ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰThời gian: 75 phút.Chỉ được sử dụng Bộ luật tố tụng dân sự 2015I.Lý thuyết (6 điểm)Trả lời đúng hoặc sai, nêu căn cứ pháp lý và giải thích các nhận định sau:1.Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và có mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh, thương mại.Nhận định SAICác tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và có mục đích lợi nhuận mới là tranh chấp kinh doanh, thương mại. Còn các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức không có đăng ký kinh doanh với nhau thì dù có mục đích lợi nhuận vẫn là tranh chấp dân sự.CSPL: Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 20152.Nếu đương sự trong vụ án là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.Nhận định SAI (còn xét đến loại tranh chấp nữa).Nếu đương sự trong vụ án là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ngoài ra, cần xét đến loại tranh chấp, có một số tranh chấp chỉ có Tòa cấp tỉnh có thẩm quyền như tranh chấp dân sự quy định tại Khoản 7 Điều 26, tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 30 BLTTDS… thì TAND cấp huyện không thể có thẩm quyền.CSPL: Điều 35, Điều 37 BLTTDS 2015.3.Khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết thì phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự.Nhận định SAITheo quy định tại Điều 184 BLTTDS 2015 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên. Ngoài ra, Điều 192 BLTTDS 2015 quy định về việc trả lại đơn khởi kiện cũng không quy định trường hợp trả lại đơn khởi kiện do Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết nên khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết thì cũng không được trả lại đơn khởi kiện cho đương sự.CSPL: Điều 184 BLTTDS 2015, Điều 192 BLTTDS 20154.Đối với các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự không tự mình kháng cáo, thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình thực hiện việc kháng cáo.Nhận định SAIĐối với các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự mình kháng cáo, người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự mới là chủ thể tự mình làm đơn kháng cáo hoặc ủy quyền cho người khác đại diện cho mình thực hiện việc kháng cáo.CSPL: Khoản 5 Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 20155.Viện kiểm sát có quyền thu thập chứng cứ bằng việc yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức đang giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho Viện Kiểm sát.Nhận định SAIViện Kiểm sát không có quyền thu thập chứng cứ bằng việc yêu cầu đương sự đang giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho Viện Kiểm sát. Theo quy định về nghĩa vụ chứng minh tại Điều 91 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án chứ không có quy định giao nộp cho Viện Kiểm sát. Viện Kiểm sát chỉ có quyền yêu cầu có yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.CSPL: khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 20156.Trong trường hợp tại phiên tòa đương sự có yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải, thì Tòa án không chấp nhận, nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.Nhận định ĐÚNGTheo quy định về các trường hợp hoãn phiên tòa tại khoản 1 Điều 233 BLTTDS 2015 không có trường hợp hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải, do đó tại phiên tòa đương sự có yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận.Tuy nhiên, theo nguyên tắc cơ bản của BLTTDS 2015, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự nên Tòa án sẽ tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.CSPL: khoản 1 Điều 233, Điều 10 BLTTDS 2015.II.Bài tập (4 điểm)Năm 2016, anh A khởi kiện anh B ra Tòa án quận X thành phố H yêu cầu Tòa án buộc anh B trả số nợ đã vay là 1 tỷ đồng (hợp đồng được xác lập bằng văn bản). Tại Tòa án quận X, anh B cũng có đơn yêu cầu anh A trả cho mình số tiền anh A đã vay là 500 triệu đồng (có văn bản vay tiền). Tòa án quận X đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của anh A và anh B trong cùng một vụ án.Sau khi hòa giải và trước khi xét xử sơ thẩm, anh A có đơn rút toàn bộ yêu cầu việc kiện và được Tòa án quận X chấp nhận. Anh B vẫn giữ nguyên yêu cầu. Tòa án quận X đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A đã rút và tiếp tục giải quyết vụ án với sự thay đổi địa vị tố tụng: anh B là nguyên đơn, anh A là bị đơn.Theo anh, chị, Tòa án quận X đã đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A đã rút như vậy là đúng hay sai? Tại sao?Lời giải tham khảo:Các tư cách đương sự trong vụ án:Nguyên đơn: anh A là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.Bị đơn: anh B là người bị anh A khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của anh A bị anh B xâm phạm.CSPL: Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015.Yêu cầu anh A trả cho anh B số tiền anh A đã vay là 500 triệu đồng là yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015.Trường hợp này nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và trong vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố và không rút yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn.Như vậy, việc Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A đã rút là SAI.CSPL: khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015.ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰThời gian làm bài: 90 phút.Lớp: CLC 39DSinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luậtINhận địnhTrả lời đúng, sai (kèm theo giải thích, nêu rõ cơ sở pháp lý) các nhận định sau đây:1.Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm.Nhận định SAINgoài trường hợp trên, cơ quan, tổ chức do BLTTDS 2015 quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.Ví dụ: Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nguyên đơn trong vụ án dân sự.CSPL: Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 20152.Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có thể thỏa thuận những vấn đề ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị.Nhận định SAITheo quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Do đó, đương sự không thể thỏa thuận những vấn đề ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị vì nằm ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm.Những vấn đề đã được xem xét trong bản án sơ thẩm nhưng nằm ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực để từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án chưa có hiệu lực pháp luật, không có thẩm quyền xem xét phần bản án đã có hiệu lực pháp luật. CSPL: Khoản 2 Điều 282, Điều 293 BLTTDS 2015.3.Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.Nhận định ĐÚNGChánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.CSPL: khoản 1 Điều 354 BLTTDS 20154.Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự và Tòa án.Nhận định SAITrong quá trình giải quyết vụ án dân sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án không có nghĩa vụ phải chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.CSPL: Khoản 4 Điều 91 BLTTDS 2015.IILý thuyếtAnh, chị hãy phân tích nội dung của nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và cho biết nguyên tắc này được cụ thể hóa tại các Điều luật nào?Nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử được quy định tại Điều 24 BLTTDS 2015. Khoản 1 Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này”. Trước đó, BLTTDS năm 2011 chỉ quy định chung là “Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.”Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã quy định bổ sung mới khoản 2, 3 quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như việc xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ.Quy định trên và các quy định khác có liên quan đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tranh tụng được bảo đảm như:Thứ nhất, về thời điểm và các giai đoạn tranh tụng của các đương sự được thực hiện từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án; đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.Thứ hai, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự.Thứ ba, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này. Tuy nhiên đương sự cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật này, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật.Thứ tư, việc xem xét chứng cứ và quyền được tiếp cận chứng cứ của đương sự. Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai). Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai).Như vậy, có thể thấy BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.IIIBài tậpCâu 1: Ông Điệp và bà Lan (cùng cư trú tại Quận 1, TP. HCM) là chủ sở hữu của căn nhà tại địa chỉ số 02 NTT Quận 4, TP. HCM. Năm 2000, ông Điệp và bà Lan xuất ngoại nên có nhờ ông Tuấn và bà Bích (cư trú tại Quận 7, TP. HCM) trông coi căn nhà số 02 NTT, Quận 4, Tp.HCM. Năm 2015, ông Điệp và bà Lan trở về nước sinh sống và yêu cầu ông Tuấn, bà Bích trả lại căn nhà cho ông bà. Ông Tuấn và bà Bích không đồng ý vì trong thời gian ông Điệp và bà Lan ở nước ngoài ông Tuấn và bà Bích đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà nêu trên và gia đình ông bà (gồm có ông bà và hai người con là anh Trung và chị Thủy) đã sinh sống ổn định trong căn nhà này. Năm 2017, ông Điệp và bà Lan đã khởi kiện yêu cầu ông Tuấn và bà Bích phải trả lại căn nhà nêu trên.1.Xác định tư cách đương sựNguyên đơn: ông Điệp và bà Lan là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà bị xâm phạm.Bị đơn: ông Tuấn, bà Bích là người bị bà Gấm khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ông Điệp và bà Lan bị họ xâm phạm.CSPL: Khoản 2, Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.2.Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.Đây là tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai quy định tại Khoản 9 Điều 26 BLTTDS, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.Đối tượng tranh chấp là bất động sản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ơi có bất động sản. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Quận 4, TP. HCM.CSPL: Khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015Câu 2: Trong quá trình hoạt động kinh doanh, công ty cổ phần Hòn Tằm Biển Nha Trang (Công ty Hòn Tằm) nợ bảo hiểm xã hội tỉnh Khánh Hòa (BHXH) số tiền là 3.241.191.862 đồng; trong đó tiền bảo hiểm xã hội là 2.293.861.745 đồng, tiền bảo hiểm y tế 27.017.235 đồng, tiền bảo hiểm thất nghiệp 11.568.320 đồng và tiền lãi chậm trả 908.744.562 đồng. Do đó, BHXH đã khởi kiện công ty Hòn Tằm yêu cầu trả các khoản tiền nêu trên. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các bên đã thỏa thuận công ty Hòn Tằm sẽ trả cho BHXH số tiền nêu trên trong hai lần (năm 2017 trả 1.500.000.000 đồng và năm 2018 trả 1.741.191.862 đồng). Hai bên cũng thỏa thuận công ty Hòn Tằm sẽ trả toàn bộ án phí cho Tòa án. Từ đó, Tòa án đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung như trên. Anh (chị) hãy nhận xét về quyết định của Tòa án.ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰThời gian làm bài: 75 phút.Lớp: CLC 39ASinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luậtI.LÝ THUYẾT (6 điểm)Trả lời các câu nhận định, giải thích tại sao và trả lời câu hỏi sau:1.Đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án.Nhận định SAITrường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý thì các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.CSPL: Điểm b khoản 1 Điều 299 BLTTDS 20152.Người biết được các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án là người làm chứng.Nhận định SAINgười biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc và phải được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng thì mới là người làm chứng.Ngoài ra, người biết được các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án nhưng là người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.CSPL: Điều 77 BLTTDS 20153.Nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” được thể hiện như thế nào trong quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 cũng quy định: “2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng. Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định”.Như vậy, với quy định của BLTTDS 2015 thì không phải mọi khởi kiện, mọi yêu cầu nào Tòa án cũng thụ lý giải quyết, bộ luật này đã giới hạn vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng mà Tòa án thụ lý giải quyết là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.Đồng thời, BLTTDS 2015 cũng quy định thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng tại Mục 3 Chương III gồm 3 điều (từ Điều 43 đến Điều 45). Theo đó:Thẩm quyền của Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của BLTTDS 2015.Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng theo thủ tục chung.Khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Tòa án căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết.Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được quy định tại Điều 45 BLTTDS 2015. Theo Điều 45 BLTTDS 2015, việc áp dụng các căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thực hiện theo thứ tự sau: (1) Áp dụng tập quán; (2) Áp dụng tương tự pháp luật; (3) Áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng.4.So sánh thủ tục rút gọn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thủ tục thông thường xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.•Giống nhau: giải quyết vụ án dân sự đảm bảo đúng pháp luậtII.BÀI TẬP (4 điểm)Do vợ chồng bà Khiêm mượn đất quá lâu không trả, bà Hiền khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà Khiêm trả 02 thửa đất số 671 diện tích 720 m2 và thửa số 993 diện tích 2.990 m2, loại đất nông nghiệp, cùng thuộc tờ bản đồ số 6 tại huyện Củ Chi, TP.HCM mà bà Hiền đã được Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24061991.a.Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên, biết rằng bà Hiền cư trú tại quận 12, TP.HCM, vợ chồng bà Khiêm cư trú tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về giao dịch dân sự (cho mượn đất) theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015.Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú là TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.b.Trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, bà Khiêm sang Nhật Bản chữa bệnh. Nêu hướng giải quyết của Tòa án trong trường hợp này.Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 471 BLTTDS 2015.Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 032012NQHĐTP thì đối với vụ án dân sự được Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền (tại thời điểm thụ lý không có đương sự ở nước ngoài), nếu trong quá trình giải quyết mới có sự thay đổi, như có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì theo quy định Tòa án nhân dân cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự đó.CSPL: điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 032012NQHĐTP.
Trang 1ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Thời gian: 75 phút
Chỉ được sử dụng Bộ luật tố tụng dân sự 2015
I Lý thuyết (6 điểm)
Trả lời đúng hoặc sai, nêu căn cứ pháp lý và giải thích các nhận định sau:
1 Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và có mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Nhận định SAI
Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và có mục đích lợi nhuận mới là tranh chấp kinh doanh, thương mại Còn các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức không có đăng ký kinh doanh với nhau thì dù có mục đích lợi nhuận vẫn là tranh chấp dân sự
CSPL: Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
2 Nếu đương sự trong vụ án là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Nhận định SAI (còn xét đến loại tranh chấp nữa)
Nếu đương sự trong vụ án là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
Ngoài ra, cần xét đến loại tranh chấp, có một số tranh chấp chỉ có Tòa cấp tỉnh
có thẩm quyền như tranh chấp dân sự quy định tại Khoản 7 Điều 26, tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 30 BLTTDS… thì TAND cấp huyện không thể có thẩm quyền
CSPL: Điều 35, Điều 37 BLTTDS 2015
3 Khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết thì phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự.
Nhận định SAI
Theo quy định tại Điều 184 BLTTDS 2015 Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên Ngoài ra, Điều
192 BLTTDS 2015 quy định về việc trả lại đơn khởi kiện cũng không quy định trường hợp trả lại đơn khởi kiện do Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết nên khi nhận đơn khởi kiện Tòa án phát hiện thời hiệu khởi kiện đã hết thì cũng không được trả lại đơn khởi kiện cho đương sự
CSPL: Điều 184 BLTTDS 2015, Điều 192 BLTTDS 2015
Trang 24 Đối với các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự không tự mình kháng cáo, thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình thực hiện việc kháng cáo.
Nhận định SAI
Đối với các bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự mình kháng cáo, người đại diện theo pháp luật của đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự mới là chủ thể tự mình làm đơn kháng cáo hoặc ủy quyền cho người khác đại diện cho mình thực hiện việc kháng cáo
CSPL: Khoản 5 Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
5 Viện kiểm sát có quyền thu thập chứng cứ bằng việc yêu cầu đương sự, cá nhân,
cơ quan, tổ chức đang giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho Viện Kiểm sát.
Nhận định SAI
Viện Kiểm sát không có quyền thu thập chứng cứ bằng việc yêu cầu đương sự đang giữ chứng cứ cung cấp chứng cứ cho Viện Kiểm sát Theo quy định về nghĩa vụ chứng minh tại Điều 91 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa
án chứ không có quy định giao nộp cho Viện Kiểm sát
Viện Kiểm sát chỉ có quyền yêu cầu có yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
CSPL: khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
6 Trong trường hợp tại phiên tòa đương sự có yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải, thì Tòa án không chấp nhận, nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nhận định ĐÚNG
Theo quy định về các trường hợp hoãn phiên tòa tại khoản 1 Điều 233 BLTTDS 2015 không có trường hợp hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải, do đó tại phiên tòa đương sự có yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận
Tuy nhiên, theo nguyên tắc cơ bản của BLTTDS 2015, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự nên Tòa án sẽ tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án
CSPL: khoản 1 Điều 233, Điều 10 BLTTDS 2015
II Bài tập (4 điểm)
Năm 2016, anh A khởi kiện anh B ra Tòa án quận X thành phố H yêu cầu Tòa án buộc anh B trả số nợ đã vay là 1 tỷ đồng (hợp đồng được xác lập bằng văn bản) Tại Tòa
án quận X, anh B cũng có đơn yêu cầu anh A trả cho mình số tiền anh A đã vay là 500 triệu đồng (có văn bản vay tiền) Tòa án quận X đã thụ lý và giải quyết yêu cầu của anh
A và anh B trong cùng một vụ án
Trang 3Sau khi hòa giải và trước khi xét xử sơ thẩm, anh A có đơn rút toàn bộ yêu cầu việc kiện và được Tòa án quận X chấp nhận Anh B vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án quận X
đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A đã rút và tiếp tục giải quyết vụ án với sự thay đổi địa vị tố tụng: anh B là nguyên đơn, anh A là bị đơn
Theo anh, chị, Tòa án quận X đã đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A
đã rút như vậy là đúng hay sai? Tại sao?
Lời giải tham khảo:
Các tư cách đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn: anh A - là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm
Bị đơn: anh B - là người bị anh A khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của anh A bị anh B xâm phạm
CSPL: Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015
Yêu cầu anh A trả cho anh B số tiền anh A đã vay là 500 triệu đồng là yêu cầu phản
tố của bị đơn theo quy định tại Điều 200 BLTTDS 2015
Trường hợp này nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và trong vụ án bị đơn có yêu cầu phản tố và không rút yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn
Như vậy, việc Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của anh A
đã rút là SAI
CSPL: khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015
Trang 4ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Thời gian: 75 phút
Lớp: Dân sự K39
Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật
I Lý thuyết
Trả lời đúng, sai (kèm theo giải thích, nêu rõ cơ sở pháp lý) các nhận định sau đây:
1 Nguyên đơn phải gửi bản sao đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Nhận định SAI
Nguyên đơn phải gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho đương
sự khác trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải TRỪ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có; tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS 2015
Đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTHS hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì chỉ phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác
CSPL: Khoản 9 Điều 70, khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015
2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại do yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng phải được giải quyết chung trong vụ án dân sự mà Tòa án đang giải quyết.
Nhận định SAI
Việc giải quyết bồi thường thiệt hại do yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng được tiến hành trong cùng vụ án dân sự Trường hợp đương
sự yêu cầu giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại này mà chưa có điều kiện chứng minh thì yêu cầu bồi thường đó có thể tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác
CSPL: Khoản 1 Điều 113 BLTTDS 2015
3 Hòa giải không phải là hoạt động bắt buộc khi Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn.
Nhận định SAI
BLTTDS 2015 tại Điều 10 quy định nguyên tắc “Hòa giải trong tố tụng dân sự” Theo đó, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải, không phân biệt là theo thủ tục thông thường hay thủ tục rút gọn Đối với thủ tục rút gọn, sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giả trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của BLTTDS Những trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được chỉ là ngoại lệ còn theo nguyên tắc hòa giải vẫn là thủ tục bắt buộc khi Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn
Trang 5CSPL: Điều 10, khoản 3 Điều 320 BLTTDS 2015.
4 Tòa án có thể chuyển vụ án đang giải quyết theo thủ tục thông thường sang giải quyết theo thủ tục rút gọn khi có đủ điều kiện.
Nhận định SAI
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
“b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này”;
Tại thời điểm này nếu vụ án đc thụ lý theo thủ tục thông thường thì tức là không đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn Sau đó, dù đủ điều kiện thì Tòa án cũng không thể chuyển vụ án đang giải quyết theo thủ tục thông thường sang giải quyết theo thủ tục rút gọn vì BLTTDS 2015 không quy định trường hợp này
CSPL: Điểm b khoản 3 Điều 191 BLTTDS 2015
5 Đương sự có thể ủy quyền cho nhiều người đại diện tham gia tố tụng với cùng một phạm vi ủy quyền.
Nhận định ĐÚNG
BLTTDS 2015 quy định người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự Bộ luật dân sự
2015 không cấm một người ủy quyền cho nhiều người cùng làm một việc (cùng phạm vi ủy quyền)
Như vậy, Đương sự có thể ủy quyền cho nhiều người đại diện tham gia tố tụng với cùng một phạm vi ủy quyền
CSPL: Khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015
6 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngang quyền trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự.
Nhận định SAI
Hội thẩm nhân dân chỉ ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn
đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Trong quá trình giải quyết vụ án dân
sự, BLTTDS 2015 quy định cho thẩm phán nhiều quyền mà Hội thẩm không có như: Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết…
CSPL: Khoản 2 Điều 11, khoản 4 Điều 49, Điều 48, Điều 49 BLTTDS 2015
II Bài tập
Tháng 7 năm 2016, bà Nguyễn Thị Gấm (chồng là ông Võ Minh Đám, chết năm 1994) khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn Bân (vợ là bà Nguyễn Hồng Thu), ông Nguyễn Văn Hạnh (vợ là bà Huỳnh Thị Nổ) (cùng cư trú tại địa chỉ: ấp Xóm Bưng,
xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh) phải giao cho bà phần diện tích đất 15.246,9 m2 thuộc một thửa 82, một phần thửa 50 và một phần đường đi, tờ
Trang 6bản đồ số 21 bộ địa chính xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (tài liệu đo năm 2004) theo hợp đồng mua bán đất ngày 15/2/2016 Bà Gấm đã ủy quyền cho con là ông Võ Minh Thái được toàn quyền thay mặt tham gia tố tụng trong
vụ án trên
Câu hỏi:
1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều
26 BLTTDS 2015: yêu cầu thực hiện hợp đồng
Tư cách đương sự:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Gấm - là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của bà bị xâm phạm
Bị đơn: ông Trương Văn Bân, bà Nguyễn Hồng Thu, ông Nguyễn Văn Hạnh, là bà Huỳnh Thị Nổ - là người bị bà Gấm khởi kiện để yêu cầu Tòa
án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của bà Gấm bị họ xâm phạm
CSPL: Khoản 2, Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015
2 Giả sử ngày 14/8/2016, Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc trên giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Ngày 20/8/2016 bà Gấm có đơn yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Tòa án không chấp nhận với lý do yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải được đưa ra trước khi mở phiên họp kiểm tra việc trên giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Anh (chị) hãy nhận xét về hoạt động tố tụng trên của Tòa án.
Hoạt động tố tụng trên của Tòa án là sai
Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 3 Điều
200, khoản 2 Điều 210, Điều 243 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì:
Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu
Như vậy, Tòa án không chấp nhận với lý do yêu cầu sửa đổi, bổ sung phải được đưa ra trước khi mở phiên họp kiểm tra việc trên giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là sai Nếu bà Gấm sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện sau khi mở phiên họp kiểm tra việc trên giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng yêu cầu của bà không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu thì Tòa
án phải chấp nhận
3 Giả sử ngày 14/3/2017, bà Gấm chết do tuổi già Tuy nhiên, do bà Gấm đã ủy quyền cho ông Thái nên ngày 20/3/2017, Tòa án sơ thẩm mở phiên tòa xét xử
Trang 7chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngày 25/3/2017, các bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ vụ án Anh (chị) hãy cho biết hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với vụ án nêu trên.
Tòa án phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm vì có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự: Xác định sai tư cách tố tụng trong vụ án, Tòa án sơ thẩm xác định ông Thái vẫn là người đại diện theo ủy quyền là SAI
CSPL: Điều 310 BLTTDS 2015
Theo khoản 1 Điều 138 BLDS 2015, quan hệ đại diện giữa bà Gấm và ông Thái là quan hệ đại diện theo ủy quyền hợp pháp Căn cứ theo điểm đ khoản 3 Điều 140 BLDS 2015, bà Gấm chết đồng nghĩa với việc đã chấm dứt quan hệ đại diện mà hướng giải quyết của tòa án vẫn xác định ông Thái là đại diện hợp pháp của bà Gấm là trái với quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 140 BLDS Trong trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền này thì người thừa kế của bà Gấm trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do BLTTDS quy định Ông Thái không còn là người đại diện của bà Gấm
Trang 8ĐỀ THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Thời gian làm bài: 90 phút
Lớp: CLC 39D
Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật
I- Nhận định
Trả lời đúng, sai (kèm theo giải thích, nêu rõ cơ sở pháp lý) các nhận định sau đây:
1 Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm.
Nhận định SAI
Ngoài trường hợp trên, cơ quan, tổ chức do BLTTDS 2015 quy định khởi kiện
vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
Ví dụ: Hội bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nguyên đơn trong vụ án dân sự
CSPL: Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015
2 Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có thể thỏa thuận những vấn đề ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị.
Nhận định SAI
Theo quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Do
đó, đương sự không thể thỏa thuận những vấn đề ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị vì nằm ngoài phạm vi xét xử phúc thẩm
Những vấn đề đã được xem xét trong bản án sơ thẩm nhưng nằm ngoài phạm
vi kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực để từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án chưa có hiệu lực pháp luật, không có thẩm quyền xem xét phần bản án đã có hiệu lực pháp luật
CSPL: Khoản 2 Điều 282, Điều 293 BLTTDS 2015
3 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Nhận định ĐÚNG
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
CSPL: khoản 1 Điều 354 BLTTDS 2015
Trang 94 Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự và Tòa án.
Nhận định SAI
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án không có nghĩa vụ phải chứng minh Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được
có trong hồ sơ vụ việc
CSPL: Khoản 4 Điều 91 BLTTDS 2015
II- Lý thuyết
Anh, chị hãy phân tích nội dung của nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và cho biết nguyên tắc này được cụ thể hóa tại các Điều luật nào?
Nguyên tắc Bảo đảm tranh tụng trong xét xử được quy định tại Điều 24 BLTTDS
2015 Khoản 1 Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định “Tòa án có trách
nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này” Trước đó, BLTTDS năm 2011 chỉ quy định chung là
“Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.”
Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã quy định bổ sung mới khoản 2, 3 quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như việc xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ
Quy định trên và các quy định khác có liên quan đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tranh tụng được bảo đảm như:
Thứ nhất, về thời điểm và các giai đoạn tranh tụng của các đương sự được thực hiện
từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án; đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Thứ hai, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự tài liệu, chứng cứ
mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự
Thứ ba, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền
thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ
Trang 10yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này Tuy nhiên đương sự cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật này, nếu không thực hiện các nghĩa vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật
Thứ tư, việc xem xét chứng cứ và quyền được tiếp cận chứng cứ của đương sự.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên Tòa các chứng cứ của vụ án phải được công khai trừ trường hợp không được công khai quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật tố tụng dân
sự Các đương sự đều có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai) Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai)
Như vậy, có thể thấy BLTTDS năm 2015 sửa đổi, bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân
III- Bài tập
Câu 1: Ông Điệp và bà Lan (cùng cư trú tại Quận 1, TP HCM) là chủ sở hữu của
căn nhà tại địa chỉ số 02 NTT Quận 4, TP HCM Năm 2000, ông Điệp và bà Lan xuất ngoại nên có nhờ ông Tuấn và bà Bích (cư trú tại Quận 7, TP HCM) trông coi căn nhà
số 02 NTT, Quận 4, Tp.HCM Năm 2015, ông Điệp và bà Lan trở về nước sinh sống và yêu cầu ông Tuấn, bà Bích trả lại căn nhà cho ông bà Ông Tuấn và bà Bích không đồng
ý vì trong thời gian ông Điệp và bà Lan ở nước ngoài ông Tuấn và bà Bích đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà nêu trên và gia đình ông bà (gồm có ông bà và hai người con là anh Trung và chị Thủy) đã sinh sống ổn định trong căn nhà này Năm 2017, ông Điệp và bà Lan đã khởi kiện yêu cầu ông Tuấn
và bà Bích phải trả lại căn nhà nêu trên
1 Xác định tư cách đương sự
Nguyên đơn: ông Điệp và bà Lan - là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà bị xâm phạm
Bị đơn: ông Tuấn, bà Bích - là người bị bà Gấm khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của ông Điệp và bà Lan bị
họ xâm phạm
CSPL: Khoản 2, Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015
2 Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.
Đây là tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai quy định tại Khoản 9 Điều 26 BLTTDS, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện
Đối tượng tranh chấp là bất động sản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án ơi có bất động sản Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án
có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Quận 4, TP HCM