LỜI CẢM ƠN Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn Các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Tôi xin gửi tới các thầy cô lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, đặc biệt là Thạc sĩ Vũ Văn Ký, người
đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2010 Sinh viên
Phạm Thị Yên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin khẳng định đây là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Đề tài nghiên cứu này không trùng với công trình nghiên cứu của các tác giả khác Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2010
Sinh viên Phạm Thị Yên
Trang 3MỤC LỤC
Lời cảm ơn……….1
Lời cam đoan……… ……… 2
Mục lục……… ………3
MỞ ĐẦU……… ……….5
1 Lý do chọn đề tài….……… ……5
2 Lịch sử vấn đề……… ………7
3 Mục đích nghiên cứu……….9
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu……… 9
5 Phương pháp nghiên cứu……… 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài……… 10
7 Bố cục của khóa luận……… 10
NỘI DUNG……… ………11
Chương 1: Tự lực văn đoàn và quá trình vận động phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn……… 11
1.1 Tổ chức Tự lực văn đoàn……… 11
1.1.1 Sự hình thành tổ chức……… 11
1.1.2 Tôn chỉ, mục đích của tổ chức……… 12
1.1.3 Cơ quan ngôn luận……… 13
1.1.4 Kết luận……… 15
1.2 Quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 17 1.2.1 Thời kì 1932 – 1935……… 17
1.2.2 Thời kì 1936 – 1939……… 18
1.2.3 Thời kì 1940 – 1945……… 19
Chương 2: Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn……… 21
2.1 Khái niệm “mô hình” tiểu thuyết Tự lực văn đoàn……… 21
2.2 Những biểu hiện của mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn…… 23
2.2.1 Đề tài……… 24
Trang 42.2.2 Chủ đề……… 26
2.2.3 Nhân vật……… 30
2.2.4 Cảm hứng chủ đạo……… 34
2.2.5 Ngôn ngữ……… 37
2.3 Những vấn đề đặt ra trong sáng tác từ mô hình của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn……… 39
2.3.1 Giai đoạn 1932 – 1935……… 39
2.3.2 Giai đoạn 1936 – 1939……… 40
2.3.3 Giai đoạn 1940 – 1945……… 40
Chương 3: Sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng……… 43
3.1 Khái Hưng và tiểu thuyết Gia đình……… 43
3.1.1 Tác giả Khái Hưng……… 43
3.1.2 Tác phẩm Gia đình……… 44
3.2 Gia đình và sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn…… 45
3.2.1 Thế giới nhân vật với những khát vọng công danh………… 45
3.2.2 Vấn đề dân nghèo và sự biến chất của giai cấp thống trị…… 49
3.2.3 Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến……… 53
3.2.4 Khẳng định cái tôi cá nhân, nếp sống Âu hoá……… 57
3.3 Nguyên nhân sự biến đổi……… 62
3.3.1 Sự tác động của phong trào Cách mạng ……… 62
3.3.2 Tác động từ sự phát triển và những thành tựu của Văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945……… 63
KẾT LUẬN……… 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 67
Trang 5Tháng 3 - 1933, Tự lực văn đoàn đã ra đời trong thời điểm nhạy cảm của văn học dân tộc Có thể nói gần một thế kỉ trôi qua - một khoảng thời gian không dài đối với lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử văn học nói riêng nhưng lại khá dài đối với một hiện tượng văn học Trong khoảng thời gian ấy cũng như nhiều sự kiện văn học khác, số phận của văn chương Tự lực văn đoàn đã trải qua những bước thăng trầm Vị trí của nó trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc chịu sự thử thách, phán xét, sàng lọc của thời gian và dư luận
Sự ra đời của bộ “Văn xuôi lãng mạn Việt Nam” (8 tập, 1989, Nxb Khoa học xã hội) có thể xem là một bước tiến mới trong cách nhìn nhận, đánh giá văn xuôi lãng mạn và văn chương Tự lực văn đoàn Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu bộ sách đã viết “những sáng tác vượt qua được sự sàng lọc của thời gian, đó tất phải có chân giá trị, nếu gộp lại tất sẽ có một bức tranh toàn cảnh về thời kì văn học đặc biệt phong phú, sôi động” Và gần đây Tự lực văn đoàn đã trở về với vị trí của nó Các độc giả, các nhà nghiên cứu đã bình xét một cách khách quan hơn, khoa học hơn, có ý thức khai thác, tiếp nhận những giá trị của quá khứ, tìm kiếm những mạch tinh thần mới của văn chương Tự lực văn đoàn
Trang 6Những tác phẩm của văn đoàn có mặt ở các thể loại như: kịch, thơ, văn xuôi nhưng người ta nhắc đến nhiều hơn cả là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã
có công trong việc định hình tiểu thuyết Việt Nam, đưa văn xuôi vào quỹ đạo của thời kì hiện đại với nhiều tác phẩm có giá trị, có cốt cách và nghệ thuật mới mẻ Sáng tác của Tự lực văn đoàn là sự nghiệp của tập thể, là sự đóng góp của rất nhiều cây bút Trong đó, Khái Hưng được xem là trụ cột của Tự lực văn đoàn, là một tiểu thuyết gia có tài, có sức viết dồi dào Trong khoảng mười năm, Khái Hưng đã viết hàng chục cuốn tiểu thuyết và được xem là cây bút tiểu thuyết chủ lực của Tự lực văn đoàn Nếu ở chặng đường đầu cảm hứng chủ đạo là lãng mạn thì ở chặng đường tiếp theo ông đã có những đóng góp mới Ông không còn mơ mộng, lãng mạn ở những câu chuyện tình xa xôi
mà trở về với cuộc sống thực của đời sống gia đình đang chịu những tác động của xã hội Khái Hưng là tác giả rất am hiểu và nhạy cảm về đời sống gia đình Các nhà nghiên cứu văn học đều đánh giá cao những đóng góp của Khái Hưng qua mảng tiểu thuyết có nội dung xã hội này Thành công của Khái Hưng ở những mảng tiểu thuyết viết về gia đình là ông tả được chân thực không khí gia đình phong kiến đang rạn vỡ vì những xung đột kinh tế
Trong chương trình Phổ thông Trung học, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ được nhắc đến trong các bài văn học sử Tác phẩm của họ chưa được đưa vào giảng dạy ở nhà trường Song tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn có ý nghĩa quan trọng giúp cho chúng ta có cái nhìn so sánh, đối chiếu với các trào lưu, khuynh hướng khác giúp bài giảng thêm sâu sắc, phong phú hơn
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng” làm đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Nếu như trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại, vấn đề đánh giá phong trào Thơ Mới (1932 - 1942) từng là một vấn đề phức tạp thì vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn còn phức tạp hơn nhiều Một trong những lý do dẫn đến tình trạng đó là vì một vài thành viên chủ chốt của Tự lực văn đoàn vào giai đoạn cuối (từ 1940 trở đi) đã chuyển từ hoạt động văn học sang hoat động chính trị, đi ngược lại lợi ích của Cách mạng Vì vậy, việc đánh giá quá trình sáng tác của họ cũng như đánh giá vai trò, vị trí và những đóng góp của Tự lực văn đoàn trong tiến trình Văn học Việt Nam hiện đại trở nên phức tạp
Có thể chia quá trình đánh giá Tự lực văn đoàn làm hai thời kì:
- Thời kì thứ nhất từ 1986 trở về trước
- Thời kì thứ hai từ 1986 đến nay
Ở thời kì thứ nhất, Tự lực văn đoàn thường được nhìn nhận bằng nhãn quan chính trị và xuất phát từ lập trường chính trị, từ quan điểm giai cấp, nhất là đối với ba nhân vật: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng nên các nhận xét, đánh giá về hoạt động văn chương của Tự lực văn đoàn cũng như văn chương lãng mạn nói chung thường tỏ ra khe khắt, chưa thoả đáng Mặt đóng góp của Tự lực văn đoàn có phần bị xem nhẹ, trong khi mặt tiêu cực của Tự lực văn đoàn lại bị nhấn quá nặng
Tuy nhiên trong nhiều công trình lịch sử văn học, nhiều giáo trình giảng dạy đại học, nhiều tiểu luận nghiên cứu phê bình văn học công bố trong khoảng ba mươi năm sau đó, khi đề cập đến văn chương Tự lực văn đoàn, nhất là khi đề cập đến sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo thì ngoài tinh thần “gạn đục khơi trong”, ý thức tìm kiếm những đóng góp của văn đoàn cho tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc, hầu hết các ý kiến nhận định, đánh giá tỏ ra chặt chẽ, có phần “hẹp hòi” Nhìn chung, trong hơn
ba thập kỉ từ giữa những năm năm mươi đến giữa những năm tám mươi của
Trang 8thế kỉ này, văn chương Tự lực văn đoàn đã chịu một sự phán quyết nghiệt ngã Có lúc, có nơi, sự phán quyết đó đẩy văn chương lãng mạn nói chung và văn chương Tự lực văn đoàn nói riêng đến nguy cơ bị phủ định
Trong cuốn “Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học” (Nxb Khoa học xã hội, 1971) phó Giáo sư Vũ Đức Phúc đã giành cho văn chương lãng mạn, Thơ Mới và văn chương Tự lực văn đoàn những nhận xét nghiêm khắc khiến cho những giá trị của nó có phần bị giảm đi so với những cái mà ông gọi là “độc hại và tiêu cực”
Ở thời kì thứ hai, năm 1986 có thể xem là một mốc quan trọng, một cơ may lịch sử đối với nhiều hiện tượng, nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề nhìn nhận lại các giá trị văn học và văn chương Tự lực văn đoàn Những đóng góp
và hạn chế của văn chương Tự lực văn đoàn đã được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, thấu đáo, khách quan, khoa học hơn
Trong cuốn giáo trình “Văn học Việt Nam 1900 - 1945” Giáo sư Phan
Cự Đệ đã trình bày về tổ chức, hoạt động của Tự lực văn đoàn, khái quát nội dung và nghệ thuật qua một số sáng tác của tổ chức văn học này
Trong cuốn giáo trình “Lịch sử Văn học Việt Nam 1930 - 1945” Giáo
sư Nguyễn Đăng Mạnh viết về xu hướng tiểu thuyết Tự lực văn đoàn với những phác hoạ cơ bản nhất về xu hướng này
Gần đây, trong cuốn “Tự lực văn đoàn trong tiến trình Văn học dân tộc” tác giả Mai Hương đã tập hợp những bài viết, tham luận của các nhà phê bình nghiên cứu quan tâm đến nhóm, chủ yếu là các ý kiến thừa nhận giá trị nội dung và đóng góp về mặt nghệ thuật của các cây bút tiểu thuyết
Trong chuyên luận: “Quan niệm về con người trong tiểu thuyết” (1997, Nxb Khoa học xã hội), tiến sĩ Lê Dục Tú đã khảo sát sáng tác của ba cây bút chủ lực, tiếp cận quan niệm nghệ thuật về con người đã thừa nhận:
Trang 9“Tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo là hiện tượng thực sự mới mẻ”
Trịnh Hồ Khoa đã đề cập tới những khía cạnh cách tân nghệ thuật trong văn xuôi của Tự lực văn đoàn qua “Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho Văn xuôi hiện đại Việt Nam” (Nxb Văn học, 1997)
Tiến sĩ Ngô Văn Thư trong chuyên luận “Bàn về tiểu thuyết của Khái Hưng” đã đề cập đến những đóng góp to lớn của nhà văn trong tiến trình lịch
sử Văn học Việt Nam hiện đại nói chung, nghệ thuật tiểu thuyết nói riêng
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu ý kiến của những người đi trước, chúng tôi đi sâu vào khảo sát tác phẩm Gia đình của Khái Hưng trên các phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật để làm nổi bật sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết này của nhà văn Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm cho độc giả hiểu rõ hơn về xu hướng (mô hình) tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cùng những đóng góp và hạn chế của
nó trong quá trình vận động và phát triển của nền Văn xuôi Việt Nam hiện đại nửa đầu thế kỉ XX
3 Mục đích nghiên cứu
Làm nổi bật mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Thấy được sự biến đổi của mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng
Góp phần làm phong phú hơn phần giảng dạy Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào mô hình (xu hướng) của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Do thời gian và khuôn khổ của khoá luận, chúng tôi chỉ đi sâu vào khảo sát tác phẩm Gia đình của tác giả Khái Hưng
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích văn học
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, khoá luận được triển khai trong ba chương sau:
Chương 1: Tự lực văn đoàn và quá trình vận động phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Chương 2: Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Chương 3: Sự biến đổi mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn qua tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng
Trang 11Tự lực văn đoàn đăng trên Phong hoá số 87 thì văn đoàn ra đời ngày 2 - 3 -
1933 Nói đến Tự lực văn đoàn, người ta không thể không nói đến Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) - người đã hầu như một mình đứng sáng lập ra văn đoàn Năm 1930, Nguyễn Tường Tam từ Pháp trở về với bằng cử nhân Khoa học và một quan niệm mới về xã hội và văn chương Ông thấy cần phải có một tiếng nói góp phần vào tiếng nói chung của văn học đang có sự chuyển biến Nhất Linh là một trí thức Tây học, ông hiểu rõ sự cũ kĩ, lỗi thời của quan niệm đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam Chính vì vậy, năm
1933 ông quyết định thành lập nhóm Tự lực văn đoàn với chủ trương cách tân văn học, một mặt đấu tranh cho giải phóng cá nhân, coi cá nhân là cơ sở của
xã hội, mặt khác đấu tranh cho sự trong sáng của ngôn ngữ và hoạt động hoá các thể loại văn học
Tự lực văn đoàn gồm các thành viên Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam); Khái Hưng (Trần Khánh Giư); Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long); Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân); Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ); Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu); Trần Tiêu và Xuân Diệu, ngoài ra văn đoàn còn có đội ngũ cộng tác viên đông đảo như Huy Cận, Đoàn Phú Tứ, Trọng Lang… Các hoạ sĩ: Ngô Gia Phú, Nguyễn Cát Tường, Tô Ngọc Vân Các ngôi sao (8 người) của văn đoàn đều toả sáng, mỗi người một cách, nhưng nhóm trung tâm hoạt động của
Trang 12văn đoàn là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và đóng góp chính là văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết
Lấy tên là “Tự lực”, họ có ý thức tự sức mình gây lấy một cơ sở chứ không cậy nhờ bàn tay chính phủ hoặc một thế lực tài chính nào đó, do đó có
tư cách độc lập không tuân theo một chỉ thị nào, ngoài đường lối họ tự vạch
ra Tất cả các văn nghệ sĩ tập hợp dưới mái nhà văn đoàn tha hồ vẫy vùng sức viết, cởi trói cái tôi cá nhân mãnh liệt của mình để viết lên những tác phẩm lãng mạn đầy ngọt ngào say đắm
Tự lực văn đoàn ra đời với mong ước được góp phần vào sự phát triển
xã hội trong lĩnh vực hoạt động về tư tưởng và văn hoá, văn nghệ Văn đoàn khao khát những đổi thay và cách tân thực trạng của những hoàn cảnh sống và sinh hoạt tư tưởng trì trệ của xã hội Việt Nam Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và rất Việt Nam 1.1.2 Tôn chỉ, mục đích của tổ chức
Khi nghiên cứu giới thiệu về Tự lực văn đoàn, ai cũng nói đây là tổ chức hoạt động có tôn chỉ mục đích và xem đây là một trong những lý do dẫn đến hiệu quả của các hoạt động văn chương Tự lực văn đoàn, đến sự thống nhất trong nội dung tư tưởng và những đặc điểm về phong cách của văn đoàn
Tháng 3 - 1933, khi Tự lực văn đoàn chính thức được thành lập “tổ chức họp những người đồng chí trong văn giới, người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương” Tổ chức hướng sáng tác theo tôn chỉ gồm mười điều sau:
Trang 131 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước
2 Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội Chú ý làm cho người và cho xã hội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân
và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
4 Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam
5 Lúc nào cũng mới mẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6 Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả mà quý phái
7 Trọng tự do cá nhân
8 Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa
9 Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam
10 Theo một trong chín điểm này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác
Tôn chỉ của văn đoàn nhìn chung là tiến bộ khi nói đến tình cảm dân tộc trong văn chương, ý thức về tự do cá nhân và sự quan tâm đến vấn đề bình dân Tuy nhiên các điều trong tôn chỉ bộc lộ tính nửa vời, chưa thật tập trung theo một quan điểm tiến bộ có hệ thống và căn cứ thực tế
1.1.3 Cơ quan ngôn luận
Tự lực văn đoàn không chỉ hoạt động độc lập công khai mà còn có cơ quan ngôn luận riêng, nhà xuất bản riêng Trước khi mua tờ Phong hoá từ tay Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai thì Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch
Trang 14Lam, Khái Hưng và Tú Mỡ đã bàn nhau ra tờ báo Tiếng cười để thực hiện các tư tưởng chính trị xã hội và văn chương của mình Nhưng Nhất Linh không xin được giấy phép, giữa lúc đó thì tờ Phong hoá có nguy cơ đình bản
vì thua lỗ Nhất Linh đã mua lại báo Phong hoá và in số đầu tiên tháng 7
-1932 Tuy đến lúc này cái tên Tự lực văn đoàn chưa ra đời nhưng tổ chức nòng cốt của Tự lực văn đoàn đã hình thành, trên thực tế báo Phong hoá trở thành cơ quan ngôn luận đầu tiên của văn đoàn
Ngay từ những số đầu tiên, Phong hoá đã góp những tiếng nói nhiệt thành cổ vũ cho phong trào Thơ Mới, tấn công vào thơ cũ và triển khai tất cả các mục trên báo Tờ báo như một trái bom mang lại cho xã hội Việt Nam một món quà người ta chưa hề thưởng thức là “cái cười” Cái cười đã giúp họ chinh phục độc giả, giúp họ thực hiện tôn chỉ của tổ chức, đả phá những tục lệ
cổ, đả đảo những nhân vật thời danh khoác cho mình một nét vẽ hài hước Người đọc mua cười lấy làm vui nhưng người bị cười tất nhiên không vui chút nào, nhất là những người có quyền thế Cho nên tuần báo vấp phải sự cản trở và năm 1936 Phong hoá bị đóng cửa vĩnh viễn
Có rất nhiều tài liệu sách báo hiện nay nói rằng đến năm 1936 khi tờ Phong hoá bị đình bản thì tờ Ngày nay trở thành cơ quan ngôn luận tiếp theo của tổ chức Điều này không có nghĩa là tờ Ngày nay được thành lập ngay sau
sự kiện đó Trước đó một thời gian khi tờ Phong hoá đang hoạt động và có ảnh hưởng lớn, động chạm đến chính quyền thực dân, Nhất Linh đã lường trước được tình hình nên bàn với nhóm ra thêm tờ Ngày nay Tờ Ngày nay ra đời vẫn chỉ theo đuổi một tôn chỉ là coi đời bằng một con mắt vui vẻ và phấn đấu, song theo một phương pháp khác với phương pháp trào phúng: “Chúng tôi sẽ đưa bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện có trong xã hội” Theo Tú Mỡ nội dung của Phong hoá dần chuyển
Trang 15sang Ngày nay nhưng dưới một hình thức khác, trên cơ sở sát nhập và đổi tên các mục
Ngoài hai tờ báo trên, văn đoàn còn thành lập nhà xuất bản Đời nay Đây là nhà xuất bản có tổ chức quy củ, có máy in tốt, các họa sĩ trình bày đẹp Mới đầu Đời nay chỉ xuất bản những sách của văn đoàn, sau đó họ mở rộng
ra xuất bản cả những sách được giải thưởng Tự lực văn đoàn hoặc sách của nhà văn mà họ công nhận giá trị, không sai ngược với tôn chỉ của mình như tiểu thuyết của Nguyên Hồng, Nguyễn Khắc Mẫn, thơ của Anh Thơ, Tế Hanh
Không những văn chương được ưa chuộng mà sách được trình bày dưới con mắt của Nguyễn Tường Tam cũng mới hẳn, có mỹ thuật, từ bìa ngoài đến trang trong khác hẳn với cách luộm thuộm cổ lỗ của các thư quán thương mại bấy giờ Lần đầu tiên ở nước ta có một nhà xuất bản theo đuổi mục đích văn học, làm việc dưới một tôn chỉ văn học, giúp văn đoàn truyền
bá rộng rãi những tác phẩm cùng với tư tưởng, quan niệm của văn đoàn Đến năm 1940 tờ Ngày nay đóng cửa song nhà xuất bản vẫn tiếp tục công việc phổ biến sách của họ
1.1.4 Kết luận
Tự lực văn đoàn hoạt động vẻn vẹn trong mười năm (1932 - 1942) có thể tính từ ngày tờ Phong hoá ra đời và kết thúc vào ngày Thạch Lam mất Trong mười năm hoạt động những người trong nhóm đã hoán cải bộ mặt xã hội ở hai phương diện tư tưởng và văn học
Trong phạm trù ý thức Tư sản, Tự lực văn đoàn đã nói lên những khát vọng dân tộc dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là của tầng lớp tiểu
Tư sản trí thức và viên chức thành thị Họ có hoài bão về một nền văn hoá dân tộc và thực sự đã có đóng góp lớn cho nền văn học dân tộc Hoạt động văn chương lúc đó là chuyện sang trọng, thiêng liêng, là lý tưởng sống của một
Trang 16lớp người Không làm được Cách mạng thì làm văn chương, gửi tâm sự yêu nước vào lòng yêu quê hương, yêu Tiếng Việt Cho nên người ta đã đi vào văn chương với tất cả niềm say mê và tâm huyết của mình Tự lực văn đoàn
đã góp phần rất quan trọng vào việc cách tân văn học, xây dựng một nền Văn học Việt Nam hiện đại Những tư tưởng, những quan niệm cũ dần dần mất cả
sự uy nghi lẫm liệt, tất rồi cũng phải theo thời gian mà bị phá tan, nhường chỗ cho những quan niệm mới, những lý tưởng mới
Tuy là một văn đoàn chỉ có tám thành viên nhưng tổ chức ngoài việc sáng tác văn chương còn đảm nhiệm nhiều hoạt động hỗ trợ, quan trọng là báo chí, xuất bản và tổ chức giải thưởng Tự lực văn đoàn Ở lĩnh vực nào họ cũng tạo được hiệu quả Tờ Phong hoá và Ngày nay là một trong những trung tâm quan trọng của công cuộc đổi mới văn học, là vườn ươm, giới thiệu
và nâng đỡ hàng loạt tài năng mới như: Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Anh Thơ, Nguyên Hồng… Nhà xuất bản Đời nay được xem là một cơ quan xuất bản đứng đắn không chạy theo lợi nhuận và cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị
Giải thưởng Tự lực văn đoàn hai năm trao giải một lần vào các năm 1935; 1937; 1939 Giải thưởng này không trao cho các thành viên thuộc Tự lực văn đoàn Nó có tác dụng phát hiện trong phong trào sáng tác văn học, những tác phẩm tiêu biểu cho dù là những cây bút mới xuất hiện Giải thưởng
Tự lực văn đoàn được bạn đọc tin cậy và qua sự lắng lại của thời gian càng thể hiện rõ tính chuẩn xác và hiệu quả Điều chúng ta ghi nhận đó là thành tựu của một hoạt động của văn đoàn Động cơ của việc tổ chức và trao giải là tìm kiếm người tài năng, thái độ là vô tư khách quan không thiên vị và sự đánh giá là tương đối sát đúng với tác phẩm và phong trào
Tổ chức ra đời, tồn tại và phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Văn học Việt Nam những năm ba mươi Từ đây tiểu thuyết,
Trang 17truyện ngắn, thi ca hiện đại đã chiếm lĩnh trận địa góp phần tạo nên sự chuyển biến về chất lượng văn học từ những năm hai mươi sang những năm ba mươi
Sự đóng góp của Tự lực văn đoàn vào thắng lợi của văn học trong khoảng thời gian này là chủ động và tích cực Về mặt này các nhà văn hoạt động độc lập hay các nhóm văn học khác không thành công được, không cống hiến được nhiều như vậy
1.2 Quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Trong khoảng trên dưới mười năm hoạt động, Tự lực văn đoàn đã có công lớn trong việc đổi mới nền văn học, góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền văn học Việt Nam hiện đại Hoạt động của Tự lực văn đoàn rất phong phú, trong đó hoạt động sáng tác văn chương là chủ yếu Người ta hay nhắc đến tiểu thuyết Tự lực văn đoàn như một thành công mới đem lại cho Văn học Việt Nam những năm ba mươi Tiểu thuyết lãng mạn do các cây bút chủ lực của văn đoàn sáng tác rất phù hợp với khẩu vị của độc giả, thoả mãn nhu cầu của tầng lớp cư dân thành thị vốn chịu nhiều thất bại trong cuộc đời
Chúng ta có thể chia sự vận động, phát triển của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn làm ba thời kì:
1.2.1 Thời kì 1932 - 1935
1.2.1.1 Lịch sử xã hội
Đây là thời kì thoái trào Cách mạng diễn ra từ sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái và phong trào Cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh do Đảng cộng sản lãnh đạo Một không khí u ám bao trùm toàn xã hội Các tầng lớp trí thức Tư sản, tiểu Tư sản hết sức hoang mang Thực dân Pháp một mặt khủng bố Cách mạng, một mặt thấy cần thiết phải làm cho bầu không khí bức bối, ngột ngạt có chỗ cần được xả hơi Vì thế chúng khuyến khích các phong trào thể dục thể thao, các cuộc chợ phiên, thi sắc đẹp, các mốt y phục mới, các trò hưởng lạc và văn chương lãng mạn
Trang 181.2.1.2 Thành tựu văn học
Khái Hưng, Nhất Linh lần lượt cho ra đời các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, gánh hàng hoa, Nửa chừng xuân (Khái Hưng), Đoạn tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh) Các tác phẩm trên đều đề cập đến tình yêu đôi lứa Đó là một mối tình lý tưởng của Lan và Ngọc tận hưởng tình yêu giữa cảnh thiên nhiên thơ mộng (Hồn bướm mơ tiên), đó còn là tình yêu của một cô gái quê trẻ đẹp ngây thơ, dùng hết lòng hi sinh và nhẫn nại để gây dựng một hạnh phúc êm đềm của một gia đình suýt nữa bị tan vỡ bởi một tai nạn bất ngờ (Gánh hàng hoa) Tất cả những cuốn truyện đó đều nhân danh chủ nghĩa nhân đạo, tinh thần dân chủ, nhân danh văn minh tiến bộ để chống lại lễ giáo phong kiến Nó đấu tranh cho luyến ái và hôn nhân tự do Nó đặc biệt yêu cầu giải phóng phụ
nữ khỏi sự áp bức của chế độ phong kiến, gia trưởng Tóm lại, nó đem đến cho chủ nghĩa cá nhân màu sắc hấp dẫn của chủ nghĩa nhân văn, của chính nghĩa
1.2.2 Thời kì 1936 - 1939
1.2.2.1 Lịch sử xã hội
Đây là thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương Ở một nước thuộc địa như nước ta vấn đề dân chủ thực chất là vấn đề dân cày Trong thời gian này, chính quyền thực dân tạm thời phải bỏ chế độ kiểm duyệt sách báo, văn học
vô sản có điều kiện hoạt động công khai Trên cơ sở phong trào Dân chủ rộng lớn và điều kiện sáng tác thoả mái hơn Trong bộ phận văn học Tư sản, tiểu
Tư sản, xu hướng hiện thực phê phán, xu hướng lãng mạn phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Nhiều vấn đề cơ bản của xã hội được đặt ra trên tinh thần dân chủ, đặc biệt là vấn đề nông dân
1.2.2.2 Thành tựu văn học
Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn phải thích nghi trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước Họ nhận thấy sự cần thiết phải thay đổi đề tài Vấn đề chống lễ
Trang 19giáo phong kiến, phê phán tính chất hủ bại của gia đình quan lại vẫn được đặt
ra
Tuy nhiên người ta thấy những chàng và nàng của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo tự đặt mình vào môi trường nông thôn, trong quan hệ với nông dân nghèo như Trống mái, Gia đình (Khái Hưng), Con đường sáng (Hoàng Đạo) Họ đưa ra một số tiểu thuyết luận đề nhằm vạch con đường sáng cho người trí thức giàu có đi về nông thôn, kinh doanh đồn điền theo lối văn minh để một mặt hưởng thụ cái thi vị của cảnh sắc thôn quê, mặt khác thi hành những biện pháp giảm bớt đau khổ cho tá điền, giảm thuế, mở chợ, mở trường học
Vào thời điểm tương đối dễ thở của thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương, những ảo tưởng trên đã đem đến cho tiểu thuyết Tự lực văn đoàn một niềm lạc quan tin tưởng
1.2.3 Thời kì 1940 - 1945
1.2.3.1 Lịch sử xã hội
Đây là thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương chấm dứt (tháng 9 1939) Đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ, phát xít Nhật vào Đông Dương, Nhật – Pháp tranh giành nhau, Đảng cộng sản bị khủng bố nhưng phong trào Việt Minh được phát động Nhiều đảng phái thân Nhật, thân Pháp mọc lên
-Sự vơ vét tàn bạo của bọn thực dân, phát xít dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945 Chế độ kiểm duyệt sách báo được lặp lại và trở nên nặng nề hơn Hoạt động văn hoá, văn học gặp nhiều khó khăn Nhiều nhà văn bị bắt giam với những lý do khác nhau, trong đó có Khái hưng, còn Nhất Linh, Hoàng Đạo phải trốn sang Nhật
Tóm lại, sự hỗn loạn của lịch sử xã hội đã làm lung lay dữ dội đến những tháp ngà cao nhất và yên tĩnh nhất của văn chương lãng mạn Những
Trang 20ảo tưởng cải cách xã hội, xây dựng văn hoá, đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân… của Tự lực văn đoàn đều tan biến
1.2.3.2 Thành tựu văn học
Trong tâm trạng bi quan bế tắc Nhất Linh, Khái Hưng đã ném ra một thứ chủ nghĩa vô luân đồi bại Chủ nghĩa cá nhân của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bây giờ không gắn với đạo lý, nhân nghĩa hay một cải cách xã hội nào nữa Những mối tình trong sáng trong Hồn bướm mơ tiên; Nửa chừng xuân; Đoạn tuyệt; Gia đình; Trống mái; Con đường sáng… không còn
Từ 1942; 1943 trở đi Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo ngừng sáng tác Họ chuyển sang hoạt động chính trị phản động Xu hướng tiểu thuyết viết theo mô hình trình bày ở trên có thể coi như chấm dứt
Như vậy tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn là tiểu thuyết lãng mạn Tư sản Việt Nam trên văn đàn công khai những năm ba mươi có tuổi đời ngắn ngủi Bắt đầu có ưu thế, có ảnh hưởng nhất định trong giới trí thức nhờ những tư tưởng tiến bộ nhưng càng về sau, tiểu thuyết bộc lộ sự sa sút trong tư tưởng khiến những tác phẩm ấy không còn nguyên giá trị Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn vốn đã bệnh tật nay càng bộc lộ rõ chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc, ích kỉ Đây là một thực tế không tránh khỏi của một quan niệm văn chương lạc lõng với đời sống xã hội lúc bấy giờ Đó còn là số phận chung cho một trào lưu văn học lãng mạn yếu đuối chưa tìm được chỗ đứng thực sự trong tình cảm của độc giả Hoàn cảnh xã hội ít chắp cánh cho mơ ước, những nguyên tắc đạo lý bị phá vỡ và mất ý nghĩa thiêng liêng Tính chất thực dụng và thế lực của đồng tiền chi phối đời sống xã hội Con người trong xã hội cũng như nhân vật của tiểu thuyết bị xô đẩy, trôi dạt về nhiều ngả và không có hướng giải thoát Tự lực văn đoàn chấm dứt dần hoạt động của mình trong thời điểm này, chấm dứt trào lưu lãng mạn trong văn xuôi vốn đã có những năm tháng huy hoàng trên văn đàn thời hiện đại
Trang 21CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
2.1 Khái niệm mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [13 328]
Trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết không ngừng thay đổi Tuy vậy vẫn có thể rút ra một số đặc điểm như sau về thể loại tiểu thuyết
So với các thể khác của loại tự sự như ngụ ngôn, anh hùng ca thì đặc điểm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết là nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Đặc trưng này thoạt đầu được hình thành ngay trong tiểu thuyết cổ đại Càng về sau đời tư càng trở thành tiêu điểm để miêu tả cuộc sống Tuỳ theo từng thời
kì phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tới mức thể hiện được hoặc kết hợp được với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc
Nét tiêu biểu thứ hai làm cho tiểu thuyết khác với truyện thơ, trường
ca, anh hùng ca là chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc sống, không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lý tưởng hoá Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc
và buồn cười, cái bi và cái hài
Thứ ba, cái làm cho nhân vật tiểu thuyết khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện Trung cổ là ở chỗ: nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải”, tư duy, chịu nhiều đau khổ dằn vặt của cuộc đời trong khi
Trang 22các nhân vật kia thường là nhân vật hành động Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành
do cuộc đời dạy bảo
Thứ tư, thành phần chính yếu của tiểu thuyết không phải chỉ là cốt truyện, tính cách nhân vật như ở truyện vừa và truyện ngắn Trung cổ Ngoài
hệ thống sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách, tiểu thuyết miêu tả suy
tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết tường tận về quan
hệ giữa người với người
Thứ năm, tiểu thuyết xoá nhoà khoảng cách về giá trị giữa người trần thuật và nội dung trần thuật của anh hùng ca, để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật Chính đặc điểm này làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình
Tiểu thuyết là thể loại văn học có từ rất lâu, nó tồn tại ở Việt Nam từ thế kỉ XVIII cho đến thời điểm tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời những năm
ba mươi của thế kỉ XX đã có sự thay đổi vận động ít nhiều
Người ta nói đến “mô hình” tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là để phân biệt với tổ chức Tự lực văn đoàn như đã trình bày ở trên Tổ chức tự lực văn đoàn
là một tổ chức của một nhóm nhà văn đứng đầu là Nhất Linh, hoạt động trong lĩnh vực văn hoá Sự gặp gỡ về quan điểm chính trị, xã hội, văn học đã tập hợp họ lại chung quanh cơ quan ngôn luận là tờ Phong hoá và Ngày nay
Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn được xác định trước hết là một thiết kế cấu trúc lý tưởng cho mọi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bao gồm một
hệ thống những đặc trưng cơ bản ở cấp độ cấu trúc của tác phẩm văn học hình thành từ ý đồ chủ quan chung của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và được thể hiện lặp lại ở hầu hết những tiểu thuyết tiêu biểu của bộ ba cây bút
Trang 23này trong thời kì sáng tác từ 1932 - 1942 trên các phương diện đề tài, nhân vật, kết cấu, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật
Như vây, mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là khái niệm được hiểu như là một kiểu sáng tác khá thống nhất từ đề tài, nhân vật, chủ đề đến cách hành văn Không phải ngẫu nhiên mà nhiều cuốn truyện của họ ghi tên chung hoặc của Nhất Linh và Hoàng Đạo, hoặc Nhất Linh và Khái Hưng
2.2 Những biểu hiện của mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Tự lực văn đoàn là tổ chức tiêu biểu của một văn đoàn thời kì hiện đại
có tuyên ngôn và chương trình hành động cụ thể Trong văn học nghệ thuật,
rõ ràng có một thi pháp đã xưa cũ và lỗi thời không còn sức hấp dẫn và tạo hiệu quả nghệ thuật Một công chúng mới đông đảo ở thành thị yêu cầu tiếp nhận những sáng tạo tinh thần mới, những sáng tạo nghệ thuật đích thực của thời đại mới, một thế hệ những người cầm bút không đào tạo theo khuôn mẫu Nho học cũ mà ảnh hưởng Tây học nên đã có những đổi thay cơ bản trong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Thời đại đã yêu cầu xuất hiện một nền nghệ thuật hiện đại và Tự lực văn đoàn đã có công đưa văn xuôi vào quỹ đạo của thời kì hiện đại Cái ranh giới xác lập tưởng như mơ hồ nhưng qua tâm lý, thị hiếu, con chữ giữa hai thời kì lại thật rõ rệt, minh bạch Không ai có thể phủ nhận tài năng của ba cây bút nổi danh nhất trong nhóm Tự lực văn đoàn là: Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nhất Linh Sau khi một loạt các tác phẩm ra đời, người ta đã biết đến Khái Hưng là một nhà văn của ái tình, Nhất Linh là một nhà văn của tư tưởng luận đề, Hoàng Đạo là một nhà lý luận của nhóm
Khi khảo sát mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, chúng ta sẽ đi vào phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của ba cây bút tài năng này: Hồn bướm
mơ tiên; Nửa chừng xuân; Đoạn tuyệt; Gánh hàng hoa; Con đường sáng; Gia đình
Trang 242.2.1 Đề tài
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên thì: “Đề tài là khái niệm chỉ các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác Văn học Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” Đề tài của tác phẩm
là một phương diện trong nội dung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn” [13 112]
Tự lực văn đoàn ra đời với mong ước được góp phần vào sự phát triển
Xã hội trong lĩnh vực hoạt động về tư tưởng và văn hoá, văn nghệ Trong mấy thập kỉ đầu thế kỉ XX đã thấp thoáng hình bóng của sinh hoạt đô thị trong văn xuôi nhưng phải đến Tự lực văn đoàn thì thành thị mới thực sự là đối tượng miêu tả của văn xuôi Tự lực văn đoàn có những thuận lợi khi viết
về thành thị, môi trường mà họ am tường Nhất Linh, Hoàng Đạo cũng có những cuốn sách viết về làng quê nhưng ít thành công, vì dù sao cũng là đề tài có phần xa lạ với cuộc sống quen thuộc của họ Các nhà văn của Tự lực văn đoàn đều là những trí thức Tây học, có tư tưởng cấp tiến, đầu óc dân chủ
và mong muốn xây dựng cho nước nhà một nền văn chương có bản sắc dân tộc Tự lực văn đoàn và Thơ Mới như hai bó hoa đẹp của văn chương khi bước vào thời hiện đại Đặc biệt, lớp công chúng văn học với hàng vạn viên chức, sinh viên, học sinh đã mang đặc điểm của thế hệ công chúng mới Họ khao khát sống tươi trẻ, tự do với thời hiện đại Họ muốn bộc lộ suy nghĩ và tình cảm của mình trong cuộc sống, đặc biệt là lớp trẻ với tình yêu và hi vọng Tự lực văn đoàn đã đáp ứng được một phần yêu cầu và mong ước của
họ
Ở chặng đường đầu những cuốn tiểu thuyết như: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Gánh hàng hoa đều được dư luận ca ngợi vì
Trang 25các tác phẩm phê phán trực tiếp vào đạo đức của đại gia đình phong kiến, đề cao tự do cá nhân và lối sống tươi trẻ
Ở chặng thứ hai các cuốn: Trống mái, Gia đình, Thoát ly, Con đường sáng đã hướng về bình dân, phản ánh những vấn đề bức xúc của người lao động và những mâu thuẫn xã hội quyết liệt
Ở chặng cuối, văn chương Tự lực văn đoàn bị vỡ mộng vì trong cuộc sống có nhiều bi kịch và đen tối
Vấn đề tình yêu, khẳng định cái tôi cá nhân, cải cách xã hội, chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến là những đề tài lớn chi phối và bao trùm lên các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn Các cây bút trong nhóm Tự lực văn đoàn quyến rũ những độc giả của mình là vì độc giả thấy mình trong tác phẩm, nhất là thanh niên và phụ nữ “Ái tình” vẫn được xem là mối bận tâm của những ai đang tuổi yêu đương Khái Hưng, Nhất Linh và Hoàng Đạo đã tìm đến một đề tài muôn thuở của thi ca là tình yêu để chiếm lĩnh độc giả Đó
là một đề tài, vấn đề nhỏ bé thu tròn trong vỏ ốc cá nhân của con người
Trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, tình yên hôn nhân có mặt trong mọi gia đình phong kiến, trở thành một lực cản tàn bạo cho hạnh phúc lứa đôi của thanh niên thành thị thuộc tầng lớp bình dân Ban đầu Khái Hưng có nói đến tình yêu mộng ảo, lý tưởng núp dưới bóng từ bi phật tổ (Hồn bướm
mơ tiên) Sau đó ông hướng tình yêu đến chỗ phải thử thách trong gia đình phong kiến (Nửa chừng xuân) Trước 1932, phái Cựu học thường ca ngợi gia đình như một nền tảng xã hội vững chắc, nơi nảy nở những đức tính tốt đẹp của nước Nam xưa thì với Khái Hưng, Nhất Linh gia đình lại hiện ra với tất cả những tệ đoạn, những bi hài của nó Cảnh mẹ chồng nàng dâu, dì ghẻ con chồng, môn đăng hộ đối, thói háo danh đã bóp nghẹt tình yêu của thanh niên Nàng Mai trong Nửa chừng xuân có một mối tình nồng nàn cao đẹp với Lộc, đã không được mẹ chồng chấp nhận vì không môn đăng hộ đối Cô
Trang 26Loan trong Đoạn tuyệt (Nhất Linh) đã chấp nhận một cuộc hôn nhân không tình yêu với Thân để trả nợ cho gia đình, rồi ngày ngày gửi gắm niềm đau khổ yêu đương theo một bóng hình xa xôi Có thể nói khi đề cập đến đề tài tình yêu, ngòi bút của Khái Hưng, Nhất Linh luôn đặt nó trong mối quan hệ với gia đình phong kiến còn vô vàn những cổ hủ, lạc hậu
Khi nói về đề tài tình yêu, các nhà văn luôn chú ý thay đổi món ăn tinh thần của độc giả, lúc đề cập đến tình lẩn tránh của Lan và Ngọc trong Hồn bướm mơ tiên, lúc là tình trắc trở của Mai và Lộc trong Nửa chừng xuân, khi lại là tình mộc mạc của Liên trong Gánh hàng hoa, có khi là tình quyết liệt của Loan trong Đoạn tuyệt… Đó chủ yếu là những câu chuyện tình ở chốn tỉnh lẻ trong các tác phẩm của Khái Hưng và Nhất Linh Hoàng Đạo thì khác, ông đưa người đọc về với cuộc sống nông thôn của sự bình yên Tình yêu của nhân vật Duy trong Con đường sáng đã sống lại khi bắt gặp hình dáng cô gái thôn quê giản dị, thanh nhã Nó đã đơm hoa kết trái bằng một cuộc hôn nhân êm đềm, hạnh phúc
Tóm lại, các nhà văn Tự lực văn đoàn rất tâm đắc với đề tài tình yêu
Dù tình yêu có thay hình đổi dạng, thay đổi màu sắc, cá tính thì bao giờ nó cũng duyên dáng, đậm đà, say đắm
2.2.2 Chủ đề
Theo giáo trình Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên thì: “Chủ
đề là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực mà tác phẩm thể hiện” [3 270]
Sự hình thành chủ đề của tác phẩm có mối liên hệ mật thiết với hiện thực đời sống và ý đồ sáng tác của nhà văn Nói cách khác, chủ đề của tác phẩm được hình thành từ những vấn đề đặt ra trong đời sống thông qua sự khái quát hoá của chủ quan nhà văn
Trang 27Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Chủ đề tác phẩm nói lên chiều sâu tư tưởng, khả năng nắm bắt nhạy bén của nhà văn với những vấn đề của cuộc sống Vì vậy, từ những đề tài cụ thể, rất bình thường, tác giả có thể nêu lên những chủ đề mang ý nghĩa khái quát to lớn, sâu sắc Cùng với tư tưởng, chủ
đề tạo ra tầm vóc của tác phẩm
Từ những hiểu biết về chủ đề như trên, khi xem xét những sáng tác của
Tự lực văn đoàn, chúng ta có thể tìm ra được những chủ đề chính trên cơ sở những quan niệm và lập trường của họ trước hiện thực cuộc sống
2.2.2.1 Khẳng định cái tôi cá nhân, chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến, quyền tự do yêu đương
Chống lễ giáo và đại gia đình phong kiến, khẳng định cái tôi cá nhân là một vấn đề đã được đặt ra từ lâu trong Văn học Việt Nam Giáo sư Phan Cự
Đệ trong cuốn “Văn học Việt Nam 1900 - 1945” có nói: “ Con người bị trói buộc bởi những quy phạm bất di bất dịch như thế nên văn học phong kiến nhìn chung là một thứ văn học phi ngã” [1 532] Cho nên cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân ra khỏi ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến sau
1930 quyết liệt hơn trước Vì vậy ở giai đoạn này, văn học đang dần đổi mới, hiện đại hoá cái mới, cái mới đang thay thế dần cái cũ Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn tiếp tục truyền thống của văn học Việt Nam trong hoàn cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở thành thị trên đà Âu hoá Hoàng Đạo viết: “Theo mới như tôi là Âu hoá… Âu hoá là đem những nguyên tắc của văn minh phương Tây áp dụng vào đời ta Ngày xưa ta không sống theo lẽ phải, ta sống theo tục lệ thành kiến, theo mệnh lệnh bất khả luận của cổ nhân… Âu hoá là điều hoà chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa xã hội, là hành động làm sao cho trong xã hội cá nhân được tự do nảy nở tính tình, tri thức của mình” [1 532]
Trang 28Với một ý thức đầy đủ của chủ nghĩa cá nhân Tư sản đang trên đà phát triển, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn một mặt đòi tự do yêu đương, đề cao hạnh phúc cá nhân Chủ đề sáng tác của văn đoàn là tình yêu của những con người
đô thị, của cuộc sống đô thị, của những “chàng”, những “nàng” tân thời, học chữ Tây, sống trên phố hấp thu văn minh châu Âu, đòi tự do yêu đương, tự
do kết hôn và hạnh phúc Họ phủ nhận con người chức năng trong luân thường, con người sống với gia đình, với họ hàng với làng xã Lúc đó con người mà họ muốn đề cao chính là con người mới Tự lực văn đoàn lúc đầu cũng nói đến một thứ tình yêu ảo mộng và cao thượng (Hồn bướm mơ tiên; Nửa chừng xuân; Gánh hàng hoa) nhưng từ Nửa chừng xuân; Đoạn tuyệt; Lạnh lùng, vấn đề xung đột giữa tự do yêu đương, tự do kết hôn với lễ giáo gia đình nổi lên ngày càng gay gắt Một loạt các tác phẩm đã chĩa mũi nhọn đả kích vào lễ giáo và nếp sống gia đình phong kiến: Nửa chừng xuân; Đoạn tuyệt; Lạnh lùng; Thoát ly… đã lên tiếng đòi quyền có hạnh phúc riêng, đòi giải phóng phụ nữ ra khỏi sự ràng buộc của cảnh mẹ chồng nàng dâu, dì ghẻ con chồng
Xung đột mới - cũ: Trong xã hội phong kiến, cá nhân không có quyền sống riêng, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, nó phải tuân theo những nguyên tắc, những quy phạm nghiệt ngã Về kỉ cương xã hội thì “quân, sư, phụ”; về đạo lý làm người thì “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”; về tiêu chuẩn mĩ học thì “văn
dĩ tải đạo”, về ứng xử trong gia đình thì “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Đó là nguyên tắc “chết cứng” gông cùm bao thế hệ con người Việt Nam Cho đến khi làn gió Âu hoá thổi vào nước ta, làm sống dậy một lối sống mới của những cô gái tân thời ít nhiều biết chữ Tây như Loan, Mai, hiểu được sự trống rỗng của tư tưởng bảo thủ Vậy là cuộc xung đột mới - cũ nổ ra Đoạn tuyệt đánh dấu một cách rõ ràng thời kì thay đổi trong lịch sử của xã hội Việt Nam Nó công bố sự bất hợp thời của một nền luân lý
Trang 29khắc khổ, eo hẹp đã giết chết bao hi vọng, đè bẹp bao nhiêu lực lượng đáng
kể, giam hãm bao nhiêu chí khí bồng bột đương ao ước một cuộc sống mãnh liệt cường tráng Vì chế độ gia đình hiện thời chỉ là một chế độ nô lệ dưới lớp son lừa dối, bắt con người quẩn quanh với những bổn phận không đâu Trong khi thanh niên bấy giờ đã hấp thụ văn minh mới, đã tiêm nhiễm những tư tưởng trọng tự do cá nhân, không chịu nổi áp bức Họ can đảm đương đầu với kẻ thù, can đảm khinh xuất và chịu đựng gian lao trong khi đi tìm lý tưởng Cuối cùng cái mới đã chiến thắng
Xung đột cá nhân - gia đình: Chế độ đại gia đình là một chế độ eo hẹp
Nó đặt luân thường lên trên nhân đạo và không để cá nhân phát triển một cách đầy đủ Cá nhân là một thành viên của gia đình, chịu sự chi phối của gia đình nhưng để tới mức cá nhân “nổi loạn”, tung phá tức là có một cuộc xung đột âm ỉ đã và đang diễn ra
Như trên đã nói, tình yêu là một đề tài bất biến trong mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Ở đây ái tình đã bị hi sinh cho những thành kiến xã hội Hôn nhân vì thế đã mất đi ý nghĩa tự nhiên của nó Con trai và con gái không có quyền kén chọn người yêu để mưu cầu lấy hạnh phúc gia đình Dựng vợ gả chồng là do cha mẹ tìm chỗ môn đăng hộ đối Nửa chừng xuân ghi lại sự phấn đấu nhằm phá vỡ mối quan hệ giữa cá nhân và chế độ gia đình ấy Tác giả đã biện luận cho một quan niệm nhân sinh mới và công bố
sự bất hợp thời của những tập quán do nền luân lý cổ truyền tạo ra
2.2.2.2 Chủ đề nông thôn và vấn đề cải cách ở nông thôn
Trước thời kì Mặt trận Dân chủ, các nhà văn Tự lực văn đoàn rất ít viết
về nông thôn và nông dân nghèo Tuy hai tờ báo Phong hoá và Ngày nay qua những bức tranh biếm hoạ, những mẩu chuyện vụn vặt cũng làm cho người đọc biết một cách đại khái rằng nông thôn Việt Nam đói kém, nông dân bị hà hiếp, bắt nạt đủ đường Đến thời kì Mặt trận Dân chủ, khi vấn đề
Trang 30cải thiện đời sống nông dân trở thành một vấn đề cấp bách, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn không thể làm ngơ được
Ở tác phẩm Đoạn tuyệt, vấn đề cải cách xã hội, cải cách nông thôn của nhân vật Dũng cũng được đặt ra Dũng hoạt động cách mạng, ngày tết còn trở về nhà người bạn là chủ đồn điền để uống rượu và… nghĩ đến số phận dân đen Những giải pháp của tác giả để cứu vớt nông dân chẳng có gì triệt để: quan hệ bóc lột vẫn được duy trì, quyền sở hữu ruộng đất không được nói tới Điều quan trọng là họ phải làm cho nông dân có học thức, hiểu biết, không để họ sống “sống mãi trong cảnh đen tối vì không ai soi sáng họ, dạy
họ biết một cách sống khác”
Có thể nói cả Duy, Thơ, Dũng… đều là những “anh hùng chiến bại” trên con đường cải lương Tư sản Họ đóng vai những nhân cách cao thượng nghiêng mình xuống đám dân quê đói khổ, đáng thương Và dân quê hiện ra như một đám người ngờ nghệch, bản năng “như con lợn không có tư duy” Với nhãn quan Tư sản, các nhà văn không thấy được sức mạnh của phong trào quần chúng như những trận gió lớn nổi lên từ những năm 1930 - 1931 và đến năm 1945 đã biến thành cơn bão táp Cách mạng thay đổi hẳn một chế độ
xã hội Cho nên ở chủ đề này, tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn chưa giải quyết, lý giải một cách thoả đáng
2.2.3 Nhân vật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Nhân vật là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu…) cũng có thể không có tên riêng như (thằng bán tơ, một mụ nào trong truyện Kiều) Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người thật trong cuộc sống” [13 23]
Trang 31Khi khảo sát nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, ta thấy nhân vật lý tưởng của những tiểu thuyết này, dù họ có thay tên đổi họ từ truyện này sang truyện khác thì vẫn là những “chàng” và “nàng”: những trí thức Tây học trẻ tuổi xinh đẹp và đa tình thuộc tầng lớp trưởng giả Họ có tinh thần dân tộc dân chủ, tỏ ra biết thương xót người nghèo nhưng tư tưởng và sinh hoạt cách xa với đại đa số nhân dân lao động Nói chung là họ rất yêu đời và
dự Còn Loan - một cô gái đầy cá tính mang trong mình sự đau khổ thường trực vì rất nhiều lý do, cả đời này, cả tuổi yêu đương nàng chỉ đắm say Dũng
Cả hai người yêu nhau nhưng không đến được với nhau “nàng bị cha mẹ ép phải lấy Thân, một người bạn học của nàng, con một nhà giàu ở ấp Thái Hà Việc này nàng được cha mẹ nói từ hồi nàng mới để tóc”
Cũng như Loan; nhân vật Mai trong Nửa chừng xuân là một cô gái xinh đẹp, hấp thụ chữ Tây Mai có hoàn cảnh rất éo le, mồ côi cha mẹ sớm, mười tám tuổi phải làm phận sự của một người mẹ, chăm lo cho đứa em trai
ăn học nên người Hoàn cảnh gia đình khó khăn, có lúc Mai nghĩ đến chuyện bán nhà cửa ở quê để có tiền học cho em Và vô tình một lần gặp Lộc, chàng trai con cụ Án, người mà trước cụ Tú đã từng sống và dạy học ở gia đình này Lộc đã ở bên và giúp Mai vượt qua những tháng ngày, thời điểm khó khăn Tình yêu giữa hai người có nhiều điểm gặp gỡ và có cơ sở bền chặt,
Trang 32vừa là chỗ quen biết cũ, vừa nặng ân nghĩa lại đằm thắm trong tình yêu tự do Nhưng trong Mai lúc nào cũng gợi lên một mặc cảm đầy lo âu “tuy được hưởng hạnh phúc êm đềm của tình ái nồng thắm, song nàng vẫn thấp thỏm hình như tâm linh báo trước cho biết rằng không khỏi xảy ra việc trắc trở sau này” Quả thật, hạnh phúc của nàng thật mong manh và ngắn ngủi Bà Án không đồng ý cho Lộc lấy Mai vì không môn đăng hộ đối, bà nghĩ về Mai như một gái giang hồ Lộc đã phải nhờ một cụ già đóng giả là bà Án để chính thức việc hôn lễ cho hai người Biết rõ điều đó nhưng vì yêu Lộc, Mai vẫn chấp nhận và chung sống cùng Lộc Nhưng sau đó bức thư tình giả mạo kèm theo hai mươi đồng bạc mà bà Án sai người gửi đến cho Mai đã chấm dứt cuộc sống hạnh phúc của đôi lứa Lộc không có lòng tin ở Mai, ngược lại Mai không thể chịu đựng được sự nhục nhã mà người ta đã cố tình bày đặt để
vu oan cho mình Mai đã ra khỏi nhà trong lúc bụng mang dạ chửa và chật vật với nghề bán hàng rong để có tiền nuôi con và em ăn học Chính cảnh ngộ khó khăn mới thử thách được lương tâm và danh dự của con người Dù Lộc có hiểu lầm, bỏ rơi Mai trong hoàn cảnh điêu đứng nhưng lòng Mai vẫn không thôi nghĩ về Lộc Có thể nói Khái Hưng đã xây dựng nhân vật Mai thành một nhân vật lý tưởng Người con gái ấy thừa hưởg truyền thống giáo dục tốt đẹp của gia đình, đức hạnh của cha mẹ, để biết sống cuộc đời hi sinh cho người khác Mai là một nhân vật chịu nhiều đau khổ trong cuộc đời, nàng phải sống cuộc đời dở dang ở độ chừng xuân
2.2.3.2 Nhân vật nam là những chàng trai giàu hoài bão và mơ ước trong cuộc đời
Tiêu biểu cho tư tưởng nghệ thuật của Tự lực văn đoàn là các nhân vật trẻ hình thành một thế hệ mới giàu hoài bão và mơ ước, thiết tha đấu tranh cho quyền sống, quyền tự do cá nhân và một số người cũng mang trong mình một mầm bệnh của chủ nghĩa cá nhân chờ đợi cơ hội phát triển Tiêu biểu và
Trang 33hăng hái hơn cả là những thanh niên nuôi mộng ước và chí hướng làm việc lớn ngoài bổn phận với gia đình Nhân vật vừa có căn cứ hiện thực lại vừa lãng mạn, tự mình đã nâng tầm vóc lên qua những hành động tuy mơ hồ nhưng biết hướng về mục đích cao xa Các nhân vật như Dũng, Thái, Trúc (Đoạn tuyệt và Đôi bạn), một số nhân vật trong Tiêu sơn tráng sĩ đều mang phong cách của những kiểu người sống có chí hướng Nhà văn Bùi Hiển nhận xét: “Chúng ta đồng tình với ý kiến cho rằng những ý tưởng xã hội của Dũng có tính chất lãng mạn không tưởng, thậm chí đầy ảo tưởng, những suy nghĩ nhận định về đám dân quê phảng phất nhuốm màu xót thương cứu vớt Nhưng phải công nhận rằng hình tượng nhân vật Dũng vẫn là một tính cách mạnh mẽ và rõ nét về mặt thẩm mỹ Những trang miêu tả sự đau đớn dằn vặt của Dũng trước cảnh bất công xã hội, dằn vặt không phải vì Dũng là nạn nhân của sự bất công mà chính vì anh ý thức được rằng mình sống trong một gia đình phong lưu, quyền quý và toạ hưởng các thứ quyền lợi bổng lộc, xây dựng trên sự bất công ấy, sống như vậy là nhục nhã’’ [2.51]
Giữa không khí xã hội còn chạy đua theo cuộc sống ăn chơi xa hoa phù phiếm thì hình ảnh của các nhân vật trên có sức hấp dẫn của cái đẹp cao thượng Họ có sức lan toả và ảnh hưởng đến những người khác
2.2.3.3 Nhân vật nữ là những cô gái có sự kết hợp nét truyền thống với nét tân tiến của văn hoá mới
Những nhân vật nữ như Mai, Liên trong Nửa chừng xuân; Gánh hàng hoa là những hình ảnh đẹp của người phụ nữ Có những nét thuộc về truyền thống của người phụ nữ dân tộc: lòng tự trọng, tinh thần vị tha, nhân ái, ý thức chịu thương chịu khó vượt lên mọi khó khăn Những nhân vật nữ trong
Tự lực văn đoàn ở thời kì đầu còn mang những nét hiền thảo, đức hạnh Sau này chịu ảnh hưởng của đời sống đô thị, họ mau biến chất và những triết lý sống phức tạp đẩy con người vào vòng xoáy của những cuộc đua chen và lối
Trang 34sống gấp Bên cạnh các nhân vật lãng mạn như Lan trong Hồn bướm mơ tiên, hiền thảo như Mai, Liên trong Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa đã xuất hiện kiểu nhân vật như: Tuyết trong Đời mưa gió cô gái có cá tính mạnh và
có lối sống cá nhân cực đoan Lẽ ra với người con gái lớn lên phải coi tình yêu là trọng, một tình yêu nhằm xây dựng hạnh phúc cho đôi lứa và tổ ấm gia đình nhưng Tuyết lại quan niệm khác Lấy lạc thú làm mục đích, Tuyết như một cánh chim giang hồ phiêu bạt, gia đình chỉ là nơi cư trú tạm bợ Con người ấy không thể tự giam hãm và có chỗ đứng trong cuộc sống gia đình Tuyết quan niệm khác thường: “Em đã thề với em rằng bao giờ em cũng sẽ là của em từ thể phách cho chí tâm hồn Em không sao làm vợ nghĩa là làm vật
sở hữu của ai được’’ Kết quả là gieo hạt nào thì hái quả ấy, cuộc sống của Tuyết trôi chảy vô vị và ngày càng bị xa lánh, lãng quên và dẫn đến kết thúc thảm hại
Quan tâm đến cái đẹp trong cuộc sống và con người bao giờ cũng là yêu cầu của xã hội song cái đẹp phải được quan niệm theo chuẩn mực chung Chạy theo cái đẹp thuần tuý, cực đoan bất chấp tất cả là biểu hiện tiêu cực 2.2.4 Cảm hứng chủ đạo
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật gắn liền với một
tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm’’ [13 44] Bêlinxki - nhà lý luận người Nga coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành
Cảm hứng chủ đạo có liên quan chặt chẽ với một xu hướng thẩm mĩ, một khuynh hướng sáng tác Và chủ nghĩa lãng mạn là một khuynh hướng thẩm mĩ được giải phóng về tình cảm, trí tưởng tượng Nó dễ có cảm hứng