Đội ngũ những người sáng tác văn xuôi các dân tộc thiểu số từ 1975 đến nay có ý thức tìm hiểu về cội nguồn, về bản sắc dân tộc trong văn học, tiếp tục sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ để gìn gi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THÚY LAN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HOÀNG QUẢNG UYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LƯU THÚY LAN
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HOÀNG QUẢNG UYÊN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học chấm luận văn, ngày 7 tháng 6 năm 2014 tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên
XÁC NHẬN CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực
và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Lưu Thúy Lan
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên cùng các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập tại trường
Tác giả xin chân thành cảm ơn Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Thư viện tỉnh Cao Bằng đã giúp tôi tìm hiểu các thông tin cần thiết bổ sung cho luận văn Cảm ơn nhà văn Hoàng Quảng Uyên, tác giả hai cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải Phóng đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý báu để tôi hoàn thành cuốn luận văn này!
Đặc biệt, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh Thầy luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong
suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn!
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên tác giả
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Lưu Thúy Lan
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 6
4 Mục đích nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp mới của luận văn 7
7 Cấu trúc của đề tài 7
Chương 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HOÀNG QUẢNG UYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác văn học của Hoàng Quảng Uyên 8
1.1.1 Tiểu sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên 8
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của nhà văn Hoàng Quảng Uyên 10
1.2 Sáng tác của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam 11
1.3 Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại 12
1.3.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 12
1.3.2 Hai khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch sử 14
1.4 Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận tiểu thuyết lịch sử viết về Bác Hồ .15
Trang 7Chương 2 NGUYÊN MẪU HỒ CHÍ MINH VÀ HƯ CẤU NGHỆ THUẬT
TRONG HAI TIỂU THUYẾT: “MẶT TRỜI PÁC BÓ” VÀ “GIẢI PHÓNG”
CỦA NHÀ VĂN HOÀNG QUẢNG UYÊN 18
2.1 Hoàn cảnh ra đời của 2 tiểu thuyết: “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” của Hoàng Quảng Uyên 18
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết “Mặt trời Pác Bó” .18
2.1.2 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết “Giải phóng” 18
2.2 Nguyên mẫu Hồ Chí Minh và những “cột mốc” lịch sử được tái hiện trung thực trong “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” 19
2.3 Hư cấu nghệ thuật trong hai tiểu thuyết: “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” 21
2.3.1 Tái hiện bức tranh thiên nhiên và bức tranh xã hội 22
2.3.2 Khắc họa chân dung các nhân vật lịch sử đã sống và hoạt động cùng Bác 30
2.3.3 Tái hiện chân dung của nguyên mẫu Hồ Chí Minh ở phương diện ngôn ngữ, hành động; phẩm chất vĩ nhân và đời thường .33
2.3.3.1 Tái hiện chân dung ngoại hình 33
2.3.3.2 Tái hiện qua phương diện ngôn ngữ và hành động 36
2.3.3.3 Xây dựng nguyên mẫu Hồ Chí Minh thành nhân vật tiểu thuyết với hai phẩm chất “Vĩ nhân” và “Đời thường” 38
2.3.4 Hư cấu để tái hiện đời sống nội tâm của Bác 55
2.4 Điểm khác biệt trong hai tiểu thuyết: “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” khi sử dụng hư cấu nghệ thuật để xây dựng nguyên mẫu Hồ Chí Minh thành nhân vật văn học 61
2.4.1 Chất kí trong Mặt trời Pác Bó đậm hơn Giải phóng 61
2.4.2 Chất tiểu thuyết trong Giải phóng đậm hơn Mặt trời Pác Bó 64
Chương 3 KẾT CẤU, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG HAI TIỂU THUYẾT “MẶT TRỜI PÁC BÓ ” VÀ “GIẢI PHÓNG” CỦA NHÀ VĂN HOÀNG QUẢNG UYÊN 68
3.1 Khái niệm “Kết cấu” và kết cấu tiểu thuyết 68
3.1.1 Khái niệm “Kết cấu” và một số hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học 68
3.1.2 Kết cấu tiểu thuyết 70
Trang 83.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng của
Hoàng Quảng Uyên 71
3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 71
3.2.2 Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Hoàng Quảng Uyên 72
3.3 Giọng điệu trần thuật trong hai tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng của Hoàng Quảng Uyên 76
3.3.1 Khái niệm giọng điệu và giọng điệu trần thuật 76
3.3.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Hoàng Quảng Uyên 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng
của nền văn học Việt Nam Từ nền văn học dân gian đến văn học viết thời kỳ hiện đại, văn học các dân tộc thiểu số luôn có mặt và đã góp phần tạo nên diện mạo của một nền văn học dân tộc Việt Nam vừa phong phú, đa dạng, vừa thống nhất và giàu bản sắc Bên cạnh đội ngũ các nhà văn, nhà thơ người Kinh còn có đội ngũ các tác giả người dân tộc thiểu số ngày càng đông đảo và trưởng thành, góp phần làm nên diện mạo văn học hiện đại nước nhà Vì vậy, việc nghiên cứu thơ văn các dân tộc thiểu số
là hết sức quan trọng và cần thiết, đặc biệt là nghiên cứu các tác phẩm do chính các tác giả người dân tộc thiểu số sáng tác Các thế hệ cầm bút ngày một đông đảo và trưởng thành hơn như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Hoàng Hạc, Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Vi Thị Kim Bình … Họ là những cây bút tiêu biểu, có nhiều đóng góp đối với sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số nói riêng
và cho nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung Đội ngũ những người sáng tác văn xuôi các dân tộc thiểu số (từ 1975 đến nay) có ý thức tìm hiểu về cội nguồn, về bản sắc dân tộc trong văn học, tiếp tục sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ để gìn giữ vốn ngôn ngữ dân tộc như Nông Viết Toại, có nhà văn thời kỳ đầu sáng tác bằng tiếng dân tộc, thời gian sau sáng tác bằng tiếng Việt như Vi Hồng, cũng có tác giả ngay từ đầu đã dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ sáng tác như Triều Ân, Cao Duy Sơn …Trong đó, phải kể đến nhà văn miền núi người dân tộc Nùng - Hoàng Quảng Uyên, một cây bút trưởng thành sau năm 1975
1.2 Ngòi bút của Hoàng Quảng Uyên luôn hướng về những người con của
dân tộc miền núi phía Bắc Tuy những trang viết của ông rất giản dị, mộc mạc nhưng thể hiện sự hiểu biết sâu sắc mang đậm nét riêng về phong tập tập quán,
về những phẩm chất văn hóa gắn với đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc Đọc những tác phẩm của ông, ta nhận thấy bản sắc văn hóa dân tộc luôn đậm nét trong toàn bộ tác phẩm Trong hơn 20 năm cầm bút, miệt mài với quá trình sáng tạo nghệ thuật, ông đã tạo được dấu ấn riêng trong lòng độc giả với một cá tính sáng tạo độc đáo
Trang 101.3 Nhà văn Hoàng Quảng Uyên sáng tác rất nhiều thể loại văn học khác nhau
như: Kí, lý luận phê bình, tiểu thuyết Độc giả vẫn chú ý đến ông ở thể loại kí với
các tác phẩm tiêu biểu như: Bài kí Thầy giáo Đại học - tác phẩm đặc sắc được trao giải B (không có giải A) của Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp 1988; Bút kí Trí thức tỉnh lẻ, in trên Báo Văn nghệ, những năm đầu “đổi mới” Song 2 năm trở lại đây, từ khi tập tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó ra đời và được trao giải thưởng trong cuộc
vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", đánh dấu bước tiến mới trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn thì ông lại được độc giả biết đến với thể loại tiểu thuyết
1.4 Có thể nói, trong toàn bộ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, từ trước tới
nay, chúng ta mới thấy xuất hiện 2 nhà văn tiêu biểu viết tiểu thuyết lịch sử Đó là nhà văn Nguyễn Trường Thanh và nhà văn Hoàng Quảng Uyên Nhà văn Nguyễn Trường Thanh với những tập tiểu thuyết lịch sử tái hiện chân dung của các nhân vật lịch sử gắn với vùng đất và con người xứ Lạng Riêng Hoàng Quảng Uyên là người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết lịch sử về Bác
Hồ kính yêu Đó là một cố gắng, một tình yêu đáng ghi nhận của nhà văn Hoàng Quảng Uyên trong việc tái hiện nhân vật lịch sử là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Bởi vậy, việc nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên là một công việc cần thiết, mang ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.5 Hiện nay, văn học địa phương cũng đã đưa vào giảng dạy tại hai cấp
học là bậc Trung học cơ sở và bậc Tiểu học Do đó, việc thực hiện đề tài này cũng sẽ góp một phần tư liệu bổ ích cho sự nghiệp giáo dục tại tỉnh Cao Bằng - quê hương của tác giả Hoàng Quảng Uyên Bên cạnh đó, rất nhiều nhà khoa học tại Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã và đang bắt tay vào xây dựng bộ giáo trình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại để giảng dạy cho hệ Đại học và Sau đại học Việc nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên
sẽ góp thêm tư liệu quan trọng cho việc giảng dạy và học tập học phần này trong trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên nói riêng và trong hệ thống các trường Đại học Sư phạm nói chung
Trang 112 Lịch sử vấn đề
Trong hơn 20 năm gắn bó và miệt mài lao động nghệ thuật, đến nay, các sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã có những thành công nhất định và được giới nghiên cứu, phê bình văn học cũng như dư luận và bạn đọc quan tâm Hàng loạt các bài viết, bài báo phỏng vấn ông được đăng tải trên các báo, tạp chí và các phương tiện truyền thông của Trung ương và địa phương nói về con người, cuộc đời và những sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên ở thể loại kí và thể loại tiểu thuyết lịch sử
2.1 Những bài viết về tác phẩm kí của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Đầu tiên, phải kể đến nhận xét của nhà nghiên cứu văn học Lâm Tiến về Kí của
Hoàng Quảng Uyên trong tác phẩm: Văn học và miền núi, phê bình - tiểu luận (NXB Văn
hóa dân tộc (2002): “Kí của Hoảng Quảng Uyên không những viết về dân tộc và miền núi
mà còn viết về những đề tài khác Cũng như H Linh Niê, Hoàng Quảng Uyên có tài phân tích mổ xẻ cho mọi người thấy đến ngọn ngành, gốc rễ của mọi sự vật, hiện tượng, cái được, cái mất, cái vui, cái buồn trong cuộc sống xã hội hiện nay Văn của ông thể hiện rất
rõ nét tính cách của người dân tộc là thẳng thắn, bộc trực Ông lên án, phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội với những câu văn châm biếm, dí dỏm có phần nào chua cay Nên kí của ông thường gây xôn xao dư luận.” [27, tr.18] Đó là những đánh giá, nhận xét khách quan, công bằng, đầy đủ và chính xác của nhà nghiên cứu văn học Lâm Tiến về những đặc trưng trong thể Kí của Hoàng Quảng Uyên
2.2 Những bài viết về con người và cuộc đời của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Viết về con người Hoàng Quảng Uyên có bài phỏng vấn của Phong Điệp đăng
tải trên website Phongdiep.net có nhan đề: Nhà văn Hoàng Quảng Uyên: Xuống núi
để đi học Đó là cuộc trò chuyện giữa nhà văn Hoàng Quảng Uyên với Phong Điệp
về việc "đào tạo nhà văn" [41] và quá trình Hoàng Quảng Uyên đã từng là học viên
khoá ba của trường viết văn Nguyễn Du; Về việc ông theo học lớp lý luận phê bình văn học khoá I (đuợc tổ chức trong tháng 7 và tháng 8 năm 2008) do Hội nhà văn tổ chức khi ông đã ở độ tuổi sáu mươi Ông rất tự hào khi nhắc đến việc “làm mới” kiến
thức cho mình Trong bài phỏng vấn ông tự khẳng định: “Tôi học khóa 3 trường viết văn Nguyễn Du năm 1988 Năm nay là năm 2008 Nghĩa là 20 năm trôi qua, kiến thức của tôi đã cũ đi nhiều và tôi có nhu cầu được làm mới Khóa học này, tôi vẫn được học các thầy như Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Khắc Phi … nhưng những
Trang 12kiến thức các thầy dạy chúng tôi hôm nay đã được bổ sung hơn rất nhiều so với 20 năm trước Vậy tại sao tôi lại không học cho được?”[41] Bài phỏng vấn giúp người đọc có
cái nhìn mới mẻ về nhà văn Hoàng Quảng Uyên – một con người luôn vượt lên trên mọi hoàn cảnh để không ngừng học hỏi, tìm tòi, khám phá cái mới và làm phong phú thêm,
mở rộng thêm cũng như bồi đắp thêm nguồn tri thức mới cho bản thân
Còn với Y Phương – người bạn chí cốt tâm giao của Hoàng Quảng Uyên lại có bài
viết: Tản mạn cùng Hoảng Quảng Uyên đăng tải trên trang nhất Báo Văn nghệ công an,
mục đời sống văn hóa số ra ngày 10/11/2009 với lời mở đầu: “Phải đến hơn một năm rồi nhà văn Hoàng Quảng Uyên chẳng có việc gì liên quan mà xuống Hà Nội Sáng nay bỗng nghe ai nói loáng thoáng Uyên đang có mặt ở Hội nhà văn [42] Y Phương đã cho người đọc thấy một Hoàng Quảng Uyên “còn ham sống và ham viết lắm” [42]
2.3 Những bài viết về tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Đặc biệt phải kể đến bài viết của Trần Hoàng Thiên Kim có tựa đề Nhà văn Hoàng Quảng Uyên: viết văn cùng cực như đi săn được đăng tải trên mạng Internet ngày 28 tháng 2 năm 2011 từ hai nguồn cand.com.vn và nguoibanduong.net ngay khi ông vừa xuất bản cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó (NXB Hội nhà văn 2010) - Giải thưởng
cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật và báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ rời Bến Nhà Rồng (còn được gọi là Cảng Sài Gòn) ra đi tìm đường cứu nước và 70 năm Bác Hồ về nước (Pác Bó - Cao Bằng) lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đây là cuộc trò chuyện giữa nhà văn Hoàng
Quảng Uyên và phóng viên Trần Hoàng Thiên Kim về cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác
Bó cũng như những tâm sự chân thật về nghề viết văn của Hoàng Quảng Uyên theo
năm tháng Trong cuộc trò chuyện, Hoàng Quảng Uyên đã tự khẳng định "Tiểu thuyết chỉ là niềm đam mê thứ ba của tôi Nhờ những đam mê và thành công với thể loại lý luận - phê bình và thể ký nên tôi không quá khó khăn khi viết tiểu thuyết" Cuộc trò chuyện đã giúp cho độc giả có cái nhìn khách quan về cái dễ và khó của một nhà văn khi quyết định dùng ngòi bút của mình để khắc họa một bậc vĩ nhân như Chủ tịch Hồ Chí Minh thành nhân vật tiểu thuyết Đồng thời, giúp người đọc nhìn thấy năng lực của nhà văn Hoàng Quảng Uyên không chỉ có niềm đam mê nghệ thuật mà còn có khả năng đi tìm “ẩn số” và “giải mã” tập trung trong phạm vi đề tài con người
và thơ văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 13Cùng với đó, bài viết Lặn lội thu thập tài liệu về Bác Hồ của phóng viên Minh Quân đăng tải trên website thethaovanhoa.vn, ngày 4/9/2008 viết về quá trình 3 lần
nhà văn Hoàng Quảng Uyên lặn lội sang nước bạn để thu thập tài liệu về Bác với
những dự định, ấp ủ viết cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó Với những tàì liệu, tình
cảm thu nhận được, Hoàng Quảng Uyên đã viết trên nhiều bài báo (cả ở Việt Nam và
Trung Quốc) Ông cũng đã hoàn tất một kịch bản phim tài liệu nhiều tập đó là: Bác
Hồ ở Quảng Tây - những tháng ngày lịch sử, dự kiến sẽ đuợc Đài Truyền hình Việt
Nam phối hợp với Đài truyền hình Quảng Tây - Trung Quốc thực hiện [43]
Trên đây là một số bài viết của những người đi trước đã nghiên cứu về con người và những sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên Tuy nhiên, việc đánh giá về các tác phẩm của ông, nhất là với thể lọai tiểu thuyết còn ít Do đó, đề tài
chúng tôi nghiên cứu: “Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên” là bước
tiếp nối các ý kiến nghiên cứu trên, để từ đó, giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về giá trị của thể loại tiểu thuyết về đề tài lịch sử trong dòng chảy của nền Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Đồng thời, việc nghiên cứu tiểu thuyết lịch
sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên sẽ bổ sung nguồn tư liệu bổ ích cho công tác dạy và học văn học địa phương cũng như cho việc giảng dạy học phần này trong trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên nói riêng và trong hệ thống nhà trường trên khắp cả nước Việt Nam nói chung Hơn nữa, thông qua việc nghiên cứu đề tài này còn giúp chúng tôi hiểu và kính yêu hơn về Bác, đặc biệt là những ngày tháng Bác sống và hoạt động ở Việt Bắc Là một người con của núi rừng Việt Bắc, tôi luôn khao khát được tìm hiểu và khám phá về mảnh đất quê hương mình, khao khát tìm hiểu cội nguồn của nơi “chôn nhau cắt rốn” Chính vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này đối với riêng tôi là một công việc yêu thích
và rất cần thiết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nguyên mẫu và hư cấu, kết cấu,
ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu trần thuật trong 2 tập tiểu thuyết lịch sử Mặt trời Pác Bó, Nxb Hội nhà văn Việt Nam, năm 2010 và Giải phóng, Nxb Hội nhà văn Việt
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu “Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên”
qua 2 tác phẩm đó là: Mặt trời Pác Bó – tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn 2010 và Giải phóng – tiểu thuyết, NXB Hội nhà văn 2013 ở các phương diện:
- Nguyên mẫu và hư cấu nghệ thuật; Kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
- Trong phạm vi cho phép, chúng tôi có so sánh vấn đề nghiên cứu trong tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên với một số tiểu thuyết lịch sử viết về Bác Hồ
của một số nhà văn khác như Sơn Tùng với Búp sen xanh, Bông sen vàng và nhà văn
Hồ Phương với Cha và con
4 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu làm rõ vấn đề nguyên mẫu Hồ Chí Minh và hư cấu nghệ thuật, kết
cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong hai cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, NXB Hội nhà văn 2010 và Giải phóng, NXB Hội nhà văn 2013 Trên cơ sở đó, khẳng
định cá tính sáng tạo, vai trò, vị trí cũng như những đóng góp quan trọng của Hoàng Quảng Uyên trong thể loại tiểu thuyết viết về đề tài Bác Hồ kính yêu Đồng thời, giúp cho người đọc cảm nhận một cách sâu sắc về chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt quá trình Người hoạt động cách mạng, đặc biệt là trong giai đoạn Bác ở chiến khu Việt Bắc
5 Phương pháp nghiên cứu
Để việc khảo sát và nghiên cứu, phân tích đề tài đạt kết quả như mong muốn, chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng kết hợp những phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo thể loại
- Phương pháp so sánh
Các phương pháp nghiên cứu trên luôn luôn bổ sung cho nhau như một chỉnh thể thống nhất, tạo nên sự hài hòa nhất định Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống và phân tích tác phẩm văn học theo thể loại Bởi ba phương pháp này sẽ giúp cho chúng tôi làm rõ hơn nghệ thuật hư cấu nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết của Hoàng Quảng Uyên
Trang 156 Đóng góp mới của luận văn
Việc nghiên cứu thành công đề tài này sẽ giúp cho bản thân tác giả cũng như người đọc hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, đồng thời, góp thêm một nguồn tư liệu quý giá về phẩm chất, tài năng, trí tuệ của nguyên mẫu Hồ Chí Minh Đề tài được nghiên cứu thành công sẽ là tiền đề quan trọng để khẳng định thêm những đóng góp mới của nhà văn Hoàng Quảng Uyên trong việc xây dựng chân dung nhân vật lịch sử bằng hư cấu nghệ thuật
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc thành
ba chương gồm:
Chương 1: Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên và một số vấn đề lý
thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Nguyên mẫu Hồ Chí Minh và hư cấu nghệ thuật trong hai tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng
Chương 3: Kết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu trần thuật trong hai tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Trang 16Chương 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HOÀNG QUẢNG UYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tiểu sử và quá trình sáng tác văn học của Hoàng Quảng Uyên
1.1.1 Tiểu sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên (tên khai sinh là Hoàng Dương Quý), sinh ngày 27/9/1950 tại làng Pác Cam, xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng Ông là người dân tộc Nùng Bút danh Hoàng Quảng Uyên được lấy từ họ Hoàng ghép với tên huyện Quảng Uyên (nơi ông được sinh ra)
Hoàng Quảng Uyên đã từng theo học trường cấp 1 và cấp 2 tại trường huyện Quảng Uyên Vốn là một học sinh thông minh, học giỏi nên khi học hết cấp 2, ông thi
đỗ vào lớp chuyên Toán của tỉnh Cao Bằng Thời gian sau đó (từ năm 1968 đến năm 1972), ông thi đỗ và vào học khoa Vật Lý trường Đại học sư phạm Việt Bắc (nay là trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên) Trong quá trình học tại trường Sư phạm, tuy theo học khối khoa học tự nhiên nhưng ông lại có niềm say mê đặc biệt đối với văn học “Máu nghề nghiệp” sáng tác văn chương trong Hoàng Quảng Uyên được khơi nguồn từ đó Vì xuất phát từ việc học khoa học tự nhiên nên Hoàng Quảng Uyên chịu ảnh hưởng sâu sắc của lối tư duy khoa học, chính xác Ông đã vận dụng một cách khéo léo những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên vào trong các sáng tác của mình Do đó, những bài phóng sự của ông đều đảm bảo độ chân thực đến tận cùng của vấn đề mà không hề né tránh Chính vì thế, những tác phẩm do ông sáng tác
có nhiều điểm khác biệt so với nhiều nhà văn khác cùng thời
Sau khi tốt nghiệp ra trường, ông trở thành một nhà giáo có kiến thức chuyên môn vững vàng, lối giảng dạy dí dỏm và đặc biệt rất yêu thương học sinh và tôn trọng đồng nghiệp Hơn 7 năm (từ năm 1973 đến năm 1980) gắn bó với sự nghiệp giáo dục
và với các em học sinh, người thầy mẫu mực Hoàng Quảng Uyên đã nhận được nhiều tình cảm yêu mến từ phía đồng nghiệp và lớp lớp thế hệ học sinh Ông đã từng dành nhiều tâm huyết với nghề dạy học nhưng do hoàn cảnh xã hội, do niềm say mê khám phá đời sống xã hội trong ông quá lớn nên ông quyết định tìm một hướng đi mới, một ngã rẽ mới, mặc dù tình yêu với ngành giáo dục vẫn còn sâu đậm Do đó, từ năm
Trang 171980 đến năm 1981, ông quyết định chuyển sang làm báo và công tác tại Đài phát thanh tỉnh Cao Bằng Tuy thời gian làm báo ngắn ngủi và đầy gian khổ nhưng đó lại
là một trong những kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong cuộc đời ông Ông đã từng tâm sự với tôi: “ Những năm tôi là phóng viên Đài phát thanh Cao Bằng là những năm tháng gian khổ mà đẹp nhất trong nghề làm báo Những năm buồn ít, vui nhiều!”
Thời gian sau đó, ông tiếp tục theo đuổi tình yêu đối với văn học Ông rong ruổi qua từng đường làng, ngõ xóm để tìm hiểu tư liệu Đi đến đâu ông cũng chăm chỉ tìm tòi, ghi chép Năm 1986, Hoàng Quảng Uyên thi đỗ và theo học trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 3) Trong quá trình học tại trường, ông đã được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, chính quy về những kiến thức cơ bản, kĩ năng viết văn và tác phong nghề nghiệp cần có trong quá trình sáng tác của một người viết văn Nhờ thế, sau thời gian học ở trường (1986 – 1989), Hoàng Quảng Uyên đã có nhiều tác phẩm được đông đảo bạn đọc đón nhận
Đến năm 1990, Hoàng Quảng Uyên nghỉ chế độ khi ông vừa tròn 39 tuổi
Từ năm 1998 đến năm 2000, Hoàng Quảng Uyên công tác ở báo Văn nghệ (phóng viên hợp đồng) Năm 2006, Hoàng Quảng Uyên là đặc phái viên của Hội nhà văn Việt Nam sang Trung Quốc để tìm hiểu thời gian 2 năm (1942 – 1943) Chủ tịch Hồ Chí Minh bị Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở Quảng Tây – Trung Quốc,
bị đày ải trong các nhà tù và sáng tác tác phẩm thơ “Nhật kí trong tù” Đến năm
2007, Hội nhà văn Việt Nam mở trại sáng tác tiểu thuyết, từ đó Hoàng Quảng Uyên “gõ cửa” với thể loại tiểu thuyết Tuy ông mới chuyển hướng sáng tác của mình theo thể loại này song ngòi bút của ông luôn tinh tế, sắc sảo và đã có thành
công bước đầu Trước hết phải kể đến cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó được
xuất bản năm 2010 Với cuốn tiểu thuyết này, Hoàng Quảng Uyên đã vinh dự được nhận giải thưởng trong sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh", 2010 Đến năm 2013, tiểu thuyết Giải phóng ra đời và được xem như
là tập 2 trong bộ tiểu thuyết dài tập mà nhà văn dự định viết về Bác Hồ Hiện nay, ông là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam và đang tiếp tục cống hiến không ngừng nghỉ cho sự nghiệp sáng tác văn chương
Trang 181.1.2 Sự nghiệp sáng tác văn học của nhà văn Hoàng Quảng Uyên
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên là cây bút trưởng thành sau năm 1975 Những tác phẩm của ông luôn có sức hấp dẫn, lay động người đọc bởi sức sáng tạo dồi dào của nhà văn luôn ẩn sâu trong từng câu chữ Trong vòng hơn 20 năm cầm bút, ông đã có một sự nghiệp sáng tác đáng tự hào và có giá trị thể hiện trên nhiều thể loại khác nhau, từ thể loại kí cho đến tiểu thuyết, các bài phóng sự Nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã gặt hái được nhiều thành công với 2 tập kí, 2 tập truyện, 3 tập lí luận phê bình, 2 vở kịch, 2 tiểu thuyết và hàng loạt các bài báo phóng sự
Có thể kể đến thành công của ông trên bước đường sáng tác nghệ thuật với các
tác phẩm tiêu biểu như: Hai tập truyện: Kim Đồng (1996), Đức Thanh - người anh đội nhi đồng cứu quốc (2012); Hai tập kí: Buồn vui (1999), Vọng tiếng non ngàn (2001); Ba tập lí luận phê bình văn học: Một mình trong cõi thơ (2000), Nhật kí trong tù
và số phận và lịch sử (2007), Đi tìm nhật kí trong tù (2009); Hai kịch bản phim truyện: Mật đắng (2002) và nhiều kịch bản phim tài liệu; Một vở kịch: Nước mắt rừng Pác Bó (2010) và hai tập tiểu thuyết lịch sử: Mặt trời Pác Bó (2010) và Giải phóng (2013)
Trong đó, có nhiều tác phẩm của ông đạt đuợc trao giải thưởng Cụ thể:
- Buồn vui - tập kí (NXB Văn hoá dân tộc, 1999) được trao giải C Hội Văn học
nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 1999
- Thầy giáo Đại học - kí được trao giải B (Không có giải A) - Bộ Đại học,
Trung học chuyên nghiệp 1988
- Một mình trong cõi thơ - tập tiểu luận - Chân dung văn học (NXB Văn hoá
dân tộc, 2000) được trao giải C Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2000
- Vọng tiếng non ngàn - tập kí (NXB Văn hóa dân tộc 2001) được trao giải C
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, 2001
Nổi bật trong số đó là 2 tập tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng
Tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, được trao giải thưởng trong sáng tác và quảng bá
các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", 2010 Ngay khi mới ra mắt bạn đọc, tác phẩm đã tạo được chỗ đứng trong lòng công chúng và được các nhà văn, nhà thơ cùng các nhà lí luận phê bình quan tâm Đây là cuốn tiểu thuyết viết về những năm
Trang 19tháng Bác Hồ ở Pác Bó - Cao Bằng (1941 - 1945) lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với biết bao gian truân, vất vả
Nối tiếp cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, năm 2013, nhà văn Hoàng Quảng Uyên cho ra đời cuốn Giải phóng với gần Giải phóng với 25 chương và hơn 600
trang, được tặng thưởng của Hội nhà văn Việt Nam trong sáng tác và quảng bá các tác phẩm Văn học - Nghệ thuật và Báo chí về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", 2013 Đây là tập 2 trong bộ tiểu thuyết 5 tập
trong dự định sáng tác của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, mà tập 1 là tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó Nội dung tập Giải phóng tái hiện quá trình hoạt động cách mạng của
Bác từ năm 1945 đến năm 1954
Với những giải thưởng đã đạt được cùng sự yêu mến của đông đảo bạn đọc dành cho cây bút miền núi này, nhà văn Hoàng Quảng Uyên từng bước khẳng định vị trí vững chắc của mình trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam
1.2 Sáng tác của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận văn xuôi các dân tộc thiểu
số Việt Nam
Nhìn chung, văn xuôi các dân tộc thiểu số ra đời muộn, phát triển chậm và không đồng đều Trong sự hình thành văn xuôi các dân tộc thiểu số, văn học của người Việt (dân tộc Kinh) có ảnh hưởng rất lớn Nhiều nhà văn dân tộc thiểu số được tiếp xúc với văn học Việt từ rất sớm Những tiểu thuyết và truyện ngắn của Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan … trước cách mạng tháng Tám năm
1945, nhất là những tác phẩm viết về miền núi của những nhà văn người Kinh sau này như: Tô Hoài, Nam Cao … đối với sự phát triển văn hóa, văn nghệ của các dân tộc thiểu
số Việt Nam, do Đảng đề ra, đã tạo điều kiện để văn học dân tộc thiểu số nói chung, văn xuôi dân tộc thiểu số nói riêng hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ Mặt khác, việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy nghệ thuật của một số nhà văn dân tộc Trong tình hình ấy, sự phát triển nhanh hay chậm của văn xuôi các dân tộc thiểu số phụ thuộc rất lớn vào tài năng, sự
nỗ lực lao động nghệ thuật của người sáng tạo ra nó
Trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, đề tài về thiên nhiên đất nước, phong tục tập quán và con người miền núi được các nhà văn phản ánh một cách chân thực, sinh động Tất cả những gì gắn bó với đời sống vật chất và đời sống tinh thần của đồng bào
Trang 20dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đều được thể hiện trong mảng sáng tác này Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng: Không phải bất cứ tác phẩm nào viết về cuộc sống và con người miền núi đều trở thành một tác phẩm đậm bản sắc văn hóa dân tộc vùng cao
Từ 1945 đến 1975, nhiều nhà văn dân tộc thiểu số đã tìm được cho mình một phong cách sáng tác riêng với nhiều hình thức thể hiện mới mẻ, độc đáo nhằm đem lại cho độc giả có cái nhìn chân thực, toàn diện, đầy đủ hơn về bức tranh hiện thực cuộc sống và con người đồng bào dân tộc thiểu số như: Nông Minh Châu, Triều Ân,
Vi Thị Kim Bình, Nông Viết Toại Trong quá trình viết văn, các nhà văn dân tộc thiểu số thường băn khoăn, trăn trở về việc sử dụng thứ ngôn ngữ để sáng tác Sau năm 1975, có nhiều nhà văn vừa sáng tác bằng tiếng dân tộc vừa sáng tác bằng tiếng Việt, nhưng cũng có nhà văn chỉ sáng tác bằng tiếng Việt Ví dụ như: Y Phương, Cao Duy Sơn, Dương Thuấn … Nhìn từ góc độ của từng dân tộc, có thể kể đến một số nhà văn thời kì này như: Ma Trường Nguyên, Hà Đức Toàn, Vi Hồng (dân tộc Tày);
Mã A Lềnh (dân tộc Hmông); Vi Thị Kim Bình, Mã Thế Vinh (dân tộc Nùng) Trong đó, phải kể đến nhà văn Hoàng Quảng Uyên (dân tộc Nùng) Ông viết truyện,
kí, tiểu thuyết … và đã có những đóng góp nhất định vào thành tựu chung của Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
1.3 Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại
1.3.1 Vài nét về thể loại tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử
Theo Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên: Tiểu thuyết là hình thức tự sự
cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng
Theo nguồn vi.wikipedia.org: “Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư
cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định” Và trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung
Trang 21vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách” [48]
Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực Là một thể loại
lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối
đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm
“Thể loại văn học lịch sử còn bao gồm các tác phẩm văn học nghệ thuật, sáng tác về các đề tài và nhân vật lịch sử như tiểu thuyết lịch sử Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu Tuy nhiên, nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa để nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này.” [32, tr.302]
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Sử trong bài viết Suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử (nguồn trandinhsu.wordpress.com): “Trong những năm gần đây, tiểu
thuyết lịch sử đã thực sự trở thành mối quan tâm của nhiều người, nhất là sau những thành công của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hải, Võ Thị Hảo, Nam Dao … những sáng tác đó khơi gợi cho chúng ta những suy nghĩ mới về tiểu thuyết lịch sử và số phận của nó” Ông còn nhận định: “Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kì lịch sử cụ thể không lặp lại
đó Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu đối với tiểu thuyết lịch sử Song chúng ta quá quen với một quan niệm về sự thật lịch sử như là một cái gì khách quan duy nhất, bất biến, chỉ thế này, không thể thế khác Đó là vì chúng ta quá tin vào
Trang 22nào Ở nước ta, trong mười năm qua, tiểu thuyết nở rộ và đã có những thành tựu nhất định Bên trong cái bộn bề và đa dạng của bức tranh tiểu thuyết thập kỷ qua, có thể nhận thấy tiểu thuyết lịch sử là một trong những dòng chủ lưu và có nhiều đóng góp
về thành tựu cho thể loại văn học này” [47]
Nguồn vietvan.com có bài viết Tiểu thuyết lịch sử đương đại với quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Thị Kim Tiến khẳng định: “Tiểu thuyết lịch sử
là một loại hình tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử Khác với các xu hướng tiểu thuyết khác ở đối tượng và cách tiếp cận hiện thực đời sống, tiểu thuyết lịch sử đã đưa đến một cách lý giải con người dựa trên cơ sở vừa lấy lịch sử làm "đinh treo" vừa tận dụng kết hợp những đặc trưng thuộc về thể loại tiểu thuyết, mang lại một kiểu tư duy văn học trong tiểu thuyết lịch sử nói riêng nhiều phương diện mới mẻ” [49]
Nguyễn Xuân Khánh đã nhận định: “Tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lại lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc, vì vậy phải đề cập đến những điều mà họ quan tâm Trong tiểu thuyết tất cả là giả định để độc giả rộng quyền hư cấu tưởng tượng, độc giả là người tham dự vào tiểu thuyết, tạo ra những góc nhìn còn
ẩn khuất trong lịch sử”.v.v
Có rất nhiều quan niệm về tiểu thuyết lịch sử, nhưng cho dù quan niệm như thế nào thì lịch sử vẫn luôn là mảnh đất hấp dẫn đối với nhiều nhà văn
1.3.2 Hai khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch sử
Các nhà nghiên cứu về loại hình tiểu thuyết lịch sử đã phân chia thành hai
khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch sử như sau:
1.3.3.1 Khuynh hướng thứ nhất: Đây là khuynh hướng sáng tác tôn trọng tối
đa, chính xác tính khách quan của tiểu thuyết lịch sử và hư cấu có hạn chế trong phạm vi cho phép để tái hiện sự thật lịch sử Tiêu biểu cho khuynh hướng này có: Hà Ân với “Sát thát”, “Bão táp triều Trần” (Hoàng Quốc Hải) …
1.3.3.2 Khuynh hướng thứ hai: Đây là khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết lịch
sử mà sự thật lịch sử chỉ là cái cớ để từ đó qua những hư cấu tự do, nhà văn gửi gắm dụng ý nghệ thuật của mình Tiêu biểu cho khuynh hướng này có các tác phẩm
như:“Giàn thiêu”của Võ Thị Hảo, “Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh … Trong
số những nhà văn viết tiểu thuyết kể trên thì nhà văn Hoàng Quảng Uyên là một cây
Trang 23bút mới với hai 2 cuốn tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó và Giải phóng Những sáng tác về
tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quảng Uyên luôn bám sát khuynh hướng thứ nhất, đó là tôn trọng tối đa sự kiện lịch sử và hư cấu sự kiện, nhân vật trong phạm vi cho phép Nhân vật, sự kiện trong sáng tác của ông còn rất mới mẻ và xuất hiện trong một quá khứ gần, còn nóng hổi tính thời sự, đây cũng là một khó khăn mà nhà văn phải vượt qua Đọc tiểu thuyết của Hoàng Quảng Uyên viết về Bác Hồ cho ta thấy rõ điều đó Ông viết theo trình tự niên biểu của hệ thống sự kiện có trong lịch sử, dù hư cấu có hạn chế nhưng vẫn theo nguyên tắc tôn trọng tối đa sự thật lịch sử
1.4 Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quảng Uyên trong bộ phận tiểu thuyết lịch sử viết về Bác Hồ
Tuy không nhiều nhưng đã có một số nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử và thành
công với đề tài Bác Hồ Có thể kể đến nhà văn Sơn Tùng với tiểu thuyết Búp sen xanh, Bông sen vàng và nhà văn Hồ Phương với Cha và con Đã có không ít cuốn sách viết về Bác và những người thân trong gia đình Bác, nhưng có lẽ tiểu thuyết Cha
và con của nhà văn Hồ Phương là một cuốn sách lần đầu tiên được viết ở thể loại tiểu
thuyết, trong đó đề cập sâu tới vai trò ảnh hưởng của người cha đến việc hình thành
tư tưởng yêu nước ở Bác cũng như tình cảm sâu đậm giữa hai cha con Với hơn 300
trang sách, Cha và con đã khắc họa thành công chân dung Bác Hồ từ khi còn là cậu
bé 10 tuổi đến khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước Không gian mở rộng từ làng Sen, làng Chùa (Nam Đàn, Nghệ An), kinh đô Huế, Bình Khê, Phan Thiết - nơi cụ thân sinh của Bác dạy học đến Sài Gòn - nơi chàng trai Nguyễn Tất Thành nhận thức được rằng "muốn đánh Pháp phải hiểu được Pháp" nên đã quyết định lên đường xuất dương Viết về một thời kỳ lịch sử còn đậm đặc chất phong kiến, nhưng nhà văn Hồ Phương chọn cách thể hiện nhanh, khá hiện đại, mang màu sắc điện ảnh
Còn với nhà văn Sơn Tùng, tiểu thuyết Búp sen xanh ra đời đã để lại nhiều dấu
ấn đặc biệt trong lòng độc giả Búp sen xanh là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về lãnh
tụ kính yêu của dân tộc, đó là Bác Hồ Xây dựng nên hình tượng Hồ Chí Minh từ khi cất tiếng khóc chào đời tại Làng Chùa quê ngoại tới khi rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, tác phẩm được tác giả dày công sưu tầm tư liệu có liên quan và chấp bút trong thời gian dài, bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành năm 1980 Nét chủ đạo trong tâm linh của nhà văn Sơn Tùng chính là lòng kính yêu vô hạn của nhà văn
Trang 24đối với Bác Nhờ lòng kính yêu nằm trong sâu thẳm tâm linh đó mà bằng trên 300 trang viết, nhà văn đã dựng lại chân thực một khoảng đời từ thuở ấu thơ đến khi Người lên tàu ra đi tìm đường cứu nước Là nhà văn hiểu sâu sắc về tiểu sử Bác Hồ, lại là người đưa lên những trang văn của mình hình tượng Bác Hồ bằng tất cả tâm
huyết, nên tiểu thuyết Búp sen xanh nói riêng và các tác phẩm viết về Bác nói chung
của nhà văn Sơn Tùng có sức hấp dẫn đặc biệt Đọc “Búp sen xanh” người đọc hiểu
rõ hơn về cuộc đời của Bác và thêm kính yêu, tự hào về Bác
Bông sen vàng ra đời tiếp theo Búp sen xanh càng khiến ta bồi hồi và tự hỏi:
trong cả cuộc đời lớn lao của Bác trải khắp năm châu bốn biển qua ngót một thế kỷ còn bao điều ẩn khuất, phải chăng thời niên thiếu của Người cũng là một giai đoạn
quan trọng mà văn học đang cần sớm phát hiện Bông sen vàng đã khẳng định sâu sắc thêm một qui luật từng hé mở trong Búp sen xanh, đó là: Nhân cách hình thành từ
tuổi thơ của học sinh Nguyễn Sinh Côn lại chính là "cái gốc", “cái khởi thủy”, cốt cách nhân bản trong cốt cách thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại
Với những trang viết đầy xúc động, nhà văn Sơn Tùng đã lay động lòng người bằng những tình cảm kính yêu dành cho vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Nhưng đối với nhà văn Hoàng Quảng Uyên thì ông lại có cái nhìn riêng và cách suy nghĩ khác Ông đã từng tâm sự: “Tôi đã rất “liều” khi đưa một bậc vĩ nhân như Chủ tịch Hồ Chí Minh thành nhân vật tiểu thuyết trong khi rất nhiều người ngại viết Ngại nữa là những con người và giai đoạn lịch sử nói đến trong tiểu thuyết còn quá gần, nó như một vòng kim cô trói buộc sự hư cấu, mà hư cấu và tưởng tượng là thủ pháp,
"thao tác" quan trọng của thể loại tiểu thuyết …” [30]
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên là người “viết Sử bằng Văn” Bởi trong quan niệm của ông: “Ngôn tri bất văn, truyền tri bất viễn” Nghĩa là: lời nói không có văn thì không truyền đi xa được Nhân vật và sự kiện trong tác phẩm của Hoàng Quảng Uyên còn rất gần với hiện tại và tất cả đều rất trung thành với lịch sử Chính vì vậy, ông từng
tâm sự rằng: “Ông thích được mọi người gọi ông là Hoàng Quảng Uyên – người kể chuyện về Bác Hồ và Pác Bó”
Một trong những nguyên cơ quan trọng nhất để Hoàng Quảng Uyên chuyên tâm viết tiểu thuyết lịch sử về Bác chính là niềm say mê đi tìm lý tưởng cộng sản, của cuộc cách mạng tại quê hương ông Nhà văn Hoàng Quảng Uyên kể lại: năm 2003,
Trang 25ông tình cờ đọc một bài báo của Hồng Khanh đăng trên báo Nhân dân có tựa đề:
“Niềm vui của Bác Hồ khi nhận lại tập Nhật kí trong tù”, Hoàng Quảng Uyên đã phát hiện ra chi tiết: tập Nhật kí trong tù do Bác để quên ở nhà một người dân Cao
Bằng Đến năm 1955, người dân đó đã gửi về văn phòng Chính phủ trả lại cho Bác
Từ đó, Hoàng Quảng Uyên biết được tập Nhật kí trong tù của Bác có liên quan đến
Cao Bằng – quê hương thân yêu của ông nên luôn trăn trở và ấp ủ viết về quá trình hoạt động cách mạng của Bác tại căn cứ địa cách mạng Cao Bằng
Trong các sáng tác về Bác Hồ, bao giờ Hoàng Quảng Uyên cũng có ý thức khắc họa hình tượng Bác Hồ như một con người đời thường chứ không phải đề cao Người là một vị Thánh, chỉ được mọi người ngưỡng mộ mà không gần gũi Cho nên, khi đọc các tác phẩm của Hoàng Quảng Uyên viết về Bác Hồ, người đọc mới nhận thấy Bác trở nên vĩ đại thực sự trong sự giản dị đời thường ấy và nhà văn đã không hề làm giảm bớt vinh quang của Bác Đọc tiểu thuyết của ông, ta như thấy cả một chặng đường lịch sử chân thực và nhân vật luôn là người thật, việc thật được hư cấu trong phạm vi và mức độ nhất định
Trang 26Chương 2 NGUYÊN MẪU HỒ CHÍ MINH VÀ HƯ CẤU NGHỆ THUẬT
TRONG HAI TIỂU THUYẾT: “MẶT TRỜI PÁC BÓ” VÀ “GIẢI PHÓNG” CỦA
NHÀ VĂN HOÀNG QUẢNG UYÊN
2.1 Hoàn cảnh ra đời của 2 tiểu thuyết: “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” của Hoàng Quảng Uyên
2.1.1 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết “Mặt trời Pác Bó”
Hoàng Quảng Uyên là người Cao Bằng nên ông luôn muốn khám phá, tìm hiểu về cội nguồn dân tộc, quê hương Ông rất am hiểu về phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng và thông thuộc địa hình Pác Bó, mà Pác Bó lại là nơi Bác Hồ - một nhân vật lịch sử đã từng ở và hoạt động cách mạng trong vòng 5 năm Chính điều đó đã khơi nguồn cảm hứng cho Hoàng Quảng Uyên viết cuốn tiểu
thuyết Mặt trời Pác Bó Tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó được thai nghén từ năm 2008,
đến năm 2010, cuốn tiểu thuyết đã hoàn thành và được bạn đọc đón nhận nhiệt tình
Có thể nói: giai đoạn lịch sử mà Bác Hồ ở Pác Bó giống như một khu rừng rậm rạp ít người khám phá và Hoàng Quảng Uyên một mình đứng giữa khu rừng ấy, luôn trăn trở để tìm được một con đường riêng nhằm khắc họa hình tượng Bác Hồ
2.1.2 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyết “Giải phóng”
Tiểu thuyết “Giải phóng” ban đầu có tên là “Ba ngàn ngày chiến thắng”, gồm
25 chương như một bức tranh hoành tráng về cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ… của một dân tộc với ý chí “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Để lấy cảm hứng sáng tác bộ tiểu thuyết quy mô này, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tự mình tổ chức những chuyến đi thực tế sang đất Quảng Tây (Trung Quốc) nhiều lần, hay tìm về quê hương của Bác ở Nam Đàn, Nghệ
An … Những trang viết cuối cùng của tiểu thuyết được hoàn thành ở Trại sáng tác tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Tam Đảo, tháng 4 năm 2013
Có thể nói: Giải phóng là phần 2 của Mặt trời Pác Bó Vẫn xuất phát từ nguyên
mẫu Hồ Chí Minh, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã viết cuốn tiểu thuyết này trong vòng
2 năm (từ năm 2011 đến năm 2012) Khoảng giữa tháng 5 năm 2013, tác phẩm ra mắt bạn đọc và đã tạo ra luồng dư luận mới về nhà văn Hoàng Quảng Uyên khi viết về chặng đường hoạt động cách mạng tiếp theo của Bác, từ sau năm 1945 đến năm 1954
Trang 272.2 Nguyên mẫu Hồ Chí Minh và những “cột mốc” lịch sử được tái hiện trung thực trong “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng”
Chính bản thân Hoàng Quảng Uyên cũng chưa từng được gặp Bác mà chỉ biết và tìm hiểu về Bác qua các tài liệu (đặc biệt là các tập hồi kí viết về Bác) thấy các nhà văn, các nhà tư tưởng viết về Bác – một người suốt đời lo cho dân, cho nước, hy sinh cho dân tộc … Một số tác phẩm viết về Bác có xu hướng thiên về khắc họa con người phi thường trong Bác mà chưa quan tâm đứng mức đến phần con người bình thường Do đó, nguyên mẫu Hồ Chí Minh trong tâm trí Hoàng Quảng Uyên luôn luôn được đề cao, tôn trọng với
sự hài hòa, gắn kết phẩm chất con người phi thường với con người bình thường trong Bác
Mỗi chương trong hai tác phẩm Mặt trời Pác Bó và Giải phóng đều có sự kiện lịch sử
được tái hiện trung thực Qua khảo sát của chúng tôi, hầu như chương nào trong hai tác phẩm cũng có sự kiện lịch sử tiêu biểu được nhà văn đã tái hiện trung thực
Trong tiểu thuyết Mặt trời Pác Bó, Hoàng Quảng Uyên đã xây dựng nhân vật Hồ
Chí Minh gắn với các sự kiện lịch sử quan trọng diễn ra tại tỉnh Cao Bằng Từ lúc Bác Hồ trở về Cao Bằng, chọn Pác Bó làm căn cứ địa cách mạng và vạch ra phương hướng, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trên mảnh đất Cao Bằng
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập 1, giai đoạn 1930 – 1945 có ghi:
“Ngày 28 - 1 - 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã đặt bước chân đầu tiên lên mảnh đất Pác Bó, nơi có địa thế hiểm trở, núi non hùng vĩ, có quần chúng nhân dân đã được giác ngộ, kiên cường đấu tranh, trung thành với Đảng, với cách mạng, có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cách mạng ” [2, tr 76-77]
Dựa vào chi tiết này, trong Mặt trời Pác Bó, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tái
hiện chi tiết miêu tả lần đầu khi Bác vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, đứng trước cột mốc 108 - cột mốc phân định biên giới Việt – Trung: “ … Một doàn người vượt Pò Vẩn, chạm chân lên đất Việt, tại cột mốc 108 Mốc 108 là một phiến đá được đục, đẽo thành hình khối, cao gần một mét, rộng nửa mét, dày chừng 30 phân, mặt trước có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp Mốc được dựng từ một hiệp ước triều đình Mãn Thanh ký với
đế quốc Pháp, trải mưa, trải gió cột mốc đã ngả màu xám, chữ mờ đi.” [37, tr.12]
Đây là chi tiết được nhà văn tái hiện một cách trung thực sự kiện ngày đầu tiên (28 - 1 – 1941), Bác Hồ đặt trên lên mảnh đất Cao Bằng, đi qua cột mốc 108 và dừng chân tại trên đỉnh núi cao nhìn xuống bao quát khung cảnh thiên nhiên rộng lớn,
Trang 28hùng vĩ Địa thế và lòng dân Pác Bó rất xứng đáng được lãnh tụ đặt cơ quan, chỉ đạo phong trào cách mạng, lấy hang Cốc Bó làm trụ sở Từ đó, Pác Bó với ngọn núi “Các Mác” với dòng suối “Lênin”, tại nơi Người làm việc và do Người đặt tên thể hiện tư tưởng, mục tiêu, đường lối cách mạng, niềm tin tất thắng được vinh dự đi vào trang
sử vẻ vang hiện đại của dân tộc ta, gắn bó với sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu
Cũng trong cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tập 1, giai đoạn 1930 – 1945
ghi rõ: “Tại Pác Bó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện về tổ chức Mặt trận Việt Minh, về chương trình Điều lệ Việt Minh cho các cán bộ người Cao Bằng, đồng thời Người bắt tay vào chương trình thí điểm Việt Minh và tổ chức các đoàn thể cứu quốc tại các châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình.” [2, tr.77]
Với sự kiện lịch sử này, Hoàng Quảng Uyên cũng tái hiện một cách trung
thực bằng một số chi tiết tiêu biểu trong Mặt trời Pác Bó Đó là chi tiết các đại biểu
Bắc – Trung – Nam dự Hội nghị tại Khuổi Nặm Dưới sự chỉ trì của đồng chí đại biểu Quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc, các đại biểu ngồi quây quần, chăm chú nghe người chủ trì vạch ra con đường định hướng cách mạng đó là “lập một Mặt trận dân tộc thống nhất trong cả nước” [1, Tr.162] và sự kiện Bác mở nhiều lớp huấn luyện về
tổ chức Mặt trận Việt Minh, chương trình Điều lệ Việt Minh cho các cán bộ người Cao Bằng: “Bác đã soạn 10 điều kỷ luật đội thảo những nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Hội” [1; Tr.245] Hay “Bài tập sự đầu tiên của đội du kích Pác Bó, những bài tập luyện luôn vang lên những tiếng hô “Nghiêm”, “Nghỉ”, “Bên phải quay”, “Bên trái quay” những động tác bồng súng, chào, ném lựu đạn, tập bắn súng các đội viên tập càng thuận thục nhờ sự huấn luyện bài bản của “giáo thụ” Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm ” [37, tr 248]
Bên cạnh những sự kiện được tái hiện trong Mặt trời Pác Bó, nhiều sự kiện trong Giải phóng cũng được nhà văn Hoàng Quảng Uyên tái hiện một cách trung
thực với nhiều chi tiết nổi bật
Trong hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ghi: “Đêm nằm trên Lán Nà Lừa với Bác, “Bác trăng trối”: Dù có phải hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Dựa vào chi tiết này, nhà văn đã
tái hiện lại một cách trung thực trong chương Mệnh người – vận nước Đó là lúc Bác
Trang 29ốm, Bác đã gọi Võ Nguyên Giáp đến dặn dò và nhắc nhở “Thời hồ, thời hồ, bất tái lai – Thời gian và cơ hội không trở lại lần thứ hai … Dù có phải hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” [38, tr.84]
Hay Hồi kí của Nguyễn Đình Thi trong cuốn Bác Hồ với văn nghệ sĩ được
nhà văn Hoàng Quảng Uyên lựa chọn để viết chương 5: Quốc Dân đại hội Từng chi tiết, sự kiện ghi chép trong Hồi kí đều được Hoàng Quảng Uyên tái hiện lại Đó là chi tiết Nguyễn Đình Thi ngồi trong phòng viết bản tham luận về một nền văn hóa mới
để lên chiến khu dự một hội nghị đặc biệt mà anh trở thành đại biểu chính thức của giới văn hóa [38, tr.98] Niềm vui của Nguyễn Đình Thi cũng như giới văn nghệ sĩ khác như: Khuất Duy Tiến, Trần Huy Liệu như hòa làm một khi cùng đến tham dự hội nghị Chi tiết Võ Nguyên Giáp giơ cả hai tay hướng về Nguyễn Đình Thi được tái
hiện rõ nét: “Chào nhạc sĩ, chào Nguyễn Đình Thi, tôi đã nghe bài hát Diệt phát xít
bừng sôi lửa chiến đấu của anh: “Mau mau mau vai kề vai không phân biệt già, trẻ, trai hay gái Vác súng gươm ta đi lên, ta tiến lên ta diệt quân thù…””[38, tr.102] …
Chỉ với vài chi tiết tiêu biểu, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tái hiện một cách trung thực các nhân vật và sự kiện có trong lịch sử để đưa vào trong sáng tác của mình Các sự kiện lịch sử xuất hiện lần lượt theo theo thời gian tuyến tính, với trình
tự biên niên Như vậy, có thể khẳng định: Hoàng Quảng Uyên sáng tác tiểu thuyết lịch sử dựa trên khuynh hướng thứ nhất Nghĩa là ông tôn trọng tối đa tính xác thực của lịch sử và hư cấu có hạn chế trong phạm vi cho phép để tái hiện sự thật lịch sử
2.3 Hư cấu nghệ thuật trong hai tiểu thuyết: “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng”
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hư cấu là vận dụng trí tưởng tượng để sáng
tạo nên những nhân vật, phương tiện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và thực hiện những mục đích nghệ thuật nhất định Qua hoạt động hư cấu, nghệ sĩ nhào nặn, tổ chức chất liệu được rút ra từ cuộc sống để tạo ra những tính cách, những số phận, những hiện tượng mới, những sinh mệnh mới có ý nghĩa điển hình, vừa biểu hiện tập trung chân lý cuộc sống, vừa biểu hiện cá tính sáng tạo, phong cách độc đáo
và ý tưởng thẩm mĩ của mình Vì vậy, hư cấu là một trong những hoạt động cơ bản của tư duy nghệ thuật, là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định của quá trình sáng tạo nghệ thuật” [9, tr.153]
Trang 30Đối với nhà văn, quan sát, nghiên cứu và hiểu biết vẫn chưa đủ, còn cần phải “bịa đặt”, sáng tạo ra nữa Cho nên, không hư cấu thì không thể và cũng không tồn tại được tính nghệ thuật Trong tác phẩm cụ thể, các nghệ sĩ có cá tính sáng tạo riêng, với những thể loại nghệ thuật và phương pháp sáng tác khác nhau Quá trình hư cấu diễn ra với những cách thức và mức độ khác nhau Hư cấu bao giờ cũng là một hoạt động cơ bản tất yếu của sáng tạo nghệ thuật
Theo tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt: Hư cấu là “tạo ra bằng tưởng
tượng” [21,tr.586] Tuy nhiên, xét trên phương diện nghệ thuật thì nhà văn Hoàng Quảng Uyên lại sử dụng hư cấu vào sáng tác tiểu thuyết lịch sử, viết về Bác Hồ kính yêu nhưng
ở phạm vi nhỏ hẹp hơn Đó là việc nhà văn đã sắp sếp các sự kiện có thật trong lịch sử
theo trình tự thời gian thành một chỉnh thể thống nhất trong hai tác phẩm Mặt trời Pác
Bó và Giải phóng, đồng thời xây dựng nhân vật Hồ Chí Minh dựa trên nguyên mẫu Hồ
Chí Minh trong lịch sử Bởi theo quan điểm của Hoàng Quảng Uyên, nếu một nhà văn
“sao chép lại, kể lại” một cách rành rọt, chi tiết đúng với những gì đã diễn ra trong lịch
sử thì chẳng khác nào ta “sao chép lại, chụp lại” nguyên si “bản gốc” và đương nhiên nó
sẽ không có giá trị, không gây được sự chú ý của độc giả
2.3.1 Tái hiện bức tranh thiên nhiên và bức tranh xã hội
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên là lớp người trưởng thành sau năm 1975 nên trước những đổi thay của quê hương, đất nước, của thời đại, ông đã tìm thấy nguồn cảm hứng mới về cái tươi đẹp về cuộc sống, về thiên nhiên và con người trên mảnh đất quê hương
từ trong quá khứ Tất cả đều được phản ánh qua từng trang viết của Hoàng Quảng Uyên với nguồn cảm hứng bất tận nhằm tái hiện một bức tranh thiên nhiên với đầy đủ âm thanh, màu sắc tươi sáng của núi rừng Việt Bắc đã lùi xa vào hoài niệm
Để khắc họa bức tranh thiên nhiên, phong tục tập quán gắn với đời sống của những con người miền núi một cách chân thực và rõ nét, nhà văn Hoàng Quảng Uyên
đã hư cấu qua một số chi tiết điển hình nhất, đắt giá nhất
2.3.1.1 Tái hiện bức tranh thiên nhiên
Bức tranh thiên nhiên được thể hiện qua cảnh sắc núi rừng Cốc Bó Nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã miêu tả cảnh sắc núi rừng Cốc Bó tươi tắn với những tia nắng vàng lung linh len lỏi qua từng tán lá, cành hoa, tiếng chim Cáng lò gọi bàn tình, tiếng róc rách của dòng nước len lỏi qua khe đá, tạo nên bức tranh thiên nhiên mùa
Trang 31xuân sống động, tràn đầy sức sống: “Nắng tràn trên cánh rừng đại ngàn Cốc Bó, trải màu vàng tươi trên những cành hoa muôn sắc lung linh Những cành lá mạy Báng, mạy Mạ, cáp tao … lóng lánh đung đưa Tiếng con chim Cáng lò gọi bạn tình chìm trong nồng nàn mùa xuân Dưới tán rừng xanh, dòng nước trong chảy từ đầu nguồn, len lỏi qua khe đá Róc rách reo vui Hơi nước bốc lên đọng lại trên ngọn cỏ, lá cây bên bờ suối Ẩm ướt, lành lạnh” [37, tr.5]
Mùa xuân hiện lên với đầy đủ âm thanh, màu sắc hòa cùng không khí đặc trưng của miền núi Đó là tiếng chim hót, tiếng nước chảy qua khe suối, là màu vàng tươi của nắng xuân ấm áp, là không khí lành lạnh, ẩm ướt
Cùng với đó, bức tranh thiên nhiên còn được gởi mở qua không gian thiên nhiên sinh động, hùng vĩ và nên thơ Qua ngòi bút của tác giả, khung cảnh thiên nhiên hiện ra đầy thơ mộng với nhiều sắc màu đan xen, hòa lẫn Đó là màu tím thẫm của quả dâu da, màu vàng tươi của hoa cây Mạy Mạ và hơn cả là những đỉnh núi ẩn hiện trong làn sương mờ trắng: “Buổi sáng đầu hè đẹp, trời trong Những cây dâu da hai bên bờ suối đung đưa những chùm quả tím thẫm Cây Mạy Mạ bên chiếc lán nở những bông hoa vàng rực Những đám ruộng bên Khuổi Nặm đã cấy xong, nước lập
lờ chân mạ Phía xa, những đỉnh núi choàng mây trắng mộng mơ ” [37, tr.159]
Nhà văn đưa người đọc tới một không gian rộng lớn hơn, bao quát hơn trong khoảng thời gian nhất định là vào một buổi sáng đầu mùa hè Không gian ấy thật trong trẻo nhưng cũng thật nên thơ, khiến người đọc liên tưởng tới cõi “bồng lai tiên cảnh”
Cũng là cảnh sắc của núi rừng, nhưng trong Giải phóng, tầm nhìn của nhà văn
bao quát hơn, tỉ mỉ hơn Hoàng Quảng Uyên cũng sử dụng nghệ thuật hư cấu để làm nổi bật lên vẻ đẹp của thiên nhiên vùng núi phía Bắc với những thác nước cao đầy quyến rũ Điểm nhìn của tác giả không chỉ dừng lại ở một đối tượng đơn thuần mà theo trình tự từ gần đến xa, từ khái quát đến chi tiết: “Khuôn Tát rợp trong rừng chè, đồi cọ, trong rừng có nhiều loại gỗ quý như cây Phách cao, to gốc cây vòng tay ôm không xuể Đặc biệt có dòng suối Khuôn Tát chảy len lỏi qua các mô đá qua hàng triệu năm bị nước bào mòn thành những mô đá tròn, có những cây đa cổ thụ xum xuê tỏa bóng mát Từ cây đa cổ thụ trên đỉnh Đèo De xuôi theo dòng suối chừng một cây
số, nước đổ xuống một con thác 7 tầng, cao hơn 30m tung bọt trắng xóa” [38, tr.498]
Trang 32Có thể thấy mọi sự vật, hiện tượng đều hội tụ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Chỉ với hình ảnh các mô đá dưới lòng suối bị bào mòn theo thời gian khiến cho chúng bị biến dạng hay dòng nước của con thác 7 tầng đổ xuống, tung bọt trắng xóa, nhà văn đã cho người đọc thấy được khả năng đặc biệt của mình trong cách quan sát, miêu
tả, liên tưởng về các sự vật, hiện tượng diễn ra trong tự nhiên thật sinh động và tỉ mỉ
Dưới ngòi bút của Hoàng Quảng Uyên, cảnh sắc thiên nhiên không chỉ hiện lên với gam màu tươi sáng mà nó còn gợi sự thâm u, huyền ảo nhưng cũng rất trữ tình:
“Sông Phó Đáy đoạn chảy quả thác Dẫng được mở rộng ra Mùa nước to, nước chảy ầm
ào, vang vọng Buổi sáng và chiều tối, trời lạnh hơi nước bốc mù mịt Cảnh sắc thâm u, huyền ảo Đây là nơi yên ba thâm xứ (nơi khói sóng thăm thẳm), dễ gợi cảm hứng thơ” [38, tr.508] Hay: “Ánh trăng bàng bạc, trải ảnh vàng lên lau lách, cây cối hai bên bờ Nước chảy êm đềm, hắt ánh trăng lên thuyền Xa xa hơi nước bảng lảng ” [38, tr.508]
Một lần nữa khung cảnh thơ mộng lại được vẽ lên với hình ảnh hơi nước bốc
mù mịt gợi cảm giác rùng mình, ớn lạnh hay ánh sáng mờ ảo của nàng trăng phản chiếu lên thuyền Tất cả đều là sự kết hợp tinh túy giữa con người với thiên nhiên vạn vật để tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh Những chi tiết này có sức lôi cuốn đặc biệt đối với người đọc Qua những trang viết miêu tả về thiên nhiên của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, người đọc như cảm thấy tận mắt chứng kiến cảnh đẹp tuyệt vời
do thiên nhiên ban tặng
Với cái nhìn tỉ mỉ, chi tiết cùng giọng văn mượt mà đậm chất thơ, cùng nghệ thuật hư cấu, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tái hiện bức tranh thiên nhiên giữa đại ngàn Cốc Bó thật hùng vĩ và đa sắc màu tươi tắn Là một nhà văn “chưa sành lắm” về tiểu thuyết, song ngòi bút của Hoàng Quảng Uyên luôn khiến người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác Đó là nhờ vào nghệ thuật hư cấu khi miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên, tạo nên một bức tranh thiên nhiên hài hòa, sinh động, đậm cá tính sáng tạo của Hoàng Quảng Uyên Đây cũng chính là thành công của nhà văn khi đạt được dụng ý nghệ thuật nhằm khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên
về núi rừng Việt Bắc để gửi tới người đọc
2.3.1.2 Tái hiện bức tranh xã hội
Bên cạnh những trang viết về thiên nhiên tươi đẹp, nhà văn Hoàng Quảng Uyên còn giúp người đọc hiểu rõ thêm về bức tranh làng bản, xã hội đã lùi xa vào quá khứ,
Trang 33qua đó hướng người đọc đến một không gian văn hóa đặc trưng gắn với đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc
Tác giả Hoàng Quảng Uyên là người rất am hiểu và thông thuộc về mảnh đất Pác Bó, nên ông luôn có cái nhìn nhạy cảm, tinh tế về hiện thực xã hội, cho dù đó là
xã hội đã lùi vào quá khứ Ngòi bút của ông đã tái hiện bức tranh làng bản hết sức sinh động, tạo nên nét riêng
Bức tranh làng bản được thể hiện ngay trong cái nhìn bao quát của nhà văn: “ … cách đầu nguồn Cốc Bó vài trăm mét Một ngôi nhà sàn thấp, nhỏ ẩn kín trong lùm cây Mái nhà lợp cỏ gianh, tường phía trước che chắn bởi những miếng gỗ cong vênh, 3 phía tường còn lại che bằng lá Cáp tao đan dầy Trước nhà có cái nhà sàn nhỏ, thấp lè tè, mặt sàn ghép bằng những đoạn cây dài Đứng trên sàn nhìn xuống bờ suối thấy rõ khoảnh đất rộng Lũng Mịn Ngước nhìn lên cao, chếch về phía tay phải là Lũng Pò Vẩn, nằm ở lưng chừng núi, nơi có cột mốc phân định biên giới Trung – Việt …” ) [37, tr.6]
Hình ảnh những ngôi nhà sàn thấp, nhỏ là hình ảnh mang nét đặc trưng riêng, gắn với đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc Đi bất cứ làng bản nào thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc ta cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh của những ngôi nhà sàn đơn sơ lợp bằng cỏ gianh và được che chắn bởi những loại cây có sẵn trong tự nhiên Ở đây, nhà văn đứng giữa đất trời, thiên nhiên vạn vật để bao quát không gian rộng lớn, hướng tầm nhìn vào khoảng không vô tận Tác giả cảm thấy ấm lòng khi được hòa mình với cuộc sống giản dị của đồng bào nơi đây
Những địa danh quen thuộc của tỉnh Cao Bằng cũng được nhắc đến như một niềm tự hào qua những trang viết về miền núi của Hoàng Quảng Uyên Đó là “Làng Bó Cục nằm sát biên giới, đối diện với làng Nà Lạn (Đông Khê), có gần chục nóc nhà dựng sát chân núi, toàn nhà sàn mái lợp ngói âm dương …” [37, tr.146], là “Hang Nộc Ẻn là một cái hang nhỏ trần hang cao Trên những hốc đá có nhiều tổ chim Én Thỉnh thoảng chim bay ra, bay vào, ríu rít thật vui mắt, vui tai Từ hang Nộc Ẻn nhìn xuống cánh đồng Nà Mạ, lúa xanh rờn như che lấp con đường mòn dưới chân núi Tèo Lài, dẫn lên Pác Bó” [37, tr.277]
Những cái tên Làng Bó Cục, Hang Nộc Ẻn, Nà Mạ, Tèo Lài, Pác Bó là những địa danh quen thuộc đối với đồng bào dân tộc tỉnh Cao Bằng, nhất là đối với dân tộc Tày nơi đây Mỗi địa danh có một đặc điểm riêng, song dù miêu tả ở khía cạnh nào thì những đặc điểm ấy vẫn toát lên được nét đặc trưng của vùng núi phía Bắc Điều đó thể hiện qua
Trang 34hình ảnh của những ngôi nhà nằm sát chân núi, những con đường mòn ven triền đồi, triền núi, những cánh đồng lúa xanh rờn uốn quanh chân đồi tựa như những chân bậc thang đều tăm tắp Có thể thấy, nhà văn nhắc đến những địa danh này với một niềm lạc quan, tự hào khôn tả
Trong bức tranh làng bản ấy, nhà văn Hoàng Quảng Uyên cũng tái hiện một cách chân thực bức tranh xã hội trong quá khứ: “Ở vùng biên giới này có nhiều phỉ quấy phá: Phỉ “ngoại” từ Trung Quốc sang, phỉ “nội” lẩn lút trong hang, trong núi, phỉ “nghiệp dư” lẻ
tẻ vài tên kéo nhau đi ăn mảnh … gây bao nỗi khổ cho dân chúng Bọn quan Tây, quan Ta bất lực, không trấn áp nổi … Dân gọi bọn quan Tây, quan châu là con hổ, gọi bọn phỉ là con báo Dù hổ hay báo cũng là lũ ăn thịt sống cả” [37, tr.10] Hay: “Vùng Hà Quảng những năm 1938 – 1939 là vùng đất làm ăn của các loại phỉ Nhân dân đói khổ, điêu đứng
vì bọn này Châu ủy Hà Quảng đã phát động phong trào phòng chống phỉ bảo vệ xóm làng rất có hiệu quả, nhưng bọn phỉ nhiều quá không thể đánh đuổi hết được ” [37, tr.224]
Qua nghệ thuật hư cấu, nhà văn đã so sánh bọn phỉ độc ác giống như con hổ, con báo chuyên ăn thịt sống, nhà văn đã cho người đọc thấy được mức độ độc ác của chúng đối với nhân dân Bọn phỉ tập trung ở đâu thì nơi đó nhân dân sẽ đói khổ và sẽ không có ai dám lên nương để phát rẫy trồng lúa, trồng khoai Hình ảnh của bọn
“Phỉ” hiện lên với nhiều phương thức hoạt động Chúng bòn rút của cải, bóc lột sức lao động của người dân nghèo khổ và đe dọa, chèn ép họ bằng nhiều hình thức nham hiểm, độc ác Trước những hành động của bọn phỉ, dân làng luôn tìm cách chống trả
để đòi quyền sống, song do quy mô hoạt động của chúng ngày càng rộng, sức mạnh của chúng ngày càng tăng nên người dân cũng chỉ còn biết cam phận
Không dừng lại ở đó, nhà văn Hoàng Quảng Uyên còn tái hiện bức tranh xã hội trong quá khứ trải qua những tháng ngày lịch sử từ công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền đầy khó khăn, vất vả: “Trong căn lán nhỏ bé trên đồi Nà Lừa những chủ trương, quyết sách lớn được vạch ra và thực hiện Những ngày đầu là công tác chuẩn bị lực lượng đón Đồng Minh nhảy dù xuống căn cứ Tổ chức cuộc chiến đấu chống quân Nhật đánh vào khu giải phóng với việc phục kích và tiêu diệt quân Nhật tại Làng Sảo, Đèo Chắn vào tháng 6/1945 và việc đối phó với những toán thổ phỉ ở Đèo De âm mưu vào quấy phá khu giải phóng ” [38, tr.37]
Trang 35Đặc biệt là những ngày đầu tháng 8/1945 với sự chỉ đạo kịp thời và tích cực của
Hồ Chí Minh, hai hội nghị quan trọng được tổ chức thành công là Hội nghị toàn quốc Đảng từ ngày 13 đến ngày 15/8 tại căn lán cách lán Nà Lừa 20m có hơn 30 Đại biểu các Đảng bộ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ tham dự ra quyết định phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền “trước khi quân Anh và quân Tưởng vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật và trước khi Pháp đưa lực lượng trở lại xâm lược nước ta và trong các ngày 16, 17/8/1945 tại đình Tân Trào Quốc Dân đại hội được tổ chức thành công với việc thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, bầu ra Ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời)” [38, tr 37]
Trước những biến động lớn của xã hội đương thời đầy rối ren, phức tạp, khi quân Anh và quân Tưởng vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật và Pháp chuẩn bị ráo riết cho trở lại xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng các đồng chí, đồng đội kịp thời vạch ra chủ trương, đường lối hoạt động cách mạng của Việt Minh nhằm ngăn chặn hành động phi pháp của Thực dân Pháp đối với dân tộc Việt Nam Đó là phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền, nêu cao lý tưởng cộng sản và lãnh đạo toàn dân kháng chiến
Có thể thấy, dù bức tranh xã hội hiện về trong tưởng tượng có rối ren, phức tạp đến đâu thì người đọc vẫn có thể hiểu và nắm bắt được tình hình xã hội ấy thông qua ngòi bút tinh tế, nhạy bén của nhà văn Hoàng Quảng Uyên Qua ngòi bút hiện thực sắc sảo, Hoàng Quảng Uyên còn cho người đọc thấy trong bức tranh làng bản, xã hội
ấy tồn tại những phong tục tập quán tốt đẹp gắn bó với cuộc sống của đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc như: thờ ông bà, thờ tổ tiên, thờ thổ thần, chúc Tết
Trong tác phẩm Mặt trời Pác Bó, Hoàng Quảng Uyên miêu tả khá chi tiết
những phong tục của người Nùng Giang tại Cao Bằng Khi gặp ông Máy Nì, Ông Cụ (Hồ Chí Minh) chúc tết bằng tiếng địa phương Quảng Tây “Xìn nìn, phát hỷ, phát sòi” (Nghĩa là: năm mới, chúc vui vẻ, phát tài) [37, tr.15]
Qua lời chúc của ông Cụ, người đọc dễ dàng nhận ra tục chúc tết của người Nùng Giang gần giống với tục chúc tết của người Hoa bên Trung Quốc và cũng có nét tương đồng với tục chúc tết của người Kinh ở Việt Nam Cứ năm hết Tết đến, khi mùa xuân đến gõ cửa từng nhà là họ lại dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp Con
Trang 36cháu chúc ông bà, con cái chúc bố mẹ, vợ chồng, hàng xóm láng giềng cùng chúc nhau Họ chúc sang năm mới mọi người đều vui vẻ, nhà nhà được bình an, hạnh phúc, làm ăn ngày càng phát tài, phát lộc Họ vẫn thường chúc nhau:
“Bươn chiêng pi mói Mỏi lổ mội mói Mọi lỏ mọi đay Mỏi cần pìng an Mọi cần cán xỉnh Xỉnh lẻo, xỉnh lẻo!” [37, tr.18]
(Tháng giêng năm mới Mọi thứ đều mới Mọi việc đều hay Mọi người bình an Mọi người tốt đẹp Mời cạn, mời cạn!)
Phong tục này đã được gìn giữ qua bao thế hệ và trở thành phong tục điển hình của người Nùng Giang trong dịp Tết Bên cạnh những lời hay, ý đẹp dành tặng nhau, người Nùng Giang còn tặng nhau những phong bao lì xì màu đỏ thắm “Lì xì” là
“mừng tuổi” Chỉ vào dịp Tết, người Nùng Giang nói riêng hay người Kinh nói chung mới dùng lì xì để trao nhau kèm theo những lời chúc tựa như: chúc con cháu mạnh khỏe, hay ăn chóng lớn; chúc người lớn “công thành danh toại”, làm ăn phát tài, phát lộc dồi dào Những người nhận được lì xì cùng với lời chúc đều cảm thấy vui vẻ:
“Ông Ké thò tay vào túi áo rút ra một phong bao giấy điều đặt vào tay cô bé
Năm mới ta chúc cháu!
Máy Nì mặt đỏ lựng, ấp chiếc phong bao trước ngực, ngước đôi mắt đen ngơ ngác thoáng nhìn ông Ké, môi mấp máy” [37, tr.17]
Đó là niềm vui của con gái ông Máy Nì khi được ông Ké tặng lì xì Không chỉ có niềm vui mà cô bé còn cảm thấy xúc động, ngơ ngác trước hành động của ông Ké, bởi lẽ chính cô bé cũng không hiểu vì sao ông lại biết được phong tục của dân tộc mình!
Trang 37Chỉ với vài nét chấm phá, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã cho người đọc cảm nhận được nét đặc trưng trong phong tục Tết của người Nùng Giang Phong tục chúc tết, tặng lì xì được người Nùng Giang lưu giữ như một nét đẹp truyền thống Cho đến ngày nay, phong tục này vẫn tồn tại và ngày càng khẳng định được giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi nói chung cũng như của người Nùng Giang nói riêng
Ngoài phong tục chúc tết, người Nùng Giang còn có tục Sầu Nèn Cũng trong
tác phẩm Mặt trời Pác Bó, một lần nữa Hoàng Quảng Uyên lại dẫn dắt người đọc tìm
hiểu về phong tục Sầu Nèn của người Nùng Giang Đây là một phong tục truyền thống quý báu của dân tộc Việt gắn chặt với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” Tục Sầu Nèn diễn ra vào ngày mồng hai Tết hàng năm, với nghĩa: người còn sống dâng lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên để bày tỏ lòng kính trọng đối với những người đã khuất Chính vì thế, đồ lễ để dâng lên bàn thờ ông bà, tổ tiên trong ngày mồng hai Tết phải được chuẩn bị chu đáo với “một bên gánh là con gà sống thiến lông mượt, đuôi dài, cựa ngắn, một bên là chiếc làn nhỏ có đựng bánh chưng, bánh khảo, thúc théc và một chai rượu” [37, tr.8]
Từ lâu, tục Sầu Nèn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tín ngưỡng thờ Thần của người Nùng Giang Theo người dân nơi đây, những đồ ăn, thức uống được dâng lên bàn thờ tổ tiên phải thật ngon và gồm nhiều loại khác nhau với mong muốn ông bà, tổ tiên và những người đã khuất sẽ bảo vệ, chở che cho con cháu
Bằng sự quan sát, hiểu biết tinh tế, sâu sắc về phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã khắc họa thành công bức tranh cuộc sống của người miền núi gắn với các phong tục tập quán diễn ra trong dịp Tết Với mỗi phong tục, nhà văn lại có cái nhìn mới mẻ, toàn diện, chân thực và sinh động, nhưng không hề làm giảm giá trị văn hóa tinh thần còn được lưu giữ của đồng
bào dân tộc nơi đây Qua tác phẩm Mặt trời Pác Bó, Hoàng Quảng Uyên đã tái hiện
sinh động tục thờ Thần, tục chúc Tết của đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc
Bằng ngòi bút sắc sảo với cái nhìn tinh tế cùng khả năng quan sát tỉ mỉ, nhà văn Hoàng Quảng Uyên đã tái hiện một cách chân thực và sâu sắc nhất về bức tranh làng bản, xã hội Cao Bằng Qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ, cuộc sống sinh hoạt của người dân miền núi bên những chiếc nhà sàn đơn sơ, nhỏ bé hiện lên thật
Trang 38chân thực và rõ nét Những phong tục tập quán truyền thống của người Nùng Giang được nhắc đến như một niềm tự hào, tự tôn dân tộc Tuy nhiên, ẩn hiện sau mỗi bức tranh đậm sắc màu đó là cả một xã hội đầy rối ren, phức tạp, song nhà văn đã dẫn dắt người đọc, gạt bỏ những góc khuất u tối để hướng đến một tương lai tươi sáng tràn đầy niềm tin và hy vọng
Chính vì Hoàng Quảng Uyên là người con của dân tộc Nùng, sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Cao Bằng lịch sử nên ông luôn hướng về vùng đất tổ tiên, hướng về nguồn cội dân tộc, nơi “chôn nhau cắt rốn” với một tình cảm chân thành, tha thiết Tất cả những ký ức đẹp đẽ về thiên nhiên, con người gắn với phong tục tập quán đều lần lượt đi vào trang viết của ông, góp phần tô điểm và làm giàu có thêm nguồn tài liệu viết về đề tài miền núi
2.3.2 Khắc họa chân dung các nhân vật lịch sử đã sống và hoạt động cùng Bác
Trong quá trình hoạt động cách mạng, đã có rất nhiều đồng chí, đồng bào sống gần gũi với Bác, coi Bác như một người cha, một người anh, một người bạn tri kỷ Đó là:
“Lê Quảng Ba, người con của núi rừng Pác Bó, luôn có mặt cạnh Người trong suốt những ngày “cháo bẹ, rau măng”; Đàm Quang Trung, người thanh niên bản Nà Nghiềng, chỉ huy đội giải phóng quân giải phóng Thái Nguyên, tiến về Hà Nội được giao nhiệm
vụ chỉ huy cuộc duyệt binh lịch sử ngày mai; Chu Văn Tấn, chỉ huy đội cứu quốc quân,
“hùm xám Bắc Sơn”, nay là bộ trưởng Bộ quốc phòng trong Chính phủ lâm thời; Cháu Trưng, cháu Loan, cháu Cầm, những người con gái Cao Bằng anh dũng kiên trung “ Hình ảnh họ mãi khắc ghi trong lòng Bác, nhiều người đã hy sinh thân mình để bảo vệ non sông, đất nước và trở thành tấm gương tiêu biểu trong phong trào đấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho dân tộc Bên cạnh nguyên mẫu Hồ Chí Minh, nhà văn Hoàng Quảng Uyên cũng rất thành công khi xây dựng hình tượng các nhân vật lịch sử đã từng sống và hoạt động cách mạng cùng Bác ở nhiều phương diện
Qua những trang viết của Hoàng Quảng Uyên, chân dung ngoại hình của các nhân vật lịch sử có thật hiện lên khá chân thực và rõ nét Mỗi nhân vật lịch sử, nhà văn lại xây dựng với tính cá thể hóa, không hề trùng lặp và gây được ấn tượng đối với độc giả
Có thể kể đến nhân vật lịch sử Phùng Chí Kiên, “người đàn ông trải nhiều sương gió, thân hình vạm vỡ, da nâu sạm, mắt đen ” [37, tr.180]
Trang 39Phùng Chí Kiên được nói đến là một người đàn ông tuổi đời bốn mươi tráng kiện, tràn đầy sinh lực và là một chiến sĩ cách mạng trung kiên, một trong những đội viên đầu tiên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội thành lập ở Quảng Châu năm 1925 Phùng Chí Kiên đã cùng Bác về Pác Bó và tích cực tham gia vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Thân hình vạm vỡ với làn da nâu sạm khỏe mạnh càng tôn thêm sức mạnh của một cán bộ quân sự xuất sắc Trong quá trình hoạt động cách mạng, Phùng Chí Kiên luôn kề vai sát cánh cùng với các đồng chí, đồng đội trong mọi hoàn cảnh và trở thành một trong những Đảng viên tiêu biểu được Bác tin tưởng giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng
Ở đây, nhà văn đã sử dụng nghệ thuật hư cấu để phác họa chân dung ngoại hình của nhân vật, biến các nhân vật lịch sử trở thành “hình mẫu lý tưởng”, trở thành “nhân vật huyền thoại”, từ đó tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết, tạo niềm tin tươi mới ở tương lai
Bên cạnh đó, nhà văn còn tái hiện chân dung các nhân vật lịch sử thông qua
ngôn ngữ và hành động nhằm phác họa rõ nét tính cách của từng nhân vật Ngôn ngữ được thể hiện thông qua lời nói và hành động được gắn với những việc làm cụ thể
Có thể nói đến Kim Đồng, đội trưởng đội cứu quốc làng Nà Mạ, tuy tuổi nhỏ nhưng rất thông minh, gan dạ và dũng cảm Kim Đồng đã nhiều lần đưa đón cán bộ qua ngã ba Đôn Chương an toàn nên khi được Bác hỏi chuyện, Kim Đồng trả lời dứt khoát: “Cháu không sợ đâu Gặp bọn nó chúng cháu chào to: chào các quan ạ Cháu chào nhiều lần, cán bộ đi sau nghe tiếng mà tránh đi” [37, tr.279]
Trước câu trả lời đầy tự tin ấy, Bác cảm thấy rất yên tâm khi giao nhiệm vụ dẫn đường cho Kim Đồng Dù đang ở độ tuổi ăn, tuổi ngủ, tuổi học hành nhưng những đứa trẻ như Kim Đồng lại phải chịu nhiều thiệt thòi và không được hưởng ấm no, hạnh phúc khi nước nhà chưa độc lập Xác định làm nhiệm vụ cứu quốc là vất vả nhưng Kim Đồng lại cảm thấy vui khi được cống hiến sức mình cho cách mạng Chỉ với câu trả lời dứt khoát “Cháu không sợ đâu” đã thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường của Kim Đồng trước sự đàn áp của kẻ thù
Nhà văn đã thực sự thành công khi hư cấu hình ảnh của một em bé nhi đồng tham gia hoạt động cách mạng Cũng có thể trước những hành động dã man của kẻ thù, Kim Đồng cũng cảm thấy run sợ, bởi thực tế các em nhỏ ở lứa tuổi nhi đồng hầu hết đều chưa ý thức được hành động cũng như chưa làm chủ được suy nghĩ của mình
Trang 40Hư cấu này gán với nhân vật Kim Đồng hoàn toàn phù hợp vì nhà văn hư cấu trong mức độ và phạm vi cho phép
Đức Thanh (tên gọi khác là Đàm Minh Viễn), người con của bản Nà Giềng, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng được Bác tin tưởng giao cho nhiều trọng trách quan trọng Sống và gắn bó với Bác một thời gian tại Pác Bó, Đức Thanh đã học được rất nhiều điều từ vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Khi được Bác giao nhiệm vụ đem Bản chỉ thị kháng chiến kiến quốc vào Sài Gòn truyền đạt và thực hiện, Đức Thanh vô cùng phấn khởi, ngay lập tức “cấp tốc lên đường” [38, tr.231] và “tỏ rõ tài năng của mình, đưa ra những quyết định kịp thời chính xác” [38, tr.231 - 232]
Hành động Đức Thanh nhanh chóng lên đường để đem Bản chỉ thị kháng chiến kiến quốc vào Sài Gòn truyền đạt và thực hiện đã thể hiện tinh thần, trách nhiệm vô cùng lớn lao trước vận mệnh của dân tộc, của đất nước Không quản ngại khó khăn, gian khổ, vào đến Sài Gòn, Đức Thanh tỏ rõ tài năng, trực tiếp truyền đạt chỉ thị một cách có hiệu quả, tập hợp được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền Ở chi tiết này, nhà văn Hoàng Quảng Uyên cũng hư cấu một phẩm chất trong tính cách của Đức Thanh Hành động nhanh chóng lên đường được dùng để gắn với nhân vật nhằm làm tăng thêm tính thời sự của chi tiết Bởi lẽ, khi được Bác giao nhiệm vụ, Đức Thanh có thể sẽ phải dành chút ít thời gian chuẩn bị thêm một số tài liệu cần thiết để phục vụ cho việc truyền đạt chứ không thể vừa nhận nhiệm vụ xong đã lên đường nhanh như vậy Hơn nữa, từ ngoài Bắc vào Nam là một chặng đường dài nên công tác chuẩn bị lại càng cần thiết Tuy nhiên, việc
hư cấu này cũng hoàn toàn hợp lý vì đã làm cho tính cách nhiệt tình hết lòng vì cách mạng của nhân vật trở nên rõ nét hơn
Song song với lời nói và hành động, tâm trạng của các nhân vật cũng được khắc họa khá rõ nét Với mỗi nhân vật, nhà văn đều khéo léo lựa chọn cách miêu tả mang tính đặc thù sao cho phù hợp với tính cách và hoàn cảnh của từng nhân vật
Trong cả hai tác phẩm Mặt trời Pác Bó và Giải phóng, Hồ Chí Minh hiện lên
là một người có tấm lòng yêu nước, thương dân đến vô tận Trong số những người đã từng gặp Bác, từng được sống và hoạt động cách mạng với Bác, có rất nhiều người coi Bác như người cha, người thân trong gia đình Họ luôn dành cho Bác một tình