1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di Tích Thành Xương Giang (Bắc Giang) Qua Hai Lần Khai Quật

164 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi đã nhận được sự chỉ bảo ân cần và giúp đỡ to lớn từ thầy giáo, cô giáo trong Khoa Khảo cổ học, trường Học Viện Khoa học xã hội; cán bộ công chức, viên chức Sở Văn hoá Thể thao và Du

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả nội dung của luận văn với đề tài: “Di tích thành

Xương Giang (Bắc Giang) qua hai lần khai quật”, được hình thành từ quan điểm

của bản thân dưới sự hướng dẫn của TS Trịnh Hoàng Hiệp Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Hà Nội, ngày 15/8/2019 Tác giả luận văn

Nguyễn Bình Công

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp

đỡ quý báu về mọi mặt của những người thân trong gia đình Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, đầy đủ và trách nhiệm của thầy hướng dẫn: TS Trịnh Hoàng Hiệp Bên cạnh đó, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám đốc Bảo tàng tỉnh Bình Dương, Phòng Sưu tầm - Kiểm kê bảo quản Bảo tàng tỉnh Bình Dương nơi tôi đang công tác

Tôi đã nhận được sự chỉ bảo ân cần và giúp đỡ to lớn từ thầy giáo, cô giáo trong Khoa Khảo cổ học, trường Học Viện Khoa học xã hội; cán bộ công chức, viên chức Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Ban quản

lý Di tích thành Xương Giang; Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, UBND thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, UBND phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang cùng các bạn bè, đồng nghiệp Điều đó đã giúp tôi hoàn thành luận văn của mình và qua đây cho phép tôi gửi tới Quý vị, Quý cơ quan niềm kính trọng và biết ơn sâu sắc!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH THÀNH XƯƠNG GIANG 10

1.1 Diễn trình lịch sử thành Xương Giang 10

1.2 Kết quả điều tra khảo sát 17

CHƯƠNG 2 NHỮNG TƯ LIỆU MỚI QUA HAI LẦN KHAI QUẬT 21

2.1 Địa tầng 21

2.2 Di tích 23

2.3 Di vật 33

CHƯƠNG 3 NHẬN THỨC VỀ THÀNH XƯƠNG GIANG 61

3.1 Quy mô, cấu trúc thành Xương Giang 61

3.2 Tính chất thành Xương Giang 64

3.3 Giá trị lịch sử, văn hóa di tích thành Xương Giang 68

3.4 Đề xuất về định hướng bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa di tích thành Xương Giang 72

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 88

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BẢN VẼ, BẢN ẢNH

I DANH MỤC BẢNG BIỂU SỬ DỤNG TRONG CHÍNH VĂN

Bảng 2.1 Địa tầng thành Xương Giang năm 2008 và năm 2011-2012 Bảng 2.2 Thống kê các hàng móng trụ kiến trúc hố H2 năm 2008 Bảng 2.3 Thống kê hiện vật di tích thành Xương Giang

Bảng 2.4 Thống kê gạch thế kỷ XV

Bảng 2.5 Thống kê ngói thế kỷ XV

Bảng 2.6 Thống kê gốm men Việt Nam

Bảng 2.7 Thống kê gốm men Trung Quốc

Bảng 2.8 Thống kê đồ sành

Bảng 2.9 Thống kê đồ đất nung

Bảng 2.10 Thống kê hiện vật kim loại

Biểu đồ 2.1 Các loại hình hiện vật di tích thành Xương Giang

Biểu đồ 2.2 Vật liệu kiến trúc thế kỷ XV

Biểu đồ 2.3 Loại hình gạch thế kỷ XV

Biểu đồ 2.4 Loại hình ngói thế kỷ XV

Biểu đồ 2.5 Các loại hình gốm men Việt Nam

Biểu đồ 2.6 Các loại hình gốm men Trung Quốc

Biểu đồ 2.7 Các loại hình đồ sành

Biểu đồ 2.8 Các loại hình hiện vật đất nung

Biểu đồ 2.10 Các loại hình hiện vật kim loại

Hình 1.1 Cánh đồng Ngói và Cánh đồng Gốm

Hình 1.2 Vết tích khảo cổ trên Đồi Ngô

Hình 1.3 Vết tích khảo cổ ở khu vực Giếng Phủ

Trang 7

MH1 Mô hình bước gian hệ thống móng trụ

MH2 Mô hình giả định mặt cắt ngang ngôi nhà

MH3 Mô hình kho lương

II DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN ẢNH TRONG PHỤ LỤC

Phụ lục 6 Bảng thống kê gốm men Việt Nam thế kỷ XV

Phụ lục 7 Bảng thống kê gốm men Việt Nam thế kỷ XV-XVI

Phụ lục 8 Bảng thống kê gốm men Trung Quốc thế kỷ VII-IX

Phụ lục 9 Bảng thống kê gốm men Trung Quốc thế kỷ XIII-XIV

Phụ lục 10 Bảng thống kê gốm men Trung Quốc thế kỷ XV

Phụ lục 11 Bảng thống kê đồ sành thế kỷ XIII-XIV

Phụ lục 12 Bảng thống kê đồ sành thế kỷ XV-XVI

Trang 8

2 BẢN VẼ HIỆN TRƯỜNG

Phụ lục 13 Mặt bằng hố H2 khai quật năm 2008

Phụ lục 14 Mặt bằng hố H3 khai quật năm 2008

Phụ lục 15 Mặt cắt vách bắc hố khai quật H3 năm 2008

Phụ lục 16 Mặt bằng hố H1L1 khai quật năm 2011-2012

Phụ lục 17 Vách nam hố H1 khai quật năm 2011-2-12

3 BẢN ĐỒ

Phụ lục 18 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang

Phụ lục 19 Sơ đồ toàn bộ diễn biến chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang

Phụ lục 20 Sơ đồ diễn biến trận Xương Giang

Phụ lục 21 Sơ đồ thành Xương Giang và vị trí các hố điều tra, khai quật năm

2008

Phụ lục 22 Vị trí các hố khai quật năm 2011-2012

Phụ lục 23 Sơ đồ vị trí các hố khai quật khảo cổ học di tích thành Xương Giang (giai đoạn 1)

4 BẢN ẢNH HIỆN TRƯỜNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH DI TÍCH

Phụ lục 24 Mặt bằng và vị trí các hố khai quật

Phụ lục 25 Mặt bằng và vị trí các hố khai quật

Phụ lục 26 Mặt bằng và vị trí các hố khai quật

Phụ lục 27 Địa tầng hố khai quật

Phụ lục 28 Địa tầng hố khai quật

Phụ lục 29 Di tích kiến trúc

Phụ lục 30 Di tích kiến trúc

Trang 9

Phụ lục 36 Ảnh - Bản vẽ vật liệu xây dựng Giếng Phủ

Phụ lục 37 Ảnh - Bản vẽ vật liệu xây dựng Giếng Phủ

Phụ lục 38 Ảnh - Bản vẽ vật liệu xây dựng

Phụ lục 39 Ảnh - Bản vẽ hiện vật vật liệu xây dựng

Phụ lục 39 Ảnh - Bản vẽ hiện vật vật liệu xây dựng

Phụ lục 40 Ảnh - Bản vẽ hiện vật vật liệu xây dựng Giếng Phủ Phụ lục 41 Ảnh - Bản vẽ hiện vật vật liệu xây dựng

Phụ lục 42 Ảnh - Bản vẽ hiện vật vật liệu xây dựng

Phụ lục 43 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 44 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 45 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 46 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 47 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 48 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 49 Ảnh - Bản vẽ gốm men Việt Nam

Phụ lục 50 Ảnh - Bản vẽ gốm men Trung Quốc

Phụ lục 51 Ảnh - Bản vẽ gốm men Trung Quốc

Phụ lục 52 Ảnh - Bản vẽ gốm men Trung Quốc

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành Xương Giang là một tòa thành do quân Minh xây dựng từ năm

1407, với mục đích sử dụng thành này để trấn giữ con đường thiên lý bắc - nam, không cho dân ta nổi dậy Xưa kia, ngôi thành thuộc xã Thọ Xương, huyện Bảo Lộc; nay thuộc thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Đây là thành lớn nhất của phủ Lạng Giang, có diện tích khoảng 27ha, thành hình chữ nhật Tường thành dày và cao, được đắp bằng đất, bốn góc có 4 vọng gác Phía ngoài có hào sâu bao bọc xung quanh, cách 3km về phía nam thành là dòng sông Thương, phía đông bắc là những đồi thấp Thành Xương Giang là trị sở của chính quyền đô hộ phủ Lạng Giang đồng thời còn là một vị trí trọng yếu của địch, vừa có thể ứng cứu nhanh cho Đông Quan vừa có thể làm chỗ dựa cho viện binh tiến sang Để bảo vệ vị trí quan trọng này, chính quyền đô hộ nhà Minh đã cử chỉ huy Lý Nhậm và những viên tướng như Kim Dận, Cố Phúc, Phùng Chí, Lưu Thuận chỉ huy 2000 quân đóng giữ, cùng với số quân đông đảo đó là bộ máy hành chính dưới sự điều hành của tri phủ Lưu Tử Phụ Sở chỉ huy được đặt khu đất cao nằm

Đêm ngày 9 tháng 8 năm Đinh Mùi (28/9/1427), cuộc tổng tiến công vào thành Xương Giang bắt đầu Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mùi (3/11/1427),

Trang 12

nghĩa quân Lam Sơn tổng công kích quân Minh ở Xương Giang Toàn bộ tướng lĩnh chủ huy (trừ chủ sự Phan Hậu trốn thoát) từ Thôi Tụ, Hoàng Phúc, Sử An, Trần Dung cùng hàng vạn quân lính bị giết và bị bắt Được tin này Vương Thông vô cùng hoảng hốt và phải chấp nhận “giảng hòa”, rút quân về nước

Nếu như chiến thắng ở Chi Lăng là chiến thắng đầu tiên mở đầu thắng lợi cho đường lối “vây thành, diệt viện” thì chiến công Xương Giang đã kết thúc thắng lợi cho đường lối đúng đắn đó của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi chỉ huy Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang đã đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của nhà Minh, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc Đất nước được giải phóng, nền độc lập dân tộc được giữ vững gần bốn thế kỷ

Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 22/01/2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

đã có Quyết định số 293/QĐ-BVHTT-DL xếp hạng Di tích lịch sử địa điểm Chiến thắng Xương Giang tại thành Xương Giang, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang là Di tích lịch sử cấp Quốc gia Năm 2010, UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định 1593/QĐ-UBND phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang” nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử Chiến thắng Xương Giang và xây dựng khu di tích Chiến thắng Xương Giang thành điểm đến của du lịch Bắc Giang

Di tích thành Xương Giang đã được các nhà khảo cổ học, cán bộ Bảo tàng

Hà Bắc (cũ), Bảo tàng Bắc Giang ngày nay tiến hành điều tra khảo sát, nghiên cứu nhiều lần Đặc biệt, năm 2008 và năm 2011-2012, Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch tỉnh Bắc Giang, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, UBND thành phố Bắc Giang, Ban quản lý dự án thành phố Bắc Giang, Phòng VHTT thành phố Bắc Giang phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật hai lần địa điểm khảo cổ học

Trang 13

này đã phát hiện được dấu vết kiến trúc và nhiều loại hình hiện vật như: vật liệu xây dựng, vật liệu trang kiến trí kiến trúc, đồ gốm sứ, sành, di cốt người và động vật…

Tôi là người con sinh ra, lớn lên ở vùng đất Kinh Bắc vào công tác tại Bảo tàng tỉnh Bình Dương với mong muốn được nghiên cứu về khảo cổ học Việt Nam Đó là lý do tôi tham gia học cao học tại Học viện Khoa học Xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Khảo cổ học Tuy nhiên, thời gian bảo vệ luận văn sắp đến mà tư liệu phục vụ viết luận văn gặp vô vàn khó khăn do tỉnh Bình Dương tiến hành khai quật khảo cổ học rất ít, hoặc nếu có thì đã có cán bộ sử dụng tư liệu viết luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ

Cho dù di tích đã được điều tra khảo sát, khai quật khảo cổ học nhưng chưa có một công trình tổng hợp nào về những kết quả nghiên cứu này Được sự

động viên và giúp đỡ của TS Trịnh Hoàng Hiệp, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Di

tích thành Xương Giang (Bắc Giang) qua hai lần khai quật” làm luận văn

thạc sĩ, chuyên ngành Khảo cổ học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong các bộ sử của Việt Nam như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lam Sơn thực lục, Đại Việt thông sử, Việt Sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử cương mục tiết yếu, Việt Nam sử lược, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Đại cương Lịch Sử Việt Nam, Lịch sử Việt Nam… đều ít nhiều đề cập đến địa danh thành Xương Giang Tuy nhiên, các nguồn sử liệu trên không mô tả, khảo cứu cụ thể thành Xương Giang cũng như các công trình ở trong và ngoài thành ra sao

mà những tư liệu đó chủ yếu là ghi chép các sự kiện theo dòng lịch sử

Qua các tư liệu này, có thể thấy rằng thành Xương Giang ở phủ Lạng

Trang 14

Giang được xây dựng trong thời gian nhà Minh xâm lược và đô hộ nước ta

(1407-1427) Đây là nơi ghi dấu ấn sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta ở

thế kỷ XV, bao hàm hai sự kiện lớn: Một là, chiến thắng vang dội của nghĩa quân Lam Sơn trong chiến dịch tấn công giải phóng thành Xương Giang ngày 18/10/1427 (tức 28 tháng 9 năm Đinh Mùi) Hai là, chiến thắng Xương Giang là đỉnh cao thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng - Xương Giang lịch

sử ngày 3/11/1427 (tức 15 tháng 10 năm Đinh Mùi)

Có thể nói, cho đến trước những năm 1970, hầu như chưa có công trình nghiên cứu cụ thể, khoa học nào về di tích thành Xương Giang Di tích thành Xương Giang chỉ thực sự được quan tâm nghiên cứu vào những thập niên 70-80 của thế kỷ XX Bảo tàng Hà Bắc đã kết hợp với các giáo sư và sinh viên Khoa

Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội) nhiều lần điều tra khảo sát, khảo cổ học di tích thành Xương Giang Các nhà nghiên cứu đã tiến hành đo vẽ di tích tòa thành, tìm hiểu cấu trúc

và kỹ thuật xây dựng thành, tập hợp các tài liệu hiện vật ở khu vực thành do nhân dân phát hiện và lưu giữ, các tài liệu địa danh, địa hình cảnh quan, các truyền thuyết lưu truyền trong nhân gian… Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ dừng ở mức độ khảo sát, điều tra, chưa được khai quật khảo cổ học để nghiên cứu một cách chi tiết về di tích cũng như di vật tại di tích thành Xương Giang

Năm 2006, UBND tỉnh Bắc Giang xuất bản sách Địa chí Bắc Giang, địa

danh thành Xương Giang đã được đề cập đến, song cũng chỉ là những mô tả mang tính sơ lược: “Thành có diện tích 270.000m2, thành có hình chữ nhật chu

vi 2.100m, 4 góc là 4 vọng lâu lớn có đặt các loại súng thần cơ lớn nhỏ”

Để thực hiện chương trình nghiên khảo cổ học tại Bắc Giang cũng như đề xuất phương án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thành Xương Giang

Trang 15

Được sự cho phép của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch tỉnh Bắc Giang phối hợp với Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật thành cổ Xương Giang, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang hai lần

Năm 2008, các nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra, thám sát và khai quật

3 hố với tổng diện tích là 154,87m2 Hố khai quật H1 nằm cách tường bao Trường Trung cấp Văn hoá Nghệ thuật về phía đông 30m Hố khai quật H2 nằm trên một thửa ruộng có địa thế cao hơn so với những thửa ruộng xung quanh, hố nằm sát chân thành về gần hướng cửa đông bắc, vách tây hố H2 cách vách đông

hố khai quật H1 83m Hố khai quật H3 nằm trên một thửa ruộng có địa thế cao hơn so với thửa ruộng xung quanh, hố nằm về phía đông của vườn Trạm Khí tượng Nông nghiệp tỉnh Bắc Giang, vách tây hố khai quật cách tường vườn Khí tượng 10,5m

Kết quả điều tra, thám sát đã khẳng định một cách chắc chắn về quy mô của thành Xương Giang bao gồm: thành, dinh thự, kho lương cũng như sản xuất nguyên vật liệu gạch, ngói… cho công trình này Cùng với kết quả điều tra thì kết quả của các hố khai quật đã đưa ra những nhận thức như sau:

Hố khai quật H1 nằm gần đỉnh Đồi Ngô về hướng đông nhưng trong hố khai quật không phát hiện được những bằng chứng về khảo cổ học, điều này cho thấy không phải tất cả khu vực xung quanh đỉnh Đồi Ngô đều có các công trình kiến trúc hay những công trình phục vụ khác

Cùng với kết quả điều tra ở khu vực Đồi Ngô và Giếng Phủ thì kết quả khai quật hố H2 đã khẳng định xung quanh khu vực Giếng Phủ là những công trình kiến trúc dinh thự của tầng lớp quan lại cao cấp của quân đội nhà Minh Hố khai quật H3 là nơi cất giữ lương thực của quân đội Minh

Trang 16

Kết quả khai quật lần thứ nhất thành Xương Giang năm 2008 đã phác họa bước đầu về các công trình kiến trúc của thành Xương Giang trong lịch sử và đây sẽ là những bằng chứng quan trọng cho quá trình nghiên cứu tiếp theo về di tích này

Năm 2011-2012, khai quật 11 hố với tổng diện tích là 1.001m2 Các hố khai quật được mở ở những vị trí sau: 4 hố (H1, H2, H3, H4) nằm gần cửa thành phía bắc; 4 hố (H5, H6, H10, H11) nằm ở khu vực trước cửa Trung tâm Quan trắc môi trường tỉnh Bắc Giang; 3 hố còn lại (H7; H8; H9) nằm ở khu vực trồng cây bạch đàn, trước cửa Nhà hát Chèo, cách Giếng Phủ khoảng 70m về phía nam

và rìa tây nam khu vực Đồi Ngô Kết quả khai quật năm 2011-2012 cho chúng ta biết toàn bộ các hố khai quật gần cửa thành phía bắc cũng như khu vực rìa ngoài Đồi Ngô về phía tây nam không có dấu tích về công trình kiến trúc, mà nơi đây chỉ có dấu vết về sinh hoạt, dấu vết của chiến tranh để lại như những đống đổ nát lẫn than tro và tàn tích thức ăn

Vấn đề nghiên cứu về di tích thành Xương Giang từ sau hai cuộc khai quật được đề cập trong một số bài viết trên tạp chí Khảo cổ học và NPHMVKCH như:

- Năm 2008: Kết quả điều tra khảo cổ học tại thành Xương Giang (Bắc

Giang) [19]

- Năm 2009: Di cốt người cổ thành Xương Giang (Bắc Giang) [66]

- Năm 2013: Kết quả khai quật di tích thành Xương Giang (Bắc Giang)

Trang 17

khảo cổ học [10]

Căn cứ vào các tư liệu lịch sử cũng như đặc trưng di tích, di vật phát hiện qua các cuộc điều tra khảo sát và hai cuộc khai quật khảo cổ học, có thể thấy thành Xương Giang là một di tích có giá trị lịch sử - văn hóa lớn

Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu nào tổng hợp tư liệu một cách đầy đủ về hệ thống di tích và di vật đã được phát hiện tại di

tích thành Xương Giang qua hai cuộc khai quật Do đó, đề tài “Di tích thành

Xương Giang (Bắc Giang) qua hai lần khai quật” hoàn thành sẽ giúp các nhà

nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về di tích thành Xương Giang, góp phần đưa ra những hướng nghiên cứu nhất định về di tích này cũng như việc mở rộng quy mô nghiên cứu trong tương lai

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa toàn bộ tư liệu và các kết quả điều tra khảo sát, khai quật khảo cổ học từ trước đến nay về di tích thành Xương Giang Trên cơ sở đó, chỉ

ra đặc trưng di tích, di vật, cấu trúc mặt bằng của di tích thành Xương Giang Đồng thời, đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa di tích thành Xương Giang trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng chính của đề tài luận văn là di tích thành Xương Giang qua hai lần khai quật khảo cổ học Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các nguồn sử liệu, hiện vật điều tra khảo sát ở di tích thành Xương Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ tập trung chủ yếu vào các loại hình di tích, di vật khảo cổ học đã phát hiện được ở di tích thành Xương Giang

Trang 18

qua hai lần khai quật

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học truyền thống như: thống kê, phân loại hình học, mô tả, đo vẽ, chụp ảnh di tích, di vật điển hình, phân tích so sánh di tích, di vật khảo cổ học, phương pháp phân tích địa tầng Đồng thời, áp dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp những đặc trưng về kỹ thuật, nghệ thuật trang trí trên các loại hình di vật, cấu trúc mặt bằng

Bên cạnh các phương pháp khảo cổ học truyền thống, luận văn còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành như: Sử học, dân tộc học, địa lý học, nhân chủng học, động vật học…

Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng là nền tảng khoa học của luận văn trong việc nhìn nhận đánh giá các hiện tượng Ngoài ra, luận văn còn áp dụng công cụ hỗ trợ như xử lý ảnh bằng chương trình Autocad, Coreldraw, xử lý ảnh bằng chương trình Photoshop và một số chương trình khác cũng được áp dụng trong quá trình nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn đóng góp những tư liệu quan trọng về mặt khoa học, về hệ thống di tích, di vật ở di tích thành Xương Giang, từng bước phục dựng lại quy mô cũng như cấu trúc thành Xương Giang trong lịch sử, góp phần bổ sung tư liệu mới cho ngành Khảo cổ học, Văn hóa học và Lịch sử

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp và góp thêm tư liệu khẳng định thành Xương Giang là một di tích lịch sử quan trọng, là nơi ghi dấu tích tiêu biểu và sống động nhất hiện còn về cuộc khởi nghĩa oanh liệt 10 năm chiến thắng quân Minh của dân tộc Giai đoạn 1407 - 1427 là thời kỳ

Trang 19

nhà Minh ra sức đồng hóa người Việt và ngược lại người Việt kiên cường chống trả để bảo vệ nền văn hóa bản địa Tuy nhiên, những chứng tích vật chất về thời

kỳ này còn khan hiếm và không rõ ràng Trong khi đó, thành Xương Giang là dấu tích rõ ràng của giai đoạn lịch sử này Vì vậy, di tích thành Xương Giang là khu di tích tiêu biểu lưu giữ các chứng tích văn hóa vật chất của một giai đoạn lịch sử đặc biệt và đầy biến động trong lịch sử Việt Nam

Ngoài ra, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về di tích thành Xương Giang góp phần định hướng cho người dân cũng như giáo dục các thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Từ những kết quả nghiên cứu

đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị về bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch trong tương lai

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn

gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về di tích thành Xương Giang

Chương 2 Những tư liệu mới qua hai lần khai quật

Chương 3 Nhận thức về thành Xương Giang

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH THÀNH XƯƠNG GIANG

1.1 Diễn trình lịch sử thành Xương Giang

Thành Xương Giang ngày nay thuộc phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Phía bắc giáp làng Thành, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang; phía nam giáp phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang; phía đông giáp xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang; phía tây giáp phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang Thành Xương Giang nằm cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 1km về phía đông bắc, cách Hà Nội 50km, cách tỉnh Lạng Sơn 100km, có đường quốc lộ 1 (cũ) chạy qua

Theo các tài liệu và thư tịch cũ, đến đầu thế kỷ XV, đất nước ta trải qua nhiều biến động sâu sắc Nhà Trần sụp đổ, nhà Hồ mới thành lập đang đứng trước nhiều thử thách nghiêm trọng Lợi dụng cơ hội ấy, nhà Minh (Trung Quốc) với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” đã tiến hành xâm lược nước ta “Tháng 9 năm 1406, nhà Minh sai Chinh Di hữu phó tướng quân đeo ấn Chinh di phó tướng quân Tân Thành hầu Trương Phụ, Tham tướng Huỳnh Dương bá Trần Húc , đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy cứ một một toán mai phục, một toán hành quân, thay phiên nhau cứu ứng lẫn nhau Chinh Di tả phó tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh, Tham tướng hữu quân đô đốc đồng tri Phong Thành hầu Lý Bân cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh, xẻ núi, chặt cây,

mở đường tiến quân Hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn” [37, tr 214]

Sau nhiều lần tấn công xâm lược, đến giữa năm 1407, quân Minh đã bắt được cha con Hồ Quý Ly, quan lại triều Hồ cũng dần dần bị bắt hết Sự nghiệp kháng chiến của nhà Hồ đến đây hoàn toàn thất bại Dưới ách thống trị của

Trang 21

phong kiến nhà Minh, dân tộc phải chịu những thảm hoạ nghiêm trọng kéo dài trong suốt 20 năm “Toàn bộ nền kinh tế bị đình trệ, điêu tàn; xã hội Việt Nam

đang trên bước đường phát triển bị ngăn chặn, kìm hãm” [31, tr 28]

Năm 1407, sau khi chiếm được nước ta, quân Minh nhanh chóng thiết lập

bộ máy đô hộ và đồng thời tiến hành những chính sách thống trị tàn ác Nhà Minh đã xóa bỏ tên nước Đại Việt, đổi nước ta làm quận Giao Chỉ, coi như địa phương quận huyện của Trung Quốc Chúng lập chính quyền theo mô hình

“chính quốc” Đứng đầu Giao Chỉ là ba ty: đô chỉ huy sứ ty, hay gọi tắt là ty đô, phụ trách về quân chính; thừa tuyên bố chính sứ ty hay ty bố chính, trông coi về dân chính và tài chính; đề án sát sứ ty hay ty án sát, nắm quyền tư pháp và giám sát Quận Giao Chỉ được chia thành 15 phủ Trên đất Hà Bắc xưa, nhà Minh giữ lại hai phủ Bắc Giang và Lạng Giang Phủ lỵ Bắc Giang đặt tại Thị Cầu, Phủ lỵ Lạng Giang ở Xương Giang (thuộc thành phố Bắc Giang ngày nay)

Cùng với bộ máy chính quyền, nhà Minh còn xây dựng một hệ thống thành luỹ và thiết lập một hệ thống vệ, sở dày đặc để trấn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta “Năm 1407, khi lập ra vệ Xương Giang trên đất Lạng Giang, giặc Minh cho xây vệ thành kiên cố, giao cho Lý Nhậm, Kim Giận, Cố Phúc, Phùng Chi và Lưu Tử Phụ cùng 2.000 quân để án ngữ trục đường sang Lưỡng Quảng, xuống Đông Đô và làm nơi ỷ dốc cho các thành Thị Cầu, Cần

Trạm, Chí Linh” [82, tr 43]

Xương Giang là thành lũy kiên cố nhất của quân Minh án ngữ trên con đường dịch trạm nối Quảng Tây (Trung Quốc) với Đông Quan “Thành Xương Giang nằm trong một khu vực đồi núi thấp, có sông nhỏ và các thửa ruộng trũng bao quang, cách Sông Thương khoảng 3km Những người từ 16 đến 60 tuổi ở khắp Lạng Giang đều phải đến đây lao dịch, khoét đồi lấy đất đắp thành và nung

Trang 22

gạch, ngói, đào hào và xây dinh thự Thành tọa lạc trên diện tích 270.000m2, thành có hình chữ nhật chu vi 210m, 4 góc là 4 vọng lầu đặt các loại súng thần

cơ lớn nhỏ Nhiều kho đụn, tòa ngang, dãy dọc, dinh thự và doanh trại được bố

trí ở các nơi” [81, tr 43-44]

Nước mất, nhà tan, nhưng người dân Bắc Giang - Lạng Giang cũng như cả nước quyết tâm đứng lên đánh giặc Tiêu biểu cho phong trào yêu nước của nhân dân Hà Bắc khi đó là khởi nghĩa Phạm Tất Đại ở huyện Lục Na (Lục Ngạn) Năm 1410, nhân dân Lạng Giang nổi lên khởi nghĩa dưới ngọn cờ của ông Nguyên và Thiên Hữu Năm 1420, nhân dân Thiện Tài (Gia Lương) lại nổi lên dưới sự lãnh đạo của Đào Cường Đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của Lê Ngã Cũng từ An Bang lan sang Lạng Giang vào giữa năm 1420 Nhân dân các huyện Bảo Lộc, Phượng Sơn hưởng ứng nhiệt liệt “Ngã tiếm xưng tôn hiệu, dựng niên hiệu, đặt quan chức, đúc tiền, đốt thành Xương Giang, cướp trại Bình

Than” [37, tr 244] Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân hai phủ Bắc Giang, Lạng

Giang trước khởi nghĩa Lam Sơn mặc dù đều chịu thất bại và bị đàn áp, nhưng là ngọn lửa yêu nước ngầm cháy liên tục, nuôi dưỡng ý chí bất khuất cho nhân dân

ta

Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là phong trào yêu nước rộng lớn nhất, được xây dựng từ năm 1418 ở thượng du Thanh Hóa Đến cuối năm 1924 thì chuyển vào Nghệ An và mở rộng vùng giải phóng Bước sang năm 1425, lực lượng của nghĩa quân Lam Sơn đã trưởng thành về mọi mặt, địa bàn hoạt động của nghĩa quân trải dài từ Thanh Hóa vào đến Tân Bình - Thuận Hóa Trước tình hình đấu tranh của nhân dân ta ngày càng rộng khắp và quyết liệt, nhà Minh buộc phải tăng cường và đẩy mạnh các cuộc hành binh trấn áp

Nhận thấy tình hình quân Minh ở Đông Quan đã suy yếu, nhiều khi phải

Trang 23

chia nhau đi tăng viện, giải vây cho thành Nghệ An, Diễn Châu và Thanh Hóa, tháng 9 năm 1426, Lê Lợi quyết định tiến quân ra Bắc Một bộ phận nghĩa quân tiếp tục tổ chức bao vây các thành Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, còn đại quân chủ lực chia làm 3 đạo tiến ra Bắc Từ cuối năm 1426, theo lệnh của chủ tướng Lam Sơn, Lê Sát và Lê Thụ đã chỉ huy một đạo nghĩa quân lên Lạng Giang bao vây thành Xương Giang

Để tiêu diệt cho được thành Xương Giang trước khi viện binh địch kéo vào nước ta, Lê Lợi phái tướng Trần Nguyên Hãn điều quân đến tăng viện cho

Lê Sát Sau 9 tháng bị vây hãm, quân địch bị chết quá nửa, lương thực cạn, binh lính mệt mỏi Biết chúng không còn sức chiến đấu, ngày 28 tháng 9 năm 1427 (tức ngày 8 tháng 9 Đinh Mùi), quân và dân ta tổng công kích “Tháng 9, ngày mồng 8, bọn Thái úy Trần Hãn, Tư mã Lê Sát, thiếu úy Lê Triện, Lê Lý đánh lấy

được thành Xương Giang” [37, tr 274] Chiến thắng thành Xương Giang đã tiêu

diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, đánh dấu một bước trưởng thành về nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn Chiến thắng này đã đập tan âm mưu cố thủ của chờ phối hợp với viện binh của giặc Với việc chiếm giữ được thành Xương Giang, quân ta đã tạo ra bức tường thành vững chắc, chặn đứng đường tiếp viện của giặc cho Đông Quan Đến đây, hai phủ Lạng Giang - Bắc Giang được hoàn toàn giải phóng

Trước đó, vào tháng 1 năm 1427, triều đình nhà Minh quyết định điều động viện binh sang cứu nguy cho Vương Thông Lực lượng viễn chinh này lúc đầu gồm 70.000 quân Đến tháng 4 năm 1427, nhà Minh lại ra lệnh điều động bổ sung thêm 45.200 quân Như vậy, tổng số quân tiếp viện của nhà Minh là 115.200 quân tinh nhuệ, gồm bộ binh và kỵ binh Ngoài ra, trong đội quân tiếp viện này còn có nhiều dân phu vận chuyển lương thực và một số thổ binh ở

Trang 24

Quảng Đông, Quảng Tây Lực lượng viễn chinh của nhà Minh đã chia làm hai đạo tiến sang nước ta “Đạo thứ nhất do thái tử thái phó An Viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy với chức tổng binh mang ấn Chinh lỗ phó tướng quân, tiến sang theo đường Quảng Tây Dưới trướng của Liễu Thăng có Bảo Định bá Lương Minh làm tả phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng Đạo quân thứ hai do thái phó Kiềm Quốc công Mộc Thạnh chỉ huy với chức tổng binh, mang ấn Chinh nam tướng quân, tiến sang theo đường Vân Nam Dưới trướng của Mộc Thạnh có Hưng An bá Từ Hanh làm tả phó tổng binh, Tân Ninh bá Đàm Trung

làm hữu phó tổng binh” [35, tr 410]

Đầu tháng 10 năm 1427, 10 vạn quân Liễu Thăng vượt qua biên giới nước

ta Ngày 10 tháng 10 (tức ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi), quân ta giả vờ thua chạy, đội tiên phong của địch chủ quan tiếp tục đuổi theo tiến đến chân núi Mã Yên đã lọt vào trận địa mai phục của ta Tổng binh Liễu Thăng bị quân ta phóng lao đâm chết, một vạn quân bị tiêu diệt Ngày 15 tháng 10, các tướng Lê Văn

An, Nguyễn Lý chỉ huy 3 vạn quân kịp thời tiếp ứng cho hơn một vạn quân của

Lê Sát, Lưu Nhân Chú Quân ta cùng phối hợp bố trí thêm một trận địa mai phục

để đánh địch ở Cần Trạm Ngày 15 tháng 10, quân địch lọt vào trận địa của ta, nghĩa quân từ các ngả vùng lên đánh tạt ngang vào đội hình hành quân của địch Trận đánh diễn ra trên một chiến địa dài gần 5km, suốt từ cánh đồng phía đông bắc thành Cần Trạm đến tận phía nam thị trấn Kép ngày nay Phó tổng binh Lương Minh vừa lên thay Liễu Thăng làm chủ tướng đã lại bị những mũi lao của quân ta đâm chết tại trận Chiến thắng Cần Trạm trực tiếp mở đường cho chiến thắng Phố Cát và Xương Giang Ngày 18 tháng 10 (tức 28 tháng 9 năm Đinh Mùi) quân địch tiến đến Phố Cát lại bị quân ta đón đánh Sau thất bại Cần Trạm,

đô đốc Thôi Tụ lên nắm quyền chỉ huy, tuy tiếp tục bị thất bại nặng nề, nhưng

Trang 25

Thôi Tụ và Hoàng Phúc vẫn quyết tâm tiến về Xương Giang với hy vọng có thể phối hợp với quân thành Xương Giang rồi Đông Quan, Chí Linh hòng lật ngược tình thế nguy khốn Thành Xương Giang đã bị quân ta chiếm từ trước trở thành pháo đài chặn đường tiến quân của địch và chia tách hoàn toàn đạo viện binh này với lực lượng ở Đông Quan

“Quân giặc cho là thành Xương Giang chưa vỡ, tự lấy làm chắc Kịp khi tới Xương Giang, thấy thành đã bị hãm rồi, tưng hửng, thất vọng, càng hoảng hốt

cả sợ Liền ngày đêm đắp lũy tự giữ lấy pháo hiệu làm tin, để thông tin với các thành ở Đông Đô, nghe tiếng pháo thì đến tiếp ứng Thế nhưng các thành ở Đông

Đô, tự cứu mình không nổi, biết đâu đến chuyện khác” [70, tr 45] Mệt mỏi,

hoang mang, lại bị cô lập, trước mặt sau lưng đều bị đánh, hy vọng cuối cùng của địch đã trở thành tuyệt vọng, chúng đành phải đắp lũy ngoài đồng để tự vệ

Quân địch bị cô lập, bốn mặt đều bị bao, quân ta vừa vây hãm vừa kiên trì

dụ hàng nhưng chúng vẫn tỏ ngoan cố “Đúng ngày 3 tháng 11 năm 1427 (tức 15 tháng 10 năm Đinh Mùi) quân dân ta quyết định tổng công kích như đã định trước Từ bốn mặt, hàng vạn quân ta nhất loạt mở những mũi tiến công quyết liệt vào các khu vực phòng ngự của địch Bộ binh, tượng binh, kỵ binh của ta cùng phối hợp đột phá vào trung tâm doanh trại của địch Quân ta vừa tiến công vừa kêu gọi quân địch đầu hàng Quân địch đại bại Kết quả là bọn tướng chỉ huy lớn nhỏ Thôi Tụ, Hoàng Phúc, Sử An, Trần Dung… hơn 300 tên bị bắt cùng với mấy vạn quân giặc Hơn 5 vạn quân địch bị giết chết Một số chạy trốn, chỉ trong khoảng dăm bảy ngày đều bị dân ta, những người chăn trâu, hái củi bắt được

đem nộp hết cho nghĩa quân” [35, tr 458-459]

Mô tả chiến công vang dội của hai lần đại thắng Xương Giang, trong Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi viết:

Trang 26

“Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc,

Đánh hai trận, tan tác chim muông

Nó như kiến tan đàn dưới bờ đê vỡ,

Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô

Đô đốc Thôi Tụ lê gối xin đầu hàng,

Thượng thư Hoàng Phúc trói mình đành chịu bắt

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,

Xương Giang, Bình Than máu trôi đỏ nước” [37, tr 286-287]

Tin viện binh bị tiêu diệt truyền đến Đông Đô, Vương Thông thực sự kinh hãi nhưng vẫn chưa tin đó là sự thật Chỉ đến khi thấy Thôi Tụ - Hoàng Phúc dưới chân thành cùng ấn tín, cờ biển của Liễu Thăng - Lý Khánh chất đống thì hắn mới hết hoàn toàn hy vọng, chấp nhận đến Hội thề Đông Quan vào ngày 10 tháng 12 năm 1427, cam kết rút hết quân vào giữa tháng 12 năm Đinh Mùi Để

tỏ rõ thiện chí, Lê Lợi ra lệnh nới lỏng vòng vây và sai các xứ Bắc Giang, Lạng Giang sửa chữa cầu đường, chuẩn bị lương thực, thuyền bè chu đáo cho bên thua trận Ngày 17 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi trả lại chiếc “Song hổ phù” của Liễu Thăng, hai ấn bạc của Lý Khánh - Lương Minh và bản danh sách của binh lính

đã bị quân ta bắt được cho phía quân Minh

Ngày 29 tháng 12 năm 1427, quân Minh được ta cấp cho đầy đủ lương thực và phương tiện đi lại đã xin rút về nước Ta giải vây và trao trả tù binh cho các thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh Quân địch thua trận đã kéo đến Bồ Đề cảm tạ Lê Lợi Đến ngày 3 tháng 1 năm 1428, toán bộ binh cuối cùng của giặc về

nước [53, tr 316-318][82, tr 49]

Đại thắng Xương Giang, cùng với hàng loạt trận đánh vang dội ở Chi Lăng, Cần Trạm, Phố Cát là những chiến công oanh liệt, trong đó đại thắng

Trang 27

Xương Giang là chiến thắng có ý nghĩa quyết định Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang là thắng lợi của nghệ thuật quân sự tuyệt vời, biểu thị cho tinh thần yêu nước và ý chí căm thù quân xâm của dân tộc ta Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang đã đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của nhà Minh, hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc Đất nước được thái bình, nền độc lập dân tộc được giữ vững

1.2 Kết quả điều tra khảo sát

1.2.1 Cánh đồng Ngói và cánh đồng Gốm

Hình 1.1 Cánh đồng Ngói và Cánh đồng Gốm

(nguồn: Trịnh Hoàng Hiệp)

Cánh đồng Ngói nằm ở phía ngoài (bên phải) đường quốc lộ 1 (cũ) hướng Lạng Sơn - Bắc Giang, từ góc đông bắc thành Xương Giang đến đây khoảng 500m Cánh đồng là một khu vực nằm kẹp giữa một bên là đầm Mít rộng khoảng vài ha, nước từ đầm Mít chạy xuống đầm Sỏi, chảy qua đồi Axít rồi đổ ra sông Thương về phía bắc; phía nam có một đường nước khác chạy về bắc thành Trên

bề mặt ruộng tại khu vục này xuất lộ rất nhiều mảnh gạch, ngói với đủ loại kích

cỡ Ở những khu đất cao nơi đây, bên trên là đất màu, bên dưới là đất laterite lẫn

Trang 28

nhiều hạt màu đỏ nâu, nâu sẫm Còn ở những thửa ruộng thấp hơn thì trên là đất bùn bên dưới là đất sét Chất liệu làm gạch, ngói phát hiện được trong thành Xương Giang, cũng như ở các hố khai quật có cùng chất liệu là đất sét lẫn nhiều sạn sỏi laterite màu đỏ nâu, nâu sẫm

Như vậy, với cảnh quan địa lý và địa chất qua quan sát tại thực địa đã mở

ra những định hướng nghiên cứu tiếp theo ở khu vực trên về nơi sản xuất gạch, ngói… phục vụ việc xây dựng thành và các công trình kiến trúc trong thành

Xương Giang [17]

1.2.2 Khu vực Đồi Ngô

Hình 1.2 Vết tích khảo cổ trên Đồi Ngô

(nguồn: Trịnh Hoàng Hiệp)

Tại đây, đã phát hiện được lớp ngói của một công trình kiến trúc cổ ken dày, xuất lộ ngay ở bề mặt vách tây hào, phía sau trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Di tích nằm dưới lớp móng của một công trình hiện đại đã bị phá Tuy nhiên, việc xác định điểm đào tiếp nối theo hệ thống ngói xuất lộ là rất khó

do di tích đã bị phá huỷ nhiều trong quá trình xây dựng những công trình hiện đại, cũng như làm ruộng của cư dân sống trong vùng

Hiện vật sưu tầm trong khu vực Đồi Ngô gồm 2 viên đạn đá, 1 mảnh kim

Trang 29

loại có thể là áo giáp và 1 bia đá [17]

1.2.3 Địa điểm Giếng Phủ

Giếng Phủ nằm ở khu ruộng trũng, dưới chân Đồi Ngô, giếng có đường kính khoảng 10m Hiện nay, giếng đã bị bỏ hoang và sạt lở do mưa gió và quá trình canh tác của người dân khu vực này Tại đây, đã phát hiện được một số loại

gạch, ngói của công trình kiến trúc cổ [17]

Hình 1.3 Vết tích khảo cổ ở khu vực Giếng Phủ

(nguồn: Trịnh Hoàng Hiệp)

Tiểu kết chương 1

Xương Giang là vùng đất cổ có vai trò quan trọng trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là lịch sử chống xâm lược phương Bắc Khu vực này vừa có đồng bằng, xung quanh có các đồi núi thấp bao bọc, lại gần sông Thương - tuyến thủy quan trọng, đặc biệt từ ngàn xưa con đường thiên lý nối Thăng Long với miền địa đầu của Tổ quốc chạy qua đây Trong suốt thời gian nhà Minh xâm lược nước ta (1407-1427), Xương Giang là trị sở của phủ Lạng Giang Tại đây, quân Minh đã xây dựng một ngôi thành kiên cố án ngữ con đường dịch trạm nối Đông Quan với Quảng Tây (Trung Quốc)

Nơi đây lưu giữ nhiều di tích, tài liệu cổ vật quan trọng cho phép tìm hiểu

Trang 30

vị trí, vai trò của Xương Giang trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh của dân tộc ta đầu thế kỷ XV Các cuộc điều tra khảo sát tại khu vực thành Xương Giang đã phát hiện được nơi sản xuất gạch, ngói để phục vụ cho việc xây thành, dấu tích bờ thành cũng như dấu vết của công trình kiến trúc cổ ở địa điểm Đồi Ngô và khu vực Giếng Phủ Một

số hiện vật được ghi nhận trong quá trình khảo sát, đó là những viên đạn đá có hình cầu, 1 bia đá, một mảnh kim loại có thể là mảnh áo giáp và những viên gạch, ngói được trang trí tinh xảo đã được xác định là có niên đại từ thế kỷ XV

Trang 31

Chương 2 NHỮNG TƯ LIỆU MỚI QUA HAI LẦN KHAI QUẬT

2.1 Địa tầng

Năm 2008, khai quật 3 hố với tổng diện tích là 154,87m2 Vị trí các hố khai quật năm 2008 như sau: Hố khai quật H1 nằm cách tường bao Trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật về phía đông 30m Hố khai quật H2 nằm trên một thửa ruộng có địa thế cao hơn so với những thửa ruộng xung quanh, hố nằm sát chân thành về gần hướng cửa đông bắc Hố khai quật H3 nằm trên một thửa ruộng có địa thế cao hơn so với thửa ruộng xung quanh, hố nằm về phía đông của vườn Trạm Khí tượng Nông nghiệp tỉnh Bắc Giang

Năm 2011-2012, khai quật 11 hố với tổng diện tích là 1.001m2 Các hố khai quật năm 2011-2012 được mở ở những vị trí sau: 4 hố (H1, H2, H3, H4) nằm gần cửa thành phía bắc; 4 hố (H5, H6, H10, H11) nằm ở khu vực trước cửa Trung tâm Quan trắc môi trường tỉnh Bắc Giang; 3 hố còn lại (Hố H7: 100m2; H8: 100m2; H9: 84m2) nằm ở khu vực trồng cây bạch đàn, trước cửa Nhà hát Chèo, cách Giếng Phủ khoảng 70m về phía nam và rìa tây nam khu vực Đồi Ngô

[17] [18] [68]

“Có thể chia các hố khai quật thành 4 khu vực Cấu tạo địa tầng chung ở 4

khu vực có hố khai quật như sau: (B2.1; Bv2, Bv4; Ba6)

Khu vực I: hố H2 (năm 2008), diện tích 99,57m2, nằm ở thửa ruộng có địa hình cao hơn so với xung quanh, sát chân thành phía đông và gần cổng thành phía đông bắc

- Đất lớp mặt: dày 20cm - 30cm, đất tơi xốp màu nâu, lẫn nhiều gạch, ngói, đá… nhiều thời đại

Trang 32

- Tầng văn hóa: dày 20cm - 35cm, đất thịt màu nâu, cứng ken dày mảnh gạch, ngói, sành, sứ, dấu tích kiến trúc và di cốt người

- Sinh thổ: đất laterite màu đỏ, đỏ nâu, màu vàng sẫm lẫn sạn sỏi nhỏ

Khu vực thứ hai: hố khai quật H3 (năm 2008) diện tích 25,3m2, nằm ở thửa ruộng cao hơn so với xung quanh, hố khai quật nằm về phía đông Trạm khí tượng Nông nghiệp và nằm ngoài trung tâm Đồi Ngô, gần tường thành phía tây bắc và cổng thành phía đông bắc

- Lớp đất mặt: dày 10cm - 15cm, đất tơi xốp màu nâu lẫn nhiều gạch, ngói, đá… nhiều thời kỳ

- Tầng văn hóa: dày 50cm - 80cm, tầng văn hóa không bằng phẳng mà dốc

từ phía tây sang phía đông

- Sinh thổ: đất laterite màu đỏ, đỏ nâu, màu vàng sẫm lẫn sạn sỏi nhỏ

Khu vực thứ ba: hố H1 (86,1m2), hố H2 (80m2), hố H3 (100m2), hố H4 (100m2) (năm 2011-2012), các hố khai quật nằm gần cổng thành phía bắc

- Lớp mặt: dày 16cm - 70cm, đất màu xám đen, nâu sẫm Dưới lớp đất mặt toàn bộ khu vực này có một lớp đất laterite hóa yếu màu vàng, đỏ dày 5cm - 20cm

- Tầng văn hóa: dày từ 25cm - 50cm, đất màu xám đen, màu đen, màu nâu có sắc đỏ lẫn mảnh gốm tráng men, đồ sành, xương cốt động vật và mảnh gạch, ngói

- Sinh thổ: đất laterite màu đỏ, đỏ nâu, màu vàng sẫm

Khu vực thứ tư: 8 hố, hố H5 (100m2), hố H6 (100m2), hố H7 (100m2), hố H8 (100m2), hố H9 (100m2), hố H10 (100m2), hố H11 (50m2) (năm 2011-2012) Các hố khai quật nằm ở trước cửa Nhà hát Chèo và trước cửa Trung tâm Quan trắc môi trường, nằm ở rìa Đồi Ngô về phía đông, phía tây, phía tây nam

- Lớp mặt dày từ 10cm - 50cm, đất màu nâu sẫm, vàng sẫm, màu đen Ngăn cách giữa lớp mặt với tầng văn hóa là lớp đất sét màu nâu, màu vàng, màu

Trang 33

H2 (2008) H3 (2008) H1, H2, H3, H4

(2011-2012)

H5, H6, H7, H8, H9, H10, H11 (2011-2012)

Trang 34

triển về phía tây hố khai quật Tuy nhiên, do góc tây nam hố khai quật có 1 ngôi

mộ hiện đại nên đã phá mất một phần di tích và di tích có thể tiếp tục phát triển

về phía tây qua ranh giới của ngôi mộ, nhưng cho đến thời điểm khai quật thì thửa ruộng mà di tích có thể phát triển thấp hơn so với mặt bằng di tích Như vậy, cho thấy phần phía tây hố khai quật, nơi di tích có thể phát triển đã bị phá

do quá trình san mặt bằng làm những thửa ruộng hiện đại

Vết tích kiến trúc thứ hai: cách vách đông hố khai quật 4,9m và vách nam 3,7m, cách vết tích kiến trúc thứ nhất 1,5m là một dải ngói dài 1,7m, rộng 45cm, vết tích này phân bố khá thẳng theo chiều bắc nam

Vết tích kiến trúc thứ 3: cách vách đông 2,7m - 6,5m, cách vách nam 2,1m tính từ phạm vi biên của di tích, cách vách bắc 30cm thì kết thúc Tuy nhiên, di tích này phát triển nối tiếp với vết tích thứ nhất, vết tích có chiều dài 7,4m, rộng 15cm - 50cm, di tích phân bố theo hướng bắc nam, gần như thẳng ở phần hướng nam và cong dần ở hướng bắc Vết kiến trúc thứ ba cách vết tích kiến trúc thứ hai 90cm về phía đông

Vết tích kiến trúc thứ tư: nằm cách vách đông 2,3m, cách vách tây 22cm

và cách vách bắc 3,2m là một dải ngói dài 1m, rộng 44cm, dải ngói này nằm cách vết tích kiến trúc thứ ba 6,3m về phía đông

Tác giả đồng ý với nhận định của những người khai quật rằng: Thông qua việc phát lộ các vết tích kiến trúc, có thể thấy rằng: Khu vực ken dày gạch, ngói thứ nhất là phần hiên của ngôi nhà, vì sau hệ thống này là trụ móng kiến trúc với hàng cột hiên của hàng trụ móng kiến trúc thứ nhất và thứ hai Khu vực ken dày ngói thứ ba có thể là nền dưới của bức tường ngăn cách gian của ngôi

nhà [17]

* Móng trụ kiến trúc: (PL13, PL24, PL30, PL31)

Trang 35

Cùng với sự xuất hiện những dải ngói là hệ thống móng trụ kiến trúc với

10 móng trụ hoàn thiện và 1 móng trụ chỉ còn lại lớp ngói gia cố ở phần đáy Tuy nhiên, móng trụ số 11 khác hoàn toàn với các móng trụ khác vì lớp ngói gia

cố còn lại là ngói có chất liệu và màu sắc giống như ngói xuất hiện trong hố khai quật Hệ thống móng trụ kiến trúc gồm 3 hàng ngang, trong đó 2 hàng có 4 móng trụ và 1 hàng có 3 móng trụ Theo những người khai quật, sở dĩ có 3 móng trụ vì

1 móng trụ đã bị ngôi mộ hiện đại ở góc tây nam hố khai quật đào phá mất

Bảng 2.2 Thống kê các hàng móng trụ kiến trúc hố H2 năm 2008

Trang 36

mảnh ngói này giống với mảnh ngói xuất hiện trong hố khai quật, điều tra nhưng khác với những mảnh ngói được gia cố ở các móng trụ khác về màu sắc

Móng trụ số 1: Dài 70cm, rộng 70cm Móng trụ được gia cố từ mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá) màu đỏ nâu và một vài mảnh sành Khoảng cách từ tâm trụ số 11 đến trụ số 1 là 1m

Móng trụ số 2: Dài 95cm, rộng 72cm Móng trụ được gia cố từ mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá) màu đỏ nâu Khoảng cách từ tâm trụ số 1 đến trụ số 2

có thể khi xây dựng công trình kiến trúc này vì một lý do gì đó thì người thợ xây dựng đã làm móng trụ này, nhưng sau đó đã bỏ và làm hệ thống móng trụ như chúng ta đã thấy Nhìn trên bình diện chung,chỉ có duy nhất móng trụ này nằm đơn độc trong không gian kiến trúc của công trình, cho dù về hướng của trụ gần như thẳng hàng với hàng trụ móng kiến trúc thứ nhất

- Hàng móng trụ thứ hai: Có 4 móng trụ, các trụ này đều được gia cố từ mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá) màu đỏ nâu Khoảng cách giữa các móng trụ trong hàng móng trụ thứ hai bằng khoảng giữa các móng trụ ở hàng thứ nhất Khoảng cách bước gian từ hàng móng trụ thứ hai đến hàng móng trụ thứ nhất theo chiều đông - tây là 4,7m

Móng trụ số 4: Dài 65cm, rộng 60cm Móng trụ cách lớp gạch, ngói thứ

Trang 37

nhất 10cm và lớp gạch ngói thứ ba 1,2m về phía đông

Móng trụ số 5: Dài 65cm, rộng 55cm Cấu trúc gia cố móng trụ ngoài mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá) còn có 1 mảnh gốm sứ Trung Quốc thế kỷ

XV

Móng trụ số 6: Dài 75cm, rộng 70cm, móng trụ cách lớp gạch, ngói thứ ba 1,7m về phía đông

Móng trụ số 7: Dài 65cm, rộng 65cm, cũng như các trụ móng khác, gia cố móng trụ là mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá), ngoài ra còn có 3 mảnh gốm Trung Quốc thế kỷ XIV Móng trụ cách lớp gạch, ngói thứ ba 1,4m về phía đông

- Hàng móng trụ thứ ba: Có 3 móng trụ, các móng trụ này đều được gia cố

từ mảnh ngói mũi vát nhọn (ngói mũi lá) màu đỏ nâu Bước gian giữa các móng trụ ở hàng móng trụ này bằng khoảng cách giữa các móng trụ hàng thứ hai Bước gian chiều đông - tây từ hàng móng trụ thứ ba với hàng móng trụ thứ hai là 4,1m

Móng trụ số 8: Dài còn lại 65cm, rộng còn lại 65cm

Móng trụ số 9: Dài 75cm, rộng 75cm

Móng trụ số 10: Dài 75cm, rộng 70cm [17]

Tác giả luận văn hoàn toàn đồng ý với ý kiến của những người khai quật rằng: Với kết cấu của hệ thống trụ móng kiến trúc như vậy, kết hợp với những vết tích gạch, ngói ken dày thứ nhất trong hố H2 (năm 2018), có thể thấy rằng ngôi nhà có hướng chính nam và đây là một công trình kiến trúc có quy mô lớn Điều này được chứng minh qua kết cấu của hệ thống móng trụ cũng như khoảng cách bước gian từ 4,1m - 4,7m của ngôi nhà

Hố khai quật H2 được tiến hành khai quật gần như hết toàn bộ diện tích của ngôi nhà Tuy nhiên, thông qua vết tích móng trụ đã xuất hiện cho chúng ta

Trang 38

thấy trụ móng kiến trúc sẽ phát triển tiếp như sau: Sẽ có một hàng móng trụ nữa tính từ móng trụ thứ nhất về hướng đông Như vậy, ngôi nhà sẽ có thể có 4 hàng móng trụ

MH2 Mô hình giả định mặt cắt ngang ngôi nhà

5 đến 6 cột và sau các cột này là bức tường hậu của ngôi nhà về phía bắc [17]

2.2.2 Di tích ken dày gạch, ngói và gạo cháy

Tại hố H3 (năm 2008), sau khi xử lý hết lớp đất mặt trên mặt bằng hố xuất hiện một vài hiện vật là mảnh gạch, ngói, tiếp tục xử lý xuống lớp 2 thì xuất hiện dấu vết mảnh gạch, ngói ken dày tạo thành một đường gần thẳng rộng 100cm từ vách bắc và nhỏ dần xuống vách nam, cách vách nam 40cm thì dấu vết này bắt góc về phía đông Sát vách đông hố khai quật là mương nước nên dễ dàng nhìn thấy gạch, ngói Như vậy, di tích này sẽ phát triển về phía đông hố khai quật

Tuy nhiên, ở vách bắc tầng văn hóa ken dày gạch, ngói lẫn than gạo cháy sâu hơn khu vực giữa hố và không xuất hiện ở vách nam Dấu vết gạo cháy xuất hiện cùng với lớp gạch, ngói về phía bắc, diện tích dài vào trong hố khai quật 330cm và có thể phát triển về phía đông như vết tích gạch, ngói ở lớp 2 và lớp 3

(PL14, PL 32)

Trang 39

MH3 Mô hình kho lương

Thông qua địa tầng vách bắc và dấu

tích trong hố khai quật, tác giả luận văn hoàn

toàn đồng ý với giả thuyết về mô hình của

kho chứa lương thực mà những người khai

quật đưa ra Mô hình kho lương này có mặt

bằng kiến trúc phẳng ở mặt tiền, còn lòng nhà

thì được xây dạng hình chữ U, có thể kiến

trúc lòng nhà như vậy sẽ chứa được nhiều

lương thực hơn Và với kiến trúc như thế, khi

lực lượng đối lập vào thì vị trí này có thể trở thành một chiếc giao thông hào thuận lợi cho tác chiến Tuy nhiên, với diện tích khai quật hố H3 chỉ là 25,3m2

thìviệc giải thích về cầu trúc của một công trình kiến trúc không phải đơn giản,

cần tiếp tục nghiên cứu, kiểm chứng trong tương lai [17]

Xương Giang Có một số hố đất đen đáng chú ý sau (PL33):

- Hố khai quật H2:

Hố đất đen 1 dài 300cm, rộng 210cm, sâu 50cm so với bề mặt lớp đất canh

Trang 40

tác Trong hố có nhiều mảnh sành, sứ và 1 mũi giáo bằng kim loại

Hố đất đen 2 dài 164cm, rộng 160cm, sâu 80cm Trong hố có nhiều xương động vật và mảnh gốm tráng men (có niên đại thế kỷ XIII - XIV) ở độ sâu 72cm

so với bề mặt hố khai quật

Hố đất đen 3 dài 200cm, rộng 174cm Trong hố có 3 viên gạch vồ (có niên đại thế kỷ XV) nằm ở độ sâu 53cm so với bề mặt hố khai quật Ngoài ra, có xương động vật và mảnh gốm tráng men ở độ sâu 75cm so với bề mặt

- Hố khai quật H4:

Hố đất đen 1 có hình dáng không xác định Trong hố có nhiều mảnh sành

và một chiếc bát úp lên trên lọ sành thế kỷ XIII - XIV

Hố đất đen 5 có đất màu xám đen lẫn nhiều than tro, hố hình chữ nhật dài 82cm - 102cm, rộng 70cm, sâu 40cm Trong hố có 1 chiếc lon sành niên đại thế

kỷ XIII - XIV

Hố đất đen 6 có đường kính 130cm, sâu 50cm Trong hố có 1 chiếc lon

sành niên đại thế kỷ XV - XVI [18]

Những di vật phát hiện được trong các hố đất đen tuy không nhiều nhưng lại có niên đại trải dài từ thế kỷ XIII - XIV đến thế kỷ XV - XVI Và đặc biệt, trong hố đất đen 2, hố khai quật H2 (năm 2011-2012) còn phát hiện được hiện vật gốm men có niên đại thế kỷ XIII - XIV Điều này cho thấy, phải chăng Xương Giang là khu vực cư trú trước khi quân Minh tiến sang và thực hiện việc xây thành, và những người cư trú tại đây không phải chỉ có tầng lớp bình dân mà còn có cả những tầng lớp quan lại hay quý tộc giàu có

2.2.4 Di tích động vật

Số lượng di cốt động vật tìm thấy trong các hố khai quật không nhiều Hầu hết di cốt được tìm thấy thuộc cụm 2, lớp 3, hố 2 (năm 2011-2012), chỉ có hai

Ngày đăng: 07/03/2020, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w