.1 Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến 71
3.2.2 Những cuộc nội chiến trong xã hội phong kiến 72
3.2.3 Những cuộc nổi dậy của nhân dân chống chế độ phong kiến 72
3.2.4 Những cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai 73
3.3 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 74
3.3.1 Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh 74
3.3.2 Nhân vật người anh hùng 80
3.3.3 Người phụ nữ trong xã hội phong kiến 85
3.3.4 Nhân vật binh sĩ và dân chúng 97
3.3.5 Nhân vật kẻ thù cướp nước và bán nước 102
Tiểu kết chương 3 105
Chương 4: CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ BIỆN PHÁP BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA LAN KHAI 107
4.1 Sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai 107
Trang 74.1.1 Nhân vật và sự kiện lịch sử 107
4.1.2 Nhân vật và tình huống hư cấu 110
4.2 Nghệ thuật kết cấu 114
4.2.1 Kế thừa và sáng tạo kết cấu của tiểu thuyết truyền thống 114
4.2.2 Kết cấu kiểu tiểu thuyết hiện đại 118
4.3 Các phương thức kiến tạo chân dung nhân vật 120
4.3.1 Qua giới thiệu tiểu sử, miêu tả ngoại hình 120
4.3.2 Khắc họa nhân vật qua hành động 122
4.3.3 Khắc họa tâm lí nhân vật 123
4.3.3.2 Qua ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm 124
4.3.4 Qua bút pháp miêu tả thiên nhiên 126
4.4 Thời gian và không gian nghệ thuật 127
4.4.1 Thời gian nghệ thuật 128
4.4.2 Không gian nghệ thuật 130
4.5 Nghệ thuật trần thuật 138
4.5.1 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật 138
4.5.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật 139
4.5.2.2 Giọng điệu trần thuật 142
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC DANH MỤC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN CỦA LAN KHAI
PHỤ LỤC DANH MỤC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TIÊU BIỂU
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTLS: Tiểu thuyết lịch sử
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Lan Khai là nhà văn nổi tiếng trong trào lưu cách tân văn học giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX Sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đa dạng về thể loại Đương thời
trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942) nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: Lan
Khai là “lão tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới” Nhiều tác phẩm của Lan Khai đã thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu trong nước Thời
gian gần đây thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đường rừng cùng tên tuổi của Lan Khai đã được giới thiệu trên Tạp chí Quốc tế (ISSN 24103918) (tháng 7 năm 2019, tập 5, trang 2) của Học viện Kinh doanh hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu
Âu Tuy nhiên mảng TTLS của ông vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống,
mặc dù tính tới thời điểm hiện tại, ông là nhà văn có số lượng tiểu thuyết lịch sử lớn
nhất trong các nhà văn hiện đại Việt Nam (26 tác phẩm) và là cây bút sớm có tinh thần tiên phong đổi mới, có ảnh hưởng lớn tới sáng tác ở các giai đoạn sau
Trong giai đoạn 1930-1945 1945 trào lưu cách tân văn học diễn ra sôi nổi nhưng
“trong cái mới vẫn còn rớt lại nhiều cái cũ” (Một thời đại trong thi ca - Hoài Thanh)
với những quan niệm nghệ thuật mới, TTLS của Lan Khai đã làm sôi động thêm không khí phê bình văn học, tạo ra những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề lịch sử
và hư cấu nghệ thuật, vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết v.v… Với những đổi mới táo bạo, TTLS của Lan Khai đã có tác động mạnh mẽ đến không khí phê bình văn học đương thời và kích thích sự sáng tạo của các nhà văn về đề tài lịch sử Tuy nhiên, do cái chết đầy bí ẩn của ông suốt thời gian dài chưa được công bố nên từ sau 1945 trở đi còn nhiều di cảo của Lan Khai và hàng chục TTLS của ông chưa được tái bản, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi đến bạn đọc Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào có tính quy mô, toàn diện và hệ thống về thể tài TTLS của Lan Khai Vì vậy
trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ tính tiên phong trong hành
trình cách tân thể loại của một cây bút tiểu thuyết giàu tài năng và tâm huyết nửa đầu thế kỉ XX
Năm 2006, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai
và Hội thảo Khoa học: Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại, Lan Khai được hoàn
nguyên, cho thấy di sản văn học của Lan Khai là rất lớn và các TTLS có vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông và nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Điều đó
đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có một công trình nghiên cứu kịp thời, quy mô và hệ thống, toàn diện các tác phẩm của nhà văn ở thể tài TTLS để thấy được những đóng góp của ông trong giai đoạn 1930 - 1945 và tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc, đồng thời làm sáng tỏ thêm những vấn đề lí luận về thể loại
1.2 Những năm gần đây, TTLS của các nhà văn đất Việt đã vươn mình lớn dậy với sự gia tăng không ngừng về số lượng tác phẩm và quy mô phản ánh, hình thành nhiều khuynh hướng đa dạng, phong phú nên đã xuất hiện nhiều quan niệm nghệ
Trang 10thuật khác nhau trong sáng tác và tiếp nhận TTLS đã và đang trở thành tâm điểm của thời sự văn học Trước trào lưu hội nhập quốc tế, ngày càng xuất hiện nhiều công trình ứng dụng lý thuyết hiện đại phương Tây vào nghiên cứu văn học trong đó có TTLS Tuy nhiên hệ thống lý thuyết về thể tài này còn khá khiêm tốn và việc giới thiệu ở trong nước còn phân tán, quan niệm về thể loại chưa thống nhất, sáng tác ngày càng diễn biến phức tạp lại tiếp tục nảy sinh nhiều cuộc tranh luận sôi nổi xung quanh vấn đề lịch sử và hư cấu nghệ thuật
Xuất phát từ thực trạng đó đòi hỏi chúng ta cần phải tìm hiểu những sáng tác đã được trải nghiệm và cách tiếp cận thích hợp mới đem lại cái nhìn sáng rõ hơn về sự hình thành phát triển của một thể tài văn học mang tính đặc thù trong nền văn học Việt Nam hiện đại Do vậy, chúng tôi chủ trương đi sâu nghiên cứu đề tài này nhằm làm sáng tỏ những điểm mới mẻ, độc đáo trong TTLS của Lan Khai trên phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Qua những thành quả nghiên cứu chúng tôi sẽ làm
rõ thêm một số vấn đề lí thuyết về quan niệm sáng tác và thể loại nhằm góp thêm hướng tiếp cận toàn diện và hệ thống TTLS hiện nay
1.3 Công trình nghiên cứu của chúng tôi còn có ý nghĩa thiết thực trong việc giảng dạy tích hợp môn Ngữ văn và Lịch sử trong Nhà trường Kết quả nghiên cứu của công trình sẽ cung cấp thêm các tri thức lý luận và thực tiễn sáng tác đáp ứng nhu cầu mở rộng nhận thức của học sinh trong nhà trường phổ thông Nghiên cứu TTLS của Lan Khai góp phần làm cho bức tranh văn học sử Việt Nam toàn diện hơn, giúp học sinh nhận thức lịch sử sâu sắc hơn, khơi dậy những cảm xúc thẩm mĩ cho các em
về truyền thống vẻ vang của dân tộc
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết trong nghiên cứu và học tập hiện nay cũng như góp phần tổng kết các thành tựu tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XX, chúng
tôi chọn đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lí
luận và thực tiễn sáng tác cũng như những đóng góp của Lan Khai trong hành trình đổi mới thể loại và hiện đại hóa nền văn học nước nhà giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát 20 TTLS tiêu biểu của
Lan Khai đã xuất bản và tái bản từ trước năm 1945 đến nay, bao gồm: Gái thời loạn,
Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Ai lên phố Cát, Chế Bồng Nga, Bóng cờ trắng trong sương mù, Cánh buồm thoát tục, Đỉnh non Thần, Người thù của mặt trời, Gửi cái xuân tàn, Treo bức chiến bào, Chàng áo xanh, Tình ngoài muôn dặm, Trăng nước
Hồ Tây, Trong cơn binh lửa, Thành bại với anh hùng, Rỡn sóng Bạch Đằng, Ái tình
và sự nghiệp, Chàng đi theo nước, Chàng kỵ sỹ ở cả hai bình diện nội dung và hình
thức Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra những kiến giải về sự vận động của TTLS của Lan Khai trong quá trình sáng tác của ông và trong sự vận động của nền văn học hiện đại Việt Nam
Trang 112.2 Phạm vi nghiên cứu
Công trình của chúng tôi tập trung đi sâu khảo sát 20 TTLS của Lan Khai (đã
nêu trong Đối tượng nghiên cứu), khi cần thiết chúng tôi có sự đối sánh với một số
TTLS tiêu biểu khác Đồng thời chúng tôi cũng quan tâm đến một số truyện ngắn,
kí về thể tài lịch sử của ông như: Sóng nước lô Giang, Mũi tên dẹp loạn, 8023; kết
hợp liên hệ với một số TTLS Việt Nam tiêu biểu và TTLS nước ngoài để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu toàn diện hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ ý thức nghệ thuật và thành quả đổi mới trong TTLS, những đóng góp quan trọng của Lan Khai đối với sự phát triển của TTLS Việt Nam hiện đại trong trào lưu cách tân văn học 1930 - 1945 Dựa trên lí thuyết về thể loại và thực tiễn sáng tác, chúng tôi chỉ ra quan niệm nghệ thuật, vốn văn hóa, cá tính sáng tạo của nhà văn, các nguồn ảnh hưởng, phương thức cách tân, các hình thức kết cấu tác phẩm, các nhân tố tạo nên thành tựu nghệ thuật mới của Lan Khai, từ đó rút ra nhận định về lí luận và sáng tác
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm làm sáng tỏ những bình diện cơ bản sau: Khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về TTLS trên thế giới và ở Việt Nam để liên hệ tới những sáng tác của Lan Khai Tổng hợp lại những kết quả nghiên cứu tiêu biểu về nhà văn Lan Khai và TTLS của ông Trên cơ sở đó, chúng tôi khảo sát quan niệm nghệ thuật và quá trình sáng tác TTLS của Lan Khai trong nền văn học Việt Nam thời kì đầu thế kỉ XX
Từ cơ sở lí luận, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải một số đặc trưng TTLS của Lan Khai ở các bình diện cảm hứng sáng tác, các sự kiện lịch sử và thế giới nhân vật
để làm nổi rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn và những nhân tố chi phối những sáng tác của ông
Khảo sát và chỉ ra một số phương thức và phương tiện biểu hiện nghệ thuật trong TTLS của Lan Khai ở các bình diện như: nghệ thuật hư cấu, tổ chức kết cấu, việc lựa chọn cốt truyện và sự kiện; kiến tạo chân dung nhân vật, vấn đề không gian
và thời gian, nghệ thuật trần thuật; ngôn ngữ và giọng điệu trong TTLS của nhà văn Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra những thành quả đổi mới về thể loại và những đóng góp của Lan Khai cho sự phát triển rực rỡ của TTLS Việt Nam đương đại cũng như những thành công và những hạn chế trong TTLS của ông
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Trong điều kiện tồn tại nhiều hệ hình lý thuyết văn học đa dạng và phong phú hiện nay, chúng tôi chủ trương lấy học thuyết duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác Lê - nin làm nền tảng, đồng thời kết hợp với những tri thức của lí thuyết phương Tây hiện đại để làm sáng tỏ những giá trị nghệ thuật trong TTLS của
Trang 12Lan Khai Trong đó, chúng tôi chú ý tới đặc trưng của thể loại TTLS, ý thức cách tân nghệ thuật của nhà văn, kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, tính chất giao thoa thể loại, vấn đề không gian, thời gian v.v Đồng thời chúng tôi cũng liên hệ với
những vấn đề lí luận của các trường phái văn học phương Tây như Trường phái văn
hóa lịch sử, Phân tâm học, Chủ nghĩa Siêu thực, Lí thuyết tự sự học, Kí hiệu học
đã ảnh hưởng ít nhiều tới sáng tác của nhà văn, cho thấy sự kế thừa và sáng tạo, đổi mới cách nhìn lịch sử của tác giả trong sự vận động của thể loại; những đột phá của Lan Khai trong việc lựa chọn đề tài, chủ đề, khắc họa nhân vật v.v… tạo dấu ấn riêng
vừa mang tính dân tộc vừa mang tính hiện đại
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, chúng tôi chủ trương
phối hợp đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1 Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng: Chúng tôi sẽ đặt các
TTLS của Lan Khai vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể trong giai đoạn 1930 - 1945 để khảo sát, đồng thời có liên hệ tới các giai đoạn trước và sau đó, nhằm lí giải những nguyên nhân và kết quả sáng tạo của ông Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo nhằm khảo sát toàn diện cả về nội dung và hình thức nghệ thuật TTLS của Lan Khai
4.2.2 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi sẽ tập hợp các TTLS của Lan Khai
thành hệ thống và khảo sát để thấy được quan niệm nghệ thuật, sở trường khám phá lịch sử và những sáng tạo riêng, thể hiện tính tiên phong về nghệ thuật tiểu thuyết của ông
4.2.3 Phương pháp so sánh: Trong quá trình khảo sát, khi cần thiết chúng tôi
có liên hệ, đối chiếu TTLS của Lan Khai với một số TTLS tiêu biểu thời kì trung đại
và của các nhà văn cùng thời, với TTLS đương đại và nước ngoài để thấy rõ những điểm mới, những sáng tạo độc đáo của nhà văn ở thể tài này
4.2.4 Phương pháp phân loại: Chúng tôi sẽ phân loại các kiểu dạng nhân vật,
sự kiện, kết cấu tác phẩm cho thấy các góc nhìn khác nhau về lịch sử trong tác phẩm của Lan Khai
4.2.5 Phương pháp liên ngành: Chúng tôi tiến hành phân tích mối tương đồng
và khác biệt giữa lịch sử với văn học trong một nền văn hóa nhằm chỉ ra tính đặc thù thẩm mĩ của văn chương và hiện thực trong quá khứ
4.2.6 Phương pháp loại hình: Chúng tôi đặt các TTLS của Lan Khai trong cùng
hệ thống nhằm xác định những đặc trưng về kiểu dạng kết cấu và chức năng với cái nhìn bao quát về mô hình sáng tạo dựa trên các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
Ngoài những phương pháp trên, luận án của chúng tôi còn sử dụng linh hoạt
một số phương pháp tiếp cận khác như: Văn hóa học, Nữ quyền luận, Chủ nghĩa tân
lịch sử, Lí thuyết liên văn bản để hoàn thiện mục tiêu nghiên cứu Đồng thời chúng
tôi sẽ chú trọng sử dụng các thao tác phân tích tác phẩm để đi sâu khám phá tư tưởng
và bút pháp nghệ thuật của nhà văn, vừa soi sáng lí thuyết thể loại vừa khẳng định
Trang 13tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Lan Khai ở thể tài này
5 Đóng góp mới của luận án
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính quy mô và hệ thống về TTLS của Lan Khai trên các phương diện quan niệm sáng tác, cảm hứng, sự kiện, nhân vật; đồng thời làm sáng tỏ những đổi mới trong sáng tạo mang tính đột phá của ông về các phương thức và biện pháp nghệ thuật, về tạo dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, sử dụng ngôn ngữ và kết cấu thời gian, không gian nghệ thuật Chúng tôi chỉ ra con đường sáng tạo riêng của Lan Khai, những dấu ấn độc đáo và những cống hiến của ông trong công cuộc cách tân văn học giai đoạn 1930 - 1945 ở mảng sáng tác này
Luận án đã làm nổi bật tư tưởng và các phương thức sáng tạo nghệ thuật mới của Lan Khai đã vượt thoát lối mòn truyền thống, tạo nên những phẩm chất mới cho nền văn học dân tộc và có ảnh hưởng nhất định tới TTLS Việt Nam đương đại Từ
đó, làm rõ hơn các vấn đề lý thuyết từ cách tiếp cận, lựa chọn sự kiện lịch sử; vấn đề
hư cấu khi phản ánh lịch sử; quan niệm về nhân vật lịch sử trong thời đại mới cũng như những đổi mới về thi pháp nghệ thuật trong TTLS của Lan Khai
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận
án bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác trong tiểu thuyết
lịch sử của Lan Khai
Chương 3 Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch
sử của Lan Khai
Chương 4 Các phương thức và biện pháp biểu hiện nghệ thuật trong
tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử
1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử viết về các sự kiện và nhân vật của thời kì quá khứ nhưng không đồng nhất với cách viết của nhà sử học Nếu các sử gia mô tả lịch sử một cách khách quan bằng ngòi bút biên niên sử thì nhà văn gửi gắm cái nhìn chủ quan và cảm xúc của mình trước hiện thực lịch sử Người nghệ sĩ nhạy cảm với những chuyển biến lịch sử, nên quá khứ lịch sử được tái tạo sống động “thêm da thêm thịt” bởi tính uyển chuyển của nghệ thuật văn chương Là kết quả giao thoa giữa văn học và sử học, TTLS thể hiện sự hấp dẫn, độc đáo trong việc nhận thức, phản ánh hiện thực và khao khát khám phá, lí giải lịch sử của mọi người
TTLS Việt Nam hình thành và phát triển từ thời kì trung đại và không ngừng lớn mạnh từ đầu thế kỉ XX cho đến nay Suốt thời kì văn học trung đại, thể tài này có mầm mống từ loại hình văn xuôi và mô hình tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa, chủ yếu sáng tác theo nguyên tắc mô phỏng lịch sử với hình thức chương hồi Đến giai đoạn
đầu thế kỉ XX mặc dù vẫn bị chi phối bởi quan niệm văn - sử - triết bất phân nhưng
TTLS Việt Nam đã có nhiều khởi sắc và có giá trị nhiều hơn về văn hóa nghệ thuật Càng về sau các tác giả càng tăng thêm yếu tố hư cấu, tưởng tượng khiến thể loại này
có sự chuyển mình mạnh mẽ thích ứng với nhu cầu tiếp nhận mới của người đọc Do vậy, lịch sử từ chỗ là những chứng tích trong quá khứ đã trở thành nhân tố cho sự thăng hoa cảm xúc sáng tạo của người nghệ sĩ Đến thời kì đổi mới, đặc biệt là trong những
năm gần đây, TTLS phát triển rực rỡ đã tạo nên cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn
đàn văn học Như vậy, loại hình nghệ thuật độc đáo này đã phát triển qua một chặng đường dài và càng ngày càng chứng tỏ sức hấp dẫn đặc biệt của nó, đáp ứng nhu cầu khám phá lịch sử của con người đương đại Đáng chú ý, trong những năm gần đây sự biến đổi của tình hình văn hóa và thực tiễn sáng tác cùng với sự xuất hiện các hệ thống
lí thuyết mới ở phương Tây như chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa tân lịch sử, chủ nghĩa hậu thực dân, chủ nghĩa hậu hiện đại thì không khí tranh luận về thể tài này càng trở nên sôi nổi với nhiều ý kiến khác nhau Song song với sự ra đời các tác phẩm mới thì cũng xuất hiện các quan niệm mới về TTLS
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (1992) của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử có nhận định: “TTLS là các tác phẩm viết về đề tài lịch sử, chứa đựng các nhân vật và chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và các sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm lịch sử thường mượn
Trang 15chuyện đời xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học trong quá khứ, bày tỏ
sự đồng cảm đối với con người và thời đại đã một đi không trở lại Song không vì thế
mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này” [40; tr 352] Qua đó, các tác giả đã chỉ ra sự khác biệt cơ bản về đề tài và cách thức phản ánh lịch sử của thể tài này so với các hình thức nghệ thuật khác và thừa nhận sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu là đặc tính tất yếu tạo nên sức sống vượt thời gian của TTLS
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học (1999) của tác giả Lại Nguyên Ân có nêu ý
kiến: “TTLS là tác phẩm tự sự hư cấu, lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính, lịch sử trong ý nghĩa khái quát là quá trình phát triển tự nhiên của xã hội Các Khoa học Xã hội đều nghiên cứu quá khứ loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy, những tiêu điểm chú ý của các sử gia cũng như các nhà văn khi quan tâm đến đề tài lịch sử thường là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các quốc gia, dân tộc, những biến cố lớn lao trong đời sống xã hội của cộng đồng, quốc gia, trong các mối quan hệ của quốc gia như chiến tranh, cách mạng, cuộc sống và sự nghiệp của các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [5; tr 262] Theo đó, các tác giả cũng thừa nhận hư cấu là yếu tố tiên quyết của hoạt động sáng tạo nhưng vẫn nhấn mạnh nội dung trọng tâm là phản ánh các sự kiện, biến cố trọng đại hoặc các nhân vật có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của lịch sử
Bên cạnh đó, bản thân những người sáng tác TTLS cũng bày tỏ những quan
điểm khác nhau Trong bài viết Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tiểu thuyết lịch sử là sự
giải mã lịch sử của tác giả Cao Minh, trên báo Báo Sài Gòn giải phóng.org.vn có nêu
ý kiến của nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Lịch sử không bày, đặt sẵn mà lịch sử chỉ giữ
lại cho ta những tín hiệu, chẳng khác những mật mã Công việc của nhà văn chính là
giải mã lịch sử Chìa khóa để giải mã chính là sự trung thực của nhà văn và những
thẩm thấu văn hóa mà nhà văn tiếp nhận được Tiểu thuyết nói chung, kể cả TTLS đều phải lấy hư cấu làm phương tiện nghệ thuật và TTLS cũng không có ngoại lệ Cũng không có nghĩa là sự bịa tạc, mà là sự tìm tòi đi đến chân thực Sự thật lịch sử trong TTLS đáng tin cậy hơn vì nó được giải mã, nó có cuộc sống” [105] Như vậy, tác giả Hoàng Quốc Hải cũng coi hư cấu là một thuộc tính nổi bật của thể tài này nhưng phải trong chừng mực nhất định, không được xuyên tạc lịch sử Trong cách luận giải này, tác giả vẫn đặt ra yêu cầu đối với người sáng tác là phải tôn trọng chân
lí lịch sử
Tác giả Nguyễn Văn Dân trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương
đại, một số xu hướng chủ yếu (http://vjol.info.vn) đã trích dẫn ý kiến của nhà TTLS
Thái Vũ: “Khi tôi nói tôi viết TTLS sự thật là tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết
Trang 16lịch sử, trước hết phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử” [21] Như vậy, theo Thái
Vũ thì trung thực với lịch sử là nguyên tắc sáng tác và mục tiêu cần hướng tới của nhà văn
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trong bài viết Vài suy nghĩ về tiểu thuyết lịch sử
đã luận giải: “Những TTLS của chúng ta ngày nay đều chịu ảnh hưởng của phương Tây, tức là viết dưới quan niệm của Aristote Nghĩa là có sự phân biệt rõ ràng giữa nhà chép sử và nhà TTLS Ðã là tiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là TTLS, hư cấu
là đặc trưng của tiểu thuyết Hư cấu là đặc quyền của nhà văn” [79] Ông cũng chỉ rõ:
“TTLS không phải là sự kể lại lịch sử, minh họa lại lịch sử mà là phản ánh những vấn
đề của con người trong biến cố lịch sử Người viết không hẳn đã dựng lại được lịch
sử ngày xưa, điều cốt yếu là thuyết phục người đọc” [79] Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh coi tính hư cấu là một “đặc quyền” của người sáng tác và vì thế tác phẩm không bị lệ thuộc vào sự độc quyền của tư duy lịch sử
Trong bài viết Tác giả Trường An: Lịch sử ghi chép rất lạnh lùng của Thu Hiền
có nêu ý kiến của cây bút trẻ Trường An: “Lịch sử chỉ ghi chép số liệu một cách khô khan, nhiệm vụ của người viết TTLS là phải thêm da thêm thịt cho nhân vật” [50] Theo đó, TTLS đi liền với hoạt động hư cấu, sáng tạo để làm sống dậy các sự kiện và nhân vật lịch sử
Như vậy, tất cả các lập luận trên cho dù chưa hoàn toàn thống nhất nhưng đều dựa trên thực tiễn sáng tác và tính đặc thù của thể loại Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu,
chúng tôi xin đưa ra cách hiểu như sau: TTLS là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những
đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết với những tài liệu của sử học trên cơ sở lấy lịch sử làm
đề tài và tôn trọng sự kiện, nhân vật lịch sử Tác phẩm đưa ra những kiến giải sâu sắc
về lịch sử, về cuộc sống bù lấp vào những khoảng trống của sử học Trong TTLS, hư cấu nhằm phản ánh lịch sử ở cả bề rộng, bề sâu và làm sống động bức tranh lịch sử, tăng tính chân thực nghệ thuật trong tiểu thuyết
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử trên thế giới
TTLS là cầu nối gắn văn học với hiện thực đời sống đã có trong sự vận động
xã hội của nhân loại Vì vậy, các sáng tác về đề tài lịch sử nói chung và TTLS nói riêng đã, đang và sẽ có chỗ đứng quan trọng trong văn học và thực tiễn đời sống của con người Trải qua các thời kì lịch sử, cách văn học phản ánh lịch sử cũng có nhiều thay đổi Khi “Chủ nghĩa tân lịch sử”, “Chủ nghĩa hậu hiện đại” ra đời thì hầu như các thể loại văn học đều có những đổi thay Trong phạm vi lý thuyết các nhà nghiên cứu chú ý hơn đến các thể tài tự sự khác, còn những biến đổi của TTLS vẫn chưa được quan tâm toàn diện và sâu sắc Chúng tôi xin được trích lược những ý kiến tiêu biểu của một số nhà nghiên cứu lý luận phê bình và nhà văn nước ngoài
Trang 17như sau:
Tiểu thuyết lịch sử (1937) của G Lukacs (Hungari) là công trình nghiên cứu
chuyên sâu về TTLS Trong chuyên luận này, G Lukacs cho rằng “thể tài này ra đời
vào đầu thế kỷ XIX (khoảng thời gian Napoléon sụp đổ và chủ nghĩa tư bản ra đời
với tư cách là một cấu trúc kinh tế), đánh dấu bởi tác phẩm Waverley của tiểu thuyết
gia người Scotland Walter Scott (1771 - 1832), góp phần khẳng định cảm thức lịch
sử như một tiến trình” Ông kỳ vọng: TTLS phải tái trải nghiệm (re-experience) tâm
lý và đạo đức của con người quá khứ như một giai đoạn phát triển của nhân loại, có liên quan đến con người đương đại G Lukacs cũng nhấn mạnh vai trò của “sự sai lệch thời gian cần thiết” (necessary anachronism) hay hư cấu trong TTLS Hư cấu cho phép “các nhân vật diễn đạt tình cảm, tư tưởng về các quan hệ lịch sử có thực rõ nét hơn những con người của thời ấy đã từng trải nghiệm” nhưng phải luôn xác thực
về mặt lịch sử, xã hội” (Dẫn theo Nguyễn Nam, Cái chết của tác giả (tiểu thuyết lịch
sử)? Những vấn đề nhân đọc Hoàng Việt xuân thu, Nguồn: vanhoanghean.com.vn)
G Lukacs phát triển thêm: “Không chỉ tiểu thuyết nói chung, mà TTLS phải đạt tới chiều sâu của triết lí lịch sử TTLS không chỉ bảo đảm việc miêu tả hoàn cảnh duy trì được không khí lịch sử, mà quan trọng hơn là miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kì lịch sử cụ thể” [24; tr 299] Từ đó, G Lukacs lý giải: “Việc mô tả hiện thực của một thời kì lịch sử có thể thành công qua việc mô tả đời thường của nhân dân, nỗi đau và niềm vui sướng của những con người bình thường Trong lĩnh vực xây dựng TTLS, tài năng bộc lộ qua việc phản ánh những nguyên nhân dẫn đến sự thật trong trái tim con người, những sự thật mà biến động của chúng đã bị giới sử học bỏ qua Các nhân vật của TTLS phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của TTLS được trao cho sự sống còn các cá nhân lịch sử thì đã sống” [24; tr 62] Đó là do nhà sử học chỉ quan tâm sự kiện hoặc nhân vật bao trùm lịch sử, nhưng chính nhà văn mới quan tâm tới con người cá nhân trong những cơn biến động lịch sử Những luận điểm sắc bén của
G Lukacs có tính mở đường cho việc xác lập những đặc trưng tiêu biểu của loại hình nghệ thuật này dựa trên nguyên tắc sáng tác, mục đích nghệ thuật, khác với tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết kỳ ảo, tiểu thuyết viễn tưởng
Nhà lí luận Nga G Lenobl trong công trình Lịch sử và văn học (1960) nêu ra ba
tiêu chí của TTLS: “Một là nhân vật và sự kiện lịch sử Hai là nguyên tắc hay chủ nghĩa lịch sử, tức là cho thấy sự xung đột các thời đại, sự quá độ các giá trị Ba là nội dung của tiểu thuyết phải là hiện thực đã qua, mà tác giả và người đọc không phải là người đương thời của hiện thực đó Người đọc luôn cảm thấy có một sự khác thời”
(Dẫn theo Trần Đình Sử, Về tiểu thuyết lịch sử, nguồn:
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn) Như vậy, quan niệm nổi bật của G Lenobl là coi tính xác thực của
Trang 18sự kiện và nhân vật phù hợp với sách sử là tiêu chí căn bản trong nguyên tắc sáng tác
Vi phạm điều này coi như thủ tiêu tính chất căn cốt của thể loại Tuy nhiên ý kiến của ông còn khá “cứng nhắc” bởi trong thực tế sáng tác luôn có sự mở rộng và xê dịch cách nhìn về con người và sự kiện lịch sử, nếu không, tác phẩm khó tránh khỏi sự phỏng chép lịch sử một cách khiên cưỡng, vụng về và thiếu đi tính uyển chuyển của nghệ thuật văn chương
Hai tác giả Drothy Brewster và John Angus Burrell trong cuốn sách Tiểu thuyết
hiện đại (1971) cũng đã thể hiện quan niệm riêng về TTLS: “TTLS có thể thoát thai
từ ao ước của một tác giả muốn đào thoát khỏi hiện tại, đồng thời thỏa mãn ước ao tương tự của độc giả Nhưng TTLS còn có nhiều tác dụng nữa Nó có thể soi sáng những thời kì quá khứ con người đã qua, với những mục đích rõ ràng là gạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại Nó giúp ta làm bảng so sánh, đối chiếu thời đại nọ với thời đại kia” [12; tr 213] Như vậy, TTLS vừa là kết quả sáng tạo của nhà văn vừa là tư liệu khai sáng quá khứ
Hayden White, một trong những nhà lí luận của chủ nghĩa Tân duy sử bàn về
“siêu lịch sử” (metahistory) đã thể hiện cảm quan hậu hiện đại khá rõ nét Từ luận điểm nền tảng đó ông triển khai toàn bộ tư tưởng của mình: “Lịch sử như là tự sự” [130; tr 38] Hayden White khẳng định: “Để cho câu chuyện lịch sử hoàn chỉnh, có logic sử học cũng phải hư cấu, và có bốn phương thức tu từ của tự sự lịch sử: lãng mạn khi kết thúc tốt đẹp; bi kịch khi thất bại bi đát, hài kịch, khi nhân vật lịch sử đóng vai hề, và châm biếm, khi một kẻ ngu dốt đóng vai vĩ nhân” [130; tr 117] Với mô hình đó, cách thể hiện lịch sử có nhiều mặt tương đồng với diễn ngôn về lịch sử Lí thuyết lịch sử này được gọi là “thi pháp học văn hóa” Quan niệm trên khác với ý kiến của Aristote, rằng ông chỉ nói đến “sự thật xảy ra” mà chưa thấy việc diễn ngôn
về lịch sử Muốn biểu hiện các tiềm năng của lịch sử trong tính chân thực đã làm cho lịch sử và tiểu thuyết gần nhau Tuy nhiên không có nghĩa là sử học và tiểu thuyết sẽ đồng nhất Câu hỏi thứ ba của Hayden White: “Lịch sử nằm ở vị trí nào trong hệ thống tri thức của nhân loại? Câu trả lời là “lịch sử nằm giữa khoa học và nghệ thuật,
và vì vậy nó mang bản chất hư cấu và tràn đầy định kiến” [130; tr 48] Quan niệm mới của Hayden White về lịch sử kích ứng trào lưu đối thoại lịch sử, tìm lại lịch sử
và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thể tài TTLS
Tác giả Karl Popper (1902 - 1994), một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất
thế kỉ XX, trong cuốn Sự nghèo nàn của thuyết sử luận (2012, Chu Lan Đình dịch,
Nxb Tri thức, Hà Nội) đã nhận ra: “Sự nghèo nàn của thuyết sử luận” bởi “họ” (các nhà sử luận) không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải (lịch sử) về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy
Trang 19có thể nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng - một điều ít nhiều có ý nghĩa)” [125; tr 257] Như vậy, những lập luận của Karl Popper nhấn mạnh tới tính đa dạng của cách diễn giải lịch sử trong các thời đại có vai trò quan trọng làm phong phú bức tranh lịch sử
Khi bàn về diễn ngôn qua các thời đại cụ thể trong lịch sử, Michel Foucault cũng trình bày một số kiến giải mới về lịch sử có ý nghĩa làm phong phú thêm lí
thuyết thể loại Trong tác phẩm Triết học và mỹ học phương Tây hiện nay (1992, Nxb
Văn hóa, Hà Nội) có trích dẫn quan điểm của Michel Foucault: “Lịch sử là một sự đứt đoạn” [116; tr 216] Nghĩa là khi đề cập đến sự diễn giải lịch sử, ông tán thành quan điểm coi “lịch sử như là một diễn ngôn” của Hayden White và bổ sung thêm luận điểm rất độc đáo Do vậy sẽ không có một sự trần thuật liền mạch mà chúng ta giải mã trong dòng chảy lịch sử Đây là đóng góp quan trọng của Michel Foucault thúc đẩy tinh thần khám phá lịch sử, khai thác và kết nối những chỗ “đứt gãy” của lịch sử, thúc đẩy sự sáng tạo của nhà văn khi tiếp cận các đề tài lịch sử
Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX các nhà tư tưởng như P Valery, M Heidegger cho đến J-P Sartre, C Levis Strauss và Michael Foucault đã bày tỏ sự
hoài nghi lịch sử như một khoa học khách quan Khi TTLS chưa phát triển thì không
phải chỉ có lịch sử tồn tại trong các ghi chép của sử gia mà đã được phản ánh dưới nhiều hình thức khác như hình thức dã sử bổ sung hoặc đính ngọa chính sử Mặt khác, khi đã khởi sắc rực rỡ cả về số lượng và chất lượng thì tiềm năng khai thác lịch sử của nó còn rộng và sâu hơn chính sử thậm chí còn xác lập những quan niệm mới về lịch sử Do vậy, nếu coi thể tài này chỉ là minh họa hoặc văn chương hoá lịch sử thì đồng nghĩa với việc chưa đánh giá đầy đủ chức năng của TTLS, còn phiến diện trong cách nhìn nhận quy luật vận động và phát triển bên trong của thể loại văn học Đó
cũng là lí do khiến Iu Lotman trong bài Về bản chất của nghệ thuật phát biểu: “Sự
thật lịch sử là sự thực hiện một trong vô vàn khả năng của hiện thực quá khứ, sự thật
đó đã làm cho vô vàn các khả năng lịch sử khác mất cơ hội được thực hiện, mà thiếu chúng, ta khó mà hiểu hết hiện thực” [94; tr 108]
Trong cuốn Nghệ thuật thi ca thời cổ đại Hi Lạp, Aritstote cho rằng: “Nhà sử
học nói về những điều xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những điều có thể xảy
ra” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Còn nhà văn Nga M Gorki (Nghệ thuật thi ca)
nhấn mạnh: “Lịch sử đích thực của con người phải do nhà văn viết chứ không phải
do nhà sử học viết” (Tiềm năng giáo dục nhân văn của tiểu thuyết lịch sử - Zolina E
N, Tạp chí của IEGU, tập 1, năm 2006, tr 1) [133] Hoặc tác giả trích dẫn quan điểm
của nhà mĩ học Đức F W Schelling: “Xem quá khứ là một nghệ thuật lịch sử” (Triết
học nghệ thuật của Schelling - Nguyễn Huy Hoàng dịch, Tạp chí Triết học, số 9, ngày
Trang 2015 tháng 2 năm 2009) [135] Còn nhà triết học Ý Benedetto Croce (Lý thuyết và lịch
sử của khoa ký sử, 1912) có nhận định: “Khái niệm lịch sử phù hợp với khái niệm
chung về nghệ thuật” [134] Còn F Engels trong cuốn Triết học lịch sử (1939) lập
luận: “Lịch sử thế giới là một nàng thơ vĩ đại, mở đầu là bi kịch, kết thúc là hài kịch” [133] Các ý kiến trên đều nhấn mạnh tiềm năng của thể tài này trong việc tái tạo tính cách, tâm lí con người vốn mờ nhạt trong sử học Nhà văn, viện sĩ André Maurois
(1885-1967), Viện Hàn lâm Pháp có viết trong cuốn Lịch sử nước Pháp (1940): “May
nhờ có Alexandre Dumas, cả thế giới bao gồm cả người Pháp mới hiểu về lịch sử nước Pháp, cho dù lịch sử ấy chưa hẳn là chính xác tường tận nhưng ít ra cũng không
phải là vô căn cứ” (Dẫn theo Hiền Thương, Khi bạn chọn đọc ngôn tình để hiểu thêm
về lịch sử, http://tuoitre.vn) Theo đó, lịch sử được xem là yếu tố tồn tại khách quan,
là cơ sở để nhà văn sáng tạo
Cùng quan điểm trên, tác giả Milan Kundera trong công trình Nghệ thuật tiểu
thuyết (1998) đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhà văn và nhà sử học: “Nhà sử học kể lại
các sự kiện đã xảy ra, còn nhà tiểu thuyết nắm bắt một khả năng của cuộc sống, khả năng của con người và thế giới Nhà TTLS ghi nhận những kinh nghiệm nhân loại
mà sử gia không quan tâm hoặc không thấy giá trị Chính điều đó làm ngã bổ những định kiến chắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh hằng của thế giới vững tin đã định hình yên chí, nhất thành bất biến và thám hiểm những mặt khác của vạn vật” [80; tr 135] Ông nhấn mạnh quyền năng của người sáng tác: “Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải nhà tiên tri: anh ta là người thám hiểm cuộc sống” [80; tr 51] Như vậy kiến giải của Milan Kundera thống nhất với các quan điểm trên khi nhấn mạnh hư cấu là một thuộc tính tất yếu của TTLS
Trong công trình Mỹ học của F Heghen (1999, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội) có
nêu ý kiến của nhà phê bình Biêlinxki: “Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn về cái đã qua để chúng ta giải thích hiện tại và chỉ ra tương lai cho chúng ta” [44; tr 58] Như vậy, lịch sử là căn nguyên nhận thức khám phá hiện thực Hay như chính trị gia kiêm
nhà văn của nước Anh là George Otto Trevelyan (1838-1928) trong cuốn Lịch sử xã
hội Anh (1922) cũng bày tỏ sự hoài nghi về quá khứ: “Lịch sử không có giá trị khoa
học thực sự, mục đích duy nhất của lịch sử là giáo dục con người” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 135] Cả hai ý kiến này lại thiên về việc nhấn mạnh vai trò nhận thức, giải
mã lịch sử và chức năng giáo huấn của TTLS Các quan niệm đó cho thấy lịch sử và tiểu thuyết có nhiều điểm giao thoa Cả hai đều tồn tại như là truyện kể, đều là ý thức
xã hội Cả hai đều dùng tư liệu và tưởng tượng để tái hiện quá khứ và bù đắp vào chỗ đứt gẫy, chỗ trống vắng trong sử học Song thực tế cho thấy, không có căn nguyên hiện thực từ quá khứ, cũng không thể có hư cấu và tưởng tượng
Trang 21Còn Fredric Fukuyama lại thể hiện cảm quan hoài nghi lịch sử với tuyên bố:
“Lịch sử đã cáo chung” (Sự chấm dứt của lịch sử, 1989) [Dẫn theo Trần Đình Sử;
133] Ý kiến này đã từng tạo ra “cơn địa chấn” gay gắt trong giới nghiên cứu về bản chất lịch sử Tuy nhiên, với sự ra đời của các trường phái lí thuyết như: chủ nghĩa tân lịch sử, chủ nghĩa hậu thực dân, nữ quyền luận và nhiều hệ hình lý thuyết hiện đại khác thì con người phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên là lịch sử đang được nhìn nhận một cách cởi mở hơn Thực chất lịch sử không phải đã “cáo chung” mà được đặt ở nhiều góc nhìn, nhiều hướng đối thoại và bổ sung nhau Tiểu tự sự bổ sung
cho đại tự sự và tiểu lịch sử sẽ bồi đắp đại lịch sử Khi Lí thuyết Hậu thực dân ra
đời thì một số quốc gia trên thế giới nhìn nhận lịch sử càng cởi mở Như vậy, điều thú vị là khi tồn tại những quan điểm chưa thống nhất về lịch sử cũng là cơ hội
mở rộng đường biên cho sáng tạo của nhà tiểu thuyết và cách tiếp nhận mới ở người đọc
Bên cạnh những quan điểm của các nhà nghiên cứu, bản thân các nhà văn lớn trên thế giới cũng bày tỏ những kiến giải về TTLS qua thực tiễn sáng tác, góp phần làm đầy đặn thêm lý thuyết về thể tài này Tiêu biểu là ý kiến của nhà TTLS vĩ đại
người Pháp Alexandre Dumas (cha) thì lịch sử giống như một cái đinh để mọi người
có thể tự do treo bức tranh của mình vào đó Theo ông, lịch sử là điểm tựa để người
nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo Trái lại, trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012) của Hải Thanh trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã trích dẫn ý kiến của nhà văn lớn nước Nga
A Tônxtôi: “TTLS phải chính xác như một nghiên cứu lịch sử” [154] Hay trong bài
Lịch sử và tiểu thuyết lịch sử (2012) của tác giả Trần Đình Sử trên Báo điện tử Quân đội nhân dân cũng nêu quan điểm của nhà văn Nhật Bản Kikuchi Kan (1888 - 1948):
“Lịch sử trong tiểu thuyết phải là các sự kiện và nhân vật nổi tiếng đã được ghi trong sách sử” [Dẫn theo Trần Đình Sử; 133] Trong công trình Tiểu thuyết lịch sử - một
khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2012) của
Phan Mạnh Hùng cũng trích dẫn những kiến giải của nhà văn Goncourt (Pháp): “Lịch
sử là tiểu thuyết đã thành hiện thực, còn tiểu thuyết là lịch sử có khả năng thành hiện thực TTLS kết hợp hai yếu tố đối lập, nhà văn tùy theo cảm hứng mà kéo mạnh về cực này hay cực kia Người viết TTLS là một thầy lang bốc hai vị thuốc kỵ nhau, nhưng liều lượng phải tính thế nào để chúng bổ sung cho nhau, để thuốc có hiệu quả
- tác phẩm phải hay: vừa có vị tiểu thuyết vừa có vị lịch sử” [54; tr 32] Như vậy, tác giả nhấn mạnh tới tài năng của người viết đồng hành trong việc xử lí chất liệu lịch sử
và kĩ thuật tiểu thuyết
Nhà TTLS nổi tiếng Hella S Haasse (Hà Lan) khẳng định: “Mặc dầu những cuốn tiểu thuyết của tôi là TTLS nhưng chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái
Trang 22hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trong văn học, đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải là một cứu cánh… Viết TTLS chẳng khác nào một trò chơi ú tim trong bóng tối và nếu trong trò chơi này ta chộp được một bàn tay hay một khuôn mặt, thì đã là may mắn lắm rồi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh, 106; tr 31] Qua
đó cho thấy phần lớn các nhà văn kiên quyết phản đối sự sao chép lại những gì xảy
ra trong quá khứ và nhấn mạnh vai trò của hư cấu sáng tạo đối với người sáng tác khi đứng trước sự phức tạp của sử liệu
Qua một số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu trên cho thấy các góc nhìn phong phú khác nhau tạo tiền đề để chúng ta khám phá TTLS một cách toàn diện và sâu sắc hơn trong trào lưu vận động và phát triển của văn học thế giới và trong nước Tuy nhiên, thực tiễn sáng tác ở các giai đoạn sau đã thể hiện khả năng tiềm tàng của thể tài này trong việc nhìn nhận và phản ánh lịch sử Do đó chỉ có những cách diễn giải về lịch sử khác nhau còn bản thân lịch sử là những biến cố xã hội có thời gian và không gian xác định chứ không phải là kết quả diễn ngôn chủ quan của người cầm bút
1.1.3 Các bài viết và công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở Việt Nam
Nền văn học Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự phát triển của TTLS trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là những thập niên cuối của thế kỉ XX cho đến nay Tuy nhiên thực tiễn hoạt động nghiên cứu phê bình về TTLS còn khá hạn chế
Từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1930 tình nghiên cứu TTLS mới bắt đầu nhen nhóm Đương thời các học giả nổi tiếng như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan đã theo sát sự vận động của TTLS và trình bày những quan niệm về TTLS Giữa nhà văn và nhà lí luận phê bình đã có những “đụng độ” quan niệm về thể loại nhưng chưa có lời giải đáp toàn diện và triệt để Để phác họa bức tranh nghiên cứu TTLS ở Việt Nam, chúng tôi khảo sát qua 3 giai đoạn sau đây dựa trên một số bài viết và công trình tiêu biểu
1.1.3.1 Giai đoạn 1930 - 1945
Trong công trình Nhà văn hiện đại (1942), tác giả Vũ Ngọc Phan đã trình bày
một số nhận định về thể tài lịch sử qua thực tiễn nghiên cứu những gương mặt tiêu biểu đương thời như: Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai Từ những thành tựu cụ thể, ông đã bày tỏ những nhận xét có ý nghĩa thiết thực trong việc bổ khuyết, đối sánh về sáng tác của các nhà văn để độc giả có cái nhìn toàn diện hơn Khi nhận xét về sáng tác của Phan Trần Chúc, ông viết: “Một lối văn mạnh
và cứng, nhưng không bao giờ tránh được những cái ngây ngô, gần như dịch không thoát một câu tiếng Pháp làm cho người ta phải lấy làm lạ rằng ở miệng cổ nhân mà sao lắm khi lại có những lời quá mới, ngây ngô như thế” [126; tr 510] Về tác phẩm
Chúa Trịnh Khải của Nguyễn Triệu Luật, Vũ Ngọc Phan cũng phê bình thẳng thắn:
Trang 23“Nếu ông biết loại bớt những cái rườm rà đi, như những lời bàn, những lời so sánh
vô lý, những sự giảng giải không đâu thì những thiên lịch sử kí sự của ông sẽ được nhẹ nhàng biết bao!” [126; tr 547] Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh: “Khi viết một quyển lịch sử, nhà chép sử không lưu tâm đến những việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội; nhưng khi viết những bài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân không ảnh hưởng gì đến dân chúng, chỉ có cái thi vị riêng của nó thôi Không những thế, khi viết một quyển lịch sử ký sự, nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những việc tư lắm lối ấy cũng gần như lối chép dã sử vậy Còn như viết lịch sử tiểu thuyết, nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc con con đã qua, rồi vẽ vời cho ra một chuyện lớn, cốt cho mọi việc đừng trái với thời đại, còn không cần phải toàn sự thật.” [126; tr 541] Có thể thấy, đương thời Vũ Ngọc Phan tuy có phê phán việc sử dụng ngôn ngữ nhân vật chưa hợp thời đại của một số cây bút đương thời nhưng về cơ bản ông tán thành việc nhà văn có thể hư cấu, sáng tạo khi phản ánh lịch sử
Bên cạnh một số quan điểm của nhà nghiên cứu, xin điểm qua những ý kiến tiêu
biểu của những người trực tiếp sáng tác đương thời Trong Ai lên phố Cát (1937), nhà
văn Lan Khai nêu rõ: “Cho nên sưu tầm nguyên sự thực, nhà làm sử gác bỏ những điều huyền hoặc đã đành Nhà tiểu thuyết trái lại, có thể tự do biên chép hết cả để thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể” [63; tr 6] Theo đó, ý thức phản ánh chân thực chính xác hiện thực thuộc về nhà sử học, còn ý thức về tính sinh động là nhu cầu phản ánh nghệ thuật của nhà văn Không đồng tình với quan điểm trên, tác giả Nguyễn Triệu Luật
trong bài tựa của tác phẩm Bà Chúa Chè (1938) bày tỏ: “Tôi chỉ là người thợ vụng, có
thế nào làm nên thế, gốc tre già cứ để là gốc tre già, chứ không thể hun khói lấy màu,
vẽ vân cho thành gốc trúc hóa long” [73; Phụ lục TTLS Việt Nam tiêu biểu] Còn trong
lời tựa cuốn Ngược đường trường thi (1939), Nguyễn Triệu Luật có viết: “Người viết
TTLS giống như nhà kim hoàn trộn lẫn vàng với bạc, với đồng Vàng thuần thì dễ mòn, đồng thuần tuy cứng nhưng rẻ quá, không có giá, nay đem trộn lẫn với nhau - một sự hóa hợp chứ không phải hỗn hợp thì vẫn có giá Có giá vì không lừa ai, có giá vì không
ai thấy nổi vết hàn gắn Chín phần vàng không bị hạ giá bởi một phần đồng cho nên vẫn chân giá, tạo ra một giá trị mới” [74; Phụ lục] Như vậy, Nguyễn Triệu Luật quan niệm TTLS phải tôn trọng sự kiện và nhân vật lịch sử nhưng không phải là sự “nệ sử” máy móc mà phải “tạo ra giá trị mới” trên nền lịch sử Mặc dù những ý kiến đó còn thể hiện tính chủ quan nhưng là những quan niệm bắt nguồn từ nhu cầu của đời sống văn học Đó là những ý kiến cho thấy sự khác nhau về quan điểm sáng tác và tiếp nhận lịch
sử trong trào lưu cách tân văn học
Như vậy, việc nghiên cứu TTLS Việt Nam ở giai đoạn này còn khá sơ lược Các
ý kiến hoặc một số công trình nghiên cứu mới dừng lại ở một vài nhận định khái quát,
Trang 24chưa có sự khảo sát toàn diện, công phu về TTLS Đồng thời, có nhiều TTLS của giai đoạn văn học này vẫn còn vắng bóng trong các bài nghiên cứu, phê bình về TTLS
1.1.3.2 Giai đoạn từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX
TTLS từ sau 1945 đến hết thế kỉ XX được đánh giá ở nhiều góc độ, mức độ, quy mô khác nhau; được đặt trong nhiều hệ hình lý thuyết khác nhau Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu, giữa văn và sử Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số bài viết và các công trình tiêu biểu:
Sau 1954, ở miền Bắc, trong công trình nghiên cứu Lịch sử văn học Việt Nam
tập III của nhóm Lê Quý Đôn có giới thiệu một phần về Nguyễn Tử Siêu với tư
cách là một nhà văn viết TTLS Còn ở Nam Bộ có cuốn Văn học thời thuộc Pháp của Lê Văn Siêu và cuốn Văn học Việt Nam giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ
đề cập đến TTLS giai đoạn 1900 - 1945 nhưng mới chỉ dừng ở mức độ giới thiệu
sơ lược
Trong cuốn Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng (1966) của Hà Minh Đức có nhận
định: “Việc nghiên cứu lịch sử là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ Nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế sự sáng tạo Có khi người nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó có quyền vi phạm
sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử Bởi vì tác giả chỉ cần đúng đắn lý tưởng mà thôi” [35; tr 132] Có thể thấy tác giả bài viết tán thành quan điểm coi lịch sử là chất liệu sáng tác và đánh giá cao sự sáng tạo của nhà văn Quan điểm này phù hợp với cách tiếp cận và phản ánh lịch sử linh hoạt của nhiều cây bút đương đại
Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1) (1974) của Phan Cự Đệ đã vận
dụng phương pháp phê bình Mác - xít phân tích và nhận định những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam qua các thời kì trước 1930, 1930-1945, 1945-1975 Đặc biệt, trong công trình này, ông còn phân loại một số kiểu tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại: tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết tâm
lý… và nêu bật những vấn đề thời sự được phản ánh trong TTLS: “Trong thời kỳ
1900 - 1930, TTLS là một hình thái mới của văn học yêu nước và cách mạng TTLS tuy viết về quá khứ nhưng lại mang một ý nghĩa rất hiện đại… đó là nhiệm vụ của các nhà văn khi họ khai thác những đề tài lịch sử” [31; tr 37] Trong tập 1 của cuốn
sách, tác giả Phan Cự Đệ đánh giá: “Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu là truyện
khởi nghĩa chống Minh đầu thế kỷ XV của một số anh hùng hào kiệt ở miền Nghệ
An, lấy danh nghĩa nhà Trần để mưu khôi phục đất nước Nhưng tác phẩm này đồng thời lại là một TTLS có luận đề, luận đề về cách mạng Việt Nam Người viết luôn
Trang 25hướng về hiện đại, kêu gọi đồng bào trong nước nổi dậy làm cách mạng” [31; tr 38]
Cũng nhìn nhận về Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, bài viết Tìm hiểu
quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu của Nguyễn Đình Chú đăng trên Tạp chí Văn học, số 12/1967 khẳng định: “Lần đầu tiên trong văn học nước nhà có một tác
phẩm viết về một tập thể anh hùng… Phan Bội Châu đã dựng lên mấy nhân vật phụ
nữ cũng anh hùng tuyệt đẹp như ai” [18; tr 19] Như vậy tác giả đã chỉ ra những đóng góp mới của Phan Bội Châu khi xây dựng những nhân vật anh hùng, làm phong phú thêm hình tượng người anh hùng trong văn chương truyền thống
Tác giả Nguyễn Phương Chi trong bài Từ tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử nghĩ
về đề tài lịch sử chống Trung Quốc xâm lược qua một số sáng tác hiện nay in trên Tạp chí Văn học, số 4/1980 đã nghiên cứu Trùng Quang tâm sử từ góc nhìn thể loại
và từ đề tài lịch sử Từ đó, tác giả chỉ ra được những đóng góp của Phan Bội Châu trên phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật
Trong công trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 (1983) của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đã đề cập đến hai TTLS giai đoạn này là Ngọn cờ
vàng của Đinh Gia Thuyết và Hai Bà đánh giặc của Nguyễn Tử Siêu với những nhận
xét tinh tế, sắc sảo Hai nhà phê bình dành nhiều trang viết cho Nguyễn Tử Siêu nhưng nhận định còn khá dè dặt: “Nguyễn Tử Siêu đã viết nhiều TTLS hơn cả Ý nguyện của ông rất rõ ràng: bồi đắp được chút đỉnh về cái quan niệm đối với đất nước…; cũng như Đinh Gia Thuyết, Nguyễn Tử Siêu có ý thức dùng lịch sử để kêu gọi lòng yêu nước, tình đồng bào” [57; tr 334]
Trong Lời giới thiệu cuốn Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng (1984), qua việc đề cập tới hai cuốn tiểu thuyết Đêm hội Long Trì và An Tư của Nguyễn Huy Tưởng,
nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu nhận xét: “Những sự kiện lịch sử lớn lao đã được làm sống dậy chân thực, hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng
Có thể nói chất sử thi đã nảy nở trong cảm hứng lịch sử sâu sắc về đất nước trong những phút trọng đại với những trang viết nhiều khói lửa về một dân tộc anh hùng” [35; tr 22]
Tác giả Bùi Văn Lợi trong phần Tổng quan về tình hình nghiên cứu của luận án Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945 (Diện
mạo và đặc điểm) (1998) đã khảo cứu khá công phu tình hình nghiên cứu TTLS Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 qua việc trích dẫn nhiều công trình có giá trị Đó là
cuốn sách Ngô Tất Tố tác phẩm (1961, Tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội) của Phan Cự
Đệ và Hà Minh Đức đã đề cập tới một số TTLS của Ngô Tất Tố như: Lịch sử Đề
Thám (1935), Vua Hàm Nghi và việc kinh thành thất thủ (1935), Gia đình Tổng trấn quân Lê Văn Duyệt (1937) Tiếp theo là cuốn sách viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn
Trang 26Khắc Viện Apercu sur la littérature Vietnamienne (Tổng quan về văn học Việt Nam,
in tại Hà Nội năm 1976) Công trình Văn hóa dân gian những lĩnh vực nghiên cứu (1989) của Kiều Thu Hoạch dựa trên việc nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân
gian với TTLS đã khẳng định vị trí tiêu biểu của Phan Bội Châu, Nguyễn Tử Siêu,
Đinh Gia Thuyết trong số các nhà TTLS đương thời và Các thế hệ nhà văn trong ngót
một trăm năm nối tiếp nhau soi lại lịch sử (1981) của Nguyễn Đình Chú đều nhắc tới
Nguyễn Tử Siêu với những nhận định trân trọng Đặc biệt Bùi Văn Lợi đã trích dẫn
những bài nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn Tử Siêu trong Hội thảo khoa học Nhà
văn - Lương y Nguyễn Tử Siêu, 1888-1965 do Sở Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ) tổ chức
vào tháng 12/1995 như bài viết của Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Huệ Chi… Việc sưu tầm, hệ thống của tác giả đã góp phần khái quát khá trọn vẹn tình hình nghiên cứu một thể tài văn học trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động Trong luận án của mình, Bùi Văn Lợi cũng nêu nhận định: “Ở TTLS, nhà văn
có quyền hư cấu, do đặc trưng mang tính chất thể loại của TTLS quy định Trong khi
đó bút pháp của chính sử chỉ có một con đường duy nhất là trung thành chính xác với
sự thật Nói cách khác phận sự của nhà sử học là “truyền tin”, quý ở cái “chân” còn phận sự của nhà tiểu thuyết là “truyền kỳ”, quý ở “truyền” Ngòi bút của nhà sử học
là “thực lục” còn ngòi bút của nhà tiểu thuyết là “hư bút” Ở tiểu thuyết, nhà văn thường hư hóa cái thực, thực hóa cái hư Nó khêu gợi trí tưởng tượng và tăng cường tính mĩ cảm văn học” [92; tr 30] Điều đó cho thấy vai trò độc lập của từng loại hình
ý thức xã hội khác nhau trong đời sống Đồng thời trên cơ sở so sánh, tác giả nhấn mạnh: Chính yếu tố hư cấu tạo nên diện mạo, sức sống của TTLS
Bên cạnh các công trình nghiên cứu thì giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều bài
viết chuyên sâu về TTLS Trong bài Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật
trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em (Tạp chí Văn học số 3/1979), tác giả Hà Ân
đã đặt ra câu hỏi: “Gia giảm, chế biến thêm nếu cần, cách đó có nên có trong hư cấu nghệ thuật chăng? Mặt hư cấu về một nhân vật là cuộc sống đời thường của nhân vật
đó Xưa nay sử học chép về một nhân vật qua các sự kiện lịch sử chính yếu Nhưng trong một sáng tác văn học, một nhà văn cần phải gần gũi người đời hơn” [Dẫn theo
Trần Mạnh Tiến, Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân; 149]
Điều đó cho thấy nhu cầu hư cấu nghệ thuật là tất yếu để hình tượng nhân vật lịch sử
“gần đời thiết thực” (Vũ Bằng)
Năm 1988, khi bộ ba truyện lịch sử Vàng lửa - Phẩm tiết - Kiếm sắc của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số ra ngày 26/5 và ngày 16/7/1988 đã như một tâm
bão làm “khuấy đảo” không khí phê bình văn học và kích ứng sự tranh luận sôi nổi về
truyện lịch sử Không khí tranh luận xung quanh hiện tượng văn học Nguyễn Huy
Trang 27Thiệp được tác giả Phạm Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp
(2001) (Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành) đã tạo tiền đề cho cuộc tranh luận chưa có hồi kết về tính chân thực lịch sử và tính hư cấu của các tác phẩm viết về đề tài lịch sử
Tiêu biểu là bài viết của Tạ Ngọc Liễn Về truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo Văn nghệ số 26 ngày 26/6/1988 cho rằng: “Vàng lửa là một truyện chứa
không ít sai lầm và lệch lạc” [113; tr 170] Thậm chí Đỗ Văn Khang còn thể hiện thái
độ phê phán gay gắt và phủ nhận giá trị của Vàng lửa qua bài viết Có một cách đọc
Vàng lửa trên báo Văn nghệ số 36 - 37 ngày 3/9/1988 hay Nguyễn Thúy Ái với bài Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ v.v Trái lại, có nhiều nhà
nghiên cứu lại khẳng định những sáng tạo táo bạo, độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp
như: Đọc văn phải khác với đọc sử của Lại Nguyên Ân, Bàn thêm về truyện ngắn Vàng
lửa của Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Văn Giá, Về một lối cảm thụ và phê bình bắt vít
của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh
Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử trong
quan niệm của G Lucacs in trên Tạp chí Văn học, số 5 năm 1994 cũng nêu ý kiến:
“Phải dựa trên cơ sở sự thật lịch sử, hư cấu có mức độ, không cho phép quá đà và sự
hư cấu này có khả năng đạt tới một sự chân thật, chân thật hơn cả sự thật ngoài đời hay
sự thật đã diễn ra trong chính sử” [23; tr 64] Theo đó, Trương Đăng Dung tán thành
việc hư cấu của nhà văn khi sáng tác TTLS nhưng sự hư cấu đó phải ở một ngưỡng
nhất định nhằm làm sống động lịch sử chứ không thể là sự hư cấu tùy tiện
Năm 1998, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác được Nxb Văn học tái bản
lần đầu trong nước đã gây tiếng vang lớn trong đời sống văn học Việt Nam, cuốn hút
sự say mê của đông đảo công chúng, sau đó đã được Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền để dựng thành phim truyền hình dài tập Trên cơ sở đó, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học cũng đã bày tỏ những quan điểm khác nhau về tác phẩm cũng như về thể tài TTLS Tiêu biểu là ý kiến của Phan Cự Đệ đánh giá sự thành
công của Sông Côn mùa lũ là do người viết “thiên về tiểu thuyết hơn là về lịch sử” [32;
tr 66] Như vậy, yếu tố nghệ thuật sẽ định hình sáng tạo của nhà văn tạo ra sự khác biệt giữa tác phẩm văn học với công trình lịch sử Còn nhà văn Nguyễn Mộng Giác
trong bài Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử đăng trên nguyenmonggiac.com lý giải:
“Nhiệm vụ của người viết tiểu thuyết nếu có là phức tạp hóa những điều tưởng là đơn giản để người ta nhớ rằng con người, đời sống là cái gì mong manh, dễ vỡ, phải cố gắng thông cảm với những tế vi phức tạp của nó, nhẹ tay với đồng loại những lúc bất đồng, kiên nhẫn với những yếu đuối khó hiểu” [19]
Tiếp đó, trong Lời ngỏ của tiểu thuyết Gió lửa (1999), nhà văn Nam Dao đã
khẳng định: “Tiểu thuyết là cách tác giả đối thoại với lịch sử Tất nhiên đối thoại đó
Trang 28chỉ một chiều và chủ quan Thậm chí tác giả không câu nệ bất cứ điều gì, kể cả đôi khi phải cưỡng bức lịch sử để thai nghén ra tiểu thuyết” [16; tr 3; Phụ lục]
Có thể thấy không khí tranh luận sôi nổi về TTLS trong giai đoạn này đã góp phần khuấy động ý thức truy tìm chân lí nghệ thuật của nhà văn và bạn đọc trên diễn đàn văn học, góp phần gợi mở nhiều hướng tiếp cận mới về TTLS
1.1.3.3 Giai đoạn từ thế kỉ XXI cho đến nay
Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI xuất hiện nhiều TTLS cỡ lớn với việc đa dạng hóa quy mô phản ánh hơn các giai đoạn trước, làm nảy sinh các quan niệm tiếp nhận khác nhau Nhiều cây bút tỏa sáng trên văn đàn như: Hoàng Quốc Hải với hai
bộ TTLS đồ sộ là Bão táp triều Trần (2009; 6 tập) và Tám triều vua Lý (2010; 4 tập)
và hàng loạt TTLS cỡ lớn khác như: Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2006) của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn thiêu (2005) của Võ Thị Hảo khi vừa ra đời đã được
công chúng quan tâm sâu sắc Đó là chưa kể đến các yêu cầu khắt khe của độc giả như kì vọng về sự trùng khít giữa lịch sử và văn học Do vậy xung quanh các buổi tọa đàm, hội thảo và các công trình, các bài nghiên cứu đã diễn ra những cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề sự thật lịch sử và quyền năng sáng tạo của người viết Từ đó gợi mở những góc độ mới về lý luận và thực tiễn sáng tác TTLS
Tiêu biểu là ý kiến của tác giả Trần Vũ trong Tiểu luận Lịch sử trong tiểu thuyết,
một tùy tiện ý thức (2003) qua việc đặt ra những câu hỏi khá bức xúc: “Tại sao tiểu
thuyết phải y chang như thật vậy? Nhà văn, anh tìm thấy gì? Và có gì để trình bày với nhân loại?” [171] Trần Vũ cũng bày tỏ quan niệm trong cách viết về những nhân vật
lịch sử: “Trong hình học không gian, đường cong khi cắt ra làm trăm triệu đoạn nhỏ,
mỗi đoạn sẽ là một đường thẳng, và trên đường thẳng đó các giá trị không ứng nghiệm trên các mặt phẳng khác, sẽ có nghiệm số ở mặt phẳng tí teo này Định lý toán học trên cũng có thể hỗ trợ cho các nhà văn đem nhân vật lịch sử ra cắt làm trăm triệu khúc và
khảo sát phần nhỏ nhất” [171] Khi “khảo sát phần nhỏ nhất” ấy, Trần Vũ cho mình quyền “hư cấu tùy tiện” và (cả quyền) “phóng đại” tới mức “tiểu thuyết” Quan niệm
và cách viết của Trần Vũ gây ra những ý kiến trái chiều nhưng đã nêu bật được cách phán ánh lịch sử táo bạo, thoát khỏi tư duy “nệ sử” và gợi mở những hướng tiếp cận mới với cả người sáng tác và người thưởng thức văn học
Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lí luận (2004), mục Tiểu thuyết lịch sử, tác giả Phan Cự Đệ đã giới thiệu một số quan niệm
của các học giả lớn như P Louis - Rey, G Lukacs, M Kundera ; đồng thời ông viện dẫn những đặc trưng cơ bản của thể loại này vừa bám vào lịch sử nhưng vừa hư cấu nghệ thuật, không chỉ trong văn học Việt Nam mà cả trong văn học thế giới Ông coi
kĩ thuật tiểu thuyết là yếu tố quan trọng tạo nên sự độc đáo và sức sống của TTLS
Trang 29Tác giả Nguyễn Văn Dân, trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại
một số xu hướng chủ yếu (2006) vừa khẳng định tính trung thực của TTLS, mặt khác
ông cho rằng phải thừa nhận “sự pha trộn giữa sự thật và tính hư cấu khi tái hiện nhân vật lịch sử” [21] Nghĩa là khi tiếp cận đề tài lịch sử, nhà văn không thể bất lực trước các nguyên mẫu lịch sử từ ngoại hình cho đến tính cách mà phải có “sự pha trộn” giữa yếu tố lịch sử và hư cấu để tạo cho nhân vật một đời sống thật Để làm sáng tỏ
quan điểm đó, tác giả Nguyễn Văn Dân trích dẫn khái niệm được nêu trong cuốn Từ
điển bách khoa toàn thư (Encyclopedia Britannica, 1995):“TTLS là tiểu thuyết lấy
một giai đoạn lịch sử làm khung cảnh và mong muốn truyền bá cái tinh thần, kiểu cách, và các điều kiện xã hội của một thời kỳ quá khứ với những chi tiết hiện thực và trung thành với sự thật lịch sử (tuy nhiên trong một số trường hợp sự trung thành này chỉ là giả tạo) Công trình sáng tạo đó có thể đề cập đến những nhân vật lịch
sử có thật hoặc có thể bao hàm một sự pha trộn nhân vật lịch sử với nhân vật hư cấu” [21]
Công trình Bão táp triều Trần, tác phẩm và dư luận (2006, Nhiều tác giả) do
Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu và các sử gia như nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Bằng Việt - Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Phùng Văn Khai, nhà văn Hoàng Công Khanh, Tiến sĩ Sử học Đinh Công Vỹ về TTLS của Hoàng Quốc Hải Tiêu biểu như ý kiến của nhà thơ Hữu Thỉnh: “Đây là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học Tôi biết nhà văn Hoàng Quốc Hải có khi vắng nhà đến một năm liền để đi điền dã, tập hợp tư liệu và cho ra đời hai bộ tiểu thuyết vô cùng đồ sộ
và có chất lượng” [122; tr 34] Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh: “Tác giả
đã chọn những sự kiện quan trọng nhất, chứa đựng tất cả các vấn đề văn hóa, lịch sử của đất nước với cách viết khúc chiết, không dàn trải” [122; tr 42] Tiến sĩ Sử học Đinh Công Vỹ khẳng định: “Hoàng Quốc Hải không viết theo lối thông sử mà cắt ngang, chọn những thời điểm gay cấn nhất để làm nền cho cốt truyện” [122; tr 47] v.v Những kết quả đánh giá đã khẳng định phong cách độc đáo của Hoàng Quốc Hải cũng như sự thành công của tác phẩm này trong việc tôn trọng tính khách quan, tái hiện chân thực bức tranh quá khứ để từ chân lí lịch sử thăng hoa thành sự thực nghệ thuật
Có thể thấy sau khi những TTLS có dung lượng lớn ra mắt độc giả đã xuất hiện hàng loạt các cuộc hội thảo, các bài viết trên các tờ báo uy tín tranh luận về thể tài này Không khí phê bình văn học diễn ra hết sức sôi nổi, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Bên cạnh các buổi tọa đàm, hội thảo được tổ chức quy mô,
Trang 30còn có các bài viết, bài nghiên cứu công phu của nhiều tác giả như: Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Dân, Lại Nguyên Ân, Phan Cự Đệ, Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Thị Tuyết Minh với nhiều kiến giải sâu sắc
Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân (2011) (Tạp chí Nhà văn, số 1, tr 78 - 84), tác giả Trần Mạnh Tiến đã điểm qua ý kiến của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề nguyên mẫu lịch sử và việc hư cấu nghệ thuật Theo
Trần Mạnh tiến: Lan Khai là một trong những nhà văn tiên phong đổi mới về tiểu thuyết lịch sử Trong các ý kiến tiêu biểu phải kể đến quan niệm của Vương Trí Nhàn:
“Có muôn vàn cách thức của người viết văn làm cho trang sách của mình khác đi so với quá khứ, và ở đây không ai có quyền tuyên bố mình có trong tay cái chìa khóa
duy nhất” (Đề tài lịch sử cảm hứng sáng tạo từ sự suy ngẫm về hai cuốn tiểu thuyết
Chốn xưa và Ngân thành cố của nhà văn Trung Quốc Lý Nhuệ, Báo Văn Nghệ, số
16, ngày 21 tháng 4 năm 2007) Theo Vương Trí Nhàn thì nhà văn phải là chủ thể sáng tạo chân dung lịch sử Việc nhận thức lại lịch sử của nhà tiểu thuyết là điều tất yếu khi quá khứ đã khép lại, kể cả độ tin cậy từ các tài liệu sử học còn hạn chế, hoặc
sự chi phối của các thể chế chính trị Bài viết Về nhân vật lịch sử trong văn chương
hiện đại (Báo Văn Nghệ, số 36, 6/9/2008), Phạm Quý Bính lại cho rằng: “Nhân vật
lịch sử trong văn chương trước hết là một hình ảnh… đây không phải là một hình ảnh bịa đặt tự do, vì nhân vật lịch sử bao giờ cũng có nguyên mẫu trong trí tưởng tượng của bạn đọc, dù các nguyên mẫu ấy đậm hay nhạt Nếu nhà văn bất chấp cái nguyên
mẫu đó, nhân vật có nguy cơ không được độc giả chấp nhận” Trong bài viết Xin
đừng nhầm lẫn giữa tiểu thuyết và lịch sử (Báo Văn nghệ, số 45, 8/1/2008) gửi nhà
văn Cao Duy Thảo, tác giả Đình Kính nhấn mạnh: “Đừng biến các nhà văn thành các nhà báo, lẽo đẽo chạy theo các sự kiện như kiểu: đã viết về chiến tranh nhất thiết phải
có “bóng dáng lính Mĩ và chư hầu” để đúng với lịch sử, “chưa thay đổi tư duy chúng
ta chưa thể nâng cao tính chuyên nghiệp của văn chương” Như vậy, cả hai tác giả trên đều coi lịch sử là yếu tố cốt lõi nhưng không vì thế mà đòi hỏi sự trùng khớp giữa tính chân thực nghệ thuật với lịch sử của sử học Mặc dù còn tồn tại một số ý kiến chưa thống nhất nhưng các nhà nghiên cứu đều coi tác phẩm văn học là kết quả của hoạt động sáng tạo của nhà văn nên cần tránh các lối mòn, khuôn mẫu khi sáng
tác Đến bài viết Đề tài lịch sử không bao giờ xưa (Văn Nghệ trẻ số 44, 26/10/2008), tác giả Hà Ân quan niệm: “Nhân vật trong TTLS cho phép sai biệt với nhân vật trong
chính sử: Có thể có những sai biệt cho phép Như nhân vật trong chính sử có khi chỉ
là một cái tên Ví dụ: Thái hậu Dương Vân Nga hay công chúa An Tư hay các anh hùng, dũng sĩ…” Các bài viết trên được tác giả Trần Mạnh Tiến tán thành về sự linh hoạt, tinh tế của người cầm bút khi sáng tạo tiểu thuyết trên nền lịch sử
Trang 31Trong bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử (2012), tác giả Hải Thanh cũng bày tỏ:
“TTLS là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Nhà TTLS có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử Nghĩa là qua sáng tạo mới, nhà tiểu thuyết phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch
sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại” [154; tr 6] Như vậy, quan điểm của Hải Thanh lại nghiêng về việc đề cao tính chân thực lịch sử trong TTLS Cho dù nhà văn được quyền hư cấu, sáng tạo nhưng không được phép làm sai lệch chân dung nhân vật hoặc làm mất đi tính xác thực của sự kiện lịch sử
Trên báo Văn hóa Nghệ An ngày 17/3/2012, tác giả Ngô Thời Tân có bài viết:
“Tứ đại kì thư” của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc: tên gọi - văn bản - tác giả đã lược thuật về thành tựu to lớn của bốn tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa (Tam quốc diễn
nghĩa, Thủy Hử, Tây Du Ký, Kim Bình Mai) Tác giả đã điểm qua tình hình nghiên
cứu ở Trung Hoa và ảnh hưởng của những kiệt tác này với nền văn học hiện đại Trung
Hoa, trong đó có đề cập tới tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thể hiện mối liên hệ khăng
khít giữa lịch sử và văn học Công trình này gợi cho chúng tôi nhiều ý kiến quý báu trong việc tiếp cận, khám phá TTLS
Sau các TTLS Hồ Quý Ly (2000), Mẫu thượng ngàn (2008) của Nguyễn Xuân
Khánh ra mắt bạn đọc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Ngày 15/10/2012 Viện Văn học tổ chức Hội thảo đánh giá thành công cũng như hạn chế trong TTLS của Nguyễn Xuân Khánh và của văn học Việt Nam những năm gần
đây Trong đó có rất nhiều bài viết đáng chú ý như: Một cách luận giải lịch sử dân
tộc của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nhân đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Đỗ Ngọc
Yên, Mẫu thượng ngàn - con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc của Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên
ngực của những con rồng của Phan Tuấn Anh, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa - phong tục của Nguyễn Hoài Nam… Các tham luận
trong buổi Hội thảo được tập hợp trong công trình Lịch sử và văn hóa, cái nhìn nghệ
thuật Nguyễn Xuân Khánh (2012) của Nguyễn Đăng Điệp (Chủ biên) góp phần làm
sống động bức tranh thể loại và gợi mở nhiều giá trị nhân sinh khác của đời sống văn hóa dân tộc mà nhà văn cần sáng tạo Tiêu biểu là ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn
Đăng Điệp (tiểu luận Đề dẫn Hội thảo) đã nêu ra nhiều luận điểm sắc bén về TTLS:
“Khác với truyền thống coi lịch sử là đại lịch sử (đã xong xuôi), lý thuyết hiện đại,
hậu hiện đại khẳng định lịch sử là quá trình chưa hoàn tất mà đang được cấu tạo lại
với sự xuất hiện của các tiểu lịch sử Do đó, lịch sử được hình dung như những mảnh
Trang 32vỡ… Có người khẳng định, nhà văn có quyền tưởng tượng đến vô hạn và tác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạo lịch sử theo quan điểm cá nhân Tại đó, có một thứ lịch sử khác (ngoại vi) so với lịch sử được thừa nhận (trung tâm), và lịch sử, khi đi vào lãnh địa tiểu thuyết, phải được tổ chức trên cơ sở hư cấu vốn là một đặc trưng của nghệ thuật” [29; tr 8]
Cuối năm 2012, Hội đồng Lí luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương đã
tổ chức buổi Hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử Trong
báo cáo Đề dẫn Hội thảo, Phan Trọng Thưởng đề cập đến những nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử Mặc dù bàn về kịch lịch sử nhưng những kiến giải của tác giả có ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu TTLS Các tham luận khác vừa đưa ra nhiều vấn đề lí luận cơ bản vừa đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề có tính thời sự từ thực tiễn sáng tác về đề tài lịch sử Hội thảo tập trung vào một số nội dung quan trọng như điều kiện, môi trường sáng tác, vai trò trách nhiệm của người nghệ
sĩ, động cơ sáng tác, mối quan hệ giữa hư cấu và sự thật lịch sử Tại cuộc Hội thảo, các nhà văn, các nhà nghiên cứu đã tranh luận, đối thoại sôi nổi để đi tới sự đồng thuận Mặc dù vẫn còn những vấn đề chưa thống nhất nhưng đa số các ý kiến đều cho rằng TTLS phải sáng tạo trên nền lịch sử
Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 (2012) của Nguyễn Thị
Tuyết Minh là công trình nghiên cứu công phu, hệ thống, bao quát sự vận động và phát triển của TTLS qua hai giai đoạn: 1945 - 1975 và từ sau 1975 đến nay Đóng góp của công trình này là tác giả đã khảo sát kĩ lưỡng tư duy tự sự lịch sử và các phương thức nghệ thuật tự sự trong TTLS Việt Nam sau 1945; đặt TTLS trong sự vận động, đổi mới của nền văn học Trên cơ sở đó, tác giả đã chia thành hai khuynh hướng “lịch sử hóa tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hóa lịch sử” và phân loại hai dạng cảm thức lịch sử: “Lịch sử như một đối tượng được chiêm bái và ngưỡng vọng” và
“Lịch sử như một đối tượng phân tích và giả định” [106; tr 35]
Tiếp đến trong bài viết Suy nghĩ mới về tiểu thuyết lịch sử (2013), tác giả Trần
Đình Sử nêu ý kiến: “Nhu cầu sáng tác chính là nhu cầu đối thoại, phản biện lại với lịch sử, nhu cầu khôi phục những sự thật đã khuất lấp, những góc nhìn mới nhưng không thể đòi hỏi hoàn nguyên lịch sử, một việc mà bản thân sử học quan niệm về lịch sử Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch
sử, người ta nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, tạo nên sự hoài nghi đối
với tính chân thực của văn bản lịch sử” [134] Theo đó việc yêu cầu TTLS phải phản
ánh trung thực lịch sử là không hợp lí, bản thân sử học cũng chỉ là một loại diễn ngôn,
một sự trần thuật chủ quan về lịch sử Như vậy, tác giả bài viết đề cao vai trò của hư cấu trong sáng tác Đây là ý kiến cần tiếp tục nghiên cứu cho thấu đáo hơn bởi thực
Trang 33tế lịch sử là những sự kiện gắn với nhân vật xác định, việc nhận thức về lịch sử còn tùy thuộc ở các nhà văn Nhà văn có thể dùng cái nhìn chủ quan để miêu tả, nhận thức lịch sử, nhưng không thể thay thế sự kiện và nhân vật lịch sử bằng thiên kiến cá nhân Khi con người và sự kiện đã thành lịch sử được cộng đồng thừa nhận thì đó là căn cứ để nhận thức về quá khứ và đó là tài liệu cho các nhà TTLS sau này sáng tạo
Tại Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết lần 2 của Hội Nhà văn tại Hà Nội ngày
28 tháng 2 năm 2018 (đăng trên baovannghe.com.vn ngày 2/3/2018) đã trích đưa
những ý kiến tiêu biểu của các nhà văn về TTLS Trong bản tham luận nhan đề Với
tiểu thuyết lịch sử, nhà văn Vũ Xuân Tửu nhấn mạnh: “Với TTLS, không phải mọi
sự thật đều được viết ra, và cũng không phải mọi điều viết ra đều là sự thật Tuy nhiên, dù ngòi bút có thăng hoa đến mức nào đi nữa, thì cũng không được viết sai lệch bản chất lịch sử Sự thật lịch sử không chỉ nằm trong sách giáo khoa mà tồn tại khách quan trong xã hội, có khi ẩn hiện đâu đó, khiến người cầm bút phải tìm tòi, suy ngẫm” Còn nhà văn Nguyễn Thế Quang khẳng định: “Đổi mới tư duy tiểu thuyết là yêu cầu hàng đầu, tất yếu của TTLS Nhà khoa học tìm hiểu lịch sử qua chứng cứ cụ thể, còn nhà văn khám phá bề sâu phong phú vô cùng phức tạp của tâm hồn con người Viết TTLS không phải chỉ quay lại tìm vẻ đẹp của người xưa với tinh thần hoài cổ mà cái chính là để đối thoại với hiện tại, chia sẻ cùng bạn đọc, hướng tới sự tiến bộ” Nhà văn Trần Thanh Cảnh thì cho rằng: “Việc hư cấu trong TTLS là không giới hạn, nó hoàn toàn tùy thuộc vào trí tưởng tượng của nhà văn Tuy nhiên việc sáng tạo đến đâu, như thế nào tùy thuộc vào vị trí, góc nhìn, phông văn hóa của nhà văn” Cũng tại buổi Hội thảo, nhà văn, nhà báo Trần Mai Hạnh - từng là nhân chứng trực tiếp trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa xuân 1975, tác giả của
các kí sự lịch sử nổi tiếng, đã trình bày bài tham luận nhan đề Về một cách nhìn lịch
sử trong tiểu thuyết đương đại Với bài viết này, ông nêu nhiều ý kiến sắc sảo, đúng
đắn về cách nhìn lịch sử bằng tiểu thuyết: “Không ai được phép độc quyền về cách nhìn, cách phán xét cũng như cách thức xây dựng tác phẩm văn học từ các sự kiện lịch sử của dân tộc Nhưng chỉ có điều bất kì góc độ nào, cách nhìn nào, người viết
cũng phải tôn trọng sự thật lịch sử, góp phần làm bật lên sự thật và giá trị của các sự kiện và tình tiết quan trọng của lịch sử Trong Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.1975, tôi
đã sử dụng không gian 4 chiều để soi rọi làm rõ sự thật ” Ông đưa ra 4 tiêu chí then chốt đối với người viết TTLS: “Thứ nhất - Phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử: Lịch sử là tự nó viết ra, đó chính là sự thật Điều cốt lõi của lịch sử chính là sự thật Sự thật lịch sử không hề bị hoen gỉ bởi thời gian, nó thách thức những mưu toan xuyên tạc, bóp méo của con người Sự thật rồi cuối cùng cũng trở về với sự thật Nói như vậy không phải là hạ thấp khả năng tưởng tượng phong phú và giá trị sáng tạo
Trang 34của nhà văn Chỉ có điều khả năng sáng tạo, hư cấu của nhà văn phải hướng tới việc khắc họa trung thực và nâng tầm lịch sử chứ không phải xuyên tạc, bóp méo, đổi trắng thay đen các sự kiện, các nhân vật của lịch sử nhằm phục vụ ý đồ riêng của mình Thứ hai - Phải chinh phục niềm tin của người đọc: Những sự kiện, tình tiết, nhân vật thuộc về một phần của lịch sử mà nhà văn xây dựng trong tác phẩm của mình, trước hết phải là sự thật Không thể đùa nghịch, bỡn cợt với lịch sử Không thể lên mặt với lịch sử, tùy tiện sửa chữa, nhào nặn lịch sử theo ý đồ riêng của mình Thứ
ba - Viết về đề tài lịch sử đương đại phải rất khắt khe về sự thật Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, những sự kiện, tình tiết trong tác phẩm phải có bằng chứng vững chắc mới có thể đứng vững được Thứ tư - Yêu cầu về tính chân thật của các sự kiện lịch sử mà tác phẩm đề cập Đó là những tài liệu nguyên bản, văn bản tin cậy đã được kiểm chứng” Đó là những ý kiến xác đáng của Trần Mai Hạnh về TTLS rút ra
từ thực tiễn sáng tác Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 đã vượt qua sự thử thách khắc
nghiệt của dư luận và được thời gian sàng lọc Bởi lẽ, nếu sự thật về các sự kiện lịch
sử mà tác phẩm đề cập tới bị đổ vỡ thì đương nhiên giá trị văn chương cũng sẽ bị khai
tử Do vậy, cho dù là tác phẩm nghệ thuật nhưng không thể thoát li sự thực lịch sử mới
có giá trị thuyết phục người đọc Qua đó cho thấy TTLS đang được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, phần nào đã đáp ứng được với thực tiễn sáng tác vô cùng phong phú của nó
Có thể nói, chưa bao giờ TTLS được nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, nữ quyền luận, các trường phái tân lịch
sử, hậu thực dân, hậu hiện đại như hiện nay Mỗi đề tài, mỗi công trình nghiên cứu
là một cách nhìn, cho thấy sự đa dạng, khác biệt cũng như sự đổi mới tư duy, những thành công và hạn chế của thể tài này trong đời sống văn học, thể hiện tư duy của nhà văn về lịch sử là không ngừng vận động Trong những năm gần đây nhiều luận văn, luận án, tiểu luận nghiên cứu tại các trường Đại học, các cơ sở nghiên cứu cũng góp phần đa dạng hóa bức tranh tiếp nhận, đánh giá TTLS Có thể thấy, càng ngày TTLS càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như khẳng định vị trí quan trọng của nó trong đời sống văn học Với sự đa dạng của các hướng tiếp cận, tình hình nghiên cứu TTLS cũng có nhiều thay đổi và hầu như các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hư cấu là thuộc tính tất yếu của thể loại này, nhưng phải dựa trên cái nền lịch sử Các bài viết và các công trình nghiên cứu trên đã góp thêm những ý kiến quan trọng trong việc xác lập tính liên tục của quá trình nghiên cứu TTLS ở nước ta
1.2 Sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại
Sự khác nhau của TTLS trung đại và hiện đại trên những phương diện nội dung
và hình thức cho thấy quá trình chuyển biến của TTLS Việt Nam từ tiểu thuyết truyền
Trang 35thống (chương hồi) sang tiểu thuyết hiện đại ở các mặt sau:
Về văn tự: Tất cả các TTLS trung đại như Hoan Châu ký của Nguyễn Cảnh Thị,
Hoàng Việt Long hưng chí của Ngô Giáp Đậu và kí sự lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái v.v… đều viết bằng chữ Hán Đến TTLS hiện đại chỉ còn
tác phẩm Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán, còn lại đều
được viết bằng chữ Quốc ngữ
Về đề tài: Tiểu thuyết trung đại nhằm phục hiện diện mạo của một giai đoạn
lịch sử hoặc làm nổi nhân vật, sự kiện lịch sử Cụ thể như: Hoan Châu ký phản ánh quá trình trung hưng của nhà Lê sau khi họ Mạc tiếm ngôi, Nam Triều công nghiệp
diễn chí mô tả lại 133 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, Hoàng Lê nhất thống chí phản
ánh sự suy thoái, sụp đổ của chế độ phong kiến Lê Trịnh và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn
Nguyễn Huệ thế kỷ XVIII, Hoàng Việt Long hưng chí dựng lại quá trình “phục hưng”
nhà Nguyễn của Nguyễn Ánh v.v… Còn TTLS hiện đại thì chỉ một số tác phẩm khai
thác chủ đề này (Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử, Trần Nguyên chiến kỷ của Nguyễn Tử Siêu) Còn đa số các tác phẩm
khác tập trung khai thác một sự kiện lịch sử đặc biệt của một triều đại để khám phá
lịch sử đời tư của những con người có liên quan tới biến cố lịch sử đó như: Đêm hội
Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng khi miêu tả Đặng Thị Huệ, Tiếng sấm đêm đông của
Nguyễn Tử Siêu khi miêu tả thế giới nội tâm của Đinh Tiên Hoàng hoặc nỗi tương tư
của Lý Chiêu Hoàng trong Chiếc ngai vàng và nhiều tác phẩm khác của Lan Khai
Về kết cấu: Tiểu thuyết trung đại được kết cấu theo kiểu chương hồi, chia làm
nhiều tiết, nhiều hồi Cụ thể: Hoan Châu ký có 16 tiết, Hoàng Việt Long hưng chí có
34 hồi, Việt Lam xuân thu có 64 hồi, Nam Triều công nghiệp diễn chí có 8 quyển (8 hồi) Riêng Hoàng Lê nhất thống chí là loại kí sự lịch sử có tính tiểu thuyết, bởi nó
vừa mang tính kí sự vừa mang tính tiểu thuyết TTLS hiện đại có sự kế thừa hình thức tiểu thuyết chương hồi nhưng các dấu vết của tiểu thuyết chương hồi rất mờ nhạt, càng về sau các nhà văn càng sử dụng lối kết cấu của tiểu thuyết hiện đại phương Tây với cốt truyện cơ động, lấy nhân vật và quá trình phát triển tính cách nhân vật làm
nòng cốt Về cơ bản TTLS giai đoạn đầu vẫn kết thúc có hậu như: Cái hột mận, Cánh
buồm thoát tục của Lan Khai, Việt Thanh chiến sử của Nguyễn Tử Siêu, Vua Quang Trung của Phan Trần Chúc v.v… nhưng từ sau 1930 trở đi các tác phẩm có kết thúc
tự nhiên hơn, hợp lí hơn, không khiên cưỡng
Về nghệ thuật trần thuật: Loại hình này vừa kế thừa tiểu thuyết truyền thống
vừa sáng tạo TTLS hiện đại Người kể toàn tri dần dần được lồng ghép vào các ngôi
kể khác tạo nên sự đa thanh, nhiều bè của TTLS hiện đại Điều này có thể thấy rõ qua các TTLS của Nguyễn Tử Siêu, Lan Khai, Trương Tửu
Trang 36Về ngôn ngữ: Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu được viết bằng lối văn
cổ điển của TTLS thời kì trung đại với tần suất lớn các câu văn biền ngẫu, nhiều từ
ngữ Hán Việt, lối chuyển hồi, chuyển đoạn: Có 121 từ “rằng”, 125 từ “mà”, 306 từ
“là”, 305 từ “thì” trên tổng số 140 trang của tác phẩm Tuy nhiên TTLS của Phan
Bội Châu cũng đã có một số điểm bước sang địa hạt của TTLS hiện đại Tiêu biểu là cách giới thiệu nhân vật qua một nhân vật khác hoặc các hồi được đặt tên cụ thể, ngắn
gọn, tóm tắt nội dung của hồi đó như: Bỏ nhà cứu bạn, Lộ gan anh hùng, Tráng sĩ đăng
đàn… Còn TTLS hiện đại nhìn chung chỉ kế thừa TTLS trung đại ở một vài biểu hiện
về từ ngữ cổ, một số yếu tố tượng trưng, ước lệ để gợi lại không khí lịch sử
Qua sự so sánh trên có thể thấy được tính chất giao thời của TTLS hiện đại giai đoạn 1900-1945 Đây là giai đoạn văn học có tính bản lề và cũng là giai đoạn thể hiện
sự đổi mới mạnh mẽ của các nhà TTLS góp phần vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học TTLS hiện đại trên cơ sở kế thừa và tiếp biến có chọn lọc những ảnh hưởng của quan điểm mỹ học phương Đông và phương Tây đã chứng minh được sức sống tiềm tàng, sự nhạy bén, cơ động của nó trên hành trình tự đổi mới và bắt kịp với sự phát triển của TTLS thế giới, cũng như thích ứng được với những đòi hỏi ngày càng khắt khe của độc giả Đây cũng là cơ sở để đánh giá khách quan, khoa học TTLS của Lan Khai
1.3 Tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông
1.3.1 Về nhà văn Lan Khai
Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đã để lại dấu ấn rõ nét trong nền văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX Nhưng do cái chết bí ẩn của ông (11/1945) nên gần 20 năm sau các cây bút ở hai miền Nam Bắc mới đề cập tới thân thế và văn nghiệp của Lan Khai nhưng trong số đó còn có những thông tin thiếu khách quan và không chính xác
Trước 1945 đã có nhiều học giả nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Lan Khai, tiêu biểu như Trương Tửu, Hải Triều, Trần Huy Liệu, Vũ Ngọc Phan, Phạm Mạnh Phan… Các tác giả đương thời đều đánh giá cao tài năng và sức sáng tạo dồi dào của cây bút Lan Khai, tiêu biểu là nhận định của tác giả Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan về sở trường
của Lan Khai ở đề tài lịch sử Trên tờ báo Loa năm 1935, trong mục Văn học Việt Nam
hiện đại, Trương Tửu gọi Lan Khai là: “Nhà nghệ sĩ của rừng rú”, “là đàn anh trong
thế giới sơn lâm”, “là cây đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát” [147; tr 26]
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan mệnh danh Lan Khai là “lão
tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới” [126; tr 176] Từ sau 1945 đến 1965 tên tuổi Lan Khai trên văn đàn hầu như vắng bóng Từ 1965 - 1985 trên
một số cuốn sách ở miền Bắc như Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán của Nguyễn
Trang 37Đức Đàn, Lược truyện về các nhà văn hiện đại (Tập 2, 1972, Trần Văn Giáp chủ
biên) đã đưa một số thông tin sai lệch về ông
Hồi kí nhan đề Truyện lầm than của chúng tôi (1989) của bà quả phụ Hà Thị
Minh Kim đã ghi lại chân thực cuộc đời hoạt động cách mạng và sáng tác của Lan Khai gắn với những chuyển động của lịch sử đất nước (từ 1926 đến 1945) Đây là một tài liệu quý về chân dung một nhà văn yêu nước và tận hiến tài năng trí tuệ cho
nghệ thuật: Năm 1936, ông được trao Giải nhất văn học của Hội Trí tri cho cuốn
Tiếng gọi của rừng thẳm Năm 1938, ông cho xuất bản cuốn Lầm than liền bị thực
dân Pháp bắt giam Bên cạnh thiên chức một nhà văn, Lan Khai còn là một nhà giáo
và tham gia vào Hội Trí tri của nhà trí thức cách mạng Nguyễn Văn Tố Ông thường xuyên tham gia diễn thuyết văn học cho các tổ chức văn hóa giáo dục đương thời
Năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản Đông Dương
lãnh đạo làm nhiệm vụ tuyên truyền cho mặt trận Việt Minh và phát hành báo chí cách mạng Năm 1944, ông cùng gia đình hồi hương từ Hà Nội về Tuyên Quang Tháng 8 năm 1945, Lan Khai tham gia cướp chính quyền tại quê nhà và là vị Chủ tịch lâm thời đầu tiên của Khu Xuân Hòa thị xã Tuyên Quang; sau đó được điều vào Khu ATK làm nhiệm vụ dạy học và mất vào ngày 29/11/1945 tại bản Lũng Cò, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang “do một tên côn đồ ám sát” (Lời Thiếu tướng Hoàng Mai) Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Lan Khai là một cây bút tiêu biểu của giai đoạn văn học 1930 - 1945 Năm 1938, ông cùng với nhà văn Lê Văn Trương đã trở thành hai cây bút trụ cột của Nhà xuất bản Tân Dân Năm 1939, ông làm Tổng thư kí Tạp
chí Tao Đàn của nhà xuất bản Tân Dân, một nhà xuất bản lớn ở Việt Nam thời đó
Ông sớm được đông đảo bạn đọc đương thời biết đến bằng những cuốn tiểu thuyết
tâm lí xã hội như Nước Hồ Gươm (1928), Cô Dung (1936), Lầm than (1938),… những truyện đường rừng như Mũi tên độc (1932), Rừng khuya (1935), Tiếng gọi
của rừng thẳm (1936), Suối Đàn (1941)… và tuyển truyện ngắn Truyện đường rừng
(1940) Đặc biệt ông để lại 26 cuốn TTLS và trên 30 tác phẩm kí, các công trình dịch thuật và sưu tầm văn học dân gian miền núi cùng nhiều tranh kí họa Cho đến nay Lan Khai là cây bút có số lượng TTLS nhiều nhất ở Việt Nam Tuy nhiên do “cái chết đầy bất ngờ của ông trong hoàn cảnh có nhiều tao loạn lịch sử đã không được công bố và giải thích rõ ràng đã phủ lên dư luận một màn đêm kéo dài gần sáu mươi năm” [147; tr 22] nên trong danh sách các nhà văn tiêu biểu của giai đoạn 1930 -
1945 hầu như ít người nhắc đến Lan Khai, vì vậy việc nghiên cứu sự nghiệp văn học của ông vẫn còn nhiều khoảng trống
Từ năm 1990 trở đi sự thật về cái chết của Lan Khai dần dần được phát lộ Năm
2006 Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai và Hội thảo
Trang 38khoa học: Lan Khai với văn học Việt Nam hiện đại, thân thế và sự nghiệp sáng tác của ông đã hoàn toàn sáng tỏ Tất cả đã được trình bày rõ trong cuốn “Lan Khai nhà
văn hiện thực xuất sắc” (2006) của tác giả Trần Mạnh Tiến (Chủ biên) Do vậy, chúng
tôi chỉ điểm qua một số những nét chính như sau: Lan Khai từng là một chiến sĩ cách mạng yêu nước; ông tham gia tổ chức Quốc dân Đảng do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo từ năm 1928 đến năm 1930 và bị thực dân Pháp bắt tù đày Khi ra tù, Lan
Khai để lại cuốn bút kí nhan đề 8023 in nhiều số trên báo Loa năm 1935 Tập bút ký
đã ghi lại tinh thần yêu nước quả cảm của các chiến sĩ cách mạng quyết tâm chống thực dân Pháp để giành quyền độc lập tự do cho dân tộc với chân dung những nhà yêu nước như Nguyễn Thái Học, Trần Huy Liệu Đó là nguồn tài liệu lịch sử quý của Lan Khai về một thời kì đấu tranh chống thực dân cướp nước của lịch sử dân tộc đầu thế kỉ XX Sau khi ra tù, ông dồn tâm sức vào sáng tác văn chương, lí luận, phê bình, sưu tầm, dịch thuật và hội họa
Từ năm 1990 trở đi, trong hoạt động nghiên cứu nhiều cây bút đã cung cấp thêm những tư liệu về các nhà văn và tác phẩm trước 1945 Tiêu biểu là một số bài viết,
bài nghiên cứu về Lan Khai như: Đôi điều về nhà văn Lan Khai (Báo Văn Nghệ cuối
tuần tháng 8/1990) của tác giả Gia Dũng đã cho thấy nhiều chi tiết quan trọng, mới
mẻ về Lan Khai qua tìm hiểu những người thân của nhà văn thời tiền chiến Cùng
thời gian trên, trong bài viết Hành hương về thủ đô kháng chiến (1990) của Hoàng
Minh Tường đã bổ sung thêm những tư liệu tin cậy về Lan Khai
Sau đó, nhiều bài viết, hồi kí về Lan Khai cũng được công bố Công trình Đốt lò
hương cũ (1992) (Nxb Khánh Hòa) của Ngọc Giao có bài: Lan Khai với chuyện lạ đường rừng và Chơi sách (1996) đã đề cao tài năng sáng tạo và phẩm chất nghệ sĩ của Lan Khai
cũng như cái chết oan khuất của ông Nhà văn Ngọc Giao đã nhấn mạnh cá tính, sở trường và tinh thần dân tộc của Lan Khai thể hiện qua nhiều tác phẩm
Công trình Văn thi sĩ tiền chiến (Nxb Hà Nội, tái bản 1994) của Nguyễn Vĩ với hai bài viết: Lan Khai và Cái hột mận của Lan Khai đã cung cấp những thông tin
mới, hữu ích về đời tư và cá tính sáng tạo của Lan Khai Tác giả bài viết thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về Lan Khai và khẳng định TTLS là sở trường sáng tác của ông
Trong từ điển Tác gia văn hóa Việt Nam và Từ điển nhân vật lịch sử (1996,
Nhiều tác giả) cũng công bố những tư liệu về thân thế và văn nghiệp của Lan Khai, đồng thời có đề cập tới một số TTLS của ông nhưng còn rất sơ lược
Đặc biệt, từ năm 2000 trở đi các công trình nghiên cứu về Lan Khai của tác giả
Trần Mạnh Tiến như: Lan Khai - Tác phẩm nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học (2002), Lan Khai - Truyện đường rừng (2004) viết chung với Nguyễn Thanh Trường;
Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc (2006); Lan Khai tuyển tập (2 tập, 2010); Lan Khai - Tuyển truyện ngắn (2011) và Lan Khai - Ký (2015); Lan Khai – Truyện cổ và thơ ca dân gian (2016) Người viết đã sưu tầm, nghiên cứu và đáng gía tòa bộ những
thành tựu sáng tác, lí luận phê bình, sưu tầm dịch thuật trong cuộc đời lao động nghệ thuật của Lan Khai Đồng thời, tác giả Trần Mạnh Tiến đã làm sáng tỏ cuộc đời hoạt
Trang 39động cách mạng và hoạt động văn học của Lan Khai bằng các tư liệu lịch sử từ gia đình, quê hương nhà văn, các nhân chứng cùng thời với Lan Khai và các bậc lão thành cách mạng tiền bối hiểu biết về Lan Khai Đây là nguồn tư liệu đã được kiểm chứng
và tin cậy giúp chúng tôi nghiên cứu toàn diện và hệ thống sự nghiệp cách mạng và những đóng góp của Lan Khai cho nền văn học dân tộc những năm đầu thế kỉ XX
Trong đó đáng chú ý nhất là phóng sự của tác giả Trần Mạnh Tiến nhan đề Cuộc gặp
với Thiếu tướng Hoàng Mai ngày 10/5/2003 đăng trên báo Văn Nghệ ngày 15/4/2006
đã nêu rõ ý kiến của Thiếu tướng Hoàng Mai sự thật về cái chết của Lan Khai Tiếp
theo đó là bài “Sáu mươi năm chúng tôi đi tìm cha” (Văn nghệ 22/4/2006) của Lan
Phương, đã nhắc lại ý kiến của Thiếu tướng Hoàng Mai: “Lịch sử không bao giờ lầm lẫn, nhà văn Lan Khai là người có công với nước” [147; tr 7] Điều đó đã làm sáng
rõ các ý kiến sai lầm, phiến diện, vô căn cứ của một số cây bút phê bình văn học ở miền Bắc như Hồng Chương, Nguyễn Đức Đàn, Trần Văn Giáp, Phan Cự Đệ từ
1965 đến trước 1990 khi nhận xét về tác giả Lan Khai Đặc biệt trong lời khai mạc
“Lễ Kỷ niệm 100 năm sinh Lan Khai” (26/7/2006) nhà thơ Hữu Thỉnh đã khảng định:
“Lan Khai là một trong những nhà văn trưởng thành rất sớm về ý thức xã hội và lí tưởng nghệ thuật Cuộc đời và sự nghiệp của Lan Khai thật trong sáng và cao đẹp Đáng lẽ ông phải được nghiên cứu, đánh giá công bằng trong văn học sử như là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại, một người có công với cách mạng” [147; tr 30-31] Đó là nhận định khách quan về tài năng và vị trí của nhà văn Lan Khai trong lịch sử văn học dân tộc
Tiếp theo phải kể đến cuốn sách nhan đề Thao thức (2009; Nxb Lao động) của
cụ Minh Mị, người bạn thân thiết của Lan Khai qua bài viết Với Lan Khai đã hồi ức
lại những kỉ niệm thời tiền chiến ở Hà Thành với nhà văn: Khi Lan Khai còn là sinh viên Trường Bưởi ông đã tham gia vào phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên thời đó Vì tham gia đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh nên Lan Khai đã bị nhà cầm quyền Pháp bắt giam và buộc thôi học Cuốn sách còn nói tới tình bạn thắm thiết giữa Lan Khai và nhà thơ Trần Huyền Trân, nhà văn Trần Huy Liệu và cái chết oan khuất của ông Qua đó cho thấy Lan Khai là một trí thức yêu nước, một nhà văn tài năng đã sớm tham gia vào công cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc Bài viết Cha tôi - nhà văn Lan Khai của Lan Phương, con trai của cố nhà văn đăng trên Tapchisonghuong.com.vn cũng là những tư liệu quý để chúng tôi tìm
hiểu con người, cá tính của nhà văn Trên trang báo điện tử www.tinmoi.vn cũng
đăng bài Cuộc đời khốn khó của nhà văn Lan Khai của tác giả Đơn Thương, ghi chép
chân thực về cuộc đời Lan Khai Bài viết cung cấp thêm một tư liệu để độc giả hiểu
sâu sắc những trăn trở của ông về số phận con người Gần đây nhất trên Tạp chí Quốc
tế (ISSN 24103918) của Áo (trang 2 tập 5 tháng 7/2019) của Học viện Kinh doanh, Hành chính, Luật và Khoa học xã hội châu Âu đã đăng bài viết: Lan Khai - Người
mở đường vào thế giới sơn lâm của nền văn học Việt Nam hiện đại của Trần Mạnh
Tiến đã đề cập tới tiểu thuyết và truyện ngắn đường rừng của Lan Khai, cho thấy tên
Trang 40tuổi Lan Khai đã đến với bạn bè quốc tế
Những năm gần đây, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lan Khai đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, lý luận trên cả nước Đặc biệt, sau khi sự thực về cái chết của Lan Khai được sáng tỏ, thân thế và sự nghiệp của ông càng nhận được sự quan tâm sâu sắc của độc giả Đã có nhiều luận văn Cao học
ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam đề cao, trân trọng tài năng và đóng góp của Lan Khai cho nền văn học cũng như đã khẳng định những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác nói chung và TTLS của Lan Khai nói riêng nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống
1.3.2 Về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai
1.3.2.1 Trước năm 1945
Bên cạnh sự thành công ở các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết tâm lí
xã hội, truyện đường rừng, TTLS của Lan Khai cũng được các học giả nổi tiếng đương thời như: Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan quan tâm và đánh giá cao Các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến những nhân tố đột phá của Lan Khai
Trên báo Loa trong mục Văn học Việt Nam hiện đại có bài Lan Khai và tiểu thuyết
lịch sử (Số 82, Thứ Năm, 12/1935), Trương Tửu đã dự báo chính xác về Lan Khai
“có thể trở nên một nhà TTLS có tài”: “Rừng rú và lịch sử là hai thế giới mà ông Lan Khai là người thứ nhất đem vào tiểu thuyết hiện đại, có lương tâm và nghệ thuật” [142; tr 35] Nhận xét về ngôn ngữ tiểu thuyết của Lan Khai, Trương Tửu viết: “Ông lại làm giàu văn tự Việt Nam bằng nhiều thổ ngữ lạ lùng mà cuốn từ điển tương lai không có quyền bỏ sót” [142; tr 35] Tuy nhiên Trương Tửu không đồng tình với cách miêu tả nhân vật của Lan Khai: “Ông cho những người ở thế kỷ trước sống những tình cảm và tư tưởng chỉ riêng có ở thế kỷ XX” Cũng với cách nhìn truyền thống, Trương Tửu không tán thành với bút pháp hư cấu của Lan Khai khi xây dựng nhân vật khác với nguyên mẫu lịch sử Đây thực chất là ý thức đổi mới thể loại của Lan Khai bởi đương thời ông là nhà văn đã phê phán lối viết sáo mòn hay sao chép của cổ nhân; khẳng định cá tính sáng tạo và những nỗ lực đổi mới trong sáng tác của nhà văn về mọi mặt
Trong cuốn sách Dưới mắt tôi (1939) qua phê bình 5 tiểu thuyết Gái thời loạn,
Chiếc ngai vàng, Chế Bồng Nga, Ai lên phố Cát, Cái hột mận của Lan Khai, tác giả
Trương Chính đánh giá khách quan những thành công trong TTLS của Lan Khai nhưng ông cũng thể hiện sự chưa đồng tình với cách xây dựng nhân vật không theo
“nguyên mẫu lịch sử” của Lan Khai Qua những ý kiến trên đã cho thấy sự đổi mới táo bạo của Lan Khai trong việc xây dựng nhân vật đã vượt thoát những lối mòn
truyền thống Đúng như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại
(1942) đã nhận xét: “Lan Khai là một cây bút luôn gắng tìm đường mới”
Cũng trong Nhà văn hiện đại, mục Lan Khai (tập IV quyển thượng, 1942), Vũ
Ngọc Phan tán thành với Trương Tửu khi cho rằng: “Ngôn ngữ và cử chỉ của một số
nhân vật chưa hợp với thời đại” Vũ Ngọc Phan đã nhận xét về tác phẩm Ai lên phố
Cát của Lan Khai như sau: “Trong một quyển lịch sử tiểu thuyết, việc không cần