Để phục vụ cho sự phát triển nhanh của ngành xã hộihọc trong nước thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ của ngành là mộtviệc làm cần thiết.Các công trình nghiên cứu về thuật ngữ x
Trang 1Hà Nội-2019
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH VÂN
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ THANH VÂN
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Lê Quang Thiêm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện.Các số liệu và kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng đượccác tác giả khác công bố
Tác giả luận án
Ngô Thị Thanh Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Ngônngữ học, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam đãtruyền thụ cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiêncứu
Lời cảm ơn sâu sắc nhất xin được gửi tới thầy giáo hướng dẫn, GS.TS LêQuang Thiêm, người thầy uyên bác và rất mực nhân từ đã tận tình chỉ bảo vàđộng viên tôi trong quá trình hoàn thành luận án
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Công đoàn, đồng nghiệp vàbạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Lời cảm ơn đặc biệt xin gửi tới những người thân yêu trong gia đình đãchia sẻ khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Ngô Thị Thanh Vân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới 7
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam 9
1.2. Cơ sở lí luận 15
1.2.1 Thuật ngữ và các khái niệm liên quan 15
1.2.2. Ngôn ngữ học đối chiếu 24
1.2.3. Lý thuyết định danh 29
1.2.4. Quan niệm về dịch thuật 37
Tiểu kết 43
CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH -VIỆT 44
2.1. Quan niệm về thuật ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 44
2.1.1. Khái niệm từ và cụm từ tiếng Anh và tiếng Việt 44
2.1.2. Các thành tố trực tiếp cấu tạo thuật ngữ 53
2.1.3. Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 56
2.2. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ 58
2.2.1. Quan niệm về mô hình cấu tạo 58
2.2.2. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ đơn 58
2.2.3. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ ghép 59
2.2.4. Tương đồng và khác biệt về cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là từ 75
Trang 62.3. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt là cụm từ 77
2.3.1. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm danh từ 77
2.3.2. Đối chiếu cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm động từ 82
2.3.3. Tương đồng và khác biệt về cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt là cụm từ 84
Tiểu kết 85
CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƯNG ĐỊNH DANH THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH -VIỆT 87
3.1. Đặc trưng định danh 87
3.1.1. Đặc trưng định danh thuật ngữ 87
3.1.2. Đặc trưng định danh thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 89
3.1.3. Các phạm vi nội dung chính của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 90
3.2. Đặc trưng đơn vị định danh thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 91
3.2.1. Đặc trưng đơn vị định danh cơ bản của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 91
3.2.2. Đặc trưng đơn vị định danh thứ cấp của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 92
3.3. Đối chiếu các đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 117
Tiểu kết 120
CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH VÀ CHUẨN HÓA KẾT QUẢ ĐỐI DỊCH THUẬT NGỮ XÃ HỘI HỌC ANH-VIỆT 122
4.1. Tương đương dịch thuật 122
4.1.1. Khái niệm tương đương trong dịch thuật 122
4.1.2. Tương đương dịch thuật ngữ 125
4.2. Kiểm định kết quả dịch thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 126
4.2.1. Những biểu thức ngôn ngữ đích không đưa vào đối chiếu 127
4.2.2. Về cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 128
4.2.3. Về nội dung được biểu đạt của thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 133
4.3. Chuẩn hóa thuật ngữ xã hội học Anh-Việt 136
4.3.1. Khái niệm chuẩn hóa 136
4.3.2. Chuẩn hóa về cấu tạo thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 138
4.3.3. Chuẩn hóa về nội dung thuật ngữ xã hội học Anh- Việt 141
Trang 74.3.4. Kết quả chuẩn hoá TNXHH Anh-Việt 145
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thành tố cấu tạo TNXHH Anh- Việt là từ 55Bảng 2.2 Thành tố cấu tạo TNXHH Anh- Việt là cụm từ 55
Bảng 3.1 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về các khái niệm
xã hội học
98
Bảng 3.2 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về phương pháp
nghiên cứu xã hội học
hội hoá
114
Bảng 3.8 Đặc trưng định danh TNXHH Anh-Việt về biến đổi xã hội 116
Trang 10Bảng 3.9 Tổng hợp đơn vị định danh TNXHH Anh- Việt 117Bảng 3.10 Tổng hợp đặc trưng đơn vị định danh thứ cấp của TNXHH
Anh-Việt
118
Bảng 4.1 Tương đương đơn vị dịch TNXHH Anh- Việt 129
Trang 11MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuật ngữ là từ ngữ biểu thị các khái niệm, đối tượng của một ngành khoahọc cụ thể Thuật ngữ là phần rất quan trọng và chiếm tỉ lệ lớn trong hệ thống từvựng của một ngành khoa học và phản ánh trình độ phát triển của ngành đó Tuynhiên, cấu trúc thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học đượcthể hiện trong các ngôn ngữ khác nhau Bởi vậy, sự chuyển giao thuật ngữ chính
là sự chuyển giao tri thức Một ngành khoa học muốn phát triển phải có một hệthống thuật ngữ phong phú và đủ mạnh phản ánh hệ thống khái niệm của ngànhkhoa học đó
Xã hội học xuất hiện ở Châu Âu vào thế kỷ XIX Tuy ra đời muộn hơn sovới các ngành khoa học khác, nhưng ngành xã hội học phát triển nhanh và trởthành một trong các ngành khoa học mũi nhọn trong hệ thống các khoa học xãhội Xã hội học là ngành khoa học gắn liền với quá trình phát triển và biến đổi
xã hội Xã hội học hình thành và phát triển trong mối quan hệ với nhiều ngànhkhoa học xã hội khác như triết học, kinh tế học, luật học v.v
Được đưa vào giảng dạy tại trường đại học Việt Nam những năm 1990, xãhội học dần được quan tâm và khẳng định vị trí quan trọng của mình trong hệthống khoa học trong nước Đến nay, xã hội học không ngừng phát triển và đápứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống con người Các nghiên cứu về xã hộihọc xuất phát từ hiện thực xã hội và đã giải đáp được những câu hỏi cuộc sốngsinh động đặt ra Xã hội học dần dần khẳng định được vị trí quan trọng của mìnhtrong hệ thống các ngành khoa học và giành được sự quan tâm của các nhà khoahọc và xã hội Bởi vậy, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộngsản Việt Nam khóa V đã khẳng định xã hội học là một trong bốn ngành cần đượcphát triển nhanh
Hệ thống thuật ngữ là công cụ, là bộ phận cấu thành nên tri thức của mộtngành khoa học Hiện nay, ngành xã hội học ở Việt Nam đang phát triển nhanh
và cần một hệ thống thuật ngữ khoa học phong phú và chuẩn mực Tuy vậy, hệthuật ngữ xã hội học tiếng Việt hiện nay với số lượng thuật ngữ hạn chế chưa
11
Trang 12đáp ứng được yêu cầu đó Để phục vụ cho sự phát triển nhanh của ngành xã hộihọc trong nước thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ của ngành là mộtviệc làm cần thiết.
Các công trình nghiên cứu về thuật ngữ xã hội học ở Việt Nam có sốlượng khiêm tốn và số lượng thuật ngữ xã hội học được chuyển dịch từ tiếngnước ngoài sang tiếng Việt chưa nhiều Việc vay mượn thuật ngữ tiếng Anh nóichung còn khá phổ biến Bên cạnh đó, đến nay chưa có công trình nào nghiêncứu chuyên sâu về đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và thuật ngữ xãhội học tiếng Việt Để thực hiện tốt vai trò quan trọng của mình trong sự pháttriển của xã hội, cũng như để ngày càng phát triển lớn mạnh, xã hội học đặc biệt
là hệ thuật ngữ xã hội học cần được nghiên cứu sâu rộng hơn cả về lý luận vàthực tiễn Tiếng Anh và tiếng Việt là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình và ngữ
hệ Vì vậy, con đường duy nhất để nghiên cứu hai hệ thuật ngữ là so sánh, đốichiếu để làm rõ điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng
Vì những lí do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu thuật ngữ xãhội học Anh- Việt” làm đề tài nghiên cứu luận án Luận án tập trung nghiên cứu,đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh- Việt về cấu tạo và ngữ nghĩa nhằm đưa rađiểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và đặc trưng định danh của thuật ngữ xãhội học tiếng Anh và tiếng Việt dưới ánh sáng lý luận của ngôn ngữ học so sánhđối chiếu Từ đó, luận án sẽ góp phần xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học,xây dựng và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ xã hội học tiếng Việt hiện nay
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ vềmặt cấu tạo, đặc trưng định danh của hệ thống thuật ngữ xã hội học trong haingôn ngữ Anh và Việt Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các biện pháp cụ thể đểchuẩn hóa hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trang 13- Tổng quan tình hình nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm lý luận
về thuật ngữ khoa học trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lý luậncho việc nghiên cứu
- Miêu tả, phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xã hộihọc tiếng Anh và tiếng Việt
- Đối chiếu đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học trong hai ngônngữ Anh và Việt
- Kiểm định thuật ngữ xã hội học Anh-Việt về mặt nội dung và cấu tạo và
đề xuất biện pháp chuẩn hoá thuật ngữ xã hội học tiếng Việt trên hai phươngdiện này
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ xã hội học tiếng Anh
và thuật ngữ xã hội học tiếng Việt được lấy trong các từ điển, các giáo trình vàtài liệu chuyên ngành Chúng tôi quan niệm thuật ngữ xã hội học là những từ vàcụm từ cố định biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là đối chiếu các thuật ngữ xã hội họcbằng tiếng Anh và tiếng Việt tương ứng trong từ điển thuật ngữ xã hội học vàcác văn bản khoa học về lĩnh vực xã hội học để tìm ra điểm tương đồng và khácbiệt giữa những thuật ngữ này trong hai ngôn ngữ Anh- Việt trên bình diện đồngđại của chúng Ngôn ngữ cơ sở là tiếng Anh và ngôn ngữ đối chiếu là tiếng Việt.Các thuật ngữ xã hội học trong các ngôn ngữ khác, tên riêng các tổ chức
và tên các nhân vật lịch sử liên quan đến lĩnh vực xã hội học không nằm trongphạm vi nghiên cứu của luận án
4. Phương pháp và ngữ liệu nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo chungcủa nhóm thuật ngữ Phương pháp này giải đáp các câu hỏi: các thành tố nào cấutạo nên thuật ngữ, các mô hình kết hợp các thành tố của nhóm thuật ngữ Bằng
Trang 14cách sử dụng phương pháp này luận án sẽ chỉ ra các đặc trưng cấu tạo, cũng nhưcác đặc điểm định danh, những bất cập và cách chuẩn hoá thuật ngữ xã hội học.4.2. Phương pháp đối chiếu
Phương pháp đối chiếu đặt các đặc điểm hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa củathuật ngữ xã hội học của hai ngôn ngữ Anh- Việt để xem xét điểm tương đồng
và khác biệt Đồng thời, phương pháp đối chiếu được sử dụng để đưa ra các thủpháp chuyển dịch chính xác thuật ngữ xã hội học tiếng Anh, tạo ra thuật ngữ xãhội học tiếng Việt phù hợp, xử lý những trường hợp không có tương đươngtrong tiếng Việt Từ đó, luận án đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất cách xâydựng thuật ngữ xã hội học chuẩn mực tiếng Việt
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phươngpháp trên Tất cả các phương pháp sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhau để giải quyếthiệu quả nhiệm vụ đề ra
4.3. Thủ pháp nghiên cứu
Luận án cũng vận dụng thủ pháp thống kê định lượng, phân tích thành tố,
mô hình hóa để giúp cho việc định tính và so sánh đối chiếu sáng tỏ
4.4. Ngữ liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ học, ngữ liệu nghiên cứu có vai trò rất quantrọng Đây là các minh chứng sinh động, cụ thể được sử dụng để tính toán, phântích, đánh giá và đưa ra các kết luận khoa học có chất lượng Nguồn ngữ liệunghiên cứu được chúng tôi lựa chọn trên cơ sở lí luận về thuật ngữ, là công trìnhnghiên cứu của các nhà chuyên môn uy tín, có chất lượng khoa học Quan điểmcủa chúng tôi trong định hướng và lựa chọn thuật ngữ đưa vào đối chiếu là cácTNXHH tiếng Anh và các kết quả tương đương dịch tiếng Việt, không sử dụngcác kết quả dịch để nguyên dạng, phiên âm, định nghĩa hay giải thích
Nguồn ngữ liệu được chúng tôi sử dụng trong luận án là một số cuốn từđiển TNXHH tiêu biểu, giáo trình và tạp chí chuyên ngành trong đó TNXHHđược thể hiện bằng tiếng Anh và Việt tương ứng Tiêu biểu là các cuốn từ điểnchuyên ngành:
- Từ điển xã hội học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 1994 do
Trang 15nhà xuất bản Thế giới ấn hành Công trình gồm 208 TNXHH Việt-Anh được xếptheo thứ tự bảng chữ cái.
- Từ điển xã hội học do Ngụy Hữu Tâm, Nguyễn Hoài Bão biên dịch năm
2002, nhà xuất bản thế giới ấn hành Số lượng TNXHH trong từ điển là 235,cung cấp các khái niệm, phạm trù, nội dung …cơ bản của xã hội học
- Từ điển xã hội học Oxford, xuất bản năm 2012, do nhóm tác giả Bùi Thế
Cường, Đặng Thị Việt Phương và Trịnh Huy Hóa biên dịch do Ford Foundationtài trợ, thuộc trường Đại học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội
Cuốn sách gồm 525 thuật ngữ, được biên dịch từ cuốn Oxford Dictionary of Sociology do Gordon Marshall chủ biên, nhà xuất bản Oxford University ấn
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Có thể nói đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam khảo sát và đối chiếutương đối toàn diện, có hệ thống các đặc điểm cơ bản của thuật ngữ xã hội họctiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu tạo và định danh Luận án chỉ ranhững yếu tố từ vựng tạo thành hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt,các mô hình cấu tạo, phương thức cấu tạo, đặc điểm định danh của thuật ngữ xãhội học tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt
Dựa vào kết quả khảo sát và nghiên cứu, luận án sẽ đề xuất các biện phápkhả thi nhằm chuẩn hoá các thuật ngữ xã hội học được dịch từ tiếng Anh sang
Trang 16tiếng Việt, góp phần chuẩn hoá hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt nói riêng vàphát triển ngành xã hội học Việt Nam nói chung.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ thêm lý thuyết về đối chiếu,chuyển dịch thuật ngữ khoa học, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thuật ngữ xãhội học tiếng Việt
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
- Là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện từ điển thuật ngữ xã hội học tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành xã hội học nước ta
- Đóng góp thiết thực cho việc chỉnh lí để chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ
xã hội học tiếng Việt hiện có
- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình, tài liệu xã hội học
Ngoài ra, luận án còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân, các nhà nghiên cứu thuật ngữ học, các nhà xã hội học
7. Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục các công trình đã công
bố liên quan đến luận án, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án bao gồm 4 chương:
CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của luận án
CHƯƠNG 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ xã hội học Anh- ViệtCHƯƠNG 3: Đối chiếu đặc trưng định danh của thuật ngữ xã hội học Anh- ViệtCHƯƠNG 4: Kiểm định và chuẩn hóa kết quả đối dịch thuật ngữ xã hội họcAnh-Việt
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN Dẫn nhập
Thuật ngữ là từ ngữ khoa học, là tấm gương phản chiếu sự phát triển củamột ngành khoa học cụ thể Nghiên cứu về thuật ngữ đã bắt đầu từ lâu nhưnggần đây mới được thực hiện một cách hệ thống và khoa học với tên gọi thuậtngữ học Nghiên cứu về thuật ngữ phát triển song hành cùng với sự phát triểncủa khoa học, công nghệ Vì vậy, công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ có
ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển khoa học công nghệ của một quốc gia
Trong chương 1, chúng tôi chúng tôi tổng thuật tình hình nghiên cứuthuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, quan niệm và các tiêu chuẩn thuật ngữ.Chúng tôi cũng đưa ra khung lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu, lý thuyết địnhdanh, lý thuyết dịch thuật làm cơ sở cho việc nghiên cứu luận án
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới
Thuật ngữ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ, là tấm gương phảnchiếu nền khoa học, kỹ thuật và công nghệ của quốc gia “Thuật ngữ khoa học rađời trong quá trình thực nghiệm, khám phá tự nhiên và xã hội, trong quá trìnhlao động sản xuất và đấu tranh của con người nhằm ghi lại và củng cố kháiniệm, củng cố nhận thức của con người về sự vật và hiện tượng giúp cho sựthông báo nhận xét và tư tưởng của người này cho người khác, giúp cho thế hệsau kế thừa được kinh nghiệm của các thế hệ trước.” [35, tr16]
Vào thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, các nhà khoa học là những chuyên gia
về thuật ngữ Tuy vậy, vào thời điểm đó họ mới quan tâm đến sự tăng lên nhanhchóng của số lượng thuật ngữ, sự đa dạng về hình thái và mối quan hệ giữa hìnhthái và khái niệm thuật ngữ mà họ chưa để ý đến bản chất của khái niệm và nềntảng của việc tạo ra thuật ngữ mới
Theo (Cabre, 1992), sự phát triển của thuật ngữ học hiện đại có 4 giaiđoạn chính:
- Giai đoạn hình thành (1930-1960)
Trang 18- Giai đoạn cấu trúc (1960-1975)
- Giai đoạn bùng nổ (1975- 1985)
- Giai đoạn phát triển (1985- đến nay)
Đầu thế kỷ XX, thuật ngữ học chưa được các nhà khoa học và ngôn ngữhọc chú ý đến Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không chỉ đề
ra yêu cầu đặt tên cho các khái niệm mới mà còn cần thống nhất trong việc sửdụng các thuật ngữ Thuật ngữ học hiện đại hình thành vào những năm 1930
Giai đoạn hình thành thuật ngữ học hiện đại (1930- 1960) được đánh dấubởi các công trình của Wuster và Lotte về các phương pháp tạo thành hệ thốngthuật ngữ Wuster, nhà ngôn ngữ học người Áo, được coi là cha đẻ của ngànhthuật ngữ học Công trình của Eugen Wuster được xem là nền tảng cho sự khởiđầu của khoa học thuật ngữ, cũng như lý thuyết chung về thuật ngữ Công trìnhcủa Wuster cũng đề cập đến ba trường phái thuật ngữ cổ điển, trường phái Áo(Viên), trường phái Xô viết và trường phái Tiệp Khắc (Praha)
Hoạt động nghiên cứu thuật ngữ ở mỗi quốc gia nhằm những mục đíchkhác nhau Khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà khoa học Áo quan tâm đếnphương pháp xử lý dữ liệu thuật ngữ E.Wuster, người đứng đầu trung tâmnghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Áo, cho rằng việc đưa được ra các nguyêntắc thuật ngữ học và từ điển học là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì đó là cơ sởcho hoạt động nghiên cứu và biên soạn thuật ngữ ở cấp độ quốc gia và quốc tế
Trong khi đó, các nhà khoa học Liên Xô tập trung nghiên cứu về quốc
tế hoá thuật ngữ Theo nhà thuật ngữ học Canada G.Rondo, Liên Xô là cái nôicủa ra đời của bộ môn thuật ngữ học với tư cách là một chuyên ngành khoahọc Trung tâm thuật ngữ học Xô Viết gắn với tên tuổi các nhà khoa học nổitiếng như S.A Chaplugin, Đ.S.Lotte, S.I Corsunop, T.L.Kandelaki… Còn cácnhà thuật ngữ Tiệp Khắc lại chú trọng vào việc xây dựng các yếu tố tươngđương của quốc gia- các thuật ngữ gốc Slavơ, đối lập với các thuật ngữ Đức
và Hi lạp- Latinh
Theo Wuster [dẫn theo 94, tr5] bốn học giả được cho là người sáng lập ra
lý thuyết thuật ngữ học là: Alfred Schloman, người Đức, là người đầu tiên đề
Trang 19cập đến bản chất hệ thống của các thuật ngữ đặc biệt, nhà ngôn ngữ học ngườiThuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure là người đầu tiên chú ý đến bản chất hệ thốngcủa ngôn ngữ, E Dresen, người Nga, là người đi tiên phong trong việc nhấnmạnh tầm quan trọng của việc hệ thống hoá thuật ngữ, và J.E Homlstrom, mộthọc giả Anh làm việc cho UNESCO đã có công lớn trong việc đưa thuật ngữ họclên tầm quốc tế.
Giai đoạn cấu trúc (1960-1975) là giai đoạn đổi mới quan trọng nhất củathuật ngữ học nhờ sự phát triển của máy tính và và các kỹ thuật xử lý dữ liệu.Vào thời điểm này, các ngân hàng dữ liệu đầu tiên đã xuất hiện, và một tập hợpquy tắc quốc tế về xử lý thuật ngữ đã ra đời Trong giai đoạn này, các bướctiếp cận đầu tiên với việc chuẩn hoá thuật ngữ trong một ngôn ngữ đã đượchình thành
Giai đoạn bùng nổ (1975- 1985) được đánh dấu bởi sự gia tăng của cáccông trình về thuật ngữ Trong giai đoạn này, tầm quan trọng về vai trò của thuậtngữ trong ngôn ngữ hiện đại được đề cao Sự phổ biến của máy tính cá nhân đãmang lại sự thay đổi lớn trong việc xử lý các dữ liệu thuật ngữ
Giai đoạn phát triển (1985- đến nay), chúng ta đề cập đến một số sự kiệnlớn Tin học là một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự thay đổi củathuật ngữ học Các nhà thuật ngữ học đã có một công cụ đáp ứng yêu cầu củamình một cách hiệu quả hơn Thuật ngữ học giành được ưu thế trong ngôn ngữhọc Hợp tác quốc tế được củng cố và mở rộng khi các hệ thống quốc tế đượctạo ra để kết nối các cơ quan, các quốc gia có chung mục đích nghiên cứu vềthuật ngữ học
Trong những thập kỷ gần đây thuật ngữ trở thành đề tài của nhiều cuộctranh luận và hội thảo trong nước và quốc tế Nhiều công trình nghiên cứu vềthuật ngữ và nhiều từ điển thuật ngữ ra đời đáp ứng nhu cầu phát triển của cácngành khoa học
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam có thể chia thành các giaiđoạn:
Trang 20- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Do đặc điểm lịch sử và xã hội thuật ngữ khoa học ở Việt Nam xuất hiệnkhá muộn Đầu thế kỷ XX, thuật ngữ khoa học tiếng Việt hầu như chưa đượcchú ý Thời kỳ này có rất ít các bài báo viết về thuật ngữ, nổi bật là bài viết củacác tác giả Dương Quảng Hàm, Nguyễn Ứng…Xem [23], [52], [70], [87]
Các bài viết của các tác giả trên về thuật ngữ chủ yếu đề cập đến cuộctranh luận nên dùng tiếng Pháp, tiếng Hán hay tiếng Latinh, Hy Lạp để đặt chothuật ngữ khoa học
Vào những năm 1930, với chủ trương đúng đắn “đấu tranh vì tiếng nói,chữ viết, thống nhất và làm giàu tiếng nói” thuật ngữ khoa học bắt đầu xuất hiệnbằng tiếng Việt Ban đầu chủ yếu là các thuật ngữ khoa học xã hội, đặc biệt làthuật ngữ chính trị và triết học sau đó mới phát triển sang thuật ngữ các ngànhkhoa học khác Các nhà khoa học đã chú ý đến việc đặt thuật ngữ bằng tiếngViệt Đáng chú ý là quan điểm của tác giả Hoàng Xuân Hãn Trong tác phẩm
Danh từ khoa học [24], ông đã đặt dấu mốc quan trọng trong việc biên soạn,
nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt Ông đã đưa ra “8 tính cách” và 3 phương sáchđặt thuật ngữ khoa học Đây là lần đầu tiên thuật ngữ khoa học được xem xétmột cách tương đối hệ thống
- Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975
Sau Cách mạng tháng Tám miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, miền Nam trong giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước Vấn
đề xây dựng và thống nhất thuật ngữ trở thành mối quan tâm lớn của các nhàkhoa học Việt nam thời kỳ này Ở miền Nam, Lê Văn Thới đã soạn thảo “danh
từ chuyên môn” để chính thức hoá bản nguyên tắc dùng làm tài liệu hướng dẫnviệc xây dựng thuật ngữ ở miền Nam Đây là bản nguyên tắc hoàn thiện nhấttính đến thời điểm đó và được áp dụng để biên soạn hơn 50 cuốn thuật ngữ đốichiếu
Ở miền Bắc, các công trình tiêu biểu của các tác giả nghiên cứu cơ sở lýluận về thuật ngữ, xây dựng hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển như ĐỗHữu Châu, Lê Khả Kế, Nguyễn Văn Tu xem [4], [34], [35],[68]
Trang 21Tuy nhiên, các nhà khoa học chưa có sự thống nhất trong xây dựng thuậtngữ Bởi vậy, năm 1960 Uỷ ban khoa học nhà nước đã ban hành Quy định tạmthời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” [dẫn theo79], và mộtbản nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học xã hội Bên cạnh đó, các hội nghị
về vấn đề thuật ngữ được tổ chức như Hội nghị bàn về xây dựng thuật ngữ khoahọc năm 1964, Hội nghị trưng cầu ý kiến về vấn đề dùng thuật ngữ khoa họcnăm 1965 Hội đồng Thuật ngữ- Từ điển khoa học được thành lập đã công bố
Đề án về quy tắc phiên thuật ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt năm 1966
và Bản quy định tạm thời về quy tắc phiên thuật ngữ nước ngoài ra tiếng Việt.
Các quy định này đã đưa ra được các tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ khoahọc và việc phiên chuyển thuật ngữ nước ngoài một cách sáng tạo để chúng trởthành thuật ngữ của dân tộc, đồng hoá vào tiếng Việt Điều này góp phần thúcđẩy các chuyên ngành xây dựng thuật ngữ một các thống nhất hơn và gần 40 tậpthuật ngữ đối chiếu đã được biên soạn
Tuy đất nước bị chia cắt làm hai miền nhưng các nhà khoa học miền Bắc
và miền Nam có quan điểm giống nhau trong cách xử lý thuật ngữ nước ngoàitrong tiếng Việt Đó là cách phiên các thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt [dẫntheo 38, tr49]
- Giai đoạn từ 1975 đến nay
Khi đất nước thống nhất, việc xây dựng thuật ngữ khoa học là một côngtác hàng đầu trong công cuộc phát triển khoa học kỹ thuật của nước ta Để có sựthống nhất trong sử dụng thuật ngữ các nhà khoa học, các nhà ngôn ngữ học cảnước tập trung nghiên cứu chuẩn hoá thuật ngữ, vay mượn thuật ngữ nước ngoàithế nào Đáng chú ý là các công trình của các tác giả Lưu Vân Lăng, Lê Khả Kế,Hoàng Văn Hành… và nhiều bài báo bàn về thuật ngữ.v.v Xem [15], [18], [25],[36],[37], [41], [43], [73]
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về thuật ngữcủa Việt Nam tập trung vào việc khái quát về thuật ngữ tiếng Việt, nghiên cứu
thuật ngữ từ bối cảnh xã hội Năm 1991, tác giả Vũ Quang Hào với Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo, là một công trình mở đầu một
Trang 22khuynh hướng mới nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo về thuật ngữ Công trình nàykhông dừng lại ở các vấn đề lý luận chung về thuật ngữ mà đưa ra được nhữngđánh giá xác đáng về cấu tạo và đặc điểm, góp phần vào việc xây dựng, thốngnhất các vấn đề cụ thể trong một hệ thuật ngữ cụ thể Tiếp đó là một số bài viết
về chuẩn hoá thuật ngữ và xử lý thuật ngữ là từ nước ngoài sang tiếng Việt.Xem [38], [40], [89]
Bên cạnh đó, đáng chú ý các nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ của cáctác giả Lê Quang Thiêm, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tồn… Xem [1], [2],[50], [51], [64], [65], [66], [67], [68], [69], [77], [79], [80], [82], [83] Đây làcác công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu, tổng kết một số vấn đề lýluận cơ bản về thuật ngữ học, những vấn đề lý luận và thực tiễn của từ điển họcthuật ngữ ở Việt Nam và nước ngoài, quan điểm mới về chuẩn hoá thuật ngữ
Bên cạnh các công trình nghiên cứu lí luận về thuật ngữ, một số côngtrình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam tiếp tục theo hướng khai thác đặc điểmcấu tạo, đối chiếu thuật ngữ tiếng Việt với thuật ngữ tiếng nước ngoài, chuẩn hoáthuật ngữ tiếng Việt trong một số ngành khoa học cụ thể
Năm 2000, Nguyễn Thị Bích Hà trong công trình nghiên cứu “So sánh cách cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại” đã phân tích, đối chiếu làm sáng tỏ đặc trưng về phương diện cấu tạo hệ
thống thương mại trong hai ngôn ngữ Nhật và Việt để đề xuất phương hướng,biện pháp xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ thương mại tiếng Việt [22]
Tiếp theo là một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ củamột ngành khoa học cụ thể [Xem danh mục luận án] Có thể nhận thấy, mụcđích của các công trình trên đều là xây dựng và chuẩn hoá hệ thuật ngữ của mộtngành khoa học cụ thể Các công trình này tập trung chủ yếu vào việc phân tíchđặc điểm cấu tạo, đối chiếu mô hình cấu tạo, định danh của thuật ngữ tiếng Việt
và so sánh chúng với thuật ngữ nước ngoài và cách phiên chuyển các thuật ngữnước ngoài sang tiếng Việt.Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nàonghiên cứu đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh với tiếng Việt
Trang 231.1.3. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học trên thế giới và Việt Nam
1.1.3.1. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học trên thế giới
Xã hội học là khoa học về các quy luật và tính quy luật xã hội chung, vàđặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống xã hội xác định về mặt lịchsử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quyluật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và cácdân tộc Các nhà xã hội học Anh cũng đã khẳng định "Xã hội học không chỉ đơnthuần là một ngành khoa học lý giải và phân tích đời sống xã hội, mà còn làphương tiện thay đổi xã hội" [dẫn theo Wikipedia]
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngành xã hội học ra đời và đưa vàogiảng dạy ở trường đại học một số quốc gia như Mỹ, Anh, Đức, Pháp…Cùngvới sự phát triển của ngành hệ thuật ngữ xã hội học cũng từng bước được hoànthiện Sự hợp tác quốc tế về xã hội học bắt đầu năm 1893 khi Rene Worms thànhlập viện xã hội học quốc tế Năm 1949, sự lớn mạnh của ngành xã hội học đượcđánh dấu bằng sự ra đời của Hiệp hội xã hội học thế giới (ISA) Ngày nay, xãhội học được nghiên cứu và học tập ở các châu lục và rất nhiều trường đại họclớn trên thế giới
Nước Anh là một thành viên của viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế (IITF)được thành lập năm 1989 với hơn 100 thành viên từ 40 quốc gia Các nhànghiên cứu Anh đã triển khai các nghiên cứu về thuật ngữ tập trung vào các nộidung sau: quan điểm về thuật ngữ của các nhà thuật ngữ học; các định nghĩa vềthuật ngữ, phân biệt hệ thống thuật ngữ với hệ thống từ vựng; các tiêu chuẩn đểđánh giá thuật ngữ và tạo thuật ngữ; hình thành mạng lưới trung tâm tiêu chuẩn
để đánh giá, thẩm định thuật ngữ trong cả nước về cả lĩnh vực tự nhiên và xãhội Tuy vậy, đến nay chưa có công trình nghiên cứu lý luận nào dành cho thuậtngữ xã hội học Ở Anh, việc nghiên cứu thuật ngữ xã hội học chú trọng vào giảithích các khái niệm, các vấn đề của xã hội học Đây là thành quả của các côngtrình nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về thuật ngữ học và từ điển học Nổi bật
là các cuốn từ điển của các tác giả William Outhwaite, Tom Bottomore, David
Trang 24Jary- Julia Jary, Bryan S Turner, John Scott, Gordon Marshall Xem [93], [97],[100], [109].
1.1.3.2. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ xã hội học ở ViệtNam
Sự phát triển của xã hội học ở Việt Nam là một bước tiến với rất nhiềuchặng đường khác nhau Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX tri thức xã hộihọc đã được nghiên cứu, giảng dạy ở miền Nam Việt Nam, tuy đối tượng tiếpcận không nhiều, nhưng nó đã tạo ra được một tiền lệ cho việc nghiên cứu xãhội học ở Việt Nam về sau Đến năm 1977, Ban Xã hội học - tiền thân của Viện
Xã hội học ngày nay thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam được thành lập,
đã tạo cơ sở cho sự phát triển của xã hội học Việt Nam, trong đó có việc thúcđẩy biên soạn và giảng dạy Xã hội học đại cương tại các Viện, trường Đại học,cao đẳng trong cả nước Bước sang đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, Tạp chí Xãhội học ra đời (1983), thuộc Viện Xã hội học là một sự kiện quan trọng nhằm tạo
ra một diễn đàn học thuật về xã hội học ở Việt Nam Chính điều này đã thúc đẩykhông chỉ các nghiên cứu xã hội học mà còn cả công tác biên soạn và giảng dạy
xã hội học đại cương Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu, hợp tác đào tạo và dịchthuật cũng được chú trọng Việc biên soạn và giảng dạy xã hội học ở Việt Namtrong thời gian này đã được xúc tiến ở khá nhiều nơi trên cả nước
Đến năm 1991, Khoa Xã hội học-Tâm lý của Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội, cơ sở đào tạo cử nhân Xã hội học chính quy đầu tiên trong cả nướcđược thành lập đã đánh dấu một bước phát triển xã hội học ở nước ta Xã hộihọc đã khẳng định vị thế quan trọng của mình trong hệ thống các ngành khoahọc và ngày càng được xã hội quan tâm
Bước sang thế kỷ mới, ngành xã hội học cũng đã có những bước chuyểnmình, dần trưởng thành và khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong xã hội.Những thành tựu to lớn của các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm với nhiều đềtài được triển khai, mang lại những kết quả hết sức ý nghĩa cho các nhà quản lý
xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước Ngoài việc biên soạncông tác dịch thuật các tài liệu về xã hội học cũng không ngừng được đẩy mạnh.Không chỉ có các Viện nghiên cứu, mà các trường đại học cũng tham gia tích
Trang 25cực vào hoạt động này Việc biên soạn và dịch thuật các tài liệu xã hội học đạicương phục vụ cho công tác giảng dạy cho thấy phần nào sự phát triển cả về sựphổ biến lẫn chiều sâu tri thức Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ
xã hội học chưa nhiều Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu về thuật ngữ
xã hội học là các cuốn từ điển giải thích được các tác giả Nguyễn Khắc Viện,Thanh Lê, Nguỵ Hữu Tâm, Bùi Thế Cường biên soạn hoặc chuyển dịch từ tiếngĐức, Anh sang tiếng Việt Xem [2], [4], [10], [15] phần ngữ liệu nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về thuật ngữ xã hội học ở Việt Nam có sốlượng khá khiêm tốn và số lượng thuật ngữ xã hội học được chuyển dịch từ tiếngnước ngoài sang tiếng Việt chưa nhiều Việc vay mượn thuật ngữ tiếng Anh nóichung còn khá phổ biến Bên cạnh đó, đến nay chưa có công trình nào nghiêncứu chuyên sâu về đối chiếu hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Anh và tiếng Việt Đểthực hiện tốt vai trò quan trọng của mình trong sự phát triển của xã hội, cũngnhư để ngày càng phát triển lớn mạnh, xã hội học đặc biệt là hệ thuật ngữ xã hộihọc cần được nghiên cứu sâu rộng hơn cả về lý luận và thực tiễn Chính vì các lí
do này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đối chiếu thuật ngữ xã hội họcAnh-Việt” để nghiên cứu đối chiếu
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1 Thuật ngữ và các khái niệm liên quan
1.2.1.1. Khái niệm thuật ngữ
Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam đưa ra nhiềuquan niệm về thuật ngữ Xuất phát từ cách nhìn khác nhau mà các nhà khoa học
đã đưa ra cách hiểu khác nhau về thuật ngữ Từ góc độ ngôn ngữ học, các nhànghiên cứu đưa ra định nghĩa thuật ngữ gắn với nội dung khái niệm mà nó biểuthị Một số tác giả lại lấy chức năng của thuật ngữ tạo nét khu biệt hình thànhkhái niệm của nó
Đại diện cho xu hướng định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm mà nóbiểu đạt là các nhà nghiên cứu Xô Viết Tác giả V.P Danilenko cho rằng “Thuậtngữ dù là từ (ghép hay đơn) hay cụm từ đều là một ký hiệu mà một khái niệmtương ứng với nó” và “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn
Trang 26toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” Hay “Thuật ngữgọi tên khái niệm chuyên môn Đặc trưng của khái niệm này là ở chỗ nó không
bị mất tính hoàn chỉnh dù nội dung của khái niệm được diễn đạt bằng bất kỳphương tiện nào, phương thức nào” [dẫn theo 27, tr12-18]
Các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ cũng xem xét thuật ngữ trong mối quan hệvới khái niệm Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO), định nghĩa thuật ngữ chuyênngành như sau: “Hệ thuật ngữ là một tập hợp các thuật ngữ đại diện cho một hệthống các khái niệm của một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt” (ISO 1087: 1990).Trong bài nghiên cứu của mình, Erhart Oeser và Gerhart Budin định nghĩa:
“Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều
có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa họcđược sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ
và ký hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin vớingười khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác.” [98, tr12].Dafydd khi nói về tầm quan trọng của thuật ngữ và tiêu chuẩn của thuậtngữ đã cho rằng thuật ngữ là “một tập hợp các khái niệm và biểu đạt của nó (baogồm các ký tự, các thuật ngữ và đơn vị cụm từ) trong một lĩnh vực chuyênngành đặc biệt” [96, tr15]
Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đưa ra quan điểm về thuật ngữnhư Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Lưu Vân Lăng, Như Ý, Hoàng Văn Hành…Xem [4], [6], [25], [41], [84], [85]
Năm 1985, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra quan niệm ngắn gọn nhưngnêu bật được vị trí của thuật ngữ trong một ngôn ngữ và các đặc trưng cần cócủa thuật ngữ Có thể nói đây là định nghĩa đầy đủ nhất về thuật ngữ ở nước tatính đến thời điểm này: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nóbao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác các loại khái niệm vàcác đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [18, tr108-309]Quan niệm của các tác giả trên đề cập đến thuật ngữ với các đặc trưng sau:
- Là một bộ phận đặc biệt của ngôn ngữ
Trang 27- Nội hàm của thuật ngữ là nội dung khái niệm của một ngành khoa học mà
nó biểu thị
- Một số đặc trưng của thuật ngữ như tính đơn nghĩa, tính hệ thống
Đại diện cho xu hướng thuật ngữ gắn với chức năng là các nhà thuật ngữ học như G.O Vinokur, V.K Nikiforov, V.V Vinogradov, L.A Kapatnadze,X.M Burdin, A.G Acnexov, N.A Baxkakov, V.A Zoveginxev [dẫn theo 27,tr12-18], Các nhà nghiên cứu thuật ngữ theo xu hướng này nhấn mạnh chứcnăng cơ bản của thuật ngữ là chức năng định danh Thuật ngữ là phương tiệnbiểu thị của định nghĩa logic hay gọi tên khái niệm Đây là một đặc điểm quantrọng để phân biệt thuật ngữ với từ thông thường
Các tác giả theo xu hướng thứ 3 định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt vớicác “từ ngữ phi thuật ngữ” Trong cuốn “Những vấn đề của ngôn ngữ học cấutrúc dưới ánh sáng lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại”, tác giả Nguyễn Đức Tồncho rằng: “Định nghĩa thuật ngữ chỉ cần chỉ ra những đặc trưng bản chất nhấtthuộc về bản thể của nó, làm nó khác biệt với các từ phi thuật ngữ (như từ toàndân (hay còn gọi là từ thông thường), từ nghề nghiệp, từ tiếng lóng…)” Nhữngphẩm chất thứ yếu không đủ khu biệt thuật ngữ với các đơn vị từ vựng phi thuậtngữ hoặc những thuộc tính không thuộc về bản thể của thuật ngữ mà do nhậnthức chủ quan hoặc áp đặt của người sử dụng thì nhất quyết không đưa vào nộidung định nghĩa thuật ngữ Do vậy, “Thuật ngữ là từ và cụm từ biểu hiện kháiniệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệhoặc lĩnh vực chuyên môn.” [81, tr342]
Quan niệm của các nhà khoa học về thuật ngữ giúp chúng ta có cái nhìn đachiều và toàn diện về thuật ngữ Tuy có cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ khácnhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm thuật ngữ là một bộ phận quan
trọng của ngôn ngữ Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ định danh biểu thị chính xác khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng …thuộc lĩnh vực khoa học, hoặc chuyên môn nhất định Đây cũng là khái niệm về thuật ngữ chúng tôi sử
dụng làm cơ sở nghiên cứu trong luận án
Trang 281.2.1.2. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ
Khi nghiên cứu về thuật ngữ, các nhà khoa học cũng rất chú ý để xác địnhcác tiêu chuẩn cần và đủ của thuật ngữ nhằm phục vụ cho việc xây dựng vàchuẩn hoá chúng
Quan điểm về tiêu chuẩn thuật ngữ của một số tác giả nước ngoài kháphong phú Theo tác giả S.I Corsunov và G Xumburova, thuật ngữ cần có cáctiêu chuẩn đơn nghĩa, có hệ thống và phản ánh đặc trưng cần và đủ của kháiniệm [dẫn theo 13, tr419]
Nhóm tác giả V.S Kulebakin và I.A Klimovitskij cho rằng thuật ngữphải đáp ứng các tiêu chuẩn như tính đơn nghĩa, tính chính xác, tính hệ thống,tính ngắn gọn [dẫn theo 44, tr420]
Sager cho rằng các nước thành viên của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế phảituân thủ tuyệt đối các qui định về việc đặt thuật ngữ do tổ chức này đưa ra Tổchức này đưa ra 12 tiêu chuẩn đặt thuật ngữ, nhấn mạnh tính chính xác, tính đơnnghĩa, tính hệ thống của thuật ngữ Bên cạnh đó, thuật ngữ phải có liên hệ trựctiếp với khái niệm, tuân theo các nguyên tắc chung về hình thành thuật ngữ củamỗi ngôn ngữ, có khả năng sản sinh dựa trên phụ tố, không có từ đồng nghĩa vàđồng âm, không có biến thể và nên độc lập với ngữ cảnh Dẫn theo tài liệu củaSager, xem [105, tr89-90]
Ở Việt Nam, hệ thuật ngữ khoa học được xây dựng theo phương châmkhoa học, dân tộc, đại chúng của Đề cương Văn hóa [9] Bản đề cương thể hiệnđường lối văn hóa của Đảng và sau này là chính sách, quan điểm của nhà nước.Theo tác giả Lê Quang Thiêm “Chính ba nguyên tắc, định hướng của bản đềcương về sau cũng được vận dụng thành tiêu chuẩn, nguyên tắc đặt thuật ngữsau năm 1945, những năm 60 của thế kỷ XX và cả một phần cho đến nay.” [69,tr107- 120]
Hoàng Xuân Hãn là người đầu tiên đưa ra các tiêu chuẩn thuật ngữ khá
đầy đủ và hệ thống Năm 1948, trong “Danh từ khoa học”, tác giả đưa ra các
tiêu chuẩn đầu tiên của thuật ngữ [dẫn theo 36, tr32] Về vấn đề tiêu chuẩn của
thuật ngữ, tại hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ do Uỷ ban khoa học
Trang 29Nhà nước tiệu tập năm 1964 tại Hà Nội các tiêu chuẩn chung và cụ thể của thuậtngữ, nêu trong bản báo cáo chính:
hệ thống, 3) có tính bản ngữ (tính chất ngôn ngữ dân tộc), 4) ngắn gọn (côđọng), 5) dễ dùng (dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc) Trong 5 tiêu chuẩnnày thì 3 tiêu chuẩn đầu là tiêu chuẩn cơ bản, trong đó tính chính xác là quan
trọng bậc nhất.” [dẫn theo19] Xem [14], [36], [43], [71], [85].
Trên cơ sở hệ thống và phân tích các tiêu chuẩn của thuật ngữ của các nhànghiên cứu nước ngoài và trong nước chúng tôi nhận thấy tiêu chuẩn cơ bản củathuật ngữ bao gồm:
- Tính khoa học (chính xác, hệ thống, ngắn gọn)
- Tính quốc tế
- Tính dân tộc
Đây cũng là cơ sở lý luận để khảo sát, đối chiếu và chuẩn hoá thuật ngữ
xã hội học của luận án
Để đảm bảo tính khoa học, thuật ngữ phải đảm bảo các yêu cầu: tínhchính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn Tính chính xác là tiêu chuẩn quantrọng nhất của thuật ngữ Mỗi thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm khoa học
để không gây nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác Theo Đỗ Hữu
Trang 30Châu, tính chính xác của thuật ngữ thể hiện ở hai mặt: ngữ nghĩa và hình thức.
Về mặt ngữ nghĩa, tính chính xác của thuật ngữ là: “biểu thị cho đúng khái niệm(đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khinói, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học(đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi.” [6, tr242-243] Tính chính xác của thuậtngữ thể hiện ở chỗ nghĩa của thuật ngữ luôn cố định và không bị ngữ cảnh làmsai lạc nội dung mà nó biểu thị Như vậy, “một thuật ngữ lý tưởng là thuật ngữphản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm mà nó biểuhiện.” [81, tr346] Để đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ trong một ngànhkhoa học, mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ tương ứng và mỗi thuật ngữ chỉ
có một khái niệm Tính chính xác về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ đòi hỏi hìnhthức của chúng cũng phải chính xác, tức là phải có sự phù hợp giữa nội dung vàhình thức của khái niệm Chức năng của thuật ngữ là định danh, do vậy để hiểuchính xác khái niệm thì thuật ngữ phải đơn nghĩa trong hệ thuật ngữ nào đó
Hệ thuật ngữ là là một tập hợp các đơn vị thuật ngữ Các thuật ngữ nàykhông đơn lẻ mà trong mối quan hệ với các thuật ngữ khác trong hệ thống Tính
hệ thống của thuật ngữ cho thấy mỗi thuật ngữ là một bộ phận cần thiết, khôngthể tách rời trong một chỉnh thể của hệ thuật ngữ Nghĩa là, mỗi thuật ngữ chỉbiểu thị một khái niệm nhất định, có một vị trí nhất định trong một hệ thuật ngữ
cụ thể Tính hệ thống về nội dung của thuật ngữ qui định tính hệ thống về hìnhthức của thuật ngữ Các nghĩa của thuật ngữ nằm trong phạm vi các tiểu hệthống, các nhóm tách biệt, tạo thành hệ thuật ngữ của mỗi ngành cụ thể, có liên
hệ chặt chẽ với nhau Theo Lưu Vân Lăng, khi xây dựng hệ thống thuật ngữ,trước khi đặt hệ thống kí hiệu (về hình thức) cần xác định cho được hệ thốngkhái niệm (về nội dung) của nó Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặtthuật ngữ, mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống kháiniệm [dẫn theo 44, tr51] Ông cũng cho rằng: “thuật ngữ khoa học cũng chỉ là
“cái vỏ” chứa đựng một khái niệm khoa học nhất định….vì khái niệm khoa học
là cái được biểu đạt mà thuật ngữ khoa học là cái biểu đạt” [42, tr43] Tác giảNguyễn Đức Tồn cho rằng: “khi nói đến tính hệ thống của thuật ngữ cần phải
Trang 31chú ý đến cả hai mặt: tính hệ thống khái niệm (tức là xét về nội dung) và hệthống cách biểu thị (xét về hình thức).” [81, tr348] Tính hệ thống của thuật ngữlàm tăng khả năng sản sinh của thuật ngữ Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thểtách rời từng khái niệm để định kí hiệu, mà phải đặt nó trong tổng thể, phải nghĩđến hệ thống khái niệm.
Thuật ngữ mang tính chất định danh nên phải ngắn gọn Một thuật ngữngắn gọn, cô đọng sẽ có nội hàm thông tin cao “Một thuật ngữ dài dòng thìthường có tính chất miêu tả đối tượng hay định nghĩa khái niệm khoa học Tínhchất dài dòng này không những làm cho hệ thống ký hiệu của thuật ngữ bị huỷhoại, mà có khi còn làm lu mờ, thậm chí phá vỡ tính chất của bản thân nó Do
đó, muốn cho kết cấu của thuật ngữ được chặt chẽ, đảm bảo tính chất định danhcủa thuật ngữ thì về mặt hình thức đòi hỏi thuật ngữ phải ngắn gọn, chặt chẽ, côđọng Thuật ngữ có dạng lý tưởng nhất xét theo tiêu chuẩn này là thuật ngữ códạng từ (từ đơn hoặc từ ghép)……các thuật ngữ có dạng cụm từ cố định gồm 3-
4 âm tiết là phổ biến nhất.” [81, tr348] Muốn thuật ngữ ngắn gọn khi đặt thuậtngữ phải lựa chọn yếu tố cốt lõi, súc tích nhất đồng thời loại bỏ những yếu tốrườm rà, không cần thiết
Tính quốc tế là một đặc điểm quan trọng của nội dung thuật ngữ Thuậtngữ là bộ phận của ngôn ngữ biểu đạt các khái niệm khoa học mà khái niệmkhoa học là tri thức chung của nhân loại Chủ thể sử dụng thuật ngữ là các nhàkhoa học, các nhà chuyên môn có thể ở các quốc gia khác nhau và họ phải hiểunhư nhau về cùng một khái niệm đúng như nó được quy ước và định nghĩa trongkhoa học Bởi vậy, có thể nói thuật ngữ biểu hiện những khái niệm khoa họcchung cho những người nói các thứ tiếng khác nhau “Sự thống nhất thuật ngữgiữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này tạo nên tính quốc tế củathuật ngữ….Nếu chú ý tới mặt nội dung của thuật ngữ thì phải thừa nhận rằngtính quốc tế của thuật ngữ là một nội dung quan trọng, phân biệt thuật ngữ vớicác bộ phận từ vựng khác” [19, tr275]
Tính quốc tế của thuật ngữ còn thể hiện ở hình thức cấu tạo của nó: cácngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát từ một
Trang 32gốc chung …Trên thực tế, về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ chỉmang tính tương đối Nói chung, không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất
cả các ngôn ngữ Mức độ thống nhất của các thuật ngữ là khác nhau, có thuậtngữ thống nhất trong phạm vi rộng, có thuật ngữ thống nhất trong phạm vi hẹp
do truyền thống lịch sử hình thành các khu vực văn hoá khác nhau cũng như đặctrưng của mỗi ngành khoa học” [19, tr274] “Tính quốc tế của thuật ngữ còn thểhiện ở phương thức sao chép hay là phương thức dịch thuật ở nước này sangthuật ngữ của nước mình.” [19, tr244-245]
Theo Nguyễn Đức Tồn: “Tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ đượcthể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm hoặc chữ viết, mà đặc biệt còn được thểhiện ở hình thái bên trong của thuật ngữ (nghĩa là cách chọn đặc trưng của sựvật, khái niệm… làm cơ sở định danh khi đặt thuật ngữ) Nói cụ thể hơn, tínhquốc tế của nội dung thuật ngữ còn được thể hiện ở chỗ: cùng một khái niệmhay đối tượng trong một lĩnh vực khoa học/ chuyên môn, các ngôn ngữ chọncùng một đặc trưng nào đó làm cơ sở định danh, đưa vào tên gọi/ thuật ngữ làmthành hình thái bên trong của tên gọi/ thuật ngữ ấy.” [81, tr349]
Thuật ngữ là những từ, cụm từ biểu thị các khái niệm của một ngành khoahọc hoặc một lĩnh vực chuyên môn Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ vàchịu sự chi phối bởi qui luật ngôn ngữ của một dân tộc đó Mỗi ngôn ngữ cómàu sắc riêng, đặc điểm riêng Để giữ được linh hồn, tinh hoa của một ngôn ngữthì phải giữ gìn được bản sắc dân tộc của thuật ngữ khoa học “Thuật ngữ dùthuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nhất thiết phải là một bộ phận của ngônngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải có tính chất dân tộc, mang màu sắc ngôn ngữdân tộc…muốn bảo vệ được tính chất dân tộc của thuật ngữ phải hết sức tậndụng vốn từ quý báu và phong phú mà ông cha ta đã mất bao nhiêu thời gian vàcông phu để sáng tạo và gom góp nên.” [42, tr58-60] Tuy vậy, đề cao tính dântộc của thuật ngữ không có nghĩa là loại bỏ hết các từ Hán -Việt, chỉ dùng các từthuần Việt Song song với việc khai thác, sử dụng các từ sẵn có trong ngôn ngữdân tộc thì việc vay mượn các từ ngữ nước ngoài một cách chừng mực là điềuhết sức cần thiết để phát triển hệ thuật ngữ
Trang 33Tính dân tộc của thuật ngữ phải được thể hiện ở nhiều mặt:
“a, Bản chất của yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ (tức là mặt từ vựng)
b,Cách cấu tạo, sắp xếp các yếu tố đó (tức là mặt ngữ pháp)
c, Âm hưởng của những yếu tố đó (tức là mặt ngữ âm)” [42, tr63]
Tính dân tộc và tính quốc tế không mâu thuẫn với nhau mà cùng tồn tại và
bổ sung cho nhau Về mặt nội dung thuật ngữ thì tính quốc tế nên được nhấnmạnh để đảm bảo khái niệm mà thuật ngữ phản ánh được hiểu đúng trong cácngôn ngữ khác nhau Về mặt hình thức tính dân tộc được đề cao bởi thuật ngữphải sử dụng các chất liệu của ngôn ngữ dân tộc như ngữ âm, văn tự cú pháp đểcấu tạo nên “Ý nghĩa của thuật ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau nếu biểu hiệncùng một khái niệm khoa học thì phải trùng nhau hoàn toàn, tuy về hình thứcthuật ngữ có thể khác nhau.” ” [81, tr359]
1.2.1.3. Khái niệm thuật ngữ xã hội học
Xã hội học (sociology) có gốc ghép chữ Latin là Socius hay Societasnghĩa là xã hội với chữ Hy lạp là Ology hay Logos có nghĩa là học thuyết,nghiên cứu Xã hội học được Auguste Comte sáng lập vào năm 1839 được hiểu
là học thuyết, nghiên cứu về xã hội [dẫn theo 16, tr4]
“Xã hội học là một khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, nghiên
cứu các tương tác xã hội, đặc biệt đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống sự phát triển, cấu trúc, mối tương quan xã hội và hành vi, hoạt
động của con người trong các tổ chức nhóm xã hội Mối tương tác
Dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học về thuật ngữ và cácđịnh nghĩa về xã hội học, chúng tôi đưa ra định nghĩa về thuật ngữ xã hội học
như sau: Thuật ngữ xã hội học là từ hoặc cụm từ biểu thị chính xác khái niệm,
Trang 34thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng …thuộc lĩnh vực xã hội học.
Trang 35TNXHH được hiểu là các từ và cụm từ định danh biểu đạt các khái niệmchuyên ngành của xã hội học TNXHH không chấp nhận các từ, cụm từ là danhpháp, cụm từ giải thích, định nghĩa hay bình luận Các TNXHH phải đáp ứngcác tiêu chuẩn cần và đủ của thuật ngữ khoa học là tính khoa học (chính xác, hệthống, ngắn gọn), tính quốc tế và tính dân tộc.
1.2.2. Ngôn ngữ học đối chiếu
1.2.2.1. Khái niệm đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của nhiềungôn ngữ và nhiều nền văn hoá Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong tràolưu nghiên cứu so sánh chung Nó bao quát một lúc nhiều ngôn ngữ, bất luậnngôn ngữ đó cùng hay khác loại hình và ngữ hệ Nghiên cứu đối chiếu hìnhthành một cách trực tiếp trong tiến trình tìm tòi của con người để nắm ngoại ngữmột cách nhanh hơn, tốt hơn và hiểu sâu sắc hơn về tiếng mẹ đẻ
Do nhu cầu giao lưu, trao đổi của các nền văn minh, văn hoá và do chínhnhu cầu kết hợp những nghiên cứu lý luận cũng như yêu cầu phát triển nội tạicủa ngôn ngữ học, yêu cầu nâng cao hiệu quả dạy tiếng, học tiếng, biên soạnsách, dịch thuật… mà ngôn ngữ học đối chiếu ngày càng khẳng định tầm quantrọng của mình Một nhà ngôn ngữ học đã khẳng định: “Trong giới ngôn ngữhọc ngày càng có sự khẳng định nhiều hơn ý kiến cho rằng: ngôn ngữ học đốichiếu là một bộ phận độc lập của ngôn ngữ học, cần thiết phải có các tiền đề lýluận nhất định và có sự lựa chọn những phương pháp đặc trưng riêng cho sựphân tích tài liệu ngôn ngữ; còn như những ứng dụng thực tiễn của nó thì vôcùng rộng lớn, thuộc phạm vi nào là do kết quả nghiên cứu định hướng của nóquyết định.” [31,tr5]
Ngoài tên gọi ngôn ngữ học đối chiếu, phân ngành này còn có nhiều tên gọi khác như phân tích đối chiếu, nghiên cứu đối chiếu, nghiên cứu xuyên ngôn ngữ….Tuy vậy, trên thế giới và ở Việt Nam thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu
vẫn phổ biến hơn cả
Đối chiếu là việc xuất phát từ một ngôn ngữ để xem xét phương thức thểhiện các phạm trù tương ứng ở một ngôn ngữ khác, chỉ ra sự tương đồng và khác
Trang 36biệt trong những phương thức đó Ngôn ngữ học đối chiếu là một bộ phận củangôn ngữ học đồng đại Theo tác giả Lê Quang Thiêm: “mục đích của so sánhđối chiếu là làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau hoặc chỉ làm sáng
tỏ những nét khác nhau mà thôi Nguyên tắc đối chiếu chủ yếu là nguyên tắcđồng đại” [61, tr37]
Chúng ta cũng cần phân biệt hai khái niệm so sánh và đối chiếu Khái niệm so sánh là “xem xét cái này với cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém nhau” [91, tr1448] Đối chiếu là “so sánh giữa các cá thể với
nhau, trong đó có một cái làm chuẩn nhằm tìm ra những chỗ giống, khác nhaugiữa chúng” [91, tr657]
Trong cách dùng thông thường, qua cách giải thích của nhiều từ điển Tiếng
Việt, sự khác biệt giữa hai từ so sánh và đối chiếu hết sức tinh tế “So sánh là
xem xét cái này với cái kia để thấy được sự giống nhau và khác nhau….còn đốichiếu là so sánh cái này với một cái khác, thường được lấy làm chuẩn để từnhững điểm giống nhau và khác nhau mà biết rõ hơn đặc trưng của cái được so
sánh….Sự khác biệt tinh tế giữa hai khái niệm so sánh và đối chiếu được thể hiện
ở chỗ: đối chiếu cũng là so sánh, nhưng là so sánh giữa hai đối tượng trong đó có một được lấy làm chuẩn Có thể lấy khái niệm so sánh để giải thích khái niệm đối chiếu, nhưng không thể lấy khái niệm đối chiếu để giải thích khái niệm so sánh Nói cách khác, so sánh có nghĩa rộng hơn đối chiếu” [28, tr149]
Theo tác giả Lê Quang Thiêm, sự phát triển của ngôn ngữ học đối chiếutrải qua ba giai đoạn chính Trong giai đoạn đầu các công trình đối chiếu tiêubiểu là các từ điển đa nghĩa cỡ lớn thực hiện đối chiếu hàng trăm ngôn ngữthuộc các khu vực địa lí, ngữ hệ, loại hình khác nhau Giai đoạn hai, sự pháttriển của ngôn ngữ đối chiếu là thời kỳ của ngôn ngữ học so sánh- lịch sử vàtriết học ngôn ngữ thế kỷ XIX Thời kỳ này ngôn ngữ học đối chiếu chịu ảnhhưởng sâu sắc của nghiên cứu so sánh-lịch sử Đến cuối thế kỷ XIX, ngôn ngữhọc so sánh-lịch sử xác định được phạm vi, phương pháp nghiên cứu riêng đểtrở thành một phân ngành độc lập Giai đoạn ba, bước vào thế kỷ XX, cùng với
sự phát triển của lịch sử, khoa học, công nghệ, kinh tế…ngôn ngữ học đối chiếu
Trang 37có tiền đề để phát triển Những công trình nghiên cứu trở nên phong phú gắn vớinhiều các nghiên cứu miêu tả và loại hình hoặc cấu trúc Bên cạnh lý luận, cácnghiên cứu đối chiếu đặc biệt chú ý đến thực tiễn vận dụng Ở nước ngoài, nhiềutrung tâm đối chiếu được hình thành đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và nhu cầu giao lưu, trao đổi của các dân tộc với những công trình đa dạng.Ngôn ngữ học đối chiếu trở thành một phân ngành độc lập của ngôn ngữ họchiện đại
Ngôn ngữ học đối chiếu được đưa vào Việt Nam những năm 1980 với bài
viết của tác giả Lê Quang Thiêm “Nhận xét nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ”
đăng trên tạp chí khoa học của Đại học Tổng hợp [59] Là một chuyên gia hàngđầu về lĩnh vực so sánh, đối chiếu, ông có nhiều công trình, bài viết về lĩnh vực
này Tiêu biểu là công trình Đối chiếu các ngôn ngữ (1989), tái bản năm 2004 với tên gọi Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ Cuốn sách đề cập đến những
kiến thức cần thiết về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và một số thủ pháp,phương pháp thường được sử dụng trong phân ngành này [61]Tác giả cũng có
nhiều nghiên cứu về so sánh đối chiếu thuật ngữ như Biến đổi trong tiếp nhận và hội nhập của hệ thuật ngữ tiếng Việt [62, tr1-5], Về “kho báu” của hệ thống thuật ngữ ngôn ngữ học tiếng Việt [63, tr8-15] Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về so sánh đối chiếu như Ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng, Ngôn ngữ học đối chiếu cú pháp tiếng Anh- Việt của Trần Hữu Mạnh, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ ở Việt Nam của Vương Toàn…Xem
[28], [47], [74]
Ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây nghiên cứu đối chiếu được đặcbiệt quan tâm Các nghiên cứu đối chiếu tập trung vào hai mảng đề tài lớn là đốichiếu tiếng Việt với những ngôn ngữ không cùng ngữ hệ và loại hình có cùngphạm vi sử dụng rộng rãi như tiếng Anh, tiếng Pháp… mang lại các ứng dụngthiết thực trong dạy học ngoại ngữ và dịch thuật và các nghiên cứu so sánh, đốichiếu tiếng Việt với ngôn ngữ các dân tộc anh em trong nước và các nước trongkhu vực
Trang 381.2.2.2. Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu
Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả Bùi mạnh Hùng đưa ra một số nguyên tắc
cơ bản mà các công trình đối chiếu cần tuân thủ:
Nguyên tắc 1: Bảo đảm các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải
được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đốichiếu để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng
Nguyên tắc 2: Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các
phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống
Nguyên tắc 3: Phải xem xét các đối tượng đối chiếu không chỉ trong hệ
thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp
Nguyên tắc 4: Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái
niệm và mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu
Nguyên tắc 5: Phải tính đến các mức độ gần gũi về loại hình giữa các
ngôn ngữ cần đối chiếu [28, tr131-146]
1.2.2.3. Các bước phân tích đối chiếu
Trong ngôn ngữ học, phương pháp đối chiếu là một kiểu riêng củaphương pháp so sánh Việc phân tích đối chiếu thường được chia thành hai giaiđoạn: miêu tả và đối chiếu Hai giai đoạn này có thể phân chia chi tiết hơn thành
ba bước: miêu tả, xác định những gì có thể đối chiếu với nhau và đối chiếu Cácbước này không phải lúc nào cũng được phân biệt rạch ròi và hiển ngôn
Theo Bùi Mạnh Hùng, phân tích đối chiếu gồm 3 bước:
- Miêu tả: Đây là cơ sở của nghiên cứu đối chiếu Nhà nghiên cứu có thể
sử dụng kết quả miêu tả do mình xác lập hoặc kết quả miêu tả của người khác vàtrình bày lại dưới hình thức phù hợp cho mục đích đối chiếu của mình Bướcmiêu tả trong nghiên cứu đối chiếu phụ thuộc rất nhiều vào ngữ liệu thu thậpđược Để việc miêu tả đảm bảo tính khách quan thì các ngữ liệu thu thập đượcphải đảm bảo sự chính xác, tin cậy
- Xác định những gì có thể đối chiếu với nhau: Việc này phụ thuộc nhiềuvào khả năng suy xét có tính trực giác của nhà nghiên cứu trong đó năng lựcsong ngữ của nhà nghiên cứu có vai trò quyết định Cơ sở ngữ liệu chính xác, tin
Trang 39cậy là cơ sở quan trọng để nhà nghiên cứu xác định các yếu tố tương đương cóthể so sánh được với nhau.
- Đối chiếu: Đây là bước quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu đốichiếu Trong bước này, chúng ta có thể xác định ba khả năng cơ bản khi đốichiếu hai ngôn ngữ:
Cũng theo tác giả, khi đối chiếu sẽ xảy ra ba khả năng Khả năng 1 là khimột đơn vị X nào đó trong ngôn ngữ 1 có thể đồng nhất về một phương diện nào
đó với cái tương đương trong ngôn ngữ 2 Khả năng 2 là đơn vị X trong ngônngữ 1 có thể có sự khác biệt về một phương diện nào đó với cái tương đươngtrong ngôn ngữ 2 Khả năng 3 đơn vị X trong ngôn ngữ 1 không có cái tương
đương trong ngôn ngữ 2 [28, tr151-159]
1.2.3.4 Phạm vi đối chiếu
Phạm vi nghiên cứu đối chiếu thường là hai (rất ít khi nhiều hơn hai) ngônngữ để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó Một
số tác giả phân biệt đối chiếu hệ thống và đối chiếu bộ phận Đối chiếu hệ thống
là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau Đối chiếu bộ phận là là đối chiếucác đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ thể của hai ngôn ngữ Trong thực tế, khôngthể có sự đối chiếu hai ngôn ngữ như những tổng thể bởi không thể đối chiếumột cách đầy đủ, toàn diện ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác
Có nhiều cách phân biệt đối chiếu bộ phận Theo Krzeszowski, T (1990),đối chiếu có ba lĩnh vực: đối chiếu những hệ thống tương đương, đối chiếu các kếtcấu tương đương và đối chiếu các quy tắc tương đương của hai ngôn ngữ [101]
Tác giả Lê Quang Thiêm phân biệt đối chiếu theo cách khác Theo ông,
có đối chiếu phạm trù, đối chiếu cấu trúc hệ thống, đối chiếu chức năng và hoạtđộng, đối chiếu phong cách, đối chiếu lịch sử- phát triển [61] Tác giả Bùi MạnhHùng, các phạm vi đối chiếu cần xác định trên cơ sở phân biệt các bình diệnngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng [28]
Có thể nhận thấy đối chiếu thuật ngữ xã hội học Anh-Việt thuộc phạm viđối chiếu từ vựng, cụ thể là đối chiếu về cấu tạo và ngữ nghĩa Đối tượng củaphân tích đối chiếu thuật ngữ khoa học Anh- Việt là các thuật ngữ xã hội học là
Trang 40từ và cụm từ trong tiếng Anh và tiếng Việt Đây là sự đối chiếu để tìm ra nhữngđiểm giống và khác nhau trong hai hệ thống thuật ngữ này nhằm xây dựng vàchuẩn hoá hệ thuật ngữ xã hội học tiếng Việt.
1.2.3. Lý thuyết định danh
1.2.3.1. Khái niệm định danh
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn làhiện thực trực tiếp của tư tưởng của con người Trong quá trình sinh sống vàphát triển và chinh phục thế giới khách quan con người cần xác định, đặt tên,phân biệt các sự vật, hiện tượng… của thế giới xung quanh Nói cách khác, mỗi
sự vật hiện tượng …của thế giới khách quan đều được phản chiếu trong ngônngữ Đặt tên cho sự vật, hiện tượng… là nhu cầu cần thiết của con người “conngười cần đến tên gọi các đối tượng xung quanh như cần không khí.” [7 tr167]Theo Đỗ Hữu Châu, “nhờ các tên gọi mà sự vật, hiện tượng thực tế khách quantồn tại trong lí trí của chúng ta, phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác cùngloại và khác loại.” và “các tên gọi làm cho tư duy trở nên rành mạch sáng sủa”[6, tr98-99]
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, định danh là “sự cấu tạo
các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiệnthực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúngdưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [90, tr89]
Tác giả Nguyễn Đức Tồn quan niệm: “Định danh chính là đặt tên gọi cho
sự vật, hiện tượng” [76, tr162] Ông đã cụ thể hoá quan niệm của mình về địnhdanh: “Định danh là gắn cho một ký hiệu ngôn ngữ một khái niệm-biểu niệmphản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật- các thuộc tính, phẩm chất
và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần,nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố của nội dung giao tiếp ngôn
từ.” [75, tr34]
Tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng về bản chất định danh theoquan niệm của G.V Konsansky “là sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngônngữ một khái niệm -biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định