1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của việc chính phủ phê duyệt chủ trương cho phép phá sản các TCTD được kiểm soát đặc biệt tại việt nam

12 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 122,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TIỂU LUẬN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG Đề tài: Tác động của việc chính phủ phê duyệt chủ trương cho phép phá sản các TCTD được kiểm soát đặc biệt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TIỂU LUẬN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG

Đề tài: Tác động của việc chính phủ phê duyệt chủ trương cho phép phá sản các TCTD được kiểm

soát đặc biệt tại Việt Nam

Sinh viên thực hiện:

Người hướng dẫn: Ts Nguyễn Thị Thu Thủy

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1 Lời mở đầu 2

PHẦN 2 Nội dung 3

1 Tổng quát về việc các ngân hàng phá sản 3

1.1 Giới thiệu chung 3

1.2 Các tổ chức tín dụng thuộc diện kiểm soát đặc biệt 3

1.3 Việc phá sản các Ngân hàng 3

2 Vấn đề phá sản ngân hàng trên thế giới và tình hình thực tiễn ở Việt Nam: 4 2.1 Vấn đề phá sản ngân hàng trên thế giới: 4

2.2 Vấn đề phá sản ở Việt Nam, nên hay không? 5

3 Việc thông qua dự luật cho phép phá sản ngân hàng tổ chức tín dụng yếu kém có tác động như thế nào đến thị trường việt nam 6

3.1 Thêm các quy định giúp cho ngân hàng không rơi vào tình trạng phá sản 6 3.2 Phá sản ngân hàng: phương án cuối cùng 7

3.3 Cần phải nâng mức bảo hiểm tiền gửi 7

PHẦN 3 Kết luận 9

Trang 3

PHẦN 1 Lời mở đầu

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một mãnh liệt Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó Để bắt kịp xu hướng hiện đại, Việt Nam đang học tập rât nhiều ở các cường quốc khác Và một trong những cách giúp nền kinh tê trở nên vững mạnh là bổ sung các điều luật liên quan đến tài chinh kinh

tế Do vậy, gần đây, Chính phủ và Quốc hội vừa thông qua luật các tổ chức tín dụng bổ sung trong đó có nêu ra việc cho phá sản các tổ chức tín dụng yếu kém Việc ban hành quy định này gây ra không ít tranh cãi nhưng cũng không ít ý kiền tán thành Cho phép phá sản tổ chức tín dụng yếu kém có thể gây ra nhiều

hệ lụy nghiêm trọng cho nền kinh tế như đổ vỡ hệ thống tín dụng, gây mất niềm tin ở nhân dân cũng như khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, nếu biết xử lý một cách khéo léo thì sẽ làm lành mạnh nền kinh tế Đây là một vấn đề gây đau đầu không chỉ với Chính phủ, Ngân hàng nhà nước mà còn với cả các tổ chức tín dụng

Chính vì lý do đó mà nhóm xin chọn đề tài “Tác động của việc chính phủ phê duyệt chủ trương cho phép phá sản các TCTD được kiểm soát đặc biệt tại Việt Nam” để nghiên cứu làm rõ chủ trương này của Nhà nước Việt Nam

Trang 4

PHẦN 2 Nội dung

1 Tổng quát về việc các ngân hàng phá sản

1.1 Giới thiệu chung

Tại Việt Nam vào cuối năm 2017, Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật, và vào ngày 15/01/2018, đã chính thức phê duyệt cho phép các ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt phá sản Cụ thể, tại Khoản 35, Điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, đã bổ sung phương án phá sản cho các tổ chức tín dụng thuộc diện kiểm soát đặc biệt Quốc hội cũng thống nhất, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Chính phủ quyết định chủ trương phá sản các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, Ban kiểm soát đặc biệt sẽ có trách nhiệm phối hợp với

tổ chức tín dụng, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam xây dựng phương án phá sản và trình Ngân hàng Nhà nước phê duyệt

1.2 Các tổ chức tín dụng thuộc diện kiểm soát đặc biệt

“Kiểm soát đặc biệt” là việc các tổ chức tín dụng, hay ngân hàng, chịu sự quản lí trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước Do đó, các thành viên hội đồng quản trị, các thành viên ban giám đốc đều chịu sự quản lí của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng cũng không được tự quyết định phạm vi hoạt động hay sử dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán Bên cạnh đó, các cổ đông cũng mất đi quyền chuyển nhượng hay sử dụng cổ phần, phần góp vốn làm tài sản đảm bảo

Các tổ chức tín dụng được xem xét đưa vào diện kiểm soát đặc biệt là những tổ chức tín dụng gặp phải các trường hợp sau:

Mất, có nguy cơ mất khả năng chi trả và khả năng thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

Số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ

dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;

Hai năm liên tục bị xếp hạng yếu kém theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn quy định tại trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn 4% trong thời hạn 06 tháng liên tục

Trang 5

Hơn nữa, các tổ chức tín dụng nếu lâm vào các tình huống trên phải có báo cáo kịp thời trình Ngân hàng Nhà nước để xem xét, đề ra phương án giải quyết

1.3 Việc phá sản các Ngân hàng

Khi tổ chức tín dụng, hay ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi mà vẫn chưa khắc phục được tình trạng xấu, hoặc Ngân hàng Nhà nước xét thấy ngân hàng không có khả năng phục hồi, thì Ngân hàng Nhà nước sẽ quyết định hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương phá sản ngân hàng đó Tuy nhiên, phá sản chỉ nên xem là biện pháp cuối cùng, khi những phương án khác như phục hồi, chuyển giao, giải thể, không thực hiện được

Phương án phá sản sẽ bao gồm các nội dung tối thiểu sau đây:

Đánh giá thực trạng và quá trình xử lý ngân hàng được kiểm soát đặc biệt được quyết định chủ trương phá sản;

Đánh giá tác động của việc thực hiện phương án phá sản ngân hàng được kiểm soát đặc biệt đối với sự an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng;

Phương án chi trả tiền gửi của khách hàng là cá nhân;

Lộ trình thực hiện và trách nhiệm triển khai phương án phá sản

Đối với việc tổ chức phá sản, Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các nội dung tại phương án phá sản đã được phê duyệt, bao gồm cả việc yêu cầu ngân hàng được kiểm soát đặc biệt nộp đơn yêu cầu Tòa án chấp nhận thủ tục phá sản theo quy định của luật pháp về phá sản Trong những trường hợp đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ quyết định việc sửa đổi, bổ sung phương án phá sản cho ngân hàng đó

Cần lưu ý răng, Khoản vay đặc biệt được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác, kể cả các khoản nợ có tài sản bảo đảm của ngân hàng

Trang 6

2 Vấn đề phá sản ngân hàng trên thế giới và tình hình thực tiễn ở Việt Nam:

2.1 Vấn đề phá sản ngân hàng trên thế giới:

Lật lại lịch sử ngành ngân hàng thế giới cho thấy có nhiều tên tuổi ngân hàng rất lớn, thậm chí có những tên tuổi tưởng chừng lớn đến mức không thể bị hủy diệt, nhưng cuối cùng cũng bị xóa tên Có thể kể đến đế chế tài chính 158 năm tuổi và đứng thứ 4 ở Mỹ là Lehman Brothers và ngân hàng lớn thứ 6 của

Mỹ Washington Mutual hồi năm 2008 với cùng nguyên nhân từ thị trường tín dụng và bất động sản

Hồi những năm 90 của thế kỷ trước cũng có vài cái tên ngân hàng lớn ra

đi như năm 1991 có Bank of Credit and Commerce International Với tài sản vượt quá 20 tỷ USD thời điểm ấy, hoạt động trải dài trên 78 quốc gia với 400 chi nhánh, Bank of Credit and Commerce đã trở thành một trong những vụ sụp đổ

có phạm vi rộng nhất Hay Baring Bank từng là ngân hàng thương mại lâu đời, thành lập vào năm 1762, và có uy tín nhất London, là ngân hàng cá nhân của Nữ Hoàng và đã từng tài trợ cho cuộc chiến của Napoleon vào thế kỷ 19, nhưng đã phải giải thể vào năm 1995 với nguồn cơn từ việc một trong những nhân viên của ngân hàng gây nên khoản lỗ tới 827 triệu bảng, tương đương 1,4 tỷ USD, do đầu cơ vào các hợp đồng tương lai Thay vì công khai sai lầm của mình, nhân viên ngân hàng kia lại che giấu mọi thứ bằng một serie các bản báo cáo kế toán phức tạp, với hy vọng kéo dài thời gian chờ thị trường hồi phục nhưng mọi việc

đi theo hướng ngược lại thông tin này sau khi được công bố đã đặt dấu chấm hết cho ngân hàng thương mại lâu đời và uy tín nhất London

2.2 Vấn đề phá sản ở Việt Nam, nên hay không?

a Tại sao trước đây Việt Nam chưa cho phép phá sản ngân hàng?

Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng vẫn được xem là an toàn nhất Người gửi tiền vào ngân hàng rất an tâm vì ngân hàng không thể đổ vỡ Ngay cả các trường hợp gần đây là OceanBank, GPBank và VNCB do thua lỗ nặng nề đến mức âm vốn điều lệ nhiều lần song cũng không bị phá sản mà được NHNN mua lại bắt buộc toàn bộ cổ phần giá 0 đồng để trở thành ngân hàng 100% vốn của Nhà nước Quyền lợi của người gửi tiền không hề bị ảnh hưởng, thậm chí sau khi chuyển đổi, các nhà băng này còn “tự hào” vì mình có Nhà nước chống lưng

Trang 7

Quay ngược trở lại giai đoạn khủng hoảng ngân hàng vào những năm

1990, có khá nhiều ngân hàng thương mại đã được đưa vào diện kiểm soát đặc biệt Nhiều ngân hàng tiến hành sáp nhập, hợp nhất, mua lại đổi tên, thậm chí giải thể Kết quả là số lượng ngân hàng thương mại cổ phần giảm từ 51 (năm 1997) xuống còn 39 (năm 2001) Ngược lại, cũng không ít ngân hàng được vực dậy và phát triển trở lại sau cuộc khủng hoảng như Eximbank, VP Bank hay Maritime Bank

Ngân hàng Nhà nước trong quá khứ có những biện pháp sau dành cho những Ngân hàng Thương mại khi Ngân hàng Thương mại làm ăn thua lỗ:

Bơm tiền cho các ngân hàng làm ăn yếu kém: đây là biện pháp tốn kém và không giải quyết được gốc rễ vấn đề

Khuyến khích hoặc ép buộc mua bán sáp nhập: ưu điểm là tiết kiệm được khoản tiền khổng lồ nhưng có thể gây áp lực lên các ngân hàng chịu trách nhiệm mua lại hoặc sáp nhập

Quốc hữu hóa: biện pháp này chỉ sử dụng khi ngân hàng đó “quá lớn để sụp đổ” Đây là biện pháp tốn kém nhất

Mọi chuyện sẽ rất tốt đẹp nếu như xử lý thành công các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán bằng những con đường nói trên Nhưng điều đó vô tình không tạo động lực cho các ngân hàng cố gắng làm ăn phát triển và gây áp lực lên ngân sách Nhà nước

Cần cân nhắc vấn đề cho phép các ngân hàng phá sản

b Tại sao hiện nay cho phép các ngân hàng phá sản?

Nhiều chuyên gia đã đề cập đến cụm từ phá sản từ lâu vì cho rằng trong

xu thế hội nhập thì việc các ngân hàng làm ăn thua lỗ sẽ phải gánh chịu hậu quả

là tất yếu

Theo họ, nhà nước cần có giải pháp mạnh tay nhất mới có thể ngăn chặn được tình trạng các ông chủ lập ngân hàng rồi rút vốn cho vay các công ty sân sau, đến lúc thua lỗ lại nhờ sự giải cứu của NHNN

Thêm vào đó, một khi cho phá sản ngân hàng thì người gửi tiền thay vì chỉ nhắm đến các ngân hàng có mức lãi suất cao thì nay họ cũng phải quan tâm

Trang 8

đến yếu tố an toàn cho khoản tiền của mình, điều này sẽ góp phần làm giảm hiện tượng chạy đua lãi suất huy động trong hệ thống

Các ngân hàng có chất lượng tốt, quản trị minh bạch, thanh khoản dồi dào

sẽ không phải chạy theo các ngân hàng nhỏ trong việc nâng lãi suất huy động để giữ chân người gửi tiền, từ đó họ có thể cắt giảm lãi suất cho vay nhờ nguồn tiền huy động có chi phí thấp

Tuy nhiên, việc cho phá sản ngân hàng dù cần thiết nhưng phải hết sức thận trọng, nếu triển khai cần làm từng bước một và cần có sự chuẩn bị kỹ, đặc biệt là ở công tác truyền thông để người gửi tiền dần quen với việc phải chịu trách nhiệm với chính khoản tiền của mình, tránh tâm lý bị sốc khi có sự cố Theo thống đốc Ngân hàng Nhà nước, chủ trương phá sản chỉ xem xét theo nguyên tắc là biện pháp cuối cùng, khi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không thành công các phương án khác, như phục hồi, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc chuyển giao bắt buộc

3 Việc thông qua dự luật cho phép phá sản ngân hàng tổ chức tín dụng yếu kém có tác động như thế nào đến thị trường việt nam

3.1 Thêm các quy định giúp cho ngân hàng không rơi vào tình trạng phá

sản

a Thêm các quy định nhận diện chéo

Trong luật Tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung, có một số điều đáng chú ý như không cho các lãnh đạo của tổ chức tín dụng làm lãnh đạo các doanh nghiệp khác trừ trường hợp đó là công ty con của tổ chức tín dụng đó

Quy định này giúp cho hệ thống ngân hàng trở nên minh bạch, không lợi ích nhóm, giúp ngân hàng làm việc hiệu quả hơn Từ đó, sẽ giúp giảm thiểu các

vụ án kinh tế lớn như trước đây, làm cho nền kinh tế Việt Nam trở nên vững mạnh hơn Việc này mang lại nhiều lợi ích, và cũng là một động lực giúp các ngân hàng phát triển tốt hơn trong tương lai

b Định hướng tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém

Luật tổ chức tín dụng sửa đổi bổ sung có đưa ra một số biện pháp rõ ràng hơn giúp cho các tổ chức tín dụng yếu kém như cho bán nợ cho tổ chức mà Nhà

Trang 9

nước nắm 100% vốn điều lệ để xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng, hay vay đặc biệt với lãi suất 0% của Ngân hàng Nhà nước

Việc đưa ra các biện pháp như vậy giúp cho các tổ chức tín dụng có nhiều

cơ hội để khôi phục lại, lấy lại niềm tin của người tiêu dùng Việc này cũng góp phần làm lành mạnh nền kinh tế Việt Nam vốn có rất nhiều thách thức

3.2 Phá sản ngân hàng: phương án cuối cùng

Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi được thông qua tập trung vào các phương án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém được kiểm soat đặc biệt Trong đó bao gồm các phương án phục hồi; sáp nhập, hợp nhất; chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp; giải thể; chuyển giao bắt buộc và phá sản

Giải pháp cho phá sản tổ chức tín dụng là biện pháp cuối cùng, khi không thể sử dụng các biện pháp khác nhằm cải tổ lại tổ chức đó Trong bất cứ trường hợp nào, phương án xử lý tổ chức tín dụng cũng đều đặt mục tiêu an toàn, ổn định hệ thống tổ chức tín dụng, không làm mất lòng tin người dân cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của những người gửi tiền Phát biểu trước Quốc hội, Thống đốc Lê Minh Hưng nói rằng việc để tổ chức tín dụng phá sản có thể dẫn đến nguy cơ người gửi tiền rút tiền ồ ạt lan truyền, đe dọa đổ vỡ dây chuyền, ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng Khi xây dựng phương án phá sản, quan điểm chỉ đạo chung là phải đánh giá tác động kỹ lưỡng của việc phá sản với sự an toàn hệ thống, rủi ro tiềm ẩn đối với nền kinh tế cũng như quyền lợi người gửi tiền (trích báo người tiêu dùng 11/11/17) Ngân hàng nhà nước từ đó cũng sẽ có những động thái can thiệp, quản lý sát sao hơn hệ thống ngân hàng để không có ngân hàng nào rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ và phá sản Những cơ chế này sẽ giúp người gửi tiền có niềm tin hơn vào hệ thống; đó cũng được xem như là một “lá chắn” để bảo vệ quyền lợi của người sử dụng

3.3 Cần phải nâng mức bảo hiểm tiền gửi

Hiện nay, tại Việt Nam, khi ngân hàng phá sản, mức bảo hiểm tiền gửi mà người gửi nhận được chỉ là 75 triệu đồng Có nghĩa là, dù có gửi vào ngân hàng bao nhiêu thì khi ngân hàng phá sản, người gửi cũng chỉ nhận được 75 triệu đồng Bên cạnh đó, người gửi tiền còn nhận được tiền từ hoạt động thanh lý tài sản của tổ chức tín dụng phá sản Tuy nhiên, việc này vẫn có thể gây bất ổn tâm

Trang 10

lý cho người dân , dẫn tới phản ứng dây chuyền và gây bất lợi cho hệ thống ngân hàng

Do vậy, để tránh hiệu ứng tiêu cực đối với hệ thống tổ chức tín dụng, khi ngân hàng nhà nước cho phép một ngân hàng phá sản ngoài việc phải đặt ra một

lộ trình phá sản cho ngân hàng đó; hỗ trợ thu hồi nợ, cam kết với người gửi về việc sẽ trả đủ tiền gửi thì cần phải tăng mức bảo hiểm tiền gửi cho người dân khi ngân hàng đứng trên bờ vực phá sản

Trang 11

PHẦN 3 Kết luận

Qua những tìm hiểu và phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng việc bổ sung thêm điều khoản cho phép phá sản các tổ chức tín dụng yếu kém ở diện kiểm soát đặc biệt ở Việt Nam là một quyết định vô cùng táo bạo của Chính Phủ

và Ngân hàng Nhà nước Điều này vừa gây hiệu ứng tích cực đó là thúc đẩy các ngân hàng thương mại làm việc hiệu quả, minh bạch hơn, vừa gây hiệu ứng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân khi có bất cứ tổ chức nào rơi vào tình trạng phá sản Do vậy, để kiểm soát tình hình kinh tế, khi có ngân hàng nào rơi vào tình trạng mất kiểm soát thì Ngân hàng Nhà nước cần phải hỗ trợ và đưa ra giải pháp kịp thời để ứng phó cũng như đưa ra lộ trình phá sản từ từ giúp cho nền kinh tế Việt Nam không bị rơi vào trạng thái khủng hoảng và không gây ảnh hưởng đến niềm tin và tâm lý người dân

Ngày đăng: 19/11/2020, 22:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w