Để đáp lại “cơn khát” lịch sử hiện nay, những năm đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện một loạt tiểu thuyết lịch sử dày dặn, công phu, có nhiều đổi mới trong nghệ thuật như: hai bộ tiểu thuyết lị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Tuyết Nhung
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỂN XUÂN KHÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Tuyết Nhung
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Trang 3Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011
Ngô Thị Tuyết Nhung
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ SAU
1975 ĐẾN NAY VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN XUÂN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử đấu tranh dựng và giữ nước Biết bao chiến công chói lọi của ông cha ta đã đi vào sử sách muôn đời Thế nhưng, thế hệ trẻ ngày nay lại hờ hững, kém hiểu biết về lịch sử dân tộc Trong nhà trường, học sinh không “mặn mà” với môn lịch sử Ngoài cuộc sống, nhiều người thông thạo sử Tàu, sử Tây mà không biết lịch sử Việt Rất nhiều bài thi Đại học điểm “0” môn lịch sử, thậm chí nhiều học sinh còn xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn Thực tế đau lòng đó buộc chúng ta phải suy nghĩ về cách dạy lịch sử trong nhà trường cũng như cách “quảng bá” lịch sử qua văn chương nghệ thuật hiện nay
Nhà văn Hoàng Quốc Hải đã từng băn khoăn: “Dân tộc ta có một quá khứ dựng nước và
giữ nước đầy nhọc nhằn và kiêu dũng không thua kém một dân tộc nào, nhưng sao thế giới biết đến ta quá ít Cũng bởi bộ môn tiểu thuyết lịch sử của chúng ta chậm phát triển Đến nổi thanh thiếu niên của nước ta rất thông thạo sử Tàu, sử Ấn, sử Hy – La, sử Anh,
nghệ sĩ mà còn là một yêu cầu bức thiết trong tình hình hiện nay Tuy nhiên, sáng tác về đề tài này không phải dễ Nhà văn không chỉ có tài năng mà còn có vốn kiến thức uyên thâm về nhiều lĩnh vực như: lịch sử, địa lý, văn hóa… Phải là những nhà văn dày dặn trong nghề mới làm được Để đáp lại “cơn khát” lịch sử hiện nay, những năm đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện một loạt tiểu thuyết lịch sử dày dặn, công phu, có nhiều đổi mới trong nghệ thuật như:
hai bộ tiểu thuyết lịch sử về nhà Trần, nhà Lý của Hoàng Quốc Hải (Bão táp triều Trần,
Tám đời vua Lý); Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh; Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Hội thề của Nguyễn Quang Thân… Tiểu thuyết lịch sử
đã gặt hái được những thành công rất to lớn và có ý nghĩa Thực tế sáng tác đòi hỏi yêu cầu
lý luận, nghiên cứu phê bình phải đi cùng với nó Thế nhưng, những công trình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử ở nước ta còn ít, chưa bao quát cũng như đi sâu vào mảng này, đặc biệt là tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ sau 1975 đến nay
Nguyễn Xuân Khánh là một trong những nhà tiểu thuyết lịch sử lớn của nước ta trong giai đoạn hiện nay Ông sáng tác từ những năm kháng chiến chống Mỹ nhưng thực sự
gây tiếng văn trên văn đàn phải kể đến Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa
Đây là những tác phẩm gây xôn xao dư luận, nhận được nhiều ý kiến đánh giá của giới phê
Trang 7bình và đông đảo bạn đọc Tuy nhiên, phần lớn các bài viết đánh giá, nhận định tác phẩm là những bài báo, bài phỏng vấn viết khi nhà văn nhận được giải thưởng, chưa có nhiều những công trình nghiên cứu chuyên sâu Đây chính là mảnh đất trống thôi thúc người viết thực hiện đề tài, nhằm đi sâu tìm hiểu những giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm, góp một tiếng nói khẳng định sự thành công của các cuốn tiểu thuyết này
2 L ịch sử vấn đề
Sau 1975, Miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, văn học bước sang thời
kỳ mới: thời kỳ sáng tác văn học trong điều kiện đất nước hòa bình Công tác lí luận phê bình cũng được quan tâm hơn, trong đó có nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử
Hà Ân trong bài Vài ý kiến về sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử phục vụ các em (Tạp chí Văn học số 3/1979) đã đặt ra câu hỏi: “Gia giảm, chế biến thêm nếu cần, cách đó có nên có trong hư cấu nghệ thuật chăng?” Tác giả cũng khẳng
định: “Mặt hư cấu về một nhân vật là cuộc sống đời thường của nhân vật đó Xưa nay sử
chép về một nhân vật qua các sự kiện lịch sử chính yếu Nhưng trong một sáng tác văn học, một nhà văn phải gần gũi người đời hơn Có ăn uống, chơi bời, khôi hài, buồn bã, có vợ con, có sở thích, cá tính, có tật, có tài… Càng xây dựng nhân vật văn học cách xa “siêu nhân” bao nhiêu càng có sức thuyết phục người đọc bấy nhiêu.”
Nguyễn Huệ Chi – Vũ Thanh với bài viết Những đóng góp của Nguyễn Tử Siêu cho
loại hình tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ đăng trên TCVH số 5/1996 đã khẳng định
thành công về nhiều mặt của Nguyễn Tử Siêu cho thể loại tiểu thuyết lịch sử những năm đầu TK XX Đóng góp từ kết cấu, văn phong đến việc phát huy năng lực tưởng tượng trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Tử Siêu cũng hướng tới đời sống nội tâm nhân vật, miêu tả sự bộn bề, phức tạp của cuộc sống…
Trương Đăng Dung trong cuốn sách Từ văn bản đến tác phẩm văn học (NXBKHXH,
1998) có bài Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G.Lukacs Bài viết đã trình bày
một cách khúc chiết, sáng rõ các luận điểm của Lukacs khi nghiên cứu về tiểu thuyết lịch
sử Lukacs cho rằng: tiểu thuyết lịch sử như một thể loại văn học đích thực mới chỉ ra đời vào TK XX mà đại diện lớn nhất là Walter Scott Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho sự sống còn các nhân vật lịch sử thì đã sống
Trang 8Trong TCVH số 9/1999, Bùi Văn Lợi có bài viết Mối quan hệ giữa tính chân thực
viết cho rằng: “Việc nghiên cứu lịch sử là rất cần thiết đối với người nghệ sĩ vì anh ta có
nhiệm vụ phải phản ánh trung thành một hiện thực lịch sử và làm sống lại những nhân vật lịch sử vừa sinh động vừa có tác dụng lôi cuốn người đọc Thế nhưng, sự nghiên cứu ấy không thay thế sự tưởng tượng, hư cấu và sáng tạo của các nhà văn Bởi vì “có khi nhà nghệ sĩ chỉ cần vài khoảng khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó,
có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử bởi vì tác giả chỉ cần đúng đắn lí tưởng mà thôi” Bùi Văn Lợi đánh giá: Hư cấu, tưởng tượng chính là một yêu cầu không thể
thiếu đối với sáng tác tiểu thuyết lịch sử Nhà văn có thể hư cấu từ những sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử, thậm chí có những nhân vật và sự kiện hoàn toàn do trí tưởng tượng của nhà văn tạo nên
Cùng có chung mối quan tâm giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật, Phan
Trọng Thưởng có bài Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số vấn đề lí luận sáng tác về
đề tài lịch sử (TCVH số 11/1999) Tác giả khẳng định: “Trở lại vấn đề thực chất của sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử, theo tôi, không phải là minh họa lại lịch sử, không phải là truyền đạt lại tri thức lịch sử, cũng không phải là bài học luân lí đạo đức cũ (vì những cái
đó, môn lịch sử và môn giáo dục công dân đã làm rồi, nghệ thuật không đặt cho mình nhiệm
vụ minh họa lại) Thực chất của sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử là khai thác lịch sử theo một cách thức tiếp cận mới, một cảm hứng lịch sử - công dân mới trên nguyên tắc vừa tôn trọng sự thật lịch sử vừa tôn trọng sự thật nghệ thuật” Phan Trọng Thưởng cũng đề cao
sự sáng tạo trong sáng tác về đề tài lịch sử nhưng đặt ra nguyên tắc là sáng tạo nhưng không được làm sai lệch, méo mó, biến dạng lịch sử Sáng tạo phải có chừng mực, tôn trọng sự thật lịch sử
Trong bài viết Tiểu thuyết lịch sử của Hella S.Haasse (TCVH số 3/2002), Phan Cự
Đệ đã đánh giá những thành công trong các tiểu thuyết lịch sử của bà Hella S.Haasse đồng thời cũng nêu những quan niệm của nhà văn về cách xử lí chất liệu lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Bà Hella S.Haasse luôn cố gắng trung thành với lịch sử nhưng bà luôn nhắc nhở với
bạn đọc rằng: “Sự chân thực tuyệt đối là không thể có được vì những nhân vật lịch sử TK
XIV và XV mà bà đang sáng tạo ra ít nhiều đều là những sản phẩm của sự hiểu biết và trí tưởng tượng mang màu sắc cá nhân và chủ quan của một con người sống giữa TKXX”
Trang 9Trong Tạp chí Nhà văn tháng 1/2003, Phan Cự Đệ đã có một bài viết chuyên sâu về
tiểu thuyết lịch sử với tựa đề Tiểu thuyết lịch sử Tác giả đã đặt ra những vấn đề có ý nghĩa mấu chốt đối với những nhà tiểu thuyết lịch sử: “Sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử ở Việt
Nam và ở Châu Âu đã đặt ra nhiều vấn đề lí luận: sự khác nhau trong nhiệm vụ của nhà sử học và nhà viết tiểu thuyết lịch sử, mối quan hệ giữa sự kiện lịch sử và vai trò của hư cấu nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử và nhiệm vụ soi sáng những vấn đề của cuộc sống hiện tại, sự đồng cảm của nhà văn với các nhân vật lịch sử và thời đại lịch sử, các kiểu tiểu thuyết lịch
sử trong kinh nghiệm sáng tác của nhà văn, đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử hiện đại…”
Phan Cự Đệ khẳng định: tiểu thuyết lịch sử cần có sự hư cấu, sáng tạo của nhà văn, lịch sử chỉ là phương tiện chứ không phải cứu cánh Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử vì họ hiện lên trong nhiều mối quan hệ, được miêu tả đời sống nội tâm, quan hệ riêng tư Trong tiểu thuyết lịch sử, sự kiện lịch sử, sự kiện hư cấu, nhân vật có thật, nhân vật hư cấu trộn lẫn vào nhau Tiểu thuyết lịch sử sẽ không có một sự thật lịch sử tuyệt đối Các nhà tiểu thuyết lịch sử sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ lên một điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại do đó làm sáng rõ hiện tại Đây cũng chính là cách xử lí chất liệu lịch sử của các nhà tiểu thuyết lịch sử hiện nay
Trong cuốn Tiểu thuyết hiện đại của Dorothy Brewster và John Burrell, dịch giả
Dương Thanh Bình, xuất bản năm 2003, tác giả đã dành một chương viết về tiểu thuyết lịch
sử Hai tác giả này đồng tình với quan điểm: nhà tiểu thuyết lịch sử sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại, từ đó soi sáng hiện tại Cách làm này được đông đảo các nhà tiểu thuyết lịch sử lựa chọn
Nguyễn Tý trên báo Văn nghệ số 39/2003 có bài phỏng vấn nhà văn Thái Vũ: Nhà
văn Thái Vũ – Người trung thành viết tiểu thuyết lịch sử Thái Vũ đã nói rõ quan điểm của
mình khi viết tiểu thuyết lịch sử: “Tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử Mà đã viết
lịch sử là phải trung thực, tôn trọng sự thật không bịa Tôi viết là tuyệt đối không bịa, dù là một sự kiện lịch sử hay một nhân vật lịch sử Hư cấu nhưng không bịa Tôi viết tiểu thuyết lịch sử nhưng tôi không viết tiểu thuyết mà qua cách hư cấu của tôi: tôn trọng tính chân xác của lịch sử cho nên tôi tôn trọng lịch sử là chính, chứ tôi không hư cấu theo kiểu tiểu thuyết như “miếng giẻ rách vào tấm áo lịch sử””
Tác giả Đỗ Hải Ninh trong luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động
của tiểu thuyết lịch sử nửa sau TKXX (năm 2003) đã có những nhận xét, đánh giá khá sắc
sảo về những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của nước nhà trước Hồ Quý Ly và những đóng
Trang 10góp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trong sự vận động tiểu thuyết lịch sử của nước nhà
Đỗ Hải Ninh viết: “Đại thể, tiểu thuyết lịch sử chặng đường này có khả năng bao quát hiện
thực khá tốt kết hợp với khả năng hư cấu linh hoạt hơn nhưng chưa thực sự có sức hấp dẫn rộng rãi đối với công chúng Cách viết còn thiếu mới mẻ, đa dạng Các cuốn tiểu thuyết lịch
sử thường vẫn nặng về sự kiện, tính cách nhân vật bị chi tiết che lấp và chủ yếu vẫn trông vào sự hấp dẫn của cốt truyện” và “Cuốn sách khép lại tiểu thuyết lịch sử thế kỷ XX là tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh Tác phẩm này ra đời khi công cuộc đổi mới văn học của nước ta đi qua thời kỳ sôi nổi, ồn ào ban đầu (thậm chí có người còn cho là chững lại) đã đạt được những thành tựu đáng kể và vẫn đang tiếp tục tìm tòi nhưng trầm tĩnh hơn Một điểm đáng ghi nhận là kinh nghiệm đọc những tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử ngày càng đa dạng, dân chủ hơn Từ lúc ra đời cho đến lúc nhận giải thưởng của Hội Nhà văn, Hồ Quý Ly đã gây được chú ý rỗng rãi trong dư luận”
Bài viết Nguyễn Huy Tưởng – nhà chép sử bằng văn chương (TCVH số 9/2007), tác
giả Bích Thu đánh giá những tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng là tiểu thuyết hóa
lịch sử: “Ông không nệ không kể lại lịch sử, không “lịch sử hóa” tiểu thuyết mà đã hư cấu,
tưởng tượng, “tiểu thuyết hóa” lịch sử, phát huy khả năng sáng tạo của mình, phục lại một thời đại đã lùi sâu trong kí ức dân tộc Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng vừa tạo sự sát gần lại vừa tạo khoảng cách với lịch sử”
Trong cuộc phỏng vấn nhà văn Hà Ân do Hoài Hương thực hiện (Nhà văn Hà Ân, đề
tài lịch sử không bao giờ xưa Báo Văn nghệ Trẻ số 44 ra ngày 26/10/2008), nhà văn đã tâm
sự: “Tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi người viết phải có kiến thức sâu, rộng, chính xác của sử gia
và trí tưởng tượng sáng tạo vô cùng phong phú của nhà tiểu thuyết” Tác phẩm sẽ thành
công nếu kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố đó Nhà văn Hà Ân cũng nêu lên giới hạn của sự
sáng tạo tưởng tượng và những yếu tố không thể sai lệch sự thật lịch sử: “Nhà văn có thể
cho họ những suy nghĩ, những hành vi, cử chỉ, cách nói năng giao tiếp sinh hoạt… theo trí tưởng tượng của mình Nhưng tưởng tượng gì thì cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc như không thể đổi tên, tước vị, nhân thân và thời gian tồn tại của nhân vật lịch sử”
Hoài Nam có bài Bàn về tiểu thuyết lịch sử đăng trên báo văn nghệ số 45 ra ngày
8/11/2008 đã chỉ ra những hạn chế của tiểu thuyết lịch sử nước ta trong suốt thời gian qua,
đó là: Các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử chủ yếu phản ánh cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ tồn tại của vương triều và nền độc lập của quốc gia vì vậy đã bỏ qua một mảng lịch
sử rất lớn: cuộc sống nhân quần đã diễn ra trong quá khứ; cảm hứng chủ đạo của các nhà
Trang 11tiểu thuyết lịch sử là ca ngợi, tôn vinh, kính cẩn đã tạo ra “khoảng cách sử thi” không thể san lấp Khi ấy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trở nên đậm chất truyện kể mà lại nhạt đi rất nhiều chất tiểu thuyết
Nguyễn Thị Tuyết Minh có bài Khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử Việt Nam sau
1975 thành hai khuynh hướng: khuynh hướng lịch sử hóa tiểu thuyết và khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử Trong đó, khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử là khuynh hướng chủ đạo trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975, đặc biệt là những năm đầu TK XXI
Nhà phê bình Nguyễn Văn Dân có bài Mấy xu hướng chủ yếu trong tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam đương đại (Báo Văn nghệ số 11 ra ngày 12/03/2011) đã khẳng định: “Tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi”, ông chứng minh điều đó bằng những bộ tiểu thuyết lịch sử đồ
sộ, có chất lượng ra đời liên tiếp trong những năm gần đây và đạt được những giải thưởng danh giá dành cho thể loại tiểu thuyết Theo đó, ông chia tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại thành ba loại: 1) Tiểu thuyết chương hồi khách quan (tiêu biểu là Ngô Văn Phú, Ngô Đình Danh…); 2) Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn (Hoàng Quốc Hải); 3) Tiểu thuyết lịch
sử luận giải (Nguyễn Xuân Khánh)
Gần đây, sau một loạt bài viết của các tác giả phê phán tác phẩm Hội thề và không
đồng ý với việc Hội Nhà văn Việt Nam trao giải A trong cuộc thi tiểu thuyết năm 2008
-2010, nhà văn Nguyễn Quang Thân đã có bài viết Tiểu thuyết lịch sử nơi luôn có những
nhìn nhận trái chiều đăng trên báo Văn nghệ tháng 5/2011 Nhà văn Nguyễn Quang Thân
thổ lộ: “Viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn phải đối mặt và vượt qua bao nguy hiểm khi muốn
thay đổi dù một chút những cái nhìn, những đánh giá tưởng như là muôn năm, bất di bất dịch” và “nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo, nhào nặn và tái hiện một bức tranh 3D trên nền chính sử với tham vọng muốn nó phong phú, đa dạng hơn đã đành mà còn mang được cái nhìn riêng của mình đối với bức tường chính sử treo trong miếu thờ ngàn năm Nó hướng tới độc giả thời nay, nó lôi đọc giả thời nay vào cùng suy nghĩ, hành động với nhân vật lịch sử được nhà văn sáng tạo ra”
Như vậy, từ sau 1975 đến nay, tiểu thuyết lịch sử đã nhận được nhiều sự quan tâm, tìm hiểu của các nghiên cứu, nhà lí luận Đặc biệt, trong những năm đầu TK XXI, với những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử ra đời đã tạo ra những tranh luận sôi nổi trên văn đàn Ngoài những bài viết đăng trên các báo, tạp chí còn có nhiều ý kiến tranh luận, trao đổi,
Trang 12phóng vấn trên các báo điện tử, các trang web cá nhân Đây chính là một thuận lợi để người
viết thực hiện chương 1 của luận văn
Những ý kiến xung quanh tác phẩm Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh
* Hồ Quý Ly
Ngay từ khi ra đời, Hồ Quý Ly đã gây được một tiếng vang lớn trên văn đàn Tác
phẩm đã giành được số phiếu bình chọn tuyệt đối của Hội đồng ban giám khảo cuộc thi viết tiểu thuyết năm 1998 – 2000 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Sau đó, tác phẩm còn nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Tác phẩm có ảnh hưởng lớn trong tiến trình vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Trên Tạp chí Sách (số 11/2000), Hoàng Cát có bài Tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” –
thưởng thức và cảm nhận Hoàng Cát đánh giá đây là một tác phẩm văn học “bề thế, sâu sắc, hấp dẫn” Nó hấp dẫn, lôi cuốn người đọc bởi rất nhiều yếu tố: “hấp dẫn bởi lời văn trang nhã, đẹp, sâu sắc”, “tính hữu ích lắng đọng mà nó hàm chứa, với một tính khái quát tương đối cao, nghiêm túc” Ở Hồ Quý Ly “giữa sự thật lịch sử và sự sáng tạo, hư cấu của nhà văn tương đồng, tương hỗ và logic đến mức nhuần nhị, hấp dẫn như thể câu chuyện đang xảy ra ngay trước mắt chúng ta”
Trong hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Trên báo Văn nghệ số 41 tháng
10/2000) đã có rất nhiều ý kiến của các chuyên gia văn học Tác phẩm được nhìn nhận dưới
nhiều góc cạnh, nhiều phương diện Nhà văn Hoàng Quốc Hải nhận xét: “Đây là cuốn tiểu
thuyết lịch sử viết rất nghiêm túc, bám sát chính sử Văn chương mượt mà, có sức lôi cuốn, đọc hết hơn 800 trang sách, vẫn muốn đọc lại” Nhà văn Hoàng Tiến quan tâm đến vấn đề
kẻ sĩ: “Với tôi, góc độ tiếp xúc là ở đề tài: thân phận kẻ sĩ: Hồ Nguyên Trừng , Nguyễn Cẩn,
Sử Văn Hoa, Phạm Sinh, cụ lang Phạm Công, sư Vô Trụ, cụ Lang Điền, đạo sĩ Thanh Hư, đạo sĩ Bạch Hạc, cụ Sư Hiền, Đoàn Xuân Lôi (Trợ lí quốc tử giám)…” Trần Thị Thường
lại chú ý đến hình tượng Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly: “Tôi nhớ được
mười bốn người phụ nữ trong cuốn sách này, mười bốn số phận, mười bốn tính cách và mười bốn lối ứng xử Có lẽ Nguyễn Xuân Khánh đã dành một phần đáng kể tri thức và tình cảm của mình cho những trang viết về người phụ nữ” Còn nhà văn Hồ Anh Thái nhận xét:
“Cuốn sách đã làm tốt cả hai yếu tố thể loại: Tiểu thuyết và lịch sử”
Vũ Bão trên báo Tiền phong cuối tháng (năm 2000) có bài Đọc Hồ Quý Ly – Tiểu
thuyết lịch sử: Mười năm “mài kiếm dưới trăng” Nguyễn Xuân Khánh âm thầm, lặng lẽ
Trang 13làm việc rồi cuối cùng “nhả kén” cho đời bằng tác phẩm Hồ Quý Ly Tác giả bài báo viết:
“Ông không đi cùng luồng với các nhà tiểu thuyết lịch sử khác dong con thuyền trôi theo dòng sông đục ngầu phù sa thời xa xưa, ông chỉ chèo chống con đò ngang của mình gối sóng xuyên chếch đôi bờ” Hồ Quý Ly là một bước ngoặt trong tiến trình tiểu thuyết lịch sử
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên có bài Đọc “Hồ Quý Ly” đăng trên Tạp chí Tia
sáng số 1/2001 Phạm Xuân Nguyên đã chứng minh chất tiểu thuyết ưu trội của tác phẩm,
khác với những tiểu thuyết lịch sử trước đó, bởi những tác phẩm trước “phần sử nặng hơn,
át hơn phần tiểu thuyết” Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh rất tôn trọng sự thật lịch sử nhưng
với tư cách là một nhà văn, Nguyễn Xuân Khánh đi sâu vào đời sống bên trong nhân vật để
phân tích, lí giải: “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không dám vi phạm gì lịch sử, ông theo
đúng biên niên sử quan các đời đã biên chép, nhưng là nhà tiểu thuyết ông nhìn vào bên trong con người, cố hình dung và diễn tả những vận động tinh thần của những nhân vật lịch
sử có thật mấy trăm năm trước Ông đã làm được điều này; nhân vật lịch sử của ông là những cá nhân mâu thuẫn giằng xé, một bên là thúc bách (tất yếu) lịch sử, một bên là đòi hỏi (tất yếu) con người, trước thử thách vận mạng của đất nước, chúng dân”
Trung Trung Đỉnh coi Hồ Quý Ly là “giải pháp mới” cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà
quân đội số 10/2001) Tác giả Hồ Quý Ly đã: “tự lựa chọn được cho mình một thế đứng
vững chắc và một thế đứng với tư thế của một nhà tiểu thuyết trước những vấn đề hôm qua
và hôm nay”
Trong luận văn thạc sĩ Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch
sử nửa sau TK XX (Trường ĐHSP HN 2003), Đỗ Hải Ninh đã đặt tác phẩm Hồ Quý Ly
trong quá trình vận động của tiểu thuyết lịch sử nửa sau TK XX để thấy được những đóng góp của nó cho thể loại tiểu thuyết lịch sử Qua đó, tác giả luận văn cũng đi vào phân tích các phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Trang 14Ngoài ra còn khá nhiều các bài viết, bài phỏng vấn xoay quanh các vấn đề của tác phẩm Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất khẳng định sự thành công của cuốn tiểu thuyết này trên nhiều phương diện
* Mẫu Thượng Ngàn
Ngay từ khi ra đời, Mẫu Thượng Ngàn đã nhận được sự quan tâm của giới nghiên
cứu và đông đảo bạn đọc Một loạt những bài viết trên các báo đã xoay quanh nhiều vấn đề trong tác phẩm
Linh Lê đã ghi lại cuộc trao đổi của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà văn
Châu Diên (Báo Thể thao và văn hóa ra ngày 14/7/2006) trong bài Văn hóa tại Mẫu Trong
cuộc trao đổi này, cả Phạm Xuân Nguyên và Châu Diên đều công nhận sự thành công của
Mẫu Thượng Ngàn từ việc tác giả chọn thời gian, địa điểm, nhân vật, biểu tượng… để làm
rõ vấn đề bao trùm tác phẩm là: văn hóa Việt trong cuộc đụng độ với văn hóa phương Tây
Họ cũng nhận ra một chút “sạn” trong tác phẩm: “chất tiểu thuyết đã hơi bị ông giảm nhẹ
liều lượng để tô đậm chất văn hóa” nhưng đó chỉ là “chuyện nhỏ trong cái công trình đồ sộ
và chắc chắn này của nhà tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh”
Nhà văn Châu Diên tiếp tục có bài: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại
từ cuốn Làng nghèo được nhà văn viết trong thời kỳ chiến tranh nhưng không được xuất bản Nhà văn Châu Diên khẳng định: “Nếu Nguyễn Xuân Khánh in bản Làng nghèo, anh sẽ
anh có một cuốn tiểu thuyết mang tầm khái quát văn hóa, nhân vật không còn là những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộng đồng”
Nhà văn Nguyên Ngọc rất tâm đắc với tác phẩm này, ông đã bày tỏ điều đó qua bài
Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt (Tuoitre online ngày 12/07/2006) Nguyên
Ngọc viết: “Và ta bỗng hiểu ra: một nhân dân tiềm chứa trong mình sức sống ẩn sâu trong
một thứ tín ngưỡng tuyệt diệu như vậy thì không bao giờ có thể chết, có thể cạn Vĩnh cửu như Đất, như Rừng, như Mẹ, như người Đàn bà Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khám phá
dồi dào và đến tràn trề và đắm say của anh Tác giả đã ngót 75 tuổi Gừng già thật cay!”
Hoài Nam trong bài Sức hấp dẫn của cái được viết (Báo Văn nghệ số 29 ra ngày
22/7/2006) đã lí giải nguyên lí văn hóa Việt được nhà văn lí giải trong Mẫu Thượng Ngàn là
“nguyên lí tính nữ” “được tượng hình qua người đàn bà và những phẩm chất riêng có của
Trang 15người đàn bà: khả năng sinh sản, sự mềm dẻo uyển chuyển, sự nhẫn nhịn và năng lực hóa giải những mâu thuẫn căng thẳng…” Những người đàn bà trong Mẫu Thượng Ngàn đều
đẹp và đều truân chuyên
Nhà báo Thu Huyền đã có cuộc phỏng vấn với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh qua bài:
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Với nhà văn trải nghiệm không có gì là phí (Báo Văn nghệ
trẻ số 30 ra ngày 23/7/2006) Nhà văn đã tâm sự chuyện đời, chuyện nghề cùng bạn đọc
Đồng thời bày tỏ quan niệm của mình về tiểu thuyết lịch sử: “Theo tôi, tiểu thuyết lịch sử có
hai loại Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn chỉ có thể hư cấu về tâm lí hoặc thêm những nhân vật hư
nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo Tôi quan niệm rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử, mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại
vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc vì vậy cần phải đề cập những điều mà
họ quan tâm”
Bài phỏng vấn: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Đề cập đến nhục cảm không có gì là
xấu do Chu Minh Vũ thực hiện, đăng trên báo Thanh niên số 203 ra ngày 22/7/2006, nhà
văn Nguyễn Xuân Khánh đã bày tỏ: “Trong tiểu thuyết này, sự phồn thực được đề cập đến
để thể hiện cuộc đấu tranh văn hóa giữa người Việt và người Pháp, thậm chí ngay cả trên giường ngủ Đề cập đến nhục cảm không có gì là xấu, sự giao hòa đàn ông và đàn bà là đẹp nhất và người nhất, không thể lảng tránh Nó thể hiện sức sống Việt và làm nên sức mạnh Việt Nam cứu rỗi dân tộc và nhân bản” Nhà văn cũng thể hiện quan điểm của mình khi viết
tiểu thuyết lịch sử: “Tiểu thuyết lịch sử là một mảng lớn vì lịch sử hàm chứa cái vô thức tập
thể của dân tộc Tiểu thuyết lịch sử có nhiệm vụ phát hiện những cội nghiệp chung để cho người đọc cùng suy nghĩ”
Nguyễn Sĩ Đại trên báo Nhân dân có bài Mẫu Thượng Ngàn và những câu chuyện
mặt, không chỉ là tình yêu trai gái mà còn là tình yêu đối với quê hương đất nước, con
người…: “Đó là những cặp vú giỏ ấm tích, những đêm trăng ngà ngọc dâng hiến, những
chờ đợi câm lặng cả một đời người, những trái tim rạo rực đập về cuộc sống như Nhụ, như Hoa, như bà Váy, cô Ngơ, chị ba Pháo… Không chỉ tình yêu nam nữ, tình yêu đối với đất
Trang 16đai, mùa màng, với những ngày hội… Tất cả đều nói lên sức sống bất diệt của dân tộc, bất chấp chiến tranh, thù oán
Trên báo Sức khỏe và Đời sống (số thứ 5, từ ngày 1 – 3/8/2006), tác giả Đỗ Ngọc Yên có bài Có một nền văn hóa – Mẫu như thế Tác giả bài báo đã bày tỏ những thích thú và
tâm đắc của mình đối với tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn Đặc biệt là kiểu kết cấu của tác phẩm và hình tượng những nhân vật nữ Đỗ Ngọc Yên viết: “Với một tiểu thuyết có cốt
truyện và nhân vật trung tâm ẩn như Mẫu Thượng Ngàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã tạo lập được một kiểu kết cấu mới, chặt chẽ và hoàn chỉnh xoay quanh việc miêu tả sự đối thoại và quá trình tiếp biến giữa các nền văn hóa để tìm ra đâu là mã (hay còn gọi là bản sắc) văn hóa Việt” Về hình tượng các nhân vật nữ, tác giả bài báo nhận thấy: “Người nào cũng đáng yêu, đáng mến Tác giả miêu tả tình cảm, dục vọng tự nhiên của con người một cách thật tài tình Ông đã mô tả những cái bình thường trong đời sống và sinh hoạt của những người phụ nữ Việt Nam, ngay cả những sinh hoạt phòng the, chăn gối hay những cuộc tình vụng trộm trên quan điểm của cái Đẹp nên người đọc không hề cảm thấy thô tục như trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết của các bạn trẻ hiện nay, trái lại người đọc càng cảm thấy người phụ nữ Việt Nam trong tác phẩm của ông thật sự thánh thiện, rất đáng yêu và đáng trân trọng”
Quỳnh Châu có bài viết Nguyễn Xuân Khánh: Tuổi 74 và cuốn tiểu thuyết mới trên báo Văn nghệ công an số 37 (137) ra ngày 7/8/2006 Tác giả bài báo khẳng định việc “xây
dựng tâm lí Việt, cách sống và phong tục Việt trong xã hội con người qua từng thời kỳ, điều
đó đem lại không ít sự thú vị cho những người đọc ở một giai tầng nhất định” Quỳnh Châu
cũng giới thiệu vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Báo Phụ nữ Việt Nam ra ngày 13/8/2006 có bài Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Tính
nữ trong Mẫu Thượng Ngàn rất mạnh do Thụy Thảo thực hiện Nhà văn đã bày tỏ ý định
của mình khi viết về những người phụ nữ: “Nhiều người nói với tôi: Tính nữ trong cuốn
sách này quá mạnh, nó sẽ làm cho nhiều người đàn ông cảm thấy… mệt Tôi chủ đích làm chuyện đó Từ bà tổ cô quý tộc, bà ba Váy đa tình, cô Mùi bí ẩn, cô bé Nhụ tinh khiết… đều toát lên sự phì nhiêu, sinh sôi, nảy nở Và khi viết về người phụ nữ, bắt buộc phải động chạm đến chuyện trai gái Khi viết những đoạn miêu tả tình dục, tôi phải suy nghĩ rất nhiều Mỗi hành vi tình dục, theo tôi, nó phải nói lên được cá tính nhân vật, hoặc mang tính chất
xã hội Có yêu thương ở đấy, có hy sinh ở đấy, có thù hận ở đấy, thậm chí có cả sự xả thân
ở đấy””
Trang 17Trên báo Người Hà Nội số 37 ra ngày 15/9/2006, Thanh Tâm đã có cuộc phỏng vấn
với nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và được ông tiết lộ: Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Tiểu
thuyết Mẫu Thượng Ngàn có thể được viết lại lần thứ 3! Mặc dù tác phẩm đã được ông
nghiềm ngẫm rất lâu, viết đi viết lại nhiều lần, khi ra đời đã được đông đảo bạn đọc đón
nhận nhưng nhà văn vẫn chưa thật hài lòng Theo nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: “nên cắt
gọt đi 150 trang rồi nối khấc lại…”
Trong bài Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn
trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 6/2007, tác giả Trần Thị An có những cách lí giải thú
vị về văn hóa dân gian, tín ngưỡng dân gian trong tác phẩm Tác giả bài viết khai triển các nội dung sau: 1) Tín ngưỡng dân gian với tư cách là một nội lực cố kết cộng đồng; 2) tín ngưỡng dân gian với tư cách là phản lực tự vệ của một dân tộc; 3) Tín ngưỡng dân gian với
tư cách là vô thức cộng đồng cần khai phóng
Tuy có khá nhiều bài viết về Mẫu Thượng Ngàn nhưng phần lớn là những bài cảm
nhận chung hay các cuộc phóng vấn tác giả ngay khi tác phẩm vừa ra đời Vẫn chưa có những công trình lớn, chuyên sâu tìm hiểu một cách toàn diện về tác phẩm
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu nằm trong hai cuốn tiểu thuyết lịch sử của nhà
văn Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên
đưa vào luận văn này
Ngoài ra, chúng tôi khảo sát thêm một số tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn từ sau
1975 đến nay nhằm khái quát một cách sơ lược bức tranh vận động, phát triển của tiểu thuyết lịch sử nước nhà, đồng thời thấy được đóng góp của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cho sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam Cụ thể, chúng tôi khảo sát những tác phẩm sau:
(1998); Cái ngai vàng (2003) của Ngô Văn Phú
Trang 186) Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý (2010) của Hoàng Quốc Hải
7) Giàn thiêu (2004) của Võ Thị Hảo
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp lịch sử
Viết về đề tài lịch sử, chúng tôi chú ý tìm hiểu lịch sử để nắm vững bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn, đồng thời thấy được tính chân thực lịch sử và sự sáng tạo, hư cấu trong các tiểu thuyết lịch sử
4.2 Phương pháp so sánh
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi so sánh tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh với một số tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn khác cùng thời và khác thời để làm nổi bật những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh
sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, hệ thống tất cả những điểm nổi bật về nội dung, nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh Giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết lịch sử của ông
Luận văn còn so sánh đối chiếu giữa tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh và những nhà viết tiểu thuyết lịch sử khác để thấy được sự đóng góp của tác giả trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử, qua đó phác thảo một vài nét sơ lược về tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn từ sau 1975 đến nay
Trang 196 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay và tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Xuân Khánh
Chương 2: Nội dung cơ bản trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
Trang 20C HƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA
NGUYỄN XUÂN KHÁNH
1.1 Bàn về tiểu thuyết lịch sử
Tiểu thuyết lịch sử từ khi ra đời đến nay vẫn là một dòng chảy dào dạt trong nền văn học dân tộc Theo cách hiểu thông thường nhất: tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là lịch sử trong tiểu thuyết lịch
sử được được nhà văn xử lí như thế nào, mức độ ra sao? Đã có rất nhiều quan niệm xoay quanh vấn đề này, tựu trung lại có thể chia thành hai nhóm
Nhóm thứ nhất coi việc tái hiện chính xác sự kiện lịch sử, không khí lịch sử là chính Nhà văn trở thành người văn chương hóa lịch sử, nghĩa là thể hiện lịch sử một cách sinh động, hấp dẫn, lấp đầy chỗ trống trong các trang chính sử ngắn gọn, khô khan Cái nhìn của nhà văn đối với lịch sử là cái nhìn kính cẩn, coi những điều được chép trong chính sử là sự thật hiển nhiên, không cần bàn cãi Những cuốn tiểu thuyết như thế không có nhiều ý nghĩa văn chương và chưa phải là những cuốn tiểu thuyết đích thực Tiểu thuyết lịch sử thì trước hết nó phải là tiểu thuyết và phải mang đầy đủ đặc điểm của thể loại M.Bakhtin đã nói:
“tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn chưa định hình”, tiểu
thuyết đưa người đọc vào một cuộc đối thoại lớn mà ở đó mỗi quan điểm đều độc lập và có tiếng nói ngang bằng nhau Tiểu thuyết luôn có thái độ hoài nghi, lật đi lật lại vấn đề, không
chấp nhận cách giải quyết một hướng, hoàn tất, xong xuôi [4, 21] Trong Nghệ thuật tiểu
thuyết, M.Kundera cũng khẳng định: “tiểu thuyết vốn là sự hiền minh của “lưỡng lự”, là thời gian của cái ở thì hiện tại tiếp diễn, cái dang dở, cái không hoàn tất Tiểu thuyết mang
sứ mệnh nghi ngờ cái tưởng như đã ổn định, tra vấn đến cùng những chân lí có sẵn”
Tiêu biểu cho quan điểm này là các nhà văn: Thái Vũ, Chu Thiên, Nguyễn Tử Siêu, Ngô Văn Phú…Tuy nhiên cách xử lí của các nhà văn cũng có sự khác nhau Theo Thái Vũ:
“Tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử Mà đã viết lịch sử thì phải trung thực, tôn trọng sự thật không bịa Tôi viết là tuyệt đối không bịa, dù là một sự kiện lịch sử hay một nhân vật lịch sử” [71, 5] Nhà văn đặt sự trung thành lịch sử lên trên hết và dùng văn để
chép sử Quan tâm đến văn chương nhiều hơn, Ngô Văn Phú cho rằng: “Ở đây tôi muốn nói
Trang 21chất tiểu thuyết phải được thổi vào hồn của lịch sử” Nguyễn Tử Siêu đã không hoàn toàn
lệ thuộc vào chính sử, phát huy khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ, “bên cạnh các bậc
anh hùng xuất chúng, Nguyễn Tử Siêu còn đặc biệt chú ý các nhân vật lịch sử ít tên tuổi khác và cả những nhân vật do ông hư cấu, nhiều khi họ chỉ là những người bình thường không tên tuổi” [19, 20]
Với cách quan niệm và cách viết tiểu thuyết như vậy, trong một thời gian dài tiểu thuyết lịch sử nước ta chưa có những đổi mới, cách tân Dẫn đến những điều đáng tiếc: a) Khi chỉ tập trung vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sẽ bỏ qua rất nhiều phương diện đa dạng của đời sống nhân quần mà chắc chắn đã diễn ra trong thời đại quá khứ; b) Khi thái độ và cảm hứng của nhà tiểu thuyết trước lịch sử chỉ là kính
cẩn và ca ngợi, rõ ràng vẫn tồn tại cái “khoảng cách sử thi” không thể san lấp Khi ấy tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam trở nên đậm chất truyện kể mà lại nhạt đi rất nhiều chất tiểu thuyết [47, 3]
Đóng góp của những nhà tiểu thuyết lịch sử theo quan niệm này là làm cho người đọc hiểu biết về lịch sử, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời kỳ chiến tranh, khi đó nó trở thành một vũ khí chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược vô cùng hiệu quả
Nhóm thứ hai quan niệm rằng: lịch sử là chất liệu, thậm chí là phương tiện để viết tiểu thuyết, thông qua lịch sử đặt ra những vấn đề cấp thiết cho hiện tại và tương lai Quan niệm này tương đồng với quan niệm của các nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng trên thế giới: A.Dumas, Hella S.Haasse, Lion Feuchtwanger… A.Dumas, tác giả của những cuốn
tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng như: Ba chàng lính ngự lâm, Hai mươi năm sau, Bá tước Monte
của tôi thôi” Bà Hella S.Haasse trong lời nói đầu cuốn Cánh rừng mong đợi đã tâm sự:
“Mặc dù những cuốn tiểu thuyết của tôi có thể là tiểu thuyết lịch sử (bởi vì nó dựa trên những sự kiện và biến cố lịch sử hoặc có liên quan đến những con người có thật)… chủ định của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ làm nhiệm vụ hàng đầu Trong văn học, đề tài lịch sử là một phương tiện chứ không phải một cứu cánh” [17, 61] Lion Feuchtwanger
cũng quan niệm: “Tôi không quan tâm đến lịch sử vì lịch sử… khi tôi cần tả một cái ghế của
thế kỉ XVIII hay một bộ y phục của thế kỉ II, tôi cố gắng tả cho thật chính xác Nhưng những
đồ trang hoàng của thời xưa đó, tôi chỉ ngẫu nhiên đem chúng vào tác phẩm thôi Còn bản
ý của tôi là chỉ dùng những khía cạnh nào đó của lịch sử có ý nghĩa với chúng ta ngày nay,
Trang 22tới nay vẫn còn đầy sinh khí và có thể giúp chúng ta hiểu việc ngày nay… Xem xét sự thăng
không giống thì nó cũng giúp ta nhận định rõ sự biến chuyển của công việc ngày nay Do đó
mà tôi viết tiểu thuyết lịch sử” [6, 133] Dùng lịch sử để phản ánh những vấn đề hiện tại là
xu hướng viết tiểu thuyết lịch sử hiện đại trên toàn thế giới Lukacs gọi nó là “tính thích
dụng” và “tính thích dụng là một trong những nét cơ bản của tiểu thuyết lịch sử ngày nay,
nó báo hiệu sự khởi đầu của bước ngoặt mới trong lịch sử của tiểu thuyết lịch sử” [12,
189]
Quay trở lại với các nhà viết tiểu thuyết lịch sử theo quan niệm này ở nước ta, tiêu biểu là Nguyễn Huy Tưởng, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân… Càng trở về những năm gần đây thì các nhà tiểu thuyết lịch sử càng có nhiều những đổi mới trong nghệ thuật viết Nguyễn Huy Tưởng coi:
tâm thế của người cầm bút về thân phận con người, ý thức công dân và sứ mệnh nghệ thuật” [65, 71] Hoàng Quốc Hải, người đóng góp vào nền văn học nước nhà với hai cuốn
tiểu thuyết lịch sử đồ sộ: Tám triều vua Lý, Bão táp triều Trần, khẳng định rằng: “Viết tiểu
thuyết lịch sử không nên phụ thuộc vào chính sử” Chính sử cũng chỉ là một nguồn tư liệu
trong vô số tư liệu mà nhà văn tập hợp Vây nên, Hoàng Quốc Hải đã có những chuyến đi thực tế dài ngày, tìm hiểu những dã sử, truyền thuyết, gia phả, câu đối… được lưu truyền trong dân gian Ông cũng quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử để cho người hôm nay đọc nên
đã chọn cách viết dung dị, dễ đọc, phục vụ đông đảo quần chúng Nguyễn Quang Thân, tác giả vừa đạt giải A cuộc thi viết tiểu thuyết giai đoạn 2006 – 2010 do hội Nhà văn tổ chức,
cho rằng: “Điều quan trọng là tiểu thuyết lịch sử phải làm những gì chìm lấp dưới lớp bụi
thời gian thành ánh sáng trong cuộc sống hiện đại chứ không giúp độc giả nhâm nhi mãi quá khứ để tự ru mình” [63, 12] Cùng quan niệm: dùng lịch sử để soi sáng những vấn đề ở
hiện tại nhưng nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có quan niệm về tiểu thuyết lịch sử cởi mở
hơn Theo ông: tiểu thuyết lịch sử có hai loại: “Một là viết về những nhân vật nổi tiếng
trong lịch sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ được phép hư cấu về tâm lí hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [33,
3] Quan niệm này chính là tiêu chí để nhà văn sáng tác những cuốn tiểu thuyết lịch sử của
Trang 23mình: Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Nếu Hồ Quý Ly là tác phẩm tiêu biểu cho loại thứ
nhất thì Mẫu Thượng Ngàn tiêu biểu cho loại thứ hai
Có thể nói rằng quan niệm về tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã
bác bỏ ý kiến của nhà phê bình Hoài Nam, khi ông này cho rằng: Mẫu Thượng Ngàn không
phải là tiểu thuyết lịch sử mà là tiểu thuyết phong tục Hoài Nam viết:
đây không phải là một tiểu thuyết lịch sử (Thực ra, “lịch sử” là khái niệm được dùng khá tùy tiện! Người ta dễ dàng đồng ý với nhau ở cái đẳng thức không hẳn đã chính xác: lịch sử
= quá khứ Nhưng không phải quá khứ nào cũng được coi là lịch sử, điều này đặc biệt rõ trong văn học Viết về phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX, cuốn Cờ nghĩa Ba Đình đương nhiên được coi là tiểu thuyết lịch sử Nhưng những cuốn viết về các giai đoạn quá khứ gần hiện tại hơn – kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ chẳng hạn – có ai bạo gan coi
là tiểu thuyết lịch sử?) Có hai lí do cho sự khẳng định này: Thứ nhất, đại đa số nhân vật trong tác phẩm là nhân vật hư cấu, một vài nhân vật có thật trong lịch sử lạc vào đây (giám mục Puginier, thiếu tá Heri Riviere) thì chỉ được nói đến loa qua, và vì thế, không tạo được cho người đọc niềm tin vào tính xác thực “như được lưu trong sử sách” của những gì tác giả kể lại Thứ hai, mặc dù một vài sự kiện xảy ra trong lịch sử Việt Nam nửa cuối TK XIX
có được đưa vào (như việc đàn áp người công giáo của triều đình nhà Nguyễn, cuộc đánh thành Hà Nội lần thứ hai, cái chết của Heri Riviere trong cuộc chiến với quân Cờ Đen…), nhưng những sự kiện chủ yếu nằm ở mạch vận động của cốt truyện thì lại rất ít liên quan tới các sự kiện lịch sử ấy Người đọc ngầm hiểu với tác giả - hay tác giả ngầm giao kèo với người đọc – rằng câu chuyện về người dân làng Cổ Đình này diễn ra trước năm 1930, trong bối cảnh người Pháp đang từng bước áp đặt sức mạnh bảo hộ của mình đến từng làng quê Bắc Bộ Mà chung chung như vậy thì thật khó có thể nói đến tính “lịch sử” trong cảm hứng
đề tài của tác phẩm!” [46, 6]
Nếu chúng ta cứ quan niệm tiểu thuyết lịch sử phải đề cập đến nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử có thật trong quá khứ và nó phải đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng tác phẩm thì sẽ không còn phù hợp với thực tiễn sáng tác tiểu thuyết lịch sử trong những năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu của thế kỉ XXI, khi mà có một số tiểu thuyết lịch sử ra
đời không dựa trên tiêu chí đó: Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn
Xuân Khánh… Đã đến lúc chúng ta cần có cách hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn về tiểu
thuyết lịch sử Dorothy Brewster và John Burrell trong Tiểu thuyết hiện đại đã nói: “Có lẽ
Trang 24điểm quan trọng là tìm ra một định nghĩa mềm dẻo” Ở đây, chúng tôi không có tham vọng
sẽ đưa ra một định nghĩa thật toàn diện, đúng đắn mà chỉ đưa ra cách hiểu về tiểu thuyết lịch
sử phù hợp hơn với thực tiễn sáng tác hiện nay Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm văn
học mang đầy đủ đặc trưng của tiểu thuyết, đề cập đến những vấn đề lịch sử Lịch sử ở đây có thể là nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử có thật hoặc chỉ là không khí lịch sử làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu hoạt động
Như vậy, cách hiểu này đề cao chất tiểu thuyết trong tiểu thuyết lịch sử và mở rộng phạm vi cho các nhà tiểu thuyết lịch sử khai thác đề tài lịch sử Nói đến nhà văn viết tiểu thuyết, dù anh viết tiểu thuyết gì đi nữa trước hết vẫn phải đậm đà chất tiểu thuyết, mang đầy đủ đặc trưng của thể loại Có như vậy tác phẩm mới có sức lôi cuốn, hấp dẫn bạn đọc trong thế giới văn chương thực sự Tiếp theo, khi cách xử lí về chất liệu lịch sử cởi mở, phóng khoáng hơn thì lịch sử không chỉ gói gọn là lịch sử trong chính sử mà mở rộng ra là lịch sử sinh hoạt, cuộc sống của nhân dân trong thời kì đó Tiểu thuyết lịch sử sẽ gần gũi, sinh động với cuộc đời thực hơn và có nhiều khoảng trống để nhà văn tưởng tượng, sáng tạo
1.2 Giới thiệu diện mạo chung của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay
Sau 1975, đất nước ta đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất, Bắc Nam chung một nhà Đất nước bước sang một giai đoạn mới: giai đoạn xây dựng và phát triển Nền văn học của chúng ta cũng có nhiệm vụ mới: phản ánh muôn màu cuộc sống con người sau chiến tranh Đây chính là thời gian để văn học nhìn lại sâu sắc, toàn diện hơn về hai cuộc chiến tranh vừa qua, đồng thời có những định hướng văn học trong thời kì mới Tiểu thuyết lịch sử vẫn như một dòng sông chảy mãi trong nền văn học dân tộc, có những lúc lặng lẽ, âm thầm lại
có những lúc ào ạt, dữ dội song không bao giờ mất đi Tiểu thuyết lịch sử từ sau 1975 đến nay đã có những bước tiến dài, với những đổi mới cả về nội dung lẫn nghệ thuật biểu hiện
Và đến những năm đầu thế kỉ XXI, tiểu thuyết lịch sử đã thực sự nở rộ và gặt hái được
những thành công lớn Nhà phê bình Nguyễn Văn Dân đã nhận định rằng: “tiểu thuyết lịch
sử đang lên ngôi”
Nói như vậy là hoàn toàn có cơ sở Thứ nhất, trong giai đoạn gần đây nhiều giải thưởng cao quý của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, giải thưởng Bùi Xuân
Phái… đã được trao cho những tác phẩm là tiểu thuyết lịch sử: Hồ Quý Ly của Nguyễn
Trang 25Xuân Khánh đã nhận được ba giải thưởng (Giải thưởng cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà
văn Việt Nam năm 1998 – 2000; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2001; Giải thưởng Thăng Long của UBND thành phố Hà Nội năm 2002) Giàn thiêu của Võ Thị Hảo
đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004 Mẫu Thượng Ngàn của
Nguyễn Xuân Khánh nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006 Hoàng
Quốc Hải với hai bộ tiểu thuyết đồ sộ: Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý đã nhận được giải thưởng Bùi Xuân Phái vì tình yêu Hà Nội Gần đây nhất Hội thề của Nguyễn Quang
Thân đạt giải A cuộc thi viết tiểu thuyết năm 2006 – 2010 của Hội Nhà văn Việt Nam Những giải thưởng liên tiếp của các tổ chức văn học có uy tín dành cho tiểu thuyết lịch sử
đã cho thấy những thành công rất đáng ghi nhận của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn gần đây Thứ hai, những cuộc tranh luận trên báo chí diễn ra những năm gần đây đều xoay quanh các
tác phẩm tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly ra đời gây xôn xao dư luận và tốn không ít bút mực
của các nhà phê bình, nhà báo, bạn đọc Sau năm năm, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh lại làm
mọi người ngạc nhiên với cuốn tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn Hiện tượng gần đây nhất là cuốn Hội thề của Nguyễn Quang Thân đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận, những tranh cãi
nhiều khi hoàn toàn trái ngược nhau Sau khi nhận giải thưởng, rất nhiều tờ báo đã có những cuộc phỏng vấn với nhà văn Nguyễn Quang Thân và đưa ra những lời khen ngợi dành cho tác phẩm Nhưng tiếp đó, một loạt các bài viết của các tác giả: Trần Mạnh Hảo, Phạm Viết Đào, Trần Chân Nhân… đã viết bài công kích, phê phán tác phẩm Cuộc tranh luận rất gay gắt, quyết liệt và vẫn chưa có hồi kết Điều đó chứng tỏ tiểu thuyết lịch sử đã có một vị trí đặc biệt trong lòng độc giả và gây sự quan tâm, chú ý của nhiều đối tượng Cuối cùng, có thể nhận thấy rằng hiện nay những ấn phẩm của tiểu thuyết lịch sử được bạn đọc rất yêu thích và số lượng tái bản liên tục
Khảo sát của chúng tôi là những tác phẩm tiểu thuyết lịch sử từ sau 1975 đến nay Trong giai đoạn này có khá nhiều các tác phẩm ra đời, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu và có sự đóng góp cho sự vận động của tiểu thuyết lịch sử nước nhà:
(1998); Cái ngai vàng (2003) của Ngô Văn Phú
Trang 266) Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý (2010) của Hoàng Quốc Hải
7) Giàn thiêu (2004) của Võ Thị Hảo
Trong số những cuốn tiểu thuyết lịch sử mà chúng tôi khảo sát có một tác phẩm của
nữ sĩ người Pháp đó là: Vạn Xuân của Yveline Feray Đây thực sự là một bất ngờ đồng thời
cũng là món quà cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà Mặc dù đây là tác phẩm của nữ sĩ Pháp nhưng chúng tôi vẫn xếp vào các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Việt Nam bởi nó viết về lịch sử Việt, con người Việt, tâm hồn Việt một cách thật nhuần nhị và tinh tế Nó đã mang
lại cho bức tranh tiểu thuyết lịch sử nước ta giai đoạn này thêm phong phú, đa dạng Vạn
nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc, nhà thơ nhà văn lớn: Nguyễn Trãi
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã có những tiến bộ đáng kể, đặc biệt là giai đoạn những năm đầu thế kỉ XXI Tuy vậy, những năm từ sau 1975 đến 1980, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam cơ bản vẫn chưa có gì thay đổi so với tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước Các nhà văn tập trung xoay quanh những nhân vật lịch sử nổi tiếng và những sự kiện tiêu biểu của nước nhà Nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử chủ yếu để ca ngợi, tôn vinh những công lao của các anh hùng dân tộc và những chiến công hiển hách Nhân vật lịch sử được xây dựng với cảm hứng sử thi, trở thành những vĩ nhân sáng chói Về nghệ thuật trần thuật, nhà văn trần thuật theo ngôi thứ ba, người trần thuật khách quan Tác giả như nhà sử học kể lại cho con cháu đời sau Vì vậy, nhà văn chưa đi sâu vào khai thác nội tâm nhân vật Tuyến nhân vật thường phiến diện, một chiều: thiện – ác, tốt – xấu Ngôn ngữ mang đậm màu sắc
cổ điển, trang trọng, chưa phải là ngôn ngữ đời thường, gần gũi với bạn đọc ngày hôm nay Tiêu biểu cho giai đoạn này là các tác phẩm của Ngô Văn Phú
Trong tác phẩm “Trần Thủ Độ - Ngôi vua và những chuyện tình”, Ngô Văn Phú trần
thuật theo trật tự thời gian tuyến tính, bắt đầu từ cuối đời nhà Lý đến đầu triều đại nhà Trần
để làm nổi bật vai trò của Trần Thủ Độ Cách trần thuật vẫn theo lối truyền thống của các tác phẩm trước: trần thuật khách quan, theo ngôi thứ ba Tác phẩm chưa có nhiều đổi mới về nghệ thuật thể hiện so với các tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước, chỉ đơn thuần là dùng văn
để kể sử
Bước sang giai đoạn những năm từ 1980 đến những năm cuối TK XX, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã có những đổi mới, hướng đến cách viết hiện đại hơn Những tác phẩm giai đoạn này đã chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự - hiện tại Nhà văn không
Trang 27chỉ viết về nhân vật lịch sử nổi tiếng, sự kiện lịch sử trọng đại mà hướng dần đến sự kết hợp giữa lịch sử và thế sự Giữa tuyến nhân vật lịch sử với tuyến nhân vật đời thường được hư cấu Lịch sử không còn là ngôi đình thiêng mà nhà văn kính cẩn, ca ngợi, lịch sử thật gần gũi, bình dị như cuộc sống đời thường Lịch sử cũng không còn là những bức tượng đài sáng chói mà được khai thác ở góc độ đời tư, đầy tinh thần tiểu thuyết Nhân vật được xây dựng trong nhiều mối quan hệ, được soi sáng từ nhiều nhân vật khác nhau và đặc biệt là nhà văn đã thâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật để phơi bày những suy nghĩ, những dằn vặt, những mâu thuẫn đầy phức tạp và tinh tế
Nghệ thuật trần thuật cũng có nhiều đổi mới, không còn là lối trần thuật khách quan bên ngoài một chiều mà điểm nhìn trần thuật đa dạng, linh hoạt hơn Khi là điểm nhìn của nhà văn, có khi lại chuyển cho nhiều nhân vật khác nhau Nhờ cách trần thuật như vậy mà tác giả dễ dàng xâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật để bóc tách, mổ xẻ Ngôn ngữ trong các tiểu thuyết giai đoạn này cũng có những đổi mới đáng kể Với cách nhìn hướng vào thế
sự - hiện tại, chú trọng đến nhân vật đời thường và cuộc sống thường nhật Ngôn ngữ tiểu
thuyết trở nên dung dị, gần gũi với bạn đọc Những tác phẩm tiêu biểu giai đoạn này: Vạn
Trong Vạn Xuân, Yveline Feray sử dụng điểm nhìn trần thuật đa dạng, linh hoạt Có
khi là điểm nhìn của nhà văn, có khi nhà văn trao điểm nhìn cho các nhân vật Đặc biệt nhà văn rất tinh tế trong việc phân tích diễn biến tâm lí nhân vật, nhất là tâm lí những người phụ
nữ Tâm trạng của nàng Trần Thị Thái khi gặp chàng nho sinh Nguyễn Phi Khanh; tâm trạng của Nhụy Lài khi thấy Nguyễn Thị Lộ được Nguyễn Trãi yêu thương; tâm trạng của Nguyễn Thị Lộ khi từ giã Nguyễn Trãi… ta đều bắt gặp cách cắt nghĩa, phân tích sắc bén, biến hóa tài tình của nữ sĩ Yveline Feray
Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác đã mở ra một thời kì viết tiểu thuyết theo
hướng mới: tiểu thuyết hóa lịch sử, nghĩa là chú trọng chất tiểu thuyết, coi lịch sử chỉ là phương tiện, là cái cớ để nhà văn xây dựng tác phẩm của mình Nguyễn Mộng Giác bắt đầu
viết Sông Côn mùa lũ từ ngày 24/05/1978 và hoàn thành vào ngày 01/03/1981 Ở đầu tác phẩm nhà văn đã trân trọng dành tặng vợ và các con: “Tặng nhà tôi Nguyễn Khoa Diệu Chi
và các con Đào Tiên, Thụy Vũ, Mai Tiên” Có thể thấy ngay từ ý định sáng tác, nhà văn đã
chú trọng tính chất đời thường hơn là tính lịch sử Tác phẩm lấy bối cảnh lịch sử từ năm
1765 đến 1792, mở đầu bằng cuộc chạy loạn của gia đình ông giáo Hiến từ Phú Xuân vào
An Thái để tránh loạn chuyên quyền của Trương Phúc Loan và kết thúc với sự kiện vua
Trang 28Quang Trung băng hà Toàn bộ câu chuyện được triển khai theo hai mạch truyện: mạch truyện theo những chiến công hiển hách của vua Quang Trung và mạch truyện về thân phận chìm nổi của cô gái tên là An Hai mạch truyện không phải là hai mạch song song mà có sự đan kết chặt chẽ: những biến chuyển của phong trào Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc đã tác động đến cuộc sống của những thân phận người dân bé nhỏ như An; ngược lại, cuộc sống gia đình An cũng có nhiều thay đổi trước những biến động của lịch sử Nhà văn dường như lướt qua mạch truyện thứ nhất, chỉ dành những trang văn ít ỏi, chú yếu thông qua những ghi chép của Lãng Nhưng lại dành nhiều tâm huyết và bút lực cho mạch truyện thứ hai: thân phận của An Cuộc sống của An đã trải qua biết bao thăng trầm, chìm nổi, đầy long đong và bất hạnh trước những trận cuồng phong của lịch sử Thân phận An tiêu biểu cho thân phận của người phụ nữ trong thời tao loạn
Sông Côn mùa lũ mang đậm chất tiểu thuyết đúng như nhận xét của nhà phê bình
Phan Cự Đệ, ông coi thành công của Sông Côn mùa lũ nằm ở chỗ tác giả Nguyễn Mộng
Giác: “nghiêng về tiểu thuyết hơn là lịch sử Ông không quan niệm lịch sử chỉ là câu chuyện của các ông hoàng bà chúa, của các tướng lĩnh, là sự biên niên của các trận đánh Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là tiểu thuyết, là thế sự, là chất văn xuôi, là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và thiên nhiên” [17, 78] Những thành công của Sông Côn mùa
lũ có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử ở nước ta Đây là bước trung
gian để tiểu thuyết lịch sử đoạt tuyệt hẳn với phương pháp truyền thống để bước sang địa hạt của những đổi mới, cách tân mạnh mẽ ở giai đoạn sau
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công vượt bậc trong giai đoạn những năm đầu của thế kỉ XXI Chỉ trong khoảng mười năm đầu của thế kỉ, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm tầm cỡ, xuất sắc, có nhiều cách tân trong nghệ thuật Hơn bao giờ hết tiểu thuyết lịch sử đang nhận được sự quan tâm của các nhà văn, đáp lại “cơn khát” lịch sử của nước nhà giai đoạn hiện nay
Nếu như tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước thường chú trọng vào nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử thì tiểu thuyết giai đoạn này đã mở rộng chủ đề, phản ánh muôn mặt của cuộc
sống và hướng đến những vấn đề của hiện tại Với Hồ Quý Ly, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã đặt ra vấn đề: đổi mới và bảo thủ Ông tâm sự: “Trong Hồ Quý Ly, vấn đề của tôi
là giữa đổi mới và bảo thủ chứ không phải là kể lại lịch sử” Tác phẩm viết về giai đoạn
cuối đời Trần, khi triều đình đã mục ruỗng, vua nhu nhược, quan lại tham nhũng, nhân dân đói khổ, giặc cướp tung hoành khắp nơi… đất nước cần một sự thay đổi, cần phải lột xác
Trang 29Hồ Quý Ly là người biết rõ điều đó nhất và đề ra rất nhiều nhiều chính sách nhằm thay đổi đất nước Ông ban hành nhiều cải cách: hạn điền, hạn nô, phát hành tiền giấy, làm sổ hộ khẩu, bắt sư sãi còn trẻ xung vào quân đội… nhằm chấn hưng lại đất nước Thế nhưng, con đường cải cách của ông bị sự chống đối của rất nhiều thế lực: tôn thất nhà Trần, sư sãi tăng
lữ, kẻ sĩ và cả nhân dân Không còn cách nào khác, Hồ Quý Ly phải tìm mọi cách để nắm lấy quyền lực, cưỡng chế bằng những biện pháp bạo lực Đối lập với phe đổi mới là phe bảo thủ, họ là những tôn thất nhà Trần, đứng đầu là: thượng tướng Trần Khát Chân, quan thái bảo Trần Nguyên Hàng Vì lợi ích của dòng họ, họ nhất quyết chống đối và tìm mọi cách tiêu diệt Hồ Quý Ly Chính sách tiền giấy thì bị cho là cướp tiền, hạn điền thì cướp ruộng, hạn nô thì bẻ hết nanh vuốt của người quân tử… có thể họ ý thức được nhà Trần đã đến
buổi suy vi, mục nát nhưng họ cũng không thể chấp nhận một kẻ “loạn thần tặc tử”, thoán
nghịch, tiếm ngôi Kết thúc tác phẩm, phe bảo thủ bị giết chết, bị bêu xác ngoài cửa thành
và sự thắng thế của phe cách tân Như vậy, có thể thấy luận đề mà tác giả nêu ra ở đây: đổi mới là tất yếu của lịch sử mặc dù ban đầu bao giờ cũng gây nhiều xáo trộn, đau thương
Ở Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đặt ra vấn đề văn hóa Việt trong cuộc
đụng độ với nền văn hóa phương Tây khi thực dân Pháp xâm lược Cuối TK XIX đầu TK
XX, khi Phật giáo, Nho giáo đã suy yếu, Thiên chúa giáo đang ngày càng lớn mạnh, nhưng đấy là thứ tôn giáo hoàn toàn xa lạ với người dân Việt Nam Người dân đã tìm về cội nguồn tôn giáo Việt: đạo Mẫu Mẫu là mẹ, là Đất, là nơi an lành để những đứa con khốn khó tìm
về những lúc đau khổ, tuyệt vọng Tác phẩm đặt ra cho chúng ta nhiều suy ngẫm trong hoàn cảnh hiện tại: vấn đề tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
bản thể, bi kịch của lòng hận thù, sức mạnh bất diệt của tự nhiên Đó đều là những vấn đề của con người từ xưa đến nay
Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỉ XXI cũng chứng kiến nhiều phong cách khác nhau của các nhà văn làm nên một bản hòa âm đủ mọi thanh sắc, cung bậc Lịch sử được soi chiếu ở nhiều góc độ, khía cạnh Ta bắt gặp cách bao quát lịch sử rộng lớn, toàn diện của
Hoàng Quốc Hải trong hai bộ tiểu thuyết đồ sộ: Tám Bão táp triều Trần, triều vua Lý Với
kiến thức uyên thâm, rộng rãi về nhiều mặt, tác giả đã cho chúng ta khám phá từng bước thăng trầm của lịch sử dân tộc qua các triều đại Lý, Trần – những triều đại vĩ đại trong lịch
sử dân tộc, làm nên văn hiến của Đại Việt Qua hai bộ tiểu thuyết, tác giả đã truyền cho người đọc lòng tự hào dân tộc, ý thức tự chủ, ý thức bảo vệ từng mảnh đất thiêng liêng của
Trang 30núi sông mà cha ông đã ra sức gìn giữ Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân lại có cách tiếp cận lịch sử khác, nhà văn cắt ngang lịch sử, xoáy sâu vào một giai đoạn lịch sử, thời kì lịch sử có “vấn đề”, nhiều biến cố Nguyễn Quang Thân chọn thời điểm khi cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã vào giai đoạn cuối Sau khi tiêu diệt quân chi viện của nhà Minh do Liễu Thăng, Mộc Thạch cầm đầu ở Lạng Giang, Xương Giang, giặc co cụm ở thành Đông Quan, chỉ một trận đánh nữa thôi là chúng ta có thể tiêu diệt toàn bộ quân địch, rửa mối nhục cho Đại Việt suốt hai mươi năm qua Nhưng chính thời điểm đó, tư tưởng nhân nghĩa, yêu chuộng hòa bình của nhân dân tỏa sáng thể hiện qua quyết định của người đứng đầu nghĩa quân Lê Lợi cho Vương Thông cầu hòa, mở hội thề Đông Quan, cấp thuyền ngựa cho quân giặc trở về nước, kết thúc chiến tranh, mở ra
kỉ nguyên độc lập cho dân tộc Để có được quyết định đó, Lê Lợi quả là một chủ tướng có tầm nhìn xa trông rộng, có tấm lòng yêu thương nhân dân, nghĩ cho đại cục, không muốn máu của nghĩa sĩ, nhân dân chảy một cách không cần thiết và tránh xảy ra mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc Ông đã ghìm lại cơn khát trả thù của những võ tướng dưới quyền
Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh lấy bối cảnh thời gian là tám năm cuối cùng của
triều đại nhà Trần giữa hai hội thề: hội thề Đồng Cổ mở đầu tác phẩm và hội thề Đốn Sơn khép lại tác phẩm Một thời điểm đầy căng thẳng, bạo liệt, biết bao sự kiện đan chéo, chồng chất Để bao quát toàn bộ sự kiện, nhân vật nhà văn đã đan cài giữa thời gian hiện tại và thời gian quá khứ, sử dụng nhiều “tình huống hồi cố”
Có những tác phẩm viết về nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử được ghi chép trong chính sử nhưng cũng có những tác phẩm viết về lịch sử của nhân dân, lấy bối cảnh lịch sử
làm phông nền để nhân vật hư cấu hoạt động như: Mẫu Thượng Ngàn, Giàn thiêu Ở Mẫu
Thượng Ngàn, nhà văn xây dựng một hệ thống nhân vật hư cấu, đầy sinh động Với Giàn
bao quanh câu chuyện hư cấu, tưởng tượng của nhà văn
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu TK XXI có nhiều cách tân về nghệ thuật viết tiểu thuyết Đây là những cuốn tiểu thuyết thực sự, mang đúng tinh thần tiểu thuyết Các tác giả đã có cái nhìn đa dạng, nhiều chiều đối với lịch sử, soi chiếu lịch sử ở nhiều mặt, đưa người đọc vào một cuộc đối thoại lớn mà ở đó chưa có một quan niệm, đánh giá nào là quyết định cuối cùng, mỗi người sẽ tự đưa ra những phán xét cho riêng mình Trong
Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh đã xây dựng nhân vật này trong nhiều mối quan hệ, soi
chiếu nhân vật từ các nhân vật khác và đi sâu vào cuộc sống đời tư, nội tâm nhân vật Người
Trang 31say mê công cuộc cải cách của thái sư họ Hồ như Hồ Hán Thương, Nguyễn Cẩn… thì coi ông là một minh chủ, một người sắc sảo, cương nghị, có tài mưu lược Phe đối lập thì coi
Hồ Quý Ly là một kẻ gian hùng, đa sát, thâm độc, thoán nghịch, gây nhiều phiền hà Người công bằng hơn thì thấy đây vừa là một con người quyết đoán, có gan làm việc lớn, có suy nghĩ độc lập lại vừa là kẻ lạnh lùng, nhẫn tâm, tính toán, mưu mô… Nhà văn lại đi sâu vào nội tâm nhân vật để soi tỏ chính nhân vật Hồ Quý Ly là một người đầy mâu thuẫn, ông nhận thấy rằng đất nước cần đổi mới, cần khơi lại cái mạch nguồn trong một cái giếng đầy
ao tù, cặn bẩn Muốn làm được điều đó cần nhanh chóng nắm được quyền lực tối cao nhưng ông lại trù trừ, không nỡ vì Trần Nghệ Tông đối với ông rất ân nghĩa, lại là một người tri kỉ
Hồ Quý Ly nắm trong tay quyền lực ngất trời, có thể làm mưa làm gió, có quyền sinh quyền sát nhưng lại là một con người cực kỳ yếu đuối và cô đơn Nhiều lần ông đã khóc trước bức tượng bằng đá của người vợ quá cố, xin bà tha thứ Nhiều khi ông quay cuồng với những toan tính đến mất ngủ, bà là người dùng bàn tay trắng muốt xoa dịu và đưa ông vào giấc ngủ Hồ Quý Ly tìm đủ mọi cách để tiêu diệt tôn thất nhà Trần và những kẻ chống đối nhưng cũng ra sức dụ dỗ, lôi kéo họ về phía mình
Với cách nhìn đa diện về nhân vật, điểm nhìn trần thuật cũng có nhiều thay đổi so với trước đây Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vô cùng linh hoạt, đa dạng, di động từ nhân vật này sang nhân vật khác Không còn là lối trần thuật khách quan
một chiều mà có sự kết hợp nhiều điểm nhìn Trong “Ức Trai – Tâm thượng quang khuê
tảo”, Bùi Anh Tấn đã để cho Nguyễn Trãi tự kể lại cuộc đời mình trong những ngày cuối
cùng của cuộc đời ông Cách soi chiếu nhân vật từ bên trong như vậy sẽ làm sáng tỏ tâm hồn, nhân cách Nguyễn Trãi Câu chuyện có điểm nhìn bên trong hiện lên thật chân thực,
cảm động Ở Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh đều kết hợp người kể
chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, đồng thời tác giả trao quyền trần thuật cho mỗi nhân vật để đi sâu vào nội tâm nhân vật Với cách làm này, Nguyễn Xuân Khánh đã tạo ra nhiều điểm nhìn, nhân vật hiện lên thật toàn vẹn, nhiều chiều
Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn này cũng chứng kiến nhiều đổi mới trong việc sử dụng các thủ pháp nghệ thuật Tùy vào mục đích nghệ thuật của mình mà nhà văn sử dụng các thủ pháp nghệ thuật thích hợp Để làm sáng rõ cái gốc văn hóa Việt, Nguyễn Xuân Khánh tìm về với văn hóa làng, văn hóa dân gian Đó chính là cội rễ của văn hóa Việt Tác giả trong một bài phỏng vấn đã trả lời: chúng ta là những người nhà quê, những cái xấu và cái tốt, những kì tích và hạn chế cũng sinh ra từ đấy Nhà văn đã làm sống lại văn hóa của
Trang 32dân tộc bằng cách sử dụng nhiều chất liệu dân gian: tiếu lâm, đố tục giảng thanh, huyền thoại, dân ca, cái nghịch dị, suồng sã, phồn thực… Võ Thị Hảo có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính sử và dã sử, vừa hiện thực vừa huyền thoại Đặc biệt chất huyền thoại đậm đặc, bao trùm tác phẩm đã thể hiện sự trăn trở của con người đi tìm bản thể theo triết lí nhà Phật
Ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này rất sinh động, đa dạng phù hợp với từng đối tượng, từng nhân vật, từng hoàn cảnh Các nhà văn đã chú ý viết bằng thứ ngôn ngữ thuần Việt, gần gũi, dễ hiểu với muôn màu sắc của đời thường, thứ ngôn ngữ tràn đầy sức sống dân gian Bởi xét cho cùng, nhà văn viết về thời quá khứ nhưng là để cho bạn đọc hôm nay, một khối bê tông cổ, cũ kĩ, không phù hợp sẽ không thể hấp dẫn người đọc
Lukacs đã nói rằng: “tiểu thuyết lịch sử kể lại những sự kiện của quá khứ, về mặt ngôn ngữ
của nó tạo ra mối liên hệ với hiện tại, bởi vì người kể chuyện của hôm nay nói cho người nghe của hôm nay” [12, 140] Chúng ta bắt gặp cách nói rất chuẩn mực, uy nghi của các vị
vua sáng như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… Ngôn ngữ mang đậm triết lí nhà Phật của các bậc thiền sư đạo cao đức trọng như: Sư Vạn Hạnh, sư Không Lộ, Mãn Giác, Huệ Sinh… Ngôn ngữ dân dã của tầng
lớp bình dân như: bà mẹ kế của Nguyên phi Ỷ Lan, bà cụ bán hàng nước… (Tám triều vua
Lý, Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải) Trong Mẫu Thượng Ngàn thì hầu như đó là
lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, cách nghĩ, cách diễn đạt đầy chất “nhà quê”, dân
gian Tóm lại đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ nghệ thuật cổ kính và ngôn ngữ mang nhãn quan thế sự, tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt cho tiểu thuyết lịch sử những năm đầu
TK XXI
1.3 Giới thiệu tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933 tại quê ngoại – phố Huế Hà Nội Quê nội của ông ở làng Cổ Nhuế, nơi có nghề may nổi tiếng thuộc ngoại ô thành phố Lên sáu tuổi, ông đã chứng kiến một thảm họa của làng, đó là bệnh dịch tả Trong nạn dịch đó rất nhiều người đã mắc bệnh rồi chết, ông cũng chịu nỗi đau mất người thân: bố, chị, thím đều chết Nguyễn Xuân Khánh sống gắn bó với làng quê, với những người nông dân hiền lành, chất phác, hay lam hay làm Hồi nhỏ, ông thường theo mẹ đi dự các cuộc hầu bóng, nhiều khi mẹ ông chính là bà đồng Tất cả những kỉ niệm đó đã để lại ấn tượng sâu đậm và là chất liệu để nhà văn viết những tác phẩm của mình
Trang 33Nguyễn Xuân Khánh từng là sinh viên Đại học Y khoa, cũng là một người say mê
âm nhạc và là cây văn nghệ tiếng tăm của trường Sau thời gian quân ngũ, ông về làm việc tạp chí Văn nghệ quân đội và bắt đầu viết truyện Có thời gian nhà văn tham gia trại sáng tác cùng các nhà văn Phù Thăng, Xuân Sách, Hoàng Văn Bổn… Trong thời gian này, ông
đã viết cuốn Làng nghèo (sau này phát triển lên thành Mẫu Thượng Ngàn) nhưng không được in vì “bị quy là ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại của Liên Xô, làm thô thiển chiến tranh,
sau đó bị cấm bút” Không chịu bỏ cuộc, ông vẫn viết văn với bút danh khác: Đào Nguyễn
và cho ra mắt tập truyện ngắn Rừng sâu nhưng bị kỉ luật và chuyển về làm phóng viên cho
báo Thiếu niên tiền phong Một tai nạn nghề nghiệp buộc ông phải về hưu sớm Thời gian này ông đã cùng vợ làm nghề may, nuôi lợn, có khi còn xếp hàng bán máu ở bệnh viện Cuộc sống nhiều vất vả, khó khăn nhưng không làm nhà văn từ bỏ đam mê văn chương
Mỗi ngày ông vẫn dành thời gian để đọc sách, viết văn, dịch sách Tiểu thuyết Trư cuồng,
Suối đen và nhiều tác phẩm dịch được ông làm trong thời gian này
Tuy nhiên, phải đến Hồ Quý Ly (2000) rồi sau đó là Mẫu Thượng Ngàn (2006) bạn
đọc gần xa mới biết nhiều đến Nguyễn Xuân Khánh Hai tác phẩm thuộc loại “để đời” của nhà văn và có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà Hiện nay, mặc dù đã xấp xỉ tuổi
tám mươi, nhà văn vẫn còn dồi dào bút lực và tiếp tục cho ra đời tác phẩm Đội gạo lên chùa (2011)
Các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh khá đa dạng, gồm nhiều thể loại: tiểu thuyết,
truyện ngắn, chân dung văn học, sách dịch Các tác phẩm dịch: Những quả vàng của
Nathalie Saraute; Lời nguyền cho kẻ vắng mặt của Tahar Ben Jelloun; Nhân dạng nam của
Elizabeth Badinter, Người đàn bà ở đảo Saint Dominique của Bona Dominique… Truyện
ngắn gồm có: Một đêm (đạt giải nhì Báo Văn nghệ quân đội năm 1963); tập truyện ngắn
Rừng sâu (1963); Hai đứa trẻ và con Mèo xóm núi; Mưa quê (tập truyện ngắn thiếu nhi
2003)… Chân dung văn học: George Sand – Nhà văn của tình yêu (1993) Tiểu thuyết:
Miền hoang tưởng (1990); Trư cuồng (2005); Hồ Quý Ly (2000); Mẫu Thượng Ngàn
(2006); Đội gạo lên chùa (2011)
Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu hai tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết lịch sử là
Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Hồ Quý Ly là “giấc mơ” của đời văn Nguyễn Xuân
Khánh Tác phẩm được viết đi viết lại trong vòng hai mươi năm Ban đầu nó là truyện kịch
dày khoảng 150 trang có tên là Minh Đạo (1978) Được bạn bè góp ý, khích lệ ông đã phát
triển thành tiểu thuyết Năm 1995: ông viết lại sâu hơn, có độ dày khoảng 300 trang Từ
Trang 34năm 1997 - 1999: nhà văn viết lại lần thứ ba với một sự tập trung và say mê đặc biệt Tác
phẩm đã hoàn chỉnh vào năm 1999 Ngay sau đó, Hồ Quý Ly đã nhận được giải thưởng cuộc
thi viết tiểu thuyết 1998 – 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam, sau đó là giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2001) và giải thưởng Thăng Long của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2002) Đặc biệt hơn, tác phẩm đã gây xôn xao dư luận, khấy động văn đàn, đưa đến nhiều
cách tân cho nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử Nhà văn Trung Trung Đỉnh đã gọi Hồ Quý
Ly là: một “giải pháp mới” cho tiểu thuyết lịch sử nước nhà [18, 14]
Mẫu Thượng Ngàn ra đời sau đó sáu năm (2006) nhưng đã được tác giả thai nghén từ
lâu Năm 1959, khi tham gia trại sáng tác quân đội, nhà văn đã viết Làng nghèo Truyện viết
về một làng quê chiến đấu chống thực dân Pháp Trong cuốn đó, nhà văn viết rất thương tâm và có rất nhiều nhân vật chết, có lẽ vì vậy mà cuốn sách không được xuất bản, nhà văn
bị “cấm bút” Thế nhưng, ý tưởng viết về làng quê, văn hóa làng vẫn âm ỉ trong lòng tác giả
Năm 2001, sau khi hoàn thành Hồ Quý Ly, lật lại bản thảo cũ, những ý tưởng ấy lại bùng
lên Trải qua bao năm tháng, giờ đây nhà văn đã già, đã qua nhiều trải nghiệm, thăng trầm của cuộc sống, suy nghĩ cũng khác đi nhiều Ông mở rộng vấn đề thành văn hóa làng, văn
hóa Việt Nhà văn tâm sự: “Tôi mở rộng thành cuốn tiểu thuyết mới và đẩy lùi lịch sử trở về
thời Pháp bắt đầu xâm chiếm đất nước ta giai đoạn giao lưu văn hóa Đông – Tây cưỡng chế bằng bạo lực Chính giai đoạn này bộc lộ chất Việt Nam rõ hơn” [76, 15] Nhiều nhân
vật, sự kiện trong tác phẩm được lấy từ những con người, sự kiện của chính quê hương ông:
“Bà tổ Cô bí ẩn trong truyện chính là cụ tôi, bà Ba Váy chính là chị họ tôi, vợ một ông chánh tổng Bà Mõ khốn khổ chính là hàng xóm gia đình tôi…”; trận dịch tả cũng là kí ức
không thể nào quên mà nhà văn đã trải qua: “Năm 1938, một câu chuyện bi thương đã xảy
ra trong làng tôi, đó là dịch tả Thầy tôi, chị tôi rồi thím tôi lần lượt chết cả Lúc đó tôi mới sáu, bảy tuổi ngồi trông con mèo cho nó không nhảy qua xác chị tôi để chị không bị quỷ nhập tràng…” Tất cả những trải nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa Việt cộng với tài
năng của một nghệ sĩ đã “thăng hoa” thành Mẫu Thượng Ngàn Tác phẩm đã đạt giải
thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006
Từ Hồ Quý Ly đến Mẫu Thượng Ngàn là những suy nghĩ, tìm tòi không ngừng của
Nguyễn Xuân Khánh, tác giả luôn làm mới mình và đưa đến những bất ngờ cho người đọc Tác phẩm thể hiện tinh hoa, bút lực của một nhà văn đã đến độ chín Đối với tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam thì hai tác phẩm này thực sự là một đóng góp quan trọng trong tiến trình đổi
mới nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử nước nhà Hồ Quý Ly đánh dấu mốc quan trọng, đưa
Trang 35tiểu thuyết lịch sử thực sự là tiểu thuyết, khắc phục những hạn chế của các tác phẩm trước
đó, mở đầu cho giai đoạn viết tiểu thuyết lịch sử theo hướng đổi mới Mẫu Thượng Ngàn lại
mở rộng cách hiểu, cách quan niệm, cách xử lí chất liệu lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Lịch sử không chỉ là nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử được ghi chép trong chính sử mà còn
là lịch sử của nhân dân, của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
U
Tóm lại:U thực tiễn sáng tác trong thời gian gần đây cho chúng ta cái nhìn mới về quan niệm tiểu thuyết lịch sử Khái niệm tiểu thuyết lịch sử ngày nay có ý nghĩa rộng, bao chứa cả những tác phẩm vốn được coi là tiểu thuyết dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết phong tục… Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã có những thành công rất đáng ghi nhận từ nghệ thuật biểu hiện đến nội dung, tư tưởng Đặc biệt, nó nở rộ vào những năm đầu của thế kỉ XXI, với những tác phẩm công phu, độc đáo, đặc sắc, có nhiều cách tân:
Hồ Quý Ly, Giàn thiêu, Mẫu Thượng Ngàn… Nguyễn Xuân Khánh với hai tiểu thuyết lịch
sử của mình đã góp một tiếng nói quan trọng cho những thành tựu của tiểu thuyết giai đoạn này và hứa hẹn sẽ mở ra nhiều triển vọng trong tương lai
Trang 36
C HƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH
SỬ CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
2.1 Bão táp lịch sử và sự lựa chọn con đường đi của mỗi nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh
2.1.1 Bão táp lịch sử và con đường đi của nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly
Nhà Trần trong những triều đại đầu đã làm nên những chiến công đầy oanh liệt trong lịch sử dân tộc: ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông Nhưng sau những chiến công
đó, vua quan đã bắt đầu có tư tưởng hưởng thụ, không chăm lo cho nhân dân Vua Trần
Thánh Tông thỏa thuê vì: “Bốn bể đã yên, nhơ đã sạch Năm nay chơi thú quá năm xưa” [56, 175] Vị tướng Trần Khánh Dư khẳng định: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy
vịt mà nuôi chim ưng thì có gì là lạ” [56, 175] Càng về sau tình hình đất nước càng rối ren,
khủng hoảng Quan lại tham nhũng, lo vơ vét đầy túi, không quan tâm đến cuộc sống của nhân dân Mất mùa, lũ lụt xảy ra thường xuyên đẩy nhân dân vào cảnh bần cùng, khốn khổ
Sử cũ đã chép rằng: “nông dân nghèo khổ bán ruộng đất, bán con cái làm nô tì cho các thế
gia với giá một quan một người (đương thời ba thăng gạo cũng giá một quan tiền, nghĩa là bán một đứa con làm nô tì, người nông dân chỉ mua được ba thăng gạo)” [56, 175] Lời
giáo huấn của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “khoan thư sức dân để làm kế sâu
gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước” [41, 502] đã bị đi vào quên lãng Đại Việt đang rơi
vào một cuộc khủng hoảng cực kì sâu sắc đòi hỏi phải có những thay đổi để chấn hưng lại
đất nước
Cuộc sống cùng cực đã đẩy người nông dân nghèo vào con đường “làm loạn”, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra, tiêu biểu là tám phong trào lớn:
1) Khởi nghĩa do Ngô Bệ lãnh đạo ở vùng Hải Dương ngày nay (1344 – 1360)
2) Cuộc khởi nghĩa do Tề phát động (không rõ họ) ở vùng Lạng Sơn ngày nay (1354)
3) Cuộc nổi dậy do Nguyễn Bồ chỉ huy ở vùng Bắc Giang ngày nay (1378)
4) Cuộc nổi dậy của Hồ Vệ ở vùng Nghệ An ngày nay (1381)
5) Cuộc nổi dậy của Nguyễn Thanh ở vùng Thanh Hóa ngày nay (1389)
6) Cuộc nổi dậy do Nguyễn Kỵ lãnh đạo cũng nổ ra ở vùng Thanh Hóa ngày nay (1389)
Trang 377) Cuộc nổi dậy do Phạm Sư Ôn phát động ở vùng Hà Tây ngày nay (1389)
8) Cuộc nổi dậy do Nguyễn Nhữ Cái tổ chức ở vùng Hòa Bình ngày nay (1389)
Trong đó, cuộc nổi dậy do Thiên Nhiên tăng Phạm Sư Ôn cầm đầu đã thu hút được nhiều nông nô, nô tì, nông dân nghèo tham gia Nghĩa quân đã làm chủ lộ Quốc Oai, tiến vào Thăng Long chiếm đóng trong ba ngày Vua quan nhà Trần phải bỏ chạy sang Bắc Giang
Bên ngoài, phía Nam giặc Chiêm Thành do Chế Bồng Nga cầm đầu thường xuyên cướp phá, cướp người đòi đất Trong vòng hai mươi năm, từ 1370 đến 1390, quân Chiêm đã xâm nhập, đốt phá Thăng Long bốn lần Giặc Chiêm vào Thăng Long như chốn không người, vua quan nhà Trần chỉ còn cách bỏ chạy, cất giấu vàng bạc của cải trong núi đá Nhà Trần cũng đã tám lần xuất quân đánh Chiêm nhưng phần nhiều đều thất bại Cuộc chiến tranh với quân Chiêm đã làm hao người, tốn của, đẩy đất nước vào tình trạng kiệt quệ Phía Bắc, nhà Minh đang lớn mạnh và chuẩn bị cho cuộc xâm lược Đại Việt Phương Bắc là cái họa muôn đời, còn phương Nam đang là nỗi lo trước mắt Trong tình trạng đất nước rối ren, ngổn ngang trăm mối cần có một người lãnh đạo tài giỏi để vực dậy đất nước Tiếc thay nhà
Trần khi đó không có nổi một “nhân tài tầm cỡ” Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Hồ
Quý Ly với những chính sách táo bạo, mới mẻ là một tất yếu của lịch sử
Nguyễn Xuân Khánh chọn bối cảnh lịch sử là những năm cuối của triều đại nhà Trần
để viết về Hồ Quý Ly, một nhân vật khá phức tạp trong lịch sử Xưa nay, viết về những anh hùng nổi tiếng tài năng, đức độ như: Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… được khá nhiều nhà văn quan tâm thể hiện nhưng có lẽ viết về Hồ Quý Ly thì Nguyễn Xuân Khánh là người đầu tiên Các nhà sử học phong kiến đã gay gắt lên án Hồ Quý Ly và triều đại nhà Hồ, quy trách nhiệm cho ông về việc mất nước vào tay giặc Minh Ngày nay, lịch sử đã nhìn nhận công bằng hơn, đánh giá khách quan, toàn diện về công cuộc cải cách do ông đề xướng Với tư cách là một nhà văn, Nguyễn Xuân Khánh không làm nhiệm vụ phê phán, lên án hay ca ngợi nhân vật mà soi chiếu nhân vật từ nhiều góc độ,
đi sâu vào nội tâm nhân vật, khám phá những uẩn khuất bên trong, phân tích những động lực thúc đẩy hành động của nhân vật Người đọc có quyền đưa ra những nhìn nhận, đánh giá riêng của mình về nhân vật Thông qua Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh muốn nêu lên vấn
đề: đổi mới và bảo thủ, số phận của cá nhân trong cơn bão táp của lịch sử và đặt ra những vấn đề cho cuộc sống hôm nay
Trang 38Trong cơn bão của lịch sử cuối TK XIV, thời mà Sư Hiền cho là “thời thiên túy”
(trời đất cũng quay cuồng trong cơn say), trắng – đen khó phân biệt Nó đặt ra cho mỗi nhân vật câu hỏi: vẫn tiếp tục trung thành với triều đại nhà Trần đã mục ruỗng hay phải đi tìm
một “phương thuốc mới” Sự lựa chọn của mỗi cá nhân đã đẩy họ vào những tuyến đối lập
nhau: một bên trung thành với nhà Trần, cố níu giữ triều đại chỉ còn thoi thóp – một bên đi theo con đường cải cách, đổi mới, củng cố lại đất nước
Phe bảo thủ gồm có tôn thất nhà Trần, những người được hưởng đặc quyền, đặc lợi của triều đình, những kẻ sĩ theo quan niệm trung quân một cách cứng nhắc… Đứng đầu phe này là: thượng tướng Trần Khát Chân, quan Thái bảo Trần Nguyên Hàng; dưới đó là Trần Nguyên Uyên, Trần Nguyên Dận, Phạm Ngưu Tất, Phạm Tổ Thu… và thấp thoáng bóng dáng của hai vị vua áp đời Trần: Trần Nghệ Tông, Trần Thuận Tông
Cùng chống lại Hồ Quý Ly, mỗi người lại có cách làm khác nhau, có kẻ lộ liễu, có người cơ mưu Nguyên Uyên, Nguyên Dận là những người chống lại Hồ Quý Ly một cách công khai Hàng đêm, họ vẫn kết đèn, thả thuyền trôi sông nhưng bên trong là tìm cách tiêu
diệt kẻ thù Họ không ngại oang oang: “Thượng hoàng chết là lúc thái sư sẽ lộng hành
nhất” và “Thượng hoàng chết là lúc thái sư sẽ cướp ngôi” [35, 176] Mặc cho những lời
khuyên răn của người cha (cụ Trần Sư Hiền), Nguyên Dận vẫn cứ gạt đi, nhăm nhăm thực hiện ý đồ của mình Họ còn tìm cách liên hệ với giặc Minh để tiêu diệt Hồ Quý Ly, bất chất những hậu họa sau đó Tất nhiên, những người như Nguyên Uyên, Nguyên Dận không thể
là mối lo cho Hồ Quý Ly, họ làm việc bất cẩn lại ngông nghênh Cuối cùng đã bị Hồ Quý
Ly giết bằng nhục hình, hình phạt cho những kẻ bán nước
Quan thái bảo Trần Nguyên Hàng nổi tiếng là một người khẳng khái, trung thực Bất
cứ chính sách nào của Hồ Quý Ly, ông đều phản đối Dùng tiền giấy thay tiền đồng ư?
“Không phải mới mẻ Đời nhà Đường, ở phương Bắc người ta đã làm, nhưng lại phải bỏ
Vì sao? Giấy là một vật vô giá trị đem đổi lấy tài vật có giá trị, khác nào ăn cướp của người
của các bậc tiên đế Chính sách lập điền trang, thu góp kẻ lưu tán đã làm cho nước Đại Việt hùng mạnh, ba lần đánh tan giặc Nguyên tàn bạo” [35, 60] Ông không đồng ý với những
việc làm gây phiền hà của Hồ Quý Ly, muốn những nguyên tắc, quy định của tổ tiên vẫn được giữ nguyên Việc quan Thái bảo chấp nhận cho Quỳnh Hoa, con gái ông, làm dâu thái
sư là nhằm mục đích chính trị Ông muốn Quỳnh Hoa sẽ là một nội gián trong hàng ngũ kẻ thù Vậy nên, sau mỗi lần Quỳnh Hoa về thăm bố mẹ, Nguyên Trừng lại thấy nàng u sầu
Trang 39hơn, dần dần nàng không về thăm nhà nữa Sau những cái chết của những người cùng phe, Trần Nguyên Hàng hiểu rằng cần phải khéo léo và kín đáo bởi quyền lực của Thái sư đã rất lớn, ngay Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cũng phải kiêng dè Ông cùng Trần Khát Chân đã
bí mật bàn kế hoạch hành động: bên ngoài ủng hộ, giúp đỡ những việc làm của Hồ Quý Ly
nhưng đang ngấm ngầm thực hiện một việc lớn, có sự sắp xếp kĩ lưỡng Ông tuyên bố: “Kẻ
phản nghịch là loài cáo, thì chúng ta phải như loài rắn độc” [35, 154] Từ đấy, họ ít liên lạc
trực tiếp với nhau mà thông qua những người dưới quyền: Phạm Tổ Thu, Phạm Ngưu Tất…
Tổ Thu và Ngưu Tất là hai thuộc hạ của phái bảo thủ, họ sẵn sàng xả thân vì nhà Trần, cùng căm ghét Hồ Quý Ly đến xương tủy, đã cắt máu ăn thề, nguyện xả thân vì đại nghiệp, trả thù cho sư huynh Nguyễn Đa Phương (người đã bị Quý Ly giết) Ngưu Tất vạch
tội Hồ Quý Ly: “Quý Ly chẳng khác loài chó lợn Đối với vua thì lăm le tiếm ngôi, đó là tội
bất trung Đối với thầy, cụ sư Tề chẳng khác gì cha thế mà cũng tìm cách săn đuổi, đó là tội bất hiếu Đối với Đa Phương đã nhận làm em mà cũng đang tâm giết chết, đó là tội bất nghĩa Tàn tặc nào bằng! Trời đất cũng phải nghiến răng căm thù” [35, 582] Họ cố gắng
truyền lòng căm thù đó vào Phạm Sinh, lôi kéo Sinh về phe cánh của mình Tổ Thu và Ngưu Tất cũng chính là hai người thiết khách trong kế hoạch ám sát Hồ Quý Ly ở hội thề Đốn Sơn
Thượng tướng Trần Khát Chân, người anh hùng dân tộc đã có công đánh dẹp quân Chiêm, mang lại bình yên cho đất nước, kết thúc nỗi lo sợ giặc Phương Nam của quân dân Đại Việt Sau chiến thắng, Nghệ Hoàng rất vui mừng, đón đoàn quân chiến thắng trở về trong tiếng nhạc, đèn hoa rực rỡ Sau chiến công đó, Trần Khát Chân được cấp đất ở phía nam kinh thành, lập nên thái ấp là Trại Mai Hàng năm, thượng tướng vẫn mở tiệc “Đại Mai” để mời mọi người tới dự Hồ Quý Ly là người có công tiến cử Trần Khát Chân, khi đó mới chỉ là một viên tướng nhỏ lại rất trẻ tuổi Sau chiến thắng, Hồ Quý Ly ra sức lôi kéo Trần Khát Chân về phe mình, trong khi đó phe đối lập cũng lôi kéo ông không kém Trong một thời gian dài, người ta thấy thượng tướng ít xuất hiện trong triều đình, sau đó trở lại với
vẻ trầm tư, ít nói Có lẽ, Trần Khát Chân đã phải suy nghĩ rất nhiều, không biết nên theo phe nào Theo Hồ Quý Ly, ông sẽ phản bội lại dòng tộc và phạm vào điều “bất trung”; theo phe bảo thủ để cố duy trì một triều đại đã không còn sinh khí là đẩy đất nước vào hỗn loạn, nghèo đói Thực tình, ban đầu ông cũng có nhiều thiện cảm với Hồ Quý Ly, biết Quý Ly là
một người “mưu lược, quyết đoán” và công cuộc cải cách là cần thiết đối với đất nước Trần
Khát Chân cũng hiểu rõ nhà Trần đã hèn yếu lắm rồi, nhiều kẻ tôn thất lại phản bội, chạy
Trang 40sang cầu cứu quân giặc để giày xéo đất nước Tuy nhiên, ông mang trong mình dòng máu nhà Trần, chịu ơn lộc vua, ông phải sống chết cho cơ nghiệp nhà Trần, không còn con đường nào khác Là con người cơ mưu, Trần Khát Chân đã có kế hoạch lâu dài cho việc lớn Ông ra sức giúp Quý Ly xây dựng Tây Đô, trong một thời gian dài triều đình yên bình, không có một sự chống đối nào xảy ra Cuối cùng, kế hoạch bị bại lộ, Trần Khát Chân cùng
370 người có liên quan đã chết dưới tay thái sư họ Hồ Trước khi chết, Trần Khát Chân vẫn
điềm tĩnh, tự tin nói: “Biết làm sao được! Tôi không bao giờ thay đổi được Hai người
tất yếu ông “phải chết cho cơ nghiệp nhà Trần”
Kết thúc tác phẩm, phe bảo thủ bị tiêu diệt và sự thắng thế của phe cách tân Lịch sử như một bánh xe quay mãi, chuyển vần từ triều đại này đến triều đại khác Trong vòng quay
ấy, người nào đi ngược lại với lịch sử sẽ bị bánh xe nghiền nát Trần Khát Chân, Trần Nguyên Hàng… là những con người khẳng khái, trung thành, có tài nhưng họ lại đi ngược với xu thế tất yếu của lịch sử nên bị tiêu diệt Mặc dù, Hồ Quý Ly là người tiêu diệt họ nhưng ông vẫn trọng, vẫn tiếc những con người như vậy
Chống lại Hồ Quý Ly không chỉ có tôn thất nhà Trần mà hầu hết các tầng lớp xã hội: tăng ni phật tử, kẻ sĩ, nhân dân Bởi lẽ những chính sách của Hồ Quý Ly ảnh hưởng đến toàn bộ tầng lớp trong xã hội Một trong những tầng lớp có ảnh hưởng lớn trong thời đại bấy giờ là: tăng ni phật tử Ở nước ta, Phật giáo rất được coi trọng trong thời nhà Lí, nhà Trần Phật giáo được coi là quốc giáo, rất nhiều chùa chiền, thiền viện được xây dựng, số lượng
sư sãi rất đông, ruộng đất nhà chùa cũng không phải ít Các thiền sư đạo cao đức trọng có tiếng nói lớn trong triều đình: thiền sư Vạn Hạnh, Không Lộ thiền sư… Đến thời Trần Nhân Tông, Phật giáo phát triển cực thịnh Trần Nhân Tông vừa là một bậc minh quân, một nhà quân sự lỗi lạc, lại là một triết gia nổi tiếng, người đã lập nên Thiền phái Trúc Lâm Các vua Trần sau đó đều rất mộ Phật, dành cho nhà chùa những ưu ái đặc biệt Tuy nhiên, khi quyền lực rơi vào tay thái sư họ Hồ, giới tăng lữ bị mất nhiều quyền lợi Hồ Quý Ly không coi trọng Phật giáo, ghét những kẻ lười biếng, cạo đầu đi tu nên đã ra lệnh bắt tất cả những nhà
sư còn trẻ phải hoàn tục và sung vào quân đội Nhà chùa chỉ được hưởng một số lượng ruộng đất theo quy định tùy vào xếp hạng là đại danh lam, trung danh lam hay tiểu danh lam Tất nhiên, giới tăng ni phật tử sẽ chống đối, gây cản trở cho công cuộc cải cách Sự chống đối của họ không phải bằng con đường chính trị mà tác động đến lòng những người dân quê Từ trước đến nay, Phật giáo đã thấm sâu vào tâm linh, tín ngưỡng của người Việt