1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của Hiệp định TPP tới việc làm, đời sống của người lao động và hoạt động công đoàn

37 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 239 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thị trường mà doanh nghiệp Việt Nam có thểhướng đến là các thị trường của các nước thành viên chưa có hiệp định tự dothương mại song phương với Việt Nam như Mỹ, Canada, Mexico, Peru

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trương lớn trong tổng thể quá trìnhđổi mới kinh tế của nước ta Trong đó, tham gia Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiếnlược xuyên Thái Bình Dương là bước đi quan trọng của quá trình nhiều gian nanthử thách đó

Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - còn gọi là TPP) là một Hiệpđịnh thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằngthương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương Vì vậy,cùng với WTO, việc trở thành thành viên của TPP là sự khẳng định sự hội nhậptoàn diện kinh tế của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu và là dấu hiệu quan trọngcủa một môi trường đầu tư hấp dẫn

(Trans-Ngày 13/11/2010, Việt Nam đã tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thànhviên đầy đủ Từ đó đến nay, Việt Nam đã tích cực tham gia các vòng đàm phánchính thức của TPP Tham gia TPP tạo ra những vận hội và thách thức đối với nềnkinh tế nói chung, đối với người lao động và tổ chức công đoàn Việt Nam nóiriêng, chúng ta cần có những đối sách chủ động, tích cực, tranh thủ thời cơ, vượtqua thách thức góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu

"Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Với ý nghĩa đó, chúng em

chọn đề tài "Tác động của Hiệp định Hợp tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tới việc làm, đời sống của người lao động và hoạt động công đoàn" làm nội dung nghiên cứu thực hiện chuyên đề 1.

Chuyên đề gồm 3 phần:

- Phần thứ nhất: Giới thiệu khái quát về TPP

- Phần thứ hai: Tác động của TPP tới việc làm, đời sống của người lao động

và hoạt động công đoàn

- Phần thứ ba: Những giải pháp nhằm bảo đảm việc làm, nâng cao đời sốngcho người lao động và hoạt động công đoàn

Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện chuyên đề, mặc dù chúng em đã cónhiều cố gắng, song chắc chắn sẽ còn những hạn chế nhất định Kính mong nhậnđược sự góp ý của PGS.TS Nguyễn Văn Toàn và Quý Thầy Cô giáo để chuyên đề

được hoàn thiện hơn Trân trọng cảm ơn!

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT KHÁI QUÁT VỀ HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ CHIẾN LƯỢC

XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)

I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TPP

1 TPP là gì?

TPP là cụm từ viết tắt của tiếng Anh “Trans-Pacific Strategic EconomicPartnership Agreement” là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái BìnhDương hay Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP là một hiệp địnhthương mại tự do nhiều bên, được coi như một hiệp định thương mại tự do thế hệthứ 2 với mục tiêu thiết lập một mặt bằng tự do chung cho các nước khu vực Châu

Á - Thái Bình Dương

Đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 nềnkinh tế hai bờ Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, là một trong những đàmphán thương mại tự do quan trọng nhất của Việt Nam trong thời gian này Nếuđược ký kết, TPP sẽ mở ra một thị trường thương mại chung rộng lớn với gần 800triệu người tiêu dùng và 40% GDP toàn cầu Cùng với đó, các thành viên đàmphán TPP nhất trí xây dựng một hiệp định TPP “tiêu chuẩn cao”, “thế hệ mới” vớimức độ tự do hóa sâu, ở phạm vi rộng, bao gồm cả những vấn đề truyền thống vàmới, cả các nội dung thương mại và phi thương mại

Vì vậy, Hiệp định TPP được ký kết sẽ có tác động mạnh mẽ tới tương lai của

cả nền kinh tế cũng như của mỗi ngành kinh tế Việt Nam, trong đó các doanhnghiệp Việt Nam sẽ là những người hưởng lợi ích nhiều nhất từ hiệp định thươngmại quốc tế này Khi các dòng thuế giảm xuống, các doanh nghiệp Việt Nam cóthể gia tăng xuất khẩu quần áo, giày dép và nhiều mặt hàng khác vốn là thế mạnhcủa mình vào các thị trường lớn Các thị trường mà doanh nghiệp Việt Nam có thểhướng đến là các thị trường của các nước thành viên chưa có hiệp định tự dothương mại song phương với Việt Nam như Mỹ, Canada, Mexico, Peru trong đóđáng lưu ý nhất là thị trường Mỹ

2 Tầm quan trọng Hiệp định TPP

Hiệp định TPP có những điểm khác biệt so với các hiệp định thương mại ViệtNam đã ký trước đây Đó là, Hiệp định TPP với 12 nước tham gia đàm phán baophủ 40% GDP kinh tế toàn cầu và dự kiến mang lại thêm 300 tỷ USD nếu hiệp

Trang 3

định hoàn thành TPP được đánh giá là hiệp định của thế kỷ XXI với kỳ vọng tạo

ra một tiêu chuẩn, khuôn khổ cơ bản cho quá trình hội nhập khu vực, thậm chí của

cả thế giới So với các Hiệp định thương mại tự do khác (gọi chung là FTA), TPP

có tham vọng, toàn diện và sâu rộng hơn hẳn Trước kia khi đàm phán WTO, ViệtNam chỉ đàm phán 2 lĩnh vực là mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, cùng vớiđàm phán đa phương, thì nay với TPP, Việt Nam phải đàm phán tới 30 chương,trong đó có những lĩnh vực lần đầu tiên như công đoàn, lao động, doanh nghiệpnhà nước

Hiệp định TPP thực sự là một hiệp định với các tiêu chuẩn mới và cao vềthương mại và đầu tư tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là một bước quantrọng để tiến tới mục tiêu cao nhất 5 đặc điểm chính làm TPP trở thành một hiệpđịnh mang tính bước ngoặt của thế kỷ 21, tạo ra một tiêu chuẩn mới cho thươngmại toàn cầu, đó là:

a) Tiếp cận thị trường một cách toàn diện Hiệp định TPP cắt giảm thuế quan

và các hàng rào phi thuế về căn bản đối với tất cả thương mại hàng hóa và dịch vụ

và điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực về thương mại trong đó có thương mại hànghóa, dịch vụ và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội và lợi ích mới cho doanh nghiệp,người lao động và người tiêu dùng của các nước thành viên

b) Tiếp cận mang tính khu vực trong việc đưa ra các cam kết Hiệp định TPPtạo thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và dây chuyền cung ứng, cũng nhưthương mại không gián đoạn, đẩy mạnh tính hiệu quả và hỗ trợ thực hiện mục tiêu

về tạo việc làm, nâng cao mức sống, thúc đẩy các nỗ lực bảo tồn và tạo thuận lợicho việc hội nhập qua biên giới cũng như mở cửa thị trường trong nước

c) Giải quyết các thách thức mới đối với thương mại Hiệp định TPP thúc đẩyviệc đổi mới, năng suất và tính cạnh tranh thông qua việc giải quyết các vấn đềmới, trong đó bao gồm việc phát triển nền kinh tế số và vai trò ngày càng tăng củacác doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu

d) Bao hàm toàn bộ các yếu tố liên quan đến thương mại Hiệp định TPP baogồm các yếu tố mới được đưa ra để đảm bảo rằng các nền kinh tế ở tất cả các cấp

độ phát triển và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể hưởng lợi từ thươngmại Hiệp định bao gồm các cam kết nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏhiểu rõ về Hiệp định, tận dụng được những cơ hội mà Hiệp định mang lại và nêulên những thách thức đáng chú ý tới chính phủ các nước thành viên Hiệp định

Trang 4

cũng bao gồm những cam kết cụ thể đảm bảo rằng tất cả các bên đều có thể đápứng được những cam kết trong Hiệp định và tận dụng được đầy đủ những lợi íchcủa Hiệp định.

e) Nền tảng cho hội nhập khu vực Hiệp định TPP được ra đời để tạo ra nềntảng cho việc hội nhập kinh tế khu vực và được xây dựng để bao hàm cả nhữngnền kinh tế khác xuyên khu vực châu Á - Thái Bình Dương

3 Khái quát nội dung Hiệp định TPP

Hiệp định TPP gồm 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liênquan tới thương mại:

(1) Các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung

(2) Thương mại hàng hóa: Các Bên tham gia TPP nhất trí xoá bỏ và hoặc cắtgiảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp và xóa

bỏ hoặc cắt giảm thuế quan cũng như các chính sách mang tính hạn chế khác đốivới hàng hoá nông nghiệp

(3) Dệt may: Các Bên tham gia TPP nhất trí xoá bỏ thuế quan đối với hàngdệt may - ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế tạimột số thị trường của các nước TPP Hầu hết các sắc thuế sẽ được xóa bỏ ngay lậptức, mặc dù thuế đối với một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được xóa bỏ với lộ trìnhdài hơn do các bên thống nhất

(4) Quy tắc xuất xứ: 12 nước thành viên đã thống nhất về một bộ quy tắcxuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ” và do đó được hưởngthuế quan ưu đãi trong TPP

(5) Quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại

(6) Các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật

(7) Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)

(8) Phòng vệ thương mại

(9) Đầu tư: Khi xây dựng các quy định về đầu tư, các thành viên TPP phảiđưa ra các nguyên tắc yêu cầu các chính sách và bảo hộ đầu tư công bằng vàkhông phân biệt đối xử nhằm đảm bảo nguyên tắc cơ bản của luật pháp,trong khivẫn đảm bảo khả năng của Chính phủ các thành viên để đạt được các mục tiêuchính sách công hợp pháp

Trang 5

(10) Thương mại dịch vụ xuyên biên giới: Trên cơ sở tầm quan trọng ngàycàng tăng của thương mại dịch vụ đối với các thành viên TPP, 12 quốc gia chia sẻ

sự quan tâm về tự do hóa thương mại trong lĩnh vực này

(11) Dịch vụ tài chính: Chương dịch vụ tài chính của TPP cung cấp các cơhội mở cửa thị trường đầu tư và qua biên giới quan trọng, trong khi vẫn đảm bảorằng các nước TPP vẫn duy trì quyền quản lý đầy đủ đối với các tổ chức và thịtrường tài chính, thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp khủng hoảng.(12) Nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh

(20) Môi trường

(21) Hợp tác và nâng cao năng lực

(22) Cạnh tranh và Tạo thuận lợi kinh doanh: Chương này tạo nên các cơ chếchính thức nhằm rà soát tác động của TPP lên sức cạnh tranh của các thành viênthông qua các cuộc đối thoại giữa các chính phủ và giữa chính phủ với doanhnghiệp và cộng đồng, tập trung tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực nhằmđánh giá sự phát triển, tận dụng lợi thế của các cơ hội mới, và giải quyết bất cứthách thức nào cơ thể nổi lên khi Hiệp định TPP có hiệu lực

Trang 6

(23) Phát triển

(24) Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các nước TPP chia sẻ mối quan tâm đến việcthúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào thương mại và đảmbảo các doanh nghiệp nhỏ và vừa chia sẻ các lợi ích của Hiệp định TPP

(30) Các điểu khoản cuối cùng

Trong các nội dung trên, đối với Việt Nam chương lao động là một Chươnghoàn toàn mới bởi vấn đề lao động là vấn đề phi thương mại, hầu như chưa từngxuất hiện trong các đàm phán thương mại trước đây (bao gồm cả WTO và cácFTA thế hệ trước) Theo thông tin từ các nguồn thì đàm phán về lao động trongTPP chú yếu tập trung xung quanh các cam kết liên quan tới các quyền lao động

cơ bản Đây không phải là những nội dung mới (bởi hầu hết đã có trong các Côngước của Tổ chức Lao động quốc tế ILO) nhưng lại đặt ra những thách thức lớn chohầu hết các nước tham gia đàm phàn TPP (bởi nhiểu nước trong số này chưa gianhập/chưa phải thành viên của tất cả các Công ước liên quan của ILO) Đối vớiViệt Nam, một số nội dung đàm phàn về lao động trong TPP được cho là khó khăn

và cần có thời gian chuẩn bị mới có thể thực hiện được:

- Các nguyên tắc về điều kiện lao động: là một nền kinh tế đang phát triển ởmức độ thấp, việc đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải duy trì các điều kiệnlao động ở mức cùng tiêu chuẩn tối thiểu với các nước phát triển trong TPP là điềukhông dễ dàng và có thể là tác nhân làm tăng chi phí sản xuất, từ đó giảm sức cạnhtranh của doanh nghiệp

- Về quyền tự do nghiệp đoàn: Quyền tự do nghiệp đoàn (freedom ofassociation) thực chất là quyền tự do công đoàn Trong bối cảnh Việt Nam đangduy trì một hệ thống công đoàn thống nhất và duy nhất (Tổng Liên đoàn Lao độngViệt Nam), yêu cầu về quyền tự do nghiệp đoàn nếu được hiểu theo nghĩa rộng(đa công đoàn) sẽ làm thay đổi hệ thống hiện tại của Công đoàn Việt Nam

Trang 7

- Về thực thi: Theo cách tiếp cận chung trong TPP, việc chấp nhận các camkết về lao động không chỉ đơn thuần bao gồm việc điều chỉnh pháp luật nội địacho phù hợp mà còn phải đảm bảo việc thực thi nghiêm túc trong thực tế với cácbiện pháp trừng phạt khi không đảm bảo thực thi Trong khi đó, ở Việt Nam luôn

có một khoảng cách nhất định giữa pháp luật và thực tiễn, đặc biệt trong vấn đềlao động Mặc dù vậy, Việt Nam cũng có những lợi thế nhất định trong đàm phàn

về vấn đề này:

+ Việt Nam là thành viên ILO và đã tham gia nhiều Công ước quan trọngcủa tổ chức này, trong đó có những Công ước hàm chứa các nguyên tắc trongChương lao động của TPP (bao gồm Công ước số 100 về công bằng trong tiềncông/tiền lương; Công ước số 111 về Phân biệt đối xử về lao động và việc làm;Công ước 182 về các Hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em; Công ước 138 vềtuổi lao động tối thiểu; Công ước 29 về Lao động cưỡng bức; Công ước 144 về Cơchế tham vấn ba bên) Do đó, một phần trong số những cam kết về lao động trongTPP cũng đồng thời là nghĩa vụ của Việt Nam trong ILO;

+ Việt Nam vừa qua đã tiến hành sửa đổi tổng thể pháp luật gốc về laođộng, trong đó đáng kể là hai văn bản Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn.Những thảo luận, trao đổi theo xu hướng mới, kết hợp với những yếu tố tiến bộtrong pháp luật và chính sách về lao động, thậm chí cả các định hướng trong cácđàm phán FTA liên quan tới lao động như TPP đã được đưa vào các văn bản này;

+ Đối với một số vấn đề lao động (đặc biệt là các tiêu chuẩn trong sản xuất,

sử dụng lao động trẻ em/ cưỡng bức điều kiện lao động), trên thực tế, các doanhnghiệp Việt Nam đang sản xuất hàng xuất khẩu cho khách nước ngoài, đặc biệttrong các lĩnh vực gia công (dệt may, giày dép ), từ lâu đã đáp ứng các điều kiệnlao động này Nói cách khác, nếu đây là những điều kiện mới trong TPP thì doanhnghiệp Việt Nam được suy đoán là vẫn có thể tuân thủ được;

+ Về một số vấn đề nhạy cảm trong đàm phán về lao động, ví dụ như quyềnnghiệp đoàn, theo Hiệp định Việt Nam cũng như tất cả các nước tham gia TPPphải tôn trọng và đảm bảo quyền của người lao động trong việc thành lập và gianhập tổ chức của người lao động tại cơ sở Điều này có nghĩa tổ chức của ngườilao động có thể lựa chọn gia nhập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng

ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hoạt động Đây là một vấn đề lớn liênquan đến tổ chức công đoàn Việt Nam bởi một khi người lao động có quyền tự do

Trang 8

liên kết thì chỉ có tổ chức nào thực sự giúp họ quyền thương lượng tập thể tổ chức

đó mới là tổ chức đại diện cho họ

Ở góc độ này, hiện nay dang có nhiều người kể cả cán bộ công đoàn hiểunhầm đó là Việt Nam có đến 5 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực thì sau đó các camkết về lao động mới phải thực hiện Thật ra lộ trình 5 năm này (hay 7 năm kể từngày ký TPP) chỉ áp dụng cho cam kết sửa đổi luật sao cho các tổ chức của ngườilao động tại các doanh nghiệp có thể liên kết với nhau ở mức độ ngành hay vùng.Còn việc sửa đổi luật để người lao động tự hình thành tổ chức của mình trongdoanh nghiệp thì áp dụng ngay

II NHỮNG LỢI ÍCH VÀ BẤT LỢI ĐỐI VỚI VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

1 Những lợi ích đối với Việt Nam khi tham gia TPP

1.1 Lợi ích khai thác từ thị trường nước ngoài (các nước đối tác TPP)

Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa): Lợi ích này sẽ có đượckhi hàng hóa Việt Nam được tiếp cận thị trường thành viên TPP với mức thuếquan thấp hoặc bằng không Như vậy lợi ích này chỉ thực tế nếu hàng hóa ViệtNam đang phải chịu mức thuế quan cao ở thị trường này Là một nền kinh tếđịnh hướng xuất khẩu, việc chúng ta có thể tiếp cận các thị trường lớn như Hoa

Kỳ với mức thuế suất bằng không hoặc thấp hơn như vậy sẽ mang lại một số lợithế cạnh tranh vô cùng lớn và triển vọng hết sức lớn cho ngành hàng của ViệtNam, theo đó là lợi ích cho một bộ phận lớn người lao động trong các lĩnh vựcxuất khẩu Lợi ích này không chỉ dừng lại ở những nhóm mặt hàng mà ViệtNam đang có thế mạnh xuất khẩu (ví dụ như: dệt may, giày dép ) mà còn làđộng lực để nhiều nhóm mặt hàng khác hiện chưc có kim ngạch đáng kể cóđiều kiện để gia tăng sức cạnh tranh Nói một cách khác, lợi thế này không chỉnhìn từ góc độ hiện tại mà còn được nhìn thấy ở cả tiềm năng trong tương lai.Lợi ích tiếp cận thị trường: Lợi ích tiếp cận thị trường đối với thương mạidịch vụ và đầu tư, về lý thuyết Việt Nam sẽ được tiếp cận thị trường dịch vụ củacác nước đối tác thuận lợi hơn, với ít các rào cản và điều kiện hơn Tuy vậy trênthực tế dịch vụ của Việt Nam hầu như chưa có đầu tư đáng kể ở nước ngoài donăng lực cung cấp dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém Trong

Trang 9

tương lai, tình hình này có thể thay đổi đôi chút (với những nỗ lực trong việc xuấtkhẩu phần mềm, đầu tư viễn thông hay một số lĩnh vực dịch vụ khác)

1.2 Lợi ích khai thác được tại thị trường nội địa

Lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước ngoài TPP: Người tiêudùng và các nhà sản xuất sử dụng nguyên liệu nhập khẩu từ các nước này làmnguyên liệu đầu vào sẽ được hưởng lợi từ hàng hóa, nguyên liệu giá rẻ, giúp giảmchi phí sinh hoạt và sản xuất, từ đó có thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh củanhững ngành này

Lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tácTPP: Đó là một môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn, mang lại dịch vụ giá rẻhơn chất lượng tốt hơn cho người tiêu dùng, những công nghệ và phương thứcquản lý mới cho đối tác Việt Nam và một sức ép để cải tổ và để tiến bộ hơn chocác đơn vị dịch vụ nội địa

Lợi ích đến từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏichung của TPP: TPP dự kiến sẽ bao trùm cả những cam kết về những vấn đềxuyên suốt như sự hài hòa giữa các quy định pháp luật, tính cạnh tranh, vấn đề hỗtrợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuỗi cung ứng, hỗ trợ phát triển… Đây lànhững lợi ích lâu dài và xuyên suốt các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội,đặc biệt có ý nghĩa đối với nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (doanhnghiệp nhỏ và vừa) và do đó là rất đáng kể

Lợi ích đến từ việc mở cửa thị trường mua sắm công: Mặc dù mức độ mở cửađối với thị trường mua sắm công trong khuôn khổ TPP chưa được xác định cụ thểnhưng có thể khẳng định rằng TPP là động lực tốt để giải quyết những bất cậptrong các hợp đồng mua sắm công và hoạt động đấu thầu xuất phát từ tình trạngthiếu minh bạch như hiện nay Lợi ích đến từ việc thực thi các tiêu chuẩn về laođộng, môi trường, mặc dù về cơ bản những yêu cầu cao về vấn đề này có thể gâykhó khăn cho Việt Nam (đặc biệt là chi phí tổ chức thực hiện của Nhà nước và chiphí tuân thủ của doanh nghiệp) nhưng xét một cách kỹ lưỡng một số tiêu chuẩntrong đó (ví dụ về môi trường) sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo

vệ môi trường (đặc biệt trong đầu tư từ các nước đối tác TPP) và bảo vệ người laođộng nội địa

2 Những bất lợi đối với Việt Nam khi tham gia TPP

Tuy TPP mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng mang lại không ít những bất lợi:

Trang 10

Bất lợi từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP:Giảm thuế quan có thể khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào ViệtNam gia tăng, với giá cả cạnh tranh hơn Hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liênquan tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và cạnh tranh sẽ gay gắt hơn Đây là thực tế đãtừng xảy ra khi chúng ta thực hiện các FTA đã ký mà đặc biệt là ACFTA vớiTrung Quốc Nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản, vốngắn liền với nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong hội nhập là nông dân và nôngthôn

Bất lợi từ việc mở cửa các thị trường dịch vụ: Dịch vụ là mảng hoạt độngthương mại mà mức độ mở cửa thị trường của Việt Nam là hạn chế và dè dặt nhất

So với cách thức đàm phán chọn - cho của WTO, phương pháp chọn - bỏ dự kiếntrong đàm phán TPP sẽ khiến cho bức tranh mở cửa dịch vụ của Việt Nam đối vớicác đối tác TPP thay đổi mạnh mẽ Đây cũng chính là điểm được suy đoán là sẽtạo ra bất lợi lớn cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia TPP Với TPP, sự thamgia mạnh mẽ và tự do hơn của các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệmlâu năm, có ưu thế về dịch vụ trên thế giới (đặc biệt là các nhà cung cấp dịch vụHoa Kỳ) có thể khiến cho các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam gặp khó khănnghiêm trọng

Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao về môi trường, lao động, cạnh tranh…

và các ràng buộc mang tính thủ tục khi ban hành các quy định liên quan đến ràocản kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ Các kết quả đàm phán FTA của Hoa Kỳ trong giaiđoạn gần đây cho thấy nước này nhấn mạnh việc tuân thủ các yêu cầu cao về môitrường, lao động (tiêu chuẩn ILO) hay các ràng buộc nhiều hơn về mặt thủ tục khiban hành hay thực thi các quy định về cạnh tranh, phòng vệ thương mại, TBT,SPS (theo hướng tăng cường thủ tục tham vấn trao đổi trước khi ban hành quyđịnh/biện pháp, quyền tiếp cận tư pháp để giải quyết vướng mắc…)… Các đối tácphát triển như Úc, New Zealand khá quan tâm đến các vấn đề này Vì vậy khảnăng TPP tương lai có thể bao trùm các lĩnh vực này là tương đối lớn

Bất lợi từ việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ Hoa Kỳ là đối tác có tiếng là cứng rắn trong những vấn đề liên quanđến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cả trong WTO lẫn trong các FTA của nước này.Đối với TPP, vấn đề này cũng đã được Hoa Kỳ thể hiện tương đối rõ ràng Tuynhiên, đây lại là vấn đề lớn đối với Việt Nam trong hoàn cảnh thực tế vi phạm cònlớn và các thiết chế bảo hộ còn thiếu hiệu quả Việc bảo hộ chặt chẽ các quyền sở

Trang 11

hữu trí tuệ cũng sẽ dẫn tới những khó khăn trước mắt cho nhiều doanh nghiệp ViệtNam khi phải bỏ vốn nhiều hơn cho những sản phẩm thuộc loại này và người tiêudùng khi phải trả giá đắt hơn cho sản phẩm.

Bất lợi từ việc mở cửa thị trường mua sắm công: Mua sắm công là một vấn

đề phức tạp và hiện vẫn đang là lĩnh vực tương đối đóng đối với tự do thương mại.Đối với Việt Nam, việc mở cửa thị trường mua sắm công được suy đoán là sẽ gây

ra những tác động bất lợi với những lo ngại như sức cạnh tranh của doanh nghiệpnội địa không thể cạnh tranh nổi với các nước TPP trong các vụ đấu thầu lớn, khảnăng Việt Nam tiếp cận được với thị trường mua sắm công của các đối tác TPP làhầu như không có (do hạn chế về năng lực cạnh tranh)…

Từ những lợi ích và cả những bất lợi từ TPP, cần chủ động phát huy nhữnglợi ích và có những biện pháp ứng phó để giảm thiểu những bất lợi Để giảm thiểunhững tác động tiêu cực đó, cần phải hết sức nỗ lực, biến thách thức thành cơ hội

để đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế Cần có các các biệnpháp trợ giúp để chủ động xử lý kịp thời các tác động tiêu cực có thể xảy ra…

PHẦN THỨ HAI TÁC ĐỘNG CỦA TPP TỚI VIỆC LÀM, ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN

I MỘT SỐ THÀNH TỰU CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Thực hiện chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng về hội nhập kinh tếquốc tế, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đạt được những kếtquả vững chắc Việt Nam đã gia nhập ASEAN vào tháng 7-1995, ký kết Hiệp địnhThương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) vào năm 2000, gia nhậpWTO vào tháng 01-2007 và tham gia 08 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khuvực và song phương Cụ thể, ta đã cùng với các nước ASEAN ký các Hiệp địnhthương mại tự do giữa khối ASEAN với các đối tác như Trung Quốc vào năm

2004, với Hàn Quốc vào năm 2006, với Nhật Bản năm 2008, với Australia vàNew Zealand vào năm 2009, với Ấn Độ năm 2009 Ngoài ra, ta đã ký 2 FTA song

Trang 12

phương là FTA Việt Nam - Nhật Bản năm 2008 và FTA Việt Nam - Chile năm2011.

Việt Nam cũng đã tích cực tham gia đàm phán 6 FTA khác, gồm Hiệp địnhĐối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), vớiLiên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan, với Khối thương mại tự do châu

Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sỹ, Nauy, Lích-tân-xten và Ai-xơ-len, FTA vớiHàn Quốc và FTA giữa khối ASEAN với Hồng Công (Trung Quốc) Ngoài ra, tacũng tích cực chủ động tham gia sâu vào diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - TháiBình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và tiến tới sẽ đăng cai APECnăm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã mang lại nhiềuthành tựu lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó:

- Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước, các tổ chứcquốc tế, qua đó Việt Nam đã ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động hộinhập kinh tế quốc tế, ngày càng có tiếng nói quan trọng với ý thức trách nhiệm caotrong các diễn đàn khu vực và thế giới, do đó đã góp phần mở rộng thị trường, thuhút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, tạo điều kiện cho mô hình kinh tếhướng về xuất khẩu của ta, mở rộng thị trường hàng nhập khẩu, góp phần phục vụchiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời từng bước khẳng định đượchình ảnh và vị thế của một quốc gia thành công trong quá trình đổi mới

- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nếu như tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ

1986 - 1990 chỉ đạt 4,4%/năm thì bình quân thời kỳ 1991 - 2011 đạt 7,34%/năm.Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao,trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46% (là mức cao nhất trong vòng

11 năm trước đó) Ngoài ra, có thể nói thành tựu về tăng trưởng kinh tế được nhìnnhận một cách rõ ràng nhất là đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội

và ra khỏi danh sách các nước kém phát triển sau 30 năm đổi mới Đối với hoạtđộng xuất, nhập khẩu, từ năm 1986 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Namtăng đều qua các năm So với năm 1986 (kim ngạch xuất khẩu đạt 789,1 triệuUSD) thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 tăng gấp khoảng 167 lần (132,2 tỷUSD) Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 220 nước vàvùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục Nước ta có vị thế ngày càng lớn trong xuấtkhẩu hàng hóa toàn cầu và được xếp vào nhóm 30 nền kinh tế xuất khẩu hàng hóahàng đầu thế giới Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân

Trang 13

bằng xuất, nhập khẩu, thậm chí là có xuất siêu Năm 2012, Việt Nam đã xuất siêu

287 triệu USD, năm 2013 xuất siêu 9 triệu USD và 10 tháng đầu năm 2014 xuấtsiêu 2 tỷ USD, 9 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu đạt 120,22 tỷ USD; Thúc đẩy vàthu hút vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 1991 - 1997 đã diễn ra làn sóng FDI vàoViệt Nam lần thứ nhất với 2.230 dự án và vốn đăng ký là 16,244 tỷ USD Việcthực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là cam kết gia nhập WTO

đã giúp hoàn thiện và làm minh bạch hệ thống pháp luật, nâng cao sức hấp dẫncủa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài Trong năm 2014, tổng vốn đầu tưFDI vào Việt Nam đã đạt gần 22 tỷ USD, năm 2015 tăng 17,4% so với năm 2014.Khu vực doanh nghiệp FDI đã giải quyết việc làm cho khoảng hơn 2 triệu laođộng trực tiếp, và hàng chục triệu lao động gián tiếp, chiếm hơn 60% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước, góp phần tăng vốn đầu tư phát triển xã hội, tăng kimngạch xuất khẩu, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn

đề xã hội

- Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế, cải thiện tích cực môi trường trongnước Hệ thống luật pháp trong nước cũng không ngừng được sửa đổi theo hướngphù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng,minh bạch hơn, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa doanhnghiệp trong nước và nước ngoài

II TÁC ĐỘNG CỦA TPP TỚI VIỆC LÀM, ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN

do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị trường lao động Việt Namđang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cânbằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp Trong khi chúng ta dư thừa sức

Trang 14

lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụtrung cao cấp lại thiếu hụt lao động trầm trọng

Nguồn nhân lực ở Việt Nam rất dồi dào nhưng lại thiếu trầm trọng về chấtlượng Lao động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếpthu nhanh kỹ thuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưngcòn thiếu tính chuyên nghiệp Trên thị trường lao động hiện tại, nguồn nhân lựccao cấp và công nhân tay nghề cao vẫn đang là mối quan tâm của nhà tuyển dụng.Thị trường đang rất cần các chuyên gia về quản trị kinh doanh, lập trình viên, kỹthuật viên, các nhà quản lý trung gian hiểu biết về tài chính và tiếp thị với yêu cầu

cơ bản về tiếng Anh, các công nhân có tay nghề cao, ham học hỏi… Tuy nhiên,nguồn cung ứng lao động có chất lượng trên thị trường còn hạn chế Bên cạnh đó,

kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác để hoàn thành công việc của người laođộng Việt Nam còn yếu kém Chính điều này đã khiến nhiều doanh nghiệp khôngthể thành công dù họ đã tập hợp được đội ngũ nhân công có đẳng cấp cao

Theo Tổng cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nướctính đến thời điểm 01/01/2016 là 54.61 triệu người, tăng 185 ngàn người so vớicùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm 51.7%; lao động nữchiếm 48.3% Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ướctính 48.19 triệu người, tăng 506.1 ngàn người so với cùng thời điểm năm trước,trong đó lao động nam chiếm 54%; lao động nữ chiếm 46%

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2015ước tính 52.9 triệu người, tăng 142 ngàn người so với năm 2014 Trong tổng sốlao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2015, khu vực nông, lâm nghiệp vàthủy sản chiếm 44.3% (năm 2014 là 46.3%); khu vực công nghiệp và xây dựngchiếm 22.9% (năm 2014 là 21.5%); khu vực dịch vụ chiếm 32.8% (năm 2014 là32.2%) Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2015 khu vực thành thịchiếm 31.2%; khu vực nông thôn chiếm 68.8% Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đãqua đào tạo năm 2015 ước tính đạt 21.9%, cao hơn mức 19.6% của năm trước.Bức tranh lao động Việt Nam còn nhiều điểm mờ, đó là lao động chưa quađào tạo tập trung phần lớn trong các ngành nông nghiệp kém sức cạnh tranh, dệtmay, da giầy và khu vực phi chính thức phi nông nghiệp, chủ yếu là dịch vụ và laođộng tại gia khác…Sự yếu kém về trình độ ngoại ngữ, những kỹ năng làm việcnhóm và cả hạn chế về hiểu biết văn hóa các nước khu vực và thế giới cũng cònđậm trong LLLĐ này

Trang 15

Hơn nữa, mặc dù nước ta đang trong thời kỳ dân số vàng, có tỷ lệ tham gialực lượng lao động lớn và tỷ lệ thất nghiệp thấp, nhưng lao động có việc làm phichính thức phi hộ nông nghiệplại khá cao Năm 2015, tỷ lệ lao động có việc làmphi chính thức phi hộ nông nghiệp của cả nước chiếm 56,4% tổng số lao động cóviệc làm khu vực phi hộ nông nghiệp, trong đó tỷ lệ lao động có việc làm phichính thức phi hộ nông nghiệp khu vực thành thị là 47,1%; khu vực nông thôn là64,5% Ngoài ra, thu nhập của người lao động nhìn chung còn thấp; lương tốithiểu mới chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu tối thiểu và khoảng 80% lao động ViệtNam không có tích lũy hoặc chỉ có mức tích lũy dưới 2 triệu đồng/người/tháng.Tính chung 9 tháng năm 2015, cả nước có 227,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm25% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 938,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếuđói, giảm 27,3%.

Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu pháttriển và hội nhập Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưaqua đào tạo; chất lượng nguồn nhân lực nước ta đang còn thấp là một trong những

"điểm nghẽn" cán trở sự phát triển Báo cáo đánh giá của Ngân hàng thế giới(WB) năm 2014 cho thấy, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề,công nhân kỹ thuật bậc cao Phần lớn người sử dụng lao động cho biết, tuyển dụnglao động là công việc khó khăn vì các ứng viên không có kỹ năng phù hợp, hoặckhan hiếm lao động trong một số ngành nghề cụ thể Về chất lượng nguồn nhânlực, tính theo thang điểm 10, Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nướcchâu Á tham gia xếp hạng của WB; trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm, Ấn Độ là5,76 điểm, Ma-lai-xi-a là 5,59 điểm, Thái-lan là 4,94 điểm…Bên cạnh chất lượngnguồn nhân lực thấp, cơ cấu trình độ nhân lực lao động của Việt Nam cũng đangthể hiện sự bất cập, khi tỷ lệ lao động gián tiếp (tốt nghiệp đại học trở lên) lại caohơn nhiều so với những người lao động trực tiếp (trình độ sơ cấp, trung cấp) Theothống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê, cơ cấutrình độ nhân lực lao động Việt Nam năm 2015: tỷ lệ tốt nghiệp đại học trở lênchiếm 41,51%; cao đẳng là 14,99%; trung cấp là 27,11% và sơ cấp 16,39% Tỷ lệlao động qua đào tạo thấp là nguyên nhân quan trọng dẫn đến năng suất lao độngcủa Việt Nam nằm trong nhóm thấp của khu vực châu Á - Thái Bình Dương vàASEAN Các chuyên gia cho rằng, năng suất lao động thấp, thiếu lao động taynghề, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác đang khiến lao động của ViệtNam yếu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động khi tham giaTPP

Trang 16

Từ những đánh giá trên, có thể thấy nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay cónhững đặc điểm sau:

- Nguồn nhân lực khá dồi dào nhwng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưađược quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đếnchốn

- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữalượng và chất

- Sự kết hợp bổ dung đan giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, tríthức, chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng nguồn nhân lực thấp là do công tác đàotạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứngyêu cầu sử dụng nguồn nhân lực, chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trongthời kỳ CNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Mặt khác, hệ thống thông tin thịtrường lao động Việt Nam hiện nay còn nhiều yếu kém và hạn chế, còn bị chia cắtgiữa các vùng, miền; khả năng bao quát thu thập và cung ứng thông tin chưa đápứng các nhu cầu đối tác trên thị trường lao động Hệ thống chỉ tiêu về thị trườnglao động tuy đã ban hành nhưng chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ, thiếu thống nhất vàkhó so sánh quốc tế Do vậy chưa đánh giá được hiện trạng cung - cầu lao động.Những vấn đề này cũng chính là những thách thức lớn đối với lao động Việt Nam,đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề trong việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế đất nước trong quá trình tham giaTPP và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

2 Tác động TPP tới việc làm của lao động Việt Nam

2.1 Tác động tích cực của TPP

Việt Nam đang tận dụng mọi cơ hội để trở thành một nền kinh tế tăng trưởngnhanh, đi kèm chất lượng cuộc sống tăng cao Điều này hoàn toàn có cơ sở khiViệt Nam có lực lượng lao động trẻ, dồi dào và các công ty đa quốc gia đang đổdồn về đây cũng như mối quan hệ với Mỹ đang dần được cải thiện

Nước ta trở thành thành viên của TPP tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ tớiđời sống kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ hội lớn về tăng trưởng GDP và phúc lợi

xã hội Một số ngành kinh tế có thể phát triển nhanh nhờ vào mức tăng trưởng

Trang 17

kinh tế đạt được thông qua quá trình tự do hóa thương mại như các ngành: Dệtmay, Da giầy, thủ công nghiệp, thủy sản, điện tử, đồ gỗ và nội thất vv… Nhữngtác động tích cực đến sự tăng trưởng kinh tế ở khu vực này sẽ mang lại nhiều cơhội về việc làm, thu nhập cho một bộ phận lớn người lao động.

Trong các hoạt động thương mại quốc tế, tăng xuất khẩu có những ảnh hưởngtích cực trong việc tạo ra việc làm gián tiếp cho một bộ phận lao động qua việccung ứng nguyên vật liệu, sơ chế sản phẩm phục vụ cho các cơ sở làm hàng xuấtkhẩu Bên cạnh đó, tự do hóa thương mại và đầu tư cũng luôn dẫn đến tăng nhucầu lao động Mặt khác, mức linh hoạt của thị trường lao động sẽ tăng lên và từ đódẫn đến việc nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực lao động

Sức ép cạnh tranh giữa các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trong và ngoàinước cũng gópphần tạo điều kiện để thị trường lao động phát triển Thông qua đó,góp phần tạo động lực thúc đẩy mọi người lao động phải phấn đấu nâng cao trình

độ, kỹ năng và ý thức lao động đáp ứng yêu cầu thị trường lao động Ngoài ra,TPP làm tăng cơ hội để người lao động tiếp cận trực tiếp với nền sản xuất hiện đại, với trình độ và kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh tiên tiến củathế giới qua đó góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng, tác phong lao động, kiếnthức tổ chức, quản lý của người lao động

Vài năm gần đây, vốn đầu tư vào Việt Nam đã tăng cao do nhiều yếu tố Mộttrong những yếu tố quan trọng nhất là chi phí lao động thấp Chi phí nhân côngtăng tại tại Trung Quốc đang khiến nhiều hãng sản xuất đa quốc gia hướng sự chú

ý vào Việt Nam Bên cạnh đó, sức mua của người tiêu dùng ngày càng tăng, lạmphát được kiềm chế và nhiều biện pháp nới lỏng quy định nhằm thúc đẩy tăngtrưởng cũng là lý do vốn đầu tư liên tục đổ vào đây

Báo cáo khảo sát về tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mỹ tại các nướcthuộc ASEAN vừa được Phòng Thương mại Mỹ tại Singapore (AmChamSingapore) công bố cho thấy các nhà đầu tư vẫn lạc quan về triển vọng kinh doanhtại đây Cuộc khảo sát này cho thấy ASEAN là một khu vực năng động và có tiềmnăng tăng trưởng lớn, với dân số trẻ và triển vọng hội nhập sâu Trong đó ViệtNam được coi là điểm hấp dẫn thứ hai trong khu vực để các doanh nghiệp Mỹ mởrộng kinh doanh, sau Indonesia Nhà đầu tư nước ngoài đánh giá Việt Nam có thếmạnh trong mối quan hệ tốt đẹp với Mỹ, thị trường lao động dồi dào với chi phíthấp và môi trường vĩ mô ổn định

Trang 18

Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ hai trong khu vực ASEAN để mở rộng đầu tư

Nguồn: AmCham Singapore

Các yếu tố trên sẽ là cơ sở tạo đà cho việc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nềnkinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo môi trường thuận lợi cho việcphát triển các doanh nghiệp Đây chính là chuyển biến tích cực tạo thêm nhiều cơhội việc làm, làm giảm thất nghiệp và tăng thu nhập cho người lao động

2.2 Tác động tiêu cực của TPP

Bên cạnh những tác động tích cực đối với việc làm thì vấn đề tự do hóathương mại của TPP cũng sẽ làm cho một bộ phận lao động mất việc do các doanhnghiệp của ta không có khả năng cạnh tranh dẫn đến phải thu hẹp sản xuất thậmchí giải thể, phá sản Trong khi đó, tình trạng thất nghiệp hiện nay theo báo cáocủa Tổng Cục Thống kê năm 2015 tỷ lệ thất nghiệp lao động trong độ tuổi của cả

nước là 2,31% (năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%) Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,29% (năm 2013 là 3,59%; năm 2014 là 3,40%);

khu vực nông thôn là 1,83% (năm 2013 là 1,54%; năm 2014 là 1,49%) Tỷ lệ thấtnghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2015 là 6,85% (năm 2013 là 6,17%;năm 2014 là 6,26%), trong đó khu vực thành thị là 11,20% (năm 2013 là 11,12%;năm 2014 là 11,06%); khu vực nông thôn là 5,20% (Năm 2013 là 4,62%; năm

2014 là 4,63%) Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2015 là1,27% (năm 2013 là 1,21%; năm 2014 là 1,15%), trong đó khu vực thành thị là1,83% (năm 2013 là 2,29%; năm 2014 là 2,08%); khu vực nông thôn là 0,99%(năm 2013 là 0,72%; năm 2014 là 0,71%) Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong

độ tuổi lao động năm 2015 là 1,82% (năm 2013 là 2,75%; năm 2014 là 2,40%),trong đó khu vực thành thị là 0,82% (năm 2013 là 1,48%; năm 2014 là 1,20%);khu vực nông thôn là 2,32% (năm 2013 là 3,31%; năm 2014 là 2,96%)

Vì vậy, khi tham gia TPP, lao động Việt Nam có thể phải chịu những bất lợinhư:

Ngày đăng: 19/08/2016, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trả lời và phân tích của các thành viên đoàn đàm phán Việt Nam (Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng; Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh; Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương…) Khác
3.. Bình luận và đánh giá của Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn Việt Nam PGS.TS Võ Quang Thọ; Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Mai Đức Chính về lao động, việc làm, đời sống và hoạt động công đoàn khi Việt Nam chính thức tham gia TPP Khác
4. Một số tài liệu khác liên quan đến Hiệp định TPP; cơ hội và thách thức của tổ chức công đoàn khi Việt Nam chính thức tham gia TPP Khác
5. Một số tài liệu liên quan đến lao động, tiền lương ; Nghị định số 122/2015/NĐ-CP ngày 14/11/2015 của Chính phủ về Quy định mức lương tối thiểu vùng (có hiệu lực từ ngày 01/1/2016); Luật BHXH sửa đổi năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của Bộ Luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc Khác
6. Kết luận số 79-KL/TW ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 20 NQ/TW, ngày 20/01/2008 của BCH trung ương Đảng khóa X về "Tiếp tục xây dựng gia cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước&#34 Khác
7. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; Nghị quyết số 52-CT/TW ngày 09/01/2016 của BCH trung ương Đảng khóa XII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động khu công nghiệp, khu chế xuất Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w