Khai thác lịch sử từ điểm nhìn văn hoá dân tộc là một hướng tìm tòi mới, đem lại thành công cho nhiều nhà văn viết về đề tài lịch sử sau năm 1975, đặc biệt là nhà văn Nguyễn Xuân Khánh..
Trang 1Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết lịch
sử của Nguyễn Xuân
Khánh"
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009
Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử
của Nguyễn Xuân Khánh
Tóm tắt Khai thác lịch sử từ điểm nhìn văn hoá dân tộc là một hướng tìm tòi mới, đem lại thành công cho nhiều nhà văn viết về đề tài lịch sử sau năm 1975, đặc biệt là nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Bài viết góp phần chỉ ra hướng vận động của thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam, sự nỗ lực sáng tạo và những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh cũng như các nhà văn sau 1975 cho thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng, cho nền văn học dân tộc nói chung
1 Sau năm 1975, đặc biệt là sau đại
hội VI của Đảng năm 1986, cùng với sự
đổi mới của văn học nước nhà, văn xuôi
viết về đề tài lịch sử đã có những bước
đột phá mạnh mẽ cả về nội dung và
hình thức Các nhà văn đã không ngừng
tìm kiếm những hướng thể hiện mới
đầy táo bạo, làm cho các sự kiện lịch sử
trở nên sống động, thấm đẫm hơi thở
của cuộc sống hiện tại Trong nhiều
hướng xử lý khác nhau đối với đề tài
lịch sử, hướng tái hiện, đánh giá lịch sử
trên bối cảnh rộng của văn hoá Việt
Nam đã được nhiều tác giả lựa chọn và
đem lại hiệu quả nghệ thuật cao Có thể
nói nhà văn Nguyễn Xuân Khánh là
người đã gặt hái được nhiều thành công
nhất với sự lựa chọn hướng đi này Chỉ
trong sáu năm ông đã cho ra mắt hai
cuốn tiểu thuyết lịch sử dầy dặn: "Hồ
Quý Ly" (2000) và "Mẫu thượng ngàn"
(2006) Cả hai cuốn tiểu thuyết này đều
được nhận giải thưởng của Hội nhà văn
Hà Nội, được độc giả nhiệt tình đón
nhận Điểm độc đáo tạo nên sức hấp
dẫn cho "Hồ Quý Ly" và "Mẫu thượng
ngàn" là những hiểu biết sâu rộng về
văn hoá dân tộc Lịch sử được Nguyễn
Xuân Khánh nhìn nhận, đánh giá dựa
trên bối cảnh rộng của văn hoá Việt trở
nên sống động và đầy sức thuyết phục
2 Trước năm 1975, tiểu thuyết lịch
sử thường quan tâm khai thác các sự
kiện, biến cố lịch sử nhằm dựng lại không khí hào hùng của một thời, mang
đến cho người đọc niềm tự hào, tự tôn
về truyền thống dân tộc Các nhà văn thời kì này thường nhìn lịch sử dưới góc
độ của một sử gia Các tác giả Nguyễn
Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, Nguyễn Huy Tưởng… đều
cố gắng mô phỏng một cách chân thực những bức tranh lịch sử hào hùng của dân tộc theo quan điểm chính sử Trong những bức tranh ấy có cả những cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống con người, nhưng chỉ nhằm để nói lên tinh thần cộng đồng, dân tộc Bởi vậy, đó là bức tranh đơn điệu, một chiều, chỉ ghi lại
được những “sự cố và những xác chết biên niên u lì” [1] Viết tiểu thuyết lịch
sử, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ dựng lại không khí lịch sử từ những biến cố, sự kiện lớn lao mà chú ý soi rọi lịch sử từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn văn hoá Ông đã thể hiện trong tác phẩm của mình một vốn hiểu biết sâu rộng về văn hoá, đưa người đọc sống lại quá khứ của dân tộc qua những trang văn miêu tả những địa danh nổi tiếng, những sinh hoạt thôn dã, những lễ hội dân gian… Bằng lăng kính chủ quan và cảm nhận tinh tế của người nghệ sỹ, bối cảnh lịch sử hiện lên sinh động, tươi nguyên, đậm đà bản sắc văn hoá Việt Nam Mỗi trang văn là một bức tranh
Nhận bài ngày 09/02/2009 Sửa chữa xong 02/04/2009
Trang 3Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr 57-62
đẹp về văn hoá dân tộc Tiểu thuyết Hồ
Quý Ly phục dựng lại không khí cổ xưa
của mảnh đất Thăng Long ngàn năm
văn hiến, nơi ra đời và lưu giữ nhiều lễ
hội lớn Không khí sôi động, náo nhiệt
của hội thề Đồng Cổ - ngày lễ lớn ở
Thăng Long, một lễ hội thuần Việt rất
được dân kinh đô xem trọng ở thời Lý -
Trần được nhà văn tái hiện lại sinh
động: “Người từ khắp làng quê đổ về
Thăng Long đi trẩy hội thề Dọc đường,
cắm cờ suốt từ cửa Tây tức Quảng Phúc
môn Đến đền Đồng Cổ, người che kín
hai bên đường.” [3, tr 17 ] Hội thề Đốn
Sơn - một ngày lễ lớn ở Tây Đô cũng
được miêu tả bằng cái nhìn cận cảnh:
“Tây Đô tưng bừng náo nhiệt Suốt dọc
đường lát đá từ cửa Nam đến núi Đún
được cắm đầy những lá cờ ngũ sắc Chót
vót trên đỉnh Đốn Sơn treo một lá cờ
trên thêu hai chữ Đại Việt rất to, lá cờ
đậu hình vuông nhiều màu” [3, tr 785]
Tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” lại hấp
dẫn người đọc bởi không gian văn hoá
nhiều màu sắc, thấm đẫm không khí
huyền thoại Người đọc như được sống
lại khung cảnh làng quê Bắc Bộ những
năm cuối thế kỉ XIX với những lễ hội
thần bí như hội Kẻ Đình, hội rước ông
Đùng, bà Đà Đặc biệt có những lễ hội
từ xa xưa, nay không còn nữa đã được
tác giả miêu tả lại bằng những nét rất
riêng, đẹp như những trang cổ tích và
đầy tính nhân văn như lễ hội “trải ổ”
“cho phép trai gái yêu nhau dù chưa
cưới xin được phép tạo một cái ổ thơm
tho, êm ái cho cuộc yêu đương của mình,
trong một hang đá hay một vòm cây nào
đó ở trong rừng, cạnh núi Đùng” [4, tr
725] Những lễ hội này đã phản ánh sự
phong phú trong đời sống tinh thần của
người dân Việt Nam
Mỗi địa danh trong tác phẩm đều là
một di tích văn hoá, vừa rất đỗi gần gũi,
vừa linh thiêng Tây Đô là kinh đô quân
sự do Hồ Quý Ly dựng nên uy nghiêm, tráng lệ, với lối kiến trúc độc đáo Làng
Kẻ Đình với hình ảnh cây đa Cổ Đình mang trọn nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Văn hoá Việt thể hiện trong những tín ngưỡng dân gian như tục thờ Đạo Mẫu, tục chôn người chết trùng tang, gợi sự tò mò, thích thú nơi người đọc Sức mạnh văn hoá dân tộc còn hiện trong vẻ đẹp bí ẩn của người đàn bà khiến những gã đàn
ông Tây phương sang Việt Nam với âm mưu chiếm đoạt cũng bị chinh phục, bị
đồng hoá Philippe Messmer - một tên chủ đồn điền cáo già đã phải khuất phục trước vẻ đẹp đằm thắm của cô Mùi
- người đàn bà đã trải qua hai đời chồng Gần gũi cô Mùi hắn không còn thích thú với cảm giác mình là kẻ chiếm
đoạt mà “từ đáy lòng ông thèm khát một
sự hoà hợp” [4, tr 382] Chinh phục
được Mùi lòng hắn hân hoan “như vừa chinh phục được miền đất hứa” [4, tr 383] Qua những trang văn của Nguyễn Xuân Khánh người đọc như được sống lại không khí cổ xưa với những phong tục độc đáo, những thú chơi tao nhã mang bản sắc văn hoá của vùng trung
du Bắc Bộ như sở thích pha trà bằng nước mưa hứng mo cau (Hồ Quý Ly),
đặc sản chè Hồng Mai (Mẫu thượng ngàn) Đặc biệt, thú chơi hoa mai với bữa tiệc Đại Mai đã trở thành một nét văn hoá độc đáo ở bữa tiệc này cả hai phe đối lập đều đến dự “người ta nghĩ nhờ chén rượu sẽ tìm thấy một điều gì
đó Nhưng rốt cuộc chẳng ai thấy điều gì khác lạ cả, ngoài một điều mà mọi người đều cảm nhận: chủ nhân là người tinh tế, niềm nở, và rượu lão mai quả thật ngon, quả thật độc đáo” [3, tr 315].… Vẻ đẹp văn hoá Việt ẩn trong cả những nét đẹp bình dị, thôn dã của những hồ hoa sen, hoa súng hay trong nét vẽ trên chiếc chậu đồng hoa mai…
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009 Với sự công phu, tỉ mỉ trong việc sưu
tầm những cứ liệu về văn hoá, Nguyễn
Xuân Khánh đã làm cho mỗi trang văn
trở thành một bức tranh văn hoá nhiều
màu sắc, lôi cuốn, hấp dẫn khiến người
đọc khó rời bỏ trang sách Soi rọi lịch sử
từ góc nhìn văn hoá nhà văn đã làm
sống dậy cả một bề dày văn hoá Việt
Qua tác phẩm của mình ông đã chứng
minh lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch
sử của một nền văn hoá có bản sắc
riêng, độc đáo, nhiều bí ẩn và có sức
sống trường tồn
3 Con người trong tiểu thuyết lịch
sử truyền thống thường được nhìn nhận
theo một sơ đồ đã định sẵn Đã là Bà
Trưng, Bà Triệu, Quang Trung… thì
phải anh hùng Họ đại diện cho quần
chúng nhân dân, một giai cấp, một giai
đoạn lịch sử nhất định Cuộc đời của họ
gắn liền với sự nghiệp chiến đấu, bảo vệ
và xây dựng đất nước Họ được miêu tả
như những con người hoàn thiện, toàn
bích “Vua Quang Trung” trong tác
phẩm cùng tên của Phan Trần Chúc
xứng đáng “liệt vào hàng Nã Phá Luân
trong tập danh sách các thế giới vĩ
nhân” [2, tr 226] “Tướng quân Nguyễn
Chích”, “Nguyễn Trung Trực” được Hà
Ân ca ngợi là những người có tài chỉ
huy binh sĩ; nhân vật Nguyễn Mại
trong “Đêm hội Long Trì” của Nguyễn
Huy Tưởng, anh Phấn, cô Chí trong
“Trùng Quang tâm sử” của Phan Bội
Châu đều mang vẻ đẹp hùng tráng đầy
nghĩa khí Bên cạnh đó, các nhân vật
gian hùng được đánh giá theo quan
điểm chính sử Đó phải là con người xấu
xa, tàn bạo Trong tác phẩm “Cái hột
mận”, Lan Khai tố cáo tội ác tàn bạo
của tên vua Ngọa Triều hành hạ nhà
sư Trong “Đêm hội Long Trì” Nguyễn
Huy Tưởng đã dùng bút pháp hư cấu,
phóng đại tính cách dâm đãng của
Đặng Mậu Lân để thể hiện thái độ căm ghét cao độ của mình Nhà văn vô tình
đã biến những nhân vật này thành những “hình nộm lịch sử”, là những con người đã hoàn tất ở thì quá khứ Với cách nhìn đó, tiểu thuyết lịch sử nước ta trong thời gian dài đã tạo nên một hệ thống nhân vật đơn tuyến, không tránh khỏi những đánh giá phiến diện, một chiều về quá khứ Sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới, nhận thức của con người về lịch sử đã có những bước tiến, đòi hỏi văn xuôi viết về đề tài lịch sử cũng cần
có sự thay đổi Khắc phục nhược điểm của văn học truyền thống, Nguyễn Xuân Khánh đã đặt nhân vật trong
điểm nhìn bao quát hơn - trong bối cảnh rộng của văn hoá Việt, để thấy hành
động của họ có ý nghĩa gì đối với sự phát triển của đất nước Từ góc nhìn này nhân vật được xem xét trong một tương quan rộng, không chỉ nhìn thấy mặt xấu, đáng phê phán mà còn thấy cả mặt tiến bộ Bất kể anh ta là người như thế nào nếu có đóng góp cho sự phát triển của văn hoá đều đáng được biểu dương, đánh giá cao
Nhân vật Hồ Quý Ly trong tiểu thuyết cùng tên là một nhân vật hết sức phức tạp trong cách đánh giá của dư luận Chính sử xem triều đại nhà Hồ là ngụy triều, Hồ Quý Ly là một kẻ “loạn thần tặc tử”, “thoán đoạt ngôi vị” của nhà Trần Quan điểm này đã ăn sâu bám rễ trong tư tưởng người dân Việt Nam suốt bao thế kỷ Cách đánh giá này đã không giải quyết được vấn đề một cách sâu sắc và thỏa đáng Hồ Quý
Ly là một kẻ thủ đoạn, có nhiều hành
động tàn bạo để đạt được mục đích của mình - đó là một sự thật Nhưng chúng
ta cũng không thể phủ nhận nhiệt tình cải cách của ông với mong muốn đưa nước Đại Ngu phát triển giàu mạnh Một xã hội muốn phát triển, không bị
Trang 5Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr 57-62 dẫm chân tại chỗ bao giờ cũng cần có
đổi mới, cải cách Vào giai đoạn cuối
Trần, yêu cầu đổi mới lại càng bức thiết
hơn Nhà Trần từng đem lại cho đất
nước những năm thanh bình, thịnh
vượng, những chiến thắng hiển hách,
nhưng đến giai đoạn cuối, triều chính
rối ren, nhân dân đói khổ, lầm than,
loạn lạc liên miên, giặc bên ngoài quấy
nhiễu Trong lúc ấy, những người tâm
đức đã không đưa ra được kế sách gì để
vực đất nước ra khỏi hoàn cảnh khó
khăn Trần Nguyên Đán, cụ Sư Tề, đạo
sĩ Thanh Hư chọn lối sống gắn bó với cỏ
cây, suối rừng, xa rời chính sự Những
người tài năng như Trần Khát Chân lại
bị tư tưởng trung quân níu kéo, không
thể thoát ra để làm cuộc cách mạng
Còn phần đông nhân dân thì thân phận
nhỏ bé không có lối thoát nào khác
Nghe Hồ Quý Ly nói đến việc cần chỉnh
đốn, thay đổi đất nước, Nghệ Tôn hiểu
nhưng “Ông không muốn làm, ông sợ
nhiễu sự Ông muốn mọi việc cứ được
giải quyết theo nề nếp tổ tông” [3, tr
127] Trong hoàn cảnh đất nước mục
ruỗng như vậy nếu Hồ Quý Ly không
đứng ra nhận gánh lịch sử ấy thì số
phận cả dân tộc sẽ đi về đâu? Nhận
trách nhiệm trước lịch sử, Hồ Quý Ly
muốn nhanh chóng đưa đất nước ra
khỏi tình trạng trì trệ Ông đã thực
hiện hàng loạt những cuộc cải cách
cương quyết, dứt khoát, bỏ qua những
lời phản đối gay gắt Ông chủ trương
dùng tiền giấy thay tiền đồng để tiết
kiệm nguyên liệu, thực hiện chính sách
hạn điền, hạn nô tạo sự công bằng trong
xã hội; bắt các nhà sư hoàn tục vì sư sãi
quá nhiều; đặt chức liêm phóng sứ để
dò la những kẻ tham nhũng, chống
đối Ông mở chiến lược thu hút người
tài và luôn trăn trở vì “tìm mãi không
thấy một nhân tài quân sự ” [3, tr 303]
Ông đã tích cực thúc đẩy việc xây dựng
kinh thành Tây Đô, rời kinh đô Thăng
Long về đây để thuận lợi cho việc chống
giặc ngoại xâm Mặc dù công trình này
bị nhiều đời sau chỉ trích nhưng nó cho thấy tầm chiến lược, con mắt nhìn xa trông rộng và tâm hồn tinh tế của Hồ Quý Ly Kinh thành Tây Đô không chỉ
là trung tâm quân sự mà còn là một công trình văn hóa Ông dùng tất cả tâm huyết của mình để viết sách Minh
Đạo với mong muốn đó sẽ là “cái đạo sáng” Ông đã nhận được sự hưởng ứng của người con trai Hán Thương, Nguyễn Cẩn và của cả vua Nghệ Tôn Nhưng
ông cũng bị phản đối kịch liệt bởi trong sách Minh Đạo ông đã phê phán Khổng
Tử ở sự “kém minh mẫn” [3, tr 478]; Chu, Trình là “những con người viển vông, không nghĩ đến việc đời” [3, tr 478] Sự phê phán của ông chưa hẳn đã hoàn toàn thỏa đáng nhưng nó cho thấy
ông là người nhiệt tình đổi mới, thực tâm muốn tạo nên những đột phá trong xã hội, xây dựng đất nước mang bản sắc riêng, không học tập người xưa một cách máy móc Văn hóa Việt phải tự tạo
ra bản sắc riêng, không thể chỉ hưởng thành quả của người khác Tư tưởng này của ông hơn hẳn các nhà nho cùng thời Điều này thật đáng trân trọng Hình tượng Hồ Quý Ly còn đặt ra cho người đọc nhiều suy nghĩ về hiện thực
đất nước Chúng ta cần có những người tiên phong đổi mới, dám nghĩ, dám làm như Hồ Quý Ly để đưa đất nước thoát khỏi những khó khăn chồng chất sau chiến tranh Nhưng đổi mới như thế nào lại là vấn đề không dễ
Với tiểu thuyết “Mẫu thượng ngàn” Nguyễn Xuân Khánh đã đặt văn hoá Việt trong một tình huống gay cấn nhất: những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi dân tộc Việt phải đối mặt mất còn với thực dân phương Tây
và sự xâm thực của tư tưởng Thiên chúa giáo trong đời sống tinh thần Văn hóa Việt Nam đứng trước nguy cơ bị
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 1b-2009
đồng hóa Thử thách này là cơ hội để
văn hóa Việt bộc lộ sức mạnh và vẻ đẹp
riêng của mình, thể hiện cách ứng xử
khéo léo, vừa mềm dẻo, vừa cương
quyết của dân ta trong cuộc đối đầu lịch
sử Thực dân Pháp sang xâm lược nước
ta, chúng đưa Thiên chúa giáo vào với
âm mưu đồng hoá về văn hoá Người
Việt Nam không từ chối đạo Thiên chúa
bởi “Đạo nào cũng thế cả thôi Đạo Giê
su cũng như đạo Mẫu Tất cả đều chỉ là
khuyến thiện” [3, tr 696] Nhưng họ
cũng không chịu để mất đi bản sắc văn
hoá của mình Người Việt vẫn thờ
thánh Mẫu, thờ Đất Mẹ thiêng liêng và
hiền dịu Dưới sự kiểm soát gắt gao của
thực dân, lễ hội Thánh Mẫu vẫn diễn ra
tưng bừng, náo nhiệt, hiên ngang như
một sự thách thức Sự xâm thực của lối
sống phương Tây không làm mất đi
những phong tục, tập quán có từ ngàn
đời của người dân đồng bằng Bắc Bộ
Con người ở đây vẫn giữ được cốt cách,
tâm hồn Việt Cô Mùi vẫn không từ bỏ
niềm ham thích ngồi đồng mặc cho
chồng cô - ông chủ đồn điền Phillipe
Messmer khó chịu; cụ đồ Tiết vẫn giữ
thói quen pha trà bằng nước mưa hứng
mo cau Những người như bà Tổ Cô, cụ
đồ Tiết, cô Mùi và nhân dân làng Cổ
Đình đã góp phần gìn giữ, nuôi dưỡng,
tạo nên bề dày của văn hóa Việt Đặt
văn hóa Việt trong hoàn cảnh đặc biệt,
Nguyễn Xuân Khánh đã góp phần lý
giải một cách thuyết phục những chiến
thắng vang dội của dân tộc ta trong các
cuộc chiến tranh chống đế quốc xâm
lược Chính nội lực văn hóa dân tộc đã
chiến thắng những vũ khí hiện đại,
chinh phục cả những người Pháp sang
Việt Nam với mục đích khai phá: “Tôi
là thứ chiên lạc loài Tôi đến từ xứ này
Tôi ở lại đây Sở dĩ thế vì tôi thấy nó
đẹp Tôi bị cuốn hút bởi cái đẹp mê hồn
của xứ nhiệt đới Và tôi muốn tôn vinh
cái đẹp phương Đông ấy” [4, tr 429] Tác phẩm đã khẳng định chính sức mạnh văn hóa truyền thống mới đã tạo nên sự trường tồn của một dân tộc Đây cũng là vấn đề cấp thiết đặt ra trong thời buổi hội nhập hôm nay của đất nước
4 Cuộc sống xô bồ ngày nay đã khiến nhiều người lãng quên những giá trị truyền thống Bằng những trang văn của mình, Nguyễn Xuân Khánh đã khơi dậy niềm tự hào về quá khứ, bổ sung cho người đọc những hiểu biết về văn hóa dân tộc Trong khi hiện nay những ghi chép về lịch sử còn lưu giữ quá ít dữ liệu về quá khứ cha ông, chưa đủ chứng
cứ để lý giải những vấn đề phức tạp,
đang gây nhiều tranh cãi thì những đề xuất của Nguyễn Xuân Khánh về cách
đánh giá lịch sử đã giúp chúng ta mở rộng được tầm nhìn, tránh cực đoan, lý giải vấn đề một cách hợp lý, thuyết phục hơn Đối với Nguyễn Xuân Khánh tìm về lịch sử dân tộc là một cách kín
đáo để bộc lộ những quan điểm của ông
về cuộc sống quá khứ và đương đại Mỗi trang văn là một thước phim tư liệu quý
mà nhà văn gửi gắm vào đó niềm trân trọng, tự hào về truyền thống dân tộc
Đó còn là nơi để tác giả có cơ hội khám phá bề dày văn hoá dân tộc, và hơn hết
là để hiểu chính bản chất cuộc sống Quan sát lịch sử từ điểm nhìn văn hóa
đã tạo cho tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh một nét riêng, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Hướng khai thác lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh cũng là hướng đi đang được nhiều tác giả lựa chọn Chính hướng tìm tòi này
đã đem lại cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1975 những khởi sắc mới, chứng tỏ sự chuyển hướng đúng
đắn của các nhà văn viết về đề tài lịch
sử trong bối cảnh đổi mới văn xuôi hiện nay
Trang 7Ngô Thị Quỳnh Nga Điểm nhìn văn hoá trong tiểu thuyết , tr 57-62
Tài liệu tham khảo
[1] Nam Dao, Lời ngỏ, Tiểu thuyết Gió lửa, http://amvc.free.fr
[2] Phan Trần Chúc, Vua Quang Trung, NXB Văn hoá thông tin, 2000
[3] Nguyễn Xuân Khánh, Hồ Quý Ly, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2002
[4] Nguyễn Xuân Khánh, Mẫu thượng ngàn, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, 2006
[5] Nguyên Ngọc, Mẫu thượng ngàn: một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hoá Việt, http://www.moingaymotcuonsach.com.vn
[6] Phạm Hồ Thu, Mẫu thượng ngàn - Bài ca về vẻ đẹp Việt, http://www.qdnd.vn
Summary Culture View in Historical Novels by Nguyen Xuan Khanh
The exploitation of history from national culture view is a new one, which has helped a lot of writers, especially Nguyen Xuan Khanh to gain success in the topics
of post -1975 history This piece of writing will help you to see the tendency towards the novels of Vietnam history, the attempt and contribution of Nguyen Xuan Khanh
as well as the other writers post - 1975 for historical novels in particular and national literature in general
(a) khoa Ngữ Văn, trường Đại Học Vinh.