1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ tác động của chi chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục đến chỉ số HDI ở các quốc gia

84 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÊ THỊ THANH THỦY TÁC ĐỘNG CỦA CHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN CHỈ SỐ HDI Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP... LÊ THỊ THANH THỦY TÁC ĐỘNG CỦ

Trang 1

LÊ THỊ THANH THỦY

TÁC ĐỘNG CỦA CHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN CHỈ SỐ HDI

Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 2

LÊ THỊ THANH THỦY

TÁC ĐỘNG CỦA CHI CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN CHỈ SỐ HDI

Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số ngành : 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2018

Trang 3

tế và giáo dục đến chỉ số HDI ở các quốc gia đang phát triển” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quà nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

Lê Thị Thanh Thủy

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 3

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3

4 Câu hỏi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 3

5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 4

6 Kêt cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN HDI 5

1.1 Lý luận chung về chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Vai trò 6

1.2 Lý luận chung về chỉ số phát triển con người (HDI) 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Công thức tính 18

1.3 Tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đến HDI 22

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Dữ liệu 27

2.2 Mô hình nghiên cứu 27

2.3 Các biến số trong mô hình 30

2.4 Phương pháp phân tích 30

Trang 5

2.4.3 Trình tự thực hiện phương pháp ước lượng mô hình 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI, CHI TIÊU CHÍNH PHỦ CHO Y TẾ VÀ GIÁO DỤC CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN 35

3.1 Thực trạng HDI của các quốc gia đang phát triển 35

3.2 Thực trạng chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục của các quốc gia đang phát triển 36

3.2.1 Thực trạng chi tiêu chính phủ cho y tế 37

3.2.2 Thực trạng chi tiêu chính phủ cho giáo dục 39

3.3 Thực trạng các yếu tố khác 41

3.3.1 Thực trạng thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia đang phát triển 41

3.3.2 Thực trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển 42

3.3.3 Thực trạng hệ số Gini của các quốc gia đang phát triển 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Thống kê mô tả 45

4.2 Kết quả phân tích hồi quy 46

4.2.1 Đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đến HDI47 4.2.2 Đánh giá tác động của cơ cấu chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục trong tổng chi tiêu chính phủ đến HDI 52

4.2.3 Đánh giá tác động của tổng chi tiêu của chính phủ cho cả y tế và giáo dục đến HDI 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 62

5.1 Kết quả nghiên cứu 62

5.2 Gợi ý chính sách 62

5.3 Đóng góp 65

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm nội địa

GNI (Gross National Income): Thu nhập quốc dân

HDI (Human Development Index): Chỉ số phát triển con người

HDRO (Human Development Report

IMF (International Monetary Fund): Quỹ Tiền tệ Quốc tế

OECD (Organization for Economic

Co-operation and Development): Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

OLS (Ordinary least squares): Phương pháp bình phương nhỏ nhất PPP (purchasinh power parity): Ngang giá sức mua

UNDP (United Nations Development

Programme): Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc

Liên Hợp Quốc

Trang 8

Hình 3.1: Sơ đồ phát triển chỉ số HDI của 50 quốc gia đang phát triển 36

Hình 3.2: Chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục của các quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003 – 2014 37

Hình 3.3: Xu hướng biến động của hệ số Gini bình quân của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003- 2015 44

Hình 4.1 Chi tiêu chính phủ cho giáo dục và HDI 46

Hình 4.2 Chi tiêu chính phủ cho y tế và HDI 46

Hình 4.3 Kết quả kiểm định Hausman 48

Hình 4.4 Kết quả hồi quy mô hình FEM 49

Hình 4.5 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 49

Hình 4.6 Kết quả kiểm định tự tương quan 50

Hình 4.7 Kết quả hồi quy mô hình FEM điều chỉnh, đã khắc phục các khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan 51

Hình 4.8 Kết quả kiểm định Hausman 52

Hình 4.9 Kết quả hồi quy mô hình REM 53

Hình 4.10 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 54

Hình 4.11 Kết quả kiểm định tự tương quan 55

Hình 4.12 Kết quả hồi quy mô hình REM điều chỉnh, đã khắc phục các khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan 56

Hình 4.13 Kết quả kiểm định Hausman 57

Hình 4.14 Kết quả hồi quy mô hình REM 58

Hình 4.15 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 59

Hình 4.16 Kết quả kiểm định tự tương quan 60

Hình 4.17 Kết quả hồi quy mô hình REM điều chỉnh, đã khắc phục các khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan 61

Trang 9

Bảng 3.1 Thống kê mô tả về chỉ số HDI của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn

2003 đến 2015 35 Bảng 3.2: Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế của các quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003 đến 2015 38 Bảng 3.3: Chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực giáo dục của các quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003 đến 2015 39 Bảng 3.4: Bảng thống kê GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương của các nước đang phát triển trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2003 - 2015 41 Bảng 3.5: Bảng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003-2015 42 Bảng 3.6: Bảng hệ số Gini bình quân của 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn 2003-2015 43 Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 45 Bảng 4.2 Kết quả hồi quy theo các phương pháp 47

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế thì phát triển con người đang được chính phủ của các quốc gia quan tâm phát triển Chỉ số HDI được chính thức đưa vào sử dụng để đánh giá mức độ phát triển con người giữa các quốc gia từ năm

1990 Và từ đó, nó trở thành mục tiêu phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Để tạo ra sự gia tăng mức độ phát triển con người, mỗi quốc gia sẽ có những chính sách và quyết định khác nhau trong chi tiêu của chính phủ Trong điều kiện giới hạn nguồn lực, mỗi chính phủ đều phải cân nhắc kỹ lưỡng về mức chi tiêu cũng như cơ cấu phân bổ cho các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội nhằm mục tiêu tăng chỉ số phát triển con người, cải thiện mức sống của người dân Đặc biệt, đối với quốc gia đang phát triển, với ngân sách hạn hẹp thì vấn đề cân nhắc trước khi chi tiêu và phân bổ lại càng trở nên cấp thiết hơn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong chi tiêu, có nghĩa là cần phải cân nhắc chi tiêu và phân bổ hợp lý trong cơ cấu chi tiêu nhằm đạt được mục tiêu phát triển con người cao nhất với lượng chi phí thấp nhất Chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong cơ cấu chi tiêu công, nó góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe và trình độ giáo dục của người dân, từ đó làm tăng nguồn vốn con người từ đó tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế (Hanushek và Woessmann, 2008; Jack, 1999)

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng, chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục có mối quan hệ tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới HDI Phần lớn các nghiên cứu đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI thông qua tăng trưởng kinh tế (Afonso và Jalles, 2013; Baldacci et al., 2008; Blankenau, Simpson và Tomljanovich, 2007; Easterly và Rebelo, 1993; Landau, 1997; Cooray, 2009), cải thiện các chỉ tiêu xã hội như chỉ số sức khỏe (Filmer et at., 1998; Filmer và Pritchett, 1997; Bidani và Ravaillon,1997; Thornton, 2002) và chỉ

số học vấn (Ogbu và Gallagher, 1991; Mehrotra, 1998; Gupta, Verhoeven và Tiongson, 2002) Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu này không

Trang 11

đồng nhất, một số nghiên cứu cho kết quả tác động tích cực trong khi một số các nghiên cứu lại ít có ý nghĩa thống kê, thậm chí một số nghiên cứu lại cho kết quả là tác động ngược chiều giữa chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục với tăng trưởng kinh tế và cải thiện các chỉ số xã hội Một số nghiên cứu cũng đã đánh giá tác động trực tiếp của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI (Mohammad Javad Razmi và cộng sự, 2012; Sanjeev Gupta và cộng sự, 2002; Sudhir Anand và Martin Ravallion,1993; Opreana & Mihaiu, 2011; Baldacci, Guin-Siu và de Mello, 2003) trong đó có nhiều nghiên cứu tác động của chi tiêu địa phương cho y tế và giáo dục tới HDI ở một địa phương cụ thể (Mohammad Javad Razmi và cộng sự, 2012; Sanusi Fettah và Aspa Muji, 2012; Sudhir Anand và Martin Ravallion,1993), kết quả nghiên cứu phần lớn ủng hộ cho giả thuyết có sự tác động tích cực từ chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI, bên cạnh đó cũng có một vài nghiên cứu chưa chứng minh được chiều tác động giữa chi tiêu công cho y tế và giáo dục tới HDI Sự khác biệt giữa các kết quả nghiên cứu còn phụ thuộc vào mẫu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu,… vẫn còn nhiều tranh cãi trong các kết luận về tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI, tuy nhiên, đại đa số các nghiên cứu đều đồng thuận rằng có mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục với HDI Đây chính là một khoảng trống nghiên cứu về mặt lý luận cần được nghiên cứu bổ sung

Đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đang được thực tiễn đặt ra hết sức cấp thiết ở tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Việc lượng hóa tác động này sẽ giúp cho chính phủ của các quốc gia trên thế giới nói chung và các quốc gia đang phát triển nói riêng có những căn cứ để đưa ra các chính sách chi tiêu và phân bổ chi tiêu hợp lý cho lĩnh vực y tế

và giáo dục nhằm đạt được mục tiêu tăng HDI

Đứng trước yêu cầu về lý luận và thực tiễn, nghiên cứu tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục ở các quốc gia đang phát triển tới HDI đang được đặt ra hết sức cấp thiết hiện nay, kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung làm rõ hơn lý luận và là căn cứ thực tiễn giúp các quốc gia đưa ra các chính sách, kế hoạch

Trang 12

và dự toán chi tiêu và phân bổ chi tiêu chính phủ hợp lý cho giáo dục và y tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển con người, điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn với các quốc gia đang phát triển với một quỹ ngân sách giới hạn Chính vì vậy, tôi

lựa chọn đề tài: “Tác động của chi chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục đến

chỉ số HDI ở các quốc gia đang phát triển” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của chi tiêu

chính phủ cho y tế và giáo dục tới chỉ số phát triển con người HDI

Phạm vi thu thập dữ liệu: Nghiên cứu tại các nước đang phát triển trong giai đoạn

2003-2015

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn là nghiên cứu tác động của chi tiêu chính phủ cho giáo dục và y tế tới HDI dựa trên số liệu thu thập từ WB và IMF

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chi tiêu công cho y tế và giáo dục, HDI và tác động của chi tiêu công cho y tế và giáo dục đến HDI

Xây dựng mô hình và lượng hóa tác động của chi tiêu công cho y tế và giáo dục đến HDI

Dưa ra khuyến nghị về chính sách cho các quốc gia đang phát triển nhằm cải thiện chỉ số HDI

4 Câu hỏi nghiên cứu

Khái niệm, vai trò của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục?

Khái niệm, vai trò, công thức tính của HDI?

Chi tiêu chính phủ cho y tế và cho giáo dục ảnh hưởng như thế nào tới chỉ số HDI?

Chính sách nào thúc đẩy cải thiện chỉ số HDI ở các nước đang phát triển?

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Trang 13

Dữ liệu được thu thập từ công bố chính thức của WB và IMF về chi tiêu chính phủ cho giáo dục, chi tiêu chính phủ cho y tế và chỉ số phát triển con người HDI của

50 quốc gia đang phát triển trong 13 năm từ năm 2003 đến năm 2015

5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để đánh giá thực trạng chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế, giáo dục và chỉ tiêu HDI

Sử dụng hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để lượng hóa tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới chỉ tiêu HDI với

650 quan sát bao gồm 50 quốc gia đang phát triển trong 13 năm từ năm 2003 đến năm 2015

6 Kêt cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, đề tài có kết cấu 5 chương bao gồm:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của chi tiêu chính phủ trong y tế và giáo

dục đến HDI

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Thực trạng chỉ số phát triển con người, chi tiêu chính phủ cho y tế

và giáo dục của các quốc gia đang phát triển

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ TRONG Y TẾ VÀ GIÁO DỤC ĐẾN HDI

1.1 Lý luận chung về chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y tế và giáo dục

1.1.1 Khái niệm

Theo Ogbole & Momodu (2015), chi tiêu công (hay chi tiêu của chính phủ) là khoản tiền mà chính phủ của bất kỳ quốc gia nào chi ra để thực hiện trách nhiệm hiến pháp của mình trong việc cung cấp các phúc lợi xã hội cho công dân của mình

và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình Bên cạnh đó, chi tiêu công là các khoản chi được thực hiện bởi nhà nước và các cơ quan của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công

Dựa trên cục thống kê Châu Âu (Eurostat Statistics) định nghĩa chi tiêu chính phủ cho giáo dục là chi tiêu cho các thành phần bộ phận giáo dục: gồm giáo dục mầm non và tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục sau trung học, giáo dục đại học, giáo dục không thể định nghĩa theo cấp, ví dụ chi phí cho việc cung cấp xe buýt trường học, chi cho nghiên cứu và phát triển Theo OECD, chi tiêu công cho giáo dục bao gồm chi tiêu trực tiếp cho các tổ chức giáo dục cũng như trợ cấp công cộng liên quan đến giáo dục cho các hộ gia đình và được quản lý bởi các tổ chức giáo dục

Đối với tổ chức Ngân hàng Thế giới (Worldbank), định nghĩa chi tiêu cho giáo dục là tổng chi tiêu của chính phủ nói chung (địa phương, khu vực và trung ương)

về giáo dục (hiện tại, vốn và chuyên đổi), thể hiện dưới dạng phần trăm của tổng chi tiêu của chính phủ đối với tất cả các ngành (bao gồm y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội, vv) Chi tiêu này bao gồm các khoản chi được tài trợ bằng việc chuyển từ các nguồn quốc tế cho chính phủ Chi tiêu giáo dục công cộng bao gồm chi tiêu của chính quyền địa phương, khu vực và quốc gia (trừ đóng góp của hộ gia đình) đối với các

cơ sở giáo dục (cả nhà nước và tư nhân), quản lý giáo dục và trợ cấp cho các cá nhân (sinh viên, hộ gia đình và các cá nhân khác) Trong một số trường hợp, dữ liệu

về tổng chi tiêu công cho giáo dục chỉ đề cập đến Bộ giáo dục và có thể loại trừ các

bộ khác dành một phần ngân sách cho các hoạt động giáo dục Chỉ số này được tính

Trang 15

bằng cách chia tổng chi tiêu công cho giáo dục do tất cả các cơ quan, ban ngành của chính phủ cho tổng chi tiêu của chính phủ và nhân lên 100 để tính phần trăm

Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012) đưa ra khái niệm về chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế là toàn bộ chi tiêu của chính phủ cho chi phí y tế bao gồm chi phí điều trị và dự phòng, hoạch định các dịch vụ trong tương lai cho gia đình và chi phí dự phòng trong trường hợp khẩn cấp

1.1.2 Vai trò

Đã có một cuộc tranh luận trong nhiều thập kỷ giữa quan điểm của Keynes và các nhà kinh tế tân cổ điển về tầm quan trọng của sự can thiệp của chính phủ đối với thị trường Không ít người đoạt giải Nobel, James Buchanan, lập luận rằng sự tham gia của chính phủ có thể làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn vì các lựa chọn công cộng có thể trở nên kém hiệu quả trong thị trường tư nhân phát triển (Buchanan,

1975 Buchanan và Musgrave, 1999) Bên cạnh đó, Tanzi (2005) cho rằng sự tham gia của chính phủ thường tạo ra các độc quyền công cộng, hạn chế thu hút sự tham gia của tư nhân Ông cho rằng chính phủ có nghĩa vụ phải sửa chữa những sai lầm

do thị trường gây ra, hoặc để bù đắp cho những thiếu sót của nó, và không thể thay thế thị trường

Có thể thấy Chi tiêu chính phủ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết nền kinh tế và đảm bảo sự phát triển của một quốc gia Các lý thuyết kinh tế thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu chính phủ đến sự phát triển của một quốc gia Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các chính phủ và các nhà nghiên cứu đều tập trung nhấn mạnh vai trò của chi tiêu chính phủ tác động đến tăng trưởng kinh tế.“Đường cong phản ánh mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn (1986), và được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi khi nghiên cứu vai trò của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế.”

“Đường cong Rahn hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêu chính phủ là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hoá công cộng cơ bản như cơ sở hạ tầng,

Trang 16

bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Tuy nhiên chi tiêu chính phủ sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế khi nó vượt quá mức giới hạn này.”

“Điểm tối ưu tăng trưởng trên đường cong Rahn là một trong chủ đề nghiên cứu gây tranh cãi trong nhiều thập niên qua Tuy các nhà kinh tế còn bất đồng về con số chính xác nhưng về cơ bản họ thống nhất với nhau rằng, mức chi tiêu chính phủ tối

ưu tối với tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng từ 15 đến 25% GDP, mặc dù rất có thể những ước tính này là quá cao do những nghiên cứu thống kê bị hạn chế bởi sự sẵn có của số liệu.”

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Quy mô tối ưu Chi tiêu chính phủ theo phần trăm GDP

Hình 1: Đường Rahn

Hầu hết các nhà kinh tế đồng ý rằng có những trường hợp nhất định việc cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và cũng có những trường hợp sự gia tăng chi tiêu chính phủ là có lợi cho tăng trưởng.”

Khi các quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, và bắt đầu xảy ra những xung đột kinh tế liên quan đến bất bình đẳng xã hội, thuật ngữ phát triển bền vững bắt đầu được đề cập nhiều hơn Chính phủ các quốc gia dần thay đổi mục tiêu phát triển chú trọng nhiều hơn đến phát triển con người, coi phát triển con người là trung tâm của sự phát triển Các chi tiêu chính phủ bắt đầu phân bổ nhiều hơn cho mục tiêu phát triển con người, trong số các nội dung chi tiêu chính phủ, chi tiêu cho

y tế và giáo dục đang được nhiều quốc gia quan tâm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu của chính phủ Các nghiên cứu cũng bắt đầu tập trung đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho giáo dục và y tế tới các mục tiêu phát triển khác

Trang 17

nhau như tăng trưởng kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo Một

số nghiên cứu lại đánh giá mức độ hiệu quả của chi tiêu chính phủ trong lĩnh vực y

tế và giáo dục ở một số quốc gia Sampaio và Stosic (2005) và Sampaio, Cribari Neto và Stosic (2008) cho thấy rằng quy mô, được đo bằng dân cư, là một yếu tố quyết định hiệu quả chi tiêu Chi phí dịch vụ công có xu hướng cao hơn trong các khu vực nhỏ hơn, có thể do sự thất bại của họ trong việc khai thác hiệu quả kinh tế theo quy mô Còn Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) lại cho rằng, đối với dịch vụ giáo dục và y tế do chính phủ cung cấp, dường như đang mang lại hiệu suất theo quy mô, chính vì vậy, chi tiêu chính phủ cho hoạt động dịch vụ y tế và giáo dục có thể hoạt động với quy mô lớn hơn quy mô cung cấp tối ưu, đặc biệt là ở các khu vực hạn chế về điều kiện phát triển giáo dục và một số nhóm dân cư có điều kiện tiếp cận chăm sóc y tế thấp

Có thể thấy chi tiêu chính phủ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế và giáo dục Việc gia tăng đầu tư của chính phủ cho y tế và giáo dục sẽ góp phần cải thiện đáng kể những kết quả và hiệu quả của hai lĩnh vực này

Theo quan điểm của Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012), trong thế giới ngày nay, việc hưởng thụ sức khoẻ là một trong những quyền của con người không thể chuyển nhượng, vì cải thiện tình trạng sức khoẻ và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn là một trong những khía cạnh cơ bản của phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, đầu tư vào ngành y tế, như các lĩnh vực xã hội khác, được coi tương tự như một trong những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Nhiều nghiên cứu cho thấy chi tiêu của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế

và giáo dục, đóng góp tích cực vào các mục tiêu công cộng Gupta et al (1998) đã

đề cập rằng chi tiêu của chính phủ cho y tế và giáo dục có thể mang lại những tác động tích cực đến nguồn nhân lực từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo động lực thúc đẩy công bằng và giảm nghèo Đồng quan điểm, Sanjeev Gupta và cộng sự (1998) cũng đã khẳng định Chính phủ chi tiêu cho giáo dục và y tế bởi vì ảnh hưởng tích cực của các lĩnh vực này đến sự hình thành nguồn nhân lực, tạo

Trang 18

động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và giảm nghèo Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của chi tiêu này phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sách trong các lĩnh vực y tế và giáo dục Hơn nữa, Doryan (2001) giải thích rằng khi chính phủ sử dụng lợi ích của tăng trưởng kinh tế để tài trợ cho chăm sóc sức khoẻ cơ bản và tiếp cận giáo dục cho tất cả mọi người, nó sẽ mang lại lợi ích kép cho người nghèo; họ khỏe mạnh và có trình độ học vấn cao hơn, từ đó sẽ làm tăng năng suất và thu nhập, cũng như tiêu dùng của họ Đặc biệt là chi tiêu của chính phủ cho ngành y tế, Razmi

et al (2012) đã giải thích rằng chi phí y tế tăng sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng nguồn cung lao động, và kết quả làm tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế Chi tiêu công cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu là hợp lý bởi sự hiệu quả trong việc giảm bệnh ở trẻ em Gánh nặng bệnh tật trong việc phát triển giảm nếu chính phủ các nước cung cấp một gói dịch vụ khám chữa bệnh lâm sàng thiết yếu với chi phí hợp lý (WB, 1993) Về mặt này, chăm sóc sức khoẻ thứ phát được cho là ít tác động tới cải thiện sức khoẻ Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng các can thiệp của chính phủ thường mang tính phòng ngừa, và ở nhiều nước đang phát triển, sự phân

bổ công cộng cho chăm sóc sức khỏe thứ phát hoặc dịch vụ chữa bệnh là quá mức (Sahn và Bernier, 1993; Pradhan, 1996)

Chi tiêu của chính phủ có xu hướng tác động đặc biệt yếu, hoặc thậm chí có dấu hiệu tiêu cực đối với chăm sóc sức khoẻ (Jack, 1999; Filmer, Hammer, và Pritchett, 2000; Thornton, 2002; Self và Grabowski, 2003; Baldacci, Guin-Siu và de Mello, 2003; Fayissa và Gutema, 2005) Về giáo dục, sự tương quan giữa chi tiêu của chính phủ và kết quả xã hội thường mạnh hơn, mặc dù thu nhập vẫn là dự báo mạnh nhất (Gupta, Verhoeven và Tiongson, 2002) Các yếu tố quyết định khác, chẳng hạn như chất lượng quản trị, được đo lường dựa trên cơ sở nhận thức tham nhũng và các chỉ số chất lượng của các quan chức, cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chi tiêu của chính phủ và kết quả xã hội (Rajkumar và Swaroop, 2008) Hơn nữa, những hạn chế về tín dụng và biến động thu nhập có thể ảnh hưởng đến kết quả giáo dục (Flug, Spilimbergo và Watchenheim, 1998)

Trang 19

Sa (2005) tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa chi tiêu của chính phủ và sức khoẻ, được đo bằng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Chi tiêu của chính phủ phụ thuộc tiêu cực vào chi phí cung cấp dịch vụ, được đo bằng tiền lương trung bình của nhân viên y

tế, và phụ thuộc tích cực về thu nhập Alves và Belluzzo (2005) báo cáo những kết luận tương tự về tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh: ảnh hưởng của thu nhập là tiêu cực và

có ý nghĩa thống kê, trong khi đó giáo dục và cơ sở hạ tầng y tế dường như có một tác động hạn chế hơn

Trong nghiên cứu của Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) kết luận: Chi tiêu của chính phủ ảnh hưởng tích cực đến mức độ cải thiện tình trạng giáo dục, trong khi điều đó cũng không thật sự đúng đối với sức khoẻ Ngoài ra, chúng tôi thấy rằng chi tiêu của chính phủ cho các chương trình khác ngoài giáo dục cũng rất quan trọng: tác động của nó đối với cải thiện giáo dục thực sự mạnh hơn so với việc chính phủ chỉ tập trung chi tiêu cho lĩnh vực giáo dục Do đó, việc chính phủ tập trung chi tiêu cho từng lĩnh vực cụ thể mà ít quan tâm đến các khoản chi khác bổ sung sẽ làm giảm đi hiệu quả của chi tiêu chính phủ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ảnh hưởng của chi tiêu của chính phủ ở các khu vực có điều kiện giáo dục đang còn thấp cao hơn hẳn các khu vực còn lại, điều này cho thấy vai trò của chính phủ trong việc hỗ trợ các khu vực còn nhiều khó khăn về điều kiện giáo dục là rất quan trọng

Nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của các ảnh hưởng liên ngành, theo đó các kết quả giáo dục là những yếu tố quyết định quan trọng cho tình trạng sức khoẻ của dân số, và ngược lại Ví dụ Levine và Schanzenbach (2009) sử dụng số liệu của

Mỹ và cho thấy trình độ học vấn có xu hướng tác động tích cực tới tình trạng sức khỏe của trẻ sơ sinh, và điều này phụ thuộc vào phạm vi bảo hiểm y tế công cộng Nghiên cứu của Luiz de Mello, Mauro Pisu (2009) cũng đã chứng minh những ảnh hưởng liên ngành mạnh mẽ giữa giáo dục và y tế Tình trạng giáo dục của người dân là một yếu tố quyết định mạnh mẽ cho kết quả sức khoẻ và ngược lại, hiệu ứng này diễn ra mạnh mẽ ở các khu vực có điều kiện thấp về giáo dục và y tế Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó về mối liên hệ nhân quả hai chiều giữa giáo dục và tình trạng sức khoẻ

Trang 20

Tuy nhiên, các kết quả thực nghiệm có thể tìm thấy sự khác biệt về mức độ tác động của chi tiêu theo ngành, nhưng lại thống nhất về những tác động tích cực của

nó đối với giảm nghèo, Asghar et al (2012) cho thấy tác động của chi tiêu chính phủ trong ngành y tế là không đáng kể ở Pakistan Suescún (2007) nhận thấy rằng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng chi phối các hình thức chi tiêu công khác (giáo dục, y tế, tiêu dùng của chính phủ và chuyển nhượng cho các hộ gia đình giàu có) về những ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tăng trưởng, phúc lợi, phát triển con người và tiến

bộ xã hội ở các quốc gia khu vực châu Mỹ Latinh Chúng tôi cho rằng sự thống nhất này xuất phát từ mức độ hiệu quả của việc sử dụng chi tiêu của chính phủ Dường như ở các quốc gia được đánh giá là tham nhũng rất nhiều hoặc được đánh giá là có một bộ máy hành chính kém hiệu quả, chi tiêu y tế công cộng thường kém hiệu quả Tương tự, tăng chi tiêu công cho giáo dục tiểu học dường như có hiệu quả hơn trong việc nâng cao trình độ học vấn ở các nước có sự quản lý tốt trong chi tiêu (Rajkumar và Swaroop, 2008)

Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến thành phần của chi tiêu công Sự chú ý này xuất phát từ sự tin tưởng rằng chi tiêu của chính phủ Thái Lan đối với giáo dục và chăm sóc sức khoẻ có thể tăng tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy bình đẳng

về thu nhập và giảm nghèo đói (Barro, 1991; Chu, 1995; Tanzi và Chu, 1998) Các

tổ chức tài chính quốc tế, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ kêu gọi tăng chi tiêu của chính phủ cho giáo dục và chăm sóc sức khoẻ Ngoài ra, một số lượng rất nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những hậu quả kinh tế bất lợi của tham nhũng; đặc biệt là các nghiên cứu cho thấy tham nhũng gắn liền với chi tiêu quân sự cao hơn (Gupta et al., 2001) và chi tiêu cho giáo dục và y tế thấp hơn (Mauro, 1998) Những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy các chính sách nhằm giảm tham nhũng dẫn đến tăng chi tiêu cho các khoản chi tiêu có hiệu quả hơn, như giáo dục

và chi tiêu cho y tế

Trong nghiên cứu của Sanjeev Gupta và cộng sự (1998) cũng đã chứng minh từ giữa những năm 1980, chi tiêu bình quân cho giáo dục và y tế đã tăng ở các nước đang phát triển nhưng giảm trong các nền kinh tế chuyển đổi Nhưng phần lớn chi

Trang 21

tiêu công cho giáo dục và y tế là dành cho giáo dục đại học và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Do đó, ở một số quốc gia, có thể cần phải thay đổi thành phần của chi tiêu công bằng cách tăng chi cho giáo dục tiểu học và sức khoẻ dự phòng có thể đảm bảo rằng các khoản chi tiêu xã hội được phân bổ một cách công bằng hơn đồng thời thúc đẩy phát triển con người Như vậy có thể thấy rằng, xu hướng tập trung chi tiêu cho giáo dục và y tế được các nước đang phát triển thực hiện nhằm tạo ra những hiệu quả tích cực nhằm đạt các mục tiêu phát triển của quốc gia Ngoài ra, Filmer et

al (1998) cũng đã cố gắng giải quyết vấn đề phân bổ trong ngành y tế bằng cách đưa ra một biện pháp chi tiêu chính phủ cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong phân tích chéo của họ về các nhân tố gây tử vong ở trẻ sơ sinh Nhưng các nhà nghiên cứu này không tìm thấy một tác động thống kê quan trọng của chi phí chăm sóc sức khỏe ban đầu về tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh

Để minh chứng về chi tiêu công cho cơ sở giáo dục dựa trên tỷ lệ tái đầu tư của xã hội, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ tái đầu tư của xã hội cao nhất cho giáo dục tiểu học, tiếp theo là giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông (Psacharopoulos 1994, World Bank, 1995) Đồng thời, bằng chứng cho thấy rằng chi tiêu cho giáo dục đại học ở nhiều nước là quá mức cao (Sahn và Bernier, 1993; WB, 1995; Gupta et al., 1998)

Mặc dù nghiên cứu (về người Thái) của Sanjeev Gupta el al (2002) tập trung vào các tỷ lệ tái đầu tư của xã hội cho giáo dục và y tế cung cấp một lý do thuyết phục cho các nhà hoạch định chính sách chuyển nguồn lực công đầu tư vào giáo dục cơ bản và chăm sóc sức khỏe ban đầu nhưng không mang lại bằng chứng kết luận rằng việc tái phân bổ như vậy nâng cao trình độ học vấn và tình trạng sức khỏe của người dân Có thể là chi tiêu công cộng giải phóng chi tiêu cá nhân cho giáo dục tiểu học và trung học và chữa bệnh ban đầu hoặc các nguồn lực công được sử dụng không hiệu quả và không công bằng

1.2 Lý luận chung về chỉ số phát triển con người (HDI)

1.2.1 Khái niệm

Trang 22

Trong chiến lược phát triển, nhiều quốc gia đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu và coi tăng trưởng kinh tế là chìa khóa của mọi sự phát triển Xuất phát từ quan điểm đó, đã có giai đoạn khi đánh giá về sự phát triển của mỗi quốc gia hay mỗi cộng đồng người ta thường dựa vào các chỉ số kinh tế và GDP Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các chỉ số kinh tế để đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng thì không thể phản ánh được đầy đủ các mặt trong đời sống xã hội của con người trong quốc gia hay cộng đồng đó Các cuộc thảo luận về “các mục tiêu phát triển” sau những năm 1980 thường nhấn mạnh đến việc giảm nghèo, ví dụ như tăng thu nhập bình quân (WB, 1990, 1991) Vai trò của các dịch vụ xã hội (đặc biệt

là y tế cơ bản và giáo dục) cũng được nhấn mạnh nhiều hơn trong những năm 1980, mặc dù các dịch vụ này được xem chủ yếu là công cụ để nâng cao thu nhập của người nghèo (WB, 1980) Những năm cuối thế kỷ XX, một trong những cách tiếp cận được cộng đồng quốc tế chấp nhận và phản ánh khá bao quát sự đa dạng của quá trình phát triển đó là cách tiếp cận dựa vào phát triển con người (Nguyễn Đình Tuấn, 2014)

Theo báo cáo phát triển con người năm 1990 cho rằng cần có sự phân biệt cơ bản giữa phương tiện phát triển và mục tiêu phát triển UNDP đã đưa ra tuyên ngôn đầy

ấn tượng “của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo”(UNDP,1990). Con người

là vốn quý của xã hội, giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội Nguồn lực con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho quá trình phát triển

xã hội Phát triển con người chính là nhằm gia tăng các giá trị về tinh thần, đạo đức, tâm hồn, trí tuệ, kỹ năng lẫn thể chất cho con người, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.”Trên thực tế, chúng ta có thể nói rằng phát triển con người có hai khía cạnh: Một khía cạnh liên quan đến khả năng của con người, chẳng hạn như cải thiện sức khoẻ, kiến thức và kỹ năng và các

Trang 23

khía cạnh khác khả năng lựa chọn cơ hội và lợi ích, như hoạt động chính trị, và các vấn đề văn hoá (Gustav Ranis, 2004)

Quan điểm về phát triển con người của UNDP đưa ra trong báo cáo phát triển

con người năm 1990 thể hiện rõ hai khía cạnh, đó là mở rộng các cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn của con người Mở rộng các cơ hội có nghĩa là mở rộng

không gian lựa chọn cho mỗi con người để họ có thể tiếp cận với đời sống kinh tế tốt hơn, tiếp cận với giáo dục và các dịch vụ y tế tốt hơn, có môi trường sống tốt hơn,… còn nâng cao năng lực con người góp phần chuyển hóa cơ hội thành kết quả thực tế Theo Sudhir Anand và Martin Ravallion (1993) cho rằng: “nâng cao năng lực cho con người ở đây trước hết là năng lực về sinh thể và năng lực về tinh thần (năng lực sinh thể là nâng cao sức khỏe cho con người; năng lực tinh thần là nâng cao kiến thức, kỹ năng cho con người) Khi con người có năng lực sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong cuộc sống và đôi khi chính năng lực sẽ tạo ra những cơ hội mới để con người có thể lựa chọn” Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn

và có thể thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, ở các cấp độ phát triển, con người cần

có ba khả năng cơ bản: có cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh; được hiểu biết và có được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt Nhưng phát triển con người không dừng lại ở đó Sự lựa chọn của con người được đánh giá cao bao gồm sự tự

do kinh tế, xã hội, chính trị để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được đảm bảo quyền con người Chính vì vậy, để đánh giá mức độ phát triển con người của một quốc gia, UNDP đã đưa ra chỉ số phát triên con người (Human Development Index - HDI) từ năm 1990 dựa trên 3 tiêu chí:“sức khỏe (đo bằng tuổi thọ trung bình); tri thức (đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục) và thu nhập (mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người).”Việc đo lường và phân tích chỉ số này giúp tạo ra cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia, đồng thời cho thấy sự tiến bộ hay tụt hậu của một quốc gia trong phát triển con người, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất những hướng giải pháp khắc phục

Trang 24

Khái niệm phát triển con người có lịch sử phát triển khá dài nhưng nguyên tắc chính vẫn giữ nguyên: con người là của cải của một quốc gia, và sự phát triển, quyền tự do, khả năng và sự lựa chọn của con người là mục tiêu cuối cùng của quá trình phát triển (UNDP, 1990) Thông thường, người ta đánh giá “hạnh phúc” của một người thông qua mức độ sở hữu hàng hóa Các biện pháp chính xác được sử dụng trong thực tế có thể khác nhau; nó có thể chỉ đơn giản là thu nhập từ tiền hoặc

có thể là “tiện ích về tiền tệ”, theo đó thu nhập từ tiền được điều chỉnh bởi sự khác biệt về giá cả, các cá nhân phải đối mặt với việc đưa ra thứ tự ưu tiên về các hàng hóa thay thế khi mức thu nhập là có hạn Cách tiếp cận phổ biến là coi yếu tố mức

độ sở hữu hàng hóa là vấn đề quan trọng trong việc đánh giá mức sống (Sudhir Anand và Martin Ravallion,1993)

Cách tiếp cận này đã bị phản bác bởi Sen (1977b, 1984, 1985, 1987a, b) Sen chỉ trích về việc sử dụng cả “sự sang trọng” (thu nhập, giàu có và sở hữu hàng hóa) và

“tiện ích” (được hiểu như là hạnh phúc, mong muốn thực hiện, hoặc đơn giản là sự lựa chọn) như là các thang đo đo lường hạnh phúc, ông cho rằng việc lựa chọn sai không gian nghiên cứu đã đưa ra những đánh giá như vậy Thay vào đó, ông lập luận rằng “hạnh phúc” là phải có một cuộc sống tốt, nghĩa đen được hiểu là có thể sống lâu, được nuôi dưỡng tốt, khỏe mạnh, biết chữ, Như Sen (1987a) đưa ra, giá trị của tiêu chuẩn sống nằm trong đời sống, chứ không phải trong việc sở hữu hàng hóa, người ta có thể nghĩ đến tiện ích như xuất phát từ việc thực hiện mong muốn của một

cá nhân Các căn cứ về “lợi ích” và “thu nhập thực tế” trong lý thuyết lựa chọn xã hội cho thấy thiếu sự giải quyết các thành tựu, tự do và năng lực (liên quan đến việc không có lợi hoặc không có thu nhập) Do đó cần phải vượt xa kinh tế học phúc lợi truyền thống trong việc đánh giá mức sống

Nói chung, các khả năng không thể được đánh giá bằng cách nhìn vào những thành tựu của con người, trừ những khả năng cơ bản nhất định như những vấn đề liên quan đến tránh tử vong, bệnh tật và đói Mọi người sẽ có xu hướng ưu tiên các chức năng cơ bản như vậy và sẽ đánh giá chúng theo cách tương tự Để đánh giá phúc lợi của người dân ở các nước đang phát triển, phương pháp tiếp cận phát triển

Trang 25

con người dẫn đến một số câu hỏi: tuổi thọ có cao hay không? Liệu con người có thoát khỏi bệnh tật bằng cách phòng bệnh trước không? Họ có thể giảm tỉ lệ tử vong

ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không? Họ có tránh được mù chữ không? Họ có thể không

bị đói và suy dinh dưỡng không? Họ có được hưởng tự do cá nhân không?

“Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng (bao gồm sự tự do về kinh tế, xã hội, chính trị) để con người có được các cơ hội trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được đảm bảo quyền con người Mục đích của việc tính toán HDI là tìm ra chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ bên cạnh một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vĩ mô khác như tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người theo tỷ giá hối đoái hay GDP bình quân đầu người theo PPP Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người hay tăng trưởng GDP mới chỉ phản ánh yếu tố kinh tế, các nhân tố khác như giáo dục, y tế, môi trường, an toàn xã hội chưa được thể hiện Vì vậy, khi so sánh sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và lãnh thổ, nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương đô la Mỹ (USD-PPP) hay tốc độ tăng GDP vẫn hết sức phiến diện HDRO đã nghiên cứu HDI như một thước đo khá toàn diện làm phương tiện để so sánh sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ.”Đồng thời thông qua cấu thành của HDI để phân tích chính sách phát triển kinh tế - xã hội và

đề ra các khuyến cáo góp phần khắc phục tình trạng bất cập giữa phát triển kinh tế

và phát triển xã hội

Về thành tố cơ bản trong phát triển con người, UNDP cũng chỉ ra ba thành tố

cơ bản trong phát triển con người, đó là: của con người, cho con người và bởi con người Tuy nhiên, sự phát triển này phải đến với các thế hệ tương lai Do đó, có thể

xác định mô hình phát triển con người bền vững gồm bốn thành tố:

- Thứ nhất, phát triển của con người ở đây mang ý nghĩa là tăng cường năng lực

và sức khỏe cho con người để họ có thể tham gia vào các hoạt động của cuộc sống Ngoài ra, tăng cường năng lực cũng giúp cho con người có thể tiến hành các hoạt động mang lại năng suất cao và sự sáng tạo

Trang 26

- Thứ hai, phát triển cho con người có nghĩa là tất cả mọi người đều có cơ hội

bình đẳng trong tiếp nhận các nguồn lợi do tăng trưởng kinh tế mang lại (điều này thể hiện sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận các nguồn lợi)

- Thứ ba, phát triển bởi con người nhấn mạnh đến cơ hội tham gia của mọi

người vào quá trình phát triển Ở đây có nghĩa rằng, tất cả các thành viên trong

xã hội đều có cơ hội tham gia vào các hoạt động, sự kiện và được quyết định các công việc có tác động tới cuộc sống của họ

- Thứ tư, phát triển phải mang tính bền vững Điều đó có nghĩa rằng, phát triển ở

hiện tại phải đảm bảo không gây tác động tiêu cực đến các thế hệ tương lai Như vậy, có thể thấy quan niệm phát triển con người của UNDP phản ánh một cách khá bao quát những vấn đề về năng lực tự nhiên và năng lực xã hội của con người, quan niệm cũng nhấn mạnh cần phải mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn cho mỗi người theo ba tiêu chí: một cuộc sống có đời sống vật chất đầy đủ, có học vấn, khỏe mạnh và trường thọ Với quan niệm này, UNDP đã xây dựng một khái niệm mới về phát triển con người một cách khá chi tiết, trong

đó, con người được coi là thước đo đánh giá sự tiến bộ xã hội và là mục tiêu tối thượng mà mỗi quốc gia, cộng đồng hướng tới

Về nguồn thông tin, số liệu phục vụ cho tính toán HDI và các chỉ số liên quan

được HDRO lấy từ cơ sở dữ liệu của các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO); Vụ Thống kê Liên Hợp Quốc (UNSD); Ngân hàng Thế giới (WB); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) mà không thu thập trực tiếp từ các cơ quan chức năng của các quốc gia, vùng lãnh thổ Mỗi tổ chức quốc tế cung cấp số liệu cho HDRO đều có hệ thống thu thập và ước tính số liệu của riêng mình về các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nên đôi khi những số liệu đó không trùng khớp với số liệu do cơ quan chức năng của các quốc gia công bố

Về nội dung, HDRO quy định HDI là chỉ số tổng hợp của ba chỉ số thành phần:

thu nhập (GDP), kiến thức (giáo dục) và sức khoẻ (tuổi thọ), được tính theo công thức bình quân giản đơn (trước năm 2010) từ 3 chỉ số thành phần này HDI có giá

Trang 27

trị từ 0 đến 1 (0 < HDI < 1) HDI đạt tối đa bằng 1 thể hiện độ phát triển con người đạt mức lý tưởng; HDI tối thiểu bằng 0 thể hiện xã hội không có sự phát triển mang tính nhân văn hay nói cách khác là không quan tâm đến chất lượng cuộc sống của người dân

Như vậy, HDI có ưu điểm là chỉ số tổng hợp đo lường và phản ánh sự phát triển của xã hội không phải chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế mà còn gắn với sự phát triển trong các lĩnh vực xã hội được cộng đồng quốc tế thừa nhận và có sự quan tâm đặc biệt như giáo dục, y tế…

Tuy nhiên, HDI cũng còn hạn chế ở chỗ nó chưa đưa vào công thức để tính toán

và bao quát hết các khía cạnh khác phong phú và đa dạng của cuộc sống như các vấn đề về an sinh xã hội, an ninh con người, môi trường sống cũng như công ăn việc làm

1.2.2 Công thức tính

Trước năm 2010, Liên Hợp Quốc tính HDI theo công thức bình quân giản đơn từ

3 chỉ số thành phần: thu nhập (GDP), kiến thức (giáo dục), sức khỏe (tuổi thọ) Công thức tính như sau:

HDI = Ituổi thọ + Igiáo dục + Ithu nhập

X tuổi thực - X tuổi min

X tuổi max - X tuổi min

- Chỉ số giáo dục được tính theo công thức:

Igiáo dục = (2/3) Ibiết chữ + (1/3) Iđi học

Trong đó: + Ibiết chữ : Chỉ số biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên):

Trang 28

Ibiết chữ = Xbiết chữ thực

- Xbiết chữ min Xbiết chữ max

- Xbiết chữ min

+ Iđi học : Chỉ số đi học các cấp giáo dục:

I đi học = Xđi học thực

- Xđi học min Xđi học max

Log: Phép toán lô-ga-rit cơ số 10 Việc sử dụng phép toán lô-ga-rit cơ số

10 nhằm hạn chế ảnh hưởng quá mức của yếu tố phát triển kinh tế đối với hai yếu tố còn lại (sức khỏe và tri thức)

Khái niệm “thu nhập” ở đây, cũng như trong các chỉ số đồng hành khác, được đo bằng GDP bình quân đầu người tính bằng USD-PPP Thực ra trong các nghiên cứu ban đầu, HDRO đề xuất sử dụng tổng sản phẩm quốc gia (GNP) (nay là tổng thu nhập quốc gia GNI) bởi vì GNI mới thể hiện thực chất thu nhập có được của một quốc gia chứ không phải GDP mà trong đó có một phần thu nhập của nước ngoài (thông qua vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và một số chuyển nhượng khác) Tuy nhiên, vào đầu những năm 1990, nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia chậm phát triển, đang phát triển (trong đó có Việt Nam) chưa tính được GNI, cho nên HDRO đã sử dụng GDP để tính chỉ số thu nhập

Kể từ năm 2010, HDRO đã thay đổi một số nội dung trong việc tính toán HDI

Trang 29

Một là, HDI không tính theo công thức bình quân cộng giản đơn, mà tính theo

công thức bình quân nhân giản đơn, theo công thức:

HDI = (Ithu nhập x Igiáo dục x Ituổi thọ) 1/3

Việc chuyển từ bình quân cộng giản đơn sang bình quân nhân giản đơn, nhằm khuyến khích sự phát triển đồng đều giữa các lĩnh vực kinh tế, giáo dục và nâng cao tuổi thọ Về mặt toán học có thể thấy, khi một số quốc gia có cùng trị số HDI nếu tính theo bình quân số học giản đơn của 3 chỉ số thành phần giống nhau, thì quốc gia nào có trị số các chỉ số thành phần đồng đều nhau hơn sẽ nhận được trị số HDI tính theo bình quân nhân giản đơn cao hơn

Hai là, chỉ số thu nhập không sử dụng GDP bình quân đầu người, mà sử dụng

GNI bình quân đầu người, không dùng lô-ga-rít cơ số 10 mà dùng lô-ga-rít cơ số

tự nhiên theo công thức sau:

Ln(XGNI max ) – Ln(XGNI min )

: Mức độ thực tế của GNI bình quân đầu người;

Ln: Phép toán lô-ga-rit cơ số tự nhiên

Ba là, mức tối đa (tối thiểu) GNI bình quân đầu người là số GNI thực tế cao

nhất (thấp nhất) của quốc gia nào đạt được

Bốn là, mức tối đa của tuổi thọ bình quân là 83,2 năm của Nhật Bản đạt được vào

năm 2010 (cao nhất trong số tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ đạt được năm 2010), mức tối thiểu là 20 năm do tính đến hiện tượng những năm qua đã xảy

ra nạn diệt chủng ở một số quốc gia làm tuổi thọ trung bình ở đó bị giảm mạnh Năm 2011, mức tối đa là 83,4 năm (mức của Nhật Bản đạt được vào năm 2011)

Năm là, chỉ số giáo dục không được tính toán dựa vào tỷ lệ người lớn biết chữ và

tỷ lệ đi học các cấp giáo dục, mà dựa vào chỉ số năm học bình quân của dân số từ

Trang 30

25 tuổi trở lên và chỉ số năm học hy vọng bình quân của trẻ em ở độ tuổi đi học Bởi

vì tỷ lệ người lớn biết chữ chưa phản ánh hết thực chất kiến thức của dân số, có những quốc gia đạt tỷ lệ người lớn biết chữ giống nhau (ví dụ 95%), nhưng không phải kiến thức đã như nhau, quốc gia này nhiều người có cơ hội được theo học nhiều năm, tích luỹ nhiều kiến thức, song quốc gia khác chỉ dừng lại ở việc xoá mù chữ mà người dân không có cơ hội được đi học nhiều hơn Do vậy, việc chuyển sang sử dụng số năm học bình quân và số năm học hy vọng bình quân sẽ cho bức tranh kiến thức rõ ràng hơn, dễ xếp hạng hơn khi các nước có cùng một trị số giống nhau về tỷ lệ người lớn biết chữ

Sáu là, công thức tính Chỉ số giáo dục không theo bình quân số học gia quyền,

mà theo bình quân nhân giản đơn Cụ thể:

Igiáo dục = (Inăm học x Inăm học kì vọng) 1/2 - 0

I đi học max – 0

Với: Inăm học : Chỉ số năm học bình quân

Inăm học hy vọng : Chỉ số năm học hy vọng bình quân Iđi họcmax : Chỉ số đi học các cấp giáo dục cực đại Tuy có một số thay đổi về công thức tính toán và trị số tối đa, tối thiểu trong việc tính HDI, nhưng do chưa có sẵn nguồn số liệu cho nên nhiều quốc gia vẫn sử dụng các công thức cũ để tính HDI cho quốc gia mình

Vai trò của HDI là giúp kiểm soát và đánh giá trình độ phát triển con người giữa các quốc gia với nhau cũng như đánh giá theo thời gian Trên cơ sở đó, các quốc gia

sẽ xác định những nội dung ưu tiên để tiến hành các chính sách can thiệp nhằm cải thiện HDI, nâng cao tiến bộ xã hội HDI nằm trong khoảng 0 đến 1 trong đó HDI càng lớn càng càng thể hiện độ phát triển con người càng cao

Từ năm 2010, bên cạnh HDI, HDRO còn tính thêm Chỉ số phát triển con người có điều chỉnh sự bất bình đẳng (IHDI)

Nếu như HDI phản ánh phát triển con người chưa tính đến vấn đề bất bình đẳng, tức là coi sự phát triển con người của các quốc gia đã có sự bình đẳng như nhau giữa mọi người dân (có thể coi HDI là một chỉ số phát triển con người “tiềm tàng”,

Trang 31

“tối đa” tại từng thời điểm), thì IHDI đã tính đến những bất bình đẳng giữa những người được thụ hưởng trong các thành phần của HDI bằng cách “khấu trừ” mỗi trị số trong từng thành phần tương ứng với mức độ bất bình đẳng của nó Xét theo

ý nghĩa này, thì IHDI chính là mức độ phát triển con người thực tế (có tính đến sự bất bình đẳng) Khi có sự bình đẳng tuyệt đối giữa mọi người dân, thì HDI = IHDI Khi sự bất bình đẳng giữa mọi người dân càng cao, thì IHDI càng cách xa HDI (IHDI càng bị giảm nhiều so với HDI), do vậy, IHDI ≤ HDI

1.3 Tác động của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đến HDI

Với mục tiêu xây dựng kế hoạch sử dụng nguồn lực nhằm tối đa hoá HDI của quốc gia, Merwan Engineer; Ian King và Nilanjana Roy (2008) đã sử dụng HDI như một tiêu chuẩn để lên kế hoạch phát triển kinh tế Nhóm tác gia xây dựng một mô hình kinh tế đóng, trong đó các nhà hoạch định chọn lựa các khoản chi nhằm tối đa hoá hàm mục tiêu đã được xác định (được đại diện bởi HDI) và xem xét hậu quả từ việc theo đuổi kế hoạch tối đa hóa chỉ số HDI đó Bài nghiên cứu thu được hai kết quả chính Đầu tiên, để tối đa hoá hàm mục tiêu, các nhà hoạch định có xu hướng cắt giảm tiêu dùng và tối đa hoá chi phí dành cho giáo dục, y tế Bên cạnh đó, yếu tố thu nhập là một thành phần trong đo lường, tính toán HDI và nó có ảnh hưởng gián tiếp đến việc phân bổ nguồn vốn cho giáo dục và y tế Dựa trên mô hình cơ bản, thu nhập

có thể chia thành chi phí tiêu dùng và chi phí cho sức khỏe, học vấn Dẫn đến, chi tiêu cho y tế, giáo dục không những có tác động trực tiếp đến các thành phần của chỉ

số HDI mà còn tác động gián tiếp thông qua thành phần thu nhập Tóm lại, để thực hiện chiến lược tối đa hóa HDI thì chính phủ cần phải tối đa hóa chi phí cho y tế, giáo dục Bài viết đã cung cấp một lý thuyết mạnh mẽ, làm nền tảng cho việc xác định chiều hướng tương quan giữa HDI và chi phí cho y tế, giáo dục của chính phủ khi xác định mô hình nghiên cứu của luận văn này

Cùng thu được kết quả tương tự các nghiên cứu trên là nghiên cứu tình huống tại địa phương thuộc Indonesia của Sanusi Fettah và Aspa Muji (2012) về phân bổ chi tiêu của chính quyền địa phương đối với HDI tại vùng Jeneponto, Indonesia Theo

đó, sự phân bổ chi tiêu của địa phương cho lĩnh vực y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng

Trang 32

có tác động tích cực với tầm quan trọng ngày càng tăng đối với HDI tại địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy chi tiêu cho giáo dục mang lại kết quả thay đổi chỉ số HDI tốt nhất, kế đến là chi cho cơ sở hạ tầng và cuối cùng là y tế Bên cạnh đó, ba khoản chi cho y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng có khả năng giải thích đến 98,7% sự thay đổi của HDI ở địa phương này Qua kết quả nghiên cứu trên, giả thuyết về mối liên hệ cùng chiều giữa các khoản chi địa phương đến HDI một lần nữa được củng

cố thêm Cùng với đó, mối tương quan này không chỉ đúng khi xem xét ở cấp độ quốc gia, mà ngay cả ở cấp độ địa phương cũng thu được kết qua tương tự

Trong nghiên cứu năm 2010, Son và Hyun H đã chứng minh rằng GDP bình quân đầu người là một yếu tố quan trọng quyết định mức sống của con người, sự phong phú của một quốc gia và điều kiện sống tốt Một quốc gia có thể tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách thúc đẩy kinh tế Đồng thời, bên cạnh yếu tố thu nhập tác động lên các tiêu chuẩn của cuộc sống thì các dịch vụ công được chính phủ cung cấp trong lĩnh vực y tế, giáo dục, cũng giữ vai trò quan trọng không kém Nếu như tăng trưởng kinh tế không đạt hiệu suất mong muốn, không đủ

để cải thiện cuộc sống của người dân, thì chính phủ nên tăng chi tiêu công để thúc đẩy những cải tiến trong y tế và giáo dục Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là chi tiêu bao nhiêu mà hiệu quả của khoản chi đó như thế nào Qua kết quả nghiên cứu từ 177 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, Son và Hyun H đi đến kết luận rằng có rất nhiều trường hợp sự phát triển con người đã diễn ra mạnh mẽ nhờ vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Cũng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc đầu tư vào tăng trưởng kinh tế sẽ chuyển hết vào sự phát triển con người Đồng thời, tăng chi tiêu công là điều cần thiết nhưng không phải là tất cả để cải thiện chất lượng sống Thay vào đó, kế hoạch của chính phủ, cách phân phối nguồn lực và quản lý các dịch vụ công mới là những yếu tố chính trong việc xác định sự tiến bộ trong phát triển con người

Nghiên cứu của Ahmad Danu Prasetyo, Ubaidillah Zuhdia (2013) sử dụng phương pháp DEA để tính toán giá trị hiệu quả đối với chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế và giáo dục và xem xét tính hiệu quả này đối với HDI Nghiên cứu đã nhận thấy sự

Trang 33

tương quan thuận chiều giữa hiệu quả chi tiêu công cho lĩnh vực y tế và giáo dục với HDI Tuy nhiên, tương quan này chưa thật sự được lượng hóa rõ ràng mà chỉ dựa trên

sự quan sát và giải thích thông qua sự tiến triển chậm của các mục tiêu phát triển do Liên Hợp Quốc đề xuất

Opreana & Mihaiu (2011), trong một nghiên cứu mang tựa đề “Phân tích về Mối quan hệ giữa hệ thống y tế và trình độ phát triển con người trong Châu Âu” đã chỉ ra rằng có sự tương quan giữa chi tiêu y tế và phát triển con người Họ đã đề cập rằng tuổi thọ và sức khỏe là một thành phần của chỉ số phát triển con người, do đó có sự tương quan mạnh mẽ giữa sức khoẻ và những nỗ lực để làm cải thiện sức khoẻ với sự phát triển con người Nghiên cứu cho thấy: Chi phí cho sức khoẻ sẽ làm tăng sự phát triển của con người và bản thân sự phát triển của con người cũng sẽ tăng cường thúc đẩy cải thiện sức khoẻ Do đó mối quan hệ giữa chi tiêu y tế và phát triển con người

là mối quan hệ song phương

Baldacci, Guin-Siu và de Mello (2003), trong một bài viết đã xem xét hiệu quả chi phí của y tế công cộng và giáo dục và kết luận rằng các chương trình xã hội như

y tế chăm sóc cộng đồng và giáo dục nói chung có liên quan đến sự phát triển của con người Như vậy, chi tiêu của chính phủ đối với cả hai sẽ cho kết quả tốt, mặc dù các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy những ảnh hưởng yếu ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển

Clovis, Nobuko (2011), kết luận rằng thị trường thất bại trong việc huy động vốn

tư nhân đầu tư cho dịch vụ y tế công và giáo dục công trong khi mục tiêu phát triển thiên niên kỉ của Liên Hợp Quốc là chú trọng phát triển các chỉ số về sức khỏe và giáo dục, điều này càng khẳng định vai trò quan trọng của chi tiêu chính phủ đối với

y tế và giáo dục Nghiên cứu đã chứng minh chi tiêu chính phủ về y tế và giáo dục

có tác động tích cực tới phát triển con người, do đó các nước đang phát triển muốn đạt được mục tiêu thiên niên kỉ cần tăng chi tiêu hợp lý cho y tế và giáo dục nhằm góp phần cải thiện sức khỏe, trình độ và thu nhập của người dân

Sudhir Anand và Martin Ravallion (1993) cho rằng cơ cấu chi tiêu công (đặc biệt

là tỷ lệ chi tiêu cho y tế và giáo dục) có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường

Trang 34

phát triển con người ở các nước đang phát triển, và vấn đề này khá độc lập với những hỗ trợ phát triển người nghèo từ phía chính phủ của các quốc gia đang phát triển

Chi tiêu y tế sẽ cải thiện sự phát triển của con người thông qua một vài kênh: tăng trưởng kinh tế, giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện quá trình học tập Tăng trưởng kinh tế là quá trình tăng năng lực của sự phát triển kinh tế, khi đó sẽ tăng mức thu nhập và sản xuất Y tế trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Tăng sức khoẻ làm tăng nguồn nhân lực thông qua việc tích lũy vốn sức khoẻ, và có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng Mặt khác, tăng sức khoẻ cải thiện năng suất lao động thông qua tăng tuổi thọ và giảm ngày nghỉ làm việc do bệnh tật và gián tiếp ảnh hưởng đến sản xuất Theo một số nhà kinh tế, chi tiêu y tế sẽ làm giảm GDP vì nó làm giảm nguồn lực từ đầu tư sản xuất Khái niệm mới về nguồn nhân lực của Becker (1964) đã mở ra một lộ trình khác cho thấy ảnh hưởng chi tiêu y tế lên GDP Theo hướng mới này, chi tiêu y tế bằng cách cải thiện các chỉ số sức khoẻ

sẽ làm tăng lượng nguồn vốn con người và tăng trưởng GDP ở các nước Có thể nói rằng, ống dẫn chính của sức khoẻ tác động đến tăng trưởng kinh tế là do sức khoẻ ảnh hưởng đến năng suất lao động Vì lực lượng lao động khỏe mạnh có động lực lớn hơn và năng suất cao hơn, vì vậy nếu chi tiêu y tế cải thiện sức khoẻ cộng đồng,

có thể dẫn đến tăng sản xuất thông qua cải thiện hiệu quả Thông thường, hiệu quả cuối cùng là các yếu tố như đặc điểm cá nhân (khả năng nhận thức, sức khoẻ, công việc, thời gian làm việc và khả năng thể chất và tinh thần), các yếu tố sản xuất (đất, vốn, máy móc, thiết bị và đầu vào trung gian) và công nghệ Y tế là một trong những đầu vào của chức năng năng suất, có tác động trực tiếp đến hiệu quả của lao động và kết quả là về lực lượng lao động Bởi vì những người khỏe mạnh hơn có hiệu quả công việc cao hơn Như đã giải thích, tác động tích cực của chi tiêu y tế đối với tăng trưởng kinh tế được quan sát trực tiếp và gián tiếp và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người có thể được xem xét, tăng trưởng kinh tế

sẽ góp phần làm tăng HDI Ngoài việc cải thiện nhân lực y tế, tăng tuổi thọ và giảm

tử vong và kết quả là Tuổi thọ, thì việc tăng chi tiêu cho y tế còn có tác động tích

Trang 35

cực tới động lực để học tập và nâng cao kỹ năng Do đó, việc chi tiêu y tế ngày càng tăng sẽ liên quan đến khả năng học hỏi và tăng tuổi thọ từ cách này sẽ thúc đẩy sự phát triển của con người Chính vì lẽ đó, chi phí y tế sẽ có tác động tích cực đến phát triển con người thông qua tăng trưởng kinh tế gia tăng và giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao khả năng học tập Chi tiêu y tế của chính phủ là tổng số tiền chi cho lĩnh vực y tế, vì vậy sức khoẻ được công nhận là hàng hoá công mà khu vực tư nhân sẵn sàng đầu tư Như vậy chi tiêu y tế của chính phủ sẽ góp phần thúc đẩy sức khoẻ cộng đồng và thông qua các kênh cụ thể sẽ dẫn đến sự phát triển của loài người Nghiên cứu của Mohammad Javad Razmi, EzatollahAbbasian, Sahar Mohammadi (2012) cũng đã kiểm tra thực nghiệm và cho kết luận: Các tính toán cho thấy chi phí

y tế công cộng có tác động tích cực và đáng kể (+0.17) đối với sự phát triển của con người Nói cách khác, bằng cách tăng 1% chi tiêu chăm sóc sức khoẻ sẽ thúc đẩy sự phát triển của con người bằng 0,17% Có thể khẳng định giả thuyết nghiên cứu này

về tác động tích cực của chi tiêu y tế đối với sự phát triển của con người và nó cho thấy tầm quan trọng của ngân sách chi tiêu của chính phủ đối với y tế Để phân tích tác động này, chi tiêu y tế thông qua kênh nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh

tế có tác động hiệu quả đến phát triển con người Do chi phí y tế gia tăng nên sẽ nâng cao năng suất lao động và tăng nguồn cung lao động và kết quả tăng năng suất

và tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng trong chỉ số phát triển con người Mặt khác, chi phí y tế tăng làm giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ, do đó, theo các kênh này, có thể nói rằng chi tiêu y tế của chính phủ có hiệu quả đối với phát triển con người Thật vậy, người khỏe mạnh có thể có cuộc sống lâu hơn và cũng có thể làm việc tốt hơn với tỷ lệ sản xuất cao hơn và nhiều cơ hội tăng khả năng được giáo dục

do không mất nhiều chi phí cho việc điều trị bệnh tật Tất cả những điều này có ảnh hưởng đến các thành phần của chỉ số phát triển con người và thúc đẩy tăng chỉ số này Các tính toán và ước tính cũng đã khẳng định, “việc thúc đẩy chi tiêu y tế và chi tiêu (dự phòng và dịch vụ y tế) sẽ thúc đẩy phát triển con người”

Trang 36

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Dữ liệu

Luận văn sử dụng dữ liệu thu thập được từ 50 quốc gia đang phát triển giai đoạn từ

2003 đến 2015 Nguồn dữ liệu dùng để phân tích định lượng là dữ liệu bảng bao gồm

650 quan sát với 50 đơn vị chéo theo không gian là 50 quốc gia đang phát triển trong thời gian 13 năm từ 2003 đến 2015 Số liệu này được lấy từ dữ liệu công bố chính thức của WB, IMF và UNDP (HDRO) về chi tiêu chính phủ cho giáo dục, chi tiêu chính phủ cho y tế và chỉ số phát triển con người HDI Có một số năm bị khuyết một phần số liệu, tác giả đã sử dụng kỹ thuật loại bỏ những quan sát có dữ liệu thiếu trong quá trình hồi quy mô hình Vì vậy, khi chạy mô hình 1 (ở mục 3.2) số quan sát chỉ còn lại 418 quan sát; mô hình 2 (ở mục 3.2) số quan sát chỉ còn lại 230 quan sát; mô hình 3 (ở mục 3.2) số quan sát chỉ còn lại 263 quan sát

2.2 Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu này có phát triển con người là biến phụ thuộc được đo bằng chỉ số phát triển con người HDI HDI được tính toán dựa trên ba khía cạnh cơ bản là: cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh (tính bằng tuổi thọ trung bình); khả năng tiếp cận tri thức (tính bằng tỉ lệ biết chữ của người lớn và tỉ lệ đi học nói chung); và mức sống hợp

lý (tính bằng GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương) Chỉ số phát triển con người HDI nhận giá trị từ 0 đến 1.”

Biến độc lập là các khoản chi tiêu chính phủ cho y tế và chi tiêu chính phủ cho giáo dục cùng với các biến kiểm soát Dựa theo phương pháp tính toán chỉ số HDI

và các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mối tương quan dương giữa chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục đối với HDI

Dựa trên các nghiên cứu trước đây của Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012); Sanjeev Gupta và cộng sự (2002); Sudhir Anand và Martin Ravallion (1993); Opreana & Mihaiu (2011); Baldacci, Guin-Siu và de Mello (2003)… cùng ghi nhận tác động tích cực của chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI Tác giả đề xuất giả thuyết có sự tác động tích cực từ chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục tới HDI

Trang 37

Các biến kiểm soát cũng được các nghiên cứu trước sử dụng để kiểm soát bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tỷ lệ tử vong và tỷ lệ hoàn thành bậc tiểu học (Mohammad Javad Razmi và cộng sự, 2012), chi tiêu công cho cơ sở

hạ tầng (Sanusi Fettah và Aspa Muji, 2012),…

Trong kinh tế học, rất thường xuyên xảy ra hiện tượng biến độc lập X của những năm trước đó sẽ ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Y ở năm sau, hay nói cách khác là tác động của X đến Y có một độ trễ Trên thực tế cho thấy, một chính sách mà chính phủ đưa ra cần một khoảng thời gian mới tạo ra những tác động biến đổi trong nền kinh và xã hội,…điều này cũng đúng với một khoản chi tiêu chính phủ cho y tế và giáo dục cũng cần thời gian để tác động đến kết quả thay đổi về sức khỏe và giáo dục cũng như tăng trưởng kinh tế và HDI, điều này là do nhiều nguyên nhân như yếu tố tâm lý, thói quen, hay điều kiện vật chất kỹ thuật,…nên cần có một độ trễ nhất định để phát huy tác dụng Việc đưa độ trễ vào mô hình sẽ làm cho số quan sát

bị giảm gây ra tình trạng thu hẹp dữ liệu Alt (1942) và Tinbergen (1949) đã đề xuất cách ước lượng phi thể đối với các mô hình có phân phối độ trễ thông qua hồi quy biến phụ thuộc theo các biến giải thích có độ trễ tăng dần và sẽ dừng lại khi có sự thay đổi của các hệ số hồi quy của biến trễ Áp dụng quy tắc này thì ta dừng lại ở độ trễ (t-1)

Việc đánh giá tác động của chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế và lĩnh vực giáo dục đến HDI được tác giả đánh giá trên ba phương diện:

Một là, tác động của mức chi tiêu chính phủ cho y tế và mức chi tiêu chính phủ cho giáo dục đến HDI Đánh giá này nhằm đưa ra kết luận về quy mô chi tiêu chính phủ cho y tế và cho giáo dục có tác động như thế nào đến HDI nhằm gợi ý chính sách cho việc nên tăng mức chi tiêu cho y tế và cho giáo dục hay không?

Hai là, tác động của cơ cấu chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực y tế và cho lĩnh vực giáo dục trong tổng chi tiêu chính phủ đến HDI Đánh giá này nhằm đưa ra kết luận

về tác động của cơ cấu chi tiêu cho y tế và giáo dục đến HDI nhằm gợi ý chính sách cho việc phân chia cơ cấu đầu tư công nhằm tăng cường HDI

Trang 38

Ba là, tác động của tổng chi tiêu công cho cả y tế và giáo dục đến HDI Đánh giá này nhằm tìm ra tác động kết hợp của cả chi tiêu y tế và giáo dục đến HDI, vì chi tiêu cho y tế có thể tác động đến kết quả giáo dục và ngược lại Điều này góp phần đưa ra hàm ý chính sách chuẩn xác hơn cho chi tiêu công đối với hai lĩnh vực y tế

và giáo dục nhằm thúc đẩy HDI phát triển

Tóm lại, mô hình nghiên cứu có dạng

HDIit = β0 + β1 GEit + β2 GEi(t-1) + β3.GHit + β4.GHi(t-1) + β5.GDPnit + β6git + vt (mô hình 1)

HDIit = β0 + β1 GE-git+ β2.GH-git + β3.GINIit + β4.GDPnit + β5 git + vt (mô hình 2)

HDIit = β0 + β1 GHEit + β2 GHEi(t-1) + β3.GINIit + β4.GDPnit + β5.git + vt (mô hình 3)

Trong các phương trình trên, i đại diện cho quốc gia, t đại diện cho thời gian HDIit: Chỉ số phát triển con người

GEit: Chi tiêu chính phủ cho giáo dục

GHit: Chi tiêu chính phủ cho y tế

GDPnit: GDP bình quân đầu người

git: tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 39

2.3 Các biến số trong mô hình

Bảng 2.1 Bảng mô tả các biến

Kì vọng

Biến phụ thuộc

Chỉ số phát triển

con người HDI

Được HDRO nghiên cứu và đưa vào sử dụng từ năm 1990

Baldacci, Guin-Siu và de Mello (2003); Sudhir Anand

và Martin Ravallion (1993);

Awaworyi và cộng sự, 2015;…

+

Chi tiêu chính

phủ cho y tế GH

Là số tiền chính phủ chi hằng năm cho lĩnh vực y tế hoặc cơ cấu chi tiêu cho y tế trong tổng chi tiêu chính phủ

Mohammad Javad Razmi và cộng sự (2012); Opreana &

và giáo dục

Awaworyi và cộng sự, 2015 +

Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó

2.4 Phương pháp phân tích

Đối với dữ liệu bảng, có nhiều phương pháp để thực hiện ước lượng hồi quy cho

mô hình nghiên cứu Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm của nó,

Trang 40

trong hầu hết các nghiên cứu trước đã sử dụng từ mô hình phổ biến nhất đến mô hình phức tạp hơn, phù hợp với dữ liệu nghiên cứu Sau đây sẽ trình bày các phương pháp ước lượng hồi quy phổ biến sẽ sử dụng trong nghiên cứu này

2.4.1 Phương pháp ước lượng hồi quy tác động cố định (FEM)

Mô hình hồi quy tác động cố định xem mỗi cá thể có một hệ số tung độ góc khác nhau nhưng chênh lệch tung độ góc của hàm hồi quy chung và hàm hồi quy riêng cho từng cá thể nghiên cứu là cố định và hệ số góc của từng hàm hồi quy riêng cho của từng cá thể là không đổi Mô hình hồi quy FEM có dạng:

Yit = β1 + β2X2it + β3X3it+ …….+ βnXnit + ui + eit

- i (quốc gia): 1-50 và t (năm): 2003-2015

Mô hình FEM xuất hiện ui là những yếu tố cố định không đổi theo thời gian Những yếu tố này không quan sát được và nằm ở sai số Nó có thể tác động lên

cả các biến độc lập (X) và biến phụ thuộc (Y) Vì ui tác động tới X nên sai số kết hợp (vit) cũng tác động tới X, dẫn đến ước lượng bị chệch và không vững Do vậy cần phải dùng ước lượng FEM để biến đổi phương trình giúp cho các ước lượng β

là không chệch và vững

2.4.2 Phương pháp ước lượng hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM)

Mô hình hồi quy REM có dạng:

Yit = β1 + β2X2it+ β3X3it+ …….+ βnXnit + ui + eit

Mô hình REM“xuất hiện ui là những yếu tố cố định không đổi theo thời gian Những yếu tố này không quan sát được và nằm ở sai số Nó được giả định là không tác động lên X Vì ui không tác động tới X nên vit không tác động tới X Tuy nhiên vấn đề ở chỗ, ui + eit được gọi là sai số kết hợp theo từng thời điểm, vì vậy nó có thể xuất hiện hiện tượng tự tương quan ở sai số.”Để xử lý vấn đề này không thể sử

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Alves, D. và W. Belluzzo (2005), “Child Health và Infant Mortality in Brazil”, Research Network Working paper, No. R-493, Inter-American Development Bank, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Child Health và Infant Mortality in Brazil”, "Research Network Working paper
Tác giả: Alves, D. và W. Belluzzo
Năm: 2005
5. Asghar, N., Hussain, Z. và Rehman, H.U., 2012. The impact of government spending on poverty reduction: Evidence from Pakistan 1972 to 2008. African Journal of Business Management, 6(3), pp.845-853 Sách, tạp chí
Tiêu đề: African Journal of Business Management, 6
6. Awaworyi, Sefa và Yew, Siew Ling và Ugur, Mehmet (2015): Effects of Government Education và Health Expenditures on Economic Growth: A Meta-analysis, Munich Personal RePEc Archive, truy cập tháng 2/2018 từ https://mpra.ub.uni-muenchen.de/68007/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of Government Education và Health Expenditures on Economic Growth: A Meta-analysis
Tác giả: Awaworyi, Sefa và Yew, Siew Ling và Ugur, Mehmet
Năm: 2015
8. Baldacci, E., M.T. Guin-Siu và L. de Mello (2003), “More on the Effectiveness of Public Spending on Health Care và Education: A Covariance Structure Model”, Journal of International Development, Vol. 15, pp. 1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: More on the Effectiveness of Public Spending on Health Care và Education: A Covariance Structure Model”, "Journal of International Development
Tác giả: Baldacci, E., M.T. Guin-Siu và L. de Mello
Năm: 2003
9. Barro, R.J., (1990), “Government Spending in a Simple Model of Endogenous Growth”, Journal of Political, Economy 98, part 2, S103–S125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government Spending in a Simple Model of Endogenous Growth”, "Journal of Political, Economy 98
Tác giả: Barro, R.J
Năm: 1990
12. Bidani, Benu và Martin Ravaillon (1997), “Decomposing Social Indicators using Distributional Data,” Journal of Econometrics, 77, 125-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Decomposing Social Indicators using Distributional Data,” "Journal of Econometrics
Tác giả: Bidani, Benu và Martin Ravaillon
Năm: 1997
13. Blankenau, W. F., Simpson, N. B., &amp; Tomljanovich, M. (2007). Public Education Expenditures, Taxation, và Growth: Linking Data to Theory.American Economic Review, 97(2), 393-397 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review, 97
Tác giả: Blankenau, W. F., Simpson, N. B., &amp; Tomljanovich, M
Năm: 2007
16. Clovis Freire, Nobuko Kajiura (2011), Impact of Health Expenditure on Achieving the Health-Related MDGs (No. WP/11/19). United Nations Economic và Social Commission for Asia và the Pacific (ESCAP) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Health Expenditure on Achieving the Health-Related MDGs
Tác giả: Clovis Freire, Nobuko Kajiura
Năm: 2011
17. Cooray, A. (2009). Government Expenditure, Governance và Economic Growth. Comparative Economic Studies, 51(3), 401-418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparative Economic Studies, 51
Tác giả: Cooray, A
Năm: 2009
19. Doryan, E., 2001. Poverty, Human Development, và Public Expenditure: Developing Actions for Government và Civil Society, in “Equity và Health Sách, tạp chí
Tiêu đề: 19. Doryan, E., 2001. Poverty, Human Development, và Public Expenditure: Developing Actions for Government và Civil Society, in “Equity và Health
20. Easterly, W. và S. Rebelo (1993), “Fiscal policy và economic growth: An empirical investigation”, Journal of Monetary Economics 32, 417–458 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiscal policy và economic growth: An empirical investigation”, "Journal of Monetary Economics
Tác giả: Easterly, W. và S. Rebelo
Năm: 1993
22. Fayissa, B. và P. Gutema (2005), “Estimating a Health Production Function for Sub-Saharan Africa (SSA)”, Applied Economics, Vol. 37, pp. 155-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimating a Health Production Function for Sub-Saharan Africa (SSA)”, "Applied Economics
Tác giả: Fayissa, B. và P. Gutema
Năm: 2005
25. Filmer, D., J.S. Hammer và L.H. Pritchett (2000), “Weak Links in the Chain: A Diagnosis of Health Policy in Poor Countries”, World Bank Research Observer, Vol. 15, pp. 199-224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weak Links in the Chain: A Diagnosis of Health Policy in Poor Countries”, "World Bank Research Observer
Tác giả: Filmer, D., J.S. Hammer và L.H. Pritchett
Năm: 2000
26. Flug, K., A. Spilimbergo và E. Watchenheim (1998), “Investment in Education: Do Economic Volatility v à Credit Constraints Matter?”, Journal of Development Economics, Vol. 55, pp. 465-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment in Education: Do Economic Volatility v à Credit Constraints Matter?”, "Journal of Development Economics
Tác giả: Flug, K., A. Spilimbergo và E. Watchenheim
Năm: 1998
28. Garay, Pedro V;Zereyesus, Yacob A và Thompson, Alexi, (2014). Making Every Dollar Count: Local Government Expenditures và Welfare. Modern Economy 5.1 (Jan 2014): pages 86-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Making Every Dollar Count: Local Government Expenditures và Welfare
Tác giả: Garay, Pedro V;Zereyesus, Yacob A và Thompson, Alexi
Năm: 2014
29. Gupta, S., De Mello, L. và Sharan, R., 2001. Corruption và military spending. European Journal of Political Economy,17(4), pp.749-777 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Political Economy,17
32. Hanushek, E. A., &amp; Woessmann, L. (2008). The Role of Cognitive Skills in Economic Development. Journal of Economic Literature, 46(3), 607-668 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Literature, 46
Tác giả: Hanushek, E. A., &amp; Woessmann, L
Năm: 2008
33. J. Tinbergen, (1949). Long term Foreign Trade Elasticities. Metroeconomica Vol 1, pages 174-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Long term Foreign Trade Elasticities
Tác giả: J. Tinbergen
Năm: 1949
34. Jack, W. (1999), Principles of Health Economics for Developing Countries, Institute of Development Studies, World Bank, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Health Economics for Developing Countries
Tác giả: Jack, W
Năm: 1999
1. Nguyễn Đình Tuấn (2014), Nghiên cứu phát triển con người: Quan điểm, xu hướng và những gợi mở, Truy cập vào ngày 20 tháng 1 năm 2017 từ http://ihs.vass.gov.vn/noidung/tapchi/Lists/TapChiSoMoi/View_Detail.aspx?ItemID=100)Tài liệu nước ngoài Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm