1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Gras

97 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐỐ QUỐC ĐÔNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI VÀ TRONG TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC CỦA GUNTER GRASS Chuyên ngành: L

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỐ QUỐC ĐÔNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

THIÊN SỨ CỦA PHẠM THỊ HOÀI VÀ TRONG

TIỂU THUYẾT CÁI TRỐNG THIẾC

CỦA GUNTER GRASS

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHÙNG GIA THẾ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Phùng Gia Thế, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, động viên

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Cảm ơn quý thầy, cô Khoa Ngữ văn, Phòng sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn những đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian theo học khóa thạc sỹ tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Đố Quốc Đông

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu

không đúng như trên, tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Đố Quốc Đông

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của luận văn 6

8 Bố cục của luận văn 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG THIÊN SỨ VÀ TRONG CÁI TRỐNG THIẾC 7

1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật 7

1.1.1 Khái niệm nhân vật 7

1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật 8

1.2 Những nét tương đồng và khác biệt về thế giới nhân vật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 9

1.2.1 Nhân vật kỳ ảo 9

1.2.2 Nhân vật bi kịch 20

1.2.3 Nhân vật nắm giữ lòng tin 24

1.2.4 Nhân vật đám đông 28

Chương 2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬTTRONG THIÊN SỨ VÀ TRONG CÁI TRỐNG THIẾC 32

2.1 Không gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 32

2.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 33

Trang 5

2.1.2.1 Không gian hiện thực 37

2.1.2.2 Không gian kỳ ảo 44

2.2 Thời gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 49

2.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 49

2.2.2 Những nét tương đồng và khác biệt về thời gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 52

2.2.2.1 Thời gian hiện thực 52

2.2.2.2 Thời gian kỳ ảo 54

Chương 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRONG THIÊN SỨ VÀ TRONG CÁI TRỐNG THIẾC 60

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 60

3.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 60

3.1.2 Những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ người kể chuyện trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 61

3.2 Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 71

3.2.1 Khái niệm giọng điệu nghệ thuật 71

3.2.2 Những nét tương đồng và khác biệt về giọng điệu nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc 73

3.2.2.1 Giọng giễu nhại, hài hước 73

3.2.2.2 Giọng thương cảm, xót xa; suồng sã, tự nhiên và giọng vô âm sắc với lối viết ở “độ không” 79

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1 Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể toàn vẹn sinh động được thiết tạo bởi những nguyên tắc tư tưởng và chịu sự tác động, chi phối của quan niệm nghệ thuật của nhà văn Là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, thế giới nghệ thuật có cấu trúc và quy luật nội tại riêng, mang đậm dấu ấn phong cách và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Nhà văn sáng tạo tác phẩm xét đến cùng là tái tạo lại thế giới hiện thực một cách nghệ thuật, đặt nó trong một mô hình không gian thời gian nghệ thuật riêng và một hình thức ngôn ngữ tương ứng Cho nên, có thể nói thế giới nghệ thuật bộc lộ cái nhìn trong đó chứa đựng

toàn bộ nhân sinh quan của nhà văn về con người và cuộc đời

Tìm hiểu thế giới nghệ thuật, vì thế, một mặt giúp chúng ta nhận diện được phong cách nhà văn; một mặt khác, là con đường khả dĩ bậc nhất để đi vào khám phá những giá trị tư tưởng - thẩm mĩ của tác phẩm văn học

2 Hiện nay, văn học so sánh là một bộ môn có vị trí quan trọng trong ngành nghiên cứu văn học Trước đây, văn học so sánh còn chưa có một vị thế xứng đáng nhưng trong một vài năm trở lại đây, văn học so sánh đã được đưa vào giảng dạy trong các trường Cao đẳng và Đại học Nó đã mở ra một hướng tìm tòi mới và hấp dẫn hàng ngàn sinh viên Văn học so sánh vì thế đã chính thức đặt chân vào ngành nghiên cứu văn học và đang đòi hỏi sự quan tâm nhiều mặt, nhiều chiều của các nhà chuyên môn và những người yêu thích văn học

Việc giới thiệu văn học so sánh đã được thực hiện bằng một số chuyên luận và bài viết song chủ yếu mới chỉ dừng lại ở bình diện lí thuyết mà chưa thực sự đi sâu nghiên cứu lịch sử văn học Do đó, việc thực hiện đề tài này của chúng tôi có một ý nghĩa thực tiễn thiết thực

Trang 7

3 Phạm Thị Hoài và Gunter Grass là hai cây bút tiểu thuyết nổi tiếng

của hai nền văn học Việt Nam và Đức Thiên sứ của Phạm Thị Hoài ra đời

vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX và được đánh giá là một tác phẩm nổi bật của văn học Việt Nam, thể hiện những cách tân mới mẻ trong tiến trình

tiểu thuyết đương đại Trong khi đó, Cái trống thiếc của Gunter Grass (Nobel

văn chương 1999) là một tác phẩm xuất sắc, được xem như “điểm mốc phục sinh nền văn học Đức khỏi cơn mụ mị thời hậu chiến”

Việc so sánh thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm gây tiếng vang của hai nhà văn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu những nét tương đồng

và khác biệt về tư tưởng cũng như về thi pháp nghệ thuật trong sáng tác của

họ, đồng thời thấy được những tiếp thu và sáng tạo của Phạm Thị Hoài đối với nền văn học Đức nói chung và đối với Gunter Grass nói riêng

Với những lí do cụ thể nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài

“Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết “Thiên sứ” của Phạm Thị Hoài và trong tiểu thuyết “Cái trống thiếc” của Gunter Grass” làm nội dung nghiên

cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và Cái trống thiếc của Gunter Grass là hai

tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu cho hai nền văn học, văn hóa khác nhau Việc nghiên cứu cá lẻ hai tiểu thuyết này đã được các nhà nghiên cứu, phê bình thực hiện trên nhiều khía cạnh, bình diện Tiêu biểu trong số đó, chẳng hạn như vấn đề yếu tố huyền thoại, dấu ấn phi lí, yếu tố nhân vật…

Khảo sát các thực tiễn, có thể thấy, cho đến nay, các công trình nghiên

cứu về Cái trống thiếc cũng như tác giả Gunter Grass ở Việt Nam mới chỉ

mang tính chất giới thiệu, rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu Nhà báo Linh Phong trong bài “Tiểu thuyết tái hiện gương mặt bị quên lãng của lịch sử”, sau phần giới thiệu về cốt truyện đã nhấn mạnh: Không chỉ tạo dấu ấn

Trang 8

mạnh mẽ về cốt truyện, nhân vật, nhà văn Gunter Grass còn thể hiện một tài

năng văn chương đặc biệt qua tiểu thuyết đầu tay, Cái trống thiếc Với lối kể

truyện vừa mang tính tả thực, với ngồn ngộn những lớp sự kiện, biến động, được kết hợp nhuần nhuyễn với lối tư duy huyền ảo, kỳ bí, tạo nên tính chất

bí ẩn lôi cuốn cho tác phẩm” [43]

Trong Lời giới thiệu về Cái trống thiếc, dịch giả Dương Tường đánh giá rất cao tác phẩm khi ông cho rằng: "Điểm mạnh của Cái trống thiếc theo tôi

là ở tính hòa sắc kỳ ảo trong văn chương với nhiều yếu tố bất ngờ Với giới cầm bút nước ta, đây là một gợi ý rất lớn cho việc tiếp cận, mổ xẻ và chuyển hóa hiện thực Tuy nhiên, với bạn đọc Việt Nam, tôi e sách sẽ bị coi là hơi khó đọc, nhưng nếu đọc được, chắc chắn các bạn sẽ thích" [11]

Tác giả Bá Vũ trong bài giới thiệu về bộ phim chuyển thể từ Cái trống

thiếc đã có những nhận xét sơ bộ về giá trị và vị trí quan trọng của tác phẩm

khi cho rằng “The Tin Drum là cuốn tiểu thuyết được biết đến nhiều nhất trong nền văn chương hậu chiến của Đức, và được đánh giá như lần khai sinh thứ hai cho thể loại tiểu thuyết Ðức đương đại thế kỷ 20” [50]

Trên tờ Thể thao & Văn hóa, tác giả Tường Linh khi nói về sự nghiệp

lừng lẫy của Gunter Grass đã nhấn mạnh: “Tiểu thuyết Cái trống thiếc

(1959), một tác phẩm pha trộn nhiều yếu tố tưởng tượng, gia đình, triết lý và ngụ ngôn chính trị, đã ra đời tại Paris Do động tới nhiều vấn đề vẫn bị xem là cấm kỵ vào thời hậu chiến, sách đã gây phẫn nộ lớn trong xã hội Tây Đức, khi

ấy vẫn còn rất bảo thủ Tuy nhiên sách lại trở thành hiện tượng trên quy mô toàn cầu” [27]

Trong số các công trình nghiên cứu về Cái trống thiếc của Gunter Grass,

tiêu biểu phải kể đến là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền Trang với

nhan đề “Huyền thoại trong Cái trống thiếc của Gunter Grass”, được bảo vệ

tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội năm 2012

Trang 9

Luận văn của Nguyễn Thị Huyền Trang tập trung phân tích các yếu tố

huyền thoại trong tiểu thuyết Cái trống thiếc như: biểu tượng, mô típ, huyền

thoại hóa trong xây dựng nhân vật Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu một số đặc điểm của thi pháp huyền thoại hóa như: sự lặp lại, không gian độc thoại nội tâm, kỹ thuật dòng ý thức, những ẩn dụ và chất hài hước đen trong tiểu

thuyết Cái trống thiếc

Về Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, có thể kể đến một số bài phân tích tiểu

thuyết trên các bình diện khác nhau Nhiều nhà phê bình đã đánh giá sự xuất

hiện của Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là một bước tiến của tiểu thuyết Việt

Nam trên tiến trình hội nhập với tiểu thuyết thế giới

Tiêu biểu trong số đó chẳng hạn như Thụy Khuê trong bài Phạm Thị

Hoài, Thiên sứ [24], Lã Nguyên với bài “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu

hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và

Phạm Thị Hoài [37], Nguyễn Thị Bình trong Văn xuôi Việt Nam sau 1975,

những đổi mới căn bản (Nxb Giáo dục, 2007), Mai Hải Oanh trong Những

cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Nxb Hội nhà văn, 2009) [38]

Qua khảo sát sơ bộ lịch sử vấn đề, có thể nhận thấy, việc phân tích đơn

lẻ các tiểu thuyết của hai nhà văn đã thu hút sự chú ý nhiều các nhà nghiên

cứu Tuy nhiên, việc so sánh thế giới nghệ thuật trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và trong Cái trống thiếc của Gunter Grass để tìm ra những tương đồng

và khác biệt giữa hai nhà văn vẫn còn là một vấn đề còn bỏ ngỏ, đòi hỏi sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn vận dụng những kiến thức lí luận về thế giới nghệ thuật, tiếp

cận, khám phá thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài trong đối sánh với tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass nhằm

Trang 10

chỉ ra những tương đồng, khác biệt, mặt tiếp thu và sáng tạo của Phạm Thị Hoài so với tác gia nổi tiếng của văn học Đức thế kỉ XX

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lí thuyết văn học so sánh và thi pháp học, luận văn tiến hành nghiên cứu đối sánh một cách có hệ thống những biểu hiện đặc sắc của

thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass Qua đó, khẳng định tài năng và

những đóng góp của hai nhà văn nổi tiếng của Việt Nam và Đức

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và trong tiểu thuyết Cái trống thiếc của Gunter Grass

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thiên sứ, tiểu thuyết của Phạm Thị Hoài, Tạp chí Tác phẩm mới, 1988

- Cái trống thiếc, tiểu thuyết của Gunter Grass, Nxb Hội nhà văn, Hà

Nội, 2002

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi phối hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu văn học chính sau:

Trang 11

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Phân tích những nét tương đồng và khác biệt trong thế giới nghệ

thuật của tiểu thuyết Thiên sứ và Cái trống thiếc

7.2 Khẳng định những mặt tiếp thu, kế thừa và mặt sáng tạo của Phạm Thị Hoài so với Gunter Grass; qua đó khẳng định tài năng, những đóng góp của nữ nhà văn trong tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Thế giới nhân vật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc Chương 2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc

Chương 3 Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT

TRONG THIÊN SỨ VÀ TRONG CÁI TRỐNG THIẾC

1.1 Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật văn học là “Con người cụ thể

được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha) ( ) có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ con người cụ thể nào cả Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người” [12, tr.202]

Trong cuốn Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, nhân vật văn học được xác định là: “một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không

phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, đặc điểm, tính cách và cần lưu ý thêm một điều: Thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không chỉ là những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người” [10, tr.102]

Mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu lí luận văn học đều có cách định nghĩa

khác nhau về nhân vật văn học, nhưng nhìn chung, ở họ vẫn có sự thống nhất

ở một số điểm như: Nhân vật văn học là một hiện tượng thẩm mĩ có tính ước

lệ, hiện ra trong tác phẩm vô cùng sinh động, phong phú và đa dạng Có khi

Trang 13

đó là hình tượng con người, nhưng cũng có khi là cả nhân vật “phi người” như nhân vật thần trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, hoặc là con vật trong truyện ngụ ngôn, thậm chí là đồ vật như trong tiểu thuyết phương Tây hiện đại Những “dạng thức đặc biệt” của nhân vật phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm thẩm mĩ, quan điểm tư tưởng cũng như thấm đẫm truyền thống văn hóa, bối cảnh thời đại mà nhân vật được sản sinh ra Nhân vật văn học là con

đẻ tinh thần của nhà văn, luôn gắn liền với nghệ sĩ sáng tạo ra nó Và dù xuất hiện trong tác phẩm dưới bất kì hình thức nào thì nhân vật cũng đều là phương tiện giúp nhà văn thể hiện quan niệm thẩm mĩ về cuộc đời Đồng thời, nhân vật cũng là phương tiện giúp độc giả thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm

1.1.2 Khái niệm thế giới nhân vật

Thế giới nhân vật là một tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới

ấy mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ chức và sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ Nằm trong thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học, trong sáng tác nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc riêng, có qui luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lí, không gian, thời gian, gắn liền với một quan niệm nhất định về chúng của tác giả Thế giới nhân vật là sự cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ,

ý nghĩ, tư tưởng của nhân vật trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu với xã hội, với gia đình Thế giới nhân vật vì thế bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật Con người trong văn học vì thế vừa giống với con người ngoài đời sống thực tại, vừa có ý nghĩa khái quát, tượng trưng

Trang 14

Trong thế giới nhân vật, người ta có thể phân chia thành các kiểu loại nhân vật nhỏ hơn (nhóm nhân vật) dựa vào căn cứ và tiêu chí nhất định Trong lịch sử văn học, mỗi tác gia văn học có thế giới nhân vật riêng, mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với qui luật riêng của nó

1.2 Những nét tương đồng và khác biệt về thế giới nhân vật trong Thiên

sứ và trong Cái trống thiếc

Trong Cái trống thiếc tồn tại một thế giới nhân vật đa dạng song ám ảnh

người đọc nhất vẫn là nhân vật kỳ ảo Có thể xem đó là ý đồ nghệ thuật của tác giả

Có thể nói, ở Việt Nam, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài đã xây dựng thành

công loại nhân vật kì ảo, dị biệt Đó là kết quả của quan niệm về hiện thực đa chiều, của một xã hội đảo lộn mọi giá trị, nơi con người phải gánh chịu những

“chấn thương” tinh thần từ bên trong

Kiểu nhân vật kỳ ảo này đóng vai trò quan trọng trong việc gắn liền cốt truyện và chủ đề tác phẩm, dẫn dắt độc giả vào những môi trường khác nhau

Trang 15

của đời sống Ở đó, loại nhân vật kỳ ảo thể hiện qua những nhân hình dị dạng khác người, nhân vật kỳ dị gắn với những điều kỳ dị Nói đến nhân vật kỳ ảo tiêu biểu phải kể đến một số nhân vật như:

Oskar tên đầy đủ là Oskar Matzerath – nhân vật chính của tác phẩm gã lùn dị dạng, là một cậu bé thông minh và có trí tuệ sắc sảo, sinh vào tháng 9 năm 1924 dưới cung Xử Nữ Mẹ Oskar- bà Anges là chủ một cửa hàng tạp hóa và Matzerath- bố của Oskar lúc bấy giờ là một chân đại diện cho một hãng văn phòng phẩm lớn ở Rhine Ngay từ lúc ra đời, không giống với bất

cứ một đứa trẻ nào khác, cậu bé Oskar rất thính tai và dường như đã hoàn chỉnh tâm lí, Oskar nghe thấy những lời nói, những dự định của bố và mẹ cho cậu khi cậu trưởng thành Cậu bé ngay từ đầu đã chối bỏ ước mơ trở thành một nhà kinh doanh của ông bố mà cảm thấy hào hứng và chờ đợi một món

quà vào sinh nhật lần thứ 3 của cậu: một Cái trống thiếc

Và thế, Oskar đã quyết định thôi lớn ở tuổi thứ 3 và gắn bó với Cái trống

thiếc sơn đỏ - trắng Bằng cách khéo léo dựng lên một vụ tai nạn trong căn

hầm mà ông bố Matzerath quên không đóng cửa, Oskar đã đủ bằng cớ giải thích cho sự thôi không lớn nữa của mình: cậu bé tự ngã từ bậc thang thứ 9 xuống dưới tầng hầm kéo theo cả một cái giá đầy những chai xiro phúc bồn tử

và ngã sõng xoài trên sàn xi-măng của căn hầm kho “Ngay trước khi bất tỉnh, tôi còn kịp nhận thấy thành công mĩ mãn của cuộc thử nghiệm: những chai xiro phúc bồn tử mà tôi cố tình kéo theo trong cú ngã va nhau loảng xoảng” [11, tr.102]

Vậy là mãi mãi dừng lại ở chiều cao 94cm, Oskar đã lia con mắt nhìn cuộc đời dưới bề ngoài của một đứa trẻ lên 3, nhưng với sự già dặn và trí tuệ của một người trưởng thành, làm nảy ra từ cái trống đồ chơi con nít một thế giới nhố nhăng, kệch cỡm và bí hiểm, một nhân loại bất túc với thân phận ê chề vùi lấp dưới những đổ nát của lịch sử

Trang 16

Cũng như Oskar, cô bé Hoài trong Thiên sứ cũng quyết định thôi không

lớn nữa ở tuổi 14 Trong tâm hồn là cách nghĩ của một người đàn bà hai mươi chín tuổi nhưng Hoài nhất quyết không chịu lớn, ẩn trong hình hài của một cô

bé vẫn cứ mãi như một đứa trẻ Không dựng nên hiện trường của một vụ tai nạn như Oskar, Hoài cứ thế lặng lẽ chối bỏ thế giới người lớn, chối bỏ sự phát triển của bản thân để giữ lại cơ thể còm nhom “một mét hai nhăm phân, đuôi sam” Đó là một biến cố lớn trong đời cô bé Hoài: “Tôi lặng lẽ vào phòng tắm công cộng, đổ đầy nước chiếc chậu đường kính 60 phân, ngồi lọt trong chậu như thưở bé thường thế, và lập tức cảm giác bình yên dâng lên trong bóng tối

mờ mờ không cửa sổ; chiếc chậu nhựa vốn ngày càng nhỏ theo mỗi lần sinh nhật tôi bỗng nguyên vẹn là một hồ nước mênh mông trong kí ức 3 tuổi không chút âu lo Tôi thu cằm giữa hai đầu gối, sung sướng thấy mình còn yên ổn trong bụng mẹ, và thiếp vào giấc ngủ đẫm lời vòi nước hát ru Giấc ngủ bào thai Tôi không muốn trở thành người lớn” [19, tr.98] Hoài mãi dừng lại ở một mét hai mươi nhăm chiều dài sinh học Từ đôi mắt của một đứa trẻ 14 tuổi, một thế giới người lớn đầy phức tạp và hỗn độn hiện lên thật sắc nét

Vậy là cả hai nhân vật đều quyết định chối bỏ thế giới người lớn, quyết định chối bỏ tấm đồng phục của loài người để sống theo cách của mình Hoài quyết định “Tôi từ chối không đứng vào bất kì thế hệ nào Tôi từ chối bất kì

bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào Hãy để tôi trần truồng với cơ thể

còm nhom sớm đình tăng trưởng của tôi” [19, tr.101] Đối với Hoài, những

giá trị tinh thần may sẵn ấy là nguồn gốc nỗi bất hạnh của cả vài thế hệ, với

vô vàn những Paven Kocshaghin, Ruồi Trâu F1, F2, F3 đi đứng, nói năng,

sống, tư duy và yêu đúng theo khuôn mẫu Oskar trong Cái trống thiếc cũng

vậy, cậu bé cũng không chịu “phải thay đổi cỡ giày cũng như cỡ quần từ năm này sang năm khác để chứng tỏ có một cái gì đang lớn” [11, tr.98]

Theo “Triết luận về cái phi lí” của Anbe Camuy thì “Cuộc đời đã phi lí

Trang 17

thì con người phải tìm cách chiến thắng nó bằng cách sống hết mình trong sự thụ cảm cái phi lí ấy, bằng cách sống mà không cần hi vọng, hành động mà không cần định rõ động cơ và lường trước hậu quả… cái phi lí diễn ra giữa bao nhiêu sự việc vây bủa con người, cái phi lí lộ nguyên hình qua sự xung đột giữa cái dơ dáy của cuộc sống và sự mong muốn trong sạch bắt nguồn từ thưở ấu thơ” Và đúng như vậy, cả Oskar và Hoài đều đáp lại cái kì ảo bằng

sự nổi loạn của chính mình, bằng tự do và sự say mê của chính mình Sự nổi loạn ấy có ý nghĩa chống lại thế giới kì ảo, là sự nổi loạn của cá nhân có tính chất siêu hình và vô nguyên tắc, là sự thách thức cái kì ảo của đời người

họ, cho đến lúc kề miệng lỗ, vẫn băn khoăn hoài về sự phát triển” [11, tr.98] Oskar dường như đang khẳng định sự đình tăng trưởng về mặt sinh học không

có nghĩa kéo theo sự đình tăng trưởng về mặt tâm lí học Hơn ai hết, Oskar đang tự nhận mình đứng cao hơn mọi người, bao quát được mọi thứ đang diễn

ra, cái đẹp, cái xấu; cái thiện, cái ác; cái bền vững, cái phù phiếm trong xã hội

Trang 18

này Trong khi đó, những con người kia, dù có lớn khôn nhưng cuối cùng, cho tới cuối đời vẫn băn khoăn đi tìm lời giải đáp

Hoài cũng vậy, dường như lứa tuổi 14 vĩnh hằng của Hoài chỉ là lớp vỏ

để che chở, bảo vệ cho một cái gì đó sâu thẳm trong tâm hồn Hoài Đó là tầng sâu của những rung động thầm kín, của những khát khao, của những đòi hỏi

bị ghìm nén Một người đàn bà khao khát yêu thương và được yêu thương, khao khát cho và nhận bị ép chặt trong hình hài một cô bé mười bốn tuổi Một khuôn mặt trẻ con che chở cho một tâm hồn mang “cơn sốt núi lửa”, suốt mười lăm năm ròng làm “một nhân chứng câm lặng, thông tỏ quyết liệt, không bao giờ quay lưng lại cuộc đời” Bên trong lớp vỏ “Hoài” là rất nhiều cuộc sống khác nhau Em mang trọn gánh nặng của một “nỗi buồn kinh niên”, nỗi đau của “một con búp bê bé nhỏ, câm lặng”, biết trước tất cả, đoán trước được tất cả mà lại không thể thay đổi được điều gì, em – “đứa con út già trước tuổi gánh chịu tất cả những gì bố mẹ và anh chị nó chưa kịp hiểu”

Từ con mắt của những đứa trẻ, Oskar và Hoài đã làm nảy lên những thứ xấu xa, kệch cỡm từ cuộc sống xã hội đương thời Những con mắt ấy là những con mắt biết nhìn đời, hiểu đời và thấu đời, là con mắt nhìn “đã vươn tới tầm vóc Cứu thế”

Hiện thân của xã hội và văn hóa

Cái trống thiếc đã khắc họa một nước Đức thời kỳ hậu Thế chiến thứ hai

đầy đen tối Người xem cũng cảm nhận rõ mối liên hệ giữa chiếc trống đồ chơi của Oskar và những cuộc diễu hành phô trương của quân Phát xít, qua đó phơi bày tội ác của chiến tranh và những thủ đoạn chính trị vốn không hề mang lại cơm áo và hòa bình như chúng hứa hẹn Vẫn xoay quanh quyết định

“không lớn lên nữa” của cậu bé Oskar, Cái trống thiếc đã chuyển tải một thế

giới đen tối toàn những “người lớn” quá nhiều tham vọng và dục vọng Thật trớ trêu, lý do khiến một bé trai 3 tuổi hùng hồn tuyên bố sẽ không lớn thêm

Trang 19

nữa là bởi nó “quá kinh tởm thế giới của người lớn” Càng bi kịch hơn, khi Oskar vẫn tiếp tục trưởng thành trong thân xác của một đứa bé và phải chứng kiến sự trỗi dậy cho đến ngày tàn của phát xít Đức

Ngay từ khi đến tuổi đi học, Oskar đã chán ngấy sách vở và sự học Trường học đối với cậu chẳng có gì thú vị Sau đó, cậu được gửi tới học ở nhà người chủ hiệu bánh mì- cô Gretchen Scheffler Ở đây, Oskar đã tìm thấy cả một kho tàng sách: “Sách dù dở cũng vẫn là sách và thiêng liêng Những gì tôi tìm thấy ở đó chỉ có thể gọi là sách linh tinh, chắc hẳn phần lớn đến từ tủ sách của Theo anh trai cô” Và giữa sự lựa chọn không mấy thú vị ấy, Oskar

đã chọn cho mình hai cuốn sách: “Những ái tình chọn lọc” của Goethe và cuốn “Rasputin và đàn bà” của Rasputin Có thể nói, sự hòa hợp đầy mâu

thuẫn giữa hai tác giả, hai phong cách viết ấy đã có những ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời Oskar Oskar chao đảo giữa Rasputin và Goethe, giữa con người với tâm địa đen tối chuyên bỏ bùa cho đàn bà và bậc thi bá sáng láng thích để đàn bà bỏ bùa mình Thế nhưng, cuối cùng Oskar đã nghiêng về phía Rasputin Oskar say sưa với cuốn sách Rasputin tới mức cậu một mực không rời Rasputin, cứ khi nào cô Gretchen muốn đưa một cuốn sách khác thì cậu bé lại gào lên: “Rasputin, Rasputin”

Oskar đọc đều đặn và nhanh chóng, đến nỗi “Chỉ một năm sau, tôi có cảm giác như mình đang sống ở St Peterburg, trong những phòng riêng của

Sa hoàng, chúa tể của mọi nước Nga, phòng trẻ của Hoàng tử Nga thường xuyên đau yếu, giữa những giáo hoàng và những kẻ âm mưu, mục thị chứng kiến những cảnh truy hoan của Rasputin Câu chuyện hấp dẫn tôi và tôi sớm nhận ra đây là một gương mặt trung tâm Điều đó thật hiển nhiên bằng vào những tranh khắc đương đại rải rác từ đầu đến cuối sách, minh họa Rasputin râu rậm, mắt đen như than giữa những nàng tươi trẻ không mặc gì ngoài đôi tất đen” [11, tr.151]

Trang 20

Từ những gì Oskar cảm nhận được, thế giới người lớn trong mắt cậu cũng chẳng khác gì thế giới trong tiểu thuyết của Rasputin Đó là thế giới của đàn bà, của phụ nữ, của những cuộc tình chóng vánh, những cuộc truy hoan đầy hổ thẹn, những cuộc ngoại tình vụng trộm… Xã hội đương thời diễn ra trước mắt Oskar rõ mồn một như cậu đang lướt qua từng trang tiểu thuyết vậy

Cũng giống như Oskar, cô bé Hoài trong Thiên sứ sinh ra trong thời kỳ

đặc biệt, đó là xã hội Việt Nam vào những năm cuối của thế kỉ XX, đặc biệt

là từ sau 1986 Đây là thời kỳ đất nước ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn rất nhiều khó khăn và thử thách Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, con người bắt tay xây dựng một cuộc sống mới nhưng cũng dần thấy được bao nỗi đau mới trong thời bình Đó là sự cô đơn, tha hóa, cạn kiệt tình yêu thương, cạn kiệt cảm xúc trước cuộc sống thực dụng, chạy theo tiền tài, danh vọng Cô bé Hoài quyết định thôi không lớn nữa ở tuổi mười bốn, sau khi tự nhận thấy mình “vĩnh viễn không trinh trắng nữa” do sục vào “vườn cấm” tủ sách gia đình − tức là tình trạng văn hóa đương thời Có một cái gì tương đồng giữa cơ thể còm nhom chưa phát triển của Hoài khi ấy với trạng thái văn hóa chứa đựng trong tủ sách kia Ta được nghe những nhận xét của

cô bé Hoài về những cuốn sách “quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ”, tạo nên “bộ đồng phục tinh thần may sẵn”, hoặc những nhận xét của cô

về những “phong độ” tiếp nhận văn hóa: kẻ sưu tập hời hợt; kẻ khước từ như

“phản ứng có điều kiện”, do các “tín hiệu báo động thường xuyên” mang lại;

kẻ tiếp nhận theo lối “cái gì cũng say mê một chút”… Và trong số ít những người xem ra tiếp nhận thật sự thì cũng có những cung cách khác nhau

Hành vi dị thường “quyết định đình tăng trưởng” là một phản xạ nổi loạn kiểu cô bé Hoài “Tôi từ chối không đứng vào bất cứ thế hệ nào Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục quá chật hoặc quá rộng nào…” Đình tăng trưởng, không vội nhập vào thế giới người lớn, để khỏi bị khoác cho bộ đồng phục tinh thần

Trang 21

may sẵn chật chội hay những vốn liếng và khuôn khổ văn hóa được quy định sẵn? Ngừng lớn để quan sát thế giới người lớn, quan sát tình trạng văn hóa, tình trạng nhân cách hay để tự xác định, tự lựa chọn? Cuộc sống của Hoài là cuộc sống ở đô thị Việt Nam những năm cuối bảy mươi đầu tám mươi Đầu những năm 80 của thế kỉ XX nhưng còn gì kinh khủng hơn khi phải chứng kiến cảnh “hàng trăm tín đồ cuồng nhiệt xếp hàng trẩy hội tới chiếc vòi nước duy nhất” hay khi hiện tượng số đề trở thành “một trong ba thông tin xã hội hấp dẫn và phổ biến nhất.” Xã hội sẽ đi về đâu nếu như trong hành trang tinh thần của lớp thanh niên là những lời giảng kỳ dị: “Bơ là loại thịt, người ta đóng trong ống bơ” hay “những số báo Thiếu niên Tiền phong hai màu loè loẹt và ngớ ngẩn, một vài đầu truyện Kim Đồng do người lớn hạ cố viết cho

lũ trẻ, của bố thí hèn hạ”, “Những tủ sách khổng lồ, truyền từ đời cha ông, đến con cháu bỗng tan tác, chỉ còn thấy vài mảnh may mắn lạc vào một quán sách cũ nào đó, nếu không tập kết tại các gánh đồng nát hay hẩm hiu hơn, dưới đáy xoong nồi hoặc các nhà vệ sinh công cộng” [19, tr.103] Con người như người anh thứ hai của cô bé Hoài quên dần đi những đam mê, đánh mất dần xúc cảm, trở thành các công chức ngoan ngoãn, “sớm xách cặp lồng đi, tối xách cặp lồng về” những chiếc đinh ốc của một bộ máy già cỗi, hoen rỉ Đó chính là điều đáng sợ nhất Nỗi ám ảnh khôn nguôi của cô bé Hoài là giấc mơ

về những kẻ không có mặt, chính xác hơn là những kẻ bị chiếc giẻ lau cuộc sống tước bỏ toàn bộ những gì làm nên bộ mặt đặc trưng của một con người Hoài đã chọn cho mình một cuốn sách trong khu “vườn cấm” của ba, đó

là cuốn “Nhãn đầu mùa”, quyển sách đã dẫn cuộc đời Hoài sang một lối ngoặt Cuốn sách không quá dày, không quá mỏng, Hoài cũng không nhớ rõ người ta kể chuyện gì trong đó, hình như là chuyện chiến tranh, có súng ống

và người chết Điều duy nhất đọng lại trong tâm trí cô bé Hoài là mối tình của một cô du kích xinh đẹp và một anh bộ đội lực lưỡng Nhưng thử xem, Hoài

Trang 22

đã học được những gì, thấy được điều gì ở đó? Hoài đã một mực phủ định:

“Không, không phải chuyện mối tình Các chuyện cổ tích chẳng đầy rẫy những mối tình đó sao? Chúng chẳng gợi gì hơn một bài học luân lý, giản đơn

và không hiếm khi ngốc nghếch Tôi tiếp xúc với chuyện cổ tích bằng thái độ của người biết rồi phải nghe lại, không chút cảm xúc Mà thực ra tôi đã biết gì? Còn ở đây, tôi đã mê mải, đã nuốt nước bọt, đã hẫng vào một trạng thái chưa từng biết, toàn bộ nửa dưới cơ thể không hoạt động bình thường nữa, chơi vơi không trọng lượng, rồi rơi tõm vào một đáy sâu không sao định nghĩa nổi Một thân thể trắng ngần ngập ngừng hiện ra dưới ánh trăng vằng vặc, bộ quần áo du kích nâu non toạc rách, bàn tay mạnh mẽ của người đàn ông vụng về thèm khát một bầu ngực căng tròn run rẩy” [19, tr.99]

Hoài đã chọn một tác phẩm mà cô cũng phải thừa nhận là chỉ đáng giá

ba xu – làm chiếc chìa khóa đưa mình tới văn học Cái quan trọng không phải cuốn sách đã đem lại gì cho Hoài, cái quan trọng là nó đã đánh thức trong cô tình cảm nguyên thủy, bản năng, khẽ hé mở trước mắt cô cánh cửa bí mật mà tất cả mọi đứa trẻ đều ao ước được ghé đầu vào xem Cô tự chọn lấy cho mình một thang giá trị riêng, một thang giá trị chỉ có ý nghĩa với riêng cô: “Sau này, nhiều tác phẩm xuất sắc, bằng cách này cách khác đến tay tôi, nhưng không cuốn nào xóa nổi dấu ấn quyết định của “Nhãn đầu mùa” Có những kẻ may mắn, cánh cửa dẫn họ đến thế giới tri thức là loại cửa sơn son thếp vàng, được xếp hạng chính thức, mở vào một vùng ánh sáng soi tỏ những tượng đài

tề chỉnh, họ chỉ việc bước đi trong vùng ánh sáng ấy, dưới những tượng đài

ấy, rồi ở nơi nào đó, lại một cánh cửa sơn son thếp vàng khác chờ sẵn Cánh cửa của tôi sặc mùi da thịt nhớp nhúa, đằng sau nó là bóng tối tội lỗi và bí ẩn, nhưng quyến rũ biết bao, vô tận biết bao” [19, tr.100]

Sau cuốn sách ấy, Hoài còn đọc nhiều cuốn sách nữa nhưng dường như chúng chỉ như “một món độn chế biến vội vã cho những dạ dày văn hóa ăn

Trang 23

tạp” “Ruồi trâu” hay “Thép đã tôi thế đấy” đều không để lại ấn tượng trong

Hoài, không làm Hoài xúc động bởi chúng không phải một tác phẩm chân thực, chỉ như một dạng cổ tích viết tồi Những cuốn sách ấy gợi lên cảm giác

xa lạ Cái xã hội mà Hoài đang sống, cái thế giới của 400 ô vuông nâu xoay xoay như rubic đâu có chỗ cho những câu chuyện cổ tích Hoài cần một cuốn sách nào đó chân thực hơn kia, một cuốn sách nào phải gắn liền với cuộc sống của Hoài, phải chứa đựng những ý nghĩa nhất định đối với cuộc sống “ Phải,

ý nghĩa cuộc sống, chúng tôi cũng không ngừng băn khoăn về nó trong vòng luẩn quẩn 400 ô vuông nâu và một khuôn hình chữ nhật biến ảo, nhưng làm sao có thể đặt một câu hỏi choáng ngợp, thậm chí che lấp cả bản thân sự sống thế?” Cuối cùng, Hoài đã chọn ra cho mình một cuốn sách: chàng hiệp sĩ cô đơn Don Quichotte Đầu tiên, Hoài cũng bỏ qua và gạt chàng sang một bên, chàng hiệp sĩ cô đơn lạc lõng giữa những cuộc tìm kiếm bất tận của Hoài theo các mối tình, thật và không thật, gợi đê mê hay trơn chuội Nhưng rồi Hoài giật mình nhận ra giữa Hoài và chàng hiệp sĩ cô đơn ấy có nét tương đồng: chàng hiệp sĩ đang trong cuộc chiến đấu vô vọng và thơ mộng chẳng riêng chống lại những chiếc cối xay gió nổi tiếng cũng như những giấc mơ lặp đi lặp lại của Hoài Hoài lang thang đi tìm ý nghĩa của cuộc sống nhưng dường như đó chỉ là một giấc mơ, một cuộc chiến vô vọng không thể xảy ra ở đời

Sự hóa thân

Dấu ấn kì ảo cũng in đậm nét ở sự hóa thân của hai nhân vật chính Oskar và Hoài sau quá trình “thôi không lớn nữa” của mình đã quyết định lớn lên, hay nói cách khác làm một cuộc cách mạng trong tư tưởng, một cuộc hóa thân thực thụ Sự hóa thân này làm ta gợi nhớ đến những cuộc hóa thân trong các câu chuyện cổ tích: Tấm Cám, chàng Cóc, Thánh Gióng…

Oskar sau cái chết của ông bố Matzerath đã đi tới quyết định “chôn trống”:

Trang 24

“Tôi có nên hay không?” nữa mà “Cần phải thế” và ném cái trống vào một chỗ lớp đất phủ đã đủ dày để dìm bớt tiếng kêu Tôi cũng ném luôn cả cặp dùi xuống Chúng cắm vào lớp đất tơi Đó là cái trống từ thời kỳ Quét Bụi, cái cuối cùng trong số trống Bebra cho tôi” Quyết định chôn trống là một quyết định quan trọng đối với cậu bé Nó có nghĩa là Oskar quyết định từ

bỏ quá khứ, quyết định hòa mình vào cuộc sống người lớn, mặc dù thế giới người lớn trong mắt cậu đầy méo mó, xô lệch và dị kì Việc Oskar lớn lên những người bình thường không thấy được mà chỉ có anh chàng Leo Schhugger điên dại nhận ra Anh ta la lớn: “Chúa trời, Chúa trời Xem kìa, Người đang lớn, Người đang lớn lên”

Nếu một Oskar với chiều cao 94cm đại diện cho một nước Đức siết chặt thì việc Oskar quyết định lớn lên thể hiện cho một nước Đức đang phát triển, đang xóa bỏ mọi mặc cảm của chiến tranh để vươn mình hòa nhập cùng thế giới

Hoài trong Thiên sứ cũng có một quyết định như vậy Sự hóa thân của Hoài làm ta nhớ đến những lần hóa thân của Tấm trong truyện cổ tích Tấm

Cám hay những câu chuyện về nàng công chúa trong truyện cổ tích Andecxen Hoài từ ốc nhỏ 14 tuổi, trút bỏ hình hài chú vịt con xấu xí trở thành

một người đàn bà 29 tuổi đẹp lộng lẫy, giống chị Hằng như hai giọt nước Ban đầu, Hoài đã kiên quyết “không đứng vào bất cứ một hàng ngũ nào”, không chịu một bộ đồng phục chung đồng nhất, không chịu lớn lên để bảo tồn

sự trinh khiết trắng trong Thế nhưng, Hoài đã phải chịu nhượng bộ, bỏ cuộc giữa chừng Ở đoạn cuối tiểu thuyết, Hoài lớn bổng lên một cách kì lạ, mang

vẻ đẹp như chị Hằng Hoài ngỡ mình đã tìm thấy lẽ sống, tìm thấy hạnh phúc khi “giơ hai bàn tay nuột nà về phía chàng trai” - người mà Hoài đã chờ đợi suốt 15 năm ròng - một homo A chính hiệu: “Mang em đi nhé” Thế giới người lớn mà nhân vật nhận thức rõ về những mặt trái, thế giới mà Hoài đã

Trang 25

phủ nhận hoàn toàn, quay lưng hoàn toàn giờ đây lại là thế giới mà Hoài chọn

lựa Thiên sứ phải chịu nhượng bộ, tự đánh mất mình để tồn tại Cô bé Hoài

14 tuổi cũng như người đàn bà 29 tuổi kiêu sa cuối cùng vẫn rơi vào vòng xoáy của nỗi u buồn

1.2.2 Nhân vật bi kịch

Khái niệm nhân vật bi kịch được biết nhiều đến trong văn học Nhân vật rơi vào bi kịch thông thường do họ bị xô đẩy bởi hoàn cảnh khách quan và chủ quan Nguyên nhân của điều này, nói như Nguyễn Minh Châu là bởi

“cuộc sống trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy oan khiên, oan khuất Cái thiện cả tin và ngây thơ Cái ác sừng sững và lẫm liệt”

Nhân vật bi kịch trong tác phẩm nghệ thuật xuất phát từ hiện thực cuộc sống và được người nghệ sĩ tái tạo lại theo ý đồ nghệ thuật của mình “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không đơn giản là bản dập của những con người sống mà là những hình tượng khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” (Brecht) Thông qua loại nhân vật này, cuộc sống hiện ra sống động hơn, gần với hiện thực chứ không phải là thứ hiện thực được chưng cất hay lý tưởng hóa

Nhân vật bi kịch - những thiên sứ bị bỏ rơi

Bên cạnh việc xây dựng những nhân vật huyền thoại, những nhân vật dị hình, dị dạng- những thiên sứ phải nhượng bộ - hai tiểu thuyết còn khắc họa thành công những nhân vật bi kịch - những thiên sứ bị bỏ rơi Họ là hình ảnh của một xã hội nhố nhăng, kệch cỡm đương thời Họ đáng thương hay đáng trách? Nhưng có lẽ họ đáng thương nhiều hơn, bởi sống trong một xã hội như vậy, sự thay đổi, tha hóa ở bản tính con người cũng là điều dễ hiểu

Trong Cái trống thiếc của Gunter Grass, những con người sa đọa,

những thiên sứ bị bỏ rơi dường như đâu đâu ta cũng gặp, và dưới con mắt nhìn của Oskar, họ là hình ảnh của thế giới tiểu thuyết Rasputin: đầy dục vọng và phù phiếm

Trang 26

Đầu tiên phải kể đến Agnes - mẹ của Oskar Ngay từ cái tên “Agnes” đã nói lên một phần tính cách trong bà Agnes là tên viết ngược lại của từ

“Anges” (Thiên sứ) Nói tới Thiên sứ là nói tới vẻ đẹp thánh thiện, là sự cứu rỗi tâm hồn con người Thế nhưng, Thiên sứ ở đây dường như đang dần đánh mất chính mình - Thiên sứ đã bỏ rơi đôi cánh thiên thần

Agnes là một người sinh ra dưới chòm sao Nhân Sư, chính vì thế thói phù phiếm dường như là bản năng của người phụ nữ này: “Mẹ tôi ra đời dưới chòm sao Nhân Sư chiếu mệnh Tự tin, lãng mạn, kiêu kì và phù phiếm… Chòm sao Mặt Trời đối lập với sao Hải Vương, ngôi nhà thứ 7 đem lại sự hỗn độn” [11, tr.39] Và đúng như vậy, bà mẹ Agnes của Oskar là một người phù phiếm- nét tính cách kế thừa từ người bà Anna Koljaiczek: “Mẹ tôi, người vốn rất nhạy cảm với tất cả những gì hợp thời trang, nhạy cảm và đắt tiền” [11, tr.68] Ngay từ thời mới lớn, Agnes đã có tình cảm với người anh trai họ Jan Bronski- một công chức ở Sở Bưu chính Ba Lan Thế nhưng, sau đó bà lại nảy sinh tình cảm với Matzerath - một người mê nấu bếp trong khi bà làm y tá phụ ở bệnh viện Siberhammer Suốt những năm chung sống cùng Matzerath, dưới vẻ bề ngoài là một gia đình hạnh phúc Agnes vẫn âm thầm duy trì mối tình vụng trộm với Jan Bronski: “Những tấm hình chụp mẹ tôi với Jan Bronski… Không tấm nào phản ảnh cái giải pháp tối hậu, bất di bất dịch kia

rõ ràng như tấm hình ở ban công Đây một tấm chụp riêng mẹ tôi với Jan, tấm này thoảng mùi bi kịch, mùi hám tiền, mùi phấn khích đến độ phè phỡn, một

sự phè phỡn vì phấn khích” [11, tr.91] Đó chỉ là một trong số rất nhiều tấm ảnh của đôi tình nhân không hợp pháp Oskar đã thẳng thừng tuyên bố: “Tôi thích vẻ buồn tẻ được ghi lại trên ảnh ấy hơn là tấm hình chớp nhoáng “mô- ve-gu” của những năm sau, trong đó người ta thấy mẹ tôi ngồi trên lòng Jan ở trong rừng Oliva gần Freudental; vì tấm ảnh cuối này với tính chất tục tĩu của nó- bàn tay của Jan biến mất dưới váy mẹ tôi - chỉ nói lên nỗi đam mê cuồng

Trang 27

dại của cặp uyên ương bất hạnh này, chìm đắm trong ngoại tình ngay từ đầu cuộc hôn nhân của mẹ tôi” [11, tr.91] Họ gặp nhau bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu có thể Không những thế, họ còn đều đặn hẹn nhau mỗi tuần một lần vào

“Chiều thứ năm, 45 phút ở một phòng trọ trong ngõ Thợ Mộc” [11, tr.166] Việc duy trì mối quan hệ này đã làm Agnes phải cố hết sức mới có thể xưng hết tội tại Nhà thờ vào mỗi tuần Phạm tội rồi lại xưng tội, có lẽ Agnes cứ bị xoáy mãi vào vòng quay ấy không thể thoát ra được Nhưng xưng tội trước Chúa chưa đủ, Agnes dường như còn đứng trước tòa án của chính lương tâm mình Cái chết đến với Agnes như một lễ rửa tội vĩ đại nhất của cuộc đời bà Thiên sứ trong các câu chuyện cổ luôn được sự chào đón nồng hậu của cộng đồng, được ca tụng và ghi công Nhưng trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài, thiên sứ chính là những người không thể nhập cuộc theo cách này hay cách khác, không được chấp nhận và thấu hiểu Vì vậy, thân phận chung của thiên sứ là lạc lõng, bơ vơ Hằng và Hoài là cặp nhân vật sóng đôi trong tiểu thuyết này Phạm Thị Hoài xây dựng hai nhân vật là cặp song sinh càng gia tăng thêm sự so sánh Nếu như Hoài nổi bật với tính cách, tâm hồn thì Hằng gây ấn tượng với vẻ đẹp ngoại diện, vẻ đẹp choán ngợp tâm hồn, toát lên sự thánh thiện, trinh khiết: “Chị Hằng 29 tuổi, trước tôi chưa đầy một phút Mỗi lần từ phòng tắm bước ra, trông chị như nàng tiên cá” Vẻ đẹp ấy khiến nhân

vật Hoài đã không biết bao nhiêu lần thốt lên “Chị đẹp như tiên sa”

Sự hiện tồn của Hằng như một biểu trưng về hình tượng thiên sứ sa đoạ Hằng là một người luôn có khát khao yêu thương mãnh liệt: “Không, cuộc đời phải đi đến chỗ ta mong muốn” và ý thức được giá trị bản thân: “Ước sao đánh đổi sắc đẹp lấy một cái gì…” Thế nhưng, sau cái biến cố khiến người thiếu nữ trở thành phụ nữ, Hằng lúc đầu còn cảm thấy đau đớn, xót xa, nhục nhã Nhưng rồi vết thời gian cũng làm mờ đi tất cả, “ biến cố mất dâu Năm năm sau, trong những cuộc tranh luận sôi nổi của bạn bè về xu thế tình

Trang 28

dục hóa tình yêu ở thế hệ trẻ, chị chỉ cười phá lên, vô tư như một kẻ ngoại đạo” [19, tr.110] Hằng cứ sống như thế, buông thả theo cách sống của bản thân, dần mất đi ý niệm về một tình yêu, một cuộc sống hạnh phúc : “chị không quan hệ với người đàn ông nào quá 3 tháng mà tránh khỏi đụng chạm thân xác Cánh cửa với chiếc bản lề gãy từ biến cố dạo nọ không bao giờ còn khép được nữa Chị bàn chuyện làm tình như mama bàn chuyện đi chợ ăn tươi ngày chủ nhật” [19, tr.120]

Hằng trở thành một người “chưa biết theo đuổi điều gì đến cùng Chưa kịp học cách sống trọn vẹn đã rơi tõm vào thói quen nửa vời êm dịu Thảy đều lỡ dở, nửa chừng Không say mê cuồng nhiệt, cũng chẳng hận thù đến độ Bắt tay vào mọi việc, rồi buông trôi mọi việc với một cái tặc lưỡi ngon lành Khởi bao ý đồ, để rồi bỏ lửng Ghi nhận bao cảm giác để rồi mãi mãi mơ hồ

về chúng Dang dở, như một phong cách sống không thiếu phần hiện đại” [19, tr.153] Hằng sống không biết mình muốn gì, không đủ sức theo đuổi tới cùng một xúc cảm nội tại nào, buông thả và một hợp đồng cầu toàn, tối ưu, cái hợp đồng quy định vị trí mỗi tuần ngáp trộm một lần sau lưng ghế bọc nỉ và đầu

cơ huân chương nuôi béo một dấu chấm hết khổng lồ Hằng đã dấn thân vào cuộc hôn nhân không tình yêu, không cảm xúc, “tìm kiếm những đường vạch trùng khít, mớ hình tròn không kẽ hở” và trượt dài trong đó Đã có lúc nhân vật quay đầu trở lại, rời xa tổ ấm vô hồn của mình nhưng lại quay trở về, chấp nhận một cuộc sống không tình yêu, không hạnh phúc, chấp nhận từ bỏ những

mơ ước của bản thân, sống như một cỗ máy vô hồn, “chị không bao giờ còn phàn nàn về căn bệnh cuồng si lạ lùng ở người chồng và mỗi tuần một lần ngáp trộm Chị càng ngày càng đẹp khác thường và chẳng mấy chốc trở thành một nhân vật danh tiếng nhất trong mười nghìn bản mẫu xuất sắc nhất của xã hội” [19, tr.158] Thiên sứ không thể tự sống, phải chấp nhận sự sa đọa của mình để tồn tại

Trang 29

Con đường và nguyên nhân dẫn đến bi kịch của các nhân vật trong Cái

trống thiếc và Thiên sứ khác nhau nhưng họ đều có nét chung là khổ đau và

bất hạnh Miêu tả các nhân vật bi kịch, Gunter Grass và Phạm Thị Hoài không muốn dừng lại ở đó mà còn muốn lý giải đến chiều hướng con đường đời của các nhân vật Tác giả như muốn giãi bày nỗi niềm trăn trở: làm thế nào để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn? Bằng cách nào để người với người sống gần nhau hơn, con người sống đúng là mình trong tình yêu thương đồng loại và được hưởng niềm vui, hạnh phúc trong cuộc đời

1.2.3 Nhân vật nắm giữ lòng tin

Cuộc sống luôn cần niềm tin và lòng tốt Một trong những điều nguy hiểm nhất ở con người là đánh mất niềm tin nơi con người và cuộc sống, mất niềm tin nơi những giá trị đạo đức tốt đẹp Oskar và Hoài đều sống trong một

xã hội với sự lên ngôi của đồng tiền, với những thói tầm thường và phù phiếm cái xã hội mà Gunter Grass gọi là “thế kỷ mà bất luận mọi đau buồn và thống khổ, chắc chắn sẽ bị hậu thế coi là thế kỷ ít nước mắt nhất” - con người buộc phải nhượng bộ hay phải dần đánh mất bản thân mình Thế nhưng, cái đẹp chưa hẳn đã lụi tàn mà đâu đó vẫn còn nhen nhóm lên ánh sáng của niềm tin

và hi vọng

Đối với Oskar, gia đình, tình yêu, cái chết, tôn giáo… tất thảy đều là đối tượng báng bổ, vòi nọc châm chích, giễu cợt của gã quỷ lùn không từ cái gì, không tha cho ai, kể cả người mẹ tội nghiệp mà gã chỉ yêu vì bà thường xuyên mua trống cho gã, hai người cha giả định- Alfed Matzerath và Jan Bronski mà gã đều phản đối đưa đến cái chết Chỉ một vài gương mặt hiếm hoi được gã nhắc đến với ít nhiều tình cảm trìu mến: ông ngoại gã, kẻ tội đồ phòng hỏa bị truy nã Joseph Koljaicek, người Do Thái Sigismund Markus- chủ hiệu đồ chơi, nguồn cung cấp trống cho gã, anh chàng Herbert Truczinski với cái lưng đầy sẹo và nhất là người đàn bà trên cánh đồng khoai tây

Trang 30

Kashubes bà Anna Koljaicek- người mang lại cho gã niềm tin và sự che chở

Bà ngoại Anna là một người phụ nữ khỏe khoắn, đầy đặn, có thói phù phiếm dễ thương hòa hợp với tính đôn hậu tốt bụng Đặc biệt, hình ảnh đã in sâu vào tâm trí Oskar đó chính là hình ảnh chiếc váy bốn tầng Bà lúc nào cũng mặc “bốn chiếc váy chồng lên nhau, những cái váy ở tầm rộng quá mức của khổ vải Chúng khum tròn thành hình chuông, phồng lên và kêu phần phật khi gió thổi, xẹp xuống khi tắt gió và cả bốn cái xòe ra phía trước bà khi

bà đi xuôi gió… thường xuyên phồng lên hoặc rũ xuống, quấn quanh hay dựng đứng, cứng sững và trống rỗng” màu khoai tây Oskar trong những khoảnh khắc suy sụp thường tìm sự an ủi ở ba nơi: dưới gầm bàn, trong tủ áo

và đặc biệt là trong túp lều bốn tầng váy khăn khẳn mùi bơ của bà ngoại Anna- chốn nương náu thân thương mà suốt đời gã không ngơi khao khát Khi bà mẹ Agnes qua đời, Oskar dường như chỉ tìm thấy cảm giác an toàn khi được ở bên bà, được núp dưới những tầng váy của bà Điều đó đối với cậu còn thích thú hơn cả việc được đọc truyện cổ tích hay truyện tranh, bởi lẽ, thế giới bốn tầng váy của bà ngoại Anna vốn dĩ đã là một thế giới cổ tích đầy huyền thoại và hấp dẫn Bốn tầng váy đã che chở Joseph Koljaiczek thoát khỏi sự săn lùng của cảnh sát, bốn tầng váy là nơi bà mẹ Agnes ra đời,

và đó cũng là nơi đã chở che cả tuổi thơ của Oskar: “Tôi tỏ ra chẳng mấy thích thú các truyện cổ tích cũng như sách tranh Điều tôi chờ đợi ở bà ngoại tôi , điều mà bây giờ tôi vẫn mơ đến với từng chi tiết khoái thú nhất, cái điều

ấy rất rõ ràng và đơn giản, do đó khó mà đạt được: hễ thấy bà, là Oskar lại muốn thi đua với ông ngoại Koljaiczek náu bên dưới bốn tầng váy của bà và, nếu có thể, chẳng bao giờ thở hít bên ngoài nơi trú ẩn yên tĩnh này nữa” [11, tr.355] Bốn tầng váy là nơi trú ẩn yên tĩnh nhất, an toàn nhất đối với Oskar Tất cả những điều cậu chứng kiến từ cuộc sống như cơn bão lớn cuốn trôi đi niềm tin và hi vọng thì bà ngoại Anna như một chiếc phao cứu vớt những

Trang 31

niềm tin và hi vọng ấy Túp lều “khăn khẳn mùi bơ” cho Oskar niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống của con người, tin vào những gì tốt đẹp còn sót lại trên cõi đời này “Tôi sẵn sàng làm tất cả để được vào trong cái lều ấy” Oskar đã có những lúc phải dùng đến mẹo để được núp dưới váy của bà Cậu giả vờ làm lăn quả bóng đến váy bà rồi chui tọt vào đó Nhưng từ sau cái chết của mẹ Agnes, Oskar không cần giở cái mẹo ấy ra nữa “ bà thuận tình hơn để tôi núp dưới những cái váy màu khoai tây và cho phép tôi ở lại đó lâu hơn… Tôi ngồi

im phăng phắc một lúc, hít cái mùi ngai ngái của bơ hơi ôi, cái mùi bất chấp

sự chuyển mùa, vẫn tràn ngập không gian chọn lọc này” [11, tr.356]

Trong Thiên sứ, nếu cả xã hội đang chen nhau trong bộ đồng phục chật

chội may sẵn, sống như một cỗ máy vô cảm vô hồn thì nhà thơ Ph xuất hiện như một điểm sáng đột ngột Anh sẵn sàng vi phạm chuẩn mực thông thường, sẵn sàng vọt trào, nổ bùng, như đài phun nước, như bắn pháo hoa Rõ nhất là những câu viết được gọi là “thơ Ph.”: nó như hàm chứa cái khát vọng nhả ngay trong một hơi hàng loạt cảm xúc ấn tượng suy tư ứ đầy đến nghẹt thở Những câu văn như thực hiện trong chốc lát những gì không thể được chấp nhận ở cuộc sống khuôn phép, quy củ thường ngày Một yến tiệc ngôn từ là cần thiết cho những ai có nhu cầu tham dự

Nhà thơ Ph chính là người ca ngợi cho cái đẹp lý tưởng, siêu thực Anh làm thơ chỉ vì anh không thể không làm thơ, anh không làm thơ cho vui, không đọc thơ cho những người không biết cảm nhận và hưởng thụ cái Đẹp:

“Ông Hoàng, xin ông cứ quay về với món gà rán và rượu vodka của ông! Tôi không đọc thơ cho ai nghe thử, cho ai nghe vui Tôi không quan tâm đến công chúng, dù đó là một công chúng có thói quen đọc nhật báo và đủ thứ tạp chí từng đăng tải thơ ông, hay một công chúng tự hạn hẹp mình ở mức chối từ nhật báo và các phương tiện truyền thông hiện đại Người ta có thể tung hô tôi, hay đóng đinh tôi; hôm nay tôi ngồi đây ăn suất cơm thừa của ông, ngày

Trang 32

mai lại choáng chỗ trong một cuốn từ điển gáy vàng nào đó, có khác gì nhau! Hành trình của tôi cô độc, tôi không cần khán giả…” [19, tr.160] Anh cũng thuộc về một thế giới riêng, sống với thế giới riêng của mình, “tôi chẳng chung hành trình với ai”

Ph – nhà thơ nghèo, ngày đánh vôi trộn vữa, tối om về chong đèn làm thơ Mỗi lần xuất hiện, gương mặt tiều tụy, vò xé bởi đam mê của anh còn hơn gương mặt một ông hoàng, sẵn sàng đặt cả vương quốc không bao giờ tắt ánh mặt trời của mình xuống chân nữ hoàng của tình yêu và sắc đẹp Ph không giống với bao người khác, anh biệt lập, tách mình ra khỏi trục quay của cuộc sống đang vận hành như một cỗ máy: “Chị Hằng không quan hệ với người đàn ông nào quá ba tháng mà tránh khỏi đụng chạm thân xác…Ngoại lệ duy nhất là Ph nhà thơ đam mê và lạnh lùng, cách biệt Ngồi sát bên anh, mắt không rời mắt, rụt rè đặt những ngón tay thon dài nuột nà lên bàn tay anh chai sạn, đuổi theo mùi đàn ông tỏa từ môi anh, hình dung một cái hôn thăm thẳm… Chỉ duy nhất một người, bất kể giờ khắc nào cũng biết rõ chị đang ở đâu, nhà thơ mắt đen giàu lặng lẽ Nhà thơ và ả Hằng, cả hai ghét hẹn hò, những không gian và thời gian định sẵn chật hẹp…” Và khi chị Hằng bị cái thế giới đồ vật chiếm hữu, anh lặng lẽ biến mất Không phải “vấp đời thường nhật, tan vỡ chiếc thuyền tình” mà vì họ đã thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác, hai thế giới không còn điểm chung Ph đến với cuộc sống để làm thơ, để yêu đương và mơ mộng trong khi Hằng đánh đổi tất cả, thiêu cháy niềm tin, niềm hi vọng để chạy theo cuộc hôn nhân không tình yêu, không hạnh phúc Hoài cũng đã viết ba trăm lần cái tên Ph vào những tấm phiếu cầu hôn cho chị Hằng như một cố gắng tuyệt vọng để bảo vệ cho cái chân lý: “Người

ta sinh ra để thuộc về nhau” để níu kéo lại cái đẹp Ngọn lửa chỉ thiêu được cái vỏ còn niềm tin thì vẫn còn đấy Trong buổi lễ kết hôn của chị Hằng, Hoài vẫn còn cháy lên “ngọn lửa 300 lá bùa mang gương mặt Ph lại nổi lên thiêu

Trang 33

đốt Tôi chỉ biết cầu nguyện cho trần nhà bỗng nổ tung và nhà trời ghé xuống đưa ả Hằng của anh bay thoát trần gian nhan nhản hôn nhân không tình yêu này” Cô bé Hoài vẫn giữ cho mình nắm tro từ “ba trăm lần Ph.” như giữ mãi niềm tin vào sự vĩnh hằng của cái đẹp trước sự tấn công của đồng tiền và cái tầm thường của cuộc sống

1.2.4 Nhân vật đám đông

Nhân vật đám đông trong Cái trống thiếc không hề đem lại cảm giác về

sự ấm áp mà ngược lại, đám đông chỉ là một đám người tạp loạn, xô bồ, đủ các loại người khác nhau Việc xây dựng kiểu nhân vật đám đông làm xóa bỏ

đi cá tính, tính cách của từng nhân vật, thay vào đó làm hiện lên tâm lí tính cách chung của cả một xã hội

Hình ảnh của đám đông xuất hiện khá nhiều trong những trang tiểu thuyết của Gunter Grass Hình ảnh đám đông cho ta thấy hình ảnh thu nhỏ của một Đức Quốc xã sau chiến tranh còn bao hỗn loạn và thiếu đồng nhất Đám đàn bà trong khu chung cư tập trung làm vệ sinh vào ngày thứ 6 được miêu tả dưới lăng kính Oskar: “Một trăm mụ nội trợ, cánh tay để trần tròn trĩnh, tóc chít gọn trong một nút khăn, khuân từ các nhà ra hàng núi thảm, quẳng những tội đồ ấy lên những giá nhục hình, vớ lấy những chày đập và không gian bỗng tràn ngập những tiếng dập dồn như sấm… Một trăm mụ đàn

bà đập thảm có thể công phá cả bầu trời và xén cụt cánh những con én trẻ; chỉ với dăm bảy cú đập, họ đã làm đổ nhào ngôi đền nhỏ mà cái trống của Oskar

đã dựng lên trong không khí tháng tư” [11, tr.160] Những cuộc lao động vệ sinh của các bà nội trợ diễn ra hàng tuần chỉ làm cho không khí khu sống thêm nghẹt thở Với việc kết hợp với các động từ mạnh đã gợi lên sự chật hẹp, tù túng, như thể nơi đây sắp diễn ra một trận chiến thật sự

Không chỉ có thế, nhân vật đám đông còn được xây dựng rất thành công

trong chương “Khán đài”, với hình ảnh của những đoàn người tỏa ra từ các

Trang 34

con đường, chen vai thích cánh trong các cuộc mít-tinh : “Và rồi đến đám quần chúng Tôi ngửi thấy họ qua những kẽ giữa những ván gỗ Họ đứng đó, chen vai thích cánh trong những bộ đồ chủ nhật Họ đi xe điện hoặc cuốc bộ đến, một số mang theo cả vợ chưa cưới xem như một bữa chiêu đãi, tất cả những người đó đều muốn có mặt vào lúc người ta đang làm lịch sử, cho dù

có phải mất cả buổi sáng” [10, tr.198] Đám quần chúng đến để xem buổi lễ mít-tinh tuyên truyền của Đức Quốc Xã nhưng họ không hề có thái độ chính trị nào, ngược lại rốt cuộc chỉ là một “đám đông nhộn nhạo đang từ đại lộ Hindenburg tiến lại gần” Họ đến để hưởng ứng như một phong trào, như đi

dự một buổi lễ hội Khi tiếng trống cám dỗ của Oskar vang lên, lấn át cả tiếng kèn trống của đội nhạc lễ, người đầu tiên hưởng ứng là những đám người vây quanh khán đài: “Đám bình dân tỏ ra đầy lòng biết ơn Những dịp cười rộ lên ngay gần khán đài” và sau đó họ “khoái khúc nhạc van-xơ của tôi, họ đang tung tăng nhảy nhót như có cái gì giậm giựt trong bắp chân” Và thế là họ hòa theo nhịp trống của Oskar, bỏ quên cả buổi lễ mít - tinh mà các nhà quan chức Đảng hết sức kì vọng “Các đồng chí, đồng bào vừa nhảy vừa rời khỏi Đồng

cỏ Thảng Năm và chẳng mấy chốc, nơi đây đã vắng teo Các đồng chí đồng bào đã cùng chú hổ Jimmy biến vào những khoảng đất rộng của Công viên Steffens gần đấy Tại đó họ tìm thấy rừng sâu mà Jimmy đã hứa hẹn.[…] Đám đông kia đã khiến Oskar phải thốt lên: “Bay biến rồi luật pháp và trật tự”

Trong chương “Hầm hành”, đám đông hiện lên cũng đầy hỗn tạp Họ

cùng nhau đến hầm hành để có thể trút bầu tâm sự, tìm về với khả năng xúc cảm của bản thân, để sống thật với con người mình Các khách hàng thuộc đủ các hạng người khác nhau từ doanh thương, luật sư, bác sĩ, họa sĩ, ký giả, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh đến những nhân vật nổi tiếng trong giới thể thao, quan chức trong chính quyền tỉnh và thành phố… Tóm lại, một mẫu tiêu biểu của giới ngày nay tự xưng là trí thức đi cùng với vợ, nhân tình, nữ thư kí, họa

sĩ trang trí nội thất và có khi với bồ đực, ngồi trên những hòm gỗ phủ bao tải

Trang 35

Đám đông đến đây để khóc cười với bao chuyện đời, bộc lộ hết tâm can của mình Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy Nước mắt trong hầm hành làm sống dậy bản năng, họ quên mất mình là ai, “Ông chủ nhà máy xay rũ cái đầu tóc hoa râm chải mượt trên mặt bàn Ông chủ khách sạn hòa những co giật của mình với những quằn quại của cậu bồ trẻ thanh tú” [11, tr.873] Rồi lại cảnh

“một bà đứng tuổi xé toạc áo nịt ngực trước mặt anh con rể Cậu bồ trẻ của ông chủ khách sạn cởi áo phô cái mình trần da đồng hun và nhảy lên bàn biểu diễn một điệu múa có lẽ của một nước Phương Đông nào đó” [11, tr.873] Họ đến để thổ lộ nỗi lòng của mình, để giải tỏa tâm trạng nhưng những gì diễn ra tại Hầm Hành lại không đi theo chiều hướng ấy Hình ảnh một đám đông nhộn nhạo, huyên náo đến dễ sợ với những tiếng gào, tiếng hú chẳng có thực chất gì đằng sau khiến ta liên tưởng tới hình ảnh của một nước Đức sau chiến tranh đang đau đớn, quằn quại với những nỗi đau của riêng mình mà vẫn không sao trút bỏ được, đi vào tuyệt vọng và không có lối thoát

Trong tác phẩm Thiên sứ, tác giả Phạm Thị Hoài cũng khá thành công

trong việc xây dựng hình tượng nhân vật đám đông Văn học Việt Nam luôn

đề cao tình người, coi tình cảm giữa con người với con người là sợi dây để gắn kết xã hội Ra đời trong những năm xã hội Việt Nam đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Phạm Thị Hoài đã chỉ ra bản chất mối quan hệ

giữa con người với nhau Đám đông trong Thiên sứ là hình ảnh thu nhỏ của

xã hội Việt Nam lúc bấy giờ: hỗn loạn, thiếu tình người

Lễ cầu hôn hay đám cưới đều đông đúc; hỉ, nộ, ái, ố diễn ra đủ cả Đến cầu hôn Hằng là một đám đông 299 chàng phò mã, nào là chàng kĩ sư trồng vườn, chàng chuyên gia hối đoái và thị trường, anh chàng bác sĩ phẫu thuật, rồi cả phó tiến sĩ khoa học lịch sử cho đến một anh chuyên viên ngành xây dựng, quản lý và phát triển kinh tế, một chàng kiến trúc sư ngạo mạn hay cả anh chàng nhân viên bộ ngoại giao… Tất cả họ ồn ào dưới khung cửa sổ của Hoài bất kể thời gian nào Trong trò chơi ú tim của Hằng, đám cầu hôn- 299

Trang 36

chàng phò mã tương lai túa ra các ngả đường của thành phố, sục sạo khắp mọi nơi: cao lâu, tiệm nhảy, câu lạc bộ, nhà hát, quảng trường… Có kẻ tấn công

cả chùa chiền, intershop hay các nhà vệ sinh công cộng, kẻ lê gót ra tận các bến tàu, kẻ cày nát từng ngọn cỏ, chọc thủng từng ghế đá 49 công viên lớn nhỏ trong thành phố… nhưng tất thảy đều chẳng thể tìm ra Hằng Một cuộc truy tìm quy mô lớn nhất mà tôi từng thấy Đám người làm ta nhớ đến cuộc

cầu hôn lịch sử với Pê-nê-lốp của 108 vị cầu hôn trong trường ca Ô-đi-xê của

Home Đám phò mã với 598 bàn tay sờ nắn, lộn ra lộn vào, nhàu nát thành phố, 598 con mắt đã soi kĩ từng lỗ chân lông cái cơ thể Hà Nội phát triển thiếu cân đối, đầy vùng bí ẩn Họ lại quay trở về, nhộn nhạo, ồn ào dưới của

sổ của Hoài: “Họ ở dưới của sổ tôi, kẻ đứng người ngồi, mặt mũi dài ngắn tùy mức mong đợi, a streetcar named desire Rồi bỗng ồn ào, cả 299 xô nhau chạy

về phía trước, khi chị tôi từ chốn nương náu bí hiểm trở về Kẻ đạp, người ngã, người vấp lên người, họ níu cùi tay nhau, họ luồn qua háng nhau, rút cục còn chẵn chục Mười kẻ thắng cuộc lập chung một kỉ lục, đồng thời lao tới chuyến tàu ước mong, đồng thời quỳ trước chị tôi, mỗi người nâng một ngón tay thon nuột nà của chị, và chị không biết có nên cưới cả mười một lúc, hay

để họ lần lượt xếp hàng” Tất cả không khiến ta hình dung đây là một cuộc cầu hôn, mà có lẽ, nó gợi đến một cuộc hỗn loạn, tranh giành kẻ được người thua nhiều hơn, mang dáng dấp của một lễ tranh tài Sơn Tinh - Thủy Tinh Không chỉ lễ cầu hôn, đám cưới của Hằng diễn ra cũng đầy hỗn loạn, đây là dịp để người ta “trả ân trả oán, làm quen, phục hồi những quan hệ họ hàng xa lắc, thi thố mặt mũi quần áo và túi tiền”, với những người đến phá đám, thách đố, thi tài… Kể chuyện với giọng văn lạnh lùng của một người đứng ngoài cuộc, Phạm Thị Hoài đã làm bật lên không khí sống của con người Việt Nam trong những thập niên cuối của thế kỉ XX: sống lạnh lùng, vội vàng, hỗn độn, một cuộc sống không hề có sự hiện diện của tình người

Trang 37

Chương 2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG THIÊN SỨ VÀ TRONG CÁI TRỐNG THIẾC

2.1 Không gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc

Trong thế giới khách quan, không có bất kỳ một sự vật hiện tượng nào tồn tại bên ngoài quĩ đạo của không gian và thời gian Đối với nghệ thuật, không gian, thời gian là một trong những phương diện quan trọng nhất tạo nên chỉnh thể của thế giới nghệ thuật Không gian và thời gian là hai phạm trù của vũ trụ Nó là khái niệm của triết học và khoa học tồn tại khách quan và tác động đến mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên Nhưng không gian và thời gian lại là đối tượng nhận thức của con người, nó được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của mỗi người trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Bởi vậy, không gian và thời gian cũng là một phương tiện quan trọng của nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng

Không gian và thời gian nghệ thuật là những hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có hình tượng nghệ thuật nào tồn tại có thể nằm ngoài không gian và không thuộc về một thời gian nhất định Tuy nhiên, không gian

và thời gian nghệ thuật khác với thời gian và không gian mang tính khách quan Nó chỉ trở thành nghệ thuật khi cùng với nhân vật, cốt truyện, thể hiện quan niệm của nhà văn về con người và hiện thực cuộc sống

Các nhà văn có thể chưa ý thức một cách rõ rệt về phạm trù không gian

và thời gian nghệ thuật, nhưng trong tác phẩm, yếu tố này vẫn xuất hiện, thậm

chí còn xuất hiện với tần suất cao đã cho thấy vai trò quan trọng của không

gian và thời gian nghệ thuật

Đối với khả năng tổ chức nghệ thuật của nhà văn, A.Gurevich viết: “Đôi

khi chúng ta không ý thức được rằng không gian và thời gian không chỉ tồn

Trang 38

tại một cách khách quan, chúng ta còn được con người ý thức và thể nghiệm một cách chủ quan trong nền văn minh và xã hội khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau của cùng một xã hội, thậm chí ở những cá nhân khác nhau phạm trù này không được tri giác và ứng dụng như nhau” Việc lựa chọn

không gian và thời gian riêng cho mỗi tác phẩm không chỉ phụ thuộc vào truyền thống văn học, trào lưu văn học mà còn phụ thuộc cả vào sở trường cũng như cá tính sáng tạo của nhà văn

Trong các loại thể văn học, văn xuôi nghệ thuật (trong đó có tiểu thuyết)

có khả năng phản ánh “toàn vẹn và sinh động” hiện thực cuộc sống theo hướng “hết sức gần gũi”, ở mọi giới hạn không gian và thời gian Với dung

lượng khá lớn, tiểu thuyết đã tái hiện được một chặng đường dài trong cuộc đời nhân vật Thời gian tiểu thuyết đi qua nhiều không gian khác nhau, diễn tả nhiều sự kiện, nhiều biến cố trong cuộc đời nhân vật và hiện thực cuộc sống

Trong đó, tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và tiểu thuyết Cái trống

thiếc của Gunter Grass thể hiện đầy đủ những nét chung đó

2.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Có nhiều quan niệm khác nhau về không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học, nhưng các quan điểm đầu có sự thống nhất chung là không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực Nó là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí và số phận của mình ở đó Cũng như thời gian, không gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thuộc hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là phạm trù thuộc hình thức nghệ thuật nhưng là hình thức mang tính nội dung

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức

bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu

tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một “điểm nhìn”, diễn ra trong trường nhất định ( ) Không gian nghệ thuật gắn liền với cảm

Trang 39

thụ về không gian nên mang tính chủ quan” [12, tr.135] Không gian nghệ

thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như: tôn giáo, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự, Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở, Nó cho thấy cấu trúc bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật

Trong cuốn Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng đưa ra một cách hiểu về không gian nghệ thuật: “Không gian

nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và phát triển của thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn”

[39, tr.31] Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian vật chất bên ngoài Nó thể hiện tính chất của một thế giới tinh thần, trong đó sự vật có cách biểu hiện và tổ chức theo một ý nghĩa riêng

Do gắn với điểm nhìn, trường nhìn, môi trường hoạt động, không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống Đồng thời do gắn với giá trị, không gian trở thành biểu tượng nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ mang ý nghĩa cảm xúc

Không gian trong văn học được biểu thị qua các không gian điểm mang tính ước lệ tượng trưng (thiên đình, địa ngục, ), bằng các từ không gian vốn

đã mã hóa sẵn về ý nghĩa trong cuộc sống (dài, ngắn, tối, sáng, cao, thấp, ) Không gian nghệ thuật tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn không gian (xa, gần, cao, thấp, ); điểm nhìn tâm lí (ngày ấy, dạo ấy, nhớ lại, bây giờ nhớ lại, ) Không gian có thể thể hiện qua kết cấu, sự phân giới nội tại của tác phẩm, sự liên kết các không gian, mức độ tính liên tục, hay rời rạc

Trang 40

Trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng cho rằng: “Không gian nghệ thuật là hình tượng không gian có tính chủ

quan và tượng trưng” Đó là một hiện tượng nghệ thuật, là mô hình thế giới,

thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người

Thế giới không gian nghệ thuật có thể chia thành các tiểu không gian, giữa các tiểu không gian có các đường ranh giới có thể vượt qua Đó có thể là

không gian điểm nhìn, không gian tuyến, không gian mặt phẳng,

- Không gian nghệ thuật có những đặc trưng riêng:

+ Không gian xuất hiện lần lượt, tuần tự theo sự quy định của tác giả +Không gian mang tính quan niệm

+ Không gian không bị một hạn chế nào

Từ những quan niệm trên có thể khẳng định, không gian nghệ thuật không phải là không gian hiện thực vật lí mà là hình tượng không gian, là hình thức tồn tại của hình tượng con người trong thế giới nghệ thuật Nó là

mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí và số phận của mình Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự

sống con người Nó được coi là không quyển tinh thần bao bọc cảm thức con

người, là một hiện tượng tâm linh nội cảm chứ không phải là một hiện tượng địa lí hay vật lí Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người

và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy

2.1.2 Những nét tương đồng và khác biệt về không gian nghệ thuật trong Thiên sứ và trong Cái trống thiếc

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Không gian tồn tại trong một tác phẩm có tính độc lập tương đối với không gian địa lý của cuộc sống thực vì vậy về cơ bản không gian trong tác phẩm văn học mang tính chủ quan Nó là

mô hình nghệ thuật và cái thế giới mà con người đang sống đang cảm thấy vị

Ngày đăng: 19/09/2017, 10:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w